Trao đổi chất và năng lượng là quá trình sinh hóa quan trọng để vi sinh vật có thể sinh trưởng và phát triển. - Quá trình chuyển hóa glucid - Quá trình chuyển hóa protein - Quá trình chuyển hóa lipid Đây là các quá trình chuyển hóa có sự ảnh hưởng lớn đến vòng tuần hoàn vật chất trong tự nhiên và những quá trình này được ứng dụng trong hàng loạt ngành sản xuất cũng như làm cơ sở khoa học để chọn các phương pháp bảo quản và chế biến thực phẩm.
Trang 1CÁC QUÁ TRÌNH VI SINH QUAN TRỌNG
TRONG CHẾ BIẾN VÀ BẢO QUẢN
THỰC PHẨM
Bài giảng
Trang 2LỜI NÓI ĐẦU
Trao đổi chất và năng lượng là quá trình sinh hóa quan trọng để vi sinh vật có thể sinh trưởng và phát triển.
- Quá trình chuyển hóa glucid
- Quá trình chuyển hóa protein
- Quá trình chuyển hóa lipid
Đây là các quá trình chuyển hóa có sự ảnh hưởng lớn đến vòng tuần hoàn vật chất trong tự nhiên và những quá trình này được ứng dụng trong hàng loạt ngành sản xuất cũng như làm cơ sở khoa học để chọn các phương pháp bảo quản và chế biến thực phẩm.
Trang 3QUÁ TRÌNH CHUYỂN HÓA
GLUCID
Trang 4Các con đường chuyển hóa glucid
Glucose
Ribulose-5-phosphate
Con đường Pentose phosphate
Fructose-6-phosphate 6-phosphogluconate
3-phosphoglyceraldehyde
Pyruvate
Chu trình TCA
Lên men
6-phosphogluconate 6-phosphogluconate
Trang 5 Theo con đường đường phân vi sinh vật sẽ chuyển hóa glucose thành pyruvate và năng lượng dự trử ATP.
Pyruvate tiếp tục được các vi sinh vật chuyển hóa theo
2 con đường: hiếu khí và kỵ khí.
- Nếu vi sinh vật hoạt động trong điều kiện hiếu khí thì pyruvate sẽ bị oxi hóa hoàn toàn theo chu trình TCA thành CO2 và H2O
- Nếu vi sinh vật hoạt động trong điều kiện kỵ khí thì pyruvate sẽ được chuyển hóa theo con đường lên men và tạo ra các sản phẩm khác nhau.
Trang 6Như vậy quá trình nào có ý nghĩa quan trọng trong
thực phẩm?
1 Quá trình oxy hóa?
2 Quá trình lên men?
Trang 7Lên men là gì?
Lên men là quá trình chuyển hóa vật chất hữu cơ, mà chủ yếu là cacbonhydrate dưới tác dụng của vi sinh vật trong điều kiện không có oxy để thu nhận năng lượng
Lên men là quá trình mà vi sinh vật có thể làm biến đổi chất lượng và đặc điểm cảm quan của thực phẩm.
Lên men thực phẩm: là công nghệ sử dụng vi sinh vật
để cải tiến chất lượng thực phẩm trong quá trình sản xuất cũng như trong bảo quản.
Trang 8Kết quả của các quá trình lên men thực phẩm là gì?
- Tạo ra các thực phẩm lên men đặc trưng riêng.
- Làm biến đổi sản phẩm thực phẩm về thành phần, giá trị dinh dưỡng, cảm quan, gia tăng giá trị hấp thụ, độ
an toàn và thời gian sử dụng…
- Giảm pH môi trường thực phẩm từ đó tiêu diệt hoặc ức chế vi khuẩn gây hại bệnh hoặc hư hỏng thực phẩm.
- Tạo ra một số chất ức chế vi khuẩn như: diaxetyl, hydroperoxyde, acetaldehyde và đặc biệt là bacterriocin.
Trang 9Tác nhân lên men
Không chỉ nấm men và vi khuẩn, mà cả nấm nói chung, nấm mốc nói riêng cũng là những tác nhân của quá trình lên men, tạo ra các sản phẩm lên men, thực phẩm lên men rất đặc biệt, khác nhau
Trang 10CÁC QUÁ TRÌNH LÊN MEN
Trang 111.1 Lên men ethanol
Định nghĩa:
Dưới tác dụng của một số loài vi sinh vật trong điều kiện yếm khí, đường glucose được chuyển hóa thành ethanol và khí cacbonic đồng thời giải phóng năng lượng Quá trình này gọi là quá trình lên men ethanol hay lên men rượu.
Trong tất cả các quá trình chuyển hóa glucid do vi sinh vật gây ra, sự lên men rượu được ứng dụng rộng rãi nhất trong công nghiệp thực phẩm, ứng dụng này đã có từ thời xưa sơ bộ để sản xuất rượu vang, bia và các nước uống giải khát lên men khác.
Trang 12Cơ chế lên men rượu
Phương trình tổng quát:
C6H12O6 + 2(P) + 2ADP = 2C2H5OH + 2CO2↑ + 2ATP (glucoza) (rượu etylic)
Hình 1 Quá trình chuyển hóa glucose thành rượu etylic
Trang 13Cơ chế lên men rượu
Đường và các chất dinh dưỡng khác của môi trường lên men, trước tiên được hấp thụ trên bề mặt và sau đó khuếch tán qua màng bán thấm và vào bên trong tế bào nấm men.
Sự phân hủy đường thành rượu trong tế bào nấm men xảy
ra bằng hàng loạt các phản ứng với sự tham gia rất phức tạp của nhiều loại enzyme khác nhau, bước cuối cùng của quá trình lên men là sự chuyển hóa axit pyruvic thành rượu etylic
và khí CO2.
Ngoài sản phẩm chính là ethanol thì quá trình lên men rượu còn ra nhiều sản phẩm phụ khác nhau như: glyxerin, aldehyt axetic, các axit xucsinic, axetic, lactic và xitric, các este và rượu bậc cao.
Trang 14Các giai đoạn lên men rượu
Nếu cơ chất là sản phẩm phức tạp khác nhau như tinh bột, xenlulose thì quá trình sẽ có hai giai đoạn.
- Giai đoạn đầu: vi sinh vật sẽ phân giải các hợp chất
hữu cơ phức tạp này thành dịch đường đơn.
- Giai đoạn hai: lên men đường thành rượu.
Điều kiện lên men rượu:
- pH lên men pH= 4-6
- Nhiệt độ lên men 3-45oC Nếu lên men dưới 10oC thì
là lên men lạnh, trên 10oC thì gọi là lên men nóng.
Trang 15Các thời kỳ lên men rượu
- Thời kỳ cảm ứng:
Lượng acetaldehyt (CH3CH=O) được tạo thành còn ít
Ion H+ được chuyển từ NADH2 đến glyxeraldehyt-3-photphat để tạo thành glyxerin-3-photphat
Sau đó glyxerin-3-photphat bị khử gốc photphat để tạo thành glyxerin
Phương trình tổng quát:
NADH2 NAD+
Glyxeracetaldehyt–3–photphat Glyxeryl–3–photphat
Glyxeryl
- P
Trang 16Thời kỳ tỉnh
Khi lượng acetaldehyt (CH3CH=O) tạo thành đạt được một lượng nhất định, Axetaldehyt bị khử tạo thành rượu etylic.
Glyxerin chỉ được tạo thành từ thời kỳ cảm ứng do đó nó chỉ là sản phẩm phụ trong khi lên men trong môi trường axit.
Phương trình tổng quát của quá trình này như sau:
C6H12O6 + 2(P) + 2ADP = 2C2H5OH + 2CO2 + 2ATP
Trang 17Nếu tiến hành kiềm hoá môi trường bằng Na2CO3, K2CO3 hay (NH4)2CO3 thì axetaldehyt vừa bị khử vừa bị oxi hoá, vì vậy chất nhận H2 từ NADH là glyxeraldehit 3-photphat và kết quả sẽ tạo thành glyxerin.
Như vậy trong môi trường kiềm ta thu được glyxerin, axit axetic
Trang 18Sản phẩm lên men rượu
Theo M Larpent – Gougaud và cộng sự (1992) thì tỷ lệ về
sản phẩm lý thuyết quá trình lên men rượu như sau:
STT Sản phẩm lên men Tỷ lệ %
Trang 19Nguồn nguyên liệu lên men rượu
Một số dạng nguyên liệu chính như sau:
- Nguyên liệu chứa tinh bột: bao gồm nhiều loại chứa tinh bột khác nhau như hạt ngũ cốc, các loại củ
- Nguyên liệu chứa đường: Các loại trái cây chín, mật rỉ đường.
- Nguyên liệu chứa cellulose: Các nguyên liệu có cellulose đều có khả năng lên men rượu.
Trang 20Nguồn vi sinh vật lên men rượu
1 Nấm men
Nấm men là tác nhân cơ bản gây nên quá trình lên men rượu, tuy nhiên không phải loài nào cũng lên men đường thành rượu được mà chỉ có một số loài có khả năng này.
Trong sản xuất hiện nay người ta thường dùng một
số loài thuộc họ Saccharomycesaceae.
Theo đặc tính lên men người ta chia nấm men thành hai nhóm:
- Nấm men lên men nổi
- Nấm men lên men chìm.
Trang 21Nấm men lên men nổi:
Là những nấm men có cường lực lên men rất nhanh và mạnh
Nhiệt độ thích hợp cho nấm men này sinh trưởng từ 20
÷ 28oC, có tốc độ lên men rất lớn, lượng đường tiêu thụ rất nhiều
Do sinh ra nhiều khí CO2 nên các tế bào nấm men ở dưới sẽ theo CO2 nổi lên trên bề mặt, vì vậy nấm men hoạt động mạnh hơn và lên men cả các phân tử đường trên bề mặt
Người ta thường sử dụng để sản xuất cồn và bánh mì
Tiêu biểu là loài Saccharomyces cerevisiae
Trang 22Nấm men lên men chìm:
Là những nấm men có cường lực lên men yếu, nhiệt độ thích hợp từ 5 ÷ 10oC
Trong quá trình lên men lượng khí CO2 tạo ra ít và do nhiệt độ thấp nên nó được giữ lại trong dung dịch lên men.
Nấm men tiếp xúc ít và sau khi lên men chúng tạo thành váng cặn dưới đáy thùng
Quá trình lên men chậm và xảy ra từ từ
Nấm men chìm thường dùng trong sản xuất bia, rượu
vang, sâmpanh Tiêu biểu là loài Saccharomyces
ellipsoideus
Trang 232 Nấm mốc
Nếu sản xuất rượu từ tinh bột thì chúng ta phải qua bước đường hoá tức là giai đoạn chuyển tinh bột thành đường Ngày nay người ta thường sử dụng nấm mốc cho giai đoạn này.
Nấm mốc là nguồn giàu enzyme amylase để chuyển tinh bột thành đường.
Hiện nay người ta thường sử dụng một số loài nấm mốc sau:
- Aspergillus oryzae
- Aspergillus usamii
- Aspergillus awamori
- Mucor rouxii
Trang 24- Aspergillus oryzae: là nấm mốc có màu vàng, bào tử hở Đặc điểm của nó là có hệ enzyme amilase và protease Được sử dụng rộng rãi trong sản xuất tương và nước chấm.
- Aspergillus usamii: là nấm mốc có màu xám trắng, rất giàu enzyme amylase Được sử dụng rất rộng rãi trong công nghiệp sản xuất rượu
- Aspergillus awamori: là nấm mốc có màu xám đen giàu enzyme amylase Được ứng dụng rất rộng rãi trong công nghiệp sản xuất rượu
- Mucor rouxii: thường có màu xám trắng, được sử dụng rộng rãi trong các nhà máy rượu sản xuất theo phương pháp amilo
Khác với cả 3 loài trên phải nuôi cấy trên môi trường đặc, Mucor
phát triển tốt trong môi trường lỏng và tạo nhiều enzyme amylase
Trang 253 Vi khuẩn
Một số vi khuẩn kỵ khí và hiếu khí tùy tiện có khả năng lên men
chuyển hóa đường thành rượu như: Sasina ventriculi, Zymononas
mobylis Ngoài ra còn có vi khuẩn lactic dị hình, vi khuẩn đường
ruột hay Clostridium cũng có khả năng lên men đường thành rượu
Thường người ta sử dụng vi khuẩn Thermobacterium cereale và
vi khuẩn Denbrue.
Trang 26Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình lên men
Trong sản xuất ngoài việc lựa chọn chủng nấm men còn phải nghiên cứu tạo điều kiện thích hợp nhất để đạt hiệu suất lên men cao.
a Đường và nồng độ đường
Tất cả nấm men chỉ có khả năng lên men các đường đơn giản như đường đơn (glucose, fructose) và đường đôi (maltose, saccarose) riêng đường lactose chỉ có nấm men
Saccharomyces lactic sử dụng được
Nấm men hoàn toàn không có khả năng thủy phân các loại đường đa.
Trang 27Nồng độ đường:
Nồng độ đường thích hợp nhất cho quá trình lên men rượu từ 8 ÷ 20% Khi nồng độ đường lớn hơn 30% sẽ ức chế quá trình lên men rượu
Trong sản xuất cồn người ta sử dụng nồng độ đường từ 14 ÷ 20%, quá trình lên men xảy ra mạnh và hết lượng đường sau đó người ta chưng cất để thu cồn
Đối với việc sản xuất rượu vang người ta sử dụng nồng độ đường từ 16 ÷ 25% và dùng nấm men chìm, nên quá trình lên men chậm
và sau khi lên men vẫn còn một lượng đường trong rượu vì vậy rượu vang thường có vị ngọt
Còn trong sản xuất bia thường dùng nồng độ đường từ 9 ÷ 12%
Trang 28b Oxy
Nấm men là loại vi sinh vật hô hấp tùy tiện Trong điều kiện hiếu khí với sự có mặt của oxy sẽ xảy ra phương trình phản ứng sau:
C6H12O6 + 6O2 6H2O+ 6CO2 + Q1 → gia tăng sinh khối Chỉ trong điều kiện yếm khí nó mới tiến hành lên men rượu theo phương trình:
C6H12O6 2C2H5OH + 2CO2 + Q2
Vì vậy khi có mặt của oxy sẽ kiềm hãm quá trình lên men rượu
Hiệu ứng Pasteur: là sự ức chế quá trình lên men rượu khi có
mặt của oxy Sự chuyển từ lên men sang hô hấp ngoài việc giảm hiệu suất tạo thành rượu và khí cacbonic còn giảm hiệu suất sử dụng đường
Trang 29độ cồn quá cao sẽ ức chế tất cả các nấm men
Khả năng chịu cồn của nấm men là nồng độ cồn ức chế sự phát triển và hoạt động của nấm men sau 72 giờ nuôi cấy ở nhiệt độ 30oC.
Tuỳ theo khả năng chịu được nồng độ cồn khác nhau
mà người ta sản xuất ra các sản phẩm khác nhau.
Trang 30d Độ pH
Độ pH môi trường có ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình lên men rượu Tuỳ thuộc vào sản phẩm thu được mà người ta điều chỉnh pH môi trường cho thích hợp
- pH môi trường axit thì sản phẩm thu được là rượu etylic
- pH môi trường axit yếu thì sản phẩm thu được là rượu etylic và glyxerin
- pH môi trường kiềm yếu thì sản phẩm thu được là rượu etylic, axit axetic và glyxerin
Bình thường lên men rượu được thực hiện ở pH= 4 ÷ 4,5 Để axit hóa môi trường người ta thường dùng H2SO4 hoặc axit lactic để tạo
pH thích hợp bằng cách cấy vi khuẩn lactic vào sau đó thanh trùng rồi mới cấy nấm men vào
Trang 31- Nấm men chìm nhiệt độ thích hợp từ 5 ÷ 10oC
Ngoài ra khi nhiệt độ từ 28 ÷ 30oC thì rượu bay hơi làm cho quá trình lên men xảy ra nhanh hơn
Trang 32ỨNG DỤNG QUÁ TRÌNH LÊN MEN RƯỢU
TRONG THỰC PHẨM
Trang 331 Sản xuất rượu
Nguồn nguyên liệu:
Sản xuất từ các nguyên liệu chứa tinh bột như gạo, sắn, ngô… Người ta thuỷ phân tinh bột thành đường bằng axit, kiềm hay enzyme sau đó lên men đường thành rượu nhờ nấm men
Sản xuất từ nguyên liệu rỉ đường thường có từ 35 ÷ 40% là đường Trước khi lên men phải pha loãng xuống từ 14 ÷ 20%
Người ta có thể sử dụng đường sữa là nước thải của công nghiệp sản xuất phomat Nguyên liệu này chứa nhiều đường lactose nên
phải dùng nấm men Saccharomyces lactis.
Sản xuất từ nước thải nhà máy giấy, nguyên liệu này chứa nhiều cenlulose, hemi cenlulose, dextrin Trước khi lên men phải thuỷ phân chúng thành đường
Trang 34Các phương pháp sản xuất rượu
Nếu đi từ nguyên liệu là tinh bột thì tuỳ theo cách sử dụng nấm mốc để thuỷ phân tinh bột thành đường mà phương pháp sản xuất rượu có thể chia làm 3 cách.
- Phương pháp Amylo:
Thuỷ phân tinh bột bằng enzyme amylase của nấm mốc
Mucor hay Rhizopus
Sau 24h thuỷ phân thì cho nấm men vào, hai quá trình đường hoá và lên men rượu được diễn ra song song.
Sau 3 ngày nấm mốc sẽ bị chết vì nồng độ rượu tăng cao, sau 7 ngày thì quá trình lên men kết thúc.
Trang 35- Phương pháp Mycos-Malt:
Thuỷ phân tinh bột bằng enzyme amylase của nấm mốc
Aspergillus niger hay Aspergillus oryzea dưới dạng malt.
Malt là các bào tử nấm mộc được nuôi trong điều kiện sau: môi trường cám và thức ăn vô cơ có pH 4-5 và độ ẩm 55%, nhiệt
Trang 36Phương pháp men thuốc bắc:
Men thuốc bắc là một chế phẩm có môi trường cơ bản là tinh bột, bài thuốc cái và men gốc (bao gồm hai hệ vi sinh vật cộng sinh với nhau)
Quá trình sản xuất rượu theo phương pháp này được tóm tắt như sau:
Rượu sản xuất theo phương pháp này có tính chất thủ công với qui mô hộ gia đình
Rượu sau khi chưng cất còn được gọi là rượu gạo có mùi vi thơm ngon nhưng độ tinh khiết không cao và còn lẫn nhiều tạp chất như aldehit nên thường làm cho người uống bị đau đầu
Nguyên liệu tinh bột đem nấu chín cấy men thuốc bắc
Đường hoá rượu hoá cất rượu.
Trang 372 Sản xuất bia
Bia là đồ uống có giá trị dinh dưỡng cao nhờ chứa nhiều chất đạm dễ hấp thụ, chứa acid amin như Valin và phenylalamin, các vitamin B1, B2, PP và nhiều chất khác.
Bia có độ rượu nhẹ từ 4 ÷ 5%, có vị đắng dễ chịu của hoa hublong.
Nguồn nguyên liệu:
Nguồn nguyên liệu chính để sản xuất bia là malt đại mạch, cao hoa hublong và nước
Trong malt có sẵn enzyme amilase để thuỷ phân tinh bột thành đường cung cấp cho quá trình lên men.
Trang 38
2 Sản xuất bia
Bia là đồ uống có giá trị dinh dưỡng cao nhờ chứa nhiều chất đạm
dễ hấp thụ, chứa acid amin như Valin và phenylalamin, các vitamin B1, B2, PP và nhiều chất khác
Bia có độ rượu nhẹ từ 4 ÷ 5%, có vị đắng dễ chịu của hoa hublong
Nguồn nguyên liệu:
- Malt: là tên gọi chung của các hạt ngũ cốc đã nảy mầm như: đại
mạch, tiểu mạch, lúa mì Trong sản xuất bia người ta dùng đại mạch
Trong malt có sẵn enzyme amilase để thuỷ phân tinh bột thành đường cung cấp cho quá trình lên men
- Hoa huplong: chứa các chất tạo vị đắng, tăng khả năng tạo bọt và
độ bền bọt cho bia Ngoài ra tanin trong hoa huplong tham gia quá trình kết tủa protein làm tăng tính ổn định của bia
Trang 39- Nước: là thành phần cơ bản trong quá trình lên men bia và cũng
là yếu tố rất quan trọng trong sản xuất bia, chất lượng nước phần nào quyết định chất lượng bia
Chất lượng nước được quyết định bởi chỉ tiêu: độ cứng, pH, hàm lượng chất rắn và chỉ tiêu vi sinh
Vi sinh vật lên men: là nấm men thuộc giống Saccaromyces
Nhiệt độ thích hợp cho sinh trưởng là 25 – 30oC, ngừng hoạt động ở 40oC, có khả năng chịu lạnh cao
Người ta chia nấm men bia thành 2 loại:
- Nấm men nổi thuộc loại Saccaromyces cerevisiae: loại này chỉ
phát triển và lên men bia ở nhiệt độ từ 12 – 13oC trở lên
- Nấm men chìm thuộc loài Saccaromyces carlsbergensis: phát
triển tốt ở ngay nhiệt độ thấp (6-7oC) Loại này đang được sử dụng rộng rãi ở nước ta
Trang 40Quy trình làm bia gồm hai công đoạn chủ yếu:
- Công đoạn thứ nhất: nấu dịch lên men là công đoạn đường hóa
biến tinh bột thành đường maltose
- Công đoạn thứ hai: lên men là công đoạn nhào trộn, ủ chín
Quá trình lên men bia là một quá trình biến đổi sinh hóa, hóa học
và sinh học phức tạp với sự tác động của hệ enzyme do nấm men
Saccharomyces cerevisiae tạo ra.
Nấu dịch lên men
Malt Tình bột Houplon Các chất khác
Xử lý Dịch lên men
Quá trình hoà tan Quá trình thuỷ phân các chất từ malt, tinh bột