Đây là những tiết học vô cùng quan trọng giúp học sinh có thêm những hiểu biết về công dụng và cách sử dụng dấu câu một cách thích hợp trong quá trình tạo lập văn bản, đặc biệt là với mộ
Trang 1CHUYÊN ĐỀ
Đề tài:
RÈN LUYỆN KĨ NĂNG SỬ DỤNG DẤU CÂU NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG BỘ MÔN TIẾNG VIỆT VÀ TẬP LÀM VĂN
A Đặt vấn đề:
I Lời mở đầu:
Văn học là nhân học.Văn học giúp con người thanh lọc tâm hồn và hướng đến vẻ đẹp Chân – Thiện – Mỹ Là một trong những môn học góp phần hoàn thiện nhân cách con người
Bộ môn Ngữ Văn từ lâu đã được Bộ GD&ĐT đưa vào giảng dạy trong nhà trường phổ thông và được xem là một môn học chính Dạy Ngữ văn trong trường THCS không nhằm đào tạo các em thành những nghệ sĩ, các nhà văn, nhà thơ hay những nhà nghiên cứu chuyên nghiệp Thế nhưng muốn làm được điều đó tất yếu phải bắt đầu từ hôm nay Trường học ngoài việc truyền thụ những kiến thức cơ bản cho các em tiếp tục những cấp học cao hơn cần phải chú ý đến giáo dục thẩm mĩ
Và Ngữ Văn là một trong những môn học cần thiết cho sự phát triển hài hòa ở các em
Dạy Ngữ Văn trong trường THCS là bước đầu giúp các em hình thành năng lực thẩm mĩ, khả năng tư duy, óc sáng tạo phong phú Giúp các em biết cảm nhận
và rung cảm trước cái đẹp, phát hiện ra những cái đẹp ngay trong đời sống gần gũi với mình Đặc biệt là hình thành cho các em năng lực nói và viết, sử dụng ngôn từ, câu có hiệu quả
Bộ môn Ngữ Văn trong trường THCS gồm 3 phân môn, đó là: Văn học ( văn bản), Tiếng Việt và Tập làm văn Trong đó Tiếng Việt là một phân môn trực tiếp rèn luyện cho các em năng lực tư duy và khả năng sử dụng ngôn ngữ, sử dụng câu một cách hiệu quả Để sử dụng câu nhằm diễn đạt ý một cách hiệu quả thì luôn
Trang 2có sự góp mặt của một nhân tố vô cùng quan trọng, đó chính là dấu câu Việc sử dụng dấu câu một cách thích hợp sẽ giúp các em học tốt hơn, đặc biệt là với môn Tiếng Việt và Tập làm văn Một bài Tiếng việt, một bài Tập làm văn của các em chưa tốt cũng một phần là do chưa sử dụng dấu câu hoặc sử dụng chưa đúng Chính vì thế phân môn Tiếng Việt ở mỗi khối lớp trong chương trình THCS đều có những bài học về dấu câu Đây là những tiết học vô cùng quan trọng giúp học sinh
có thêm những hiểu biết về công dụng và cách sử dụng dấu câu một cách thích hợp trong quá trình tạo lập văn bản, đặc biệt là với một bài Tập làm văn
Nhưng vấn đề đặt ra là, sau những tiết học rất quan trọng ấy, học sinh đã hoàn toàn có ý thức và kĩ năng sử dụng dấu câu chưa Và trong quá trình giảng dạy của mình, giáo viên chúng tôi luôn đặt ra câu hỏi: “ Làm thế nào để rèn luyện kĩ năng sử dụng dấu câu cho học sinh nhằm nâng cao chất lượng bộ môn Tiếng Việt
và Tập làm văn ?”
II Thực trạng:
1 Đối với học sinh:
Tiếng Việt là một phân môn đòi hỏi sự chính xác cao trong khi nói và viết cũng như trong suốt quá trình học tập của các em Việc sử dụng dấu câu cũng nằm trong sự chính xác đó Nhưng thực tế phần lớn các em đều chưa thực hiện tốt điều này Qua thực tế dạy học các bài về dấu câu ở các khối lớp 6, 7, 8 qua các năm ( lớp 6: các bài ôn tập về dấu câu ( dấu chấm, dấu chấm hỏi, dấu chấm than, dấu phẩy); lớp 7: dấu chấm lửng và dấu chấm phẩy, dấu gạch ngang; lớp 8: dấu ngoặc đơn và dấu hai chầm, dấu ngoặc kép, ôn luyện về dấu câu), chúng tôi thấy một thực trạng đó là: các em tuy có nắm được về mặt lí thuyết nhưng khả năng thực hành chưa cao, chưa biết áp dụng tốt vào việc giải bài tập Các em chưa có được kĩ năng sử dụng dấu câu thích hợp khi viết một đoạn văn, bài văn, đặc biệt là các bài Tiếng Việt Chính điều đó đã tạo nên những lỗi rất lớn trong bài viết của các em
Điếu tra kết quả thực tế của các năm học trước:
Trang 3Khoảng 70-80% học sinh nắm được lí thuyết; 60-70% học sinh biết đặt dấu câu đúng vị trí ở các bài tập Tiếng Việt cho sẵn ở SGK Nhưng không quá 50% học sinh biết sử dụng dấu câu thích hợp trong bài tập làm văn của mình Đặc biệt có những em trong cả bài tập làm văn chỉ sử dụng hai đến ba dấu chầm, dấu phẩy, thậm chí không sử dấu câu nào hết Đã có không ít giáo viên phàn nàn về điều này mỗi khi chấm bài tập làm văn của các em Đây là một thực trạng đáng lo ngại ở các em học sinh và là vấn đề đáng quan tâm đối với giáo viên nói chung và giáo viên môn Ngữ Văn nói riêng
2 Đối với giáo viên:
Thực tế cho thấy rằng việc dùng dấu câu không hề đơn giản chút nào nếu chúng ta không có thái độ cẩn trọng khi viết Muốn dùng đúng dấu câu không những phải có kiến thức mà còn phải có thái độ cẩn trọng Chính vì thế trong quá trình dạy học về dấu câu, mặc dù đã truyền tải hết lí thuyết cho học sinh nhưng đôi khi giáo viên chúng ta vẫn mắc một số lỗi nhỏ như: khi viết câu trần thuật mà quên
sử dụng dấu chấm cuối câu hoặc quên sửa cho học sinh về lỗi này khi các em đặt câu
Mặt khác, khi rèn luyện kĩ năng sử dụng dấu câu cho học sinh chúng ta chưa chú trọng sử dụng những đoạn văn, bài văn do chính các em viết có mắc lỗi dùng dấu câu vào làm bài tập rèn luyện để các em phát hiện và sửa lỗi của mình
Trước thực trạng đó, giáo viên chúng tôi đã nghiên cứu, trao đổi và tìm ra một số biện pháp để giúp các em thực hiện tốt việc sử dụng dấu câu trong quá trình tạo lập văn bản, đặc biệt là văn bản viết
Trong buổi sinh hoạt chuyên đề hôm nay, chúng tôi mạnh dạn đưa ra chuyên đề: “ Rèn luyện kĩ năng sử dụng dấu câu để nâng cao chất lượng bộ môn Tiếng Việt và Tập làm văn”
B Giải Quyết vấn đề:
Trang 4Từ cơ sở thực trạng và yêu cầu giáo dục của các tiết dạy về dấu câu, chúng tôi có một số phương pháp cụ thể để rèn luyện kỹ năng sử dụng dấu câu cho các
em như sau:
1 Dạy lí thuyết:
Đây là phần hình thành kiến thức mới cho các em về công dụng của dấu câu
ở mỗi bài học về dấu câu Phần lí thuyết này được đóng khung trong phần ghi nhớ
ở mỗi bài học Nhiệm vụ của giáo viên là giúp các em hiểu rõ và nắm vững được công dụng của từng loại dấu câu Mặc dù là phần lí thuyết nhưng giáo viên không nên cho học sinh đọc một cách máy móc các khung ghi nhớ trong mỗi bài học mà phải giúp các em tự rút ra được công dụng của dấu câu thông qua các bài tập ở phần tìm hiểu bài
Để khắc sâu hơn về phần này cho học sinh, chúng tôi nghĩ sau khi học sinh rút ra được công dụng của các dấu câu thì giáo viên nên cho các em làm một số bài tập nhanh ngoài SGK
Ví dụ: Em hãy đặt một câu có sử dụng dấu ngoặc kép dùng để đánh dấu tên tác phẩm, tờ báo được dẫn ? ( Bài Dấu ngoặc kép – Lớp 8) Hoặc giáo viên yêu cầu học sinh đánh dấu câu thích hợp vào một câu cho sẵn đã xóa dấu
Những bài tập nhanh như thế sẽ giúp các em vận dụng nhanh phần lí thuyết vừa học, đồng thời tạo được hứng thú để dẫn dắt các em đi vào phần bài tập
2 Rèn luyện qua các bài tập trong SGK:
Giải các bài tập trong SGK là công việc quan trọng trong mỗi tiết dạy Tiếng Việt Việc học sinh có giải được bài tập hay không phản ánh cho chúng ta thấy được mức độ hiểu bài của các em Các tiết học về dấu câu cũng như vậy
Bài tập thông dụng, đơn giản trong các tiết học về dấu câu ở các khối lớp 6,
7, 8 là: giải thích công dụng của dấu câu trong các đoạn trích cho sẵn; đặt dấu câu thích hợp vào chổ trống
Trang 5Trong thực tế, đa số các em đều giải được những bài tập này vì nó còn tương đối đơn giản
Một kiểu bài tập có yêu cầu cao hơn đó là viết một đoạn văn theo chủ đề cho sẵn có sử dụng các dấu câu vừa học Với kiểu bài tập này, đòi hỏi các em phải biết kết hợp vừa tư duy vừa vận dụng lí thuyết vào thực hành Thực tế dạy học cho thấy học sinh sẽ mất thời gian nhiều đối với kiểu bài tập này vì khả năng viết đoạn văn của các em còn hạn chế Vì thế để đở tốn thời gian trên lớp và tạo được hiệu quả cao cho bài viết chúng ta nên cho các em làm bài tập này ở nhà và giáo viên sẽ kiểm tra trong tiết học sau hoặc đưa vào trong đề kiểm tra 15 phút hay 1 tiết
Ngoài ra còn có một số kiểu bài tập khác như: thay đổi dấu câu hoặc thay đổi vị trí thích hợp cho các dấu câu …
Chúng tôi nghĩ rằng trong phần luyện tập các bài tập trong SGK không nhất thiết phải yêu cầu học sinh làm hết trên lớp mà chỉ giải những bài tập tiêu biểu, phần còn lại yêu cầu các em làm ở nhà Thời gian còn lại để chúng ta rèn luyện bằng các bài tập mở rộng
3 Rèn luyện bằng các bài tập mở rộng:
Đây là dạng bài tập ngoài SGK Nó giúp các em hoàn toàn độc lập trong việc thực hành rèn luyện kĩ năng sử dụng dấu câu của mình
Có hai dạng bài tập mở rộng:
* Dạng thứ nhất: dùng văn bản chuẩn đã xóa dấu câu để học sinh phục phồi
dấu câu Ở dạng này, một số bài học về dấu câu ở các khối 6, 8 cũng đã có đưa vào trong phần luyện tập
Tuy nhiên cũng có một số bài học về dấu câu ở lớp 7 không có dạng bài tập
này ( Dấu chấm lửng, Dấu chấm phẩy và bài Dấu gạch ngang) Đối với những bài
học này chúng ta nên đưa thêm dạng bài tập mở rộng này vào Chúng tôi nghĩ giáo viên nên chọn những đoạn văn trích từ các văn bản mà các em vừa học xong Làm như thế sẽ tạo được hứng thú cho học sinh Bởi các em sẽ vừa cố nhớ xem ở đoạn
Trang 6văn này tác đã dùng những dấu gì ? Ở vị trí nảo ? nhưng chắc chắn các em sẽ không nhớ được nhiều nên phải tự suy nghĩ và tìm dấu câu thích hợp để đặt vào những vị trí thích hợp Và như vậy các em sẽ cảm thấy hứng thú , vui vẻ trong quá trình làm bài tập, đồng thời đỡ mất thời gian của tiết học vì đây không phải là những đoạn văn quá xa lạ với các em
Ví dụ: sau khi học xong bài Dấu chấm lửng, Dấu chấm phẩy và bài Dấu gạch ngang (lớp 7) chúng ta sẽ cho học sinh làm bài tập mở rộng như sau:
Hãy đặt dấu chầm lửng, dấu chấm phẩy và dấu gạch ngang vào vị trí thích hợp trong đoạn văn sau:
Vừa lúc đó có tiếng người kêu rầm rĩ, càng nghe, càng lớn Lại có tiếng ào
ào như thác chảy xiết rồi lại có tiếng gà, chó, trâu, bò kếu vang tứ phía.
Bấy giờ ai nấy ở trong đình, đều nôn nao sợ hãi Thốt nhiên một người nhà quê, mính mẩy lấm láp, quần áo ướt đầm, tất tả chạy xông vào thở không ra lời:
Bẩm quan lớn đê vỡ mất rồi !
( Học sinh sẽ đặt dấu đúng là: dấu chầm phẩy sau từ chảy xiết, dấu gạch ngang trước từ bẩm, dấu ba chầm sau từ bẩm và từ quan lớn).
* Dạng thứ hai: dùng các bài tập làm văn sai nhiều lỗi về dấu câu của học
sinh để luyện tập Trong chuyên đề này, chúng tôi đặc biệt quan tâm đến dạng bài tập này Bởi đây là lỗi các em thường xuyên mắc phải trong quá trình làm tập làm văn
Thực tế cho thấy rằng, khi học về dấu câu phần lớn các em nắm được lí thuyết và biết áp dụng vào làm bài tập ngay sau đó Nhưng khi viết một đoạn văn hoặc một bài tập làm văn độc lập ( không phải là bài tập về dấu câu) thì các em lại
vô tình quên mất việc cần phải sử dụng những dấu câu đã học vào bài viết của mình Từ sự vô tình dần dần tạo nên thói quen không sử dụng dấu câu trong phần lớn các bài tập làm văn của học sinh dẫn đến các bài tập làm văn không đạt hiệu quả cao
Trang 7Vì vậy trong quá trình dạy học về dấu câu, nếu chúng ta ý thức đưa những bài tập làm văn có mắc lỗi này của học sinh vào phần luyện tập để chính các em sửa chữa sẽ vừa rèn luyện được kĩ năng sử dụng dấu câu cho học sinh đồng thời vừa là lời nhắc nhở ý thức vận dụng cho các em khi làm một bài tập làm văn Những lỗi cụ thể của học sinh trong các bài tập làm văn là tài liệu tốt để rèn luyện
về các bài học này
Xin được trích nguyên văn một số đoạn văn trong bài viết tập làm văn số 2
của học sinh lớp 8.1 năm học 2010 – 2011 Đề bài Hãy kể lại một việc tốt mà em
đã làm ở trường THCS Quang Trung.
+ Đoạn văn 1 (HS: Trần Thị Thu Nhung)
Trong buổi lao động chiều hôm qua tôi và Ngọc đang cắt cỏ thì chợt thấy một chiếc túi thơm trong đó có năm mươi ngàn đồng và một tờ giấy chứng nhận
hộ nghèo.
Tôi bảo Ngọc là hãy đem trả lại thì Ngọc nói: Có biết ai đâu mà trả hay là mình cất nó đi thì tôi bảo là không được Vì số tiên này tuy nhỏ với mình nhưng biết đâu lại rất lớn đối với người đánh mất nó giấy này mất thì có thể đến Xã xin lại được nhưng còn tiền thì biết tìm ở đâu ra Tôi cầm chiếc túi thơm định đi nộp cho thầy Tâm thì thấy một em học sinh đang tìm một vật gì đó tôi liền chạy lại và hỏi em đang tìm gì vậy thì em trả lời em đang tìm chiếc túi thơm trong đó có năm mươi ngàn và tờ giấy chứng nhận hộ nghèo ạ.
+ Đoạn văn 2 ( HS: Nguyễn Văn Na – Kể về việc dọn bùn non sau trận lũ lớn năm 2009)
Em vừa đi đến trường thì nhìn thấy ngôi trường như một bãi chiến trường
và em cùng các bạn dọn bùn non trong các phòng học và ngoài sân trường em cùng các bạn đóng lại những bàn ghế bị hư hỏng …
Và còn rất nhiều những đoạn văn, bài văn tương tự như thế nhưng vì thời gian có hạn nên chúng tôi xin được phép không dẫn ra ở đây
Trang 8Qua đó, ta thấy rõ ràng ý thức và khả năng sử dụng dấu câu trong quá trình viết bài tập làm văn còn rất thấp Vì vậy, nếu giáo viên chủ động đưa những đoạn văn như thế của các em vào quá trình giải bài tập trên lớp chính là giúp các em tự nhận ra lỗi về dấu câu của mình và có ý thức rèn luyện kĩ năng sử dung dấu câu nhằm nâng chất lượng bài làm
II Tiết dạy minh họa:.
TiÕt 59 : ÔN LUYỆN VỀ DẤU CÂU
A MỤC TIÊU CẦN ĐẠT:
1 Kiến thức : Giúp HS:
- Hệ thống các dấu câu và công dụng của chúng trong hoạt động giao tiếp
- Việc sử dụng phối hợp các dấu câu hợp lí tạo nên hiệu quả cho văn bản; ngược lại , sử dụng dấu câu sai có thể làm cho người đọc không hiểu hoặc hiểu sai ý người viết định diễn đạt
2 Kĩ năng :
- Vận dụng dấu câu trong quá trình đọc-hiểu và tạo lập văn bản
- Nhận biết và sửa lỗi về dấu câu
B CÁC HOẠT ĐỘNG DẠY - HỌC:
1 Ổn định tổ chức:
2 Kiểm tra bài cũ: Em hãy kể những dấu câu đã học ở các lớp 6, 7, 8?
3 Bài mới:
Hoạt động của thầy Hoạt động
Hoạt động 1: Giới thiệu bài mới.
Mục tiêu: Tạo tâm thế và định hướng chú ý cho HS.
Trang 9Hoạt động của thầy Hoạt động
Phương pháp: Thuyết trình.
Thời gian: 2 phút.
Hoạt động 2: Củng cố kiến thức
Mục tiêu: HS tổng kết về các dấu câu đã học: cách dùng, cách phối hợp với các dấu câu khác Phương pháp: Vấn đáp tái hiện , nêu và giải quyết vấn đề.
Thời gian: 25 phút.
Trang 10STT Dấu câu Công dụng
2 Dấu chấm than - Kết thúc câu cầu khiến và cảm thán
3 Dấu chấm hỏi - Kết thúc câu nghi vấn
4 Dấu phẩy - Phân cách các thành phần và các bộ phận câu
5 Dấu chấm lửng - Biểu thị bộ phận chưa liệt kê hết- Làm giãn nhịp điệu câu văn hài hước dí dỏm
- Đánh dấu ranh giới các vế của một câu ghép phức tạp
- Đánh dấu ranh giới các bộ phận của một phép liệt kê phức tạp.
7 Dấu gạch ngang - Đánh dấu bộ phận giải thích, chú thích trong câu- Đánh dấu lời nói trực tiếp của nhân vật.
8 Dấu ngoặc đơn - Đánh dấu phần chú thích (giải thích, thuyết minh, bổsung thông tin)
9 Dấu hai chấm - Đánh dấu (báo trước) phần giải thích, thuyết minh chophần trước đó.
- Đánh dấu (báo trước) lời dẫn trực tiếp hay lời đối thoại
10 Dấu ngoặc kép
- Đánh dấu từ, ngữ, đoạn dẫn trực tiếp.
- Đánh dấu từ, ngữ, câu hiểu theo nghĩa đặc biệt, mỉa mai
- Đánh dấu tên tác phẩm, tờ báo,
11 Dấu gạch nối Nối các tiếng trong một từ phiên âm tên người, địaphương, tên sản phẩm nước ngoài
Hoạt động 3: Luyện tập
Mục tiêu: HS vận dụng kiến thức vào bài tập thực hành.
Phương pháp: Vấn đáp giải thích, thảo luận nhóm, trò chơi.
Thời gian: 25 phút
? Dựa vào các bài đã học về dấu câu I Củng cố kiến thức:
Trang 11ở các lớp 6, 7, 8, lập bảng tổng kết về
dấu câu theo mẫu dưới đây?
GV cho HS quan sát và thống kê
công dụng của các dấu câu đã học.
hỏi Quan sát
2 Dấu chấm than - Kết thúc câu cầu khiến và cảm thán
3 Dấu chấm hỏi - Kết thúc câu nghi vấn
4 Dấu phẩy - Phân cách các thành phần và các bộ phận câu
5 Dấu chấm lửng - Biểu thị bộ phận chưa liệt kê hết- Làm giãn nhịp điệu câu văn hài hước dí dỏm
- Đánh dấu ranh giới các vế của một câu ghép phức tạp
- Đánh dấu ranh giới các bộ phận của một phép liệt kê phức tạp.
7 Dấu gạch ngang - Đánh dấu bộ phận giải thích, chú thích trong câu- Đánh dấu lời nói trực tiếp của nhân vật.
8 Dấu ngoặc đơn - Đánh dấu phần chú thích (giải thích, thuyết minh, bổ
sung thông tin)
9 Dấu hai chấm - Đánh dấu (báo trước) phần giải thích, thuyết minh chophần trước đó.
- Đánh dấu (báo trước) lời dẫn trực tiếp hay lời đối thoại
10 Dấu ngoặc kép
- Đánh dấu từ, ngữ, đoạn dẫn trực tiếp.
- Đánh dấu từ, ngữ, câu hiểu theo nghĩa đặc biệt, mỉa mai
- Đánh dấu tên tác phẩm, tờ báo,
11 Dấu gạch nối Nối các tiếng trong một từ phiên âm tên người, địaphương, tên sản phẩm nước ngoài
Hoạt động 3: Luyện tập
Mục tiêu: HS vận dụng kiến thức vào bài tập thực hành.
Phương pháp: Vấn đáp giải thích, thảo luận nhóm, trò chơi.
Thời gian: 25 phút