1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ứng phó các hiện tượng thời tiết cực đoan của người dân dựa vào cộng đồng ( nghiên cứu tại xã y can, huyện trấn yên, tỉnh yên bái)

144 461 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 144
Dung lượng 3,86 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN --- LÊ HỒNG PHƯƠNG ỨNG PHÓ VỚI CÁC HIỆN TƯỢNG THỜI TIẾT CỰC ĐOAN CỦA NGƯỜI DÂN DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG Nghiên cứu tại xã Y Ca

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

LÊ HỒNG PHƯƠNG

ỨNG PHÓ VỚI CÁC HIỆN TƯỢNG THỜI TIẾT CỰC ĐOAN CỦA

NGƯỜI DÂN DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG (Nghiên cứu tại xã Y Can, huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái)

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

Hà Nội – 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

==================

LÊ HỒNG PHƯƠNG

ỨNG PHÓ VỚI CÁC HIỆN TƯỢNG THỜI TIẾT CỰC ĐOAN

CỦA NGƯỜI DÂN DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG

(Nghiên cứu tại xã Y Can, huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái)

Chuyên ngành: Công tác xã hội

Mã số: 60 90 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Vũ Hào Quang

Hà Nội - 2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các tài liệu, trích dẫn, kết quả nêu trong đề tài khóa luận tốt nghiệp đều có nguồn gốc rõ ràng và trung thực và chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về sự cam kết này

Học viên thực hiện luận văn

Lê Hồng Phương

Trang 4

LỜI CẢM ƠN Lời đầu tiên cho phép tôi được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thầy

cô giáo Khoa Xã hội học - Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội đã tận tình dạy dỗ và truyền đạt cho tôi những kiến thức, kinh nghiệm cũng như lòng yêu mến, tâm huyết với nghề nghiệp

Xin trân trọng gửi lời cảm ơn sâu sắc tới PGS TS Vũ Hào Quang người Thầy đã hướng dẫn và chỉ bảo cho tôi rất tận tình trong suốt quá trình thực hiện đề tài Nhờ có sự chỉ bảo giúp đỡ của Thầy, tôi đã có được nhiều kinh nghiệm quý báu trong việc triển khai và thực hiện đề tài nghiên cứu Xin chân thành cảm ơn tập thể lớp CH - CTXH2 - K2012 đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi có thể hoàn thành tốt công trình nghiên cứu này Xin chân thành cảm ơn cán bộ lãnh đạo và người dân xã Y Can, huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái đặc biệt là lãnh đạo, cán bộ nhân viên Tài nguyên và Môi trường xã, huyện đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi thực hiện nghiên cứu tại địa phương

Dù đã rất cố gắng và tâm huyết với đề tài nhưng do kiến thức của bản thân về lĩnh vực nghiên cứu chưa thực sự chuyên sâu, thời gian nghiên cứu còn hạn chế nên không tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy, tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến từ phía các thầy cô giáo để khóa luận của tôi được hoàn chỉnh và chất lượng hơn

Hà Nội, ngày 6 tháng 4 năm 2015

Học viên thực hiện luận văn

Lê Hồng Phương

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 4

3 Ý nghĩa khoa học 13

4 Đối tượng, khách thể nghiên cứu 13

5 Phạm vi nghiên cứu 14

6 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 14

7 Câu hỏi nghiên cứu 15

8 Giả thuyết nghiên cứu 15

9 Phương pháp nghiên cứu 15

10 Bố cục luận văn 18

NỘI DUNG 19

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 19

1.1 Cơ sở lý luận 19

1.1.1 Các khái niệm công cụ 19

1.1.2 Một số lý thuyết ứng dụng 24

1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài 32

1.2.1 Đặc thù địa bàn nghiên cứu 32

1.2.2 Chính sách của Đảng, Nhà nước về vĩ mô và chính sách của địa phương về ứng phó với hiện tượng thời tiết cực đoan 38

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VỀ NĂNG LỰC ỨNG PHÓ VỚI CÁC HIỆN TƯỢNG THỜI TIẾT CỰC ĐOAN CỦA CỘNG ĐỒNG NGƯỜI DÂN XÃ Y CAN, HUYỆN TRẤN YÊN, TỈNH YÊN BÁI 42

2.1 Thực trạng hiện tượng thời tiết cực đoan và cảm nhận của người dân xã Y Can, huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái về hiện tượng thời tiết cực đoan 42

2.1.1 Thực trạng hiện tượng thời tiết cực đoan 42

Trang 6

2.1.2 Tình hình, đặc điểm của nhóm hộ điều tra 48

2.1.3 Cảm nhận của người dân xã Y Can, huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái về hiện tượng thời tiết cực đoan 50

2.2 Hậu quả của hiện tượng thời tiết cực đoan theo cảm nhận của người dân xã Y Can, huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái 58

2.2.1 Hậu quả của hiện tượng nắng gắt, nhiệt độ quá cao 58

2.2.2 Hậu quả của hiện tượng mưa lớn, mưa kéo dài 60

2.2.3 Hậu quả của hiện tượng bão nhiều, cấp độ lớn 63

2.2.4 Hậu quả của hiện tượng thời tiết trái mùa 64

2.3 Thực tế ứng phó của người dân trước hiện tượng thời tiết cực đoan 66

2.3.1 Thực tế ứng phó của người dân trước hiện tượng nắng gắt, nhiệt độ quá cao 66

2.3.2 Thực tế ứng phó của người dân trước hiện tượng mưa lớn, mưa kéo dài 67

2.3.3 Thực tế ứng phó của người dân trước hiện tượng bão nhiều, cấp độ lớn 69

2.3.4 Thực tế ứng phó của người dân trước hiện tượng thời tiết trái mùa 72

2.4 Một số ứng phó của người dân xã Y Can, huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái đối với hiện tượng thời tiết cực đoan trong các nghề nổi bật 73

2.4.1 Ứng phó của người dân trước hiện tượng thời tiết cực đoan với nghề trồng lúa 73

2.4.2 Ứng phó của người dân trước hiện tượng thời tiết cực đoan với nghề nuôi lợn 76

2.4.3 Ứng phó của người dân trước hiện tượng thời tiết cực đoan với nghề kinh doanh 79

CHƯƠNG III: ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP VÀ HƯỚNG TỚI XÂY DỰNG MÔ HÌNH ỨNG PHÓ VỚI CÁC HIỆN TƯỢNG THỜI TIẾT CỰC ĐOAN DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG NGƯỜI DÂN XÃ Y CAN, HUYỆN TRẤN YÊN, TỈNH YÊN BÁI 82

3.1 Nhu cầu liên kết để ứng phó với các hiện tượng thời tiết cực đoan 82

Trang 7

3.2 Đánh giá nguồn lực cộng đồng taị xã Y Can trong việc ứng phó với các

hiện tượng thời tiết cực đoan dựa vào cộng đồng 84

3.2.1 Nguồn lực vốn có của người dân 84

3.2.2 Nguồn lực cộng đồng 89

3.2.3 Mức độ sẵn sàng tham gia của các tiểu hệ thống trong việc xây dựng mô hình ứng phó với hiện tượng thời tiết cực đoan 93

3.3 Đề xuất giải pháp và hướng tới xây dựng mô hình ứng phó với các hiện tượng thời tíêt cực đoan ở cộng đồng người dân xã Y Can, huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái 98

3.3.1 Đề xuất giải pháp ứng phó với các hiện tượng thời tíêt cực đoan ở cộng đồng người dân xã Y Can, huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái 98

3.3.2 Hướng tới xây dựng mô hình ứng phó với các hiện tượng thời tíêt cực đoan ở cộng đồng người dân xã Y Can, huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái 101

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 114

Danh mục tài liệu tham khảo 119

PHỤ LỤC 126

Trang 8

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT

Bộ NN & PTNT Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

COP Hội nghị cấp cao Liên hợp quốc về Biến đổi khí hậu

IPCC Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi khí hậu

IUCN Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế

MONRE Bộ Tài nguyên và Môi trường

PRA Bộ công cụ đánh giá nông thôn có sự tham gia

UNDP Chương trình phát triển Liên hợp quốc

UNEP Chương trình Môi trường Liên Hợp quốc

UNFCCC Công ước khung của Liên hợp quốc về Biến đổi khí hậu

Trang 9

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 1.1 : Đặc trưng mực nước sông Hồng tại trạm Yên Bái năm 2009 35

Bảng 2.1: Đặc trưng nhiệt độ tháng (0C) tại Yên Bái (Đơn vị tính: 0,1 độ C) 42

Bảng 2.2: Bảng thay đổi nhiệt độ tại trạm Yên Bái 44

Bảng 2.3: Đặc trưng mưa tháng (mm) tại trạm Yên Bái (Đơn vị tính: mm) 45

Bảng 2.4: Các khu vực và diện tích xảy ra khi ngập úng 47

Bảng 2.5: Đặc điểm các hộ gia đình tham gia điều tra 48

Bảng 2.6: Sinh kế của các hộ gia đình 50

Bảng 2.7: Sự biến đổi khí hậu trong 20 năm qua 52

Bảng 2.8: Sự gia tăng nhiệt độ và mùa hè trong 20 năm qua 53

Bảng 2.9: Thực tế suy giảm nhiệt độ vào mùa đông trong 20 năm qua 53

Bảng 2.10: Thực tế xuất hiện hiện tượng mưa lũ cực lớn trong 20 năm qua 54

Bảng 2.11: Thực tế xuất hiện hiện tượng bão cực lớn trong 20 năm qua 55

Bảng 2.12: Người dân bật quạt về mùa đông 57

Bảng 2.13: Hậu quả nhiệt độ tăng rất cao 59

Bảng 2.14: Hậu quả mưa lớn, mưa kéo dài 61

Bảng 2.15: Hậu quả bảo lớn, cấp độ mạnh 63

Bảng 2.16: Hậu quả thời tiết trái mùa 65

Bảng 2.17: Thực tế ứng phó với nắng gắt, nhiệt độ quá cao 67

Bảng 2.18: Thực tế ứng phó với hiện tượng mưa lớn, mưa kéo dài 68

Bảng 2.19: Thực tế ứng phó trước hiện tượng bão nhiều, cấp độ lớn 70

Bảng 2.20: Thực tế ứng phó trước hiện tượng thời tiết trái mùa 72

Bảng 2.21: Ứng phó trước hiện tượng thời tiết cực đoan với nghề trồng lúa 73 Bảng 2.22: Ứng phó trước hiện tượng thời tiết cực đoan với nghề nuôi lợn 77

Bảng 2.23: Ứng phó của trước hiện tượng thời tiết cực đoan với nghề kinh doanh 79

Bảng 3.1: Mức độ cần thiết của việc liên kết cộng đồng 83

Bảng 3.2: Những kinh nghiệm để ứng phó với thiên tai 88

Bảng 3.3: Mức độ cần thiết phải đánh giá các nguồn lực cộng đồng 89

Bảng 3.4: Mức độ sẵn sàng tham gia của các tiểu hệ thống trong việc xây dựng mô hình ứng phó với hiện tượng thời tiết cực đoan 94

Trang 10

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1: Bản đồ xã Y Can trong huyện Trấn Yên 33

Hình 2.1: Tổng số đợt nắng nóng 5 năm Yên Bái 44

Hình 2.2: Hồ sơ lịch sử thiên tai xã Y Can 46

Hình 2.3: Làng mạc không còn sau trận lũ lịch sử (1968) 47

Hình 2.4: Thiệt hại do cơn bão số 5 năm 2012 56

Hình 2.5: Nắng nóng là nguyên nhân chủ yếu gây cháy rừng 60

Hình 2.6: Người dân gặt lúa bị ngập trắng nứớc 62

Hình 2.7: Mưa lũ do bão: Người dân trèo lên nóc nhà kêu cứu 64

Hình 2.8: Cây nổ hoa trắng dự báo nước lũ khi có bão 71

Hình 2.9: Cán bộ tập huấn cho người dân trồng giống lúa mới 75

Hình 2.10: Trồng giống lúa mới cho thu hoạch năng suất cao 75

Hình 2.11: Trồng thêm khoai xen canh tăng thêm nguồn thu 76

Hình 2.12: Giống lợn Đen có sức chống chịu với thời tiết cực đoan 78

Hình 2.13: Cán bộ Thú y của Tổ chức Tầm nhìn thế giới kiểm tra chất lượng mô hình đệm lót sinh học 79

Hình 2.14: Xưởng cơ khí của anh Triệu Văn Sơn (thôn Hạnh Phúc) 80

Hình 3.1: Chương trình hành động của Huyện ủy Trấn Yên 95

Hình 3.2: Mô hình VAC 100

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Thời tiết cực đoan (TTCĐ) đang là vấn đề “nóng” và trở thành thách thức lớn được nhiều quốc gia quan tâm Thời tiết cực đoan đã, đang và sẽ tác động nghiêm trọng đến sản xuất, đời sống và môi trường trên phạm vi toàn thế giới Nhiệt độ tăng cao, lượng mưa ngày càng lớn, bão cực mạnh… ảnh hưởng đến nông nghiệp, gây rủi ro lớn đối với công nghiệp và các hệ thống kinh tế - xã hội trong tương lai Vấn

đề thời tiết cực đoan đi kèm với biến đổi khí hậu đã, đang và sẽ làm thay đổi toàn diện và sâu sắc quá trình phát triển và an ninh toàn cầu như năng lượng, nước, lương thực, xã hội, việc làm, chính trị, ngoại giao, văn hóa, kinh tế, thương mại [24]

Điển hình như ở các châu lục trên thế giới, thời tết cực đoan đang ngày một gia tăng với tần suất và mức độ rất lớn Năm 2012, hơn 1.200 người đã thiệt mạng do trận lở đất kinh hoàng tại tỉnh Cam Túc, Trung Quốc và hơn 500 người vẫn mất tích Lũ lụt và lở đất ở Trung Quốc năm nay đã giết chết hơn 3000 người và khiến

12 triệu người phải rời bỏ nhà cửa Mùa xuân năm 2011 vùng Tây nam Trung Quốc cũng đã phải chống trọi với một trận khô hạn được coi là tồi tệ nhất trong vòng một thế kỷ và sau đó vùng đất khô hạn này lại bị lũ lụt tàn phá Cơn mưa dữ dội cuối tháng 7/2012 đã khiến mực nước sông Indus dâng cao, nhấn chìm một vùng lãnh thổ rộng lớn của Pakistan, khiến ít nhất 1.600 bỏ mạng, hơn 2 triệu người mất nhà ở

và khoảng 20 triệu người chịu ảnh hưởng [16, t23]

Trận hạn hán tồi tệ mùa hè năm 2012 khiến tình trạng đói nghèo thêm trầm trọng, ảnh hưởng tới 10 triệu người ở 4 quốc gia Tây Phi Tại Niger, đất nước bị ảnh hưởng sâu sắc nhất, 7,1 triệu người chịu cảnh đói ăn vì mất gia súc và mùa màng trong khi giá ngũ cốc leo thang gấp đôi Trong khi đó, năm ngoái mưa dữ dội đã phá hủy hoa màu và khiến tình hình sản xuất các loại ngũ cốc ở các quốc gia Tây Phi bị ảnh hưởng nghiêm trọng, kể cả nước láng giềng Chad và Nigeria

Tháng 4 /2012, trận lụt và sạt lở đất đã tấn công Rio de Jaaneiro của Brazil (Châu Mỹ) sau khi trận mưa như trút nước chưa từng có trong bốn thập kỷ đã khiến

212 người bỏ mạng Lũ lụt một lần nữa hoành hành trở lại vào tháng 6 ở các bang

Trang 12

Đầu tháng 8/2012 một khối băng có diện tích 260 km vuông được phát hiện đã tách khỏi dòng sông băng ở Greenland, phía sát Bắc Cực Đây là đảo băng lớn nhất tách ra ở Bắc Cực trong nửa thế kỷ quan sát Nhiệt độ của một mùa hè nóng nhất trong vòng 150 năm lịch sử khí hậu toàn cầu được coi là nguyên nhân gây ra hiện tượng này [49]

Theo báo cáo của Ban liên Chính phủ về biến đổi khí hậu (BĐKH) (Intergovernmental Panel on Climate Change – IPCC) năm 2007, nhiệt độ trung bình toàn cầu và mực nước biển đã tăng nhanh trong vòng 100 năm qua, đặc biệt trong khoảng 25 năm gần đây Ở Việt Nam, trong vòng 50 năm qua nhiệt độ trung bình năm đã tăng khoảng 0,5 độ C, mực nước biển đã dâng khoảng 20cm Việt Nam được đánh giá là một trong những quốc gia bị ảnh hưởng nặng nề nhất của BĐKH, trong đó đồng bằng sông Cửu Long là một trong ba đồng bằng trên thế giới dễ bị tổn thương nhất do nước biển dâng, bên cạnh đồng bằng sông Nile (Ai cập) và đồng bằng sông Ganges (Bangladesh) Theo các kịch bản BĐKH được công bố bởi Bộ Tài nguyên và Môi trường (2009), cho đến cuối thế kỷ 21 thời tiết cực đoan đã làm nhiệt độ trung bình năm của Việt Nam có thể tăng khoảng 2,3 độ C, tổng lượng mưa năm và lượng mưa mùa mưa tăng trong khi đó lượng mưa mùa khô lại giảm, mực nước biển có thể dâng khoảng từ 75cm đến 1m so với trung bình thời kỳ 1980-

1999 Nếu mực nước biển dâng cao 1m, sẽ có khoảng 40% diện tích đồng bằng sông Cửu Long, 11% diện tích đồng bằng sông Hồng và 3% diện tích của các tỉnh khác thuộc vùng ven biển sẽ bị ngập, trong đó, thành phố Hồ Chí Minh sẽ bị ngập trên 20% diện tích,khoảng 10-12% dân số nước ta bị ảnh hưởng trực tiếp và tổn thất khoảng 10% GDP Tác động của thời tiết cực đoan, BĐKH đối với nước ta là rất nghiêm trọng, là nguy cơ hiện hữu cho mục tiêu xoá đói giảm nghèo, cho việc thực hiện các mục tiêu thiên niên kỷ và sự phát triển bền vững của đất nước [13]

Trong những năm qua, các nhà khoa học đã không ngững nỗ lực nghiên cứu và tìm ra nguyên nhân và cách khắc phục hậu quả của hiện tượng thời tiết cực đoan và biến đổi khí hậu Và các nhà khoa học cũng cảnh báo rằng, trong tương lai những ảnh hưởng lớn của các hiện tuợng thời tíêt cực đoan và biến đổi khí hậu sẽ còn gia tăng nhiều hơn nữa Chính vì thế, câu chuyện ứng phó với các hiện tượng thời tiết

Trang 13

cực đoan gắn liên với việc quản lý rủi ro thiên tai đòi hỏi có sự tham gia của nhiều cấp, ngành từ trung ương đến địa phương, các tổ chức trong và ngoài nước Công tác ứng phó với các hiện tượng thời tiết cực đoan, quản lý rủi ro thiên tai càng trở nên cấp bách trong bối cảnh BĐKH

Ở Việt Nam, nhiều tổ chức chính trị - xã hội tham gia và hỗ trợ các cơ quan quản lý nhà nước trong quản lý rủi ro thiên tai và các hiện tượng cực đoan Thời gian qua, Việt Nam đã thành lập được một hệ thống quản lý rủi ro thiên tai tốt từ trung ương đến địa phương, được tổ chức khá chặt chẽ và không ngừng được củng

cố, hoàn thiện để đáp ứng được các thách thức ngày càng tăng Các tổ chức này có chức năng, nhiệm vụ và quy chế hoạt động rõ ràng trong công tác điều hành, phối hợp phòng chống, giảm nhẹ thiên tai và các hiện tựơng thời tiết cực đoan [50, tr6]Tại địa bàn nghiên cứu xã Y Can, huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái là một xã miền núi, địa hình phức tạp, nằm cạnh sông Hồng Ngoài ra trên địa bàn xã có nhiều các con suối chảy qua Địa hình của xã có cả vùng thấp ven sông Hồng và vùng núi cao Nơi đây thường đối mặt với các loại thiên tai và các hiện tuợng thời tiết cực đoan như nắng gắt, mưa cực lớn, lũ sông, lũ suối, lũ quét và hạn hán ảnh hưởng lớn đến sản xuất nông nghiệp và đồi sống của người dân Xã có 7 nhóm dân tộc đang sinh sống trong đó có 2 nhóm chính là Kinh và Dao Người dân địa phương có những kinh nghiệm, kiến thức bản địa được lưu truyền, phổ biến từ nhiều năm nay trong ứng phó với các thiên tai trên

Tuy nhiên, trong công tác ứng phó với các hiện tượng thời tiết cực đoan, trên địa phương này còn gặp nhiều khó khăn trong việc ứng phó và khắc phục những hậu quả khi có hiện tượng thời tiết cực đoan xảy ra Chính vì thế, cần huy động một nội lực quan trọng và cần thiết xây dựng một hệ thống phòng ngừa ứng phó với hiện tượng thời tiết cực đoan

Chính vì thế, nhằm đánh giá tác động của các hiện tượng thời tiết cực đoan và năng lực ứng phó của cộng đồng, từ đó khuyến nghị các biện pháp ứng phó sao cho

phù hợp, chúng tôi đã thực hiện nghiên cứu đề tài: “Ứng phó với các hiện tượng thời tiết cực đoan của người dân dựa vào cộng đồng” (Nghiên cứu xã Y Can, huyện

Trang 14

2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu

2.1 Nghiên cứu trên thế giới

Hiện nay, khái niệm hiện tượng thời tiết cực đoan, sự nóng lên toàn cầu không còn xa lạ với mọi người dân nữa, ngược lại nó được nhìn nhận như là sự tiềm ẩn của nhiều nguy cơ, hậu quả tác động của nó Nhiệt độ toàn cầu gia tăng cùng với sự thay đổi trong phân bố năng lượng trên về mặt Trái đất và bầu khí quyển đã dẫn đến

sự thay đổi của hệ thống hoàn lưu khí quyển và đại dương mà hậu quả của nó dẫn đến sự thay đổi lớn về thời tiết và khí hậu [60] Nhiều bằng chứng đã chứng tỏ rằng, thiên tai và các hiện tượng thời tiết cực đoan ngày càng gia tăng ở các khu vực trên thế giới Điều đó đã thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học và cộng đồng thế giới

Ở một góc độ tương đối có thể chia các nghiên cứu này thành ba nội dung như: (1) Nghiên cứu các xu thế biến đổi và tính biến động của các hiện tượng thời tiết và khí hậu cực đoan trong mối liên hệ với sự biến đổi khí hậu dựa trên sự quan trắc của mạng lưới trạm khí tượng (2) nghiên cứu ứng dụng các mô hình khí hậu toàn cầu

và khí hậu khu vực để mô phỏng khí hậu hiện tại, qua đó đánh giá khả năng nắm bắt các hiện tượng thời tiết cực đoan của các mô hình (3) Nghiên cứu dự báo hạn mùa

và dự tính khả năng xuất hiện các hiện tượng thời tiết cực đoan với các quy mô khác nhau [51]

Nhưng nhìn chung, các nghiên cứu về biến đổi khí hậu và các hiện tượng thời tiết cực đoan đều được lồng ghép với nhau trong quá trình nghiên cứu Bởi hiện nay, mặc dù chưa có nghiên cứu nào khẳng định hiện tượng thời tiết cực đoan do biến đổi khí hậu gây ra, nhưng xoay quanh vấn đề này, nhiều nhà khoa học cho rằng, giữa chúng có mối liên hệ và tác động đến nhau Đôi khi chúng là hệ quả của nhau, gây nên những ảnh hưởng nghiêm trọng tới cuộc sống của con người

Nghiên cứu đầu tiên của nhà khoa học Arrhenius người Thụy Điển vào năm

1896 đã chỉ ra rằng, BĐKH đã được cho rằng sự đốt cháy nhiên liệu hóa thạch sẽ dẫn đến khả năng cao hiện tượng nóng lên toàn cầu Đến cuối thập niên 1980, khi nhiệt độ bắt đầu tăng lên, các nghiên cứu về hiện tượng nóng lên toàn cầu được các nhà khoa học bắt đầu quan tâm nhiều hơn Tổ chức IPCC được ra đời do Tổ chức

Trang 15

Khí tượng Thế giới (WMO) cùng với Chương trình Môi trường Liên hiệp quốc (UNEP) đồng thành lập (năm 1988) nhằm đánh giá "các thông tin khoa học, kỹ thuật và KT - XH cho phép tìm hiểu các nguy cơ của BĐKH do con người gây ra”

Kể từ đó đến nay nhiều tổ chức quốc tế và các nhà khoa học trên thế giới đã tập trung vào đánh giá tác động của BĐKH tại các khu vực, vùng lãnh thổ và đặc biệt là tại quốc gia được dự báo là sẽ hứng chịu nhiều rủi ro nhất do BĐKH trong đó có Việt Nam

Sự ra đời của IPCC vào đầu thập kỷ 1980 đã đánh dấu bước quan trọng về nhận thức và hành động của toàn thế giới trước thảm họa BĐKH toàn cầu Là một

tổ chức tiêu biểu, tập hợp trí tuệ từ tất cả các quốc gia, IPCC đã tổng hợp hàng loạt các nghiên cứu từ nguyên nhân đến hệ quả (sự tăng nhiệt độ bề mặt trái đất, sự tăng lên của mực nước biển, cùng với những biến đổi về thời tiết, thủy văn, hải dương ), từ tác động của nó đối với tự nhiên, môi trường, các đối tượng KT – XH đến việc xây dựng giải pháp thích ứng và chiến lược ứng phó toàn cầu Các báo cáo của IPCC là cơ sở cho các hội nghị toàn cầu về BĐKH như Hội nghị Thượng đỉnh của LHQ về Môi trường và Phát triển ở Rio de Janeiro,1992; Hội nghị các bên nước tham gia UNFCCC (từ COP 1 đến COP 18)… Qua các báo cáo của IPCC, từ cuối thế kỷ XIX đến nay có thể nhận thấy được xu thế chung là nhiệt độ trung bình toàn cầu đã tăng lên đáng kể Nhiệt độ không khí trung bình toàn cầu trong thế kỷ

XX đã tăng lên 0,6oC (+/- 0,2oC); trên đất liền, nhiệt độ tăng nhiều hơn trên biển; thập kỷ 90 là thập kỷ nóng nhất trong thiên niên kỷ vừa qua [13, tr9]

Hiện tượng thời tiết cực đoan và BĐKH không chỉ đơn thuần tác động tới tự nhiên mà còn là thách thức về kinh tế, xã hội của nhân loại Việc bỏ tiền ra chi phí cho việc khôi phục thiệt hại sau những thiên tai đã làm thâm hụt vào ngân sách các quốc gia Theo Nicolas Stem - nguyên chuyên gia kinh tế hàng đầu của Ngân hàng Thế giới (WB), thì trong vòng 10 năm tới, chi phí thiệt hại do thời tiết cực đoan, BĐKH gây ra cho toàn thế giới ước tính khoảng 7.000 tỉ USD; nếu chúng ta không làm gì để ứng phó thì thiệt hại mỗi năm sẽ chiếm khoảng 5 - 20% tổng sản phẩm nội địa (GDP), còn nếu chúng ta có những ứng phó tích cực để ổn định KNK ở mức

Trang 16

Trong phạm vi các nước Đông Nam Á, cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu được đăng tải Phan Văn Tân và nnk (2010) đã nghiên cứu xu thế giáng thủy ngày cực đại từ năm 1961 đến năm 1998 cho khu vực Đông Nam Á và nam Thái Bình Dương Kết quả cho thấy số ngày mưa (ngày có lượng mưa từ 2mm trở lên) nhìn chung giảm đáng kể ở khu vực Đông Nam Á Phân tích số liệu giáng thủy ngày ở các nước khu vực Đông Nam Á trong thời kỳ từ 1950 đến 2000, đã chỉ ra rằng số ngày ẩm ướt (ngày có giáng thủy trên 1mm) có xu thế giảm ở hầu hết các nước này, trong khi đó cường độ giáng thủy trung bình của những ngày ẩm ướt lại

có xu thế tăng lên Số ngày khô liên tiếp cực đại năm có xu thế giảm ở những khu vực bị ảnh hưởng bởi giáng thủy trong thời kỳ gió mùa mùa đông Sự giảm hiện tượng mưa trong thời kỳ mùa khô cũng được tìm thấy ở Myanma [24]

Một nghiên cứu của Badjeck và cs (2010) ở Bangladesh về tác động của những dao động và thay đổi khí hậu đến sinh kế dựa vào thủy sản cho biết, sự ấm lên toàn cầu ảnh hưởng tiêu cực đến an ninh lương thực, đe dọa sinh kế của 36 triệu ngư dân

và ảnh hưởng đến gần 1,5 tỷ người tiêu dùng thủy sản trên thế giới Và để ứng phó với BĐKH và các hiện tượng thời tiết cực đoan thì cần chú ý: (i) cung cấp trước thông tin dự báo về BĐKH hỗ trợ cho lập kế hoạch ứng phó; (ii) cần công nhận và tận dụng các cơ hội có lợi từ BĐKH đối với ngành thủy sản, (iii) các chiến lược thích ứng với BĐKH cần được thiết kế trên quan điểm đa ngành, liên ngành, và (iv) phải ghi nhận những đóng góp tiềm năng của thủy sản trong các nỗ lực giảm nhẹ 2.2 Nghiên cứu ở Việt Nam

Trong thời gian qua, ở Việt Nam đã có nhiều nghiên cứu về các hiện tuợng thời tiết cực đoan, các nghiên cứu này được nghiên cứu trong mối tương quan với biến đổi khí hậu Nhiều chuyên gia đã nghiên cứu và xây dựng nên những công trình khoa học mang ý nghĩa lớn cho nhân loại, đó là cơ sở tiền đề cho việc dự báo

và ứng phó với các hiện tượng TTCĐ đang ngày càng nghiêm trọng

Từ năm 1987, trong đề tài “Xây dựng một số phương pháp dự báo hạn vừa, hạn dài nhiệt độ mùa đông và mưa mùa hè khu vực phía bắc Việt Nam”, Phạm Đức Thi (cùng cs.) [31, tr17] đã xây dựng các phương pháp dự báo nhiệt độ trung bình tháng và mùa đối với mùa đông Nhóm tác giả cố gắng tìm các dấu hiệu để phát

Trang 17

hiện những mùa đông có dao động nhiệt độ mang tính chất dị thường Đồng thời, đề tài cũng xây dựng các chỉ tiêu dự báo hạn vừa các đợt không khí lạnh, và các đợt rét đậm, rét hại, dự báo dài hạn thời kì xuất hiện đợt rét đậm đầu tiên trong mùa đông ở khu vực phía bắc Việt Nam Đối với mùa hè, phương pháp dự báo chuẩn sai lượng mưa tháng và mùa, dự báo lượng mưa cũng như các chỉ tiêu dự báo hạn vừa thời kì xuất hiện các đợt mưa thời kì đầu mùa mưa ở đồng bằng và trung du Bắc Bộ cũng được xây dựng Bên cạnh đó, tác giả cũng chỉ ra tháng được coi là tháng rét đậm hay ấm đậm trong mùa đông khi giá trị tuyệt đối của chuẩn sai nhiệt độ trung bình tháng đó bằng hoặc lớn hơn giá trị độ lệch tiêu chuẩn Mùa đông được coi là rét đậm hay ấm đậm khi giá trị tuyệt đối chuẩn sai nhiệt độ trung bình ba tháng bằng hoặc lớn hơn giá trị sigma của nhiệt độ 3 tháng đó Rét hại hay ấm hại lấy ngưỡng 1.5 Bên cạnh đó, tác giả cũng đưa ra các nhận xét về các mùa đông lạnh kỷ lục Năm 2009, Phan Văn Tân (cùng cs.) [39, tr241-251] cũng đã thử nghiệm bước đầu ứng dụng mô hình khí hậu khu vực RegCM3 để dự báo nhiệt độ trung bình tháng và tổng lượng mưa tháng cho ba tháng mùa hè 6-8/1996 khi sử dụng sản phẩm kết xuất của mô hình khí hậu toàn cầu CAM làm điều kiện ban đầu và điều kiện biên (RegCM-CAM) Các trường dự báo của RegCM-CAM đã được đánh giá bằng cách so sánh với sản phẩm mô phỏng tương ứng của RegCM3 với đầu vào là

số liệu tái phân tích ERA40 và nhiệt độ mặt nước biển phân tích OISST ERA) Kết quả dự báo nhiệt độ và lượng mưa của RegCM-CAM còn được so sánh trực tiếp với số liệu phân tích CRU (nhiệt độ) và CMAP (lượng mưa), và đánh giá định lượng cho khu vực Việt Nam bằng cách nội suy về vị trí trạm và so sánh với số liệu quan trắc từ mạng lưới trạm khí tượng thông qua các chỉ số thống kê Kết quả nhận được cho thấy, về cơ bản các trường nhiệt độ và lượng mưa dự báo của RegCM-CAM phù hợp tốt với sản phẩm mô phỏng của RegCM-ERA cũng như với các trường phân tích CRU, CMAP Trên khu vực Việt Nam, RegCM-CAM thường

(RegCM-dự báo nhiệt độ thấp hơn quan trắc; sai số (RegCM-dự báo nhiệt độ của RegCM-CAM trung bình khoảng 2 độ C, khá ổn định và có tính hệ thống RegCMCAM cũng cho lượng mưa dự báo ở Việt Nam thấp hơn thực tế, tuy nhiên sai số còn khá lớn và không thể hiện rõ qui luật Trong ba tháng thử nghiệm, dự báo lượng mưa của RegCM-CAM

Trang 18

Trong đề tài “Nghiên cứu tác động của biến đổi khí hậu toàn cầu đến các yếu

tố và hiện tượng khí hậu cực đoan ở Việt Nam, khả năng dự báo và giải pháp chiến lược ứng phó” Phan Văn Tân (cùng cs.) đã làm sáng tỏ mức độ biến đổi, tính chất biến đổi và xu thế biến đổi của các yếu tố và hiện tượng khí hậu cực đoan như nhiệt

độ, lượng mưa, bão và áp thấp nhiệt đới, nắng nóng, rét hại, mưa lớn, hạn hán Ngoài ra, đề tài còn nghiên cứu thử nghiệm ứng dụng các mô hình khí hậu khu vực với điều kiện ban đầu và điều kiện biên từ trường dự báo toàn cầu của hệ thống mô hình kết hợp khí quyển – đại dương CAM-SOM để dự báo mùa các trường khí hậu

và các hiện tượng cực đoan ở Việt Nam Kết quả với 3 mô hình khí hậu khu vực được sử dụng đều có sai số hệ thống đối với hầu hết các yếu tố và hiện tượng khí hậu cực đoan Cụ thể với các ECE xác định theo IPCC, tất cả các mô hình đều cho khuynh hướng dự báo hạn mùa thấp hơn so với thực tế đối với các chỉ số TXx, TXn, TNx, TNn, DTR, Rx1day, Rx5day, R95p, R99p, TX90p, R25 và R50 tại hầu hết các vùng khí hậu Đối với các chỉ số còn lại, có sự khác biệt giữa các mô hình tương ứng cho từng vùng khí hậu Tương tự cho các ECE xác định theo PA2, các

mô hình RCM được nghiên cứu chỉ thống nhất trong khuynh hướng sai số đối với các ECE liên quan đến không khí lạnh, trong khi đối với các ECE liên quan đến mưa lớn và nắng nóng, khuynh hướng sai số thường trái dấu giữa các mô hình với nhau và thay đổi theo từng vùng khí hậu Có thể thấy các khuynh hướng sai số trong

dự báo hạn mùa về cơ bản thống nhất với khuynh hướng sai số trong pha mô phỏng tại hầu hết các ECE và vùng khí hậu Kết quả này chứng tỏ tính ổn định của các RCM được nghiên cứu ở đây [24, tr276]

Trong những năm vừa qua, Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Môi trường

đã đưa vào hệ thống nghiệp vụ dự báo dị thường tổng lượng mưa mùa và nhiệt độ trung bình trên cơ sở phương pháp thống kê Kết quả được biên tập thành “Thông báo và dự báo khí hậu” ra hàng tháng và được cập nhật thường xuyên lên website của Viện (http://www.imh.ac.vn/) Các thông báo này tổng kết diễn biến khí hậu 3 tháng trước 22 đó và đưa ra dự báo khí hậu cho 3 tháng tiếp theo Diễn biến khí hậu được xem xét trên cả quy mô toàn cầu và Việt Nam với các biến nhiệt độ, mưa, nắng, bốc hơi, chỉ số ẩm và một số hiện tượng thời tiết đặc biệt Dự báo khí hậu 3 tháng bao gồm các nhận định chung về diễn biến khí hậu thế giới và khu vực (hiện

Trang 19

tượng ENSO) và dự báo khí hậu cho Việt Nam (nhiệt độ, lượng mưa, xoáy thuận nhiệt đới và không khí lạnh) [53] Tuy nhiên, các bản tin vẫn còn khá nghèo nàn và đặc biệt là chưa thể có những thông tin dự báo về các điều kiện khí hậu cực trị Qua tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước về bài toán dự báo hạn mùa các hiện tượng khí hậu cực đoan, có thể nhận thấy 3 điểm cần lưu ý Thứ nhất, về mặt phương pháp, hiện nay phương pháp mô hình động lực tỏ ra có ưu thế hơn và được phát triển ngày càng hoàn thiện hơn Phương pháp thống kê, tuy có ưu điểm không yêu cầu cao về mặt tài nguyên tính toán, nhưng cũng có nhiều nhược điểm, nhất là trong bối cảnh biến đổi khí hậu Trong đó, việc không tính đến mối quan hệ vật lý giữa các biến được dự báo, không nắm bắt được những phát triển đột biến của khí quyển cũng như việc phụ thuộc nhiều vào nguồn số liệu điểm trạm vốn không đầy

đủ và hoàn thiện ở nhiều khu vực, là những khuyết điểm chính Phương pháp mô hình động lực, tuy cần tài nguyên tính toán lớn, cả về tài nguyên máy tính và nguồn nhân lực, nhưng lại giải quyết được hầu hết các hạn chế trên của phương pháp thống

kê Điểm thứ hai, so với sự phát triển trên thế giới thì dự báo hạn mùa ở Việt Nam còn khá “thô sơ”, với không nhiều các nghiên cứu và nghiệp vụ còn phụ thuộc nhiều vào phương pháp thống kê Trong khi đó, những năm gần đây, có không ít các mô hình khí hậu khu vực đã và đang được thử nghiệm cho khu vực Việt Nam [24, tr132] Hơn nữa, việc dự báo hạn mùa được các yếu tố, hiện tượng khí hậu cực đoan khá mới mẻ ở Việt Nam Điểm thứ ba, trong lĩnh vực nghiên cứu mô phỏng và

dự báo ECE bằng các mô hình số, kể cả mô hình toàn cầu và mô hình khu vực, các GCM nói chung cũng như các RCM nói riêng được ứng dụng tái tạo cũng như dự báo trường khí hậu Các trường khí hậu sau khi được tái tạo hoặc 23 dự báo sẽ là cơ

sở để xác định các ECE theo các kĩ thuật khác nhau Với cùng một mô hình, kết quả

mô phỏng, dự báo có thể tốt cho khu vực này nhưng lại kém cho một khu vực khác Ngay trên cùng một khu vực, yếu tố, hiện tượng này có thể mô phỏng hoặc dự báo tốt nhưng yếu tố, hiện tượng khác lại có sai số lớn, thậm chí không chấp nhận được

Từ đó, tác giả nhận thấy việc hướng đến nghiên cứu khả năng ứng dụng mô hình khí hậu khu vực vào bài toán dự báo hạn mùa ở Việt Nam để dự báo một số chỉ số khí hậu cực đoan là một hướng tiếp cận mới, rất có ý nghĩa và cần thiết Để giải quyết bài toán này, chúng tôi tập trung vào hai khía cạnh Đầu tiên là đánh giá được

Trang 20

RegCM phiên bản 4.2 với đầu vào từ trường dự báo thực CFS Dựa trên kết quả thu được, tác giả sẽ lựa chọn và tiến hành đánh giả khả năng mô phỏng một số chỉ số khí hậu cực đoan

Trong Báo cáo tóm tắt phục vụ các nhà hoạch định chính sách (SPM) trình bày những kết quả chính của Báo cáo đặc biệt của Việt Nam về Quản lý rủi ro thiên tai (QLRRTT) và các hiện tượng cực đoan nhằm thúc đẩy thích ứng với biến đổi khí hậu (BĐKH) (“SREX Việt Nam”) cũng nghiên cứu và chỉ ra những tác động lớn của hiện tựong TTCĐ và BĐKH [51, tr98] SREX Việt Nam được xây dựng dựa trên Báo cáo đặc biệt của Ủy ban Liên chính phủ về BĐKH về QLRRTT và các hiện tượng cực đoan nhằm thúc đẩy thích ứng với BĐKH (“SREX”) (IPCC, 2012a) Tương tự như vậy, SPM này được xây dựng dựa trên tóm lược SPM của báo cáo SREX (IPCC, 2012b)

SREX Việt Nam phân tích tình hình ở Việt Nam theo những kết quả của báo cáo SREX toàn cầu SREX Việt Nam đánh giá các tài liệu của Việt Nam về BĐKH, các hiện tượng thời tiết và khí hậu cực đoan (‘cực đoan khí hậu’) và tác động của những hiện tượng này đối với xã hội và phát triển bền vững SREX Việt Nam đánh giá sự tương tác của các yếu tố khí hậu, môi trường và con người có thể dẫn đến những tác động và thiên taivà các phương án quản lý các loại hình rủi ro, nhằm mục tiêu thúc đẩy thích ứng với BĐKH và quản lý các hiện tượng cực đoan và thiên tai ở Việt Nam

Xu thế nhiệt độ 2m [ 25,tr243]

Tổ chức Oxfam tại Việt Nam và Viện Sau đại học về nghiên cứu môi trường, Trường Đại học Kyoto, Nhật Bản đã tiến hành nghiên cứu những lựa chọn để giải

Trang 21

quyết rủi ro do hạn hán ở Việt Nam Trong nghiên cứu này tập trung vào phân tích ảnh hưởng của tần suất hạn hán tới sinh kế của cộng đồng tại các khu vực thường xuyên bị hán hán của tỉnh Ninh Thuận, Việt Nam Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng đề cập tới cộng đồng cảm nhận như thế nào với hạn hán và thay đổi khí hậu, chính quyền địa phương và các tổ chức phi chính phủ làm sao để có thể đối phó với thảm họa từ thiên nhiên, đặc biệt đối với hạn hán.[19, tr67]

Trong một báo cáo nghiên cứu đã được công bố tháng 7 năm 2012 của 2 tác giả Ngô Đức Thành và Phan Văn Tân, Đại học quốc gia Hà nội đăng trên Tạp chí khoa học số 3S, 2012 về kết quả Kiểm nghiệm phi tham số xu thế biến đổi của một

số yếu tố khí tượng cho giai đoạn 1961-2007 Báo cáo kết luận xu thế biến đổi của 7 yếu tố khí tượng trên lãnh thổ Việt Nam được đánh giá cho giai đoạn 1961-2007 khi

sử dụng phương pháp kiểm nghiệm phi tham số Mann-Kendall và phương pháp ước lượng xu thế của Sen Kết quả cho thấy nhiệt độ tăng rõ rệt trên toàn Việt Nam, trong đó nhiệt độ cực tiểu tăng nhanh hơn nhiệt độ cực đại ngày, đặc biệt trên khu vực Nam Trung Bộ và Tây Nguyên Lượng mưa giảm ở phía Bắc vĩ tuyến 17 và tăng lên ở phía Nam Tốc độ gió cực đại ngày thể hiện xu thể giảm khá rõ, đặc biệt

là ở khu vực Nam Trung Bộ Sự biến đổi của độ ẩm tương đối cực tiểu ngày không thể hiện rõ qui luật, trong khi đó lượng bốc hơi tiềm năng có xu thế biến đổi rõ rệt, với mức tăng, giảm phụ thuộc vào từng vùng cụ thể Kết quả nghiên cứu cụ thể như sau:

- Về nhiệt độ: Trên toàn Việt Nam, T2m tăng rõ rệt trên hầu khắp các trạm Mức tăng cao (~0.035ºC/năm) được xác định cho khu vực miền Trung và một số trạm thuộc vùng Bắc Bộ Mức tăng phổ biến vào khoảng 0.015-0.025ºC/năm Một số trạm thể hiện xu thế nhiệt độ tăng nhưng giá trị tương đối nhỏ như trạm

Hà Nam, Đà Lạt, Bảo Lộc, Phan Thiết (~0.012ºC/năm) Một số trạm khác tuy cho xu thế tăng nhưng không thoả mãn mức ý nghĩa 10% là Sapa, Bắc Quang, Thái Bình, Hà Tĩnh, Trường Sa Trạm Huế cho xu thế giảm, tuy nhiên lại không thoả mãn mức ý nghĩa 10%

- Về lượng mưa: Có thể thấy không giống như nhiệt độ, xu thế của lượng mưa

Trang 22

trong khi khu vực từ Trung Trung Bộ (khoảng vĩ tuyến 17) trở vào lượng mưa có xu hướng tăng Điều này phù hợp với các nhận định từ các nghiên cứu trước đây [4-6] Một điểm đáng lưu ý là xu thế giảm mưa từ Bắc Trung Bộ trở ra nhìn chung là nhỏ

và ít thoả mãn mức ý nghĩa 10%, ngoại trừ một số trạm thuộc khu vực đồng bằng sông Hồng Trong khi đó, lượng mưa có xu thế tăng rõ rệt nhất trên một số trạm thuộc khu vực Nam Trung Bộ và Tây Nguyên Khu vực Nam Bộ nhìn chung có xu thế mưa tăng nhẹ, tuy nhiên không thật rõ ràng (không thoả mãn mức ý nghĩa 10%)

Lý giải nguyên nhân về sự phân hoá xu thế tăng mưa tại hai miền khác nhau của Việt Nam là một chủ đề khá quan trọng và thú vị dành cho các nghiên cứu sâu hơn trong tương lai [25]

Xu thế lượng mưa ngày và lượng mưa trung bình năm [25,tr145]

* Nghiên cứu tại khu vực xã Y Can, huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái

Thực hiện Quyết định số 158/2008/QĐ-TTg ngày 02 tháng 12 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu Tỉnh Yên Bái để xây dựng Kế hoạch hành động ứng phó với biến đổi khí hậu giai đoạn 2010-2015, UBND tỉnh đã phối hợp với Trung tâm Dữ liệu và Truyền thông phòng ngừa thiên tai – Bộ tài nguyên môi trường tiến hành đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đến các lĩnh vực vào tháng 4 năm 2011

Năm 2010, Trung tâm phát triển nông thôn bền vững (SRD) đã có một nghiên cứu nhỏ về Đánh giá sinh kế bền vững ứng phó với biến đổi khí hậu Nghiên cứu này chỉ thực hiện cho ba xã của huyện Văn Yên, tuy nhiên báo cáo nghiên cứu chưa sâu về các tác động của biến đổi khí hậu và các hiện tượng thời tiết cực đoan

Địa bàn xã Y Can và huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái chưa có nghiên cứu nào

về ứng phó với các hiện tượng thời tiết cực đoan dựa vào cộng đồng Do đó, với đề tài này là nghiên cứu đầu tiên Nó là căn cứ cho địa phương hoạch định các chính sách, xây dựng các chương trình dự án ứng phó với biến đổi khí hậu và các hiện tượng thời tiết cực đoan, cũng như giúp cho việc lồng ghép ứng phó vào lập kế hoạch kinh tế xã hội của chính quyền địa phương và các ngành, lĩnh vực Đồng thời, quan trọng nhất là đề tài sẽ xây dựng mối liên kết cộng đồng, huy động nội lực cộng

Trang 23

đồng chung tay ứng phó với các hiện tượng thời tiết cực đoan nhằm giúp người dân

có đủ năng lực, khả năng thích ứng khi có hiện tượng thời tiết cực đoan xảy ra Qua các nghiên cứu, chúng tôi thấy, hầu hết các nghiên cứu thuộc ngành chuyên môn thủy văn học, chưa hoặc có rất ít các nghiên cứu hiện tượng TTCĐ dứoi cách nhìn của khoa học xã hội, đặc biệt trong lĩnh vực công tác xã hội nghiên cứu về ứng phó với TTCĐ dựa vào phát triển cộng đồng

3 Ý nghĩa khoa học

3.1 Ý nghĩa lý luận:

Ứng dụng một số quan điểm và lý thuyết về công tác xã hội (CTXH) đặc biệt

về phát triển cộng đồng (PTCĐ) để đánh giá nguồn lực của cộng đồng để ứng phó, đánh giá các nguồn lực và liên kết thành sức mạnh

Từ đó đề xuất phương hướng ứng dụng liên kết cộng đồng để ứng phó với các hiện tượng TTCĐ

3.2 Ý nghĩa thực tiễn

Với người dân: Giúp người dân nhận thức được đầy đủ nguồn lực để ứng phó với TTCĐ Đồng thời, sử dụng những nguồn lực người dân đang có liên kết với các nguồn lực khác, tạo nên sức mạnh tổng hợp ứng phó với TTCĐ

Với Chính quyền đia phương: Từ kết quả nghiên cứu, đề xuất với chính quyền địa phương những biện pháp để ứng phó với hiện tượng TTCĐ

Từ đó, đề xuất chính sách đối với các cấp trên khai thác chính sách và năng lực của địa phương có những định hướng, kế hoạch và biện pháp ứng phó kịp thời, phù hợp và hiệu quả hơn với các hiện tượng này

4 Đối tượng, khách thể nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu:

Dựa vào cộng đồng, liên kết nguồn lực dựa vào cộng đồng ứng phó với các hiện tượng TTCĐ

4.2 Khách thể nghiên cứu:

Các hộ gia đình sống ở xã Y Can

Chính quyền địa phương

Trang 24

Các dòng họ lớn: Đặc biệt người đại diện trưởng thôn, trưởng bản

Nhà trường; Trạm y tế

5 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi không gian: Đề tài được thực hiện tại xã Y Can, huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái

Phạm vi thời gian: Luận tiến hành từ tháng 04 năm 2014 đến tháng 10 năm

2014 Các số liệu về các hiện tượng thời tiết cực đoan được hồi cứu trong giai đoạn

1992 đến năm 2012

Phạm vi về nội dung: Nghiên cứu ứng phó với các hiện tượng thời tiết cực đoan

có nhiều nội dung Tuy nhiên, trong khuôn khổ của luận văn thạc sỹ, nghiên cứu này nhấn mạnh đến phạm vi nghiên cứu ứng phó với các hiện tượng TTCĐ trong việc nghiên cứu thực trạng và cảm nhận của người dân, hậu quả và cách ứng phó của người dân với hiện tượng TTCĐ Từ đó tìm giải pháp, xây dựng mô hình ứng phó phù hợp đảm bảo đời sống sản xuất cho người dân phát triển ổn định cuộc sống

6 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

6.1 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu nhằm tìm hiểu, đánh giá thực tế nhận thức về hậu quả và khả năng ứng phó của người dân với TTCĐ Qua đó, nghiên cứu này cũng nhằm mục đích đánh giá nguồn lực của cộng đồng trong việc ứng phó với biến đổi TTCĐ để xây dựng nhóm biện pháp và mô hình ứng phó tốt nhất

6.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Xây dựng cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn trong việc nghiên cứu liên kết nguồn lực dựa vào cộng đồng

Phân tích đánh giá thực trạng ứng phó với các hiện tượng TTCĐ của người dân dựa vào cộng đồng xã Y Can, huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái

Phân tích, đánh giá nhu cầu nguồn lực cộng đồng trong việc xây dựng mô hình cộng đồng ứng phó với các hiện tượng TTCĐ

Xây dựng mô hình liên kết các nguồn lực dựa vào cộng đồng để ứng phó với các hiện tượng TTCĐ

Trang 25

7 Câu hỏi nghiên cứu

Hiện nay, cộng đồng cảm nhận thế nào về hậu quả TTCĐ và có những biện pháp gì để ứng phó với các hiện tượng TTCĐ?

Cộng đồng có nhu cầu gì trong việc ứng phó với TTCĐ và để ứng phó với TTCĐ cộng đồng có những nguồn lực gì?

Làm thế nào để liên kết cộng đồng nhằm phát huy tối đa những nguồn lực đó trong ứng phó với các hiện tượng TTCĐ?

8 Giả thuyết nghiên cứu

Hiện nay, cộng đồng có những biện pháp ứng phó với các hiện tượng TTCĐ Tuy nhiên, những biện pháp đó mang tính rời rạc và chưa có tính liên kết

Cộng đồng có nhu cầu lớn, có nhiều nguồn lực nhưng họ chưa biết cách liên kết để ứng phó với các hiện tượng TTCĐ

CTXH có vai trò quan trọng trong việc liên kết các nguồn lực của cộng đồng trong ứng phó với hiện tượng TTCĐ Chính vì thế, sử dụng phương pháp pháp triển cộng đồng của CTXH là một giải pháp hiệu quả huy động sức mạnh tổng hợp của cộng đồng ứng phó với hiện tượng TTCĐ

9 Phương pháp nghiên cứu

9.1 Cách tiếp cận nghiên cứu

Đây là một nghiên cứu dựa vào chính nội lực của cộng đồng trên cơ sở phân tích đánh giá thực trạng, nhận thức những biện pháp và nguồn lực mà cộng đồng đang có để tìm cách kết nối người dân, tăng khả năng liên kết cộng đồng để ứng phó với các hiện tượng TTCĐ Cộng đồng trong nghiên cứu này được nghiên cứu như là một hệ thống được cấu thành bởi các tiểu hệ thống với các vai trò, chức năng đặc trưng Do vậy, nghiên cứu cố gắng đánh giá đầy đủ các loại nguồn lực có trong các tiểu hệ thống của cộng đồng Vận dụng một số lý thuyết trong công công tác xã hội như : lý thuyết nhu cầu của Maslow, Lý thuyết hệ thống…

9.2 Phương pháp thu thập và xử lý thông tin

9.2.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu

Để có số liệu cụ thể, chính xác về các vấn đề liên quan, nhà nghiên cứu đã tìm

Trang 26

đặc biệt tài liệu về hiện tựơng TTCĐ của các nhà khoa học Các nghiên cứu dựa vào cộng đồng liên quan tới các hiện tượng TTCĐ vì những tài liệu đó chưa đựng những thông tin nghiên cứu hữu ích và thực tế có thể áp dụng cho luận văn này

Đồng thời, sử dụng phương pháp nghiên cứu tài liệu để có cở sở lý luận và hình thành câu hỏi nghiên cứu để tác giả thu thập thông tin một cách đầy đủ, chính xác 9.2.2 Phương pháp quan sát

Phương pháp quan sát được tác giả áp dụng để tìm hiểu những hiện tượng TTCĐ xảy ra tại địa phương, đánh giá năng lực của cộng đồng trong việc ứng phó với các thiên tai tại địa bàn nghiên cứu, tìm hiểu các kinh nghiệm của người dân trong việc ứng phó với thiên tai, lưu ý các kiến thức bản địa của người dân vùng núi Tìm hiểu cách thức cũng như các phương pháp ứng phó với thiên tai của cộng đồng Tìm kiếm các mô hình truyền thông trong việc ứng phó với thiên tai và biến đổi đổi khí hậu phù hợp với địa phương

Ngoài ra, chúng tôi còn tiến hành quan sát thực tiễn người dân ứng phó với hiện tượng TTCĐ như mưa lũ, nắng gắt, chống lụt bão…

Quan sát này cho phép tác giả lồng ghép ảnh vào các phần của nội dung nghiên cứu luận văn

9.2.3 Phương pháp phỏng vấn sâu

Nghiên cứu tiến hành phỏng vấn sâu 15 cá nhân trên 35 tuổi bao gồm: Cán bộ, chính quyền địa phương, đại diện các tổ chức đoàn thể, người dân điển hình trong thôn bản đã từng tham gia nhiều vụ ứng phó với hiện tượng TTCĐ (già làng, trưởng bản) Nội dung cốt lõi của các cuộc phỏng vấn sâu tập trung vào những vấn đề sau: (1) Những cảm nhận hiện trạng nhận thức về hậu quả của TTCĐ (2) Đánh giá thực trạng nhận thức của người dân trong ứng phó với các hiện tượng TTCĐ (3) Đánh giá nhu cầu và các biện pháp liên kết nguồn lực ứng phó của người dân trong ứng phó (4) Xây dựng mô hình thiết thực, hiệu quả nhằm huy động sức mạnh cộng đồng trong ứng phó với các hiện tượng TTCĐ

9.2.4 Phương pháp thảo luận nhóm

Tác giả tiến hành một cuộc thảo luận nhóm tập trung sau khi đã tiến hành các phỏng vấn sâu Tham gia thảo luận nhóm gồm chính quyền xã, các tổ chức đoàn thể, người có kinh nghiệm trong khắc phục những thảm họa TTCĐ, người dân trong xã

Trang 27

Cụ thể: Nhóm thảo luận gồm 8 người, cụ thể là: 3 người dân, 01 cán bộ chính quyền địa phương, 01 đại diện Hội phụ nữ, 01 đại diện Hội nông dân, 01 đại diện cán bộ phòng chống lụt bão xã, 01 đại diện tổ chức phi chính phủ (Tầm nhìn thế giới Chương trình phát triển vùng Trấn Yên) Đó là những người có kinh nghiệm ứng phó với TTCĐ

Nội dung thảo luận nhóm cũng xoay quanh nội dung của phỏng vấn sâu, tuy nhiên nhấn mạnh hơn đến các biện pháp và hình thức liên kết nguồn lực

9.2.5 Phương pháp trưng cầu ý kiến bằng bảng hỏi

Sử dụng bảng hỏi bảng hỏi cấu trúc được thiết kế sẵn, phát cho người dân nhằm thu thập thông tin về thực trạng của hiện tượng thời tiết cực đoan và các biện pháp người dân đang sử dụng để ứng phó với nó Số lượng bảng hỏi được phát cho người dân là 200 bảng hỏi, được phát ngẫu nhiên trong buổi họp dân và chúng tôi thu lại ngay sau buổi họp đó Số phiếu thu được sau khi người dân trả lời là 197 phiếu

Sử dụng bảng hỏi thảo luận với cán bộ và chính quyền địa phương để đánh giá thực trạng, hành động ứng phó với hiện tượng TTCĐ của cộng đồng Cụ thể: Với 200 bảng hỏi phát cho người dân được xây dựng chủ yếu vào ba nội dung sau: (1) thực trạng và cảm nhận của người dân về hiện tượng TTCĐ; (2) hậu quả của hiện tượng TTCĐ và thực tế ứng phó; (3) Mức độ sẵn sàng tham gia ứng phó với các hiện tượng TTCĐ của người dân dựa vào cộng đồng

9.2.6 Phương pháp chọn mẫu

Do bản thân là thành viên của nhóm nghiên cứu đánh giá về những hậu quả của hiện tượng TTCĐ trong một chương trình phát triển vùng Trấn Yên của Tổ chức Tầm nhìn thế giới, nên chúng tôi có điều kiện thuận lợi để thâm nhập địa bàn nghiên cứu 1 lần/tháng Mỗi lần như vậy, chương trình tổ chức họp dân của xã, chúng tôi đã lồng ghép để lựa chọn phát phiếu cho 200 hộ dân từ 1-200 theo ngẫu nhiên Chúng tôi đã

đề nghị họ điền thông tin trên phiếu và thu ngay tại chỗ

9.2.7 Phương pháp phân tích số liệu

Dựa trên những số liệu, thông tin thu thập được tiến hành phân tích và xử lý số liệu theo phương pháp thống kê Các phương pháp được sử dụng bao gồm các phương pháp: Xử lý thống kê bằng phần mềm SPSS, sử dụng phần mềm Microsoft Excel

Trang 28

Ngoài ra còn sử dụng các công cụ để phân tích các bên liên quan cũng như điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của cộng đồng

Trong quá trình nghiên cứu thu thập các số liệu, thông tin luôn sử dụng các biện pháp kiểm tra chéo để loại bỏ những thông tin sai, hay làm chắc chắn hơn các thông tin còn chưa rõ

10 Bố cục luận văn

Luận văn này ngoài Phần Mở đầu, Kết luận và khuyến nghị và Phụ lục, nội dung chính chia làm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài

Chương 2: Thực trạng và năng lực ứng phó với các hiện tượng thời tiết cực đoan của cộng đồng người dân xã Y Can, huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái

Chương 3: Đề xuất giải pháp và hướng tới xây dựng mô hình tăng năng lực ứng phó với hiện tượng thời tiết cực đoan dựa vào cộng đồng người dân xã Y Can, huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái

Trang 29

NỘI DUNG CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Các khái niệm công cụ

Thời tiết là trạng thái khí quyển tại một địa điểm nhất định được xác định bằng

tổ hợp các yếu tố: Nhiệt độ, áp suất, độ ẩm, tốc độ gió, mưa… [20]

Thời tiết cực đoan: Khái niệm “hiện tượng cực đoan” được hiểu là những hiện

tượng thỏa mãn các điều kiện: 1) Hiếm, tức có tần suất xuất hiện tương đối thấp trong một khoảng thời gian tương đối dài; 2) Có cường độ lớn; và 3) Khắc nghiệt, tức là có khả năng gây ra những ảnh hưởng lớn hoặc dữ dội, đe dọa trực tiếp hoặc gián tiếp đến sự sống trên Trái đất [50]

Trong lĩnh vực khí tượng, theo IPCC (2007), hiện tượng thời tiết cực đoan là hiện tượng hiếm ở một nơi cụ thể vào một thời gian cụ thể trong năm Định nghĩa

“hiếm” có thể được hiểu theo nhiều cách khác nhau, nhưng hiện tượng thời tiết cực đoan được hiểu là hiện tượng có xác suất xuất hiện nhỏ, thông thường được chọn là nhỏ hơn 10% Theo định nghĩa này, các tính chất của cái gọi là “thời tiết cực đoan”

có thể rất khác nhau giữa nơi này và nơi khác Khi hiện tượng thời tiết cực đoan xảy

ra vào một thời gian nào đó trong năm, chẳng hạn một mùa, khá ổn định, nó có thể được 25 gọi là hiện tượng khí hậu cực đoan Nói cách khác, hiện tượng khí hậu cực đoan là sự tổng hợp của hiện tượng thời tiết cực đoan được đặc trưng bởi trung bình

và các cực trị tuyệt đối của các hiện tượng thời tiết cực đoan trên một khoảng thời gian nhất định đủ dài Nói chung, hiện tượng khí hậu cực đoan phần lớn không được quan trắc trực tiếp mà thường được xác định căn cứ vào số liệu quan trắc của các yếu tố khí hậu và dựa trên một số chỉ tiêu qui ước cụ thể nào đó [13]

Ở Việt Nam hiện nay tồn tại hai khái niệm: “Yếu tố khí hậu cực đoan” và

“hiện tượng khí hậu cực đoan” Cái gọi là “yếu tố khí hậu cực đoan” xuất phát từ tên gọi các biến khí hậu cực trị mà tập giá trị của chúng là tập hợp các giá trị “cực đại” hoặc “cực tiểu” của biến khí quyển được quan trắc nào đó, chẳng hạn, tập hợp các giá trị quan trắc của nhiệt độ cực đại tuyệt đối ngày (hoặc tháng, hoặc năm)

Trang 30

được phân định một cách rõ ràng Tuy nhiên, theo cách dùng thông thường hiện nay, những hiện tượng có ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người, gia súc gia cầm hoặc đến hoạt động sản xuất có thể được cho là những hiện tượng cực đoan Ở một vài khía cạnh nào đó, cách hiểu này là có thể chấp nhận được, vì nó đã thỏa mãn các tiêu chí nêu trên

Trong báo cáo “Báo cáo đặc biệt của Việt Nam về Quản lý rủi ro thiên tai và hiện tượng cực đoan nhằm thúc đẩy thích ứng với biến đổi khí hậu” (SREX Việt Nam) được Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Biến đổi khí hậu (thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường) và Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) cùng nghiên cứu và xây dựng với sự tham gia của Đại học Quốc gia Hà Nội, Trường Đại học Thủy lợi Hà Nội, Trường Đại học Cần Thơ, Trường Đại học Huế, Cục Khí tượng Thủy văn và Biến đổi khí hậu, Trung tâm Khí tượng Thủy văn Quốc gia, các

tổ chức phi chính phủ và các chuyên gia trong và ngoài nước về quản lý rủi ro thiên tai và thích ứng với biến đổi khí hậu, định nghĩa:

Cực đoan khí hậu (hiện tượng khí hậu/thời tiết cực đoan): Là sự xuất hiện giá trị cao hơn (hoặc thấp hơn) giá trị ngưỡng của một yếu tố thời tiết hoặc khí hậu, gần các giới hạn trên (hay dưới) của dãy các giá trị quan trắc được của yếu tố đó Để đơn giản, cả thời tiết cực đoan và khí hậu cực đoan được gọi chung là khí hậu cực đoan [51, tr57]

Khí hậu thường được định nghĩa là trung bình theo thời gian của thời tiết

(thường là 30 năm)

Biến đổi khí hậu: Biến đổi khí hậu là sự biến đổi về trạng thái của hệ thống khí

hậu, có thể được nhận biết qua sự biến đổi về trung bình và biến động của các thuộc tính của nó, được duy trì trong một thời gian dài, điển hình là hàng thập kỷ hoặc dài hơn Biến đổi khí hậu có thể do các quá trình tự nhiên bên trong hệ thống khí hậu hoặc do tác động thường xuyên của con người, đặc biệt tăng hiệu ứng nhà kính làm thay đổi thành phần cấu tạo của khí quyển [13, tr87]

Như vậy, những hiện tượng thời tiết cực đoan xảy ra trong tình trạng biến động khí hậu ngày càng mạnh mẽ do BĐKH (nóng lên toàn cầu)

Trang 31

Ứng phó: Việc cung cấp các dịch vụ khẩn cấp và hỗ trợ côg trong hoặc ngay

sau thảm họa nhằm bảo vệ tính mạng, giảm thiểu tác động về sức khỏe, đảm bảo an toàn xã hội và đáp ứng các nhu cầu cơ bản của những người bị ảnh hưởng [40,tr234]

Cộng đồng: Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về cộng đồng Theo Redo –

Trường Công tác xã hội và Phát triển cộng đồng Philippins định nghĩa: “Cộng đồng

là một đơn vị hành chính, lãnh thổ trong đó mọi người có sự liên kết chặt chẽ với nhau, chia sẻ các nền tảng chung như văn hóa, tôn giáo, chủng tộc… Họ chia sẻ mối quan tâm chung về những vấn đề cụ thể về những vấn đề cụ thể như nghèo đói, tệ nạn xã hội, trẻ em lao động sớm, tai nạn thương tích trẻ em, thất học, bệnh tật, họ có nghĩa vụ và trách nhiệm chung”

Theo tác giả Trịnh Văn Tùng thì “Cộng đồng là một nhóm người có sự liên hệ chặt chẽ với nhau, có nhiều thuộc tính giống nhau tạo thành bản sắc Cộng đồng ấy không nhất thiết cùng sống trong một đơn vị hành chính lãnh thổ Họ cùng nhau chia sẻ những mối quan tâm về những vấn đề cụ thể (thiếu hụt chức năng xã hội, bị

kì thị, bị loại trừ xã hội, khó khăn trong việc tiếp cận các nguồn lực đồng thời có nghĩa vụ và trách nhiệm chung” [ 41]

“Cộng đồng là một hình thức chung sống trên cơ sở gần gũi của các thành viên

về mặt cảm xúc hướng tới sự gắn bó đặc biệt mật thiết( gia đình, tình yêu…) được

họ tìm kiếm và được coi như có chung cội nguồn” Tác giả Vũ Hào Quang có quan điểm đồng nhất với việc phân loại cộng đỗng xã hội của F Tonnies: Cộng đồng huyết thống; cồng đồng lãnh thổ; cộng đồng tinh thần [31]

Như vậy, loại định nghĩa thứ nhất thể hiện rõ tính địa vực, trong khi loại định nghĩa thứ hai không thể hiện tính địa vực Cả hai loại định nghĩa này đều thể hiện rằng, trong một cộng đồng thì có cộng đồng thể và cộng đồng tính Cộng đồng thể tức là quy mô, cơ cấu hay hình hài vật lý của cộng đồng đó trong khi cộng đồng tính nhấn mạnh tính cố kết của cộng đồng theo hướng nào đó Định nghĩa thứ ba bao hàm nội dung của cả hai định nghĩa một và hai

Trong nghiên cứu này chúng tôi sử dụng loại định nghĩa thứ hai bởi lẽ nó phù

Trang 32

Xã Y Can, huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái là một đơn vị hành chính, tức là một đơn vị hành chính cơ sở thấp nhất Những người dân nơi đây có sự liên kết chặt chẽ với nhau vì đều chia sẻ những nét văn hóa tương đồng như sản xuất lúa, trồng rừng…Tại đây, họ chia sẻ nhiều mối quan tâm chung là cùng nhau phải gánh chịu hậu quả của thiên tai và cùng nhau liên kết sức mạnh để ứng phó với các hiện tượng thời tiết cực đoan Vì vậy, tính cố kết cộng đồng của nguời dân nơi đây rất chặt chẽ

Do đó, làm thế nào để phát huy mối liên hệ cộng đồng và tìm ra mô hình tốt nhất trong việc ứng phó với các hiện tượng thời tiết cực đoan là vô cùng cần thiết trong việc đem lại cuộc sống an toàn của người dân

Dựa vào cộng đồng: Từ khái niệm cộng đồng, chúng tôi tìm hiểu khái niệm

dựa vào cộng đồng Vậy dựa vào cộng đồng là gì? Nhân viên công tác xã hội lấy cộng đồng làm trung tâm, tức là áp dụng triệt để nguyên tắc trao quyền cho cộng đồng, giúp cộng đồng nhìn nhận và sử dụng nguồn lực của chính mình một cách hiệu quả nhất để giải quyết một vấn đề chung

Dựa vào các nguyên tắc của phát triển cộng đồng để nhấn mạnh các nguyên tắc sau:

Thứ nhất, Dựa vào cộng đồng tức là phát triển cộng đồng phải là phát triển tổng thể, tức là không loại bỏ bất kỳ khía cạnh nào: Kinh tế, văn hóa, xã hội, chính trị… Trong sắc thái kinh tế thì cần có sự tham gia của các doanh nghiệp đặt trên địa bàn, trong sắc thái chính trị phải có sự tham gia của chính quyền địa phương, lĩnh vực văn hóa xã hội phải có sự tham gia của nhà trường, trạm y tế, ngoài do đó là sự tham gia của tín ngưỡng, tôn giáo…

Thứ hai, Dựa vào cộng đồng tức là sự huy động nguồn lực của chính cộng đồng đó, sự tham gia của cộng đồng thì càng đông càng tốt Cộng đồng phải là những người chủ động nắm lấy quyền hành động của mình Trong trường hợp này, dựa vào cộng đồng là trao quyền cho cộng đồng Nhân viên công tác xã hội chỉ có vai trò hỗ trợ, xúc tác

Như vậy, tại địa bàn nghiên cứu là xã Y Can, huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái để dựa vào cộng đồng chính là dựa vào các tiểu hệ thống mà đặc biệt là các tiểu hệ thống là cộng đồng người dân sống trong thôn bản, cùng nơi cư trú

Trang 33

Phát triển cộng đồng: Có nhiều các định nghĩa về phát triển cộng đồng, trước hết phát triển là quá trình cải thiện về số lượng và chất lượng, về vật chất và tinh thần nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của các thành viên trong cộng đồng

Năm 1956, Liên hợp quốc đã đưa ra định nghĩa: “Phát triển cộng đồng là những tiến trình qua đó nỗ lực của dân chúng kết hợp với nỗ lực của chính quyền

để cải thiện các điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội của các cộng đồng và giúp cộng đồng này hội nhập và đồng thời đóng góp vào đời sống quốc gia” (Trích theo Nguyễn Thị Oanh) Thực chất, muốn phát triển cộng đồng thì phải tổ chức cho

cộng đồng khai thác, phát huy và sử dụng tốt nguồn tài nguyên, nhân lực của cộng đồng mình

Một định khác về phát triển cộng đồng: “Phát triển cộng đồng là một tiến trình giải quyết vấn đề qua đó cộng đồng được tăng cường sức mạnh bởi các kiến thức cuộc sống, kỹ năng phát hiện nhu cầu và vấn đề, ưu tiên hóa chúng, huy động nguồn lực để giải quyết chúng Phát triển cộng đồng không phải là một cứu cánh

mà là một kĩ thuật, nó nhằm tăng sức mạnh cho các cộng đồng tự quyết về sự phát triển và định hình tương lai của mình v.v ” [66]

Theo Flo Frank và Anna smith trong Sổ tay Phát triển cộng đồng (The

Community Deverlopment Handbook): “Phát triển cộng đồng là sự chuyển biến/ thay đổi theo chiều hướng tốt lên một cách có kế hoạch mọi mặt của đời sống cộng đồng (kinh tế, xã hội, môi trường và văn hóa) Phát triển cộng đồng là một tiến trình, ở đó mọi thành viên cộng đồng cùng nhau thực hiện công việc tập chung Phạm vi của phát triển cộng đồng rất đa dạng, từ những sáng kiến nhỏ trong những nhóm nhỏ nhất cho tới những sáng kiến lớn, thu hút cả cộng đồng”

Theo Nguyễn Thị Oanh, 1995: “Phát triển Cộng đồng là một tiến trình làm chuyển biến cộng đồng nghèo, thiếu tự tin thành cộng đồng tự lực thông qua việc giáo dục gây nhận thức về tình hình, vấn đề hiện tại của họ, phát huy các khả năng và tài nguyên sẵn có, tổ chức các hoạt động tự giúp, bồi dưỡng và củng cố tổ chức và tiến tới tự lực phát triển” [67]

Qua một số khái niệm được trích dẫn trên đây có thể cho thấy, các khái niệm

Trang 34

mục đích sử dụng của tác giả Tuy có sự khác biệt đó, những khái niệm trên dường như cũng có những điểm gì đó rất chung

Trong khuôn khổ luận văn này, chúng tôi tiếp cận Phát triển cộng đồng theo

hướng nghĩa như sau: Phát triển cộng đồng là sự phát triển của toàn bộ đời sống kinh tế - chính trị - xã hội, văn hoá của cả một cộng đồng xã hội với sự tham gia của các thành viên cá nhân, gia đình và các tổ chức của cộng đồng đó” Và chủ

thể của sự phát triển cộng đồng là người dân tham gia ứng phó với các hiện tượng thời tiết cực đoan

Liên kết cộng đồng: “Liên kết là hành động gắn con người với con người để

hình thành một khối thống nhất” [42, tr.452]

Như vậy theo định nghĩa này thì liên kết nghĩa là tìm hiểu, đánh giá các nguồn lực của các tiểu hệ thống khác nhau trong cộng đồng Trên cơ sở đó tìm các “đầu mối”, “mắt xích” để tổ chức các hoạt động sao cho các hoạt động ấy được thực hiện theo một khối thống nhất Cụ thể trong nghiên cứu này là: (1) Kết nối các tiểu hệ thống như chính quyền địa phương, gia đình, nhà trường, trạm y tế, đoàn thanh niên, hội phụ nữ, các doanh nghiệp, tôn giáo ; (2) Tìm các đầu mối thích hợp từ trong các tiểu hệ thống đó để kết nối; (3) Tận dụng các sự kiện xã hội trong cộng đồng để tổ chức tuyên truyền và xây dựng mô hình ứng phó với các hiện tượng thời tiết cực đoan

Theo từ điển Tiếng Việt: “Liên kết là kết lại với nhau từ nhiều thành phần hoặc tổ chức riêng rẽ, có thể là nhà nước này liên kết với nhà nước khác về mặt chính trị, quân sự, kinh tế, tỉnh này liên kết với tỉnh khác để cùng tổ chức các hoạt động sự kiện, tổ chức này liên kết với tổ chức khác, người này liên kết với người khác để cùng làm ăn” [43, tr46]

Theo quan điểm của chúng tôi, “Liên kết là sự gắn kết các nguồn lực của cộng đồng vốn đang rời rạc thành một thể thống nhất, vừa có mối quan hệ chặt chẽ, ảnh hưởng vừa có sự tương tác, tác động qua lại để bổ sung cho nhau”

1.1.2 Một số lý thuyết ứng dụng

1.1.2.1 Lý thuyết hệ thống

Thuyết hệ thống được phát trển vào những năm 1930 và 1940 do nhà sinh học Ludving Von Bertanffy khởi xướng Thuyết hệ thống bao quá mọi lĩnh vực ( tin

Trang 35

học, sinh học, kinh tế, xã hội học) một hệ thống được định nghĩa là một tổng thể phức hợp gồm nhiều yếu tố nào đó đều tác động lên những yếu tố khác và cũng tác động lên toàn bộ hệ thống Một hệ thống có thể gồm nhiều tiểu hệ thống, đồng thời

là một bộ phận của một đại hệ thống Có những hệ thống khép kín, không trao đổi với những hệ thống xung quanh [68]

Hệ thống là một tổng thể, duy trì sự tồn tại bằng sự tương tác giữa các tổ phần tạo nên nó

Các yếu tố của một hệ thống thường tham gia vào nhiều hệ thống khác Điều này đòi hỏi mỗi một thành tố phải thực hiện tốt vai trò của mỗi hệ thống mà nó đóng vai

Tiếp cận hệ thống không hoàn toàn đồng nghĩa với phương pháp phân tích hệ thống vì ngoài phần phương pháp (còn đang được phát triển và hoàn thiện), tiếp cận

hệ thống còn đề cập đến vấn đề về lý thuyết hệ thống cũng như phương hướng ứng dụng lý thuyết này trong thực tiễn

Tiểu hệ thống:

Trong một hệ thống, là hệ thống thứ cấp hoặc hệ thống hỗ trợ Có thể coi đó là những hình thức nhỏ hơn trong hệ thống lớn Các tiểu hệ thống được phân biệt với nhau bởi các danh giới, là bộ phận của hệ thống lớn

Một cá nhân được coi là một hệ thống vi mô Hệ thống vi mô có 3 tiểu hệ thống: Hệ thống tâm lý, hệ thống sinh học và hệ thống hành vi Các tiểu hệ thống của con người chịu sự tác động của cả hệ thống gia đình, hệ thống xã hội

Vai trò của tiểu hệ thốngtrong mối quan hệ gia đình, mối quan hệ với đồng nghiệp trong xã hội Như vậy, mỗi cá nhân trong tiểu hệ thống của mình sẽ bộc lộ vai trò nào đó ở một môi trường nào đó mà cá nhân nào đó gặp phải

Nguyên tắc hoạt động của một hệ thống

- Nguyên tắc 1: Mọi hệ thống đều nằm trong một hệ thống khác lớn hơn Khi

áp dụng nguyên tắc 1 trong nghiên cứu của mình, tôi thấy rằng xã Y Can là một xã thuộc một chỉnh thể lớn hơn đó là huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái Khi nghiên cứu

Trang 36

trong luận văn này, tôi chỉ nghiên cứu ở một xã cụ thể là xã Y Can, còn những xã khác sẽ được áp dụng cách nghiên cứu tương tự ở những nghiên cứu khác

- Nguyên tắc 2: Mọi hệ thống đều có thể được chia thành những hệ thống khác nhỏ hơn Trong nghiên cứu này, chúng tôi coi xã Y Can là một hệ thống, trong đó bao gồm các tiểu hệ thống như: hộ gia đình, trạm y tế, doanh nghiện, trường học, tôn giáo, chính quyền địa phương… các tiểu hệ thống này liên kết với nhau tạo thành một chỉnh thể thống nhất

- Nguyên tắc 3: Mọi hệ thống đều có thể tương tác với các hệ thống khác và thu nhận thông tin, năng lượng từ môi trường bên ngoài để tồn tại Chúng tôi thấy rằng để tiếp nhận thông tin về các hiện tượng thời tiết cực đoan, các tiểu hệ thống trong xã Y Can phải có sự tương tác qua lại và có mối liên hệ mật thiết với nhau

Do đó, chính những mối liên hệ giữa các tiểu hệ thống hay các cơ quan đang hoạt động tại địa phương đã tạo nên những mắt xích cho việc tạo mối liên kết giữa các

hệ thống trong cộng đồng để có sự tương tác qua lại lẫn nhau tạo điều kiện để tiếp nhận thông tin, năng lượng từ môi trường bên ngoài để tồn tại

- Nguyên tắc 4: Mọi hệ thống cần đầu vào hay năng lượng để tồn tại Chẳng hạn như các tổ chức phi chính phủ muốn hoạt động tốt tại địa phương xã Y Can thì các tổ chức này phải hiểu những nhu cầu, những thứ thiết yếu của người dân đang cần Từ đó, xây dựng phương án và kế hoạch hỗ trợ người dân trong việc nâng cao đời sống sản xuất Chính điều này đã tạo nên mối liên hệ mật thiết và tạo nên nguồn năng lượng tồn tại cho tổ chức đó trong cộng đồng Về nguyên tắc này, có thể nói đến tổ chức điển hình là tổ chức Tầm nhìn thế giới, Chương trình phát triển vùng Trấn Yên đã và đang làm được điều đó

- Nguyên tắc 5: Mọi hệ thống tìm kiếm sự cân bằng với hệ thống khác Như vậy, trong quá trình liên kết chúng tôi sẽ xác định rõ chức năng, chẳng hạn như cơ quan phòng chống lụt bão đảm nhiệm chức năng cung cấp kiến thức và kỹ năng phòng ngừa, nâng cao năng lực cho người dân trong việc ứng phó với các thamt họa thiên nhiên, nhà trường đảm nhiệm chức năng giáo dục, trạm y tế đảm nhiệm chức năng khám chữa bệnh, chính quyền địa phương đảm nhiệm chức năng tổ chức và quản lý, doanh nghiệp đảm nhiệm chức năng phát triển kinh tế… mỗi tiểu hệ thống đều có chức năng riêng cân bằng nhau, tuy nhiên cần phải có sự gắn kết các tiểu hệ

Trang 37

thống lại với nhau Ví dụ như cộng đồng xã Y Can có nguồn lực cơ bản là người dân sống trên địa bàn đó, trong trường hợp liên kết để tổ chức một buổi truyền thông nâng cao nhận thức ứng phó với hiện tượng thời tiết cực đoan thì rõ ràng cộng đồng phải có nguồn nhân lực và nguồn kinh phí để thực hiện Điều này, muốn thực hiện được thì rõ ràng, các cơ quan chức năng cần có sự phối kết hợp với nhau, chính quyền địa phương và các hội liên hiệp phụ nữ, hội nông dân cần có mối liên

hệ mật thiết với nhau để cùng tiến hành thực hiện Điều này khẳng định mọi hệ thống đều tìm kiếm sự cân bằng với hệ thống khác

Như vậy, trong phạm vi của luận văn này tác giả xem cộng đồng người dân xã

Y Can là một hệ thống cần có sự trợ giúp từ các tiểu hệ thống như chính quyền địa phương, các doanh nghiệp, các cơ sở y tế địa phương, đoàn thanh niên, hội phụ nữ, hội phụ lão…nhằm phòng ngừa những hậu quả của hiện tượng thời tiết cực đoan với cộng đồng người dân một cách toàn diện và đạt hiệu quả cao

1.1.2.2 Lý thuyết phát triển cộng đồng dựa vào cộng đồng

Tiếp cận rất quan trọng mà chúng tôi sử dụng để giải thích năng lực thích ứng đối với hiện tượng TTCĐ là tiếp cận của Mendes Ông định nghĩa PTCĐ như sau: “ Phát triển cộng đồng được định nghĩa là việc tổ chức cấu trúc cộng đồng để giải quyết các nhu cầu xã hội và trao quyền cho các nhóm người xác định” (Mendes,

2008, 3) Chúng tôi vận dụng quan điểm PTCĐ của Mendes để xây dựng mô hình thích ứng với TTCĐ trên cơ sở trao quyền cho cá nhân và cộng đồng, phát huy sức mạnh nội lực và ngoại lực của công đồng cư dân xã Y Man Việc khai thác sức mạnh nội lực của cá nhân và cộng đồng bằng cách trao quyền cho họ, nâng cao vị thế của họ nhằm xoá bỏ những mặc cảm những định kiến và những phong tục lạc hậu đã tiềm ẩn trong cộng đồng từ lâu đời như cúng ma, cầu thần linh cứu giúp khi

có thời tiết cực đoan đe doạ…[32]

Phát triển cộng đồng dựa vào cộng đồng là sự phát triển lấy cộng đồng làm định hướng, trao quyền kiểm soát việc quyết định và nguồn lực cho các nhóm cộng đồng Những nhóm này thường hợp tác dưới hình thức đối tác với các tổ chức cung cấp hỗ trợ căn cứ theo yêu cầu và các bên cung cấp dịch vụ trong đó gồm chính quyền địa phương, khu vực tư nhân, các tổ chức phi chính phủ và các cơ quan nhà nước cấp trung ương [68]

Trang 38

Phát triển dựa vào cộng đồng là sự phát triển cho cộng đồng và của cộng đồng, do cộng đồng lựa chọn, hoạch định và triển khai Phải dựa trên lợi ích, sự tham gia của cộng đồng Sự tham gia của cộng đồng chính là cơ sở cho phát triển bền vững

Trên thực tế ở nước ta, cơ cấu tổ chức ở địa bàn cơ sở là một thuận lợi cho việc vận động người dân tham gia Hệ thống tổ dân phố, thôn/ấp là đơn vị tập hợp, liên lạc thông tin rất thuận lợi Các tổ chức chịnh trị xã hội như: phụ nữ, đoàn thanh niên, nông dân, cựu chiến binh, chữ thập đỏ v.v có mạng lưới rộng khắp và chân rết tại cơ sở Đây là cơ chế tổ chức tốt để chuyển tải các chính sách, chủ trương từ trên xuống cũng như phẩn ánh tâm tư và nguyện vọng của người dân từ dưới lên Các đoàn thể này đã đa dạng hóa các hoạt động để hướng về phúc lợi xã hội, kinh tế gia đình, chăm sóc sức khỏe, tín dụng, tiết kiệm, xúc tiến việc làm, xóa đói giảm nghèo và chúng rất gần gũi với phát triển cộng đồng Nếu như áp dụng đúng phương pháp phát triển cộng đồng, các hoạt động xã hội tại cộng đồng sẽ có hiệu quả hơn nhiều Hiện nay đối tượng của các chương trình lớn thường là những người nghèo, thất học cần phải vận dụng lý thuyết phát triển cộng đồng trong việc phát triển, không chỉ dạy chữ, dạy nghề mà còn phải giúp người dân về năng lực, khả năng phân tích tình hình, làm họ hiểu về hoàn cảnh của chính mình, giúp họ nắm vững các kĩ năng để tự quản vươn lên bằng chính sức của họ

a Nguyên lý phát triển cộng đồng

Nguyên lý PTCĐ dựa trên nguyên lý phát triển xã hội, còn nguyên lý phát triển xã hội dựa vào nguyên lý phát triển phổ quát, thực chất đó là các nguyên lý biện chứng Phép biện chứng là cơ sở chung của lý thuyết phát triển Biện chứng của sự phát triển Lý thuyết này thể hiện tính tương đối và tính bền vững trong cộng đồng

* Các quan điểm, định hướng trong phát triển cộng đồng

- Phát triển cộng đồng được xây dựng dựa trên phương pháp luận từ dưới lên, tức

là phải xuất phát từ nhu cầu của chính người dân Muốn tự phát triển thì chính bản thân người dân cũng phải tự ý thức cũng như tự tổ chức để bảo vệ quyền lợi của mình

- Phát triển cộng đồng phải đồng bộ dựa trên mọi khía cạnh của đời sống kinh

tế, văn hóa, xã hội v.v , chúng phải cùng được nâng lên, vì nếu chỉ chú ý vào một

Trang 39

khía cạnh thì không thể nào phá vỡ được sự đói nghèo, dốt nát và bệnh tật Phát triển cộng đồng chỉ đạt được hiệu quả khi nằm trong chiến lược phát triển của chính người dân

b Mục tiêu của phát triển cộng đồng

Trọng tâm của phát triển cộng đồng là con người – các thành viên của cộng đồng Việc phát triển cũng phải tập trung vào con người và phát triển con người Nói cách khác, thước đo của sự phát triển là tiềm năng và khả năng con người làm chủ môi trường của mình Các mục tiêu cụ thể của phát triển cộng đồng là:

- Hướng tới cải thiện chất lượng cuộc sống của cộng đồng với sự cân bằng cả

về vật chất và tinh thần, qua đó tạo sự chuyển biến xã hội trong cộng đồng

- Tạo sự bình đẳng tham gia của mọi nhóm xã hội trong cộng đồng Chú ý nhiều tới nhóm thiệt thòi để họ có quyền nêu lên nguyện vọng của mình và được tham gia vào các hoạt động phát triển, qua đó đẩy mạnh công bằng xã hội.phát triển

- Phát triển con người ngoài việc nâng cao sinh thể (trước hết là sức khỏe, thể chất) còn phát triển về năng lực tinh thần (trước hết là trí thức)

Trong luận văn này, chúng tôi sử dụng lý thuyết phát triển cộng đồng dựa vào cộng đồng nhằm tìm hiểu nhu cầu của nguời dân, trên cơ sở đó xuất phát từ chính

nhu cầu của người dân để nghiên cứu đánh giá và xây dựng mô hình ứng phó cho phù hợp

1.1.2.3 Lý thuyết nhu cầu của Abraham Maslow

Abraham Maslow là một nhà tâm lý học nổi tiếng người Mỹ Ông là người đáng chú ý nhất với sự đề xuất về Tháp nhu cầu và ông được xem là cha đẻ của chủ nghĩa nhân văn trong Tâm lý học [69, t54]

Maslow nhà khoa học xã hội nổi tiếng đã xây dựng học thuyết về nhu cầu của con người vào những năm 1950 Lý thuyết của ông nhằm giải thích những nhu cầu nhất định của con người cần được đáp ứng như thế nào để một cá nhân hướng đến cuộc sống lành mạnh và có ích cả về thể chất lẫn tinh thần

Lý thuyết của ông giúp cho sự hiểu biết của chúng ta về những nhu cầu của con người bằng cách nhận diện một hệ thống thứ bậc các nhu cầu Ông đã đem các loại nhu cầu khác nhau của con người, căn cứ theo tính đòi hỏi của nó và thứ tự phát

Trang 40

sinh trước sau của chúng để quy về 5 loại sắp xếp thành thang bậc về nhu cầu của con người tư thấp đến cao

Hệ thống cấp bậc nhu cầu của Maslow thường được thể hiện dưới dạng một hình kim tự tháp, các nhu cầu ở bậc thấp thì càng xếp phía dưới

Tháp nhu cầu Maslow [69]

Cấu trúc của Tháp nhu cầu có 5 tầng, trong đó, những nhu cầu con người được liệt kê theo một trật tự thứ bậc hình tháp kiểu kim tự tháp

Những nhu cầu cơ bản ở phía đáy tháp phải được thoả mãn trước khi nghĩ đến các nhu cầu cao hơn Các nhu cầu bậc cao sẽ nảy sinh và mong muốn được thoả mãn ngày càng mãnh liệt khi tất cả các nhu cầu cơ bản ở dưới (phía đáy tháp) đã được đáp ứng đầy đủ

Nhu cầu sinh lý:

Đây là nhu cầu cơ bản để duy trì cuộc sống của con người như nhu cầu ăn uống, ngủ, nhà ở, sưởi ấm và thoả mãn về tình dục.Là nhu cầu cơ bản nhất, nguyên thủy nhất, lâu dài nhất, rộng rãi nhất của con người Nếu thiếu những nhu cầu cơ bản này con người sẽ không tồn tại được Ông quan niệm rằng, khi những nhu cầu này chưa được thoả mãn tới mức độ cần thiết để duy trì cuộc sống thì những nhu cầu khác của con người sẽ không thể tiến thêm nữa

Nhu cầu về an toàn hoặc an ninh:

An ninh và an toàn có nghĩa là một môi trường không nguy hiểm, có lợi cho sự phát triển liên tục và lành mạnh của con người Nội dung của nhu cầu an ninh: An toàn sinh mạng là nhu cầu cơ bản nhất, là tiền đề cho các nội dung khác như an toàn

Ngày đăng: 07/01/2016, 11:50

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[2]. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2012). Kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng cho Việt Nam, NXB Tài nguyên - môi trường và bản đồ Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng cho Việt Nam
Tác giả: Bộ Tài nguyên và Môi trường
Nhà XB: NXB Tài nguyên - môi trường và bản đồ Việt Nam
Năm: 2012
[3]. Nguyễn Xuân Dũng, Hoàng Văn Thắng (2013). Bước đầu nghiên cứu đề xuất khung đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đến đa dạng sinh học, Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc gia “Nâng cao sức chống chịu trước biến đổi khí hậu”, NXB Khoa học và Kỹ Thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bước đầu nghiên cứu đề xuất khung đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đến đa dạng sinh học
Tác giả: Nguyễn Xuân Dũng, Hoàng Văn Thắng
Nhà XB: NXB Khoa học và Kỹ Thuật
Năm: 2013
[4]. Vũ Cao Đàm (1999). Giáo trình Phương pháp luận nghiên cứu khoa học, NXB Khoa học và Kỹ Thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Phương pháp luận nghiên cứu khoa học
Tác giả: Vũ Cao Đàm
Nhà XB: NXB Khoa học và Kỹ Thuật
Năm: 1999
[5]. Trần Thọ Đạt, Vũ Thị Hoài Thu (2012). Biến đổi khí hậu và sinh kế ven biển, NXB Giao thông vận tải Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biến đổi khí hậu và sinh kế ven biển
Tác giả: Trần Thọ Đạt, Vũ Thị Hoài Thu
Nhà XB: NXB Giao thông vận tải
Năm: 2012
[6]. Trần Văn Điền, Hồ Ngọc Sơn, Kiến thức bản địa của người dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc trong thích ứng với biến đổi khí hậu Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiến thức bản địa của người dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc trong thích ứng với biến đổi khí hậu
Tác giả: Trần Văn Điền, Hồ Ngọc Sơn
[7]. Đề án giảm phát thải khí nhà kính trong nông nghiệp, nông thôn đến năm 2010, Bộ nông nghiệp và Phát triển nông thôn – Chương trình Phát triển Liên hợp quốc, NXB Nông nghiệp năm 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề án giảm phát thải khí nhà kính trong nông nghiệp, nông thôn đến năm 2010
Tác giả: Bộ nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Chương trình Phát triển Liên hợp quốc
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2013
[8]. Nguyễn Thị Kim Hoa, giáo trình Công tác xã hội với người khuyết tật, Nhà xuất bản ĐHQGHN, tháng 1/2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: giáo trình Công tác xã hội với người khuyết tật
Nhà XB: Nhà xuất bản ĐHQGHN
[9]. Trương Quang Học (2010). Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu tới đa dạng sinh học ở Việt Nam, Kỷ yếu Hội nghị Môi trường toàn quốc 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu tới đa dạng sinh học ở Việt Nam
Tác giả: Trương Quang Học
Năm: 2010
[10]. Trương Quang Học (2010). Biến đổi toàn cầu: cơ hội và thách thức trong nghiên cứu khoa học và đào tạo, Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường: 25 năm xây dựng và phát triển” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biến đổi toàn cầu: cơ hội và thách thức trong nghiên cứu khoa học và đào tạo, Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường: 25 năm xây dựng và phát triển
Tác giả: Trương Quang Học
Năm: 2010
[11]. Trương Quang Học, Nguyễn Đức Ngữ (2010). Tổn thất và thiệt hại: Nghiên cứu về tác động của biến đổi khí hậu đến người nghèo tại Việt nam và những ứng phó của họ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổn thất và thiệt hại
Tác giả: Trương Quang Học, Nguyễn Đức Ngữ
Năm: 2010
[12]. Trương Quang Học, Phạm Đức Thi và Phạm Bích Ngọcvà nnk (2011). Hỏi đáp về biến đổi khí hậu, NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hỏi đáp về biến đổi khí hậu
Tác giả: Trương Quang Học, Phạm Đức Thi, Phạm Bích Ngọc
Nhà XB: NXB Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 2011
[13]. Trương Quang Học (2011). Về quy trình lồng ghép các yếu tố môi trường và biến đổi khí hậu vào các quy hoạch, kế hoạch và chương trình phát triển, Kỷ yếu Hội thảo quốc gia lần thứ II: Môi trường và Phát triển bền vững, NXB Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về quy trình lồng ghép các yếu tố môi trường và biến đổi khí hậu vào các quy hoạch, kế hoạch và chương trình phát triển, Kỷ yếu Hội thảo quốc gia lần thứ II: Môi trường và Phát triển bền vững
Tác giả: Trương Quang Học
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2011
[14]. Trương Quang Học (2013). Cơ sở sinh thái học cho phát triển bền vững và ứng phó với biến đổi khí hậu. Kỷ yếu Hội thảo quốc gia “Nâng cao sức chống chịu trước biến đổi khí hậu”, NXB Khoa học và Kỹ Thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở sinh thái học cho phát triển bền vững và ứng phó với biến đổi khí hậu
Tác giả: Trương Quang Học
Nhà XB: NXB Khoa học và Kỹ Thuật
Năm: 2013
[15]. Trương Quang Học (2013). Tiếp cận liên ngành/dựa trên hê sinh thái trong phát triển bền vững và ứng phó với biến đổi khí hậu, Kỷ yếu Hội thảo khoa hoc Kỷ niệm 25 năm thành lập Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp cận liên ngành/dựa trên hê sinh thái trong phát triển bền vững và ứng phó với biến đổi khí hậu
Tác giả: Trương Quang Học
Năm: 2013
[16].Tô Duy Hợp, Lương Hồng Quang, Phát triển cộng đồng lý thuyết và vận dụng, Hà Nội, Nxb.Văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển cộng đồng lý thuyết và vận dụng, Hà Nội
Nhà XB: Nxb.Văn hóa thông tin
[19]. Kim Thị Thúy Ngọc (2013). Lồng ghép cách tiếp cận thích ứng dựa vào hệ sinh thái trong các chính sách và chiến lược về biến đổi khí hậu, Kỷ yếu Hội thảo quốc gia “Nâng cao sức chống chịu trước biến đổi khí hậu”, NXB Khoa học Kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lồng ghép cách tiếp cận thích ứng dựa vào hệ sinh thái trong các chính sách và chiến lược về biến đổi khí hậu
Tác giả: Kim Thị Thúy Ngọc
Nhà XB: NXB Khoa học Kỹ thuật
Năm: 2013
[20]. Phạm Thị Bích Ngọc, Trương Quang Học (2013). Góp phần nâng cao nhận thức và đào tạo nguồn nhân lực ứng phó với biến đổi khí hậu cho các tổ chức phi chính phủ, Kỷ yếu Hội thảo quốc gia “Nâng cao sức chống chịu trước biến đổi khí hậu”, NXB Khoa học và Kỹ Thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần nâng cao nhận thức và đào tạo nguồn nhân lực ứng phó với biến đổi khí hậu cho các tổ chức phi chính phủ, Kỷ yếu Hội thảo quốc gia “Nâng cao sức chống chịu trước biến đổi khí hậu”
Tác giả: Phạm Thị Bích Ngọc, Trương Quang Học
Nhà XB: NXB Khoa học và Kỹ Thuật
Năm: 2013
[22]. Nguyễn Thị Nguyệt, Nguyễn quang An, Nguyễn Thiện Sơn, Một số điều cần biết về biến đổi khí hậu trong nông nghiệp, NXB Nông nghiệp, Hà Nội 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số điều cần biết về biến đổi khí hậu trong nông nghiệp
Tác giả: Nguyễn Thị Nguyệt, Nguyễn quang An, Nguyễn Thiện Sơn
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2013
[23]. Những kiến thức cơ bản về biến đổi khí hậu, NXB Tài nguyên - Môi trường và Bản đồ Việt Nam, Hà Nội 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những kiến thức cơ bản về biến đổi khí hậu
Nhà XB: NXB Tài nguyên - Môi trường và Bản đồ Việt Nam
[24]. Nguyễn Đức Ngữ (2008), Biến đổi khí hậu, NXB Khoa học và kỹ thuật. [25]. Ngân hàng thế giới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biến đổi khí hậu
Tác giả: Nguyễn Đức Ngữ
Nhà XB: NXB Khoa học và kỹ thuật
Năm: 2008

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1: Bản đồ xã Y Can trong huyện Trấn Yên - Ứng phó các hiện tượng thời tiết cực đoan của người dân dựa vào cộng đồng ( nghiên cứu tại xã y can, huyện trấn yên, tỉnh yên bái)
Hình 1.1 Bản đồ xã Y Can trong huyện Trấn Yên (Trang 43)
Bảng 2.1:  Đặc trưng nhiệt độ tháng ( 0 C) tại Yên Bái (Đơn vị tính: 0,1 độ C) - Ứng phó các hiện tượng thời tiết cực đoan của người dân dựa vào cộng đồng ( nghiên cứu tại xã y can, huyện trấn yên, tỉnh yên bái)
Bảng 2.1 Đặc trưng nhiệt độ tháng ( 0 C) tại Yên Bái (Đơn vị tính: 0,1 độ C) (Trang 52)
Bảng 2.3: Đặc trưng mưa tháng (mm) tại trạm Yên Bái (Đơn vị tính: mm) - Ứng phó các hiện tượng thời tiết cực đoan của người dân dựa vào cộng đồng ( nghiên cứu tại xã y can, huyện trấn yên, tỉnh yên bái)
Bảng 2.3 Đặc trưng mưa tháng (mm) tại trạm Yên Bái (Đơn vị tính: mm) (Trang 55)
Hình 2.2: Hồ sơ lịch sử thiên tai xã Y Can - Ứng phó các hiện tượng thời tiết cực đoan của người dân dựa vào cộng đồng ( nghiên cứu tại xã y can, huyện trấn yên, tỉnh yên bái)
Hình 2.2 Hồ sơ lịch sử thiên tai xã Y Can (Trang 56)
Hình 2.3: Làng mạc không còn sau trận lũ lịch sử (1968) - Ứng phó các hiện tượng thời tiết cực đoan của người dân dựa vào cộng đồng ( nghiên cứu tại xã y can, huyện trấn yên, tỉnh yên bái)
Hình 2.3 Làng mạc không còn sau trận lũ lịch sử (1968) (Trang 57)
Hình 2.4: Thiệt hại do cơn bão số 5 năm 2012. - Ứng phó các hiện tượng thời tiết cực đoan của người dân dựa vào cộng đồng ( nghiên cứu tại xã y can, huyện trấn yên, tỉnh yên bái)
Hình 2.4 Thiệt hại do cơn bão số 5 năm 2012 (Trang 66)
Hình 2.5: Nắng nóng là nguyên nhân chủ yếu gây cháy rừng - Ứng phó các hiện tượng thời tiết cực đoan của người dân dựa vào cộng đồng ( nghiên cứu tại xã y can, huyện trấn yên, tỉnh yên bái)
Hình 2.5 Nắng nóng là nguyên nhân chủ yếu gây cháy rừng (Trang 70)
Hình 2.6: Người dân gặt lúa bị ngập trắng nứớc - Ứng phó các hiện tượng thời tiết cực đoan của người dân dựa vào cộng đồng ( nghiên cứu tại xã y can, huyện trấn yên, tỉnh yên bái)
Hình 2.6 Người dân gặt lúa bị ngập trắng nứớc (Trang 72)
Hình 2.7: Mưa lũ do bão: Người dân trèo lên nóc nhà kêu cứu - Ứng phó các hiện tượng thời tiết cực đoan của người dân dựa vào cộng đồng ( nghiên cứu tại xã y can, huyện trấn yên, tỉnh yên bái)
Hình 2.7 Mưa lũ do bão: Người dân trèo lên nóc nhà kêu cứu (Trang 74)
Hình 2.8: Cây nổ hoa trắng dự báo nước lũ khi có bão - Ứng phó các hiện tượng thời tiết cực đoan của người dân dựa vào cộng đồng ( nghiên cứu tại xã y can, huyện trấn yên, tỉnh yên bái)
Hình 2.8 Cây nổ hoa trắng dự báo nước lũ khi có bão (Trang 81)
Hình 2.9: Cán bộ tập huấn cho người dân trồng giống lúa mới - Ứng phó các hiện tượng thời tiết cực đoan của người dân dựa vào cộng đồng ( nghiên cứu tại xã y can, huyện trấn yên, tỉnh yên bái)
Hình 2.9 Cán bộ tập huấn cho người dân trồng giống lúa mới (Trang 85)
Hình 2.11: Trồng thêm khoai xen canh tăng thêm nguồn thu - Ứng phó các hiện tượng thời tiết cực đoan của người dân dựa vào cộng đồng ( nghiên cứu tại xã y can, huyện trấn yên, tỉnh yên bái)
Hình 2.11 Trồng thêm khoai xen canh tăng thêm nguồn thu (Trang 86)
Hình 2.12: Giống lợn Đen có sức chống chịu với thời tiết cực đoan - Ứng phó các hiện tượng thời tiết cực đoan của người dân dựa vào cộng đồng ( nghiên cứu tại xã y can, huyện trấn yên, tỉnh yên bái)
Hình 2.12 Giống lợn Đen có sức chống chịu với thời tiết cực đoan (Trang 88)
Hình 2.13: Cán bộ Thú y của Tổ chức Tầm nhìn thế giới kiểm tra chất lượng - Ứng phó các hiện tượng thời tiết cực đoan của người dân dựa vào cộng đồng ( nghiên cứu tại xã y can, huyện trấn yên, tỉnh yên bái)
Hình 2.13 Cán bộ Thú y của Tổ chức Tầm nhìn thế giới kiểm tra chất lượng (Trang 89)
Hình 3.2: Mô hình VAC - Ứng phó các hiện tượng thời tiết cực đoan của người dân dựa vào cộng đồng ( nghiên cứu tại xã y can, huyện trấn yên, tỉnh yên bái)
Hình 3.2 Mô hình VAC (Trang 110)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w