1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

SKKN: Cách thức tiếp cận và phương pháp giáo dục HS của GVCN (Giải C tỉnh Tiền Giang năm 20142015)

37 303 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 37
Dung lượng 4,55 MB
File đính kèm cach-tiep-can-va-giao-duc-HS-cua-GVCN.rar (5 MB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Là kinh nghiệm của giáo viên trực tiếp làm công tác chủ nghiệm về cách thức tiếp cận, kiểm soát, chi phối đối với học sinh, nhất là học sinh đặc biệt trong lớp. Đề xuất phương pháp và các nguyên tắc vàng trong giáo dục học sinh.

Trang 1

TRƯỜNG THPT THỦ KHOA HUÂN

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

CÁCH TH C TI P C N ỨC TIẾP CẬN ẾP CẬN ẬN

VÀ PH ƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC HỌC SINH NG PHÁP GIÁO D C H C SINH ỤC HỌC SINH ỌC SINH

C A GIÁO VIÊN CH NHI M ỦA GIÁO VIÊN CHỦ NHIỆM ỦA GIÁO VIÊN CHỦ NHIỆM ỆM

GV TRẦN THỊ YẾN TRINH

TIỀN GIANG, THÁNG 02 NĂM 2015

Trang 2

VÀ KIỂM SOÁT “PHẦN TỬ PHÁ HOẠI tr.07CHƯƠNG II: PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC HỌC SINH tr.14II.1 KỈ LUẬT HAY BUÔNG THẢ tr.14II.2 TRỪNG PHẠT HAY KHUYẾN KHÍCH tr.16II.3 TRUYỀN THỐNG HAY HIỆN ĐẠI tr.19CHƯƠNG III: CÁC NGUYÊN TẮC VÀNG

TRONG GIÁO DỤC HỌC SINH tr.21

Trang 3

A PHẦN MỞ ĐẦU

Cách ứng xử, giáo dục học sinh của giáo viên đang được dư luận hếtsức quan tâm Nổi cộm nhất gần đây là việc một giáo viên ở trường THPTNguyễn Huệ tỉnh Bình Định đánh học sinh ngay trên bục giảng và bị tròphản kháng bằng cách đánh trả Hàng loạt trường hợp khác về nạn bạo hànhthân thể và mắng nhiếc học sinh cũng được các trang mạng đăng tải Nhưvậy, với nhiều giáo viên ở các cấp học, họ vẫn chưa ý thức thật đầy đủ vềphương pháp giáo dục đúng đắn đối với học sinh Điều đó gây nên nhữngảnh hưởng tiêu cực đến cách nhìn của xã hội về ngành giáo dục Là giáoviên chủ nhiệm, nguy cơ phạm những sai lầm này càng cao bởi chính giáoviên chủ nhiệm là người trực tiếp xử lí các trường hợp vi phạm của học sinh.Làm cách nào để có thể tác động đến học sinh hiệu quả nhất cũng nhưphương pháp giáo dục nào phù hợp nhất đối với học sinh trung học phổthông luôn là những câu hỏi mà bản thân tôi luôn đặt ra khi làm công tác chủnhiệm Trong thời gian giảng dạy tại trường THPT Thủ Khoa Huân, tôi cómay mắn chủ nhiệm cả những lớp “mũi nhọn” (gồm những học sinh có sứchọc khá giỏi, có ý thức kỉ luật) lẫn những lớp “thường” (gồm những học sinh

có sức học trung bình trở xuống, vài em trong số đó có tính cách đặc biệt).Chính các em đã dạy cho tôi cách trở thành một người thầy thực sự - điều

mà tôi không thể học được từ sách vở Dưới đây là những kinh nghiệm màtôi đã tích lũy được trong quá trình công tác của mình

Trang 4

B NỘI DUNG CHÍNH

Trang 5

CHƯƠNG I

CÁCH THỨC TIẾP CẬN HỌC SINH

I.1 “CHẤT KEO KẾT DÍNH” VÀ “PHẦN TỬ PHÁ HOẠI”

Học sinh trong lớp có thể chia làm 3 loại : “chất keo kết dính”, “phần

tử phá hoại” và một loại khác, phổ biến hơn cả, là “thành phần trung lập”

“Chất keo kết dính”

“Chất keo kết dính” là những học sinh năng động, có tinh thần tậpthể, có tính kỉ luật cao, hợp tác tốt, giao tiếp tốt, có khả năng lôi kéo nhữnghọc sinh khác vào những hoạt động tích cực, thường có nhiều sáng kiến.Những học sinh này thường chủ động tiếp cận giáo viên và quan tâm nhữngbạn bè khác Họ xem việc truyền đạt các thông báo của nhà trường và cácgiáo viên đến lớp học và phản ánh tình hình lớp học đến giáo viên là nghĩa

vụ và niềm vui Họ tự giác xung phong làm những việc vì tập thể như cácphong trào tình nguyện, tự gánh vào mình nhiều nhiệm vụ thậm chí khôngliên quan đến bản thân mà không hề tính toán Trong lớp học, họ thường tậptrung nghe giảng và nhiều khi không kiềm chế được lòng nhiệt tình nên tự ýphát biểu trước khi được giáo viên gọi

“Phần tử phá hoại””

“Phần tử phá hoại” tuy có một số tố chất tương tự như “chất keo kếtdính” nhưng lại phát huy theo hướng khác Họ cũng có khả năng giao tiếptốt, có thể lôi kéo những học sinh khác Tuy nhiên, phần lớn họ không cóhứng thú trong học tập nên thường biểu hiện ra thành thái độ và những hành

vi vô kỉ luật Những học sinh này có xu hướng làm những việc mình thíchhơn là những việc được yêu cầu Trong lớp học, họ thường có hai loại biểuhiện: hoặc là rất uể oải, mất tập trung, suy nghĩ việc riêng và chọc phánhững người khác; hoặc là chỉ chú ý tìm kiếm những chi tiết có thể gây liêntưởng hài hước trong bài học để “phát biểu linh tinh”, gây cười cho những

Trang 6

“Thành phần trung lập”

“Thành phần trung lập” chiếm số đông trong lớp học Đây là nhữnghọc sinh không có bản sắc cá nhân rõ ràng, thường được đánh giá là “ngoanngoãn” bởi họ biết cách tuân theo qui tắc và các yêu cầu Họ rất ít khi viphạm nội quy, không gây rối trong giờ học, biết giơ tay và chờ được gọiphát biểu, tham gia đầy đủ những hoạt động được yêu cầu dù thích haykhông Tuy nhiên, họ cũng rất dễ bị tác động và hành động, suy nghĩ theo sốđông

Thái” độ của “thành phần trung lập” quyết định bản sắc lớp học

“Thành phần trung lập” không phải là nhân tố lôi kéo những thànhviên khác mà ngược lại, họ sẽ ngã theo những ai chi phối được lớp học Nếu

“chất keo kết dính” chi phối được lớp học, họ sẽ cô lập những “phần tử pháhoại” Lúc đó, hành động gây rối của phần tử phá hoại không được hưởngứng, họ nhanh chóng “mất hứng thú” và chịu ngồi im Ngược lại, nếu phần

tử phá hoại chi phối lớp học, họ sẽ bắt chước theo và nhanh chóng tìm được

“niềm vui” trong những việc làm vô bổ, cô lập, thậm chí chế nhạo “chất keokết dính”, làm họ hao mòn lòng nhiệt tình theo thời gian

Trang 7

THÀNH PHẦN LỚP HỌC

(Thái độ của thành phần trung lập quyết định bản sắc lớp học)

I.2 CHI PHỐI “CHẤT KEO KẾT DÍNH” VÀ KIỂM SOÁT

“PHẦN TỬ PHÁ HOẠI

Tuy rằng thái độ của thành phần trung lập quyết định bản sắc lớp họcnhưng họ lại dễ bị tác động bởi “chất keo kết dính” và “phần tử phá hoại”.Bởi thế, mấu chốt của vấn đề không phải là tác động vào số đông mà là tácđộng vào số-ít-có-thể-gây-ảnh-hưởng

Chi” phối” “chất keo kết dính”

Bước 1: Người chủ động tiếp cận giáo viên chủ nhiệm đầu tiên có thể là “chất keo kết dính”

Thường những lí do để tiếp cận giáo viên chủ nhiệm của học sinh đầunăm học là hỏi về các môn học, về các hoạt động của trường hoặc thay mặtmột học sinh khác đề đạt nguyện vọng như đổi chỗ ngồi… Họ thường đithành một nhóm nhưng người đứng ra thay mặt các học sinh khác mới làngười được tập thể nhỏ ấy tín nhiệm Đừng thờ ơ hoặc trả lời, giải quyết một

Trang 8

cách qua loa với những học sinh ấy Họ đang mang đến cho người giáo viênchủ nhiệm một cơ hội để tiếp cận sâu các học sinh của mình

Bước 2: Thiết lập quan hệ

“Chất keo kết dính” không nhất thiết phải là lớp trưởng hoặc thànhviên khác trong ban cán sự lớp Giáo viên chủ nhiệm có thể bắt đầu thiết lậpquan hệ với “chất keo kết dính” bằng những việc “nhờ vả” nhỏ như xem thờikhóa biểu, hỏi thăm trong tuần có học sinh vắng/ trễ hay không… Nếungười học sinh ấy nhiệt tình đáp ứng và làm trên mức người giáo viên yêucầu thì đó chính là “chất keo kết dính” cần tìm kiếm Ví dụ, ngoài cho giáoviên biết về thời khóa biểu, “chất keo kết dính” thường kèm một số nhận xétnhư ngày nào học nhiều, ngày nào học ít, ngày nào phải làm nhiều bài tập,lớp học gặp khó khăn ở những môn nào…; ngoài trả lời lớp có vắng haykhông, “chất keo kết dính” còn nhớ cả học sinh nào vắng, vắng ngày nào vàthậm chí là lí do vắng Đó là biểu hiện cho thấy “chất keo kết dính” rất quantâm đến học tập và các thành viên khác trong lớp học

Bước 3: Bộc lộ bản thân và khuyến khích chất keo kết dính tự bộc lộ

Thái độ chân thành tự bộc lộ của giáo viên chủ nhiệm dễ gây được sựđồng cảm của không riêng “chất keo kết dính” mà còn đối với những họcsinh khác Bộc lộ không phải là khoe khoang, đánh bóng về bản thân, cũngkhông phải “tự khai” những khuyết điểm của mình cho học sinh nghe.Những điều đó dễ gây tác dụng ngược Bộc lộ bản thân là chủ động bày tỏ

và bày tỏ một cách chân thành những cảm nhận của bản thân trước nhữngtình huống xảy ra liên quan đến học sinh lớp mình chủ nhiệm việc tự bộc lộcủa giáo viên chủ nhiệm khiến “chất keo kết dính” cảm thấy được tin tưởng,đồng thời, điều đó cũng khơi gợi cảm hứng để “chất keo kết dính” bộc lộcảm nhận, suy nghĩ của mình Quan điểm của “chất keo kết dính” có thể

Trang 9

không hoàn toàn đồng nhất với giáo viên chủ nhiệm nhưng ít nhiều chịu sựchi phối và đã được tự điều chỉnh sau khi nghe giáo viên chủ nhiệm bộc lộ.Tiếng nói mang tính cá nhân ấy rất có thể sẽ trở thành tiếng nói của tập thểnếu chất keo kết dính chi phối được “thành phần trung lập” trong lớp.

Bước 4: Cần một hay nhiều chất keo kết dính?

Câu trả lời đương nhiên là cần nhiều Vậy các “chất keo kết dính” ấy

ở đâu ra? “Ngưu tầm ngưu, mã tầm mã” là kinh nghiệm lâu đời của dângian Thường những ai có tố chất giống nhau sẽ kết bạn với nhau Ngườigiáo viên chủ nhiệm có thể tìm kiếm những “chất keo kết dính” khác trongnhững bạn bè thân thiết cùng lớp của “chất keo kết dính” đã tìm thấy Chính

“chất keo kết dính” đầu tiên là chiếc cầu nối người giáo viên chủ nhiệm vớinhững “chất keo kết dính” khác Câu chuyện thêm đông người sẽ thêm phầnrôm rả Trong những câu chuyện ấy, tình hình lớp học cũng sẽ hiện lên sinhđộng và khách quan hơn Quá trình này có thể được mở rộng để tạo một hiệuứng dây chuyền, khi đó, người giáo viên chủ nhiệm chỉ cần tác động vàomột mắc xích là tác động đến hầu như toàn bộ lớp học

Ki”ểm soát phần tử phá hoại”

Bước 1: Nhận ra phần tử phá hoại từ sớm

Người giáo viên chủ nhiệm có nhiều cách để nhận ra “phần tử pháhoại” của lớp mình bằng nhiều cách: tự mình quan sát các biểu hiện của họcsinh, thăm dò ý kiến của các giáo viên khác và thông qua các “chất keo kếtdính” trong lớp

Bước 2: Hạn chế tầm hoạt động của phần tử phá hoại

Xếp chỗ ngồi cho các phần tử phá hoại ở những vị trí giáo viên bộmôn dễ kiểm soát, xung quanh không có những phần tử phá hoại khác, trongtrường hợp cần thiết có thể xếp phần tử phá hoại ngồi biệt lập một nơi saocho không thể lôi kéo các thành viên khác trong lớp học

Trang 10

Bước 3: “Chẩn bệnh” cho phần tử phá hoại

Giáo viên cần xác định được nguyên nhân hình thành những tính cáchđặc biệt của phần tử phá hoại trong lớp học thông qua lí lịch học sinh (nghềnghiệp của bố mẹ, bố mẹ còn sống hay đã mất, đang sống cùng ai, …), quacác học sinh gần nhà (hoàn cảnh kinh tế gia đình, tính cách của bố mẹ, anhchị em, các biến cố gia đình gặp phải…), qua các học sinh đã từng họcchung ở các cấp học trước đó (sức học ở những cấp học trước, từ bao giờ cónhững thay đổi hành vi, thái độ theo hướng tiêu cực…), qua trao đổi với phụhuynh (tính cách, thói quen sinh hoạt, sở thích của học sinh khi ở nhà, kiểmchứng những thông tin đã thu thập được) Liên hệ những điều tìm hiểu được,giáo viên chủ nhiệm có thể xác định nguyên nhân dẫn đến việc học sinh trởthành một “phần tử phá hoại” trong lớp học Có một số nguyên nhân chủ yếunhư sau:

Trang 11

Gi”a đình

Hoàn cảnh kinh tế khá giả: được nuông chiều vềvật chất, được giáo dục buông thả, thích hưởng thụ,không nhận thấy được mục đích và ích lợi của việc họctập, thỏa thích làm những việc mình muốn

Hoàn cảnh kinh tế khó khăn: tâm lí tự ti, mặccảm, nhận thấy cuộc sống không công bằng, khó thayđổi cuộc đời bằng con đường học vấn, bất mãn, oán hận

bố mẹ, nôn nóng kiếm tiền để thỏa mãn nhu cầu bảnthân, xem việc học tập trong nhà trường là phí hoài thờigian

Đổ vỡ trong gia đình: bố mẹ li hôn, sống với mẹ/cha kế, cảm thấy mình là người thừa, uất ức vì cho rằngmình bị thành kiến, ác cảm, mẹ/cha kế không có tư cáchgiáo dục

Xung đột thế hệ: phổ biến trong những gia đìnhgiáo dục độc tài, có khuynh hướng sử dụng bạo lực hoặclời lẽ mắng nhiếc, biểu hiện bằng thái độ bất đồng quanđiểm với bố/ mẹ/ cả bố lẫn mẹ, cảm thấy không đượchiểu, không được quan tâm, bố mẹ quá độc tài dẫn đếnphản ứng tiêu cực như vô lễ, có khuynh hướng làmngược lại bất cứ điều gì được yêu cầu, tìm niềm vui ởbạn bè

Ghen tị với anh chị em: ghen tị với người giỏihơn, nhận được lời khen ngợi nhiều hơn; luôn có cảmgiác bị coi thường, bị so sánh với người khác dần dầnbiến thành cảm giác tự ti, không tin vào chính mình vàphản ứng nóng nảy, tiêu cực

Lỗ hổng

khó bù

Thường xuất phát từ một sai lầm nhỏ (một buổi bỏhọc, một lần không hiểu bài) nhưng không kịp khắcphục nên càng ngày càng trầm trọng, mất căn bản,không còn hứng thú trong học tập nên chuyển hướngtheo những niềm vui khác

Trang 12

Phần tử phá hoại sở hữu một trong những nguyên nhân ở trên kèm vớitính cách hiếu động, hướng ngoại Nếu không có tính cách đặc biệt này, họcsinh có thể chỉ biểu hiện ra thành thái độ và hành vi chán nản, uể oải, thụđộng trong học tập, tức là chưa trở thành “phần tử phá hoại” theo đúng nghĩacủa nó Dù là nguyên nhân gì, phần tử phá hoại cũng đều có xu hướng muốnkhẳng định mình, biến bản thân thành trung tâm, được mọi người chú ý

Bước 4: Phần tử phá hoại cần được quan tâm nhiều hơn

Sau khi xác định nguyên nhân hình thành tính cách đặc biệt của phần

tử phá hoại, giáo viên chủ nhiệm cần chủ động tiếp cận, gần gũi, quan tâm,

từ từ điều chỉnh hành vi của các em Đây là một quá trình đòi hỏi thời gian,

sự kiên nhẫn, không thể nóng vội Người giáo viên chủ nhiệm phải tạo chophần tử phá hoại cảm giác được đồng cảm, được hiểu, thực sự là bạn chứkhông phải kiểu “giáo điều” hay “ban ơn, thương hại” Đôi khi phần tử pháhoại cần được đặt ở vai trò trung tâm trong một số hoạt động tập thể nhưng

họ không thích làm theo chỉ vẽ của người khác mà muốn mình là ngườiquyết định Giáo viên chủ nhiệm nên tham mưu ý kiến của họ trước, nhẹnhàng góp ý để loại bỏ những điểm không phù hợp và cho họ đủ không gian

để phát huy

Chi phối được các “chất keo kết dính” và kiểm soát được các “phần tửphá hoại” có nghĩa là người giáo viên kiểm soát được lớp của mình

Trang 14

CHƯƠNG II

PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC HỌC SINH

Để quá trình giáo dục học sinh của giáo viên chủ nhiệm đạt hiệu quả,người giáo viên chủ nhiệm phải có quan niệm đúng đắn, rõ ràng và phươngpháp sư phạm hiệu quả Dẫu biết mỗi học sinh là một cá nhân đặc biệt, cóhoàn cảnh, tố chất, khả năng và tính cách riêng, cần có phương pháp tácđộng phù hợp nhưng người giáo viên chủ nhiệm không chỉ giáo dục từng cánhân theo kiểu bố mẹ dạy con cái mà còn quản lí một tập thể Bởi thế, xácđịnh quan niệm, phương pháp giáo dục nhất quán là việc làm vô cùng cầnthiết Bản sắc của lớp học phụ thuộc vào quan niệm giáo dục và phươngpháp sư phạm của giáo viên

II.1 KỈ LUẬT HAY BUÔNG THẢ

Kỉ luật

Kỉ luật là đề ra và thực thi nghiêm túc các qui định và thỏa thuận Mộtkhi vi phạm các qui định và thỏa thuận ấy, học sinh sẽ bị trừng phạt theonhững hình thức phù hợp với mức độ và nội dung vi phạm Giáo dục kỉ luật

là phương thức giáo dục nghiêm khắc, mang tính yêu cầu cao, khích lệ ít.Sản phẩm của giáo dục kỉ luật là tạo ra con người của tập thể, biết kiềm chếnhững nhu cầu cá nhân và tuân phục tập thể, tổ chức Hầu hết nhà trườngđều đặt vấn đề kỉ luật lên hàng đầu, xem đó là công cụ hữu hiệu để quản líhọc sinh Mỗi nhà trường đều đặt ra nội qui, qui định về giờ giấc, trangphục, tác phong – ngôn phong, nhiệm vụ và những điều cấm đối với họcsinh Ngành giáo dục cũng ban hành điều lệ qui định quyền, nghĩa vụ và

những hành vi học sinh không được làm (Điều lệ trường trung học cơ sở,

trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học, chương V) kèm

theo thông tư hướng dẫn việc khen thưởng và xử lí kỉ luật đối với học sinh vi

phạm (thông tư số 08/TT Hướng dẫn về việc khen thưởng và thi hành kỉ luật

Trang 15

học sinh các trường phổ thông) Để tổ chức thực thi kỉ luật trong nhà trường

có bộ phận giám thị, hội đồng kỉ luật, giáo viên chủ nhiệm và ban cán sự cáclớp Việc tuân thủ hay không tuân thủ kỉ luật ở nhà trường là căn cứ để đánhgiá hạnh kiểm của học sinh cuối học kì và cuối năm học

Buông thả

Ngược lại với kỉ luật là buông thả Buông thả có nghĩa là tạo điều kiện

để học sinh phát huy cái tôi cá nhân của mình, không gò ép, bắt buộc, xemmỗi học sinh là một cá nhân đặc biệt cần tôn trọng Giáo dục buông thả làphương thức giáo dục dễ dãi, khích lệ nhiều, yêu cầu lại thấp Trong phươngthức giáo dục này, người giáo viên xem việc khích lệ tinh thần, tình cảm củahọc sinh là phương pháp tác động chủ yếu chứ không phải là uốn nắn hành

vi Sản phẩm của giáo dục buông thả là tạo ra con người của cá nhân, luônđặt bản thân ở vị trí trung tâm, hành động theo nhu cầu và cảm tính củachính mình

Hệ quả của kỉ luật và buông thả

Kỉ luật quá khắc khe sẽ dẫn đến hai thái cực Một là học sinh không tựlập, dễ có khuynh hướng phục tùng, tâm lí chờ đợi, sợ phạm sai lầm, mất hếtbản sắc cá nhân Hai là học sinh bị ức chế, nổi loạn, phản kháng, từ đó hìnhthành tính cách hận thù, nóng nảy Ngược lại, buông thả quá mức sẽ dẫn đếnhọc sinh vô tổ chức, hành động, suy nghĩ thiếu kiềm chế, thiếu chín chắn, dễkích động, vô ơn

Phương thức

gi”áo dục Phương pháp Bản chất Hệ quả

Kỉ luật Trừng phạt Yêu cầu cao,

khích lệ ít

- Không tự lập, phục

tùng

- Nổi loạn, phản khángBuông thả Khuyến

khích

Yêu cầuthấp, khích

lệ cao

Vô tổ chức, thiếu chín

chắn

Trang 16

Dung hòa

Kỉ luật quá khắc khe hoặc buông thả quá mức đều có những hệ quảtiêu cực đối với công tác quản lí lớp của giáo viên chủ nhiệm, nhưng quantrọng hơn là với việc hình thành tính cách và nhân cách của học sinh Bởithế, người giáo viên chủ nhiệm cần biết sử dụng có nghệ thuật và dung hòahai phương pháp trừng phạt và khuyến khích trong giáo dục học sinh

II.2 TRỪNG PHẠT HAY KHUYẾN KHÍCH

Trừng phạt

Trừng phạt, hiểu nôm na, là dùng hình phạt để cho học sinh nhận rahậu quả của những việc làm sai trái, từ đó rút kinh nghiệm, tự điều chỉnhhành vi để không phải nhận hậu quả tương tự Trừng phạt chủ yếu khôngnhằm giải quyết bản chất vấn đề mà mang tính răn đe Có hai hình thứctrừng phạt là trừng phạt thể xác và trừng phạt tinh thần

Trừng phạt thể xác gồm các hình thức như xúc phạm thân thể học sinh(đánh đập, gây tổn thương về thể xác), đày đọa (phạt đứng, phạt quỳ, úp mặtvào tường…), lao động phù hợp (vệ sinh lớp học, tưới cây …) Trong đó,xúc phạm thân thể và một số hình thức đày đọa như như phạt quỳ, úp mặtvào tường là rất tiêu cực, cần tránh vì không chỉ là trừng phạt về thể xác màcòn tổn thương đến tinh thần của học sinh

Trừng phạt tinh thần gồm các hình thức như nhục mạ học sinh (chửimắng, làm tổn thương lòng tự trọng bằng lời lẽ cay nghiệt, khiến học sinhmất hết sĩ diện), bắt tự suy ngẫm, nêu ra sai lầm của bản thân và nhận lỗitrước tập thể Trong đó, nhục mạ là hình thức rất tiêu cực, cần tránh vì làmtổn thương sâu sắc đến lòng tự trọng của học sinh, dễ gây tâm lí thù ghét, bấthợp tác

Trang 17

Khuyến khích

Trái ngược với phương pháp trừng phạt là khuyến khích Hiểu nôm

na, khuyến khích có nghĩa là nhận ra ưu điểm của học sinh và kịp thời khích

lệ để học sinh phát huy, tạo động lực tinh thần cho học sinh phấn đấu.Khuyến khích không nhằm uốn nắn hành vi mà định hướng hành vi Có haihình thức khuyến khích chủ yếu là khuyến khích bằng vật chất và khuyếnkhích về tinh thần Khuyến khích bằng vật chất là dùng phần thưởng đểkhích lệ những hành động tích cực và thành tích của học sinh Khuyến khích

về tinh thần là dùng lời lẽ để tuyên dương, bày tỏ sự đánh giá cao của giáoviên chủ nhiệm đối với những hành động tích cực và thành tích của học sinh(tuyên dương trước lớp hoặc trao đổi riêng)

Li”ều thuốc của trừng phạt và khuyến khích

Trừng phạt bằng những hình thức tiêu cực như xúc phạm thân thể, đàyđọa, nhục mạ… có thể gây những hậu quả nghiêm trọng tức thời hoặc lâudài về sau Tức thời, những hành động này có thể gây xung đột với học sinh,học sinh cũng có thể phản kháng bằng hành động đáp trả (dùng bạo lực phảnkháng bạo lực hoặc dùng lời lẽ gay gắt phản kháng bạo lực và lời lẽ nhục mạcủa giáo viên) Khi đó, người giáo viên không chỉ không thể uốn nắn hành vicủa học sinh mà còn mất tôn nghiêm và uy tín trước tập thể lớp và đồngnghiệp Về lâu dài, có thể hình thành tâm lí thù ghét, ác cảm, bất hợp tác vớigiáo viên và tính cách nóng nảy, thích phản kháng Một hướng khác là hìnhthành ở học sinh tâm lí tự ti, tự thấy mình thấp kém, mất hết niềm tin vàobản thân, luôn sợ sệt, đề phòng, sợ trường học

Tương tự, khuyến khích quá đáng dễ khiến học sinh có hai loại phảnứng và thái độ tiêu cực Một là, học sinh dễ có xu hướng ảo tưởng về bảnthân, tự thấy mình quá ưu tú, nhận thấy mọi việc quá dễ dàng, ngủ quên trên

“hào quang” mà giáo viên chủ nhiệm tạo ra, không còn động lực phấn đấu

Trang 18

Hai là, học sinh sẽ đề phòng, thậm chí xem thường giáo viên chủ nhiệm vì

sự “tâng bốc” thiếu căn cứ, xa lánh giáo viên chủ nhiệm

Trừng phạt thểxác

Lao động phùhợp

Xúc phạmthân thể, đàyđọaTrừng phạt

- phản kháng,thù ghét

- tự ti, sợ hãi

Khuyế

n khích

Hình thức

- Dùng phầnthưởng khíchlệ

- Dùng lời lẽtuyên dương

Vừa phải Quá mức

Hệ quả

- Có cảm giácđược khẳngđịnh

- Tự tin, cóđộng lực phấnđấu

- Ảo tưởng vềbản thân

- Xem thường

sự tâng bốc

Trừng phạt thích hợp và khuyến khích vừa phải”

Không trừng phạt sẽ không có tính răn đe, không khuyến khích thìkhông tạo được động lực Vì thế, người giáo viên chủ nhiệm cần biết sửdụng có hiệu quả hai công cụ này để giáo dục học sinh Cần biết lựa chọnnhững hình thức trừng phạt thích hợp, mang tính sư phạm (lao động phùhợp, giúp học sinh tự suy ngẫm, tự phê bình trước tập thể) và khuyến khíchđúng lúc, đúng việc, ở mức độ vừa phải để tăng hiệu quả tác động đến họcsinh Những việc làm đó vừa giúp học sinh tự nhận ra cái sai của bản thânrồi khắc phục, vừa khiến họ có cảm giác được tôn trọng, được khẳng định

Ngày đăng: 07/01/2016, 15:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w