1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sự nhận biết và mức độ trung thành đối với thương hiệu Nutifood của người tiêu dùng quận Ninh Kiều TP.Cần Thơ

24 1,2K 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 1,38 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Họ biết nhãn hiệu đó thông qua các kênh truyền thông nào?” Xét từng nhãn hiệu, kết quả nghiên cứu cho thấy nhãn hiệu người tiêu dùng nghĩ đến đầu tiên nhiều nhất là Dielac với 20% tổng

Trang 1

PHỤ LỤC: BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU1

Đề tài: “Sự nhận biết và mức độ trung thành đối với thương hiệu Nutifood của người tiêu dùng quận Ninh Kiều TP.Cần Thơ”

Đề tài hướng đến các mục tiêu sau:

- Nhận biết thương hiệu sữa bột Nutifood

- Đo lường lòng ham muốn thương hiệu

- Chất lượng cảm nhận thương hiệu đối với thương hiệu Nutifood

- Lòng trung thành của khách hàng đối với thương hiệu Nutifood

1 Thông tin đáp viên

Nghiên cứu được tiến hành trên 50 mẫu kết quả thu được là có 04 mẫu đáp viên hoặc gia đình làm việc có liên quan đến ngành sữa, 2 mẫu đáp viên làm việc trong các cơ quan truyền thông, báo chí, 4 mẫu các đáp viên đã từng tham gia các cuộc phỏng vấn Sau khi lọc sạch dữ liệu tác giả đã loại 10 mẫu trên ra khỏi phân tích

Hình 5.1 Biểu đồ thể hiện cơ cấu mẫu đạt yêu cầu phân tích

Truyền thông, báo chí 4%

công việc đáp viên liên quan đến ngành sữa 8%

đã từng tham gia các cuộc phỏng vấn trong vòng 3 tháng 8%

Mẫu đạt yêu cầu phân tích 80%

Như vậy, tổng số mẫu không đạt yêu cầu phân tích là 10 (chiếm 20% tổng số mẫu nghiên cứu) số mẫu đạt yêu cầu cho phân tích là 40 ( chiếm 80% tổng số mẫu nghiên cứu) Nghề nghiệp đáp viên được nghiên cứu một cách ngẫu nhiên Phiếu phỏng vấn câu hỏi này là dạng câu hỏi đóng mở để đáp viên có thể trả lời theo nghề nghiệp chính của mình

Hình 5.2 Biểu đồ thể hiện cơ cấu nghề nghiệp đáp viên

nội trợ 29%

thợ uốn tóc 3%

buôn bán 13%

công nhân 13%

giáo viên 20%

nhân viên văn phòng 22%

1

Trích từ chuyên đề tốt nghiệp đại học của sinh viên Trương Thị Diệu Hoàng (Đại học An

Giang), GVHD: ThS Võ Minh Sang năm 2009

Trang 2

Trong 40 mẫu đạt yêu cầu trong nghiên cứu kết quả cho thấy nghề nghiệp của đáp viên nhiều nhất là nội trợ (29%), thứ hai là nhân viên văn phòng2 (22%), thứ ba là giáo viên (20%), kế đó là công nhân và những người buôn bán (13%), còn lại là làm các ngành nghề khác (thợ uốn tóc) Xét về độ tuổi vì nghiên cứu chỉ tập trung vào những phụ nữ đang có con nhỏ do đó tuổi của đáp viên chỉ tập trung trong khoảng 20 – 35 tuổi Cơ cấu tuổi của đáp viên được thể hiện qua biểu đồ:

Hình 5.3 Biểu đồ thể hiện cơ cấu tuổi của đáp viên

30 - 35 47%

25 - 30 30%

20 - 25 23%

Qua biểu đồ cho thấy đáp viên ở độ tuổi 30 – 35 chiếm số lượng lớn nhất với 47% tiếp

đó là độ tuổi 25 – 30 với 30% còn lại là độ tuổi 20 – 25 với 23% Kết quả cho thấy không có đáp viên dưới 20 tuổi Giải thích cho kết quả trên là do dưới tác động thông tin đại chúng phụ nữ ngày hầu hết đã nâng cao nhận thức thận trọng trong việc kết hôn

do đó hầu hết phụ nữ kết hôn ở độ tuổi sau 20

Như vậy, với số mẫu đạt yêu cầu là 40 mẫu nghiên cứu vẫn có ý về mặt thống kê, cỡ mẫu vẫn đại diện được cho người tiêu dùng tại quận Ninh Kiều thành phố Cần Thơ

2 Nhận biết thương hiệu sữa bột

2.1 Nhãn hiệu nghĩ đến đầu tiên 3

Trong nghiên cứu phần này bao gồm các câu hỏi: C5a, C5b, C5c Nhãn hiệu đầu tiên

mà người tiêu dùng nghĩ đến đóng vai trò quan trọng trong việc quyết định mua hàng của người tiêu dùng, nó đo lường hiệu quả của công tác truyền thông xây dựng thương hiệu của doanh nghiệp Một nhãn hiệu hằn sâu trong tâm trí của nhiều người điều đó chứng tỏ rằng hiệu quả công tác xây dựng thương hiệu của doanh nghiệp là rất cao Sự nhận biết nhãn hiệu là một phần của nhận biết thương hiệu

“ Khi nói đến sữa bột dành cho trẻ em, người tiêu dùng nghĩ đến nhãn hiệu nào đầu tiên? Họ biết nhãn hiệu đó thông qua các kênh truyền thông nào?”

Xét từng nhãn hiệu, kết quả nghiên cứu cho thấy nhãn hiệu người tiêu dùng nghĩ đến đầu tiên nhiều nhất là Dielac với 20% tổng số người người tiêu dùng được hỏi Nhãn hiệu được người tiêu dùng nghĩ đến đầu tiên thấp nhất là các nhãn hiệu Ensure và Peiaplus với 2,5 % Nhãn hiệu Nuti của Nutifood đứng thứ 2 với 15% vượt hơn cả nhãn hiệu cô gái Hà Lan ( 12,5%) chỉ đứng sau Dielac và đồng hạng với nhãn hiệu

2

Nhân viên văn phòng trong nghiên cứu được hiểu là những người làm việc trong cơ quan nhà nước, trong các công ty, xí nghiệp theo giờ hành chánh và những người làm việc trong cơ qua nhà nước, trong những công ty, trong những xí nghiệp mà làm việc không theo giờ hành chánh nhưng những đối tượng này thương có chức vụ trong cơ quan hoặc trình độ học vấn nhất định (trừ hai đối tượng là giáo viên và bác sĩ)

3

Trong phần này kỹ thuật phỏng vấn trong nghiên cứu là các phỏng vấn viên không sử dụng Showcard mà sử dụng phương pháp phỏng vấn viên hỏi và đáp viên trả lời bằng trí nhớ, bảng câu hỏi dùng trong phỏng vấn là câu hỏi mở, nhãn hiệu đáp viên trả lời đầu tiên sẽ được ghi vào phiếu điều tra

Trang 3

Abbott (15%) Các nhãn hiệu đầu tiên mà người tiêu dùng nghĩ đến tiếp theo là Dumex

và Fiso (chiếm 10%), Enfagrow với 7,5%, Gain IQ với 5%

lac

Dumex

Enf

agrow

Ens

ure

FrisoG

Hình 5.4 Biểu đồ thể hiện nhãn hiệu sữa người tiêu dùng nghĩ đến đầu tiên

Xét theo từng doanh nghiệp kết quả nghiên cứu sản phẩm của doanh nghiệp được người tiêu dùng nghĩ đến đầu tiên thể hiện qua biểu đồ hình 5.5

Dumex, 10%

Mead Johnson,

22.5%

Dutch Lady, 22.5%

Nutifood, 17.5%

Vinamilk, 20%

Hình 5.5 Biểu đồ thể hiện sản phẩm của doanh nghiệp nghĩ đến đầu tiên

Các sản phẩm của công ty Abbott và Dutch Lady được người tiêu dùng nghĩ đến nhiều nhất với 22,5%, tiếp đó là Vinamilk với 20%, Nutifood đứng hàng thứ 4 với 17,5%, Dumex 10% và Mead Johnson là 7,5% Xét theo nghề nghiệp, 41,7% những người nội trợ nghĩ đến Abbott đầu tiên, 25% trong số họ nghĩ đến các sản phẩm của Vinamilk đầu tiên, số còn lại nghĩ đến các sản phẩm của Dutch Lady và Dumex với 16,7% Đối với công nhân, 40% trong số họ sẽ nghĩ đến các sản phẩm của Dutch Lady, nghĩ đến sản phẩm của Vianmilk 40% còn lại là Abbott với 20% Với những người làm công việc văn phòng thì 33,3% họ nghĩ đến các sản phẩm của Nutifood, đồng mức 22,2% là các sản phẩm của Abbott và Mead Johnson, đồng mức 11,1% là các sản phẩm của Vinamilk và Dutch Lady Đối với giáo viên 37,5% trong số họ nghĩ đến các sản phẩm của Dutch Lady, các sản phẩm của Vinamilk và Nutifood dữ mức 25% và còn lại 12,5

% là sản phẩm của Abb

Trang 4

Hì nh 5.6 Bi ểu đồ thể hi ện sản phẩm của công ty được nghĩ đến

đầu ti ên phân theo nghề nghi ệp

giáo viên nhân viên văn phòng

Nội trợ Thợ uốn tóc

Chúng ta có thể thấy rằng những người có nghề nghiệp khác nhau thì khả năng hiểu biết cũng như nhận định vấn đề có thể khác nhau kết quả nghiên cứu cũng cho thấy với những nghề nghiệp khác nhau thì nhãn hiệu được người tiêu dùng nghĩ đến đầu tiên cũng khác nhau4

“Ngoài nhãn hiệu nghĩ đến đầu tiên, nhãn hiệu nào người tiêu dùng sẽ nghĩ đến tiếp theo?”

Kết quả nghiên cứu cho thấy nhãn hiệu cô gái Hà Lan được người tiêu dùng biết đến nhiều nhất với 27,5 % tổng số người tiêu dùng được hỏi, nhãn hiệu Nuti chỉ có 7,5 % người tiêu dùng nghĩ đến Ngoài ra, một số nhãn hiệu khác cũng được người tiêu dùng nghĩ đến như Dutch Lady, Milo, Uc Gold nhưng ở chỉ chiếm 2,5% tổng số người tiêu dùng được hỏi

Hình 5.7 nhãn hiệu nghĩ đến tiếp theo

lac

Dumex

dutc

h Lady

4

Kết quả Chi – Square = 0,073 Nhưng kiểm định D = 0,039 < 0,05

Trang 5

Bảng 5.1 Tỷ lệ sản phẩm của công ty được người tiêu dùng nghĩ đến tiếp theo

12,50

40,00 7,50

15,00 12,50 2,50

7,50 2,50

số người tiêu dùng được hỏi cho biết họ biết được các nhãn hiệu thông qua việc trưng bày tại các siêu thị, tập quán của người tiêu dùng Việt Nam có thói quen khi mua sắm thường xuyên tham khảo trao đổi ý kiến với người thân do đó thông tin truyền miệng, những lời tư vấn của người thân cũng đóng vai trò quan trọng trong việc nhận biết các nhãn hiệu, kết quả nghiên cứu cho thấy 15% người tiêu dùng cho biết họ biết các nhãn hiệu thông qua người thân

Hình 5.8 Biểu đồ thể hiện cơ cấu các hình thúc truyền thông

Bác sĩ, 7.5%

Báo chí, 12.5%

Người thân, 15%

5

Báo chí có tác động tới nhận biết nhãn hiệu sữa chủ yếu là các tạp chí dành cho phụ nữ như tiếp thị và gia đình, báo phụ nữ…

Trang 6

Bảng 5.2 Tác động của truyền thông theo nghề nghiệp

Người thân

Qua bảng 5.2 ta thấy TV có tác động hầu hết đến các người tiêu dùng có nghề nghiệp

khác nhau, trong khi đó kênh siêu thị tác động mạnh đến những người nhân viên văn

phòng, giáo viên và những người nội trợ Kênh báo chí và người thân lại tác động

mạnh đến những người buôn bán và công nhân Tuy nhiên chúng ta vẫn chưa đủ cơ sở

để có thể kết luận rằng những người có nghề nghiệp khác nhau thì chịu tác động của

các kênh truyền thông khác nhau

Tóm lại: khi nói đến nhãn hiệu sữa bột dành cho trẻ em thì những người có nghề

nghiệp khác nhau thì các thương hiệu được nghĩ đến khác nhau, nguồn thông tin tác

động đến sự nhận biết của họ rất đa dạng nhưng các công tác truyền thông trên TV và

truyền miệng chiếm ưu thế, điều này hoàn toàn phù hợp với kết quả nghiên cứu của

báo Sài Gòn tiếp thị.6 Do đó doanh nghiệp nên tập trung quảng bá thương hiệu thông

qua các công tác truyền thông để tác động đến người tiêu dùng đồng thời tận dụng

nguồn thông tin truyền miệng của người tiêu dùng dã biết đến hình ảnh thương hiệu

nhằm mở rộng độ phủ của hình ảnh thương hiệu đến với những người tiêu dùng khác

Bên cạnh đó sự nhận biết thông qua kênh truyền thông là bác sĩ chưa lớn nhưng hiệu

quả mang lại là rất cao vì đây là những người có trình độ chuyên cao do đó sự tư vấn

của họ dễ được người tiêu dùng tin tưởng Do đó doanh nghiệp cần tập trung khai thác

truyền thông thông qua kênh này

2.2 Hiện trạng sử dụng sữa bột dành cho trẻ em

10

5 15

2.5 0

Trang 7

Kết quả nghiên cứu cho thấy nhãn hiệu được người tiêu dùng sử dụng nhiều nhất là Dielac với 20% tổng số người người tiêu dùng được hỏi Nhãn hiệu được người tiêu dùng sử dụng ít nhất là các nhãn hiệu Ensure và Peiaplus với 2,5 % Nhãn hiệu Nuti của Nutifood 15% chỉ đứng sau Dielac và đồng tỷ lệ với nhãn hiệu Abbott (15%) và cô gái Hà Lan Bên cạnh các nhãn hiệu trên thì Các nhãn hiệu Dumex và Fiso cũng được

sử dụng nhiều (chiếm 10%), Enfagrow với 5%, Gain IQ với 5% Có điểm đáng chú ý

là 95% những nhãn hiệu mà người tiêu dùng đang sử dụng là những nhãn hiệu mà họ nghĩ đến đầu tiên Điều này chứng tỏ rằng nhãn hiệu được người tiêu dùng nghĩ đến đầu tiên có mối liên hệ chặt với quyết định mua hàng của họ7 những nhãn hiệu đó sẽ được ưu tiên trong việc lựa chọn Hiện nay một nhãn hiệu có nhiều dòng sản phẩm khác nhau8 nhưng phần lớn người tiêu dùng chỉ biết được mình đang sử dụng nhãn hiệu nào còn về cụ thể tên nhãn hiệu thì hầu như tiêu dùng không nghĩ đến do đó vai trò của người bán hàng rất quan trọng trong việc hướng dẫn người tiêu dụng lựa chọn sản phẩm

Xét theo thu nhập của gia đình: kết quả cho thấy 50% những gia đình có thu nhập từ 1 đến 2 triệu đồng mỗi tháng sử dụng Dielec số còn lại sử dụng Ensure, những gia đình

có thu nhập từ 2 đến 3 triệu thì sử dụng các sản phẩm Friso, Gian IQ Đối với những gia đình có thu nhập mỗi tháng từ 4 đến 5 triệu đồng thì sử dụng sản phẩm của Abbott chiếm ưu thế hơn với 42,9 % tiếp đó là các nhãn hiệu Nuti, cô gái Hà Lan, Dumex…với 14,3% tổng số người được hỏi Sản phẩm Nuti được đa số những gia đình có thu nhập mỗi tháng từ 5 đến 7 triệu sử dụng với 30,8%, ở nhóm người này, bên cạnh nhãn hiệu Nuti là các sản phẩm của Vinamilk, Dutch Lady cũng được họ sử dụng cao với 23,1% Các nhãn hiệu như Abbott, Enfagrow, Dumex được họ sử dụng

ít hơn chỉ chiếm 7,7% Điều này chứng tỏ rằng những người tiêu dùng có thói quen sử dụng sữa ngoại đang chuyển hướng sang các mặt hàng sữa nội vì qua các phương tiện thông tin đại chúng họ đã nhận định được chất lượng sữa nội và ngoại là như nhau9 Tuy nhiên đối với những gia đình có thu nhập từ 7 triệu đồng/tháng thì các nhãn hiệu sữa ngoại vẫn là sự lựa chọn của họ

Kết luận của nghiên cứu phân tích nhu cầu tiêu thụ sữa của trung tâm khách hàng công ty cổ phần sữa Quốc Tế,

dẫn theo “sữa nội sẽ là lựa chọn của người tiêu dùng”tại địa chỉ

http://dantri.com.vnc83s83-312462sua-noi-se-la-su-lua-chon-cua-nguoi-tieu-dung.htm.htm

Trang 8

Hình 5.10 Nhãn hiệu sử dụng xét theo thu nhập

Nutifood Dutch Lady Abbott Mead Johnson Dumex Vinamilk

Như vậy, người tiêu dùng sử dụng sữa cho trẻ rất đa dạng về các loại nhãn hiệu Trái với ý nghĩ thông thường cho rằng thu nhập của gia đình có ảnh hưởng đến việc chọn nhãn hiệu sữa của người tiêu dùng, những gia đình có thu nhập cao thường sử dụng các nhãn hiệu đắt tiền, kết quả nghiên cứu cho thấy chúng ta vẫn chưa có đủ bằng chứng để loại bỏ giả thiết thu nhập của gia đình không có liên hệ đến việc lựa chọn sữa10 Nguyên nhân hiện nay do đa số người tiêu dùng đã ý thức rằng đầu tư sữa cho con cái là điều tốt nhất để đầu tư tương lai cho chúng do đó họ bất chấp khả năng về kinh tế

Nhận biết doanh nghiệp là một thành phần trong nhận biết thương hiệu nhưng

người tiêu dùng sử dụng sữa cho trẻ da dạng như vậy một câu hỏi đặt ra là “người tiêu dùng có biết nhãn hiệu họ đang sử dụng thuộc doanh nghiệp nào, doanh nghiệp đó

là doanh nghiệp trong nước hay nước ngoài 11 ?” trong khi hiện nay có rất nhiều doanh nghiệp kinh doanh mặt hàng này và mỗi doanh nghiệp có rất nhiều nhãn hiệu

Nhận biết công ty loại hình công ty

Kết quả nghiên cứu cho thấy 79% người tiêu dùng hoàn toàn có thể biết được nhãn hiệu của họ đang dùng thuộc công ty nào, chỉ có 13% số người tiêu dùng không biết

Trang 9

công ty nào đang sở hữu nhãn hiệu họ sử và 8% người tiêu đùng đoán sai công ty sở hữu nhãn hiệu đó, đây là một điều đáng mừng cho các công ty sữa Nhóm khách hàng đoán sai công ty hoặc không biết nhãn hiệu họ sử dụng sữa chủ yếu là những người làm nghề nội trợ, công nhân và buôn bán nhỏ, không có trường hợp nào là nhân viên van phòng, một số một vài trong số họ cho rằng nhãn hiệu cô gái Hà Lan là một sản phẩm của Vinamilk Kết quả nghiên cứu đã khảng định rằng công tác xây dựng và quản trị thương hiệu công ty đang được các doanh nghiệp thực hiện rất tốt cùng với công tác xây thương hiệu nhãn hiệu sản phẩm

Bảng 5.3 Nhận biết công ty theo nghề nghiệp

Về loại hình doanh nghiệp, phần lớn người tiêu dùng biết được sản phẩm họ đang

sử dụng là sản phẩm trong nước hay sản phẩm nước ngoài (kết quả chiếm 85% tổng số người tiêu dùng được hỏi) chỉ có một phần nhỏ người tiêu dùng đoán sai về loại hình doanh nghiệp12 ( số đối tượng này chiếm 15% tổng số người được hỏi) chủ yếu là những người làm nghề nội trợ hoạch công nhân Mặc dù tâm lý sướng ngoại cho rằng sản phẩm ngoại mới có chất lượng tốt hơn hàng nội đã đang dần được thay đổi nhưng chưa triệt để do đó còn một vài đối tượng sử dụng các loại sữa nội như Nuti, Peiaplus của Nutifood nhưng lại cho rằng nhãn hiệu đó là của các doanh nghiệp nước ngoài

Kết luận: đa số người tiêu dùng đều biết được công ty của nhãn hiệu họ đang sử dụng

và loại hình của doanh nghiệp đó Tuy nhiên vẫn còn một số ít người tiêu dùng không biết hoặc nhận biết sai Những người có nghề nghiệp khác nhau thì nhận biết của họ cũng khác nhau

Thời gian sử dụng

Với nhãn hiệu sữa đang sử dụng 37,5% người tiêu dùng cho biết họ đã sử dụng nhãn hiệu đó trên 6 tháng, 17,5 cho biết họ mới sử dụng 2 tuần đến 1 tháng 12,5 người tiêu dùng đã sử dụng được 4 đến 5 tháng Chỉ có 2,5% số lượng người tiêu dùng sử dụng nhãn hiệu hiện tại chưa được 2 tuần, nguyên nhân này được họ giải thích là do họ chỉ

sử dụng sản phẩm nhằm mục đích thay đổi khẩu vị cho trẻ sau đó sẽ sử dụng lại sản phẩm ban đầu

12

Trong nghiên cứu này loại hình doanh nghiệp được hiểu là doanh nghiệp trong nước hoặc doanh nghiệp nước ngoài

Trang 10

Hình 5.12 Biểu đồ thể hiện thời gian sử dụng nhãn

hiệu đang dùng

> 6 tháng, 37.5%

5 - 6 tháng, 2.5% 4 - 5 tháng,

12.5%

< 2 tuần, 2.5%

2 tuần - 1 tháng, 17.5%

3 - 4 tháng, 7.5%

2 - 3 tháng, 10%

1 - 2 tháng, 10%

Bảng 5.4 Thời gian sử dụng theo nhãn hiệu đang dùng

< 2 tuan

2 t- 1

th

1 - 2 thang

2 - 3 thang

3 - 4 thang

4 - 5 thang

5 - 6 thang

> 6 thang Tổng

Trang 11

Như vậy, thời gian sử dụng sản phẩm của người tiêu dùng có mối quan hệ với độ tuổi của trẻ nhỏ nhất trong gia đình Độ tuổi của trẻ nhỏ nhất càng cao thì thời gian sử dụng nhãn hiệu đang dùng càng lâu Với kết quả trên chúng ta có thể thấy rằng đối với mặt hàng sữa bột dành cho trẻ em, người tiêu dùng rất ít khi thay đổi nhãn hiệu trong mua sắm kết quả nghiên cứu cũng cho thấy có tới 77,5% số người được hỏi cho biết họ vẫn tiếp tục sử dụng nhãn hiệu mà họ đang sử dụng chỉ có 22,5% cho rằng họ sẽ chuyển sang sử dụng nhãn hiệu khác khi bé sử dụng hết sản phẩm dở dang Giả thích cho việc không tiếp tục sử dụng nhãn hiệu đang dùng, người tiêu dùng đưa ra 3 nguyên nhân chính là: người tiêu dùng cho rằng giá nhãn hiệu họ đang sử dụng là quá cao13(55,6%), nhãn hiệu họ đang sử dụng có chất lượng không tốt14 ( 33,3%), và nguyên nhân cuối cùng là do trẻ không thích uống loại sữa đó (11,3%) Xét theo thời gian đã

sử dụng nhãn hiệu, kết quả nghiên cứu cho thấy chỉ có chỉ có những trường hợp sử dụng sản phẩm dưới 2 tháng mới cho biết họ sẽ ngưng không sử dụng nữa và chuyển sang sử dụng nhãn hiệu khác

100% 2%

71.4%

25%

75%

100% 100% 100% 100% 100%

Các nhãn hiệu đã từng sử dụng trước đây

Có 17,5% người tiêu dùng cho biết từ trước đến nay họ chỉ sử dụng một loại sữa duy nhất, 82,5% cho biết họ đã từng thay đổi nhãn hiệu cho trẻ Nhãn hiệu mà trước đây họ đã từng sử dụng được thể hiện qua biểu đồ hình 5.15:

Hình 5.15 Biểu đồ các nhãn hiệu trước đây đã từng sử dụng

co gai Ha Lan, 15.2%

Trang 12

Cũng giống như nhãn hiệu họ đang sử dụng, nhãn hiệu trước đây họ đã từng sử dụng rất đa dạng Kết quả nghiên cứu cho thấy nhãn hiệu Dielac của Vinamlk vẫn đẫn đầu trong cơ cấu các nhãn hiệu với 27,3% tổng số người tiêu dùng đã từng thay đổi nhãn hiệu Tiếp theo đó là các nhãn hiệu Nuti (21,2%), cô gái Hà Lan (15,2%), Enfagrow và Dumex (12,1%), Abbott (6,1%) và cuối cùng là Uc Gold và Gain IQ (3%)

Với những sản phẩm đã từng sử dụng khi được hỏi có ý định sử dụng lại các sản phẩm này hay không? Có 64% ý kiến cho biết họ sẽ không sử dụng lại nhãn hiệu đó và 26%

ý kiến cho rằng có thể họ sẽ sử dụng lại Người tiêu dùng cũng cho biết họ không sử dụng lại các nhãn hiệu đó với các lý do: sử dụng nhãn hiệu đó trẻ không thích 37%, trẻ chậm phát triển 24%, giá sản phẩm cũ quá cao 19%, bênh cạnh đó còn các nguyên nhân khác như sản phẩm không tốt, bé chậm tăng cân, chậm phát triển chiều cao, mùi

vị sản phẩm không ngon ( chiếm 5% trong tổng số các nguyên nhân)

Hình 5.16 Biểu đồ thể hiện lý do không tiếp tục sử dụng

be tang can cham 5%

gia qua cao 19%

san pham khong ngon 5%

san pham khong tot 5%

cham phat trien chieu cao 5%

be khong thich 37%

be cham phat trien 24%

Song Song với các nguyên nhân dẫn đến việc người tiêu dùng không muốn sử dụng lại các nhãn hiệu trước đây đã sử dụng, nhóm đối tượng cho biết họ sãn sàng sử dụng lại đưa các lý do: Giá cả phù hợp hơn nhãn hiệu đang sử dụng 42%, chất lượng các sản phẩm đó tốt hơn sản phẩm đang sử dụng (25%), phù hợp với khẩu vị của trẻ hơn ( 17%), bé tăng cân nhanh hơn sản phẩm hiện tại (8%), và 8% cho rằng họ muốn sử dụng lại sản phẩm cũ vì lý do muốn thay đổi qua lại gữa các loại sản phẩm

Hình 5.17 Biểu đồ thể hiện lý do sử dụng lại nhãn hiệu

gia phu hop 42%

chat luong tot 25%

be tang can nhanh 8%

thay doi qua lai giua cac loai 8%

hop voi khau vi tre 17%

Ngày đăng: 07/01/2016, 13:21

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 5.4 Biểu đồ thể hiện nhãn hiệu sữa người tiêu dùng nghĩ đến đầu tiên - Sự nhận biết và mức độ trung thành đối với thương hiệu Nutifood của người tiêu dùng quận Ninh Kiều TP.Cần Thơ
Hình 5.4 Biểu đồ thể hiện nhãn hiệu sữa người tiêu dùng nghĩ đến đầu tiên (Trang 3)
Hình 5.7 nhãn hiệu nghĩ đến tiếp theo - Sự nhận biết và mức độ trung thành đối với thương hiệu Nutifood của người tiêu dùng quận Ninh Kiều TP.Cần Thơ
Hình 5.7 nhãn hiệu nghĩ đến tiếp theo (Trang 4)
Bảng 5.1 Tỷ lệ sản phẩm của công ty được người tiêu dùng nghĩ đến tiếp theo - Sự nhận biết và mức độ trung thành đối với thương hiệu Nutifood của người tiêu dùng quận Ninh Kiều TP.Cần Thơ
Bảng 5.1 Tỷ lệ sản phẩm của công ty được người tiêu dùng nghĩ đến tiếp theo (Trang 5)
Hình 5.10 Nhãn hiệu sử dụng xét theo thu nhập - Sự nhận biết và mức độ trung thành đối với thương hiệu Nutifood của người tiêu dùng quận Ninh Kiều TP.Cần Thơ
Hình 5.10 Nhãn hiệu sử dụng xét theo thu nhập (Trang 8)
Hình 5.13 Biểu đồ thể hiện thời gian sử dụng theo tuổi của trẻ - Sự nhận biết và mức độ trung thành đối với thương hiệu Nutifood của người tiêu dùng quận Ninh Kiều TP.Cần Thơ
Hình 5.13 Biểu đồ thể hiện thời gian sử dụng theo tuổi của trẻ (Trang 10)
Hình 5.14 Biểu đồ thể hiện mức tiếp tục sử dụng theo thời - Sự nhận biết và mức độ trung thành đối với thương hiệu Nutifood của người tiêu dùng quận Ninh Kiều TP.Cần Thơ
Hình 5.14 Biểu đồ thể hiện mức tiếp tục sử dụng theo thời (Trang 11)
Hình 5.17 Biểu đồ thể hiện lý do sử dụng lại nhãn hiệu - Sự nhận biết và mức độ trung thành đối với thương hiệu Nutifood của người tiêu dùng quận Ninh Kiều TP.Cần Thơ
Hình 5.17 Biểu đồ thể hiện lý do sử dụng lại nhãn hiệu (Trang 12)
Hình 5.16 Biểu đồ thể hiện lý do không tiếp tục sử dụng - Sự nhận biết và mức độ trung thành đối với thương hiệu Nutifood của người tiêu dùng quận Ninh Kiều TP.Cần Thơ
Hình 5.16 Biểu đồ thể hiện lý do không tiếp tục sử dụng (Trang 12)
Hình 5.21 Biểu đồ sự nhận biết công ty theo nghề nghiệp đáp viên - Sự nhận biết và mức độ trung thành đối với thương hiệu Nutifood của người tiêu dùng quận Ninh Kiều TP.Cần Thơ
Hình 5.21 Biểu đồ sự nhận biết công ty theo nghề nghiệp đáp viên (Trang 15)
Hình 5.23 Biểu đồ thể hiện ấn tượng khi nói đến Nutifood - Sự nhận biết và mức độ trung thành đối với thương hiệu Nutifood của người tiêu dùng quận Ninh Kiều TP.Cần Thơ
Hình 5.23 Biểu đồ thể hiện ấn tượng khi nói đến Nutifood (Trang 16)
Hình 5.24 Biểu đồ thể hiện mức độ yêu thích theo thu nhập - Sự nhận biết và mức độ trung thành đối với thương hiệu Nutifood của người tiêu dùng quận Ninh Kiều TP.Cần Thơ
Hình 5.24 Biểu đồ thể hiện mức độ yêu thích theo thu nhập (Trang 17)
Hình 5.25 Biể u đồ thể  hiện xu hướng tiêu dùng thương - Sự nhận biết và mức độ trung thành đối với thương hiệu Nutifood của người tiêu dùng quận Ninh Kiều TP.Cần Thơ
Hình 5.25 Biể u đồ thể hiện xu hướng tiêu dùng thương (Trang 19)
Hình 5. 26 Biểu đồ cảm nhận chất lượng sản phẩm Nutifood - Sự nhận biết và mức độ trung thành đối với thương hiệu Nutifood của người tiêu dùng quận Ninh Kiều TP.Cần Thơ
Hình 5. 26 Biểu đồ cảm nhận chất lượng sản phẩm Nutifood (Trang 20)
Hình 5.28 Biểu đồ cảm nhận chất lượng giá - Sự nhận biết và mức độ trung thành đối với thương hiệu Nutifood của người tiêu dùng quận Ninh Kiều TP.Cần Thơ
Hình 5.28 Biểu đồ cảm nhận chất lượng giá (Trang 21)
Hình 5.31 Biểu đồ thể hiện lòng trung thành trong sử dụng sản phẩm - Sự nhận biết và mức độ trung thành đối với thương hiệu Nutifood của người tiêu dùng quận Ninh Kiều TP.Cần Thơ
Hình 5.31 Biểu đồ thể hiện lòng trung thành trong sử dụng sản phẩm (Trang 23)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w