Nghề nghiệp tác động đến mức độ hài lòng về đời sống hôn nhân của người dân nông thôn và đô thị trong quá trình đô thị hóa hiện nay.. Chính vì vậy mà tác giả quyết định chọn đề tài “ Mức
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
==================
ĐỖ THỊ LAN
MỨC ĐỘ HÀI LÒNG VỀ ĐỜI SỐNG HÔN NHÂN: KHÁC BIỆT GIỮA NÔNG THÔN VÀ ĐÔ THỊ TRONG QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Xã hội học
Hà Nội - 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
==================
ĐỖ THỊ LAN
MỨC ĐỘ HÀI LÒNG VỀ ĐỜI SỐNG HÔN NHÂN: KHÁC BIỆT GIỮA NÔNG THÔN VÀ ĐÔ THỊ TRONG QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA HIỆN NAY
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Xã hội học
Mã số: 60.31.03.01
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Hoàng Bá Thịnh
Hà Nội - 2015
Trang 3MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG 3
DANH MỤC BIỂU 5
MỞ ĐẦU 6
1 Tính cấp thiết 6
2 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn 7
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 8
4 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu 9
5 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu 9
6 Phương pháp nghiên cứu: 10
7 Khung lý thuyết 11
8 Kết cấu của luận văn 12
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬNVÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 13
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 13
1.2 Khái niệm liên quan 17
1.2.1 Hôn nhân 17
1.2.2 Gia đình 17
1.2.3 Nông thôn 19
1.2.4 Đô thị 19
1.2.5 Đô thị hóa 20
1.2.6 Hài lòng 21
1.2.7 Mức độ hài lòng 21
1.3 Lý thuyết áp dụng 21
1.3.1 Lý thuyết hành động xã hội 21
1.3.2 Lý thuyết biến đổi xã hội 23
CHƯƠNG 2: MỨC ĐỘ HÀI LÒNG VỀ ĐỜI SỐNG HÔN NHÂN: KHÁC BIỆT GIỮA NÔNG THÔN VÀ ĐÔ THỊ 27
2.1 Khái quát về quá trình đô thị hóa hiện nay 27
2.2 Thực trạng mức độ hài lòng về đời sống hôn nhân 28
Trang 42.2.1 Mức độ hài lòng về người bạn đời (vợ/chồng) 33
2.2.2 Mức độ hài lòng về con cái 37
2.2.3 Mức độ hài lòng về kinh tế gia đình 52
2.2.4 Mức độ hài lòng về đời sống tinh thần trong gia đình 62
CHƯƠNG III: YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MỨC ĐỘ HÀI LÒNG VỀ ĐỜI SỐNG HÔN NHÂN 73
3.1 Trình độ học vấn 73
3.2 Nghề nghiệp tác động đến mức độ hài lòng về đời sống hôn nhân của người dân nông thôn và đô thị trong quá trình đô thị hóa hiện nay 82
3.3 Anh hưởng tích cực và tiêu cực của quá trình đô thị hóa đến mức độ hài lòng về đời sống hôn nhân trong gia đình nông thôn và đô thị hiện nay 93
3.3.1 Ảnh hưởng tích cực của quá trình đô thị hóa đến mức độ hài lòng về đời sống hôn nhân trong gia đình nông thôn và đô thị hiện nay 94
3.3.2 Ảnh hưởng tiêu cực của quá trình đô thị hóa đến mức độ hài lòng về đời sống hôn nhân trong gia đình nông thôn và đô thị hiện nay 97
3.3.3 Nhận xét chung 102
KẾT LUẬN 105
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 110
PHỤ LỤC 113
Trang 5DANH MỤC BẢNG Bảng 2.1: Mức độ hài lòng về các khía cạnh cuộc sống (Tỷ lệ %) 29Bảng 2.2: Tương quan giữa khu vực với mức độ hài lòng về hôn nhân của người dân (Tỷ lệ %) 36Bảng 2.3: Tương quan giữa khu vực với mức độ hài lòng về số con mong muốn (Tỷ lệ %) 39Bảng 2.4: Tương quan giữa khu vực với mức độ hài lòng về sức khỏe của con (Tỷ lệ %) 42Bảng 2.5: Tương quan giữa khu vực với mức độ hài lòng về học tập của con (Tỷ lệ %) 45Bảng 2.6: Tương quan giữa khu vực với mức độ hài lòng về thu nhập của người dân (Tỷ lệ %) 55Bảng 2.7: Tương quan giữa khu vực với mức độ hài lòng về chi tiêu của người dân (Tỷ lệ %) 58Bảng 2.8: Tương quan giữa khu vực với mức độ hài lòng về quan hệ cha mẹ
- con cái (Tỷ lệ %) 67Bảng 2.9: Tương quan giữa khu vực với mức độ hài lòng về cơ sở hạ tầng tỉnh/thành phố (Tỷ lệ %) 71Bảng 3.1: Tương quan giữa trình độ học vấn với mức độ hài lòng về học vấn của con (Tỷ lệ %) 75Bảng 3.2: Tương quan giữa trình độ học vấn với mức độ hài lòng về công ăn, việc làm của con (Tỷ lệ %) 76Bảng 3.3: Tương quan giữa trình độ học vấn với mức độ hài lòng về hôn nhân, gia đình của con (***) (Tỷ lệ %) 77Bảng 3.4: Tương quan giữa trình độ học vấn với mức độ hài lòng về thu nhập của người dân (Tỷ lệ %) 79Bảng 3.5: Tương quan giữa trình độ học vấn với mức độ hài lòng về đời sống tinh thần của người dân (Tỷ lệ %) 81
Trang 6Bảng 3.6: Tương quan giữa nghề nghiêp với mức độ hài lòng về hôn nhân của người dân (Tỷ lệ %) 83Bảng 3.7: Tương quan giữa nghề nghiệp với mức độ hài lòng về công ăn, việc làm của con (Tỷ lệ %) 85Bảng 3.8: Tương quan giữa nghề nghiêp với mức độ hài lòng về tiện nghi gia đình (Tỷ lệ %) 90Bảng 3.9: Tương quan giữa nghề nghiệp với mức độ hài lòng đời sống tinh thần của người dân (Tỷ lệ %) 92
Trang 7DANH MỤC BIỂU
Biểu 2.1: Mức độ hài lòng của người dân về số con (Tỷ lệ %) 38
Biểu 2.2: Mức độ hài lòng về sức khỏe của con (Tỷ lệ %) 41
Biểu 2.3: Mức độ hài lòng về học tập của con (Tỷ lệ %) 43
Biểu 2.4: Mức độ hài lòng về công ăn, việc làm của con (Tỷ lệ %) 46
Biểu 2.5: Mức độ hài lòng về hôn nhân - gia đình của con (Tỷ lệ %) 51
Biểu 2.6: Đánh giá về kinh tế gia đình (Tỷ lệ %) 52
Biểu 2.7: Nguồn thu nhập chính của gia đình hiện nay ( Tỷ lệ %) 54
Biểu 2.8: Mức độ hài lòng về việc làm của người dân theo vùng miền khác nhau (Tỷ lệ %) 56
Biểu 2.9: Mức độ hài lòng về đời sống tinh thần của người dân (Tỷ lệ %) 64
Biểu 2.10: Mức độ hài lòng về quan hệ cha mẹ - con cái (Tỷ lệ %) 67
Biểu 2.11: Mức độ hài lòng về quan hệ hàng xóm, láng giềng của người dân ở các khu vực (Tỷ lệ %) 69
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết
Gia đình là nền tảng của xã hội,là một bộ phận không thể thiếu của xã hội con người và khó lòng hình dung xã hội con người sẽ vận hành ra sao nếu thiếu gia đình Sự ổn định và phát triển trong đời sống hôn nhân có vị trí, vai trò hết sức quan trọng đối với sự ổn định và phát triển trong hạnh phúc gia đình Gia đình là một trong những nhân tố đóng vai trò đặc biệt quan trọng đến sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước, nhất là trong thời kỳ đẩy mạnh công nhiệp hoá,
hiện đại hoá của đất nước với chuẩn mực chung là “ ấm no, bình đẳng, tiến bộ,
hạnh phúc, bền vững”.Gia đình luôn gắn kết chặt chẽ với xã hội và xã hội lành
mạnh tạo điều kiện cho gia đình tiến bộ, gia đình hạnh phúc góp phần cho sự phát triển hài hoà của xã hội
Đô thị hóa là quá trình chuyển đổi từ xã hội nông thôn truyền thống sang
xã hội đô thị hiện đại, làm thay đổi không những yếu tố vật chất, mà còn chuyển biến những khuôn mẫu trong đời sống xã hội Tác động của nó thể hiện cả đối với khu vực nông thôn và đô thị Trong quá trình đô thị hóa, mặc dù mức độ hài lòng về hôn nhân chia sẻ nhiều điểm chung song các mẫu hình về hôn nhân gia đình là đa dạng, thuộc nhiều nhóm dân tộc khác nhau với đặc trưng quan hệ, sắc thái riêng biệt và chịu ảnh hưởng của các yếu tố khác nhau, cả trong và bên ngoài hôn nhân gia đình Nhiều yếu tố áp lực (điều kiện cấu trúc kinh tế, nhân khẩu, tư tưởng, nhận thức, văn hóa, lối sống, đặc điểm cá nhân)…tác động tới mức độ hài lòng về đời sống hôn nhân cũng như sự gắn kết trong quan hệ gia đình
Theo thống kê của Toàn án nhân dân tối cao năm 2005, số lượng vụ ly hôn tăng lên theo năm và chưa có xu hướng giảm Cụ thể năm 2003: 58.707 cặp vợ/chồng ly hôn, năm 2004 là 65.336 và năm 2005 là 65.829 Thêm vào đó, tỷ lệ trẻ em hư trong các gia đình cũng đang tăng lên Theo số liệu của Ban Khoa giáo trung ương năm 2007 cho thấy hàng năm xảy ra trung bình trên 10.000 vụ tội phạm lứa tuổi vị thành niên với khoảng 10.000 trẻ em tham gia vi phạm Riêng năm 2005 có 8.984 vụ với sự tham gia của 14.082 em [4] Số liệu này cho thấy nguy cơ ảnh hưởng đến đời sống hôn nhân, gia đình đang ngày càng gia tăng
Trang 9Đây cũng là thách thức lớn đối với việc duy trì, củng cố độ bền vững trong quan
hệ hôn nhân nói riêng, chất lượng sống và an toàn của các thành viên trong gia đình nói chung
Mỗi sự thay đổi và tổn thương trong đời sống gia đình đều có ảnh hưởng nhất định đến các mặt liên đới của xã hội Chính vì vậy, sự hòa hợp, yên ấm trong mỗi gia đình đều có ý nghĩa rất quan trọng đối với ổn định xã hội, tuy nhiên thực hiện điều đó không phải đơn giản vì có vô vàn yếu tố nội sinh cũng như ngoại sinh ảnh hưởng đến chất lượng đời sống hôn nhân gia đình Trong đó, đời sống hôn nhân của người dân là một trong những mảng cần quan tâm bởi còn
có nhiều hạn chế trong nhận thức của họ về các vấn đề đời sống gia đình
Nghiên cứu về mức độ hòa hợp trong đời sống hôn nhân sẽ giúp chúng ta
có cái nhìn khách quan, chân thật hơn về thực trạng đời sống hôn nhân cũng như
có những giải pháp thiết thực nhằm cải thiện chất lượng cuộc sống gia đình Sự hài lòng là một khái niệm hẹp hơn hạnh phúc - thường được khảo sát như một trong ba chỉ số chính khi nghiên cứu về hạnh phúc Những nghiên cứu mới nhất
về yếu tố này ở Việt Nam cho thấy người dân chủ yếu hài lòng về gia đình, con cái và mức độ hài lòng cũng dựa trên những tiêu chí rất cụ thể của mức sống, điều kiện sống
Qua đó cho thấy, việc tìm hiểu thực trạng về đời sống hôn nhân có mang lại sự hài lòng cho người dân hay không trong quá trình đô thị hóa và các yếu tố khách quan, chủ quan nào tác động đến là rất cần thiết Chính vì vậy mà tác giả
quyết định chọn đề tài “ Mức độ hài lòng trong đời sống hôn nhân: Khác biệt giữa
nông thôn và đô thị trong quá trình đô thị hóa hiện nay” nhằm tìm hiểu thực trạng
hài lòng của người dân trong đời sống hôn nhân hiện nay, yếu tố tác động và một số giải pháp thiết thực góp phần xây dựng chính sách hôn nhân bền vững
2 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn
Trang 10của người dân về đời sống hôn nhân gia đình của trong các thời kỳ, giai đoạn phát triển xã hội cũng có sự khác nhau
Nghiên cứu tìm hiểu về mức độ hài lòng về đời sống hôn nhân của người dân nông thôn và đô thị hiện nay góp phần đánh giá được phần nào về thực trạng đời sống hôn nhân gia đình của người dân nông thôn và đô thị hiện nay
Để duy trì và phát triển cuộc sống gia đình bền vững thì đáp ứng nhu cầu kinh tế, sự thỏa mãn về công việc, thu nhập, chi tiêu… là các yếu tố vô cùng quan trọng đối với đời sống hôn nhân của cá nhân, gia đình và xã hội Mức độ hài lòng của người dân về đời sống hôn nhân gia đình càng cao, tích cực đó là sự biểu hiện của cuộc sống gia đình ngày càng ổn định và phát triển theo chiều hướng tích cực
2.2 Ý nghĩa thực tiễn:
Qua nghiên cứu tìm hiểu nhận thức cũng như yếu tố tác động về đời sống hôn nhân nhằm áp dụng và kiểm chứng các lý thuyết đã học vào thực tế đồng thời nghiên cứu góp phần giúp cho các nhà truyền thông, quản lý hoạch định chính sách có cái nhìn toàn diện hơn, nhận tức tốt hơn về đời sống gia đình, sinh hoạt của các hộ gia đình từ đó có giải pháp thiết thực nhằm nâng cao chất lượng đời sống gia đình
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Thao tác hóa các khái niệm có liên quan đến đề tài nghiên cứu
Trang 11- Đưa ra khung lý thuyết, các biến số, chỉ báo, giả thuyết nghiên cứu
- Vận dụng các lý thuyết xã hội học liên quan vào nghiên cứu mức độ hài lòng về đời sống hôn nhân của người dân nông thôn và đô thị trong quá trình đô thị hóa hiện nay
- Mô tả thực trạng mức độ hài lòng về đời sống hôn nhân của người dân nông thôn và đô thị
- Tìm hiểu các yếu tố chính tác động đến mức độ hài lòng về đời sống hôn nhân của người dân nông thôn và đô thị
- Đưa ra một số giải pháp cụ thể nhằm nâng mức độ hài lòng về đời sống hôn nhân của người dân nông thôn, đô thị và một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện hơn chính sách của Đảng, Nhà nước tới đời sống hôn nhân, gia đình hiện nay
4 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Mức độ hài lòng về đời sống hôn nhân: khác biệt giữa nông thôn và đô thị trong quá trình đô thị hóa hiện nay
4.2 Khách thể nghiên cứu
Hộ dân nông thôn và đô thị
4.3 Phạm vi nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu: Từ 2012 đến nay
- Không gian: Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, Hải Dương
5 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu
5.1 Câu hỏi nghiên cứu
- Mức độ hài lòng về đời sống hôn nhân được thể hiện như thế nào ở gia đình nông thôn và đô thị trong quá trình đô thị hóa hiện nay (về đời sống hôn nhân vợ/chồng, con cái, kinh tế, đời sống tinh thần)?
- Đời sống hôn nhân của người dân nông thôn và đô thị khác nhau chủ yếu
về khía cạnh nào?
Trang 12- Những yếu tố nào tác động đến đời sống hôn nhân giữa gia đình nông thôn và đô thị hiện nay ( khu vực, giới, trình độ học vấn, nghề nghiệp, thu nhập, gia đình, mối quan hệ xã hội …)?
5.2 Giả thuyết nghiên cứu
- Mức độ hài lòng với các khía cạnh của đời sống gia đình (gồm hôn nhân, con cái, mối quan hệ với con cái) của người dân ở cả miền Bắc và Nam cao hơn
so với các khía cạnh khác như hài lòng về kinh tế, nghề nghiệp, thu nhập hay điều kiện môi trường sống của họ;
- Mức độ hài lòng về đời sống hôn nhân của người nông thôn thấp hơn ở thành thị;
- Nhóm người dân có trình độ học vấn cao thường có xu hướng hài lòng
về đời sống hôn nhân cao hơn so với nhóm có trình độ học vấn thấp
6 Phương pháp nghiên cứu:
6.1 Phương pháp luận:
Đề tài sử dụng quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử làm kim chỉ nam trong suốt quá trình nghiên cứu, từ các luận điểm nghiên cứu, phân tích cho đến chứng minh các khía cạnh khác nhau của đề tài
Đề tài vận dụng một số cách tiếp cận xã hội học như: Tiếp cận xã hội học
về xã hội hóa và tiếp cận xã hội học về sự lựa chọn hợp lý
6 Phương pháp nghiên cứu:
6.1 Phương pháp phân tích tài liệu thứ cấp:
Luận văn sử dụng số liệu gốc của Đề tài nghiên cứu của Đại học Quốc gia
Hà Nội: “Sự hài lòng về cuộc sống” do PGS.TS Hoàng Bá Thịnh (Giám đốc
Trung tâm Nghiên cứu Giới, Dân số, Môi trường và Các vấn đề xã hội) làm chủ nhiệm đề tài; nghiên cứu được thực hiện từ năm 2011 tại 5 tỉnh thành trong cả nước (Hà Nội, Hải Dương, Bình Dương và TP.Hồ Chí Minh với cỡ mẫu là 2400 đại diện gia đình ở cả vùng nông thôn và thành thị
Trang 13 Đặc điểm gia đình: quy mô gia đình, mức sống gia đình
Mạng lưới xã hội ( Mối quan hệ): Trong gia đình ( vợ/ chồng; con; bố/mẹ; người họ hàng…); ngoài xã hội ( bạn bè; đồng nghiệp…)
+ Biến phụ thuộc
Nhận thức về khái niệm hôn nhân
Nhận thức về khái niệm đời sống hôn nhân
Chính sách của Đảng, Nhà nước
Mức độ hài lòng về đời sống hôn nhân: Khác biệt giữa nông thôn và
đô thị trong quá trình đô thi hóa Đặc điểm gia đình
Mối quan hệ (MLXH)
Môi trường KT - XH Đặc điểm cá nhân
Trang 14 Mức độ hài lòng về đời sống hôn nhân
o Hài lòng về đời sống vợ/chồng
o Hài lòng về con cái
o Hài lòng về kinh tế
o Hài lòng về đời sống tinh thần
+ Biến can thiệp
o Chính sách của Đảng, Nhà nước
o Môi trường văn hóa-kinh tế-xã hội
8 Kết cấu của luận văn
Ngoài các phần: Mở đầu; Kết luận và Giải pháp, Kiến nghị; Danh mục tài liệu tham khảo; Phụ lục, luận văn có kết cấu gồm 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
Chương 2: Mức độ hài lòng về đời sống hôn nhân: Khác biệt giữa nông thôn và đô thị
Chương 3: Các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ hài lòng về đời sống hôn nhân:
Trang 15CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬNVÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Nghiên cứu sự khác biệt giữa nông thôn và đô thị về đời sống hôn nhân trong quá trình đô thị hóa hiện nay đã và đang trở thành một trong những đối tượng nghiên cứu mang tính thời sự của khoa học xã hội và nhân văn, đặc biệt là
xã hội học Vấn đề hôn nhân ở nông thôn và đô thị diễn ra ngày càng phức tạp được thể hiện trên nhiều khía cạnh như…Trong đó, mức độ hài lòng về hôn nhân được xem là nhân tố quan trọng góp phần giữ vững hạnh húc gia đình trong quá trình đô thị hóa Chính vì vậy mà hiện nay đã có khá nhiều đề tài khoa học, công trình nghiên cứu, sách báo về hôn nhân cũng như đời sống gia đình nhằm tìm hiểu thực trạng cũng như ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa đến mức độ hài lòng trong hôn nhân
Nghiên cứu trong nước:
Cuốn sách “Gia đình và biến đổi gia đình ở Việt Nam”, 2011, Lê Ngọc
Văn, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Cuốn sách gồm 3 phần, tập trung chủ yếu vào những khía cạnh hôn nhân và gia đình trong thời kỳ đổi mới Phần thứ nhất
đề cập đến những vấn đề lý luận và biến đổi gia đình Làm rõ các khái niêm then chốt như gia đình, cấu trúc gia đình, văn hóa gia đình và biến đổi gia đình với những nhân tố và quá trình ảnh hưởng đến biến đổi gia đình như công nghiệp hóa, toàn cầu hóa, chính sách pháp luật và nhà nước Phần thứ hai nhấn mạnh đến sự biến đổi chức năng gia đình và sự biến đổi cấu trúc gia đình Đặc biệt, trong phần hai, tác giả đã phân tích thành công những khía cạnh về đời sống hôn nhân gia đình trong thời kỳ công nghiệp hóa Phản ánh được những vấn đề xung quanh các quan hệ hôn nhân cũng như một số hiện tượng mới trong mô hình gia đình như người mẹ đơn thân, gia đình ly thân, ly hôn Phần cuối cùng đề cập đến những quan điểm và giải pháp chính sách về những vấn đề đặt ra từ sự biến đổi của gia đình Việt Nam Nhìn chung, tác giả đã thể hiện thành công những khía cạnh trong đời sống hôn nhân và gia đình trong thời kỳ đổi mới cũng như đưa ra được những chính sách phù hợp với hoàn cảnh đất nước hiện nay
Trang 16Nghiên cứu “Xu hướng gia đình ngày nay” (Một vài đặc điểm từ nghiên cứu thực nghiệm tại Hải Dương), 2004, Vũ Tuấn Huy, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Nghiên cứu thí điểm về biến đổi gia đình ở Việt Nam hiện nay nên mẫu nghiên cứu được xem xét về phương diện có thể so sánh được những biến đổi theo các tiêu chí vùng Những người trả lời thuộc những người đang có vợ/ chồng trong độ tuổi từ 25-35 và từ 45-55 Mục đích của nghiên cứu thực nghiệm thí điểm tại tỉnh Hải Dương nhằm thăm dò một số khía cạnh về sự biến đổi của gia đình Việt Nam Đặc biệt, nghiên cứu đã thể hiện thành công khi phân tích những khía cạnh về hôn nhân gia đình của người dân hiện nay Sự biến đổi của
cơ cấu kinh tế-xã hội, các yếu tố thị trường, thay đổi công nghệ và sự biến đổi của định hướng giá trị đã tác động đến sự hình thành của hôn nhân, quan hệ giữa các thế hệ và phân công lao động trong gia đình; số con và khía cạnh sinh con, vai trò của gia đình trong việc đảm bảo an sinh cho người già và các thành viên không có khả năng lao động
Cuốn sách “Nghiên cứu gia đình và giới thời kỳ đổi mới”, Nguyễn Hữu Minh, Trần Thị Vân Anh (chủ biên), 2009, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Các tác giả đã rất thành công trong việc đưa ra bức tranh đầy đủ về những vấn đề chung trong nghiên cứu gia đình và giới Đề cập đến những khía cạnh dân số của gia đình và nghiên cứu gia đình trong bối cảnh đổi mới Cuốn sách được chia thành năm phần, từ những vấn đề chung, tổng quát đến những vấn đề mang tính chất chuyên sâu đối với bốn lĩnh vực nghiên cứu và đào tạo chủ yếu bao gồm: phụ nữ, bình đẳng giới, gia đình và trẻ em Các bài viết mang tính chất tổng hợp
đã phân tích và đánh giá một chặng đường quan trọng trong quá trình phát triển của gia đình Việt Nam Thêm vào đó là những thay đổi và thách thức liên quan đến biến đổi giới trong xu hướng hội nhập và phát triển Nghiên cứu gia đình trong bối cảnh mới đã phản ánh được tính đa dạng của gia đình, đời sống hôn nhân hiện nay và nhấn mạnh những mâu thuẫn về lối sống cũng như một số vấn
đề đặt ra trong nghiên cứu và xây dựng chính sách gia đình
Trang 17Nghiên cứu “Gia đình nông thôn Đồng bằng Bắc bộ trong chuyển đổi”(Nghiên cứu trường hợp tại tỉnh Hà Nam), 2011, Trịnh Duy Luân (chủ biên), Nxb Khoa học Xã Hội, Hà Nội Tập hợp các bài viết trong nghiên cứu này là thành qủa của Dự án nghiên cứu liên ngành “Gia đình nông thôn Việt Nam trong chuyển đổi” Nội dung nghiên cứu của dự án đã được triển khai thông qua nhiều hoạt động nghiên cứu tại 4 địa phương, đại diện cho ba tỉnh miền Bắc, Trung, Nam bao gồm các tỉnh: Yên Bái, Thừa Thiên Huế, Tiền Giang và Hà Nam Nghiên cứu tại ba tỉnh đầu đã được nghiên cứu từ năm 2004-2007 và được thực hiện trong cuốn sách với tiêu đề “Gia đình nông thôn Việt Nam trong chuyển đổi”
Nghiên cứu thứ tư trong cuốn sách “Gia đình nông thôn Đồng bằng Bắc
bộ trong chuyển đổi” được thực hiện tại xã Trịnh Xá, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam, 2008-2009 Những bài viết trong cuốn sách này đã làm nổi bật được những khía cạnh về gia đình trong thời kỳ chuyển đổi như quan điểm về đời sống hôn nhân, những biến đổi mô hình phân công lao động trong gia đình cũng như các hình thức tương trợ ở nông thôn Tác giả còn nhấn mạnh đến những chức năng trong gia đình, đặc biệt là chức năng tái sản xuất con người với ý nghĩa của con cái trong gia đình và những đầu tư, giáo dục cho con cái trong thời kỳ đổi mới
Nghiên cứu ngoài nước:
Nghiên cứu “Biến đổi xã hội và gia đình: các triển vọng so sánh từ
phương Tây, Trung Quốc và Nam Á”, Arland Thornton, Thomas E.Fricke
Nghiên cứu chỉ ra những thay đổi trong hôn nhân được thúc đẩy bởi sự biến đổi lớn lao của xã hội qua mở rộng học vấn và nền công nghiệp Có sự khác biệt giữa các bậc cha mẹ phương Tây so với cha mẹ ở Trung Quốc và Đông Nam Á trong việc kiểm soát hôn nhân của con cái Nhìn chung, trong toàn bộ vùng Đông Nam
Á, hôn nhân là một thiết chế có tính then chốt gắn chặt với một loạt quá trình xã hội bao gồm công việc chuyển giao tài sản theo phụ hê, thiết lập quan hệ thông gia và mở rộng mạng lưới bảo hiểm xã hội dựa trên cơ sở họ hàng Trong khi đó
ở phương Tây, sự kiểm soát của cha mẹ đối với con cái thấp hơn nhiều và những
Trang 18thanh niên ở phương Tây mà có động cơ sử dụng thu nhập của mình để kết hôn
và kiếm nhà riêng có thể bị thất bại do cha mẹ họ muốn họ tiếp tục đóng góp cho gia đình Nghiên cứu cũng chỉ ra những ảnh hưởng chính trong việc lựa chọn bạn đời dựa trên nhiều yếu tố như trình độ học vấn, nghề nghiệp, mối quan hệ xã hội
và ít ảnh hưởng hơn từ sự kiểm soát hôn nhân của cha mẹ đã tạo nên những bước thay đổi mới dẫn đến mức độ hài lòng về hôn nhân được nâng cao hơn
Các tác giả đã phân tích những khía cạnh về hôn nhân trong gia đình cũng như những yếu tố ảnh hưởng đến mối quan hệ hôn nhân đó Nghiên cứu không chỉ đưa ra được khái niệm lý thuyết cơ bản về hôn nhân, gia đình mà còn chỉ ra được những chiến lược cụ thể nhằm nâng cao đời sống hôn nhân, gia đình hiện nay
“Khảo sát sự hài lòng cuộc sống (LSS): Sự phát triển của các công cụ Thomas M Krapu, Lynn Meinke, Lisa Kramer, Roy Friedman và John Voda Đo lường sự hài lòng cuộc sống nói chung đặt ra một số câu hỏi rất tinh tế Các câu hỏi khác về sự hài lòng cuộc sống và nghề huấn luyện cũng phát sinh vấn đề Sự phát triển của khảo sát hài lòng cuộc sống và các công cụ khác được thiết kế đặc biệt cho nghề huấn luyện sẽ giúp nghề tiếp tục phát triển Bằng cách làm theo mô hình huấn luyện sử dụng cách lắng nghe, đặt câu hỏi đúng, và có thể trò chuyện trực tiếp (Liên đoàn huấn luyện viên, năm 1999), huấn luyện viên sẽ có thể khuyến khích và hỗ trợ khách thể khám phá tất cả các khía cạnh trong cuộc sống của họ bao gồm cả những người quan tâm ngay lúc đó Đây cũng chính là một hướng đi mới cho những nghiên cứu khảo sát về sự hài lòng của khách thể nghiên cứu, đặc biệt là trong nghiên cứu đời sống hôn nhân, gia đình
Nhìn chung, những nghiên cứu trong nước và nghiên cứu của người nước ngoài về gia đình phần lớn đều là những nghiên cứu trường hợp, đã đề cập được các khía cạnh khác nhau trong đời sống hôn nhân và gia đình Đưa ra được những công cụ phù hợp và cách thức nghiên cứu Phần lớn nghiên cứu đã lột tả được những thay đổi trong gia đình Việt Nam dưới tác động của toàn cầu hóa hiện nay Thêm vào đó, các công trình nghiên cứu đã hướng tới nghiên cứu thực
Trang 19tiễn và lý luận nhằm mô tả thực trạng hôn nhân giữa nông thôn và thành thị, làm
rõ mối quan hệ của họ về quan hệ hôn nhân với các nhân tố liên quan như : trình
độ học vấn, việc làm, thu nhập, quá trình đô thị hóa…Tuy nhiên trong các vấn đề trên thì việc nghiên cứu tìm thực trạng về mức độ hài lòng trong hôn nhân: sự khác biệt giữa nông thôn và đô thị vẫn đang còn còn ít được đề cập đến một cách
cụ thể Vì vậy nghiên cứu “Mức độ hài lòng về đời sống hôn nhân: sự khác biệt
giữa nông thôn và đô thị” là một hướng mới, nhằm đi sâu vào tìm hiểu và phân
tích tích thực trạng về mức độ hài lòng trong hôn nhân hiện nay cũng như các yếu tố tác động tới quá trình hôn nhân của họ Từ đó, đưa ra những kết luận, khuyến nghị góp phần hoàn thiện chính sách nhằm giúp đỡ người dân nắm được những vấn đề tích cực nhằm giữ vững hôn nhân bền vững
1.2 Khái niệm liên quan
tư cách là một quan hệ xã hội Hôn nhân được coi như cơ sở cho sự hình thành của gia đình
Theo quy định của Luật Hôn nhân gia đình năm 2000: Hôn nhân pháp luật
là trường hợp nam nữ xác lập quan hệ vợ chồng theo quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn.[24]
1.2.2 Gia đình
Khái niệm gia đình luôn gắn liền với sự phát triển của xã hội.Và ở những
xã hội khác nhau của xã hội, khái niệm gia đình có sự biến đổi tương ứng, phù hợp với từng giai đoạn đó
Theo tác giả Lê Thi thì khái niệm gia đình được sử dụng để chỉ một nhóm
xã hội hình thành trên cơ sở quan hệ hôn nhân và huyết thống nảy sinh từ quan
Trang 20hệ hôn nhân đó và cùng chung sống ( cha mẹ, con cái, ông bà, họ hàng, nội ngoại) Gia đình có thể bao gồm một số người được gia đình nuôi dưỡng, tuy không có quan hệ huyết thống Các thành viên gia đình gắn bó với nhau về trách nhiệm và quyền lợi (kinh tế, văn hoá, tình cảm).Giữa họ có những ràng buộc có tính pháp lý, được nhà nước thừa nhận và bảo vệ Đồng thời, trong gia đình có những quy định rõ ràng về quyền được phép và những cấm đoán trong quan hệ tình dục giữa các thành viên
Theo Levy Strauss (trong từ điển kinh tế - xã hội Pháp ), gia đình là một nhóm xã hội được quy định bởi đặc điểm thường thấy nhiều nhất là: hôn nhân , quan hệ huyết thống, những ràng buộc về mặt pháp lý, nghĩa vụ quyền lợi có tính chất kinh tế, sự cấm đoán tình dục gắn với các thành viên và những ràng buộc về tình cảm, tâm lý, tình yêu, tình thương và sự kính trọng, sợ hãi
Theo Giáo trình Chủ nghĩa xã hội khoa học: “ Gia đình là một trong những hình thức tổ chức cơ bản trong đời sống cộng đồng của con người, một thiết chế văn hoá – xã hội đặc thù , được hình thành, tồn tại và phát triển trên cơ
sở quan hệ hôn nhân huyết thống, các quan hệ nuôi dưỡng, giáo dục giữa các thành viên ” [6]
Luật hôn nhân và gia đình (năm 2000), xác định: gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc do quan
hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các nghĩa vụ và quyền lợi giữa họ với nhau theo luật định Đây là quan niệm chính thống của Nhà nước ta, vừa có tính khoa học vừa là cơ sở pháp lý để giải quyết những vấn đề liên quan [24]
Gia đình được các nhà xã hội học định nghĩa như sau: Gia đình là một thiết chế xã hội đặc thù, một nhóm xã hội nhỏ mà các thành viên của nó gắn với nhau bởi mối quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ con nuôi, bởi tính cộng đồng về sinh hoạt , trách nhiệm đạo đức với nhau nhằm đáp ứng những nhu cầu riêng của các thành viên cũng như để thực hiện tính chất tất yếu của xã hội về tái sản xuất con người ”
Trang 211.2.3 Nông thôn
Xác định bản chất xã hội nông thôn là một công việc quan trọng để nhận thức về nông thôn nói chung và xã hội nông thôn nói riêng Khi xây dựng lý luận của mình về xã hội, Mác và Ăng_ghen đã khái quát một quy luật chung về hình thành đô thị- đó là kết quả của quá trình phân công lao động trong quá khứ, nhờ
đó xã hội loài người tách thành hai phân hệ_ đô thị và nông thôn Trong tác phẩm
hệ tư tưởng Đức (viết năm 1845_1846) hai ông trình bày một cách cơ bản quan niệm duy vật về lịch sử của mình Mác, “ sự phân công lao động trong nội bộ của một dân tộc gây ra trước hết là sự tách rời giữa thành thị và nông thôn (C.Mac Angghen, 1980:270) V.Staroverov nhà xã hội học người Nga đã rút ra một định nghĩa khá khái quát về nông thôn, khi ông cho rằng: “ nông thôn với tư cách là khách thể nghiên cứu xã hội học về một phân hệ xã hội có lãnh thổ xác định đã định hình từ lâu trong lịch sử Đặc trưng của phân hệ xã hội này là sự thống nhất đặc biệt của môi trường nhân tạo với cac Đô điều kiện địa lý_ tự nhiên ưu trội, với kiểu loại tổ chức xã hội phân tán về mặt không gian Tuy nhiên nông thôn có những đặc trưng riêng biệt của nó Cũng theo nhà xã hội học này,‘ nông thôn phân biệt với đô thị bởi trình độ phát triển kinh tế_ xã hội thấp kém hơn, bởi thua kém hơn về mức độ phúc lợi xã hội, sinh hoạt Điều này thể hiện rõ trong cơ cấu
xã hội và trong lối sống của cư dân nông thôn Ở nông thôn loại hình hoạt động kém đa dạng (so với đô thị), tính thuần nhất về xã hội và nghề nghiệp cao hơn Nông thôn là hệ thống độc lập tương đối ổn định, là một tiểu hệ thống không gian_ xã Các thành phần cơ bản của nó đồng nhất với đô thị, song mặt khác lại tách biệt với đô thị Nông thôn và đô thị hợp lại thành chỉnh thể xã hội và lãnh thổ( không gian) của cơ cấu xã hội ” [8]
1.2.4 Đô thị
Ở mỗi quốc gia đều có sự phân biệt khác nhau giữa nông thôn và đô thị Chẳng hạn ở Mỹ cho rằng, một loạt những khu chung cư cao tầng ở nông thôn không được xếp vào đô thị Ở Nga người ta quan niệm đô thị là những điểm dân
cư từ trên chục ngàn người trở lên Còn ở Việt Nam theo quy định hiện hành,
Trang 22điểm dân cư được coi là đô thị khi có dân tối thiểu từ 4000 người trở lên, trong
đó ít nhất 60% dân cư không làm nông nghiệp Theo quan niệm của nhà xã hội học Trung Quốc, Thị trấn “ đầu là nông thôn_đuôi là thành phố ” , và vì vậy thị trấn, và dưới là thị tứ không thuộc vào đô thị[ 8]
Định nghĩa xã hội học về đô thị: Đô thị như là những hình thức tổ chức xã hội có xuất xứ địa lý và mang những đặc trưng nhất định Thứ nhất, có số dân tương đối đông, mật độ dân số cao và không thuần nhất (Wirth 1938) Thứ hai, ít nhất có một bộ phận dân cư làm các công việc phi nông nghiệp và có một số chuyên gia (một số nhà KHXH còn yêu cầu phải có ngôn ngữ viết Sjoberg 1965) Thứ ba, theo Max Weber, một đô thị phải đảm nhiệm những chức năng thị trường và ít nhất phải có một phần quyền lực quản lý điều hành (Werber 1958) Thứ tư, các đô thị thể hiện những hình thức tương tác, trong đó một cá nhân được biết đến không phải như là một nhân cách đầy đủ theo nghĩa là ít nhất có một số tương tác với những người khác không phải như là những cá nhân, mà là với các vai trò mà họ đảm nhiệm Thứ năm, các đô thị đòi hỏi một “ gắn kết xã hội ” dựa trên một cái gì đó rộng hơn là một gia đình trực hệ hay bộ lạc, mà có thể là dựa trên luật lệ hợp lý hay truyền thống như tôn giáo hay sự trung thành với nhà vua Nhìn chung các nhà xã hội học định nghĩa đô thị theo sự tổng hợp các chức năng
và những đặc trưng xã hội của nó
Định nghĩa khác: Đô thị như một kiến tạo lãnh thổ_ xã hội, một hình thức
cư trú mang tính toàn vẹn lịch sử của con người, được đặc trưng bởi các dấu hiệu sau: Là nơi tập hợp của một số lượng lớn dân cư trên một lãnh thổ hạn chế 13 Đại bộ phận dân cư sống ở đây làm việc trong lĩnh vực phi nông nghiệp (công nghiệp, thương nghiệp, dịch vụ…) Là môi trường trực tiếp, tạo ra những điều kiện thuận lợi cho sự phát triển xã hội và các cá nhân giữ vai trò chủ đạo đối với các vùng nông thôn xung quanh và cả toàn xã hội nói chung
1.2.5 Đô thị hóa
Đô thị hóa là sự mở rộng của đô thị, tính theo tỉ lệ phần trăm giữa số dân
đô thị hay diện tích đô thị trên tổng số dân hay diện tích của một vùng hay khu
Trang 23vực Nó cũng có thể tính theo tỉ lệ gia tăng của hai yếu tố đó theo thời gian Nếu tính theo cách đầu thì nó còn được gọi là mức độ đô thị hóa; còn theo cách thứ hai, nó có tên là tốc độ đô thị hóa Đô thị hóa là quá trình phát triển rộng rãi lối sống thị thành thể hiện qua các mặt dân số, mật độ dân số, chất lượng cuộc sống , [8]
Mức độ hài lòng về các khía cạnh của đời sống hôn nhân trong đề tài nghiên cứu được đánh giá theo thang điểm từ 1 đến 5 Trong đó: 1 hoàn toàn không hài lòng; 2: không hài lòng, 3: bình thường 4: cơ bản hài lòng 5: hoàn toàn hài lòng
1.3 Lý thuyết áp dụng
1.3.1 Lý thuyết hành động xã hội
Định nghĩa của nhà xã hội học người Đức Max Weber về hành động xã hội được cho là hoàn chỉnh nhất; ông cho rằng, hành động xã hội là hành vi mà chủ thể gắn cho ý nghĩa chủ quan nhất định, một hành động xã hội là một hành
Trang 24động của một cá nhân mà có gắn một ý nghĩa vào hành động ấy, và cá nhân đó tính đến hành vi của người khác, bằng cách như vậy mà định hướng vào chuỗi hành động đó Weber đã nhấn mạnh đến động cơ bên trong chủ thể như nguyên nhân của hành động - Một hành động mà một cá nhân không nghĩ về nó thì không thể là một hành động xã hội Mọi hành động không tính đến sự tồn tại và những phản ứng có thể có từ những người khác thì không phải là hành động xã hội Hành động không phải là kết quả của quá trình suy nghĩ có ý thức thì không phải là hành động xã hội Theo quan niệm của Weber, một hành động xã hội là một hành động của một cá nhân mà có gắn một ý nghĩa vào hành động ấy, và cá nhân đó tính đến hành vi của người khác, bằng cách như vậy mà định hướng vào chuỗi hành động đó Một hành động mà một cá nhân không nghĩ về nó thì không thể là một hành động xã hội Mọi hành động không tính đến sự tồn tại và những phản ứng có thể có từ những người khác thì không phải là hành động xã hội Hành động không phải là kết quả của quá trình suy nghĩ có ý thức thì không phải
là hành động xã hội
Weber cho rằng xã hội học cố gắng diễn giải hành động nhờ phương pháp luận về kiểu loại lý tưởng Ông thực hành phương pháp này để xây dựng một phân loại học về hành động xã hội gồm bốn kiểu: kiểu hành động truyền thống được thực hiện bởi vì nó vẫn được làm như thế từ xưa đến nay, kiểu hành động cảm tính bị dẫn dắt bởi cảm xúc, kiểu hành động duy lý - giá trị hướng tới các giá trị tối hậu, kiểu hành động duy lý - mục đích hay còn gọi là kiểu hành động mang tính công cụ Trước khi có thể tìm ra nguyên nhân của một hành động, cần phải hiểu được ý nghĩa mà chủ thể hành động đã gắn vào hành động đó Weber phân biệt hai kiểu thấu hiểu Thứ nhất, hiểu trực tiếp Chẳng hạn, có thể hiểu được một người đang giận dữ bằng cách quan sát biểu hiện trên nét mặt chúng ta Kiểu thứ hai là sự thấu hiểu mang tính giải thích Nhà xã hội học, ở đây hiểu ý nghĩa của một hành động theo nghĩa là những động cơ gắn vào đó Cách hiểu thứ hai là phải hiểu được vì sao người đó đang giận dữ Để đạt được kiểu hiểu này, ta phải đặt mình vào tình huống của chúng ta để hiểu được những động cơ đằng sau
Trang 25hành động Tuy nhiên, theo Weber, hai kiểu hiểu trên vẫn chưa đủ để giải thích được một chuỗi hành động Để có một giải thích nguyên nhân đầy đủ, cần phải xác định cái gì đã tạo nên động cơ dẫn đến chuỗi hành động Đến chỗ này, Weber lại tiến đến tiếp cận thực chứng luận: ông cho rằng phải phát hiện được mối liên hệ giữa các sự kiện thiết lập các quan hệ nhân quả Weber cho rằng các hành động xã hội nhất là những hành động xã hội lôi kéo số lớn người cùng hành động theo một cách tương tự cũng có thểdẫn đến những biến đổi xã hội quy
mô lớn Ngay cả khi liên quan đến các nhóm, thiết chế, tổ chức, thì Weber vẫn cho rằng chúng liên quan đến một kiểu nhất định của các hành động xã hội của các cá nhân.[11]
1.3.2 Lý thuyết biến đổi xã hội
Biến đổi xã hội (tiếng Anh: Social change) là một quá trình qua đó những khuôn mẫu của các hành vi xã hội, các quan hệ xã hội, các thiết chế xã hội và các
hệ thống phân tầng xã hội được thay đổi theo thời gian Auguste Comte cho rằng, biến đổi xã hội là: chắc chắn xảy ra; sẽ theo một con đường phát triển mang đến những tiến bộ đương nhiên hướng tới một xã hội tốt hơn Auguste Comte tin tưởng rằng, thông qua biến đổi xã hội, nhân loại chuyển từ người nguyên thủy dốt nát đến con người được giáo dục, và những cái mà chúng ta được học hoặc được phát triển tiến về con đường tách khỏi sự sắp đặt của Thượng đế vì sự tiến
bộ của nhân loại Các nhà xã hội học ngày nay cho rằng sự tương tác phức tạp của nhiều yếu tố - cả yếu tố bên trong và yếu tố bên ngoài của nhiều yếu tố - tạo nên
sự biến đổi Mặc dù trong những hoàn cảnh xã hội và lịch sử nhất định, các yếu tố
cụ thể đôi lúc có thể ảnh hưởng nhiều hơn những yếu tố khác Những yếu tố được các nhà lý thuyết hiện đại quan tâm khi xem xét về biến đổi xã hội, như sau:
Trang 26Biến đổi xã hội tác động đến mọi mặt của đời sống mỗi cá thể và thiết chế xã hội
ở tất cả các vùng miền, trong đó gia đình không phải là một ngoại lệ Biến đổi xã hội gây ra thay đổi và sức ảnh hưởng lên tất cả các yếu tố hành vi con người, kinh tế gia đình, cách ứng xử, thói quen, cách suy nghĩ của các thành viên trong gia đình [11]
1.4 Sơ lược về địa bàn nghiên cứu
Theo thống kê của Tổng cục thống kê năm 2013, Hà Nội có diện tích là: 3324,52 km2 với 7212,3 nghìn người Mật độ dân số là 2169 người/km2 Theo ước tính, mật độ dân số trung bình của Hà Nội gấp 8 lần mật độ chung của cả nước và có sự phân bố không đồng đều, chênh lệch lớn giữa khu vực ngoại thành
và nội thành Hiện nay, trên địa bàn thành phố có trên 30 dân tộc cư trú; trình độ
dân trí và mức sống của mỗi dân tộc, mỗi vùng khác nhau
Hà Nội có khí hậu nhiệt đới gió mùa ấm, mùa hè nóng, mưa nhiều và mùa đông lạnh, mưa ít Lượng bức xạ mặt trời rất dồi dào trung bình hàng năm lên tới 122,8 kcalo/cm2 Nhiệt độ không khí trung bình hàng năm là 23.6 oC Độ ẩm trung bình hàng năm ở mức 79% và lượng mưa trung bình hàng năm là 1,800
mm
Hà Nội là thành phố gắn liền với những dòng sông trong đó sông Hồng là lớn nhất; tài nguyên khoáng sản, dự tính ở Hà nội có khoảng 800 mỏ và điểm quặng của gần 40 loại khoáng sản đã được phát hiện, đánh giá và khai thác ở các mức độ khác nhau; tài nguyên du lịch được hình thành từ bề dày lịch sử ngàn năm của thủ đô văn hiến với rất nhiều công trình kiến trúc, văn học, nghệ thuật được xây dựng qua nhiều thế hệ
Hà Nội là trung tâm kinh tế lớn của cả nước, đóng vai trò hạt nhân vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ Tăng trưởng 9 tháng đầu năm đạt 7,9%, trong đó, dịch vụ tăng 8,9%, công nghiệp-xây dựng 8%, nông-lâm- thuỷ sản giảm 0,6% Trong điều kiện khó khăn chung, đây là mức tăng khá, tuy nhiên, thấp hơn kế hoạch cả năm và mức tăng cùng kỳ của các năm trước Hoạt động du lịch duy trì phát triển, tổng lượng khách lưu trú tăng 7,6%; trong đó, khách quốc tế tăng
Trang 2728%, khách nội địa tăng 3,5% so với cùng kỳ năm 2011 Lưu chuyển hàng hóa
và dịch vụ tiêu dùng xã hội 9 tháng đầu năm 2012 tăng khá, đạt 20,7%, trong đó, tổng mức bán lẻ tăng 20,4% Tổng kim ngạch xuất khẩu trên địa bàn 9 tháng chỉ tăng 5,3% và đạt 7.530 triệu USD Tổng kim ngạch nhập khẩu 9 tháng đầu năm giảm 5,6% so với cùng kỳ năm 2011 Về đầu tư nước ngoài, tính đến 15/9/2012,
có 231 dự án được cấp mới và tăng vốn với tổng vốn đầu tư đăng ký là 919 triệu USD (bằng 88% so với cùng kỳ năm 2011), trong đó, số dự án cấp mới là 155 dự
án với tổng vốn đầu tư đăng ký là 579 triệu USD Có 5 dự án làm thủ tục thu hồi giấy chứng nhận/giấy phép đầu tư và 2 dự án chuyển đổi hình thức 100% vốn của Việt Nam, vốn đầu tư nước ngoài luỹ kế giảm 10 triệu USD Tính đến nay, trên địa bàn Thành phố có 2.459 dự án đầu tư nước ngoài còn hiệu lực với tổng
số vốn đăng ký gần 22 tỷ USD Số doanh nghiệp đăng ký kinh doanh giảm đáng
kể so với cùng kỳ năm 2011: Chín tháng đầu năm 2012 ước có 11.480 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với số vốn 64.060 tỷ đồng, bằng 68% về số doanh nghiệp và 54% về vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2011; có 730 doanh nghiệp làm thủ tục giải thể và 1.900 doanh nghiệp làm thủ tục tạm ngừng kinh doanh
Về dịch vụ y tế, giáo dục: theo số liệu thống kê năm 2010 thì thành phố
Hà Nôi có 650 cơ sở khám chữa bệnh trực thuộc sở y tế thành phố, trong đó có
40 bệnh viện, 29 phòng khám khu vực và 575 trạm y tế Số giường bệnh trực thuộc sở y tế Hà Nội là 11,536 giường, chiếm khoảng 1/20 số giường bệnh toàn quốc Cũng theo thống kê năm 2010, thành phố Hà Nội có 2.974 bác sĩ, 2.584 y
sĩ và 3.970 y tá, so với Thành phố Hồ Chí Minh 6.073 bác sĩ, 1.875 y sĩ và 10.474 y tá Do sự phát triển không đồng đều, những bệnh viện lớn của Hà Nội, cũng là của cả miền Bắc, chỉ tập trung trong khu vực nội ô thành phố Các bệnh viện Việt Đức, Bạch Mai, Nhi Thụy Điển và Bệnh viện Phụ sản Hà Nội đều trong tình trạng quá tải Cùng với hệ thống y tế của nhà nước, Hà Nội cũng có một hệ thống bệnh viện, phòng khám tư nhân đang dần phát triển
Về giáo dục: Hà Nội là nơi tập trung hệ thống các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp uy tín, chất lượng đào tạo trình độ cao và lớn nhất
Trang 28cả nước Với số lượng học sinh, sinh viên và Giảng viên ngày càng đông đúc và
có trình độ đạt chuẩn ngày càng cao
Hà Nội là trung tâm kinh tế, văn hóa, chính trị, du lịch của cả nước, các ngành kinh tế mũi nhọn như ngân hàng, thông tin truyền thông, thương mại, du lịch đều có mức tăng trưởng cao Theo số liệu của UBND Thành phố Hà Nội thì sau 5 năm mở rộng địa bàn, kinh tế thủ đô luôn duy trì tăng trưởng với tốc độ cao, bình quân đạt 9,45% mỗi năm Nhờ vậy, thu nhập bình quân đầu người năm
2012 đạt 2.257 USD; năm 2013 là: 2.502 USD và năm 2014 phấn đấu đạt 2.750 - 2.800 USD Đời sống của người dân tăng lên tỷ lệ thuận với việc tăng chất lượng đầu tư xây dựng hạ tầng cho khu vực thành thị cũng như nông thôn của Hà Nội (xóa triệt để tình trạng phòng học tạm, phòng học cấp 4, 100% các xã có điện lưới, 86% dân cư dùng nước hợp vệ sinh…) Hiện nay, thu nhập bình quân đầu người của Hà Nội cao hơn thu nhập bình quân đầu người cả nước 1,4 lần
Sau khi mở rộng địa giới hành chính, với hơn 6 triệu dân, Hà Nội có 3,2 triệu người đang trong độ tuổi lao động Mặc dù vậy, thành phố vẫn thiếu lao động có trình độ chuyên môn cao Nhiều sinh viên tốt nghiệp vẫn phải đào tạo lại, cơ cấu và chất lượng nguồn lao động chưa dịch chuyển theo yêu cầu cơ cấu ngành kinh tế Hà Nội còn phải đối đầu với nhiều vấn đề khó khăn khác Năng lực cạnh tranh của nhiều sản phẩm, dịch vụ cũng như sức hấp dẫn môi trường đầu
tư của thành phố còn thấp Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế vẫn chậm, đặc biệt cơ cấu nội ngành công nghiệp, dịch vụ và các sản phẩm chủ lực mũi nhọn Chất lượng quy hoạch phát triển các ngành kinh tế ở Hà Nội không cao và thành phố cũng chưa huy động tốt tiềm năng kinh tế trong dân cư
Trang 29CHƯƠNG 2: MỨC ĐỘ HÀI LÒNG VỀ ĐỜI SỐNG HÔN NHÂN: KHÁC BIỆT GIỮA NÔNG THÔN VÀ ĐÔ THỊ
2.1 Khái quát về quá trình đô thị hóa hiện nay
Đô thị hóa là một quá trình tất yếu của bất kỳ quốc gia nào, trong đó có Việt Nam Trong hơn 20 năm tiến hành công cuộc đổi mới, quá trình đô thị hoá diễn ra hết sức nhanh chóng nhất là trong 10 năm trở lại đây, đặc biệt ở các thành phố lớn như Hà Nội, Đà Nẵng và Thành phố Hồ Chí Minh Từ năm 1990 các đô thị Việt Nam bắt đầu phát triển, lúc đó cả nước mới có khoảng 500 đô thị (tỷ lệ
đô thị hoá vào khoảng 17-18%), đến năm 2000 con số này lên 649 và năm 2003
là 656 đô thị Tính đến nay, cả nước có khoảng 700 đô thị, trong đó có 5 thành phố trực thuộc trung ương, 44 thành phố trực thuộc tỉnh, 45 thị xã và trên 500 thị trấn Bước đầu đã hình thành các chuỗi đô thị trung tâm quốc gia: Các đô thị trung tâm quốc gia gồm Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng, Huế Các đô thị trung tâm vùng gồm các thành phố như: Cần Thơ, Biên Hoà, Vũng Tàu, Buôn Ma Thuột, Nha Trang, Nam Định, Thái Nguyên, Việt Trì, Hạ Long, Hoà Bình… Các đô thị trung tâm tỉnh gồm các thành phố, thị xã giữ chức năng trung tâm hành chính-chính trị, kinh tế, văn hoá, du lịch - dịch vụ, đầu mối giao thông; và các đô thị trung tâm huyện; đô thị trung tâm cụm các khu dân cư nông thôn, các đô thị mới
Hiện nay, tỷ lệ dân số đô thị ở nước ta dưới 40%, theo quy hoạch phát triển đến năm 2015 con số này sẽ 61 -65%, đến năm 2020 là 80% Ở Việt Nam, quá trình đô thị hóa lại xảy ra nhiều năm trước quá trình công nghiệp hóa, khiến cho mô hình và tư duy đô thị gặp nhiều khủng hoảng Nghịch lý này có thể bắt nguồn từ nguyên nhân do sức ép nhà ở sau chiến tranh và tình trạng đầu cơ đất
Sự phát triển ngược trên khiến hệ thống đô thị ở Việt Nam ngày càng lộ rõ những yếu kém, đi liền với các hệ quả, có thể được gọi là “ căn bệnh đô thị ” như: kiến trúc thiếu đồng bộ, giao thông tắc nghẽn, nước thải sinh hoạt, di dân tự do và các vấn đề xã hội nan giải khác… Quy hoạch ngày càng xa rời mục đích gốc – vốn phải phục vụ nhu cầu và thói quen của đại bộ phận dân cư Dường như các đô thị
Trang 30ở Việt Nam đang phát triển theo chiều rộng thay vì theo chiều sâu Theo dự báo của Bộ Xây dựng, tỷ lệ đô thị hoá của Việt Nam vào năm 2020 sẽ đạt khoảng 40%, tương đương với số dân cư sinh sống tại đô thị chiếm trên 45 triệu dân Mục tiêu đề ra cho diện tích bình quân đầu người là 100m2/người Nếu đạt tỷ lệ 100m2/người, Việt Nam cần có khoảng 450.000ha đất đô thị, nhưng hiện nay, diện tích đất đô thị chỉ có 105.000ha, bằng 1/4 so với yêu cầu Với tốc độ phát triển và dân số đô thị như vậy, Việt Nam sẽ phải đối mặt với ngày càng nhiều vấn
đề phức tạp phát sinh từ quá trình đô thị hoá Đó là: Vấn đề di dân từ nông thôn
ra thành thị, làm cho mật độ dân số ở thành thị tăng cao; vấn đề giải quyết công
ăn việc làm, thất nghiệp tại chỗ, nhà ở và tệ nạn xã hội làm cho trật tự xã hội ven
đô ngày càng thêm phức tạp; vấn đề nhà ở và quản lý trật tự an toàn xã hội ở đô thị; vấn đề ô nhiễm môi trường, ô nhiễm nguồn nước
2.2 Thực trạng mức độ hài lòng về đời sống hôn nhân
Quá trình đô thị hóa Việt Nam, mặc dù diễn ra chậm, đã tạo nên một lối sống của dân cư đô thị khác biệt với lối sống nông thôn, và có tác động đáng kể làm thay đổi lối sống nông thôn (Nguyễn Hữu Minh, 2002) Môi trường đô thị tạo cho dân cư sống ở đó khả năng tiếp xúc nhiều hơn với những người ngoài phạm vi gia đình và dòng họ Đồng thời dân cư đô thị cũng có nhiều cơ hội tiếp cận với những thông tin và ý tưởng mới nhấn mạnh đến quyền tự do lựa chọn bạn đời của các cá nhân Sự phổ biến của gia đình hạt nhân, sự lỏng lẻo của các quan hệ thân tộc, mức độ đa dạng của các hoạt động kinh tế ngoài gia đình, và trình độ giáo dục cao hơn ở các vùng đô thị đã tác động đến cách dân cư đô thị nhìn nhận về hôn nhân và gia đình Vai trò của tình yêu hôn nhân có ý nghĩa ngày càng lớn đối với những người sống ở đô thị Những người sinh ra hoặc sống
ở các vùng thành thị có tỉ lệ cao hơn được tự do lựa chọn bạn đời [5] Cũng chính
vì vậy mà mức độ hài lòng về đời sống hôn nhân đã có sự thay đổi lớn trong gia đình nông thôn và đô thị hiện nay
Đời sống hôn nhân chủ yếu dựa trên sự tự do lựa chọn của cá nhân không phải là kết quả ngẫu nhiên mà xuất phát từ những thay đổi đáng kể trong quá
Trang 31trình chuẩn bị cho hôn nhân đến đời sống hôn nhân Có nhiều yếu tố tác động đời sống hôn nhân của cá nhân Trước hết là vai trò của các yếu tố đặc trưng cho quá trình hiện đại hóa ngày càng tăng như trình độ học vấn, các cơ hội nghề nghiệp phi nông nghiệp, lối sống đô thị, quyền quyết định của các cá nhân trong việc xây dựng gia đình Sự phát triển kinh tế đã mở rộng các cơ hội nghề nghiệp cho dân cư, đặc biệt là cho phụ nữ, đồng thời nâng cao đáng kể sự độc lập kinh tế của con cái đối với bố mẹ Sự mở rộng các cơ hội nghề nghiệp ngoài phạm vi nông nghiệp làm phong phú thêm phạm vi giao tiếp ngoài gia đình và giúp khẳng định
tính tự lập việc quyết định đời sống hôn nhân
Bảng 2.1: Mức độ hài lòng về các khía cạnh cuộc sống (Tỷ lệ %)
Số lượng
Tỷ lệ%
Số lượng
Tỷ lệ%
Số lượng
Tỷ lệ%
Số lượng
Tỷ lệ%
Giá trị trung bình
Trang 34và việc làm đạt 3.07 điểm cao nhất Hài lòng về hôn nhân của họ đath 3.01 điểm Trong đó khía cạnh đời sống hôn nhân của cá nhân chiếm tỷ lệ tương đối cao 63,1% Thêm vào đó, mức độ hài lòng được thể hiện qua mối quan hệ cha mẹ với con cái và số con chiếm tỷ lệ khá cao 63,6%; 58,7% Điều này cũng được thể hiện rất rõ qua phỏng vấn sâu người dân hiện nay:
“Hiện tại, tôi cảm thấy hài lòng về đời sống hôn nhân của mình Vợ không phải lo lắng nhiều trong cuộc sống, hai con cái chăm ngoan và trong gia đình thường có sự trao đổi, chia sẻ cùng nhau”
(PVS, nam, 35 tuổi, Hà Nội)
“Trước đây, khi còn gặp nhiều khó khăn, chị thấy đời sống hôn nhân của mình không được quan tâm nhiều Giờ đây, chị có nhiều thời gian cho chồng con
và cảm thấy hài lòng hơn.”
(PVS, nữ, 27 tuổi, Hà Nội)
Sự biến đổi tích cực trong quá trình đô thị hóa có ý nghĩa quan trọng đối với những thay đổi về quyết định đời sống hôn nhân gia đình Cùng với việc
Trang 35nâng cao chất lượng sống, quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa với việc cấu trúc lại cơ cấu dân số ổn định đã tạo ra nhiều cơ hội phát triển cho con cái, làm bền vững mối quan hệ trong gia đình và đó là một bước ngoặt có ý nghĩa lớn trong đánh giá mức độ hài lòng về đời sống hôn nhân gia đình Tuy nhiên, vẫn còn một số khía cạnh khác trong đời sống hôn nhân chưa được quan tâm nhiều như học vấn, thu nhập và chi tiêu của người dân chỉ chiếm dưới 14% Đây cũng
là những khía cạnh góp phần quan trọng trong đảm bảo bền vững đời sống hôn nhân và nếu không được quan tâm đáp ứng đầy đủ sẽ là nguyên nhân dẫn đến sự tan vỡ gia đình
“Kinh tế ngày càng khó khăn nên thu nhập cũng Chính vì vậy mà chi tiêu trong đời sống hàng ngày cũng gặp nhiều khó khăn Ở thành phố nên cái gì cũng đắt và tốn kém Nhiều khi muốn sắm sửa thêm điều kiện học tập cho con cái nhưng mà thu nhập của hai vợ chồng rất thấp nên đành chịu.”
(PVS, nữ, 39 tuổi, Hà Nội)
“Trước kia, bố mẹ đã không được đi học tử tế nên giờ chỉ muốn bù đắp cho con cái Tuy nhiên, giờ thu nhập, chi tiêu của hai vợ chồng làm nông nghiệp chẳng có bao nhiêu nhưng vẫn cố gắng vì con”
(PVS, nữ, 35 tuổi, Hải Dương)
Quá trình đô thị hóa đã và đang góp phần làm thay đổi sâu sắc những khía cạnh trong hôn nhân và gia đình Chính vì vậy, việc tìm hiểu mức độ hài lòng so với mức độ được đáp ứng về những yếu tố chính trong đời sống hôn nhân không chỉ làm nền tảng cho đời sống hôn bền vững mà còn được đi sâu nghiên cứu nhằm góp phần đảm bảo hôn nhân gia đình theo từng khu vực Có rất nhiều chỉ báo quan trọng được thể hiện trong mức độ hài lòng về đời sống hôn nhân như người bạn đời, mối quan hệ với con cái, kinh tế và đời sống tinh thần trong hôn nhân gia đình
2.2.1 Mức độ hài lòng về người bạn đời (vợ/chồng)
Quan hệ hôn nhân vợ chồng được coi là nền tảng và có tác động mạnh mẽ đến sự hài lòng, hạnh phúc, độ bề vững và phát triển các thành viên gia đình
Trang 36Phần lớn các phân tích về đặc điểm, động thái quan hệ của hôn nhân-vợ chồng bắt đầu theo chu trình gia đình từ giai đoạn tiền hôn nhân - thông qua quá trình tìm hiểu và chọn lựa bạn đời, quyết định tiến tới hôn nhân, độ dài hôn nhân, mức độ hài lòng về đời sống hôn nhân, vợ chồng và những yếu tố ảnh hưởng như nhận thức, học vấn cá nhân hoặc môi trường điều kiện sống, giai tầng, văn hóa xã hội…
Trong một số phân tích xã hội học gần đây cho thấy, các định chế xã hội cùng với các gía trị và chuẩn mực văn hóa có vai trò quan trọng trong việc hình thành hôn nhân Điều này hàm ý rằng, hôn nhân không phải là một sự ngẫu nhiên của cá thể nào đó mà là một sự lựa chọn Các cá nhân có thể có những tiêu chuẩn biểu hiện công khai hoặc ngấm ngầm trong việc tìm kiếm và lựa chọn người bạn đời của mình
Việc lựa chọn người bạn đời ngày càng được nhấn mạnh theo nhiều tiêu chí khác nhau như trình đô học vấn, gia đình… Công việc cũng là một tiêu chí để
cá nhân lựa chọn bạn đời cho mình, tuy nhiên qua phỏng vấn sâu một số người dân cho biết, họ kỳ vọng về một người có cách ứng xử và đạo đức tốt hơn là một công việc tốt và thu nhập cao
“Chồng chị tuy không giàu nhưng tốt, nghĩ mình mà lấy anh ấy thì được tình cảm, được người bao bọc, tinh thần thoải mái, vui nên mình quyết định lấy Mặc dù ngày ấy có rất nhiều người đến, đẹp trai, giàu có nhưng không lay chuyển được.”
(PVS, nữ, 28 tuổi, Hà Nội)
Thêm vào đó, tuổi kết hôn là một trong những chỉ báo quan trọng đánh giá
sự biến đổi của mô hình hôn nhân Những năm gần đây cho thấy xu hướng tuổi kết hôn trung bình lần đầu tiên của cả nam và nữ có xu hướng tăng lên Bên cạnh
đó, có nhiều yếu tố tác động đến tuổi kết hôn của nam và nữ như yếu tố nghề nghiệp, học vấn, tôn giáo…
Cuộc điều tra gia đình Việt Nam năm 2006 cho thấy, tuổi kết hôn trung bình lần đầu của người vợ là 21,2 tuổi, người chồng là 23,7 tuổi Kết quả phân
Trang 37tích số liệu cũng cho thấy tuổi kết hôn trung bình lần đầu của cả nam và nữ có xu hướng tăng lên theo các giai đoạn và có sự khác biệt giữa các khu vực cư trú, nghề nghiệp, học vấn Từ năm 2000 – 2006, tuổi kết hôn trung bình lần đầu của nam là 25,6 tuổi và nữ là 22,0 tuổi Tại khu vực nội thành của các thành phố, tuổi kết hôn trung bình lần đầu của nam là 26,0 tuổi và nữ 23,0 tuổi; ở khu vực nông thôn nam là 23,2 tuổi, nữ là 20,8 tuổi Những người làm công việc chuyên môn
kỹ thuật cao có tuổi kết hôn trung bình lần đầu là 25,8 tuổi với nam và 24,1 tuổi với nữ, trong khi nam lao động giản đơn là 22,9 tuổi và nữ lao động giản đơn là 20,7 tuổi [30] Qua đó cho thấy, tuổi kết hôn của nữ thường thấp hơn nam giới; những người sống ở nông thôn, làm những công việc giản đơn thường có tuổi kết hôn trung bình thấp hơn những người ở đô thị và có công việc chuyên môn kỹ thuật Điều này cũng phù hợp qua phỏng vấn sâu một số người dân hiện nay
“Trước đây cứ nghĩ lấy chồng muộn thì rất khó và thậm chí là bị chỉ trích nữa nhưng giờ đã phần nào thay đổi Chị lấy chồng khi ở tuổi 29 và cũng rất nhiều bạn bè của chị cũng vậy Sự lựa chọn bạn đời ngày càng có nhiều tiêu chí hơn và nếu cảm thấy chưa gặp được người phù hợp mình có thể tìm đến cơ hội khác”
(PVS, nam, 36 tuổi, Hà Nội)
“Ở quê nên mình nghĩ càng ổn định gia đình càng sớm càng tốt Bạn bè cùng trang lứa mình mới học xong trung cấp đã có mấy đứa lấy chồng rồi Chỉ cần đáp ứng được một số tiêu chí phù hợp là được, mình cũng không đòi hỏi nhiều ở người chồng”
(PVS, nữ, 28 tuổi, Hải Dương)
Nếu như tuổi kết hôn phụ thuộc nhiều vào yếu tố học vấn, nghề nghiệp…thì không gian địa lý của những người kết hôn rộng hay hẹp tùy thuộc vào môi trường xã hội mà các cá nhân đang cư trú, tính di động xã hội, khả năng
và cơ hội giao tiếp của mỗi cá nhân Trong xã hội truyền thống, các cá nhân ít có
cơ hội để di chuyển ra khỏi khu vực sinh sống, tính di động trong nghề nghiệp
Trang 38thấp cũng như môi trường giao tiếp xã hội không nhiều thường có phạm vi lựa chọn hôn nhân bó hẹp và xu hướng lựa chọn người cùng làng cao
“Học xong là mình ổn định gia đình luôn Mình muốn lấy người cùng quê
để đi lại cho gần và cơ hội tìm hiểu nhau được kỹ càng hơn Mình không muốn lấy người xa quê, đi lại vất vả lắm”
(PVS, nam, 27 tuổi, Hải Dương)
Chính những cơ hội tìm hiểu và lựa chọn bạn đời đang ngày càng trở nên
dễ dàng hơn nên mức độ hài lòng về đời sống hôn nhân vợ chồng cũng được nâng lên Theo kết quả nghiên cứu, mức độ hài lòng, rất hài lòng về hôn nhân của người dân chiếm tỷ lệ khá cao và không có sự khác biệt đáng kể giữa các vùng miền Cụ thể Hà Nội chiếm 84,1%, thành phố Hồ Chí Minh 84,2%, Bình Dương 82,3% và Hải Dương 85,4% Lý giải đời sống hôn nhân có tỷ lệ hài lòng cao còn được thể hiện trong bối cảnh đô thị hóa, quyền quyết định và lựa chọn bạn đời trong hôn nhân theo những tiêu chí khác nhau
Bảng 2.2: Tương quan giữa khu vực với mức độ hài lòng về hôn nhân của người dân (Tỷ lệ %)
Mức độ hài lòng về hôn nhân
Tp HCM Hải Dương Hà Nội Bình
Dương
Số lượng
Tỷ lệ%
Số lượng
Tỷ lệ%
Số lượng
Tỷ lệ%
Số lượng
Tỷ lệ% Hoàn toàn không hài lòng 18 2,5 7 1,8 15 1,9 5 2,0
Cơ bản hài lòng 181 25,0 78 20,1 129 16,8 81 23,1 Hoàn toàn hài lòng 429 59,2 254 65,3 518 67,3 209 59,2
Trang 39“Ngày nay, cuộc sống theo xu hướng hội nhập, phát triển đã đem lại nhiều cơ hội lựa chọn hôn nhân hơn và cũng chính vì vậy mà đời sống hôn nhân được cải thiện Không chỉ tìm được một người chồng phù hợp mà còn có cơ hội phát triển trong đời sống, đặc biệt là đời sống tình cảm, tinh thần”
(PVS, nam, 40 tuổi, Hải Dương)
“Nhờ sự di chuyển công việc, phương tiện đi lại dễ dàng hơn mà mình đã gặp vợ mình Mình ra Hà Nội làm và gặp cô ấy Mình thấy hài lòng về hôn nhân bởi lấy được người mình yêu và đảm bảo được những yếu tố bền vững cho cuộc sống hôn nhân sẽ làm cho gia đình bền vững”
(PVS, nam, 35 tuổi, Hà Nội)
Qua đó cho thấy, quá trình đô thị hóa đã góp phần cải thiện được đời sống hôn nhân đáng kể và đem lại mức độ hài lòng về đời sống cao hơn, không chỉ khu vực đô thị mà còn cả ở nông thôn Tuy nhiên, không chỉ dừng lại trong khía cạnh hôn nhân mà mối quan hệ vợ chồng trong cuộc sống gia đình còn được thể hiện ở nhiều khía cạnh gia đình khác như như công việc, quản lý, quyết định về tiền bạc, việc nhà, quan hệ tình cảm vợ chồng, chăm sóc con cái…Điều này được thể hiện rất rõ trong phần tìm hiểu về mức độ hài lòng về con cái, kinh tế và đời sống tinh thần trong gia đình
Từ những phân tích trên cho thấy mức độ hài lòng về hôn nhân vợ chồng của người dân hiện nay tương đối cao và hôn nhân ở nông thôn có xu hướng hài lòng hơn so với đô thị Điều đó cho thấy, sự đô thị hóa cả khu vực nông thôn và
đô thị đều có những tác động lớn trong đời sống hôn nhân hiện nay Cơ hội lựa chọn cũng như tự quyết định hôn nhân đã góp phần nâng cao chất lượng đời sống hôn nhân
2.2.2 Mức độ hài lòng về con cái
Trong xã hội truyền thống, giá trị của người con được thể hiện trên bốn khía cạnh: con cái là nhân tố tiên quyết bảo đảm sự bền vững của hôn nhân, niềm vui và hạnh phúc của gia đình; con cái là lực lượng lao động của đơn vị sản xuất gia đình; con cái là nhân tố bảo đảm an sinh của gia đình và cuộc sống của cha
Trang 40mẹ khi về già và cuối cùng, con cái là người tiếp nối tổ tiên, kế tục dòng họ Đây chính là những lý do giải thích vì sao gia đình truyền thống luôn mong muốn có đông con và nhất thiết phải có con trai Tuy nhiên, các khía cạnh về giá trị con cái của gia đình Việt Nam truyền thống vẫn tiếp tục duy trì trong gia đình Việt Nam hiện đại nhưng đã có nhiều thay đổi về tính chất Trong xã hội hiện nay, mức độ hài lòng về con cái không chỉ dừng lại ở số con; sức khỏe, công việc của con mà còn bao gồm cả đời sống hôn nhân của con cái
2.2.2.1 Mức độ hài lòng về số con
Trong gia đình hiện đại, những giá trị truyền thống đã có những thay đổi
về tính chất Giá trị về sức lao động và đóng góp kinh tế của con cái không còn quan trọng như trước đây nữa Vì vậy, việc nhiều con không không phải là đầu tư
để phát triển kinh tế gia đình mà điều này thường do người bố và mẹ đảm nhận Ngày nay, có con vẫn tiếp tục là nhân tố đảm bảo cho sự bền vững của hôn nhân
và hạnh phúc gia đình, nhưng có con là đủ chứ không bắt buộc phải có con trai Theo điều tra gia đình Việt Nam năm 2006 cho biết 93,8% người dân được hỏi ý kiến cho rằng “con nào cũng được” [29]
Biểu 2.1: Mức độ hài lòng của người dân về số con (Tỷ lệ %)
Từ biểu liệu điều tra cho thấy, mức độ hài lòng trở lên về số con chiếm tỷ
lệ rất cao, gần 80%, trong đó mức độ hoàn toàn hài lòng chiếm 58,7% Phân tích