Đặc điểm thành phần cấu tạo, những yêu cầu và chỉ tiêu đánh giá về chất lượng, ảnh hưởng của các chất phụ gia đối với ứng xử lưu biến của bê tông tự đầm lèn.... Tùy theo của những vật li
Trang 1KHOA XÂY DựNG -Oẵ SO★ -
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
dưới sự hướng dẫn của
ỨNG xử LƯU BIẾN VÀ MÔ HÌNH THÍ NGHIỆM
Trường Đại học Kiến trúc
196 Pasteur, quận 3, thành pho Hồ Chỉ Minh
thầy Sơn và chị Lệ, đã thông cảm và tạo mọi điều kiện tốt cho chúng tôi hoàn
Cuối cùng, chúng tôi xin chân thành cảm ơn các thành viên gia đình, bạn bè, anh
chị đã động viên khuyến khích chúng tôi về mặt tinh thần, giúp đỡ chúng tôi về cơ sở
Nhỏm tác giả : Cao Xuân Phong
Hoàng Thanh Liêm
Trang 2Trong bài nghiên cứu về « ứng xử lưu biến và mô hình sự chảy xòe của bê
của bê tông trong thí nghiệm nón cụt Abrams
Thứ nhất, chúng tôi nhận thấy rằng đường kính chảy xòe của chất lỏng chỉ phụ
thuộc vào ngưỡng chảy của nó mà không phụ thuộc vào các tính chất lưu biến khác
Thứ hai, chúng tôi thấy rằng mối quan hệ giữa đường kính chảy xòe và ngưỡng
lưu biến ; bê tông tự đầm lèn ; chất lỏng Herschel - Bulkley ; nón cụt Abrams
Trang 3CHƯƠNG 1 3
HỆ THỐNG KIẾN THỨC VÈ LƯU BIẾN HỌC 3
1.1. Giới thiệu 3
1.2. Một số loại mô hình ứng xử lưu biến 4
1.3. Một số loại lưu biến kế 5
1.3.1. Nhớt kế kiểu « bi rơi » 6
1.3.2. Lưu biến kế Poiseuille 7
1.3.3. Lưu biến kế Couette loại hình trụ đồng trục 10
CHƯƠNG 2 13
Trang 5quy mô ngày càng lớn, các nhà khoa học vật liệu xây dựng không ngừng nghiên
những công trình lớn có cốt thép dày đặc - do bê tông không đảm bảo độ lỏng cần
thiết Trong bối cảnh ấy, rất nhiều nghiên cứu đã được thực hiện nhằm dung hòa
đồng thời có độ lỏng rất lớn, có khả năng tự chảy dưới tác dụng duy nhất của trọng
lượng bản thân mà không cần bất cứ tác động co học nào - đó là bê tông tự đầm
lèn
(self- compacting concrete) Tuy nhiên, tại thời điểm đó, các chất phụ gia sử dụng
trong bê tông tự đầm lèn còn chưa đạt được hiệu quả như mong muốn và có giá
Trang 6Trang 2
chúng tôi hệ thống lại một số đặc điểm và kết họp giải thích ở góc độ vi mô nguồn gốc
ứng xử lưu biến của bê tông thường Đặc điểm thành phần cấu tạo, những yêu cầu
và
chỉ tiêu đánh giá về chất lượng, ảnh hưởng của các chất phụ gia đối với ứng xử
lưu
biến của bê tông tự đầm lèn sau đó cũng sẽ được trình bày trong Chương 2
về mặt lưu biến học, bê tông tự đầm lèn chỉ khác với bê tông thường ở chỗ
Trang 7HỆ THỐNG KIẾN THỨC VỀ LƯU BIẾN HỌC
Những kiến thức chung về lưu biến học mà chúng tôi trình bày trong chưong
dụng lên vật liệu có xét đến quá trình tác dụng của ứng suất theo thời gian
Mối quan hệ giữa ứng suất và biến dạng của vật liệu được gọi là quy luật ứng
xử
lưu biến hay gọi tắt là phương trình lưu biến, thường được biểu diễn - trong trường
họp trượt thuần túy - dưới dạng mối quan hệ giữa ứng suất tiếp X và vận tốc biến
dạng
trượt Ỷ (đạo hàm của biến dạng trượt y theo thời gian t)
Đường cong mô tả phương trình lưu biến được gọi là đồ thị lưu biến, dựa vào
đó
người ta phân biệt những loại ứng xử lưu biến khác nhau như mô tả trên H 1.1 :
ứng xử của vật liệu được coi là tuyệt đối nhớt nếu như sự chảy xảy ra ngay sau
khi vật liệu chịu tác dụng của một ứng suất tiếp X dù rất nhỏ, hay nói cách khác
khác khi đồ thì lưu biến bắt nguồn từ điểm có tung độ x0 trên trục ứng suất tiếp X,
người ta gọi ứng xử lưu biến đó là nhớt - dẻo
Trang 8Trang 4
1.2 Một số loại mô hình ửng xử lưu biến
Để mô tả ứng xử lưu biến của vật liệu, rất nhiều phương trình toán học đã
được
thiết lập, tuy nhiên không một phương trình toán học nào có thể mô tả một cách
chính
xác tuyệt đối Dưới đây chúng tôi chỉ giới thiệu một vài mô hình ứng xử lưu biến
thường gặp nhất trong ngành lưu biến học
Mô hình ứng xử lưu biến đơn giản nhất, trường họp đặc biệt của tất cả các mô
hình ứng xử lưu biến khác, là mô hình ứng xử Newton (PT 1.1), được đặc trưng
Trang 9mô tả những loại ứng xử lưu biến này, người ta thường sử dụng mô hình lưu biến
Ostwald (PT 1.2) được đặc trưng bởi hai thông số : độ đặc K và số mũ n Tùy theo
của những vật liệu này, mô hình lưu biến Bingham đặc trung bởi hai thông số :
ngưỡng chảy To và độ nhớt dẻo r| thường được sử dụng [3-6] Mô hình này có thể
được viết dưới dạng sau :
ÍỶ = 0 khi T < T n
(1.3)[x = T0+r|Ỷ khi T > T0
Mô hình lưu biến Bingham không cho phép miêu tả ứng xử phi tuyến của
thấp hon, thậm chí phi thực tế (ngưỡng chảy âm), đối với vật liệu chảy đặc [9] Để
miêu tả chính xác hon ứng xử lưu biến phi tuyến của vật liệu nhớt dẻo, người ta
thường sử dụng mô hình Herschel - Bulkley đặc trung bởi 3 thông số : ngưỡng
Trang 10FG = jítRỈpSg+ lực đẩy Archimède FA :
« bi rơi » rất đơn giản và được trình bày
trên H 1.2 : một quả cầu có khối lượng
riêng ps và bán kính R, rơi đều với vận
tốc không đổi V dưới tác dụng của trọng
lực trong chất lỏng Newton có khối
của nhớt kế kiếu « bi rơi ».
(1.5)
(1.6)+ lực nhớt Fs của chất lỏng tác dụng lên bề mặt quả cầu, có thể được tính một
cách gần đúng theo công thức Stokes như sau :Fs=-67ĩRịiV
Khi quả cầu đạt được chuyển động đều với vận tốc V không đổi, tổng đại số các
lực tác dụng lên quả cầu phải bằng không Từ đó ta có thể xác định được độ nhớt g
Trang 11PT 1.8 cho phép xác định nhanh chóng độ nhớt tuyệt đối p của chất lỏng
chuyển động đều trong môi trường chất lỏng Newton không giới hạn và khi số
Reynolds rất nhỏ Đe cải thiện độ chính xác, người ta có thể dùng các phương
pháp
tính toán điều chỉnh hoặc so sánh một cách tương đối kết quả thu được với chất
lỏng
chuẩn đã biết
Lưu biến kế Poiseuille hay còn gọi là nhớt kế mao dẫn thường được sử dụng
cho
việc đo nhanh độ nhớt tuyệt đối của chất lỏng Newton Đôi khi chúng cũng được
dùng
để xác định các tính chất lưu biến của các chất lỏng phi Newton khi người ta đã dự
đoán trước được quy luật ứng xử lưu biến của chất lỏng đó Trong mục này, chúng
họp này có thể ứng dụng để tính toán sự chảy của bê tông trong ống bơm
Nguyên lý hoạt động của nhớt
kế
kiểu Poiseuille tương đối đơn giản :
chất lỏng nghiên cứu chảy đều
Trang 12với mọi phân tố chất lỏng tức là với mọi r và z khi và chỉ khi hai vế của PT 1.12 là
hằng số Từ đó ta có thể suy ra ứng suất tiếp Tr trên mặt trụ bán kính r như sau :
Trang 13chuyển động với cùng một vận tốc, không có biến dạng trượt tương đối
1 +2n + 1
Ap^
Trang 14Lưu biến kế Couette là những loại lưu biến kế trong đó chất lỏng nghiên cứu
H 1.4 Nguyên lỷ hoạt động của lưu biến kế Couette kiếu hình trụ đồng trục.
ứng xử lưu biến và mô hình thí nghiệm chảy xòe của bê tông tự đầm lèn Cao Xuân Phong và Hoàng Thanh Liêm
Trang 15Trong quá trình chảy tầng, chất lỏng bị phân chia thành những lóp mỏng hình
Dựa vào các PT 1.23 và 1.24 ta có thể xác định được đồ thị lưu biến T - Ỷ củachất lỏng nếu như biết được quy luật phân bố của vận tốc góc ©r theo r Tuy nhiên quy
luật phân bố này lại phụ thuộc vào ứng xử lưu biến của chất lỏng Như vậy ta rơi vào
vòng luẩn quẩn : để xác định được ứng xử lưu biến của vật liệu cần phải biết trước ứng
1 1R? R
(1.26)
(1.27)
Trang 16biến của các dung dịch huyền phù, ngoài yêu cầu về khe hở hẹp (a < 0.1) còn phải
đảm bảo yêu cầu : chiều rộng khe hở ít nhất phải bằng 10 lần đường kính của các
biến kế đáp ứng những yêu cầu trên về khe hở phải có kích thước rất lớn, tối thiểu
ứng xử lưu biến và mô hình thí nghiệm chảy xòe của bê tông tự đầm lèn Cao Xuân Phong và Hoàng Thanh Liêm
Trang 17Đó là hỗn họp của các hạt cốt liệu rời như cát, sỏi, đá, và chất kết dính : xi măng
trộn nước Ngoài ra người ta còn có thể thêm vào bê tông một số chất phụ gia
nhằm
cải thiện một vài tính chất của bê tông Tùy theo những yêu cầu đối với bê tông
trong quá trình thi công và sử dụng mà người ta lựa chọn hàm lượng các thành
của vật liệu Tuy nhiên, một chỉ tiêu khác không kém phần quan trọng, có ý nghĩa
quyết định đến khả năng thi công của bê tông và có ảnh hưởng rất lớn đến chất
Trang 18Trang 14
thường trước khi trình bày về những đặc điểm, tính chất và ứng xử lưu biến của bê
tông tự đầm lèn
2.2 ứng xử lưu biến của bê tông thường
Xi măng được chế tạo bằng cách tán nghiền các hạt vật liệu « Clinker » dưới
tác
dụng của những va chạm rất mạnh nhằm phân chia những hạt vật liệu này thành
những
phần tử có kích thước rất nhỏ dao động trong khoảng 1-100 pm Sự tán nghiền này
kèm theo sự cắt đứt các liên kết tĩnh điện của vật liệu, dẫn đến hiện tượng tồn tại
đồng
thời những nơi tích điện dương và những nơi tích điện âm trên bề mặt hạt xi măng
Nhìn chung, các hạt xi măng thường tích điện âm nhiều hơn (khoảng 3 lần) so với
tích
điện dương, các điện tích âm thường tập trung ở những chỗ bằng phẳng và ngược
lại,
các điện tích dương thường tập trung ở những nơi góc cạnh của hạt xi măng Hiện
tượng này một mặt là do các hạt tích điện dương bị trung hòa một phần bởi các
electron tự do trong môi trường, mặt khác là do các hạt điện tích âm thường có
kích
thước lớn hơn các hạt điện tích dương [13]
Xi măng Portland được cấu tạo chủ yếu từ 4 thành phần tinh thể : 3Ca0.Si02
(ký
hiệu C3S), 2Ca0.Si02 (ký hiệu C2S), 3Ca0.Al203 (ký hiệu C3A) và
4Ca0.Al203.Fe203
(ký hiệu C4AF), ngoài ra còn một số thành phần khác chiếm tỉ lệ nhỏ như CaO,
CaC03, MgO, K2S04 Khi xi măng được trộn với nước, các thành phần này ngay
Trang 19Một lý thuyết khác mới hơn được
vận
dụng trong nhiều nghiên cứu về sau là lý
thuyết của Stem Theo tác giả, các ion
trong dung dịch đến bám vào bề mặt hạt
rắn tạo thành hai lóp điện tích Lóp bên
trong được gọi là lóp Stem bao gồm các
điện tích mang dấu ngược với dấu điện
tích của hạt rắn Lóp điện tích này có
chiều dày nhỏ, liên kết rất chặt chẽ và
cùng di chuyển với các hạt rắn khi chúng
chuyển động trong dung dịch Ngoài lóp
Stem là lóp khuyếch tán chủ yếu chứa
các
ion mang điện tích cùng dấu với điện tích
trên bề mặt hạt rắn Chiều dày lóp
khuyếch tán dao động trong khoảng 10
-1000 Ả, càng nhỏ khi mật độ điện tích
càng lớn Đối với hạt xi măng phần lớn
tích điện âm, cấu trúc các lóp điện tích
bao quanh hạt xi măng được mô tả như
Lớp khuyếch tán
H 2.1 Mô tả sự phân bố điện tích bao
quanh hạt xi măng theo lỷ thuyết
.2.1 trong đó lóp Stem chủ yếu tích điện.5] chủ yếu tích điện âm
Hạt xi măng
Mặc dù lý thuyết Gouy-Chapmann và
Stem đưa ra những cấu trúc điện tích khác
nhau bao quanh các hạt rắn tích điện, cả
hai lý thuyết đều chỉ ra rằng các lóp
khuyếch tán bao quanh các hạt rắn đẩy
nhau do tích điện cùng dấu với nhau
Trong trường họp hạt xi măng tồn tại
đồng thời những nơi tích điện âm (những
nơi bằng phẳng) và những nơi tích điện
dương (những nơi góc cạnh), lóp khuyếch
tán vì vậy cũng tồn tại đồng thời những
vùng tích điện trái dấu nhau và do đó
trong vữa xi măng cũng tồn tại đồng thời
lực hút và lực đẩy tĩnh điện giữa các lóp
khuyếch tán bao quanh các hạt xi măng
Rất nhiều nghiên cứu [14, 16]đã chỉ ra rằng tổng họp những tương tác này tạo nên cấu
trúc kết bông của vữa xi măng trong đó các hạt xi măng hút nhau tạo thành những
H 2.2 Mô tả cấu trúc kết
bông của vữa xi măng.
Trang 20Trang 16
chùm hạt riêng rẽ hoặc được ghép nối với nhau như mô tả như trên H 2.2 Theo
Legrand [14], do các hạt xi măng tích điện âm ở những noi bằng phẳng và tích
điện
dương ở những nơi góc cạnh, liên kết giữa các hạt xi măng vì vậy có dạng liên kết
điểm, có thể liên kết thông qua các lóp khuyếch tán hoặc liên kết trực tiếp Những
ngăn chặn Điều này tạo ra sự ổn định cho cấu trúc kết bông của xi măng
Như chúng tôi đã trình bày ở trên, vữa xi măng có cấu trúc kết bông do sự hút
nhau của các hạt xi măng Để vữa xi măng có thể chảy được, cần phải tác động lên
chúng một ứng suất T đủ lớn nhằm phá vỡ liên kết giữa các hạt xi măng Điều này
làm
cho vữa xi măng và bê tông có ứng xử nhớt - dẻo, tức là tồn tại ngưỡng chảy To
mà
ứng suất X tác dụng lên vật liệu cần phải vượt qua để vật liệu bắt đầu chảy được
Theo Legrand [17], ngưỡng chảy T0 của vữa xi măng và bê tông tăng theo
ứng với sự tăng số hạt xi măng trong cùng một thể tích, làm tăng số lượng liên kết
giữa các hạt xi măng và do đó làm tăng ngưỡng chảy của vữa xi măng và bê tông
Khi vữa xi măng và bê tông chịu các chấn động rung trong quá trình đầm lèn,
các
hạt xi măng dao động xung quanh vị trí ban đầu của chúng một cách lộn xộn dẫn
đến
liên kết giữa các hạt xi măng bị phá vỡ Điều này làm giảm thậm chí làm triệt tiêu
ngưỡng chảy của vữa xi măng và bê tông [17]
ứng xử lưu biến và mô hình thí nghiệm chảy xòe của bê tông tự đầm lèn Cao Xuân Phong và Hoàng Thanh Liêm
Trang 21suất X hoặc vận tốc biến dạng trượt Ỷ không đổi [17] Trong lưu biến học, người ta gọi
hiện tượng này là hiện tượng xúc biến (thixotropy) và đã có rất nhiều công trình
nghiên cứu thực nghiệm cũng như lý thuyết về hiện tượng này của vữa xi măng và
bê
tông
Cấu trúc kết bông không chỉ là nguồn gốc của ứng xử nhớt dẻo, ứng xử xúc
biến
mà còn là nguồn gốc của ứng xử chảy lỏng của vữa xi măng và bê tông Điều này
được thể hiện bởi sự giảm độ nhớt p của vật liệu khi ứng suất T hoặc vận tốc biến
hạt càng nhở và do đó độ nhớt p của vữa xi măng và bê tông càng nhỏ [17, 18]
Như chúng tôi đã giới thiệu ở trên, vữa xi măng và bê tông là những vật liệu
Trang 22Trang 18
2.3 Khái quát về bê tông tự đầm lèn
Bê tông tự đầm lèn là loại bê tông rất lỏng, đồng nhất và ổn định (không phân
tách), thi công không cần bất cứ tác động cơ học nào (sự đầm lèn và lấp đầy ván
tông sử dụng trong những công trình quy mô lớn với cốt thép dày đặc Nhờ những
H 2.3 Một số công trình sử dụng bê tông tự đầm lèn : (a) cầu treo Akashi - Kaỉkyo (Nhật Bản), (b) hầm Sodra Lanken (Thụy Điển).
Công trình cầu treo Akashi - Kaikyo tại Nhật Bản (H 23.à) có nhịp dài nhất
thế
giới (1991 m) được thi công từ năm 1998 cầu có hai trụ tháp cao 298m được xây
dựng bằng bê tông tự đầm lèn, nhờ đó mà thời gian thi công hai trụ tháp này đã
được
rút ngắn lại 20%, từ 2.5 năm xuống còn 2 năm
Công trình hầm Sodra Lanken lớn nhất Thụy Điển (H 2.3.b) có chiều dài 16.6
km,
thi công trong khoảng thời gian 1998 - 2004 với tổng số vốn đầu tư 800 triệu
ứng xử lưu biến và mô hình thí nghiệm chảy xòe của bê tông tự đầm lèn Cao Xuân Phong và Hoàng Thanh Liêm
Trang 232.4 ưu và nhược điếm của bê tông tự đầm lèn
Như chúng tôi đã giới thiệu ở trên, bê tông tự đầm lèn có khả năng tự chảy và
tông thường mà chúng tôi trình bày dưới đây :
+ Rút ngắn thời gian thi công do loại bỏ được công đoạn đầm rung và công
rung động gây ra trong quá trình đầm rung
+ Cho phép thi công ở những vị trí chật hẹp hoặc những nơi cốt thép bố trí dày
đặc mà thiết bị đầm rung không thể hoạt động được
+ Nâng cao chất lượng của công trình (bê tông có cường độ cao, khả năng
chịu
nhiệt và dính bám với cốt thép tốt, bề mặt công trình nhẵn mịn, khả năng
chống gỉ và chống thấm tốt )
+ Giảm bớt chi phí xây dựng công trình (khoảng 7.5% [19]) nhờ việc giảm bớt
số lượng công nhân thi công mặc dù giá thành bẽ tông tự đầm lèn cao hơn
giá
thành bê tông thường
Bên cạnh những ưu điểm, bê tông tự đầm lèn cũng có một số nhược điểm mà
chúng tôi giới thiệu dưới đây :
+ Chất lượng bê tông tự đầm lèn rất nhạy cảm với sự thay đổi hàm lượng các
Trang 24Trang 20
lèn
a) Đô lỏng trong môi trường không có vât cản
Độ lỏng của của bê tông tự đầm lèn trong môi trường không có vật cản được
xác
định bởi thí nghiệm nón cụt Abrams (kích thước mô tả trên H 2.4.a) Thí nghiệm
Abrams là thí nghiệm tiêu chuẩn được dùng rộng rãi trên toàn thế giới dùng để xác
định một cách nhanh chóng độ lỏng của bê tông dựa trên việc đo độ sụt của chúng
(chiều cao sụt của bê tông sau khi nhấc nón cụt Abrams, H 2.4.b) dưới tác dụng
của
trọng lượng bản thân Độ sụt càng lớn thì bê tông càng lỏng và ngược lại
Đối với bê tông tự đầm lèn, việc đo độ sụt không còn có ý nghĩa do bê tông bị
sụt
hoàn toàn Trong trường hợp này, độ lỏng của bê tông tự đầm lèn được xác định
thông
H 2.4 Xác định độ lỏng của bê tông bằng thí nghiệm Abrams :
(a) nón cụt Abrams (kích thước ghi theo cm), (b) đo độ sụt đối với bê tông
thường, (c) đo đưòng kỉnh chảy xòe đoi vói bê tông tự đầm lèn.
Cho đến hiện nay, rất nhiều nghiên cứu thực nghiệm cũng như lý thuyết về
mối
quan hệ giữa độ sụt H hoặc đường kính chảy xòe D với ngưỡng chảy To của bê
được thực hiện [4, 20 - 22] Trong phạm vi bài nghiên cứu này, chúng tôi chỉ giới
thiệu mối quan hệ tưong đối đon giản giữa ngưỡng chảy T0 và đường kính chảy
_ 255pgV2T° 4TT2D5trong đó pg và V lần lượt là trọng lượng riêng và thể tích của mẫu bê tông
(2.1)
ứng xử lưu biến và mô hình thí nghiệm chảy xòe của bê tông tự đầm lèn Cao Xuân Phong và Hoàng Thanh Liêm