Giai cấp công nhân Việt Nam ngày càng khẳng định được sứ mệnh lịch sử, vai trò, vị trí của mình trong sự nghiệp đổi mới, điều này được thể hiện rất rõ trong tất cả các lĩnh vực của đời s
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 Ý THỨC CHÍNH TRỊ CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI HIỆN NAY 9
1.1 Ý thức chính trị của giai cấp công nhân Việt Nam 9
1.1.1 Khái niệm ý thức chính trị của giai cấp công nhân Việt Nam 9
1.1.2 Nội dung biểu hiện ý thức chính trị của giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay 16
1.2 Sự cần thiết phải nâng cao ý thức chính trị cho giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay 27
1.2.1 Do yêu cầu thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân và yêu cầu của sự nghiệp đổi mới 28
1.2.2 Do yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho sự nghiệp công nghiêp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế 29
1.2.3 Do yêu cầu tăng cường vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân đối với khối liên minh công - nông - trí và các tầng lớp nhân dân lao động 31
1.2.4 Xuất phát từ vai trò định hướng của ý thức chính trị đối với mọi hoạt động của công nhân; từ vai trò của công tác lý luận đến thực trạng yếu kém về ý thức chính trị của một bộ phận công nhân Việt Nam 32
Chương 2 THỰC TRẠNG Ý THỨC CHÍNH TRỊ CỦA ĐỘI NGŨ CÔNG NHÂN TỈNH YÊN BÁI TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI HIỆN NAY 35
2.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội của tỉnh Yên Bái 35
2.1.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên 35
2.1.2 Khái quát về kinh tế - xã hội 37
2.2 Ý thức chính trị của đội ngũ công nhân tỉnh Yên Bái trong thời kỳ đổi mới: công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước 41
2.2.1 Vài nét về đội ngũ công nhân tỉnh Yên Bái 41
Trang 22.2.2 Thực trạng ý thức chính trị của đội ngũ công nhân tỉnh Yên Bái
trong thời kỳ đổi mới hiện nay 48
2.2.3 Đánh giá thực trạng và nguyên nhân 64
Chương 3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO Ý THỨC CHÍNH TRỊ CHO ĐỘI NGŨ CÔNG NHÂN TỈNH YÊN BÁI TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI HIỆN NAY 71
3.1 Những phương hướng cơ bản nhằm nâng cao ý thức chính trị cho đội ngũ công nhân tỉnh Yên Bái 71
3.1.1 Xây dựng và phát triển toàn diện đội ngũ công nhân Yên Bái trong đó nâng cao ý thức chính trị phải được coi là cấp bách, hàng đầu 71
3.1.2 Nâng cao ý thức chính trị cho công nhân Yên Bái đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, phát huy vai trò của Công đoàn, doanh nghiệp và các tổ chức đoàn thể 72
3.1.3 Nâng cao ý thức chính trị cho công nhân Yên Bái phải tiến hành thường xuyên liên tục, phát huy tính tự rèn luyện, tự phấn đấu của công nhân 75
3.2 Những nhóm giải pháp cơ bản nhằm nâng cao ý thức chính trị cho đội ngũ công nhân tỉnh Yên Bái 76
3.2.1 Nhóm giải pháp về kinh tế nhằm nâng cao ý thức chính trị cho đội ngũ công nhân Yên Bái 76
3.2.2 Nhóm giải pháp về chính trị, pháp luật nhằm nâng cao ý thức chính trị cho đội ngũ công nhân Yên Bái 83
3.2.3 Nhóm giải pháp về văn hóa - xã hội nhằm nâng cao ý thức chính trị cho đội ngũ công nhân Yên Bái 93
KẾT LUẬN 100
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 103
CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN VĂN 108
PHỤ LỤC 109
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đất nước ta đang trong thời kỳ đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH), hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới Trong quá trình đổi mới, Đảng ta luôn xác định: định hướng con đường đi lên chủ nghĩa xã hội (CNXH) sẽ không bao giờ là thay đổi; xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa (XHCN) luôn là nhiệm vụ thiêng liêng của mọi giai cấp, mọi tầng lớp nhân dân và của cả hệ thống chính trị, trong đó vai trò của giai cấp công nhân Việt Nam là vô cùng to lớn
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH năm
1991 Đảng ta đã khẳng định: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác-Lênin, tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng” [9, tr.127] Qua các kỳ đại hội VIII, IX, và X điều này liên tục được khẳng định
và làm rõ rằng: “Giai cấp công nhân Việt Nam là giai cấp lãnh đạo cách mạng Việt Nam thông qua đội tiền phong là Đảng Cộng sản Việt Nam” [15, tr.43]
Qua thực tiễn hơn 25 năm đổi mới, đất nước ta đã đạt được nhiều thành tựu to lớn và có ý nghĩa quan trọng khẳng định con đường chúng ta đang đi là hoàn toàn đúng đắn, phù hợp với xu thế phát triển của nhân loại tiến bộ Giai cấp công nhân Việt Nam ngày càng khẳng định được sứ mệnh lịch sử, vai trò,
vị trí của mình trong sự nghiệp đổi mới, điều này được thể hiện rất rõ trong tất
cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế - chính trị - văn hóa - xã hội Đặc biệt là trên lĩnh vực kinh tế “Đối với giai cấp công nhân, phát triển về số lượng, chất lượng và tổ chức, nâng cao giác ngộ và bản lĩnh chính trị, trình độ học vấn và nghề nghiệp, xứng đáng là lực lượng đi đầu trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước” [13, tr.118]
Tại Hội nghị lần Sáu Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X; Đảng ta
đã ban hành Nghị quyết số 20-NQ/TW “Về tiếp tục xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” Nghị quyết đã một lần nữa khẳng định sứ mệnh lịch sử to lớn của giai cấp
Trang 5công nhân Việt Nam: “Giai cấp công nhân nước ta có sứ mệnh lịch sử to lớn:
là giai cấp lãnh đạo cách mạng ” [15, tr.43-44]
Thực tiễn những năm đổi mới vừa qua cho thấy Đảng ta liên tục khẳng đinh vai trò, vị thế của giai cấp công nhân Việt Nam trong tiến trình phát triển đất nước Hơn bao giờ hết việc nâng cao trình độ mọi mặt cho giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay là điều hết sức cần thiết nó hoàn toàn phù hợp với lý luận của Đảng và thực tiễn đất nước ta hiện nay
Yên Bái là một tỉnh miền núi nằm ở phía Tây Bắc của Tổ quốc, có nhiều tiềm năng để phát triển kinh tế, có vị trí chiến lược về chính trị, quốc phòng, an ninh Đội ngũ công nhân tỉnh Yên Bái đã có sự phát triển về nhiều mặt góp phần quan trọng vào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa của tỉnh nhà Tuy nhiên do nhiều nguyên nhân khách quan, chủ quan đội ngũ công nhân tỉnh Yên Bái còn thiếu về số lượng, yếu về chất lượng, trình độ chuyên môn, tay nghề còn thấp làm việc chủ yếu trong các lĩnh vực nặng nhọc, độc hại như công nghiệp chế biến, công nghiệp khai thác
Công nghiệp tỉnh Yên Bái nhìn chung trong những năm qua đã có sự phát triển nhưng còn nhỏ bé, yếu kém đa số là công nghiệp chế biến gỗ, khai thác đá, khai thác quặng sắt Các khu chế xuất, khu công nghiệp cao như công nghệ điện tử, công nghệ thông tin hầu như chưa có Vì vậy để đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa cũng như để tỉnh nhà phát triển hơn trong tương lai, vấn đề xây dựng, phát triển đội ngũ công nhân có ý nghĩa quan trọng đặc biệt Trong đó nâng cao ý thức chính trị cho bản thân đội ngũ công nhân là một việc làm rất quan trọng
Việc xây dựng giai cấp công nhân và đội ngũ những người lao động
“có chất lượng cho phát triển kinh tế - xã hội” [55, tr.1] như Nghị quyết Đại hội Đảng bộ lần thứ XVII của tỉnh Yên Bái vạch ra trong thời gian vừa qua không chỉ mang tính cấp bách trước mắt mà còn là vấn đề lâu dài
Để phát triển, nâng cao chất lượng cho đội ngũ công nhân tỉnh Yên Bái trong thời kỳ đổi mới hiện nay vấn đề giáo dục về tư tưởng, tình cảm, đạo đức, lối sống, nghề nghiệp… đặc biệt là về chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng
Trang 6Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước ta là việc làm thiết thực và rất cần thiết Vì vậy tôi đã chọn vấn đề:
“Nâng cao ý thức chính trị cho đội ngũ công nhân tỉnh Yên Bái trong thời
kỳ đổi mới hiện nay” làm luận văn thạc sỹ của mình Hy vọng đóng góp được
một phần sức lực vào sự phát triển của đội ngũ công nhân tỉnh Yên Bái cũng như góp phần vào sự phát triển chung về kinh tế - xã hội của tỉnh nhà
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
Vấn đề giai cấp là vấn đề lớn, đặc biệt là vấn đề giai cấp công nhân - đã
có rất nhiều các văn kiện, nghị quyết của Đảng Cộng sản Việt Nam cũng như luận văn, đề tài, hội thảo khoa học nghiên cứu tìm hiểu về về giai cấp công nhân, giai cấp công nhân Việt Nam với những hướng nghiên cứu, tiếp cận khác nhau:
Đảng ta trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam cũng đã có nhiều văn kiện, nghị quyết về xây dựng GCCN Việt Nam như:
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa III “Về nhiệm vụ và phương hướng xây dựng và phát triển công nghiệp”
Nghị quyết số 167/NQ-TƯ ngày 21/09/1967 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa III) về việc tăng cường công tác vận động công nhân và hoạt động của Công đoàn trong tình hình mới
Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VII (1994): Về phát triển công nghiệp, công nghệ đến năm 2000 theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và xây dựng giai cấp công nhân trong giai đoạn mới, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội
Nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X (2008): Về tiếp tục xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội
Cũng đã có nhiều công trình khoa học đã được in thành sách như:
“Giai cấp công nhân trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước” của PGS.TS Dương Xuân Ngọc, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2004 Công trình này đã trình bày khá toàn diện về thực trạng xu hướng biến đổi của giai cấp
Trang 7công nhân Việt Nam trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
từ đó tác giả đưa ra quan điểm, mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ và giải pháp xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam
“Xây dựng, phát huy vai trò giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước” do TS Đặng Ngọc Tùng (chủ biên), Nxb Lao động Tác giả đã bàn đến một số vấn đề lý luận về giai cấp công nhân, cho người đọc cái nhìn chung nhất về giai cấp công nhân Việt Nam trong những năm đổi mới, từ đó đưa ra những giải pháp nhằm xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước
“Tăng cường bản chất giai cấp công nhân của Đảng Cộng sản Việt Nam” do PGS TS Đỗ Ngọc Ninh, TS Nguyễn Văn Giang (đồng chủ biên), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2008 Các tác giả đã bàn đến những vấn đề chủ yếu về bản chất giai cấp của Đảng Cộng sản, bản chất giai cấp công nhân của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ đổi mới cũng như vấn đề tăng cường bản chất giai cấp công nhân của Đảng từ năm 1986 đến nay Từ đó đề
ra phương hướng, giải pháp chủ yếu tăng cường bản chất giai cấp công nhân của Đảng Cộng sản Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
“Về xu hướng công nhân hóa ở nước ta hiên nay” của TS Nguyễn An Ninh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2008 Tác giả đã bàn đến xu hướng công nhân hóa ở nước ta, đưa ra một số nhận thức về giai cấp công nhân Việt Nam, hiện tượng phân tầng trong công nhân, trạng thái tới hạn của nguồn lực công nhân, những nghịch lý trong quá trình phát triển giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH Hệ thống dạy nghề trước nhu cầu đẩy mạnh CNH, HĐH và gắn với phát triển kinh tế tri thức Từ đó tác giả chỉ ra cần làm thế nào để hệ giá trị của giai cấp công nhân trở thành hệ giá trị của xã hội
Một số luận văn, luận án thạc sĩ, tiến sĩ: “Sự phát triển của giai cấp công nhân Việt Nam và vai trò của nó trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước”
- Trần Ngọc Sơn (2001), luận văn Tiến sĩ Triết học, chuyên ngành chủ nghĩa
xã hội khoa học “Đội ngũ giai cấp công nhân tỉnh Hưng Yên trong sự nghiệp
Trang 8CNH, HĐH” - Trần Thị Bích Ngọc (2008), Luận văn thạc sĩ Triết học, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội
Các công trình nghiên cứu nêu trên đây đã mang lại những kết qủa nhất định như: Đi sâu vào phân tích khái niệm giai cấp công nhân, những đặc trưng vai trò và sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Việt Nam qua các thời kỳ cách mạng, nhất là trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước Thực trạng xu hướng biến đổi cơ cấu giai cấp công nhân Việt Nam trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Đưa ra một số chủ trương, biện pháp cơ bản và cấp bách để xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam trong giai đoạn đổi mới hiện nay
Trong thời gian gần đây, có một số công trình nghiên cứu trực tiếp đến vấn đề ý thức chính trị của GCCN như:
“Ý thức chính trị của công nhân trong một số doanh nghiệp ở Hà Nội hiện nay” đây là cuốn sách do PGS.TS Phan Thanh Khôi làm chủ biên, xuất bản năm 2003 Cuốn sách đã tập trung làm rõ một số vấn đề về GCCN nói chung và đội ngũ công nhân Hà Nội nói riêng, những biểu hiện về ý thức chính trị của GCCN, thực trạng ý thức chính trị của công nhân thành phố Hà Nội, đưa ra những quan điểm và giải pháp để nâng cao ý thức chính trị cho đội ngũ công nhân Hà Nội hiện nay
Luận án tiến sĩ: “Ý thức chính trị của công nhân trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở nước ta hiện nay” của tác giả Dương Thị Thanh Xuân năm 2007 Luận án đã làm rõ thực trạng ý thức chính trị của công nhân trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam hiện nay, đồng thời đưa ra một số quan điểm và giải pháp nhằm nâng cao ý thức chính trị cho công nhân có vốn đầu tư nước ngoài
Riêng với tỉnh Yên Bái, dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy và Ủy ban nhân dân tỉnh, Liên đoàn Lao động tỉnh cũng đã tiến hành khảo sát đưa ra những đánh giá bước đầu nhằm xây dựng đội ngũ công nhân tỉnh nhà vững mạnh, tuy nhiên nhìn chung chưa có công trình khoa học nào thực sự đi sâu vào vấn
đề nâng cao ý thức chính trị cho đội ngũ công nhân tỉnh Yên Bái trong thời kỳ đổi mới hiện nay
Trang 9Chính vì vậy việc triển khai và thực hiện đề tài “Nâng cao ý thức chính trị cho đội ngũ công nhân tỉnh Yên Bái trong thời kỳ đổi mới hiện nay” sẽ góp phần đóng góp quan trọng cho sự phát triển toàn diện của đội ngũ
công nhân tỉnh nhà
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
* Mục đích của luận văn là: trên cơ sở phân tích thực trạng, đánh giá
đúng đắn tình hình ý thức chính trị của đội ngũ công nhân tỉnh Yên Bái đi tới
đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao ý thức chính trị cho đội ngũ công nhân tỉnh Yên Bái hiện nay
* Luận văn có đặt ra các nhiệm vụ sau:
Một là, phân tích và làm rõ được khái niệm, nội dung, đặc điểm và yêu cầu của việc nâng cao ý thức chính trị cho giai cấp công nhân Việt Nam và đội ngũ công nhân tỉnh Yên Bái trong thời kỳ đổi mới hiện nay
Hai là, làm rõ thực trạng xây dựng và nâng cao ý thức chính trị của đội ngũ công nhân Yên Bái trong thời kỳ đổi mới hiện nay
Ba là, đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao ý thức chính trị cho đội ngũ công nhân tỉnh Yên Bái trong thời kỳ đổi mới hiện nay
Trang 104 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu
Những vấn đề lý luận và thực tiễn có liên quan đến việc xây dựng và nâng cao ý thức chính trị đội ngũ công nhân tỉnh Yên Bái trong quá trình đổi mới: công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế ở tỉnh Yên Bái hiện nay
* Phạm vi nghiên cứu
- Giới hạn về nội dung: luận văn chỉ nghiên cứu thực trạng xây dựng và nâng cao ý thức chính trị đội ngũ công nhân trong các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Yên Bái trong thời kỳ đổi mới gắn với bối cảnh CNH, HĐH và hội nhập kinh tế quốc tế
- Giới hạn về thời gian: từ năm 2001 (từ khi thực hiện Nghị quyết Đại hội IX của Đảng Cộng sản Việt Nam) đến nay
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
* Cơ sở lý luận của luận văn
Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm, Nghị quyết của Đảng về giai cấp công nhân, về CNH, HĐH Đồng thời, luận văn có kế thừa và sử dụng kết quả nghiên cứu của một số công trình khoa học có liên quan
* Phương pháp nghiên cứu của luận văn
Luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử như là phương pháp luận chung Phương pháp nghiên cứu đặc thù của CNXHKH tiếp cận, giải quyết vấn đề từ góc độ chính trị - xã hội
Ngoài ra, luận văn kết hợp sử dụng các phương pháp cụ thể khác như: khảo sát, điều tra xã hội học, thống kê, phân tích - tổng hợp… để làm sáng tỏ vấn đề đặt ra
6 Cái mới và những đóng góp về mặt khoa học của luận văn
Nghiên cứu một cách khoa học có hệ thống về vấn đề ý thức chính trị, thực trạng ý thức chính trị của đội ngũ công nhân tỉnh Yên Bái
Đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao ý thức chính trị cho đội ngũ công nhân tỉnh Yên Bái trong thời kỳ đổi mới hiện nay
Kết qua nghiên cứu của luận văn là nguồn tài liệu tham khảo cho việc
Trang 11đẳng Nghề, các cơ quan tổ chức làm công tác Công đoàn trong toàn tỉnh Yên Bái Đồng thời là cơ sở cho việc hoạch định chính sách, giải pháp nhằm nâng cao ý thức chính trị cho đội ngũ công nhân tỉnh Yên Bái, góp phần phát triển toàn diện đội ngũ công nhân tỉnh Yên Bái
7 Kết cấu chính của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục, luận văn gồm 3 chương, 6 tiết:
Chương 1: Ý thức chính trị của giai cấp công nhân Việt Nam trong
thời kỳ đổi mới hiện nay
Chương 2: Thực trạng ý thức chính trị của đội ngũ công nhân tỉnh Yên
Bái trong thời kỳ đổi mới hiện nay
Chương 3: Phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao ý thức chính trị
cho đội ngũ công nhân tỉnh Yên Bái trong thời kỳ đổi mới hiện nay
Trang 12Chương 1
Ý THỨC CHÍNH TRỊ CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN VIỆT NAM
TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI HIỆN NAY
1.1 Ý thức chính trị của giai cấp công nhân Việt Nam
1.1.1 Khái niệm ý thức chính trị của giai cấp công nhân Việt Nam
Khi nghiên cứu, tìm hiểu về ý thức chính trị của GCCN Việt Nam phải xuất phát từ những khái niệm, những quan niệm của các nhà kinh điển, đứng trên lập trường duy vật biện chứng, duy vật lịch sử để từ đó có cái nhìn đúng đắn, khách quan, khoa học
Muốn đi đến được khái niệm “ý thức chính trị” của GCCN trước hết phải bắt đầu từ “ý thức chính trị” là gì, mà trước đó là vấn đề “ý thức xã hội” bởi “ý thức chính trị” chính là một bộ phận cấu thành của ý thức xã hội
Ý thức xã hội theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin là mặt tinh thần của đời sống xã hội, bao gồm những quan điểm, tư tưởng, cũng như tình cảm, tâm trạng, truyền thống… nảy sinh từ tồn tại xã hội phản ánh tồn tại xã hội trong những giai đoạn phát triển nhất định
Ý thức xã hội và ý thức cá nhân có sự khác nhau tương đối, ý thức cá nhân là thế giới tinh thần của những cá nhân riêng biệt, cụ thể, phản ánh tồn tại xã hội ở mức độ khác nhau Vì vậy không phải bao giờ ý thức cá nhân cũng thể hiện tư tưởng, tình cảm phổ biến của một cộng đồng, tập đoàn người, và một thời đại nhất định Ý thức cá nhân và ý thức xã hội có mối quan
hệ biện chứng với nhau, thâm nhập và làm phong phú nhau
Ý thức xã hội có ý thức thông thường và ý thức lý luận Ý thức thông thường là những quan điểm, quan niệm, tri thức được hình thành trực tiếp qua hoạt động thực tiễn được hệ thống lại, chưa được khái quát hóa Ý thức lý luận đã được hệ thống, khái quát hóa thành những khái niêm, phạm trù, quy luật
Ý thức xã hội mang tính giai cấp Các giai cấp có những điều kiện sinh hoạt vật chất khác nhau, những lợi ích khác nhau nên ý thức xã hội cũng
Trang 13không giống nhau Thậm chí là mâu thuẫn đối kháng trong đó ý thức xã hội của giai cấp thống trị (giai cấp nắm tư liệu sản xuất) sẽ là tư tưởng chủ đạo của thời đại đó, xã hội đó
Ý thức xã hội và tồn tại xã hội có mối quan hệ biện chứng qua lại Ý thức xã hội phản ánh tồn tại xã hội và do tồn tại xã hội quyết định “…không thể nhận định được về một thời đại đảo lộn như thế căn cứ vào ý thức của thời đại ấy”; “không phải ý thức của con người quyết định tồn tại của họ; trái lại, tồn tại xã hội của họ quyết định ý thức của họ” [32, tr.15]
Ý thức xã hội do tồn tại xã hội quyết định song ý thức xã hội có sự độc lập tương đối, thậm chí tác động trở lại tồn tại xã hội Ý thức xã hội thường lạc hậu hơn so với tồn tại xã hội song ý thức xã hội cũng có thể vượt trước tồn tại xã hội - dự báo được xu hướng vận động, phát triển của xã hội nhưng không thể thoát ly tồn tại xã hội mà phải trên cơ sở tồn tại xã hội Ý thức xã hội cũng có tính kế thừa trong sự phát triển của mình và có sự tác động qua lại giữa các hình thái ý thức xã hội
Từ những quan điểm về ý thức xã hội ta có thể thấy ý thức chính trị là một hình thái ý thức xã hội, phản ánh mọi mặt của đời sống xã hội Vì nó phản ánh mọi mặt của đời sống chính trị, đời sống xã hội nên phải có sự nhìn nhận đánh giá về mức độ dân chủ, về cơ chế hoạt động của nhà nước Ý thức chính trị cũng là sự nhìn nhận, thái độ, đánh giá cơ cấu, cơ chế hoạt động của nhà nước, hoạt động của các giai cấp (nhà nước bao giờ cũng là của một giai cấp nhất định, chựu sự chi phối của một Đảng phái nào đó)
Ý thức chính trị thể hiện một cách nhạy cảm nhất ở nhu cầu và lợi ích chính trị Nhu cầu, lợi ích chính trị đến đâu, cao hay thấp, chính đáng hay không Ý thức chính trị cũng thể hiện trong quan điểm giải quyết các mối quan hệ giữa các giai cấp, tầng lớp, giữa các dân tộc, giữa các nhà nước…
Ý thức chính trị gắn trực tiếp và bị quyết định bởi kinh tế song ý thức chính trị cũng có sự tác động ngược trở lại kinh tế một cách tích cực và nhiều lúc rất quan trọng đối với kinh tế
Trang 14Vì là một hình thái ý thức xã hội nên ý thức chính trị có mối quan hệ qua lại và chựu chi phối của những hình thái ý thức xã hội khác như: ý thức pháp quyền, ý thức đạo đức, ý thức tôn giáo… nhưng khi xét tổng thể ý thức
xã hội thì ý thức chính trị có tầm quan trọng đặc biệt, nó quyết định đến xu hướng và bản chất của các hình thái ý thức xã hội
Hình thái ý thức chính trị xuất hiện trong xã hội có giai cấp, nhà nước
Nó phản ánh các quan hệ chính trị, kinh tế, xã hội giữa các giai cấp, các dân tộc, các quốc gia cũng như thái độ của các giai cấp, tầng lớp đối với quyền lực nhà nước Vì vậy giai cấp nào cũng có ý thức chính trị, xã hội có nhiều giai cấp thì sẽ có nhiều loại ý thức chính trị Nhưng chỉ giai cấp có khả năng đại diện cho phương thức sản xuất mới, hình thái kinh tế - xã hội mới, mới có điều kiện hình thành hệ tư tưởng chính trị dưới dạng học thuyết, các giai cấp khác thì không
Ý thức chính trị của một hình thái kinh tế - xã hội nhất định phụ thuộc vào ý thức chính trị của giai cấp nắm tư liệu sản xuất Nó có thể tích cực, tiến bộ khi mang hệ tư tưởng tiến bộ, ngược lại là bảo thủ, trì trệ, kìm hãm sự phát triển
Ý thức chính trị theo PGS.TS Phan Thanh khôi là “thái độ đối với các thể chế chính trị (nhà nước, đảng phái…); là nhận thức về những nội dung chính trị quan trọng (chế độ chính trị, đường lối chính sách… phát triển quốc gia); là sự hiểu biết về mình với tư cách là một giai cấp, trong quan hệ với các giai cấp, tầng lớp cơ bản (kẻ thù, bạn đồng minh…); dân tộc nảy sinh từ quá trình xây dựng chế độ chính trị của một đất nước” [20, tr.14]
Tác giả Dương Thị Thanh Xuân trong luận án tiến sĩ của mình cho rằng
“Ý thức chính trị - một bộ phận của ý thức xã hội trong xã hội có giai cấp, là
hệ thống quan điểm, lý luận, thái độ của một giai cấp về địa vị lịch sử, nhiệm
vụ chính trị, sách lược của giai cấp mình trong tiến trình phát triển của lịch sử” [53, tr.19]
Ý thức chính trị căn cứ vào trình độ phát triển gồm hai cấp độ là ý thức chính trị thông thường và ý thức chính trị ở cấp độ lý luận
Trang 15Ý thức chính trị thông thường là các dạng tâm lý, cảm xúc, tình cảm, ước mơ mong muốn… tự phát sinh ra trong hoạt động thực tiễn
Ý thức chính trị lý luận được biểu hiện là những tư tưởng, quan điểm chính trị đã được hệ thống hóa thành một chỉnh thể mang tính khoa học, hợp
lý phản ánh được các mối liên hệ bản chất, tất yếu, phổ biến trong đời sống chính trị
Ý thức chính trị thông thường và ý thức chính trị lý luận có mối quan
hệ biện chứng với nhau, tác động qua lại nhau Ý thức chính trị thông thường
là cơ sở, kho tàng để ý thức chính trị lý luận khai thác, khái quát nội dung của mình giúp cho hệ tư tưởng, lý luận bớt sơ cứng, bớt sai lầm Ngược lại ý thức chính trị lý luận củng cố, định hướng tâm lý cho ý thức chính trị thông thường
Theo căn cứ vào chủ thể mang ý thức chính trị, thì ý thức chính trị gồm
Ý thức chính trị có hai chức năng cơ bản là chức năng nhận thức và chức năng thực tiễn:
Chức năng nhận thức được biểu hiện ở chỗ nó phản ánh những vấn đề chính trị diễn ra trong xã hội có giai cấp, nhà nước Nó phản ánh những quan
hệ chính trị, kinh tế, xã hội giữa các giai cấp, các dân tộc, các quốc gia, thái
độ của các giai cấp với quyền lực nhà nước
Trang 16Chức năng thực tiễn biểu hiện ở chỗ là ý thức chính trị không phải nhận thức chỉ để nhận thức mà nhằm cải tạo thực tiễn, cải tạo đời sống chính trị xuất phát từ hiện thực đời sống chính trị
Ý thức chính trị có vai trò và ý nghĩa rất quan trọng đối với sự phát triển của xã hội (đặc biệt ở cấp độ hệ tư tưởng chính trị) Không một ai có thể đứng ngoài chính trị, mỗi giai cấp, tầng lớp, nhóm xã hội có nhận thức, thái
độ khác nhau về đời sống chính trị trên cơ sở nhu cầu, lợi ích của mình Trong
xã hội có nhiều loại ý thức chính trị khác nhau, nhưng một lần nữa phải khẳng định rằng chỉ có giai cấp tiến bộ có khả năng đại diện cho một phương thức sản xuất mới, và do đó một hình thái kinh tế - xã hội mới, mới có thể hình thành những tư tưởng chính trị một cách có hệ thống, có tính lý luận, khoa học dưới dạng học thuyết
Từ vấn đề ý thức chính trị để tìm hiểu ý thức chính trị của GCCN Ta phải đứng trên lập trường của chủ nghĩa Mác-Lênin về GCCN
Sinh thời Mác, Ăngghen sử dụng rất nhiều thuật ngữ khác nhau để chỉ GCCN như “Giai cấp vô sản”, “Giai cấp lao động làm thuê”, “Giai cấp lao động làm thuê ở thế kỷ XIX”, “Giai cấp xã hội hoàn toàn chỉ dựa vào việc bán sức lao động của mình”, “Giai cấp vô sản hiện đại”, “Giai cấp công nhân”,
“Giai cấp công nhân hiện đại”, “Công nhân công nghiệp”, “Công nhân khai khoáng”, Công nhân đại công nghiệp”… Hai ông đã nghiên cứu sâu về GCCN,
vô sản để chỉ ra nguồn gốc, đặc trưng, thuộc tính cơ bản của giai cấp này
“Giai cấp vô sản là một giai cấp xã hội hoàn toàn chỉ sống dựa vào bán sức lao động của mình, chứ không sống dựa vào lợi nhuận của bất cứ số tư bản nào, đó là một giai cấp mà hạnh phúc và đau khổ, sống và chết, toàn bộ
sự sống còn của họ đều phụ thuộc vào yêu cầu về lao động, tức là vào tình hình chuyển biến tốt hay xấu của công việc làm ăn, vào những biến động của cuộc cạnh tranh không gì ngăn cản nổi Nói tóm lại, giai cấp vô sản hay giai cấp của những người vô sản là giai cấp lao động trong thế kỷ XIX Giai cấp
vô sản do cuộc cách mạng công nghiệp sản sinh ra” [29, tr.456-457]
Trang 17Lênin cũng đã bổ sung phát triển quan điểm của Mác, Ăngghen và chỉ
ra rằng GCCN “Là giai cấp thống trị về chính trị, giai cấp lãnh đạo toàn xã hội trong cuộc đấu tranh lật đổ ách tư bản, trong sự nghiệp sáng tạo ra xã hội mới, trong toàn bộ cuộc đấu tranh để thủ tiêu hoàn toàn các giai cấp Xu hướng phát triển của giai cấp vô sản là đi tới chỗ tự thủ tiêu mình với tư cách
là giai cấp vô sản” [40, tr.34]
Trên cơ sở những luận điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin về GCCN, với thực tiễn của thời đại ngày nay, nhiều nhà khoa học Việt Nam cũng đưa ra định nghĩa về GCCN, GCCN Việt Nam
Giáo sư Văn Tạo cũng đã định nghĩa: “GCCN Việt Nam là một lực lượng xã hội to lớn bao gồm những người lao động chân tay và trí óc, làm công hưởng lương trong các loại hình sản xuất kinh doanh và dịch vụ công nghiệp, hoặc sản xuất kinh doanh và dịch vụ có tính chất công nghiệp, trong
đó công nhân công nghiệp hiện đại, công nhân tri thức (knowledge workers) làm nòng cốt; là giai cấp lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiên phong của mình là Đảng Cộng sản Việt Nam; đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến, đi đầu trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội vì mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”, đưa đất nước tiến nhanh lên kinh tế tri thức; là nòng cốt trong liên minh công nhân, nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng; hiện đang phát triển nhanh về số lượng, nâng cao không ngừng về chất lượng, đa dạng về cơ cấu ngành nghề;
có những đóng góp tích cực vào phong trào công nhân quốc tế và vào tiến bộ
xã hội của toàn thể nhân loại” [46, tr.105-106]
Giáo sư Phạm Xuân Nam thì cho rằng: “GCCN là một tập đoàn rộng lớn những người lao động là việc trong các ngành sản xuất kinh doanh, dịch
vụ công nghiệp có thu nhập chủ yếu bằng tiền lương hay tiền công, do trực tiếp vận hành những tư liệu sản xuất, cơ sở vật chất - kỹ thuật ngày càng hiện đại trong các ngành then chốt của nền kinh tế quốc dân, đại diện cho lực lượng sản xuất tiên tiến, cho nên GCCN Việt Nam, thông qua Đảng tiên
Trang 18phong của mình có vai trò đi đầu trong tiến trình lịch sử đương đại của dân tộc” [37, tr.136]
Gần đây Văn kiện Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X cùng việc đưa ra nghị quyết về GCCN cũng đồng thời đưa ra quan điểm về GCCN Việt Nam như sau: “GCCN Việt Nam là một lực lượng
xã hội to lớn, đang phát triển bao gồm những người lao động chân tay và trí
óc, làm công hưởng lương trong các loại hình sản xuất kinh doanh và dịch vụ công nghiệp, hoặc sản xuất kinh doanh và dịch vụ có tính chất công nghiệp” [15, tr.43]
Đứng trên lập trường duy vật biện chứng về một loạt các vấn đề: ý thức
xã hội, ý thức chính trị, GCCN Ta có thể chỉ ra được rằng ý thức chính trị của GCCN chính là tư tưởng, thái độ chính trị của GCCN dựa trên cơ sở thế giới quan, nhân sinh quan Mác xít, được hình thành và phát triển trong phong trào đấu tranh giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giành chính quyền và tiến hành xây dưng xã hội mới - XHXHCN
Từ những nhận thức ở trên, tác giả mạnh dạn đưa ra quan niệm của mình về ý thức chính trị của GCCN Việt Nam như sau:
Ý thức chính trị của GCCN Việt Nam là những tư tưởng, quan điểm, thái
độ chính trị của GCCN Việt Nam dựa trên học thuyết của chủ nghĩa Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam Nó được hình thành trong quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc
Mác-và trong thời kỳ đổi mới, CNH, HĐH quá độ lên CNXH ở Việt Nam hiện nay
Ý thức chính trị của GCCN Việt Nam chính là sự giác ngộ và tự ý thức về giai cấp mình, quyền và nghĩa vụ của GCCN, là sự nhận thức đối với các cơ quan trong hệ thống chính trị, là thái độ đối với sự nghiệp đổi mới, với các giai cấp tầng lớp và dân tộc Việt Nam Đồng thời ý thức chính trị của GCCN Việt Nam cũng là sự nhận thức về CNXH, con đường đi CNXH ở Việt Nam cũng như trên phạm vi thế giới, có tinh thần quốc tế trong sáng, cao đẹp… nhằm thực hiện mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”
Trang 191.1.2 Nội dung biểu hiện ý thức chính trị của giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay
GCCN Việt Nam là một bộ phận của GCCN quốc tế ngoài những đặc điểm chung của GCCN quốc tế như: đại diện cho phương thức sản xuất mới, tiên tiến trong lịch sử loài người; có ý thức tổ chức, kỷ luật cao; có tinh thần cách mạng triệt để; mang bản chất quốc tế GCCN Việt Nam cũng có những đặc điểm riêng của giai cấp mình như trưởng thành trước giai cấp tư sản dân tộc; đa số xuất thân từ nông dân nên họ rất hiểu tư tưởng, phong tục, tập quán, tâm tư, nguyện vọng, mong muốn, ước mơ… của người nông dân, là cơ sở của khối liên minh công - nông vững mạnh trong cách mạng; GCCN Việt Nam bước lên vũ đài chính trị sau khi Cách mạng tháng Mười Nga thành công, đã nâng cao vị thế, uy tín cách mạng của GCCN trước toàn thể dân tộc; GCCN Việt Nam sớm thống nhất về tư tưởng, tổ chức và hành động, đoàn kết, thống nhất ngay từ khi ra đời
Hiện nay đất nước ta đang trong thời kỳ đổi mới; hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới; đẩy mạnh CNH, HĐH; phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN, với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế…
Tất cả những điều này đã và sẽ quy định những biểu hiện ý thức chính trị của GCCN Việt Nam Có thể thấy ý thức chính trị của GCCN Việt Nam được biểu hiện ra như sau:
Một là, sự giác ngộ về giai cấp, thấy được vai trò, vị trí của giai cấp
mình trong sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất nước nhà cũng như trong sự nghiệp đổi mới hiện nay
Giác ngộ về giai cấp là sự nhận thức về vị trí, vai trò của giai cấp mình trong sự phát triển chung của xã hội Trong mối quan hệ với các giai cấp, tầng lớp khác trong xã hội
GCCN Việt Nam có sự giác ngộ về giai cấp chính là thấy được vị trí, vai trò trung kiên của giai cấp mình trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc; chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ và tự hào với những chiến công vĩ đại đó
Trang 20Đồng thời GCCN Việt Nam cũng phải thấy được giai cấp mình là giai cấp nòng cốt trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam XHCN hiện nay
Có giác ngộ giai cấp là GCCN Việt Nam thấy được thực chất giai cấp mình là gì, tức là phải thấy được GCCN đại diện cho lực lượng sản xuất hiện đại; gắn với nền sản xuất công nghiệp tạo ra phần lớn của cải cho xã hội; có
sứ mệnh lịch sử là xóa bỏ chế độ tư hữu tư bản tư nhân về tư liệu sản xuất, xây dựng thành công CNXH và cuối cùng là thực hiện lý tưởng CSCN Trong thời kỳ hiện nay sứ mệnh lịch sử của GCCN Việt Nam là lực lượng đi đầu trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước; tạo ra nhiều của cải cho xã hội; góp phần thực hiện thành công mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”
GCCN Việt Nam phải thấy được rằng giai cấp mình hoàn toàn có thể thực hiện được những điều này, vì có lý luận khoa học, cách mạng, nhân văn nhân đạo của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh soi đường, chỉ lối
Có sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam Biểu hiện ý thức chính trị của GCCN Việt Nam phải thể hiện ra là sự tin tưởng tuyệt đối, hoàn toàn vào con đường Đảng, Bác Hồ đã chọn Và như vậy với những phẩm chất của mình (đã trình bày ở trên) GCCN Việt Nam phải thể hiện được sự giác ngộ về giai cấp cao nhất, rõ ràng nhất
Giác ngộ về giai cấp của GCCN Việt Nam cũng biểu hiện ở sự hiểu biết của giai cấp mình về chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, về đường lối của Đảng Bao gồm những vấn đề như ba bộ phận cấu thành chủ nghĩa Mác-Lênin, vấn đề giai cấp, đấu tranh giai cấp, nhà nước, dân tộc, tôn giáo, đặc biệt nhận thức về CNXH, CNCS Hiểu được tư tưởng và tấm gương đạo đức của Hồ Chí Minh, tư tưởng độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, tư tưởng về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam, tư tưởng về đạo đức cách mạng, tấm gương cần - kiệm - liêm - chính, chí công vô tư của người, hưởng hứng cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức
Hồ Chí Minh” của Đảng ta… Luôn đi đầu gương mẫu thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng Đấu tranh với những luận điệu xuyên tạc,
Trang 21nói xấu, nói không đúng về chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, về Đảng ta
Hai là, nhận thức của GCCN Việt Nam về các tổ chức trong hệ thống
chính trị và về sự nghiệp đổi mới ở nước ta hiện nay
Trước hết là nhận thức của GCCN về các tổ chức trong hệ thống chính trị
Hệ thống chính trị được hiểu là những tổ chức chính trị, xã hội tồn tại trong một chế độ xã hội nhất định Bao gồm các đảng phái, nhà nước, và các
ta được hòa bình, thống nhất như ngày hôm nay là công lao của Đảng
GCCN Việt Nam hôm nay có ý thức chính trị khi nhận thức được rằng Đảng trước hết là của GCCN Việt Nam, nhưng không phải người công nhân nào cũng đứng trong hàng ngũ của Đảng mà phải là những người công nhân
ưu tú nhất Vì vậy mỗi người công nhân hãy không ngừng rèn luyện, không ngừng phấn đấu để được đứng trong hàng ngũ trung kiên, là người công nhân trung kiên, là người Đảng viên mẫu mực Cùng với đó người công nhân phải
Trang 22nhận thức được rằng Đảng cũng là của nhân dân lao động và của cả dân tộc Việt Nam Ai đủ đức, đủ tài đều có thể phấn đấu vào Đảng không phân biệt nam, nữ, dân tôc, tôn giáo… để cùng nhau thực hiện những lý tưởng cao đẹp
Có ý thức chính trị cũng là khi người công nhân đấu tranh chống các biểu hiện chống phá Đảng, nói xấu, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Xác định rõ được Đảng ta là Đảng cầm quyền, Đảng ta nhất định sẽ lãnh đạo nhân dân ta, dân tộc ta đi đến những thắng lợi cuối cùng
GCCN Việt Nam chỉ có thể có ý thức chính trị khi có những hiểu biết nhất định về nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, thấy được nhà nước ta là nhà nước của dân, do dân và vì dân Thấy được nhà nước ta là nhà nước mang bản chất của GCCN (người lao động), hoàn toàn khác bản chất của nhà nước
tư sản Nhà nước ta quản lý xã hội bằng pháp luật, tập trung dân chủ là nguyên tắc tổ chức cao nhất Tổ chức của nhà nước là sự thống nhất của ba quyền: lập pháp, hành pháp và tư pháp Người công nhân có ý thức chính trị còn là thấy được những ưu khuyết điểm, những thành tựu, hạn chế của nhà nước ta, kiên quyết góp phần tham gia đấu tranh chống các hiện tượng tiêu cực như tham nhũng, quan liêu…
Trong các tổ chức chính trị - xã hội của nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, GCCN Việt Nam phải đặc biệt có nhận thức đúng đắn về tổ chức Công đoàn (Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam), là cơ quan bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người lao động, là “sợi chỉ đỏ” nối liền Đảng Cộng sản Việt Nam với công nhân viên chức, người lao động Công đoàn còn tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội, giám sát việc quản lý nhà nước, xã hội nhằm bảo vệ lợi ích trước mắt và lâu dài cho người lao động Người công nhân có ý thức chính trị nên tích cực gia nhập và tham gia hoạt động Công đoàn, xây dựng Công đoàn vững mạnh - tổ chức quan trọng trong hệ thống chính trị, là sợi dây nối liền Đảng với quần chúng, là người cộng tác đắc lực của Nhà nước và đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Người công nhân cần đấu tranh chống mọi biểu hiện thờ ơ, lãnh đạm, coi thường tổ chức Công đoàn,
Trang 23cùng với đó người công nhân cần tích cực tham gia vào các tổ chức chính trị
xã hội khác như Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Phụ nữ…
GCCN Việt Nam có ý thức chính trị là có nhận thức và thái độ đúng đắn với sự nghiệp đổi mới Nghĩa là GCCN Việt Nam thấy được sự nghiệp đổi mới được Đảng ta khởi xướng từ Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI (12-1986) Qua hơn 25 năm đổi mới đất nước ta đã đạt được những thành tựu
to lớn, có ý nghĩa quyết định đưa nước ta thoát khỏi khủng khoảng, tự đứng vững, vững bước đi lên Việt Nam đã bước vào nước có thu nhập trung bình, dần dần thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu
GCCN Việt Nam phải thấy được, đường lối đổi mới của Đảng ta là toàn diện, trên mọi lĩnh vực kinh tế - chính trị - văn hóa - xã hội mà trước hết
là đổi mới tư duy về kinh tế Từ bỏ tư duy tập trung, quan liêu bao cấp, kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường với nhiều hình thức sở hữu, thành phần kinh tế… Thấy được qua các kỳ đại hội Đảng, đường lối đổi mới của Đảng thường xuyên được bổ sung, hoàn thiện cho phù hợp với thực tiễn Việt Nam và tình hình thế giới Thành tựu của những năm đổi mới vừa qua đã nói lên tất cả, Việt Nam ngày càng hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới
là bạn; là đối tác tin cậy của các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, vị thế Việt Nam ngày càng được nâng cao Thế giới biết nhiều hơn về Việt Nam, và chúng ta có quyền tự hào là người Việt Nam, tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, cũng như tin tưởng vào những thành công mà Đảng Cộng sản Việt Nam đã và sẽ mang tới cho đất nước ta trong quá khứ, ở hiện tại và tương lai
Người công nhân có ý thức chính trị phải thấy được vai trò, trách nhiệm của giai cấp mình đối với sự nghiệp đổi mới, đấu tranh chống các tư tưởng bảo thủ, trì trệ, phủ nhận đổi mới…
Ý thức chính trị của giai cấp công Việt Nam ở vấn đề này còn là thái độ của GCCN với các hiện tượng tiêu cực, các tệ nạn xã hội
Thực tế đây là những mặt trái của sự nghiệp đổi mới, mặt trái của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Theo tác giả đây không phải là một vấn
Trang 24đề nhỏ Công nhân là người trực tiếp lao động sản xuất, hoạt động thực tiễn,
đi đầu trong sự nghiệp CNH, HĐH Nếu không có thái độ đúng đối với những hiện tượng, vấn đề này thì rất dễ lầm lạc, hư hỏng, mắc phải các tệ nạn xã hội thậm trí dẫn đến tiêu cực, không tin tưởng vào chế độ
Cùng với những thành tựu đã đạt được, đất nước ta cũng phải đối mặt với không ít những khó khăn, thử thách có ý nghĩa sống còn đối với sự tồn vong của chế độ Đó là những tiêu cực xã hội như: Tham nhũng - được coi là một thứ giặc “nội xâm”, là một trong bốn nguy cơ gây chệch hướng CNXH; nạn chuyên quyền, độc đoán, quan liêu, hách dịch, xa dân, coi thường dân… của một bộ phận cán bộ, đảng viên Tình trạng làm hàng giả, hàng nhái, buôn lậu tràn lan bất chấp tính mạng con người Sự gia tăng của các tệ nạn xã hội như cờ bạc, trộm cắp, ma túy, mại dâm, sự phân hóa giàu nghèo, tai nạn giao thông…
Trước những hiện tượng tiêu cực, những tệ nạn xã hội; người công nhân có ý thức chính trị là có thái độ đúng đắn với những vấn đề trên Tin tưởng rằng những mặt trái, những tiêu cực, hạn chế đó sẽ dần được xóa bỏ trong quá trình chúng ta xây dựng và hoàn thiện nhà nước Việt Nam pháp quyền XHCN Có thái độ đúng đắn với các hiện tượng tiêu cực như phát hiện,
tố cáo những hành vi tham nhũng, sách nhiễu dân, không tiêu thụ, sử dụng hàng nhái, kém chất lượng; tránh xa các tệ nạn xã hội; đi đầu, nêu gương trong việc chấp hành đường lối, chủ trương của Đảng; chính sách; pháp luật của Nhà nước; biết kết hợp hài hòa giữa lợi ích vật chất và tinh thần Các biểu hiện nhút nhát, sợ sệt, không dám phát hiện, tố cáo những hành vi tiêu cực, sa
đà vào các tệ nạn xã hội là đều đi ngược lại ý thức chính trị của GCCN
Ba là, sự nhận thức của GCCN Việt Nam về quyền lợi và nghĩa vụ
chính trị của giai cấp mình
GCCN Việt Nam chỉ có thể có nhận thức, và thái độ đúng về quyền lợi
và nghĩa vụ của giai cấp mình khi không ngừng được học tập, nâng cao trình
độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp Vì vậy mỗi người công nhân phải không ngừng học tập, rèn luyện, tu dưỡng, phấn đấu, vươn lên
Trang 25Trong thực tế quyền và nghĩa vụ của công nhân nói riêng và công dân nói chung, được quy định trong Hiến pháp và Pháp luật Vì vậy có ý thức chính trị là GCCN phải thấy được quyền và nghĩa vụ cơ bản của mình, biết đấu tranh đòi và bảo vệ quyền lợi cho mình, đảm bảo thực hiện đúng pháp luật của nhà nước, nội quy, quy định của đơn vị, ngành, địa phương mình Công nhân phải thấy được mình có quyền bình đẳng trước pháp luật, quyền bầu cử, ứng cử, tham gia vào quản lý nhà nước, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tín ngưỡng, lao động, sản xuất kinh doanh, bình đẳng nam, nữ… Có nghĩa vụ chấp hành Hiến pháp và Pháp luật, lao động, nộp thuế, chăm sóc cha
mẹ, con cái… Qua đó người công nhân cũng phải thấy được mình phải tuân thủ những quy định của tổ chức Công đoàn, ngành, địa phương nêu ra với tư cách là một công dân Có ý thức chính trị chính là người công nhân phải không ngừng học tập, tìm hiểu Luật Lao động, Luật Công đoàn, Luật Doanh nghiệp… để từ đó thấy rõ hơn quyền và nghĩa vụ chính trị của giai cấp mình
Bốn là, thái độ của GCCN Việt Nam đối với các giai cấp, tầng lớp
trong xã hội và thái độ đối với người sử dụng lao động, giới chủ (doanh nghiệp ngoài quốc doanh)
Người công nhân có ý thức chính trị, khi có thái độ đúng đắn đối với các giai cấp, tầng lớp trong xã hội Đặc biệt là đối với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức Đây là một nội dung quan trọng, có nhận thức đúng mới có hành động đúng, mới tạo thành khối liên minh công - nông - trí vững chắc, góp phần tăng cường, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân
Có ý thức chính trị khi GCCN thấy được rằng đất nước ta đang trong thời kỳ quá độ, thời kỳ sẽ còn tồn tại nhiều giai cấp và tầng lớp… GCCN phải
là giai cấp giữ vai trò lãnh đạo, quyết định xu hướng phát triển của xã hội Nông dân, trí thức là những giai cấp, tầng lớp cơ bản là động lực của CNXH, cùng với các giai cấp tầng lớp khác tạo thành khối thống nhất toàn dân tộc
Người công nhân phải thấy được tâm tư, nguyện vọng, mong muốn của người nông dân, có tình cảm yêu quý người nông dân Thấy được mối quan
hệ giữa công nghiệp và nông nghiệp từ đó tăng cường sự gần gũi, tiếp xúc
Trang 26Cùng với đó GCCN phải thấy được vai trò, vị trí của đội ngũ trí thức đối với
sự nghiệp đổi mới, từ đó đoàn kết các giai cấp, tầng lớp này lại
Ý thức chính trị của GCCN thể hiện chính là thái độ đúng đắn đối với người sử dụng lao động và giới chủ trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh Người sử dụng lao động ở đây là người tổ chức, quản lý những doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế nhà nước Giới chủ ở đây là chỉ những người
tổ chức, quản lý những doanh nghiệp ngoài quốc doanh Vì vậy người công nhân có ý thức chính trị là có thái độ đúng đắn với người sử dụng lao động, giới chủ trên cơ sở quy định của pháp luật Việt Nam và Bộ Luật lao động Từ
đó thấy được quyền và nghĩa vụ của giai cấp mình đối với doanh nghiệp, người sử dụng lao động, giới chủ Hiểu được mối quan hệ giữa giai cấp mình với người sử dụng lao động đặc biệt là giới chủ Thấy rằng bản chất của nhà nước ta hoàn toàn khác với bản chất của nhà nước TBCN; vì quan hệ lao động giữa người lao động với giới chủ trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở nước ta là trong chế độ XHCN Nhà nước ta là nhà nước của dân, do dân, vì dân mục tiêu quản lý kinh tế của nhà nước là nhằm kết hợp hài hòa lợi ích giữa các giai cấp, tầng lớp trong xã hội, giữa lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể, và lợi ích xã hội Do đó trong quan hệ lao động, người chủ sở hữu có nhu cầu thuê mướn, sử dụng lao động, luôn chịu sự kiểm soát, hướng dẫn của Nhà nước về Luật Lao động, cũng như những quy định khác để không dẫn đến tình trạng người lao động bị bóc lột quá đáng.Từ những nhận thức đó GCCN
sẽ có thái độ đúng đắn với giới chủ, thực hiện tốt nghĩa vụ lao động của mình, nhiệt tình, hăng say, có trách nhiệm, quan tâm mang lại lợi ích cho doanh nghiệp vừa mang lại lợi ích cho mình
Ý thức chính trị của GCCN trong vấn đề này còn thể hiện ở lập trường kiên định, vững vàng, không mờ mắt trước những cám dỗ của lợi ích vật chất tầm thường, có thái độ rõ ràng với những việc làm sai trái của giới chủ, cùng với giai cấp mình thực hiện tốt nghĩa vụ lao động, đấu tranh chống các biểu hiện sai trái, thái độ thù địch, chống đối hay sợ sệt
Trang 27Người viết nhấn mạnh quan hệ với giới chủ vì đây là những doanh nghiệp ngoài quốc doanh, có vốn đầu tư của nước ngoài Khác hoàn toàn với các doanh nghiệp quốc doanh, tập thể nơi GCCN, người lao động về cơ bản
có điều kiện thực hiện quyền và nghĩa vụ lao động của mình
Năm là, sự ý thức về dân tộc mình và ý thức quốc tế của GCCN Việt
Nam
Dân tộc Việt Nam với hơn bốn ngàn năm dựng nước và giữ nước; có biết bao truyền thống cao đẹp GCCN Việt Nam chính là tiêu biểu của dân tộc Việt Nam trong thời hiện tại, chính vì lẽ đó GCCN phải có ý thức về dân tộc mình
Ý thức dân tộc chính là sự nhận thức về mối quan hệ giữa giai cấp và dân tộc Đây là biểu hiện không thể thiếu về ý thức chính của GCCN vì muốn thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình GCCN phải trước hết thực hiện trong khuân khổ quốc gia, dân tộc “phải tự xây dựng thành một giai cấp dân tộc; tự mình trở thành dân tộc” [5, tr.623-624] GCCN Việt Nam chỉ có thể có ý thức chính trị khi hiểu được rằng GCCN Việt Nam là một bộ phận của dân tộc Việt Nam, được sinh ra từ dân tộc, có mối liên hệ mật thiết với dân tộc Lợi ích của GCCN không tách rời lợi ích của dân tộc Việt Nam, và GCCN phải có lòng tự hào về những truyền thống cao đẹp của dân tộc, góp phần phát huy những truyền thống đó trong thực tiễn lao động sản xuất
Người công nhân có ý thức chính trị khi hiểu rằng dưới sự lãnh đạo của Đảng, dân tộc ta đã làm cuộc cách mạng giải phóng dân tộc mà trong đó là giải phóng các giai cấp, tầng lớp nhân dân và GCCN là giai cấp, lực lượng đi đầu, người lãnh đạo sự nghiệp đó Ngày nay trong sự nghiệp đổi mới GCCN Việt Nam là một phần của dân tộc, cùng với dân tộc đưa đất nước tiến lên
Người công nhân phải kiên quyết chống những biểu hiện tự ti, mặc cảm, bàng quang, vô trách nhiệm trước những thăng trầm của đất nước, những biểu hiện không có ý thức phấn đấu vươn lên, đề cao lợi ích cá nhân
mà quên đi lợi ích quốc gia, dân tộc
Trang 28GCCN có ý thức chính trị khi có ý thức quốc tế, tinh thần quốc tế cao đẹp, có nghĩa vụ, trách nhiệm quốc tế Tức là phải vừa có nghĩa vụ, trách nhiệm với dân tộc vừa có nghĩa vụ, trách nhiệm quốc tế
Bản chất của nền sản xuất TBCN mang bản chất quôc tế Vì vậy trong quá trình thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình GCCN phải mang bản chất quốc
tế, có ý thức quốc tế C Mác từng ra lời hiệu triệu “Vô sản tất cả các nước, đoàn kết lại!”; Lênin bổ sung “Vô sản và các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới đoàn kết lại!”; Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng từng dạy chúng ta rằng Chủ nghĩa thực dân, đế quốc như con đỉa hai vòi một vòi bám vào chính quốc, một vòi bám vào thuộc địa hút máu, muốn hoàn thành sự nghiệp cách mạng phải chặt đồng thời một lúc hai cái vòi đó GCCN có ý thức chính trị khi nhận thức được những vấn đề trên, đồng thời thấy được mình phải có nghĩa vụ, trách nhiệm với các phong trào đấu tranh vì hòa bình, độc lập, tự do, dân chủ, tiến
bộ trên toàn thế giới; đấu tranh chống áp bức, bóc lột, bất công…
Thực tiễn hiện nay trong bối cảnh thế giới có nhiều diễn biến phức tạp, phong trào công nhân, phong trào cộng sản đang gặp nhiều khó khăn, tạm thời thoái trào, chủ nghĩa đế quốc lại điên cuồng chống phá, khủng bố GCCN phải nắm bắt được xu hướng vận động, phát triển của phong trào công nhân, phong trào cộng sản trong tương lai và hoàn toàn tin tưởng vào sự phát triển, thắng lợi của cách mạng thế giới; góp phần vào sự phát triển đó Thuộc lòng lời dạy của C Mác: cách mạng có thể bị thất bại nhưng không thể bị tiêu diệt sau khi công xã Pari nổ ra năm 1871 Các biểu hiện dân tộc hẹp hòi, bản vị, cục bộ địa phương, không có tinh thần và nghĩa vụ quốc tế… đều là đi ngược với ý thức chính trị của GCCN
Sáu là, thái độ, nhận thức của GCCN Việt Nam về CNXH và con
đường đi lên CNXH ở nước ta và trên phạm vị toàn thế giới
Mục tiêu cuối cùng mà GCCN hướng tới là xóa bỏ hoàn toàn áp bức, bóc lột, bất công xây dựng thành công xã hội mới XHXHCN đỉnh cao là CSCN Vì vậy một trong những biểu hiện ý thức chính trị của công nhân phải
là thái độ, nhận thức của công nhân về CNXH, con đường đi lên CNXH ở Việt Nam và trên thế giới
Trang 29Người công nhân có ý thức chính trị khi có thái độ tin tưởng và nhận thức đúng đắn về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam Dù trải qua nhiều quanh co phức tạp nhưng cuối cùng chúng ta sẽ xây dựng thành công CNXH vì đó là quy luật tất yếu của lịch sử Người công nhân phải nhận thức được “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ qua độ lên CNXH” ở Việt Nam; tư tưởng “Độc lập dân tộc gắn liền với CNXH”; “Tiếp tục nâng cao ý chí tự lực, tự cường, phát huy mọi tiềm năng vật chất và trí tuệ của dân tộc đồng thời mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế, tìm tòi bước đi, hình thức và biện pháp thích hợp xây dựng thành công CNXH” [10, tr.8]
GCCN phải thấy được rằng mặc dù ngày nay Liên Xô, Đông Âu, hệ thống XHCN không còn nữa Nhưng như thế không có nghĩa là CNXH bị thoái trào và sụp đổ hoàn toàn, thế giới hiện tại, tương lai không dừng lại ở đây mà tiếp tục tịnh tiến phát triển đi lên Cuối cùng nhất định loài người sẽ đi lên CNXH, CNCS trên phạm vi toàn thế giới, thế kỷ XXI sẽ là là thế kỷ của chủ nghĩa Mác Những thành tựu của Trung Quốc, Việt Nam trong cải cách, đổi mới, phong trào Cánh tả ở Châu Mỹ la tinh… tất cả tạo cho GCCN niềm tin và hy vọng Những biểu hiện thờ ơ, vô trách nhiệm, không tin tưởng vào CNXH hoặc sợ sệt, khuếch đại những thành tựu của phương Tây và Mỹ đều
là những biểu hiện đi ngược với ý thức chính trị của GCCN
Như vậy tất cả những vấn đề nêu trên đây là những biểu hiện cơ bản về
ý thức chính trị của GCCN Việt Nam Những biểu hiện này có quan hệ chặt chẽ, tác động qua lại, thúc đẩy, ảnh hưởng lẫn nhau Vì vậy khi đánh giá ý thức chính trị của GCCN phải trên cơ sở tất cả những biểu hiện trên Trong đó biểu hiện về giác ngộ giai cấp là biểu hiện chủ yếu nhất, tác động đến sự nhận thức và những biểu hiện khác của GCCN
1.2 Sự cần thiết phải nâng cao ý thức chính trị cho giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay
Nâng cao ý thức chính trị cho GCCN Việt Nam hiện nay là việc làm rất quan trọng và cần thiết Nó góp phần đảm bảo cho GCCN phát triển toàn diện; nhanh, mạnh về số lượng và chất lượng; đủ sức gánh vác sự nghiệp đổi mới, CNH, HĐH nước nhà Nâng cao ý thức chính trị cho GCCN Việt Nam là xuất phát từ những nội dung sau:
Trang 301.2.1 Do yêu cầu thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân
và yêu cầu của sự nghiệp đổi mới
GCCN có sứ mệnh lịch sử xóa bỏ chế độ áp bức bóc lột, bất công - xóa
bỏ chế độ tư hữu tư bản tư nhân về tư liệu sản xuất; xây dựng thành công chế
độ xã hội mới - XHCN đỉnh cao là CSCN
GCCN Việt Nam là một bộ phận của GCCN quốc tế nên trước hết phải thực hiện được sứ mệnh lịch sử của mình Trong suốt tiến trình cách mạng Việt Nam từ khi có Đảng; GCCN Việt Nam đã cùng với Đảng, nhà nước, nhân dân, dân tộc hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở hai miền Nam Bắc thống nhất nước nhà Trong giai đoạn hiện nay GCCN Việt Nam có vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp đổi mới CNH, HĐH nước nhà
“Là giai cấp lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiền phong là Đảng Cộng sản Việt Nam; giai cấp đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến; giai cấp tiên phong trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, lực lượng đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; lực lượng nòng cốt trong liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng” [15, tr.43]
Sứ mệnh lịch sử của GCCN không chỉ có ý nghĩa và vai trò lịch sử với bản thân GCCN, phong trào công nhân mà nó còn có ý nghĩa với cả sự nghiệp cách mạng vẻ vang xây dựng CNXH và CNCS
GCCN Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng đã và đang tiến hành thực hiện sứ mệnh vẻ vang của mình mà đất nước, nhân dân, dân tộc giao cho Tuy nhiên để thực hiện được sứ mệnh đó, nhiệm vụ đó GCCN phải thấm nhuần và giác ngộ giai cấp hơn bất kỳ giai cấp nào khác GCCN Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng đã giành được chính quyền về tay mình và nhân dân lao động Nhưng giành được chính quyền chưa đủ mà GCCN còn phải sử dụng chính quyền đó để cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới đàng hoàng hơn, to đẹp hơn - xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN Vì lẽ đó việc giác ngộ, nâng cao ý thức chính trị cho GCCN là việc làm rất quan trọng và
Trang 31rất cần thiết không chỉ trong kháng chiến mà cả trong sự nghiệp kiến quốc hiện nay
Hiện nay Việt Nam đã và đang bước vào thời kỳ đổi mới, hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, Việt Nam đã gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), đã và đạt được nhiều thành tựu trong sự nghiệp đổi mới… Xu hướng toàn cầu hóa, quốc tế hóa của nền kinh tế thế giới, sự phát triển của khoa học - công nghệ… đòi hỏi GCCN Việt Nam phải có trình độ tay nghề, chuyên môn nghiệp vụ, kỹ năng nghề nghiệp cao… và hơn nữa là phải giáo dục, nâng cao ý thức chính trị cho người công nhân
Sự nghiệp đổi mới là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, toàn dân tộc của cả hệ thống chính trị mà GCCN là chủ đạo trong đó Giáo dục, nâng cao ý thức chính trị cho công nhân chính là góp phần thắng lợi cho
sự nghiệp đổi mới
1.2.2 Do yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho sự nghiệp công nghiêp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế
Chúng ta đang ra sức phấn đấu đến năm 2020 Việt Nam cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại V.I.Lênin đã từng khẳng định
“Chủ nghĩa cộng sản là chính quyền Xô Viết cộng với điện khí hóa toàn quốc” [24, tr.195], “cơ sở kinh tế duy nhất có thể có được của CNXH là nền đại công nghiệp” [25, tr.60] Việt Nam chỉ có thể CNH, HĐH nếu muốn quá
độ thành công lên CNXH bởi đây là quá trình mang tính quy luật cho sự phát triển hiện nay
CNH, HĐH “quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động kinh tế - xã hội từ sử dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại, tạo ra năng suất lao động xã hội cao” [10, tr.65]
Việt Nam đã bước vào ngưỡng quốc gia có thu nhập trung bình, đang
có sự phát triển mạnh mẽ, có lợi thế của các quốc gia đi sau, nếu chúng ta biết học tập các quốc gia phát triển đi trước, có thể “đi tắt đón đầu” hoàn thành sự nghiệp CNH, HĐH đất nước Tất nhiên đẩy mạnh CNH, HĐH không có
Trang 32nghĩa là chúng ta sẽ đánh đổi bằng mọi giá, không thể chỉ chạy theo số lượng đất nước có bao nhiêu khu công nghiệp, có bao nhiêu dự án vốn đầu tư nước ngoài… mà phải trên cơ sở thực hiện đúng đắn những nguyên tắc đã trở thành
“bất di bất dịch” đó là độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, độc lập chủ quyền
và toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ Đảng, chế độ, nhân dân, dân tộc… CNH, HĐH
sẽ tạo ra tiền đề, điều kiện, mở ra triển vọng và đặt ra yêu cầu cho việc xây dựng GCCN phát triển toàn diện về mọi mặt, cả về số lượng và chất lượng bởi vì GCCN không chỉ là sản phẩm và thành quả mà còn là lực lượng chính của quá trình CNH, HĐH
Như vậy CNH, HĐH sẽ tạo điều kiện thay đổi về chất nền sản xuất xã hội, tăng năng suất lao động, tăng trưởng kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân, góp phần ổn định phát triển kinh tế, chính trị, xã hội CNH, HĐH sẽ tạo ra cơ
sở vật chất, kỹ thuật cho việc củng cố, tăng cường vai trò kinh tế của Nhà nước, nâng cao năng lực tích lũy, tạo thêm việc làm, tạo điều kiện cho sự phát triển toàn diện và tự do của con người, nó cũng tạo điều kiện vật chất cho tăng cường củng cố an ninh, quốc phòng, tạo điều kiện vật chất cho việc xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, đồng thời mở rộng phân công và hợp tác quốc tế…
Muốn xây dựng GCCN lớn mạnh toàn diện không có con đường nào khác ngoài đẩy mạnh CNH, HĐH Bởi lẽ CNH, HĐH là cơ sở, điều kiện, và
là môi trường để phát triển công nhân, sự phát triển mạnh mẽ của công nhân
sẽ góp phần sẽ làm cho quá trình công nghiệp hóa diễn ra nhanh hơn, mạnh
mẽ hơn Không có sự lớn mạnh của GCCN thì không có thắng lợi của sự nghiệp CNH, HĐH Điều này không chỉ đúng ở trên bình diện quốc gia dân tộc mà từng tỉnh, địa phương cũng vậy
Hiện nay nước ta mỗi năm có khoảng 2 triệu người bước vào độ tuổi lao động, nhưng chất lượng nguồn nhân lực rất thấp, đa số là chưa qua đào tạo Chúng ta thừa lao động trình độ tay nghề thấp nhưng lại thiếu trầm trọng nguồn nhân lực chất lượng cao Việc Đảng, Nhà nước đẩy mạnh, kiện toàn hệ thống đào tạo nghề chính là góp phần đào tạo người công nhân, nguồn nhân lực có chất lượng cho sản xuất
Trang 33Nâng cao ý thức chính trị cho người công nhân phải kết hợp tăng cường đào tạo chuyên môn nghề nghiệp Người công nhân không thể có ý thức chính trị khi chất lượng nguồn nhân lực thấp Nói cách khác không có nguồn nhân lực chất lượng cao thì không thể có ý thức chính trị cao ở người công nhân
1.2.3 Do yêu cầu tăng cường vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân đối với khối liên minh công - nông - trí và các tầng lớp nhân dân lao động
GCCN Việt Nam là giai cấp lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiền phong là Đảng Cộng sản Việt nam Là giai cấp sẽ đưa cách mạng đi đến những thắng lợi sau cùng Để xứng đáng là giai cấp lãnh đạo, là chỗ dựa vững chắc của khối liên minh công - nông - trí, GCCN phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, giác ngộ lý tưởng cộng sản, kiên định mục tiêu, lý tưởng, con đường mình đã chọn Có làm được như vậy mới có thể lãnh đạo, động viện, giáo dục, tuyên truyền cho các giai cấp, tầng lớp thực hiện đường lối, nghị quyết của Đảng; pháp luật của nhà nước Chủ tịch Hồ Chi Minh đã từng nhấn mạnh: “Thực hiện cho được liên minh công nông vì đó là bảo đảm chắc chắn nhất những thắng lợi của cách mạng Chỉ có khối liên minh công nông do giai cấp công nhân lãnh đạo mới có thể kiên quyết và triệt để đánh đổ các thế lực phản cách mạng, giành lấy và củng cố chính quyền của nhân dân lao động, hoàn thành nhiệm vụ lịch sử của cách mạng dân tộc và tiến lên chủ nghĩa xã hội” [36, tr.304], và cố Tổng Bí thư Lê Duẩn cũng đã chỉ rõ “khối liên minh giữa giai cấp công nhân, giai cấp nông dân tập thể và tầng lớp trí thức xã hội chủ nghĩa ngày càng được tăng cường” [5, tr.28]
Như vậy liên minh công - nông - trí là nòng cốt trong liên minh giai cấp
ở nước ta Trong khối liên minh này GCCN là giai cấp đi đầu, là giai cấp lãnh đạo; nông dân, trí thức là những giai cấp, tầng lớp hợp thành nhằm tạo nên sức mạnh to lớn Trong hai cuộc kháng chiến nhờ khối liên minh vững chắc này mà Đảng ta, nhân dân ta đã đánh thắng những tên đế quốc, thực dân sừng
sỏ nhất Trong thời kỳ đổi mới hiện nay vai trò của khối liên minh này không
hề suy giảm mà ngày càng được tăng cường vững mạnh hơn bao giờ hết
Trang 34Công nhân Việt Nam không thể lãnh đạo, không thể đi tiên phong khi nhạt phai về lý tưởng cách mạng, sợ khó, sợ khổ trong lao động sản xuất, vì vậy việc nâng cao ý thức chính trị cho GCCN cũng chính là góp phần quan trọng tăng cường khối liên minh công - nông - trí, tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, tăng cường bản chất GCCN trong toàn Đảng, toàn dân, và dân tộc
Để tư tưởng, ý thức hệ công nhân thực sự trở thành ý thức hệ của xã hội
1.2.4 Xuất phát từ vai trò định hướng của ý thức chính trị đối với mọi hoạt động của công nhân; từ vai trò của công tác lý luận đến thực trạng yếu kém về ý thức chính trị của một bộ phận công nhân Việt Nam
Ý thức chính trị là một bộ phận cấu thành và quan trọng nhất của ý thức
xã hội vì nó quyết định xu hướng và bản chất của các hình thái ý thức xã hội khác Người công nhân ngoài hoạt động sản xuất còn có những nhu cầu, hoạt động đời thường khác như: vui chơi, giải trí, thể dục thể thao, các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo; thẩm mỹ… Những hoạt động này đều góp phần nâng cao ý thức chính trị cho người công nhân Tuy nhiên nếu không có ý thức chính trị đúng các hoạt động này rất khó diễn ra lành mạnh, người công nhân rất khó có đạo đức, lối sống, phong cách như mong muốn Vì thế có ý thức chính trị GCCN có thể tránh khỏi những tiêu cực, có thể mắc phải; sống lành mạnh, lạc quan, tin tưởng, yêu đời, có đạo đức, văn hóa Từ đó người công nhân sẽ tự giác trau dồi, hoàn thiện bản thân; tích cực lao động sản xuất và sáng tạo
Từ trước đến nay công tác tư tưởng và lý luận có ý nghĩa rất quan trọng Hiện nay thế giới đang có nhiều diễn biến phức tạp, các thế lực thù địch luôn tìm cách lợi dụng những yếu kém, sơ hở của ta để thực hiện âm mưu
“Diễn biến hòa bình” lợi dụng các chiêu bài dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo để lật đổ chê độ ta Thực tế đổi mới ngoài những thành tựu vẫn còn những hạn chế, bất cập nhất định như các tệ nạn, tiêu cực, tình trạng thiếu dân chủ, thiếu công bằng, sự suy thoái về đạo đức; sự yếu kém của nền kinh tế, lạm phát, hàng hóa leo thang, thiên tai, dịch bệnh… diễn ra ở nhiều nơi chưa được giải quyết thỏa đáng… đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn Đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến tâm tư, tình cảm của nhân dân lao động trong đó có
Trang 35công nhân Chính vì vậy phải nâng cao ý thức chính trị cho công nhân nói riêng và nhân dân nói chung để họ hiểu đúng đắn, đầy đủ những vấn đề này Phải tăng cường công tác tư tưởng lý luận, đảm bảo cho mọi người dân, mỗi công nhân thực sự là những chiến sĩ trên mặt trận sản xuất và trên mặt trận văn hóa
Thực tiễn những năm qua cũng cho thấy một bộ phận công nhân nước
ta còn yếu kém về ý thức chính trị, chưa thấy được vai trò, sứ mệnh lịch sử của giai cấp mình, chưa thấy được giai cấp mình là giai cấp lãnh đạo; giai cấp
đi đầu trong sự nghiệp CNH, HĐH… dẫn đến người công nhân thiếu nhiệt tình cách mạng, không có ý chí vươn lên, không chựu khó học tập, trau dồi trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp; vô cảm thờ ơ với vận mệnh quốc gia dân tộc, tình hình thế giới Đáng lo ngại là ý thức phấn đấu vào Đảng, Công đoàn, Đoàn thanh niên… của người công nhân là chưa cao
Với những phân tích trên đây đòi hỏi phải không ngừng nâng cao ý thức chính trị cho GCCN Việt Nam “Xây dựng giai cấp công nhân nước ta lớn mạnh trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa là nhiệm vụ quan trọng và quan trọng của Đảng, Nhà nước, của cả hệ thống chính trị, của mỗi người công nhân và của toàn xã hội” [15, tr.43] Để GCCN Việt Nam thực sự xứng đáng với vai trò, vị trí của mình - là giai cấp lãnh đạo cách mạng Việt Nam
Tóm lại ý thức chính trị có vai trò quan trọng với đời sống xã hội và đối với GCCN Việt Nam, chỉ khi có ý thức chính trị GCCN mới có thể thực hiện được sứ mệnh lịch sử của mình Trong bối cảnh của thế giới ngày nay, việc giáo dục, nâng cao ý thức chính trị cho GCCN có ý nghĩa hơn bao giờ hết
Đứng trên lập trường của chủ nghĩa Mác-Lênin giúp cho ta có cái nhìn đúng đắn, khoa học nhất về ý thức chính trị và những biểu hiện về ý thức chính trị của GCCN Để từ đó chúng ta có những bước đi thực tiễn đúng đắn vừa góp phần xây dựng, phát triển GCCN Việt Nam toàn diện vừa xây dựng ý thức chính trị vững vàng “Xây dựng giai cấp công nhân, lớn mạnh, phát triển nhanh về số lượng, nâng cao chất lượng, có cơ cấu đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước; ngày càng được trí thức hóa: có trình độ học vấn, chuyên môn kỹ
Trang 36năng nghề nghiệp cao, có khả năng tiếp cận và làm chủ khoa học - công nghệ tiên tiến, hiện đại trong điều kiện phát triển kinh tế tri thức; thích ứng nhanh với cơ chế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế; có giác ngộ giai cấp, bản lĩnh chính trị vững vàng, có tác phong công nghiệp và kỷ luật lao động cao” [15, tr.25] Có như vậy GCCN mới thực sự đủ sức lãnh đạo cách mạng Việt Nam; đưa cách mạng Việt Nam đi đến những thắng lợi cuối cùng, xây dựng thành công CNXH và cuối cùng là CSCN
Trang 37Chương 2 THỰC TRẠNG Ý THỨC CHÍNH TRỊ CỦA ĐỘI NGŨ CÔNG NHÂN
TỈNH YÊN BÁI TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI HIỆN NAY
2.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội của tỉnh Yên Bái
2.1.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên
Yên Bái là một tỉnh miền núi được thành lập từ cuối thế kỷ XIX (11/4/1900) Năm 1976, ba tỉnh Lào Cai, Yên Bái, Nghĩa Lộ được sát nhập thành tỉnh Hoàng Liên Sơn Đến ngày 01/10/1991 tỉnh Hoàng Liên Sơn được chia thành hai tỉnh Lào Cai và Yên Bái
Về vị trí địa lý: Yên Bái là một trong 13 tỉnh miền núi phía Bắc, nằm sâu trong nội địa, nằm giữa hai vùng Đông Bắc và Tây Bắc Phía Bắc giáp tỉnh Lào Cai, phía Nam giáp tỉnh Phú Thọ, phía Đông giáp 2 tỉnh Hà Giang, Tuyên Quang và phía Tây giáp tỉnh Sơn La Yên Bái cơ 9 đơn vị hành chính (1 thành phố, 1 thị xã, 7 huyện) với tổng số 180 xã, phường, thị trấn (159 xã,
21 phường, thị trấn), trong đó có 70 xã vùng cao và 62 xã đặc biệt khó khăn,
có 2 huyện vùng cao là Trạm Tấu, Mù Cang Chải (đồng bào Mông chiếm 80% dân số) nằm trong 61 huyện nghèo, đặc biệt khó khăn của cả nước Yên Bái là đầu mối và là trung độ của các tuyến giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy từ Hải Phòng, Hà Nội lên cửa khẩu Lào Cai Đây là lợi thế trong việc giao lưu với các tỉnh bạn, với các thị trường trong và ngoài nước
Về đặc điểm địa hình: Yên Bái là tỉnh có đặc điểm địa hình cao dần từ Đông Nam lên Tây Bắc, được kiến tạo bởi ba dãy núi lớn đều có hướng chạy Tây Bắc - Đông Nam Phía Tây có dãy Hoàng Liên Sơn - Pú Luông nằm kẹp giữa sông Hồng và sông Đà, phía Đông có dãy núi đá vôi nằm kẹp giữa sông Chảy và sông Lô Địa hình tương đối phức tạp nhưng có thể chia thành 2 vùng lớn là vùng cao và vùng thấp Vùng cao có độ cao trung bình từ 600 m trở lên chiếm 67,56% diện tích toàn tỉnh, vùng thấp có độ cao dưới 600 m, chủ yếu là địa hình đồi núi thấp, thung lũng bồn địa chiếm 32,44% diện tích toàn tỉnh
Trang 38Về thời tiết khí hậu: Yên Bái nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới nóng ẩm gió mùa, nhiệt độ trung bình là 22 - 230C, tổng nhiệt cả năm là 7500 - 80000
C, lượng mưa trung bình 1.500 - 2.200 mm/năm, độ ẩm trung bình 83 - 87%
Bảng 2.1: 5 tiểu vùng khí hậu tỉnh Yên Bái
TT Các tiểu
vùng khí
hậu
Độ cao trung bình (m)
Nhiệt
độ T.bình (độ C)
Tổng nhiệt
độ cả năm
Lượng mưa T.bình (mm)
Độ ẩm T.bìn
-80 - Về mùa đông nhiệt độ
có khi xuống 0 độ C
- Thích hợp phát triển các động thực vật vùng
- Thích hợp phát triển các động thực vật á nhiệt đới, ôn đới
- Phát triển cây LT, TP,
LN và nuôi trồng thủy sản, có tiềm năng DL
Nguồn: [50, tr.3]
Về tài nguyên thiên nhiên:
Tài nguyên đất: Tổng diện tích đất tự nhiên toàn tỉnh là 689.904,05 ha Trong đó diện tích nông nghiệp là 549.104,31 ha chiếm 79,5% diện tích đất tự
Trang 39nhiên, diện tích đất phi nông nghiệp là 47.906,46 ha chiếm 6.94%, diện tích đất chưa sử dụng là 92.938.28 ha chiếm 13,47%
Tài nguyên rừng: Tính đến tháng 8 năm 2010 diện tích đất có rừng toàn tỉnh đạt 406.230,9 ha Trong đó rừng tự nhiên 231.563,7 ha, rừng trồng 174.667,1 ha đạt độ che phủ trên 58,4% diện tích lãnh thổ
Tài nguyên khoáng sản: rất đa dạng, hiện đã điều tra 257 điểm mỏ khoáng sản, xếp vào các nhóm khoáng sản năng lượng, khoáng sản vật liệu xây dựng, khoáng chất công nghiệp, khoáng sản kim loại và nhóm nước khoáng
Tài nguyên nước: Yên Bái có 3 hệ thống sông suối lớn là sông Hồng, sông Chảy và suối Nậm Kim (Một chi nhánh của sông Đà) với tổng chiều dài
320 km, có diện tích lưu vực trên 3.400 km2 Ngoài ra còn có 20.193 ha mặt nước hồ ao Trong nhiều năm nguồn tài nguyên này được khai thác, sử dụng
để xây dựng thủy điện, sản xuất nông lâm nghiệp và vận chuyển hang hóa, hành khách Giao lưu giữa các vùng trong tỉnh và các tỉnh bạn
2.1.2 Khái quát về kinh tế - xã hội
Cách mạng tháng 8 năm 1945, dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng, Đảng bộ tỉnh Yên Bái được thành lập chỉ với vài chục đảng viên đã lãnh đạo toàn dân khởi nghĩa giành chính quyền thành công Cách mạng tháng 8 thành công đã tạo tiền đề để Đảng bộ, nhân dân, lực lượng vũ trang Yên Bái bước vào thời kỳ mới, góp phần cùng cả nước đánh bại thực dân Pháp, đế quốc Mỹ thống nhất nước nhà Từ một ban cán sự Đảng ban đầu với vài chục Đảng viên, trải qua hơn 60 năm phấn đấu và trưởng thành, hiện nay Đảng bộ tỉnh Yên Bái có 12 Đảng bộ trực thuộc, 586 tổ chức cơ sở Đảng (311 đảng bộ, 275 chi bộ), 3.058 chi bộ trực thuộc Đảng ủy cơ sở với trên 40 nghìn đảng viên Trong thời kỳ đổi mới Đảng bộ, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức đoàn thể, các cấp, các ngành và nhân dân Yên Bái đã năng động sáng tạo trong việc cụ thể hóa đường lối đổi mới của Đảng vào thực tiễn cuộc sống, giữ vững ổn định chính trị, quốc phòng an ninh, trật tự an toàn xã hội, xây
Trang 40dựng Đảng và hệ thống chính trị vững mạnh, từng bước cải thiện nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân
Hiện nay dân số toàn tỉnh là 743.880 người với mật độ dân số là 108 ngươi/km2 Trong đó số người nằm trong độ tuổi lao động là 407.475 người chiếm 54,7% dân số toàn tỉnh Là nguồn lao động dồi dào góp phần tham gia vào quá trình lao động sản xuất, phát triển của tỉnh nhà
Trong 5 năm thực hiện nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI, thời kỳ 5 năm (2006 - 2010) tốc độ tăng trưởng (GDP) bình quân 5 năm toàn tỉnh đạt 12,3 %/năm
2010 Tổng số 5.664.788 6.791151 8.226140 100,00 100,00 100,00 1- Nông,
2010 (điểm
Thực hiện năm
Thực hiện năm
2008
Thực hiện năm 2009