ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM SỬ DỤNG ĐẤT HỢP LÝ TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA HUYỆN BÌNH CHÁNH 3.2.3 Đề xuất một số giải pháp cụ thể trên địa bàn nghiên cứu 83 3.2.3.1 Chuyển dịch cơ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS TRẦN VĂN TUẤN
HÀ NỘI – 2015
Trang 3i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi Các
số liệu, kết quả trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai khác công bố trong bất kỳ công trình nào Tác giả
Lê Trường An
Trang 4ii
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn, trước tiên tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám Hiệu, Phòng Sau Đại Học và quý Thầy, Cô Khoa Địa lý trường Đại Học Khoa Học Tự Nhiên – Đại Học Quốc Gia Hà Nội đã truyền đạt những kiến thức khoa học giúp tôi nâng cao trình
độ, kỹ năng học tập trong suốt thời gian qua
Đặc biệt, tôi xin trân trọng bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS TS Trần Văn Tuấn,
người đã trực tiếp hướng dẫn tận tình với tinh thần trách nhiệm cao ngay từ việc định hướng, tiếp cận và nghiên cứu đề tài này
Tiếp đến tôi xin chân thành cảm ơn các anh, chị Tổ tài nguyên; tổ môi trường thuộc phòng Tài Nguyên và Môi Trường huyện Bình Chánh; Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện Bình Chánh đã cung cấp các nguồn thông tin, số liệu thực tế trên địa bàn huyện Bình Chánh suốt quá trình nghiên cứu đề tài Và tôi cũng chân thành cảm ơn những lời động viên, những lời khuyên chân thành có giá trị cho đề tài của các anh chị trong ban chuyên môn thuộc UBND Huyện Bình Chánh
Tôi xin chân thành cám ơn những chia sẻ, giúp đở của các anh, chị trong lớp Cao học quản lý đất đai năm 2012 dành cho tôi trong thời gian qua
Do kiến thức còn hạn hẹp nên luận văn còn có nhiều thiếu sót Tôi rất mong nhận được sự góp ý của quý Thầy giáo, Cô giáo, các chuyên gia, các cán bộ khoa học và các bạn
Xin trân trọng cảm ơn mọi sự giúp đỡ quý báu đó!
Tác giả
Lê Trường An
Trang 51.1 CNH và vai trò của CNH đối với sự phát triển 6
1.1.3 Vai trò của CNH đối với sự phát triển của địa phương 8
2.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Bình Chánh 19
Trang 62.2 Đặc điểm công nghiệp hóa trên địa bàn huyện Bình Chánh 33 2.2.1 Đặc điểm phân bố và loại hình hoạt động công nghiệp 33
2.2.2 Thực trạng phát triển khu công nghiệp trên địa bàn huyện Bình Chánh 36 2.3 Ảnh hưởng của công nghiệp hóa đến chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất tại huyện Bình Chánh
51
2.4.1 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế huyện Bình Chánh trong quá trình CNH từ
2005 - 2015
51
2.4.1.2 Đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội của việc sử dụng đất 53 2.4.2 Thực trạng bồi thường, hỗ trợ về đất khi nhà nước thu hồi đất để thực hiện các dự án công nghiệp
55
2.4.3 Ảnh hưởng đến các hộ dân trong khu vực phân bố các KCN 57
Trang 7v
2.4.3.1 Tình hình việc làm, thu nhập của các hộ điều tra 57
2.4.4 Tác động của công nghiệp hóa đến môi trường đất 66 CHƯƠNG 3 ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM SỬ DỤNG ĐẤT HỢP
LÝ TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA HUYỆN BÌNH CHÁNH
3.2.3 Đề xuất một số giải pháp cụ thể trên địa bàn nghiên cứu 83 3.2.3.1 Chuyển dịch cơ cấu lao động tạo thị trường việc làm , nâng cao đời sống
vật chất cho người dân
83
Trang 8vi
DANH MỤC CÁC BẢNG
1.1 Tình hình phân bố các KCN – KCX tại các địa phương trong cả
2.17 Mức độ ô nhiễm môi trường trước khi thu hồi đất 65 2.18 Mức độ ô nhiễm môi trường tại thời điểm 2015 65
2.20 Giới hạn hàm lượng kim loại nặng trong đất 67
Trang 9vii
DANH MỤC CÁC HÌNH
1.1 Biểu đồ thể hiện số lượng và diện tích các KCN trong cả nước
1995 – 2015
17
2.2 Tình hình biến động cơ cấu sử dụng đất toàn huyện Bình Chánh
2005-2015
44
2.3 Biến động cơ cấu đất nông nghiệp tại 16 xã, thị trấn 47 2.4 Biến động cơ cấu đất phi nông nghiệp tại 16 xã, thị trấn 48
Trang 10viii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BTNMT Bộ Tài nguyên và môi trường
CNH – HĐH Công nghiệp hóa – hiện đại hóa
TTCN Tiểu thủ công nghiệp
STCN Sinh thái công nghiệp
PTBV Phát triển bền vững
QHSDĐ Quy hoạch sử dụng đất
Trang 11Những năm qua, công cuô ̣c CNH ở nước ta đạt được những thành quả nhất định đã tạo thế và lực lớn hơn nhiều so với trước Vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng lên Đây chính là những tiền đề quan trọng để đẩy nhanh hơn tiến trình CNH của đất nước, đưa nước ta sớm trở thành mô ̣t nước công nghiê ̣p
Trước tình hình tốc độ tăng trưởng kinh tế trong những năm gần đây ở nước
ta có chiều hướng suy giảm, môi trường ở nhiều nơi đang bị ô nhiễm , tài nguyên , đất đai chưa được quản lý tốt Tất cả những vấn đề này ảnh hưởng không nhỏ từ quá trình CNH đất nước
Với vị trí địa lý càng thuận lợi để phát triển công nghiệp bao nhiêu thì quá trình CNH, HĐH càng diễn ra mạnh mẽ bấy nhiêu và hệ quả tiêu cực từ quá trình này mang lại chính là những ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến con người, đất đai nơi đó
Để phát triển công nghiệp, một diện tích đất đai sẽ được quy hoạch, chuyển đổi mục đích sử dụng để làm đất sản xuất công nghiệp như: xây dựng các KCN, Cụm CN, các CSSX
Theo số liệu thống kê của Bộ TN-MT, nước ta hiện nay có hơn 300 KCN, cụm CN, hàng trăm ngàn CSSX công nghiệp nằm rải rác ở khắp các tỉnh, thành trong cả nước Vì vậy, quá trình khai thác công nghiệp ảnh hưởng đến việc quản lý
sử dụng đất được quan tâm hàng đầu
Công nghiệp hóa không chỉ ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống người dân mà còn làm cho quá trình suy thoái môi trường đất ngày càng nghiêm trọng Trong khi, đất đai có hạn và ngày một ô nhiễm mà nhu cầu sử dụng đòi hỏi ngày càng cao
Trang 122
chính vì vậy đất đai ngày càng trở nên quý giá Do đó, việc sử dụng đất tiết kiệm, hiệu quả và bền vững luôn là nhu cầu cấp thiết, đòi hỏi phải cân nhắc kỹ càng và hoạch định khoa học
Ở nước ta, có thể khẳng định TP HCM giữ vai trò đầu tàu trong sự phát triển của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam Trong cơ cấu kinh tế TP.HCM công nghiệp
có vai trò trung tâm trong sự phát triển Thực hiện chủ trương di dời các CSSX gây
ô nhiễm ra khỏi nội thành TP HCM, theo quyết định 200/2004/QĐ-UB của UBND
TP HCM hầu như các CSSX công nghiệp có khuynh hướng đầu tư xây dựng phát triển tại các Huyện ngoại thành Trong số đó phải kể đến như: Huyện Bình Chánh, Huyện Củ Chi, Huyện Hóc Môn tập trung hầu hết các CSSX công nghiệp , cụm
CN, KCN
Với vị trí là cửa ngõ phía Tây Thành phố Hồ Chí Minh, Huyện Bình Chánh
có các trục đường giao thông quan trọng như Quốc lộ 1A, liên tỉnh lộ 10, đường Nguyễn Văn Linh, Quốc lộ 50 và đặc biệt là đường cao tốc Sài Gòn – Trung Lương nối kết các tỉnh Đồng Bằng Sông Cửu Long với Tp.HCM tạo cho Bình Chánh trở thành cầu nối giao lưu kinh tế, giao thương đường bộ giữa vùng đồng bằng Sông Cửu Long với vùng Đông Nam Bộ và các khu công nghiệp trọng điểm ở phía Nam
Đặc biệt, công nghiệp hiện trên đà phát triển; với các khu – cụm công nghiệp tập trung quy mô lớn đang xây dựng…là nơi thu hút nhiều lao động, tốc độ tăng trưởng kinh tế cao
Hiện nay, trên địa bàn Huyện Bình Chánh quỹ đất dồi dào đủ khả năng cho việc phát triển công nghiệp Hiện nhiều khu đất nông nghiệp bị nhiễm phèn, năng suất thấp và đất chưa sử dụng còn tới 173 ha tập trung ở các xã Vĩnh Lộc A, Lê Minh Xuân và Bình Lợi Vì thế mà việc chuyển đổi để tổ chức các khu dân cư - khu công nghiệp hoàn chỉnh là điều cần thực hiện để nâng dần giá trị sử dụng đất
Cùng với tốc độ phát triển kinh tế, sự thay đổi cơ cấu kinh tế quá trình công nghiệp hóa diễn ra trên địa bàn Huyện kéo theo quá trình thay đổi dần cơ cấu sử dụng đất Nhìn chung sức ép đối với đất đai của huyện rất lớn và chủ yếu diện tích đất nông nghiệp sẽ thu hẹp, chất lượng đất suy giảm do được trưng dụng để sử dụng cho mục đích sản xuất công nghiệp, tác động đến đời sống cộng đồng dân cư tại địa
Trang 13Chính vì thế, “Nghiên cứu ảnh hưởng của công nghiệp hóa đến sử dụng đất tại huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh” chính là nhằm đáp ứng nhu
cầu cấp bách nói trên
2 Mục tiêu nghiên cứu
Làm rõ ảnh hưởng của quá trình công nghiệp hóa đến chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất và tác động đến hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường trong sử dụng đất tại huyện Bình Chánh Từ đó đề xuất các giải pháp sử dụng đất hợp lý trong quá trình công nghiệp hóa trên địa bàn nghiên cứu
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục tiêu đề ra, nhiệm vụ nghiên cứu cần thực hiện bao gồm:
Tổng quan các tài liệu có liên quan đến hướng nghiên cứu của luận văn
Thu thập tài liệu, số liệu về hiện trạng sử dụng đất các năm 2005, 2010,
2015 của huyện Bình Chánh; Thu thập các tài liệu, số liệu liên quan đến ảnh hưởng của công nghiệp hóa đến kinh tế, xã hội và môi trường trong sử dụng đất
Phân tích chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất của huyện dưới tác động của quá trình công nghiệp hóa giai đoạn 2005 - 2015
Đánh giá ảnh hưởng của công nghiệp hóa đến kinh tế, xã hội, môi trường trong sử dụng đất tại huyện Bình Chánh
Đề xuất một số giải pháp nhằm sử dụng hợp lý đất đai trong quá trình công nghiệp hóa trên địa bàn huyện Bình Chánh
4 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi không gian nghiên cứu: Đề tài được thực hiện trên toàn bộ địa bàn
huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chính
Trang 144
Phạm vi khoa học: Đề tài giới hạn nghiên cứu ảnh hưởng của công nghiệp
hóa đến sử dụng đất huyện Bình Chánh tập trung vào giai đoạn tử 2005 đến nay
5 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thu thập tài liệu số liệu thứ cấp
Ban quản lý các KCN Lê Minh Xuân, KCN Vĩnh Lộc: thu thập các số liệu về tình hình sử dụng đất tại các KCN; các số liệu về hiện trạng môi trường các KCN từ
Chi cục thống kê huyện Bình Chánh: các tài liệu, số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh
tế - xã hội huyện Bình Chánh
Phương pháp điều tra xã hội học
Sử dụng phiếu điều tra đã chuẩn bị sẵn dùng để phỏng vấn các hộ có đất bị thu hồi để thực hiện xây dựng khu công nghiệp trên địa bàn huyện Bảng hỏi hộ điều tra có nội dung bao gồm: tổng hợp ý kiến về tình hình, diện tích đất bị thu hồi của hộ; tình hình sử dụng chi phí bồi thường vào mục đích gì ?; Thay đổi thu nhập
và cơ hội việc làm trước và sau khi bị thu hồi đất; đánh giá chung về cơ sở hạ tầng
và cảnh quan tự nhiên khu vực; mức độ ô nhiễm môi trường khu vực trước và sau khi bị thu hồi đất; tình hình tệ nạn xã hội khu vực; ý kiến khác của hộ điều tra
Đề tài tiến hành chọn 100 hộ điều tra tại hai xã khác nhau trên địa bàn huyện
và phải đáp ứng yêu cầu: có diện tích đất bị thu hồi làm KCN, CCN; có ảnh hưởng
từ ô nhiễm do hoạt động công nghiệp nhất so với các vùng khác trên địa bàn huyện
Phương pháp thống kê, so sánh
Trên cơ sở các số liệu, tài liệu thu thập được, tiến hành thống kê, so sánh số liệu qua các các năm để thấy được sự biến động, thay đổi về cơ cấu sử dụng các loại đất trên địa bàn huyện Bình Chánh giai đoạn từ 2005 – 2015
Trang 155
Phương pháp thực nghiệm
Khảo sát, lấy mẫu và bảo quản mẫu đất tại hiện trường theo hướng dẫn kỹ thuật lấy mẫu đất quy trình nội bộ của phòng quan trắc và phân tích môi trường – Phân viện Bảo Hộ Lao Động và Bảo Vệ Môi Trường Miền Nam
Mẫu đất công nghiệp và mẫu đất dân sinh được lấy mẫu phân tích và so sánh đánh giá theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về giới hạn của kim loại nặng trong đất QCVN 03:2008/BTNMT
Phương pháp tổng hợp, phân tích
Các thông tin thu thập được sau khi xử lý được tổng hợp, phân tích và hệ thống hóa nhằm đưa ra các đánh giá về ảnh hưởng của công nghiệp hóa đến sử dụng đất khu vực nghiên cứu
Phương pháp chuyên gia
Lấy ý kiến trao đổi, đóng góp của các chuyên gia trong lĩnh vực tài nguyên môi trường trong đề xuất giải pháp sử dụng đất trong quá trình công nghiệp hóa huyện Bình Chánh đến 2020
6 Cơ sở tài liệu để thực hiện Luận văn
- Các sách, giáo trình, luận văn, công trình nghiên cứu liên quan tới hướng nghiên cứu lý thuyết của đề tài;
- Số liệu thống kê, kiểm kê đất đai huyện Bình Chánh các năm 2005, 2010,
Trang 16Theo nghĩa hẹp, công nghiệp hóa được hiểu là quá trình chuyển dịch từ kinh
tế nông nghiệp (hay tiền công nghiệp) sang nền kinh tế lấy công nghiệp làm chủ đạo, từ chỗ tỷ trọng lao động nông nghiệp chiếm đa số giảm dần và nhường chỗ cho lao động công nghiệp chiếm tỷ trọng lớn hơn Theo nghĩa rộng, công nghiệp hóa là quá trình chuyển dịch từ kinh tế nông nghiệp (hay tiền công nghiệp) sang kinh tế công nghiệp, từ xã hội nông nghiệp sang xã hội công nghiệp, từ văn minh nông nghiệp sang văn minh công nghiệp[9]
Định nghĩa trên dùng trong trường hợp từ “công nghiệp hóa” là danh từ, chỉ một quá trình Còn trong trường hợp tính từ, từ công nghiệp hóa là chỉ một trạng thái, trạng thái đã hoàn thành quá trình công nghiệp hóa, hay nói gọn hơn, là đã công nghiệp hóa[9]
Khái niệm “Công nghiệp hóa” còn có thể được hiểu theo nghĩa: Công nghiệp hóa là hoạt động mở rộng tiến bộ của khoa học kĩ thuật với sự lùi dần của tính chất thủ công trong sản xuất hàng hóa và cung cấp dịch vụ, đem lại một tính cách công nghiệp cho một hoạt động nào đó[18]
Như vậy, đơn giản hơn ta có thể hiểu “Công nghiệp hóa” là quá trình chuyển đổi từ nước nông nghiệp sang nước công nghiệp, cải biến từ một xã hội nông nghiệp sang xã hội công nghiệp
1.1.2 Nội dung chủ yếu của công nghiệp hóa
Ở nước ta, con đường CNH được hình thành từ Đại Hội III (9/1960) trong bối cảnh lịch sử trong nước và quốc tế luôn diễn biến phức tạp và gặp nhiều trở ngại Tuy nhiên, để giữ vững đường lối công nghiệp hóa phát triển đất nước qua các
Trang 177
thời kỳ, từ các Đại Hội của Đảng trước đổi mới đều khẳng định và chú trọng quá trình công nghiệp hóa Trong thời kỳ bắt đầu đổi mới cho đến nay từ Đại hội VIII đến nay Đảng ta đều khẳng định vai trò và vị trí của quá trình công nghiệp hóa
Trong văn kiên Đại Hội Đảng lần VIII, Đảng đã nêu ra công thức “Công nghiệp hóa Hiện đại hóa” và trong văn kiện Đại hội IX đặt vấn đề “Công nghiệp hóa theo hướng hiện đại” là thể hiện sự lựa chọn công nghiệp hóa kiểu mới, tại Đại Hội XI tiếp tục khẳng định “Phát triển mạnh công nghiệp và xây dựng theo hướng hiện đại, nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh” Cho đến nay có thể hình dung ra những đặc điểm công nghiệp hóa của chúng ta như sau:
Công nghiệp hóa phải rút ngắn thời gian, phát triển nhanh để sớm đuổi kịp trình độ các nước
Công nghiệp hóa gắn kết với hiện đại hóa, phát triển công nghệ mới, công nghệ cao, công nghệ thông tin, tiếp cận kinh tế tri thức
Phát triển kinh tế song song với phát triển xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống, bảo đảm công bằng xã hội, định hướng xã hội chủ nghĩa
Phát triển bền vững, gìn giữ và cải thiện môi trường, tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên
CNH là quá trình thực hiện gắn liền với những chặng đường nhất định Trong mỗi chặng đường đó, công nghiệp hóa luôn gắn liền với hiện đại hóa được tiến hành với nội dung khác nhau và tất yếu được hoàn thành với tốc độ không giống nhau Nhưng về cơ bản bao gồm các nội dung sau:
CNH-HĐH nông nghiệp và kinh tế nông thôn
Phát triển công nghiệp
Xây dựng kết cấu hạ tần
Phát triển khoa học và công nghệ
Phát triển hợp lý các vùng lãnh thổ
Phát triển kinh tế dịch vụ
Phát triển kinh tế đối ngoại
Phát triển nguồn nhân lực
Trang 188
1.1.3 Vai trò của công nghiệp hóa đối với sự phát triển của địa phương
Theo thống kê của Tổng Công Ty Phát Triển Đô Thị và KCN Việt Nam, tính đến thời điểm này (2015) có 290 KCN – KCX phân bố khắp nơi trên nước ta Bảng 1.1 Tình hình phân bố các KCN – KCX tại các địa phương trong cả nước
06 Tỉnh Hưng Yên 05 26 Tỉnh Tiền Giang 05
07 Tỉnh Hải Dương 11 27 Tỉnh Tây Ninh 04
14 Tỉnh Quãng Ngãi 06 36 Tỉnh Kiên Giang 06
15 Tỉnh Quãng Nam 08 37 Tỉnh Hậu Giang 03
Trang 199
Qua các giai đoạn phát triển của đất nước quá trình CNH không ngừng tăng tốc ở khắp nơi trong cả nước, đặc biệt ở các vùng nông thôn Chính quá trình này đã tạo diện mạo mới thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội cho các vùng xưa kia là vùng nông nghiệp nay đã trở thành vùng công nghiệp có tên tuổi chẳng hạn: Bắc Ninh, Đồng Nai,…tạo bước đột phá cho sự phát triển của địa phương Ta thấy sự phân bố các KCN ở từng địa phương nhiều hay ít có ảnh hưởng quan trọng đến sự phát triển của địa phương đó Chẳng hạn, ở Đồng Nai trước khi quá trình CNH diễn ra đó là khi chưa có mặt các KCN tình hình phát triển của địa phương khác hẳn so với hiện nay Dựa vào bảng 1.1 ta thấy với số lượng tập trung nhiều KCN nhất ở Việt Nam ( 31/290 KCN trong cả nước, chiếm 10,7 % trong cả nước), hiện tại Đồng Nai đang nằm trong danh sách một trong những tỉnh, thành có GDP cao của cả nước, và nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam đó là nhờ vào sức mạnh của quá trình CNH
Bên cạnh đó CNH luôn gắn liền HĐH, điều này đóng vai trò then chốt để một địa phương nâng tầm phát triển cũng như để một đất nước kém phát triển thoát khỏi nguy cơ tụt hậu, từng bước rút ngắn khoảng cách về sự phát triển kinh tế với các nước phát triển khác
Ngoài ra, quá trình CNH sẽ tạo lập cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại cho chế
độ mới, cơ cấu kinh tế hợp lý thay thế lao động thủ công bằng lao động sử dụng máy móc, kỹ thuật công nghê tiên tiến trong toàn bộ nền kinh tế Cơ sở vật chất kỹ thuật của một xã hội là tổng thể hữu có các yếu tố vật chất của lực lượng sản xuất đạt được trong những điều kiện nhất định của tiến bộ khoa học và công nghệ, dựa trên đó lực lượng lao động xã hội ấy sản xuất ra của cải vật chất để thỏa mãn nhu cầu xã hội Mặt khác, CNH mới tạo ra nền sản xuất bằng máy móc, tạo ra sức sản xuất mới có cơ sở để tăng năng suất lao động xã hội, tạo ra cơ sở kinh tế làm chỏ dựa cho việc cải tạo, phát triển các ngành kinh tế quốc dân khác
Quá trình CNH còn góp phần củng cố và tăng cường hệ thống chính trị quốc gia, giữ được ổn định chính trị xã hội, bảo vệ đối lập chủ quyền và định hướng phát triển xã hội chủ nghĩa Đối với Việt Nam, CNH gắn liền HĐH còn là yêu cầu khách
Trang 2010
quan của việc củng cố và tăng cường khả năng quốc phòng, của sự thống nhất giữa
sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa
1.2 Tác động của công nghiệp hóa
1.2.1 Tác động của công nghiệp hóa đối với phát triển kinh tế - xã hội
Quá trình CNH đã mang lại nhiều sự thay đổi trong sự phát triển kinh tế đất nước, tạo đà cho công cuộc đổi mới tiếp tục đi vào chiều sâu Bên cạnh đó, quá trình CNH có những mặt tích cực lẫn tiêu cực tác động đến sự phát triển của đất nước
1.2.1.1 Những tác động tích cực
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực
Trong những năm gần đây, quá trình CNH là nhân tố quan trọng thúc đẩy nhanh tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành trong GDP Quá trình CNH diễn ra
đã làm ra tăng các KCN, KCX, CSSX từ đó cũng kéo theo nhiều loại hình dịch vụ, kinh doanh phát triển theo Chính vì thế, kinh tế ở những khu vực chịu tác động của CNH cũng thay đổi theo hướng tăng tỷ trọng ngành công nghiệp, dịch vụ giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp;
Đối với sản xuất nông nghiệp nói riêng, góp phần làm thay đổi về cơ cấu diện tích gieo trồng và cơ cấu giá trị sản xuất Các loại cây trồng có giá trị kinh tế thấp, sử dụng nhiều lao động đang có xu hướng giảm dần diện tích Các loại cây cần
ít lao động hơn và cho giá trị kinh tế cao hơn đang được tăng dần diện tích canh tác Trong tổng giá trị sản xuất của ngành nông nghiệp thì xu hướng chung là giảm dần tỉ trọng của ngành trồng trọt và tăng tỉ trọng ngành chăn nuôi.[18]
Chuyển dịch cơ cấu lao động
CNH là xu hướng tất yếu của các quốc gia muốn nhanh chóng thoát khỏi tình trạng kinh tế nông nghiệp lạc hậu, năng suất thấp, mức sống thấp sang nền kinh tế công nghiệp, năng suất cao Nhờ quá trình hình thành và phát triển KCN, KCX, CSSX cơ hội việc làm được mở rộng, góp phần quan trọng giải quyết việc làm cho lao động tại chỗ (trong đó có số lao động của những hộ gia đình bị thu hồi đất) và lao động nhập cư
Trang 2111
Những năm gần đây, lực lượng lao động trong KCN, KCX, CSSX gia tăng mạnh mẽ gắn liền với sự gia tăng của các KCN, KCX, CSSX thành lập mới và mở rộng Điều đó đồng nghĩa với số cơ hội việc làm có thu nhập ổn định ở các nhà máy, xí nghiệp trong các KCN cho lao động nông thôn tăng lên, đặc biệt là với những thanh niên và những lao động đã qua đào tạo Mặt khác, khi các KCN phát triển, kéo theo nhiều loại hình dịch vụ phát triển, dẫn đến người nông dân có nhiều
cơ hội được tiếp cận với nhiều công việc tự do, công việc thời vụ để tăng thêm thu nhập cho nông hộ Tuy nhiên, tỷ lệ lao động ở khu vực nông thôn đã qua đào tạo còn ít, thiếu đồng bộ, dẫn đến chất lượng nguồn nhân lực thấp, đang là rào cản cho việc ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới, văn minh và bền vững Tại các KCN, phần lớn lao động vừa mới thoát ra khỏi đồng ruộng hoặc các trường phổ thông chưa qua đào tạo ngành nghề
cơ bản Tình trạng thiếu việc làm trong thời vụ trong bối cảnh các công ty thiếu lao động làm thuê đang là vấn đề bất cập hiện nay ở nông thôn [14]
Hệ thống CSHT nông thôn được nâng cấp và xây mới
Quá trình CNH thường dẫn đến mở rộng các KCN, phát triển các ngành kinh doanh, dịch vụ nên đòi hỏi cơ sở hạ tầng ở khu vực đó phải thuận tiện và phát triển Ở những vùng nông thôn, khi chưa có các KCN, người dân sống chủ yếu bằng nghề sản xuất nông nghiệp nên cơ sở hạ tầng nông thôn ít được đầu tư, thường chỉ
là đường đất, nhà cấp 4… Khi công nghiệp và các loại hình kinh doanh dịch vụ phát triển thì việc xây mới và nâng cấp cơ sở hạ tầng nông thôn là vấn đề tất yếu Chính
vì vậy, trong tiến trình CNH nông nghiệp, nông thôn, cơ sở hạ tầng ngày càng thuận tiện để việc giao thương vận chuyển được dễ dàng hơn
Thực tế cho thấy ở nhiều những khu vực được chọn để xây dựng và phát triển các KCN thì thường là những nơi gần các tuyến đường giao thông chính, dễ đi lại hoặc gần những trung tâm kinh tế, các thành phố, thị xã, thị trấn nên cơ sở hạ tầng cũng dễ được quan tâm đầu tư hơn những nơi khác[10]
Nâng cao trình độ dân trí
CNH và đô thị hóa là hai quá trình làm thay đổi lớn cuộc sống của người dân vùng nông thôn chịu tác động Sự gia tăng của các KCN, KCX đồng nghĩa với việc
Trang 2212
xuất hiện nhiều hình thức sản xuất kinh doanh mới với nhiều công nghệ và kĩ thuật hiện đại Nó đòi hỏi người lao động phải có một trình độ nhất định thì mới theo kịp Nếu như trước đây, một lao động ở khu vực nông thôn chỉ cần học hết cấp II là có thể tham gia vào sản xuất nông nghiệp một cách dễ dàng thì khi có các KCN, người lao động muốn vào làm việc tại các công ty phải ít nhất có trình độ hết cấp III hoặc phải qua đào tạo một nghề phù hợp với vị trí yêu cầu Chính vì nhu cầu lao động
có trình độ và bằng cấp gia tăng đã đòi hỏi lớp lao động trẻ kế cận phải đi học để nâng cao trình độ chuyên môn, góp phần nâng cao trình độ bình quân của người nông dân sau CNH lên rất nhiều [16]
Trong giai đoạn nền kinh tế đang phát triển như hiện nay, sản xuất nông nghiệp đang dần không còn đủ đáp ứng nhu cầu của những lao động nông thôn, đặc biệt là những thanh niên trẻ, cộng thêm sự tác động từ những chính sách của nhà nước về đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, khuyến khích trẻ em đi học đào tạo nghề và phát triển nghề mới… đã góp phần thúc đẩy lực lượng lao động trẻ tham gia học tập nhiều hơn và ở trình độ cao hơn so với trước đây Hiện nay, thanh niên bước vào độ tuổi lao động chủ yếu đã học hết cấp III, rất nhiều thanh niên đã tiếp tục học lên trung cấp, cao đẳng, đại học hoặc học thêm một nghề nào đó với mong ước tìm được một công việc ổn định trong tương lai.[17]
1.2.1.2 Những tác động tiêu cực
Ảnh hưởng sinh kế hộ nông dân
Sản xuất nông nghiệp ở các địa phương vẫn theo phương thức cũ, nhỏ lẻ, phân tán nên hiệu quả kinh tế thấp và có nguy cơ kém bền vững trước thiên tai dịch bệnh và biến động của thị trường Diện tích đất nông nghiệp giảm nhanh do quá trình phát triển các KCN, từ đó làm hạn chế cơ hội để nâng cao thu nhập từ ngành chính là trồng trọt, trong khi khả năng phát triển chăn nuôi, thủy sản và các ngành nghề phi nông nghiệp còn hạn chế Các sản phẩm rau quả và chăn nuôi gia súc, gia cầm có sức cạnh tranh thấp và khó bảo quản Bởi vậy mặc dù đã có sự chuyển dịch
cơ cấu thu nhập theo hướng tăng tỷ lệ thu nhập từ các ngành công nghiệp, dịch vụ, giảm tỷ lệ thu nhập nông nghiệp song nguồn thu từ công nghiệp và dịch vụ không
ổn định, còn nhiều bấp bênh so với trước đây [25]
Trang 2313
Người nông dân bị thu hồi đất cho CNH hay ĐTH cũng rơi vào tình trạng tư liệu sản xuất bị mất hoặc giảm đi, trong lúc chưa chuẩn bị kịp các điều kiện để chuyển đổi nghề nghiệp Phần đông nông dân có tiền (tiền bồi thường do bị thu hồi đất) cũng khó tìm phương án nào hiệu quả để sử dụng cho sản xuất, kinh doanh làm cho nó sinh sôi nảy nở Nhiều hộ nông dân đang rơi vào cảnh thua thiệt trước vòng xoáy của các quy luật thị trường, nhất là ở những nơi HTX không còn tồn tại, chính quyền cơ sở lại yếu kém Bởi vậy, khoảng cách giàu nghèo giữa người giàu và người nghèo, giữa nông thôn và thành thị càng lớn Đây là nguyên nhân chính của hiện tượng số người tự do di cư ra thành thị kiếm việc làm đang tăng lên Họ luôn trong tâm lí lo sợ rủi ro, bởi vậy, tư duy "ăn chắc, mặc bền" vẫn là phổ biến, có tiền
là xây nhà, xây cửa chắp vá, cơi nới một cách manh mún và rất tốn kém [25][26]
Tình hình ô nhiễm nước thải
Có thể nói ô nhiễm nước thải từ các KCN là vấn đề nan giải đối với bộ phận quản lý nhà nước Nhiều loại hình sản xuất chẳng hạn: dệt nhuộm, xi mạ, thuộc da, chế biến thủy sản, nông sản…qua các công đoạn sản xuất phát sinh nhiều thành phần gây ô nhiễm nặng như: ô nhiễm màu, kim loại nặng (đồng, chì, …), chất hữu
cơ trong nước thải nhuộm; ô nhiễm chất hữu cơ, mùi hôi thối… trong nước thải ngành chế biến thủy sản; ô nhiễm màu, kim loại nặng (Crôm; sắt, nhôm…) trong nước thải xi mạ…v.v…
Theo thống kê, tại khu vực Ðông Nam Bộ, lượng nước thải từ các khu công nghiệp đã chiếm đến 49% lượng nước thải của các khu công nghiệp trong toàn quốc Theo số liệu thống kê của Bộ Tài nguyên và Môi trường, tỷ lệ các khu công nghiệp có trạm xử lý nước thải tập trung chỉ chiếm 66%, nhiều khu công nghiệp đã
Trang 2414
đi vào hoạt động mà hoàn toàn chưa triển khai xây dựng hệ thống xử lý nước thải cục bộ hoặc có nhưng không vận hành, hay vận hành không hiệu quả hoặc xuống cấp Trong khi đó, theo ước tính có khoảng 70% trong tổng số hơn một triệu mét khối nước thải ngày, đêm phát sinh từ các khu công nghiệp được xả thẳng ra nguồn tiếp nhận mà không qua xử lý
Như vậy, ta có thể hình dung được nếu với lưu lượng thải lớn, chứa nhiều thành phần gây ô nhiễm và chưa qua xử lý do không đầu tư HTXL nước thải hoặc
có đầu tư nhưng không tuân thủ vận hành HTXL nước thải thì hằng ngày môi trường sống đặc biệt là nguồn tiếp nhận nước thải sẽ như thế nào
Tình hình ô nhiễm không khí
Các KCN tập trung nhiều CSSX hoạt động các loại hình sử dụng công nghệ
cũ, lạc hậu trong dây chuyền sản xuất; CSSX sử dụng nguồn nguyên liệu đầu vào
“chưa sạch” và nguồn nhiên liệu gây ô nhiễm như : than đá, củi, trấu, dầu
đen…thường phát sinh nhiều nguồn ô nhiễm trong đó có ô nhiễm không khí
Ô nhiễm không khí bao gồm: ô nhiễm bụi, tiếng ồn, khí thải, mùi phát tán ra
môi trường xung quanh có tác động tiêu cực đến con người hay vật liệu
Chúng ta có thể bắt gặp ô nhiễm bụi trong các CSSX xi măng, chế biến gỗ…
Ô nhiễm không khí do mùi hôi của các quá trình phân hủy kỵ khí chất hữu cơ: từ chất thải công nghiệp; từ các công đoạn của dây chuyền chế biến thủy sản, nông sản
Khí thải (CO; NOX ; SOx; khói bụi…) phát sinh từ quá trình đốt nhiên liệu: than đá, than củi, trấu, vỏ hạt điều, dầu FO chưa qua xử lý khi phát tán ra môi trường xung quanh
Quá trình tái chế kim loại tại các CSSX trong các KCN: nấu gang, nấu đồng, nấu nhôm cũng gây ô nhiễm nặng môi trường không khí do bụi kim loại, hơi kim
loại…
Như vậy, chúng ta có thể thấy ô nhiễm không khí tại các KCN do quá trình phát sinh nhiều loại hơi khí độc và các loại bụi khác nhau tất cả chúng đều có khả năng ảnh hưởng xấu tới sức khỏe con người nếu không được kiểm soát nghiêm ngặt
Trang 2515
Tình hình ô nhiễm do chất thải rắn
Theo một số thống kê cho thấy, mỗi ngày các KCN nước ta thải ra khoảng tám nghìn tấn chất thải rắn, tương đương khoảng ba triệu tấn một năm Một con số khổng lồ nếu tính trên tổng số diện tích và con người sinh sống quanh các KCN
Tuy nhiên, điều quan trọng nhất chính là, lượng chất thải rắn đang tăng lên cùng với việc gia tăng tỷ lệ lấp đầy các KCN Nghĩa là, càng về sau, những khu đất trống dùng để xử lý, chôn lấp chất thải khan hiếm đi, trong khi số lượng lại tăng lên mới là điều khiến người ta lo ngại Cụ thể, nếu như tính trung bình cả nước, ví dụ năm 2005 – 2006, một ha diện tích đất cho thuê phát sinh chất thải rắn khoảng 134 tấn/năm, thì đến năm 2008 – 2009, con số này đã tăng lên 204 tấn/năm (tăng 50%)
Riêng những năm gần đây, con số này chắc chắn đã tăng lên gấp nhiều lần và
đó chính là mối nguy hại lớn cho môi trường sống xung quanh
Ngoài ra, có một sự lo ngại là khác nữa là trong khi các ngành nghề sản xuất
ở các KCN đang có những sự dịch chuyển nhất định để đáp ứng nhu cầu của cuộc sống thì số lượng chất thải mà các khu công nghiệp này thải ra cũng thay đổi theo Rất nhiều chất thải là hóa chất, chất độc hại đã được tạo ra khi ngành nghề sản xuất thay đổi trong khi quy trình xử lý chất thải vẫn giữ nguyên như cũ Điều này đồng nghĩa với việc những hóa chất mới này hầu như không được xử lý hoặc sau khi xử
lý, chúng vẫn giữ nguyên yếu tố độc hại và việc thải ra môi trường là vô cùng nguy hiểm Có lẽ, đây chính là nguyên nhân mà KCN nào khi kiểm tra cũng có những dây truyền xử lý chất thải nhưng tại các khu vực xung quanh KCN, bằng mắt thường cũng có thể thấy tình trạng ô nhiễm đã tăng đột biến, làm biến đổi hoàn toàn môi trường ở khu vực đó
Cùng với đó, người dân đang phải gánh chịu những ảnh hưởng tiêu cực từ việc phát triển các KCN ở địa phương, sự ô nhiễm nguồn nước sinh hoạt, sự thoái hoá đất đai do những chất thải độc hại từ KCN gây ra
Có nhiều nguyên nhân dẫn tới sự gia tăng ô nhiễm môi trường trong KCN, trong đó phải nói đến công tác quy hoạch các KCN còn nhiều điểm không hợp lý, như việc bố trí một số KCN gần đường giao thông, khoảng cách quá gần khu dân
cư Do đó, ô nhiễm trong KCN dễ dàng gây những ảnh hưởng không tốt tới môi
Trang 26xử lý chất thải cùng với việc chưa có cơ chế hỗ trợ thoả đáng từ phía Nhà nước, là một trong những nguyên nhân khiến các nhà đầu tư chậm triển khai các hệ thống này [8][24]
Xã hội nông thôn nảy sinh nhiều bất cập
Năng lực của hệ thống chính trị cấp cơ sở chưa đáp ứng yêu cầu phát triển của thực tiễn Mức hưởng thụ của người nông dân còn thấp, khoảng cách thu nhập và đời sống giữa thành thị và nông thôn ngày càng tăng Giá cả leo thang đang
là những vấn đề bức xúc, ảnh hưởng lớn đến cuộc sống của người nông dân
Do thúc đẩy tăng trưởng nhanh các KCN nhưng chưa quan tâm giải quyết đúng mức ngay từ đầu những yếu tố hạ tầng xã hội hỗ trợ thiết yếu như: Giáo dục, y
tế, văn hóa, thể dục, thể thao, dẫn đến tình trạng đời sống văn hóa tinh thần của những cộng đồng dân cư mới và công nhân ở trọ xung quanh các KCN thực sự bức xúc, đôi khi trở thành nơi sản sinh ra các loại tệ nạn xã hội
Nhìn chung việc tổ chức triển khai xây dựng các dự án đều theo đúng trình tự, đúng qui định của Chính phủ về BT, HT và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất Tuy nhiên, hiện nay do giá cả thị trường bất động sản luôn biến động, cùng với sự lôi kéo kích động của các phần tử xấu nên việc khiếu kiện đông người vượt cấp kéo dài, nội dung chủ yếu là đòi nâng giá BT, nâng cấp loại đất BT, giảm giá đất tái định cư… làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh chính trị, trật tự
an toàn xã hội [4][9]
Sự tập trung cao của lao động tại các KCN đang khiến cho vấn đề xã hội ngày càng trở thành áp lực đối với chính quyền địa phương và người dân quanh
Trang 2717
KCN Đó là tình trạng thiếu nhà ở, điều kiện sinh hoạt khó khăn, giá cả hàng hóa tiêu dùng tăng và đáng lo ngại nhất vẫn là nảy sinh tệ nạn xã hội
1.2.2 Tác động của công nghiệp hóa đến sử dụng đất
Thu hẹp diện tích đất nông nghiệp
Vấn đề thu hồi đất nông nghiệp để xây dựng các KCN là điều không thể tránh khỏi và chính điều này đã làm diện tích sản xuất nông nghiệp thu hẹp lại, vấn
đề giải quyết công ăn việc làm cho người dân vùng nông thôn trở thành vấn đề cần quan tâm Phần lớn người dân ở những vùng bị thu hồi đất sẽ lâm vào tình trạng thiếu việc làm, tạo nên nhiều hiện tượng phức tạp ở nông thôn, trở thành một nguyên nhân gây mất ổn định ở nông thôn
Bên cạnh đó, việc thu hồi đất nhưng sử dụng lãng phí do các qui hoạch
"treo", thiếu tính khả thi, nhiều diện tích đất nông nghiệp đã được thu hồi và không còn khả năng canh tác hiện nay đang để hoang hóa, gây lãng phí
Theo thống kê, tính đến cuối tháng 6/2010 cả nước đã có 267 KCN với diện tích 72.000 ha phân bố trên 57 tỉnh, thành phố trong cả nước (Bộ Kế hoạch và Đầu
tư - Vụ Quản lý các Khu kinh tế, 2011) cho đến nay 6/2015 cả nước đã có 290 KCN với tổng diện tích lên đến 116.053 ha (theo IDICO, 2015)
Trang 28Nguy cơ mất an ninh lương thực
Để phục vụ các KCN, theo số liệu của Bộ Tài nguyên và Môi trường, bình quân mỗi năm có 73 nghìn ha đất nông nghiệp được thu hồi, trong 5 năm từ năm 2001- 2005, tổng diện tích đất nông nghiệp đã lấy là gần 370 nghìn ha Hai vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và phía Bắc là nơi được thu hồi đất nhiều nhất, trong
đó những địa phương đứng đầu là: Tiền Giang (20,3 nghìn ha), Đồng Nai (19,7 nghìn ha), Bình Dương (16,6 nghìn ha), Hà Nội (7,7 nghìn ha), Vĩnh Phúc (5,5 nghìn ha) Điều đó tác động tới đời sống khoảng 2,5 triệu người với gần 630 nghìn hộ nông dân Số liệu cho thấy, trung bình cứ mỗi ha đất thu hồi, sẽ làm hơn
10 lao động nông dân mất việc Do thiếu trình độ, sau khi thu hồi đất có tới 67% số nông dân vẫn giữ nguyên nghề sản xuất nông nghiệp, 13% chuyển sang nghề mới, 20% không có việc làm hoặc có việc nhưng không ổn định, 53% số hộ nông dân bị thu hồi đất có thu nhập sụt giảm so với trước đây nên đời sống gặp nhiều khó khăn nước (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2005)
Việt Nam là quốc gia xuất khẩu gạo thứ hai trên thế giới, năm 2007 xuất khẩu 4,5 triệu tấn gạo Dù vậy không có nghĩa là chúng ta không có nguy cơ mất cân đối an ninh lương thực trong tương lai, nhất là thiếu lương thực cục bộ ở khu vực dân cư nghèo, khi diện tích đất nông nghiệp bị thu hẹp, dân số tăng, tình hình thiên tai, dịch bệnh, giá lương thực tăng cao Mục tiêu hàng đầu của nước ta
là giữ diện tích lúa ít nhất ở mức 3,8 triệu - 4 triệu ha, sản lượng đạt khoảng 36 triệu tấn/năm như hiện nay thì an ninh lương thực của Việt Nam được bảo đảm
Tuy nhiên, sản lượng này cũng chỉ cung cấp cho dân số khoảng 100 triệu người, trong khi dân số của Việt Nam dự báo sẽ vào khoảng 120 triệu người vào giữa thế kỷ XXI Bởi vậy, nếu không giữ được một diện tích trồng lúa ổn định thì nguy cơ mất cân đối an ninh lương thực trong nước là điều sẽ xảy ra
Trang 2919
CHƯƠNG 2
ẢNH HƯỞNG CỦA CÔNG NGHIỆP HÓA ĐẾN SỬ DỤNG ĐẤT
TẠI HUYỆN BÌNH CHÁNH
2.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Bình Chánh
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
2.1.1.1 Vị trí địa lý
Năm 2001 (trước khi chia tách), huyện Bình Chánh có 19 xã và 01 thị trấn (thị trấn An Lạc), với diện tích tự nhiên khoảng 30.303ha Đến tháng 12 năm 2003, thực hiện Nghị định số 30/2003/NĐ-CP về chia tách địa giới hành chính để thành lập quận Bình Tân (gồm 3 xã và 1 thị trấn), huyện Bình Chánh có diện tích tự nhiên còn lại 25.255ha, bao gồm 16 xã, thị trấn; trong đó, xã có diện tích lớn nhất là xã Lê Minh Xuân 3.509ha, xã có diện tích nhỏ nhất là An Phú Tây 587ha
Bảng 2.1 Diện tích các xã và thị trấn của huyện Bình Chánh
(Nguồn: Phòng TN&MT Huyện Bình Chánh, 2015)
Huyện Bình Chánh nằm về phía Tây - Tây Nam của nội thành thành phố Hồ Chí Minh, cách trung tâm thành phố khoảng 15 km Bình Chánh là huyện nằm ở phía Tây - Tây Nam của nội Thành phố Hồ Chí Minh Toạ độ địa lý của huyện là
1060 27’51 - 1060 42’ kinh Đông và 1020 27’38’’- 100 52’30’’ vĩ Bắc
Trang 3020
Là một trong 5 huyện ngoại thành, có tổng diện tích tự nhiên là 25.255,28 ha, chiếm 12% diện tích toàn Thành Phố Ranh giới hành chánh được xác định như sau:
+ Phía Bắc giáp Hóc Môn;
+ Phía Nam giáp huyện Bến Lức và huyện Cần Giuộc tỉnh Long An
+ Phía Đông giáp quận Bình Tân, Quận 8, Quận 7 và huyện Nhà Bè
+ Phía Tây giáp huyện Đức Hòa tỉnh Long An
Với vị trí là cửa ngõ phía Tây Thành phố Hồ Chí Minh, có các trục đường giao thông quan trọng như Quốc lộ 1A, liên tỉnh lộ 10, đường Nguyễn Văn Linh, Quốc lộ 50 và đặc biệt là đường cao tốc Sài Gòn – Trung Lương nối kết các tỉnh Đồng Bằng Sông Cửu Long với Tp.HCM… Tạo cho Bình Chánh trở thành cầu nối giao lưu kinh tế, giao thương đường bộ giữa vùng đồng bằng Sông Cửu Long với vùng Đông Nam Bộ và các KCN trọng điểm ở phía Nam Ngoài ra, Bình Chánh còn
là một địa bàn quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế cũng như an ninh quốc phòng bảo vệ Thành phố[11]
Hình 2.1 Sơ đồ vị trí huyện Bình Chánh
(Nguồn: binhchanh.hochiminhcity.gov.vn/ban-do/Pages/ban-do-huyen.aspx)
Trang 3121
2.1.1.2 Đặc điểm địa hình
Bình Chánh có dạng địa hình đồng bằng tương đối phẳng và thấp, bị chia cắt bởi rất nhiều sông rạch, kênh mương Hướng dốc không rõ rệt với độ dốc nền rất nhỏ, hầu như bằng 0 Cao độ mặt đất phổ biến thay đổi từ 0,2m đến 1,1m, riêng khu vực ở phía bắc xã Vĩnh Lộc B có cao độ nền đất từ 1,1m lên đến 4,2m và độ dốc mặt đất thay đổi từ 0,1% đến 1%.Phần lớn diện tích huyện Bình Chánh hiện nay được bảo vệ không bị ngập do triều cao trên sông rạch nhờ vào hệ thống thủy lợi với đê bao-cống ngăn triều Đê bao có chiều rộng mặt phổ biến 3,0m và mặt đê được thiết kế với cao độ 2,0m (cao độ Quốc gia)[11]
2.1.1.3 Điều kiện khí hậu- thủy văn
Khí hậu
Bình Chánh nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa cận xích đạo với nền nhiệt
độ cao và ổn định, lượng bức xạ phong phú, số giờ nắng dồi dào, với 2 mùa mưa và khô rõ rệt Nhìn chung, thời tiết của huyện với các đặc điểm khí hậu nóng ẩm, nhiệt
độ tương đối ổn định, thuận lợi cho sản xuất nông lâm nghiệp và sinh hoạt của nhân dân Tuy nhiên, lượng mưa tập trung theo mùa nên có những kỳ xảy ra hạn hán làm thiệt hại cho năng suất hoa màu trong nông nghiệp và đời sống dân sinh[11]
Thủy văn
Huyện Bình Chánh có hệ thống sông, kênh, rạch khá đa dạng (khoảng 10 sông, rạch chính) Phần lớn sông, rạch của huyện Bình Chánh nằm ở khu vực hạ lưu, nên nguồn nước bị ô nhiễm do nước thải từ các khu công nghiệp của thành phố
đổ về như: nước đen từ kênh Tàu Hủ, kênh Tân Hoà - Lò Gốm, kênh Đôi, rạch Nước Lên, rạch Cần Giuộc…đã ngày càng gây ảnh hưởng lớn đến sản xuất nông nghiệp (đặc biệt là nuôi trồng thuỷ sản) cũng như đối với môi trường sống của nhân dân trong các khu dân cư Nhìn chung hệ thống sông, kênh, rạch trực tiếp chi phối chế độ thuỷ văn của huyện và nét nổi bật của dòng chảy là sự xâm nhập của thủy triều[11]
2.1.1.4 Tài nguyên đất
Tổng diện tích tự nhiên toàn huyện 25.255,29 ha, chiếm tỷ trọng 11,97% diện tích toàn Thành Phố và gấp 1,8 lần diện tích khu vực nội thành Trong đó: có
Trang 3222
888ha đất sông suối mặt nước chuyên dùng, còn lại 24.376,29 ha đất mặt, chia làm
3 nhóm đất chính:
Bảng 2.2 Diện tích các loại đất huyện Bình Chánh
STT Phân loại theo HTVN Chuyển đổi
Fao/UNESCO
Ký hiệu theo FAO
Diện tích
2 Đất xám trên phù sa cổ haplic Acrisols ACha 659,52 2,61
3 Đất xám gley gley Acrisols ACg 2.089,65 8,27
5 Đất phù sa loang lỗ đỏ vàng cambic Fluvisols FLca 7.211,36 28,55
6 Đất phù sa gley gley Fluvisols FLg 3.963,38 15,69
7 Đất phèn thionic Fluvisols FLt 10.452,39 41,39
8 Đất phèn phát triển orthithionic Fluvisols FLto 5.950,52 23,56
9 Đất phèn tiềm tàng protothionic Fluvisols FLtp 4.501,86 17,83
(Nguồn: Phòng TN&MT huyện Bình Chánh)
Đất xám: phân bố chủ yếu ở các xã như xã Vĩnh Lộc A, Vĩnh Lộc B Có diện tích 2.749,16 ha (chiếm 10,89% diện tích đất mặt trên địa bàn toàn huyện) Trong đó chia làm hai nhóm phụ: đất xám phù sa cổ có diện tích 659,52ha và xám gley với diện tích 2.089,65 ha Đất có thành phần cơ giới nhẹ (cát pha thịt), kết cấu rời rạc, hàm lượng cấp hạt cát ở tầng mặt đạt đến 60% nhưng càng xuống sâu hàm lượng cát giảm, lượng sét tăng lên Hàm lượng chất hữu cơ thay đổi từ 1-2%, độ
pH = 4-5, nếu được cải tạo sẽ rất thích hợp cho hoa màu
Đất xám trên phù sa cổ: có tầng đất dày, cơ giới nhẹ, dễ thoát nước, nghèo dinh dưỡng, nghèo lân và kali tổng số Xét về mức độ thích nghi thì đất này phù hợp với loại đất xây dựng hơn là đất nông nghiệp vì có nền móng tương đối ổn định
Trang 3323
Đất xám gley là nhóm đất có thời gian bị ngập nước (từ 1-3 tháng/năm) có thể trồng lúa nước 1-2 vụ, tuy nhiên hiệu quả không cao, thích hợp cho hoa màu hơn
Đất phù sa: có diện tích 11.174,74 ha (44,25% diện tích đất mặt trên địa bàn toàn huyện) do hệ thống sông Cần Giuộc và Chợ Đệm bồi đắp, phân bố chủ yếu ở các xã Tân Quý Tây, An Phú Tây, Hưng Long, Quy Đức, Đa Phước, Bình Chánh, Tân Túc Đây là nhóm đất tốt nhất cho sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện, đất có thành phần cơ giới trung bình, hàm lượng hữu cơ khá (2-10%), nghèo lân, kali khá
Đất phèn : thuộc vùng đất thấp trũng, bị nhiễm phèn mặn, phân bổ chủ yếu tại các xã Tân Nhựt, Bình Lợi, Phạm Văn Hai, Lê Minh Xuân, có diện tích 10.452,39 ha (41,39% diện tích đất mặt trên địa bàn toàn huyện) Chia làm 2 nhóm đất phèn hoạt động có diện tích 5.950,52 ha và đất phèn tiềm tàng với diện tích 4.501,86 ha Đất có thành phần cơ giới nặng (hàm lượng sét đạt 40-50%), hàm lượng chất hữu cơ cao nhưng độ phân hủy kém nên đất dễ thiếu N, nghèo lân, kali
ở mức trung bình, đất chua, pH<4,5, hàm lượng SO2-, Al3+, Fe2+ cao Nhóm đất này có độ phì tiềm tàng cao nhưng do chua và hàm lượng độc tố lớn nên trong sử dụng cần chú ý các biện pháp cải tạo và sử dụng (“ém phèn”, rửa phèn, lên líp đúng kỹ thuật, lựa chọn cây trồng phù hợp như mía, dứa, dừa, tràm…) [11]
2.1.1.5 Tài nguyên nước
Tài nguyên nước mặt
Phần lớn sông, rạch của huyện nằm ở khu vực hạ lưu, nên thường bị ô nhiễm bởi nguồn nước thải ở đầu nguồn, từ các khu công nghiệp của Thành phố đổ về như: kênh Tàu Hủ, kênh Tân Hóa – Lò Gốm, kênh Đôi, rạch Nước Lên, sông Cần Giuộc… gây ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp (đặc biệt là nuôi trồng thủy sản) cũng như môi trường sống của dân cư[11]
Tài nguyên nước ngầm
Nguồn nước ngầm phân bố khá rộng nhưng ở độ sâu từ 150 - 300 m, nước ngầm ngọt phân bố chủ yếu ở các tầng chứa nước Pleitoxen, trong đó có nơi 30 - 40m Trừ các xã phía Bắc là Vĩnh Lộc A và Vĩnh Lộc B nguồn nước ngầm không bị
Trang 3424
nhiễm phèn, nên khai thác nước tưới phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, công nghiệp cũng như nước sinh hoạt, vào tháng nắng mực nước ngầm cũng tụt khá sâu trên 40 m, các xã còn lại nguồn nước ngầm đều bị nhiễm phèn[11]
2.1.1.6 Tài nguyên khoáng sản
Bình Chánh không có khoáng sản quý hiếm, vật liệu xây dựng khá phong phú Theo tài liệu của Đoàn Địa chất thành phố sơ bộ đánh giá như sau :
Thân quặng 1:Sét gạch ngói nằm trên địa bàn xã Vĩnh Lộc, chiếm diện tích
234,46 ha, còn lại diện tích rừng đặc dụng 29,11 ha (trại thực nghiệm lâm nghiệp)
Ngoài ra trên địa bàn huyện còn khoảng 3.370ha đất trồng cây lâu năm khác (chủ yếu là tràm) phân bố ở hầu hết ở các xã Trong đó, diện tích cây lâu năm khác trồng mang tính tập trung phân bổ chủ yếu ở các xã Vĩnh Lộc A 164ha; Vĩnh Lộc B
123ha, Bình Lợi 224ha…[11]
2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
2.1.2.1 Thực trạng kinh tế
Tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Qua 5 năm thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ về phát triển kinh tế theo Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ IX; trong bối cảnh có những thuận lợi cơ bản, song cũng gặp nhiều khó khăn thời tiết, giá cả, thị trường, dịch bệnh…đặc biệt là
Trang 3525
chịu ảnh hưởng của lạm phát và suy giảm kinh tế toàn cầu, nhưng kinh tế trên địa bàn huyện vẫn được giữ vững và tiếp tục tăng trưởng khá; cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, tỷ trọng khu vực kinh tế công nghiệp - xây dựng và dịch
vụ tăng, nông – lâm nghiệp - thủy sản giảm
Tăng trưởng kinh tế: giai đoạn 2005-2014 tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 21,03%/năm (tăng 5,03% so với chỉ tiêu kế hoạch) cao hơn bình quân toàn Thành phố (11,8%) Trong đó ngành công nghiệp – xây dựng là lĩnh vực lớn nhất, là động lực tăng trưởng chính của kinh tế trên địa bàn huyện, giai đoạn 2005-2014 hoạt động sản xuất công nghiệp có bước phát triển mạnh, tốc độ tăng trưởng giá trị bình quân 24,34%/năm (vượt 4,34% so với kế hoạch);
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế: theo hướng tích cực, ngành công nghiệp – xây dựng ngày càng phát huy được thế mạnh, khẳng định được vai trò chủ lực trong phát triển kinh tế - xã hội của Huyện, nên tỷ trọng ngành công nghiệp – xây dựng tăng từ 65,06% năm 2005 lên 74,99% năm 2014, tương ứng tỷ trọng ngành nông lâm thủy sản giảm từ 14,11% năm 2005 xuống còn 5,98% năm 2014; tỷ trọng ngành thương mại – dịch vụ duy trì mức 19-20%.[3]
Bảng 2.3 Tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế 2005 -2014
g % 2005-
-Công nghiệp- xây dựng " 1.348,93 4.009,38 4.825,60 24,34 -Thương mại- dịch vụ " 431,65 1.009,89 1.224,49 18,53
2 Gía trị sản xuất (giá thực tế) Tỷ đồng 3.023,38 7.452,12 8.718,56
-Nông lâm thủy sản " 482,02 1.030,79 1.113,12
-Công nghiệp- xây dựng " 1.721,22 4.199,57 5.034,00
Trang 36g % 2005-
3.2 Cơ cấu giá trị sản xuất (giá thực tế) % 100,00 100,00 100,00
Trang 3727
nghề của huyện chuyển dịch theo đúng định hướng phát triển kinh tế - xã hội của địa phương “công nghiệp – thương mại; dịch vụ - nông nghiệp”, lao động trong ngành nông –lâm – nuôi trồng thủy sản ngày một giảm, lao động hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ thương mại, công nghiệp ngày một tăng nhanh
Bảng 2.4 Thống kê dân số - lao động trên địa bàn qua các năm
tính
THỰC HIỆN QUA CÁC NĂM
Tăng trưởng 2006-2010
2005 2010 2014
Dân số trung bình Người 311.702 446.084 467.459 7,43
Số người trong độ tuổi lao động Người 222.031 318.075 333.419 7,45
Số LĐ đang làm việc Người 121.252 165.704 173.644 6,45 T/ đó: + Lao động NL nghiệp Người 38.515 13.879 12.581 -18,46 + Lao động CN+XD Người 46.929 87.515 80.545 13,27 + Lao động dịch vu Người 35.808 64.310 80.519 12,42
Tỉ lệ so với nguồn lao động % 54,61 52,10 52,08
(Nguồn: Niên giám thống kê huyện Bình Chánh)
Tỷ lệ tăng dân số trong độ tuổi lao động trong những năm qua luôn tăng Nguyên nhân là do các khu công nghiệp Lê Minh Xuân, Vĩnh Lộc… thu hút được nguồn lao động lớn từ nội thành và các tỉnh khác đến Bên cạnh đó, còn do trên địa bàn huyện còn quỹ đất nông nghiệp khá lớn, đã thu hút phần lớn các hộ dân cư có thu nhập vừa và thấp đến định cư, xây dựng nhà cửa ngay trên đất nông nghiệp Do
đó, việc tăng dân cơ học cao và tự phát trong vài năm gần đây bên cạnh những tác động tích cực như tạo nguồn lao động dồi dào cho huyện, cũng nảy sinh nhiều vấn
đề bức xúc trong xây dựng trái phép, lấn chiếm sông rạch và các lĩnh vực xã hội khác
Giai đoạn 2006-2010, giải quyết việc làm mới cho 22.129 lao động (đạt 221,3% chỉ tiêu kế hoạch), năm 2006 tỷ lệ thất nghiệp là 5,7% đã kéo giảm xuống còn 5,4% vào năm 2010 Thực hiện chương trình giảm nghèo, tăng hộ khá: năm
Trang 3828
2010 số hộ nghèo trên địa bàn huyện là 11.938 hộ với 55.021 nhân khẩu (chiếm tỷ
lệ 10,59%), trong đó: 7.268 hộ nghèo có mức thu nhập 6-8 triệu đồng/người/năm, 3.332 hộ nghèo có mức thu nhập 8-10 triệu đồng/người/năm, 1.338 hộ nghèo có mức thu nhập 10-12 triệu đồng/người/năm Năm 2011, đã có 2.953 hộ vượt chuẩn nghèo trên 12 triệu đồng/người/năm (đạt 148% kế hoạch)
2.1.2.3 Điều kiện cơ sở hạ tầng
Mạng lưới giao thông
Giao thông đường bộ
Tổng chiều dài các tuyến đường trên địa bàn huyện là 412,23km, trong đó có
52 tuyến đường do Thành phố quản lý với tổng chiều dài 139,95km và 142 tuyến do UBND Huyện quản lý với tổng chiều dài 272,28km, không kể các tuyến đường nhỏ, hẻm phân cấp cho UBND xã, thị trấn quản lý
Về đường giao thông đối ngoại hiện hữu có các tuyến:
Đường cao tốc TP Hồ Chí Minh – Trung Lương: Đây là tuyến ngoại vi có tiêu chuẩn kỹ thuật cao nối kết thành phố Hồ Chí Minh với các tỉnh đồng bằng Sông Cửu Long, tuyến bắt đầu từ khu vực phía Tây - Nam thành phố tại điểm giao với đường vành đai 2 ở khu vực huyện Bình Chánh, qua tỉnh Long An tới tỉnh Tiền Giang Tuyến qua huyện có chiều rộng lòng đường 39-41m, dài 10,05km, lộ giới 120m, kết cấu mặt đường bê tông nhựa
Đường Nguyễn Văn Linh: Bao gồm một đoạn tuyến có chức năng là đường Vành đai 2 thành phố (đoạn từ nút Trịnh Quang Nghị về phía Đông), tuyến có chiều rộng lòng đường 25-30m, dài 10,98km, lộ giới 120m, kết cấu mặt đường bê tông nhựa
Đường Quốc Lộ 1A: đây là cửa ngõ phía Tây - Nam ra vào thành phố, nối kết với thành phố Hồ Chí Minh tại ngã ba An Lạc - điểm giao với đường Hùng Vương nối dài với chiều dài 8,97km, chiều rộng lòng đường 19-19,5m, lộ giới 120m
Đường Tỉnh Lộ 10: đây là trục hướng tâm thành phố chiều dài 9,04 km, chiều rộng lòng đường từ 6 -7 m, lộ giới 40m
Trang 39Giao thông nông thôn
Các tuyến đường giao thông nông thôn phần lớn chưa được đầu tư theo quy hoạch lộ giới được duyệt Các tuyến đường do Huyện quản lý có mặt cắt ngang đường trung bình từ 5,0 đến 6,0m, chưa có hệ thống thoát nước, vỉa hè, cần đầu tư nâng cấp để đảm bảo đáp ứng cho nhu cầu phát triển
Hệ thống cầu đường bộ
Trên địa bàn huyện có 34 cầu đi qua các sông rạch trên các tuyến đường chính của huyện do Khu quản lý giao thông số 1 quản lý Tổng chiều dài cầu khoảng 3,04 km, chiều dài đường vào cầu khoảng 3,98 km, chiều rộng mặt cầu chủ yếu 6 – 7 m và tải trọng chủ yếu là 10 tấn và 30 tấn Riêng cầu Bình Điền 1,2 có chiều rộng mặt cầu 11,25 m x 2 Ngoài ra còn 74 cầu do huyện quản lý, chiều rộng chủ yếu từ 1,5 -3,0 m, kết cấu bê tông cốt thép, kết cấu thép và gỗ
Về giao thông đường thủy
Huyện Bình Chánh có nhiều sông rạch hiện hữu, trong đó một số tuyến sông rạch chính có chức năng giao thông thủy Các sông rạch có chức năng giao thông thủy bao gồm: Tuyến Vành đai ngoài (sông Chợ Đệm, Bến Lức, kênh Lý Văn Mạnh, kênh Xáng Ngang, kênh Xáng Đứng, kênh An Hạ), sông Cần Giuộc, rạch Bà
Tỵ, Rạch Bà Lớn - rạch Chổm, rạch Bà Lào - rạch Ngang, Tắc Bến Rô, rạch Chiếu – cầu Bà Cả và rạch Ông Lớn Trong đó: bao gồm 01 tuyến cấp III chiều dài 11,5km; 05 tuyến cấp IV chiều dài 25km
Trang 40và các trạm cấp nước trong các khu công nghiệp, các dự án khu dân cư cung cấp cho 62.830 người chiếm tỷ lệ 14,46%
Nguồn nước từ Trung tâm nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường nông thôn (thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn): quản lý 32 trạm cấp nước, cung cấp cho 80.767 người chiếm tỷ lệ 18,82%
Các hộ dân còn lại thì dùng nước từ các giếng khoan riêng lẻ để cấp cục bộ, hầu như là không được xử lý, chất lượng nước phụ thuộc vào độ sâu giếng khoan, hầu như là đều bị nhiễm sắt
Do địa bàn rộng, dân cư rải rác, nguồn nước sạch cung cấp chỉ có trên một số trục đường chính như: Tỉnh lộ 10, đường Vĩnh Lộc, quốc lộ 1A, quốc lộ 50, Nguyễn Văn Linh…nên việc cấp nước sạch còn khó khăn, trước mắt cần duy trì và phát