Năm 2010, tác giả Phạm Xuân Phú, trong đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường tại Đại học An Giang “Nghiên cứu phát triển du lịch dựa vào cộng đồng ở xã Mỹ Hòa Hưng, thành phố Long Xuyên,
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
PHẠM XUÂN AN
NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂNDU LỊCH
DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG TẠI CÙ LAO ÔNG HỔ, AN GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ DU LỊCH
Hà Nội, 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
PHẠM XUÂN AN
NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂNDU LỊCH
DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG TẠI CÙ LAO ÔNG HỔ, AN GIANG
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi – PHẠM XUÂN
AN, học viên cao học khóa 2012 – 2014, Khoa Du lịch học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội Tôi xin chịu trách nhiệm trước Hội đồng Khoa học và Đào tạo Khoa Du lịch học, Trường Đại học Khoa học Xã hội
và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội
Học viên
PHẠM XUÂN AN
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
BẢNG DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG VÀ BIỂU ĐỒ vii
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DU LỊCH DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG 8
1.1 Một số khái niệm 8
1.2 Đặc điểm và những nguyên tắc phát triển du lịch dựa vào cộng đồng 11
1.3 Một số loại hình du lịch có sự tham gia của cộng đồng địa phương 13
1.4 Một số hoạt động du lịch có sự tham gia của cộng đồng địa phương 14
1.5 Mối quan hệ giữa cộng đồng địa phương với hoạt động du lịch dựa vào cộng đồng 15
1.6 Những bên liên quan tham gia du lịch dựa vào cộng đồng 19
1.7 Khu vực có khả năng phát triển du lịch dựa vào cộng đồng 22
Tiểu kết chương 1: 23
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG TẠI CÙ LAO ÔNG HỔ, AN GIANG 25
2.1 Khái quát chung về cù lao Ông Hổ, An Giang 25
2.2 Khả năng phát triển du lịch dựa vào cộng đồng tại cù lao Ông Hổ, An Giang 26
2.3 Hiện trạng hoạt động du lịch dựa vào cộng đồng tại cù lao Ông Hổ, An Giang 49
Tiểu kết chương 2: 68
CHƯƠNG 3 CÁC GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ TRONG PHÁT TRIỂN DU LỊCH DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG TẠI CÙ LAO ÔNG HỔ, AN GIANG 69
3.1 Căn cứ đề xuất giải pháp 69
Trang 53.2 Các giải pháp tổ chức, quản lý 69
3.3 Các giải pháp phát triển nguồn nhân lực 71
3.4 Các giải pháp thúc đẩy cung ứng, phát triển sản phẩm và dịch vụ du lịch 76
3.5 Các giải pháp xúc tiến, quảng bá 79
3.6 Các giải pháp đầu tư 81
3.7 Các giải pháp nhằm nâng cao nhận thức cộng đồng trong việc bảo vệ tài nguyên du lịch và môi trường sinh thái 82
3.8 Các kiến nghị 84
KẾT LUẬN 90 Phụ lục I Phụ lục 1 Phiếu điều tra và bảng xử lý số liệu II Phụ lục 2 Cẩm nang du lịch Cù lao Ông Hổ, An Giang XXIV Phụ lục 3 Một số tour du lịch trải nghiệm đời sống cộng đồng tại cù lao Ông Hổ, An Giang XXXVII Phụ lục 4 Một số hình ảnh về hoạt động du lịch dựa vào cộng đồng tại cù lao Ông Hổ, An Giang XLI
Trang 6Netherlands Development Organization (Tổ
chức phát triển Hà Lan)
SNV
International Union for Conservation of Nature
and Natural Resources (Liên minh Quốc tế Bảo
tồn Thiên nhiên và Tài nguyên thiên nhiên)
IUCN
World Wide Fund For Nature (Quỹ Quốc tế
Bảo vệ Thiên nhiên)
WWF
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG VÀ BIỂU ĐỒ
Bảng 1.1 Mô tả các loại hình Du lịch dựa vào cộng đồng 13
Bảng 1.2 Những tác động của Du lịch dựa vào cộng đồng 17
Bảng 2.1 Nhiệt độ trung bình tháng của TP Long Xuyên 28
Bảng 2.2 Lượng khách và tốc độ tăng trưởng lượng khách đến cù lao Ông Hổ từ 2010 đến 2014 55
Bảng 2.3 Lượng khách sử dụng sản phẩm dịch vụ của Du lịch dựa vào cộng đồng tại cù lao Ông Hổ 56
Bảng 2.4 Lượng khách lưu trú qua đêm tại các điểm du lịch dựa vào cộng đồng trên cù lao Ông Hổ 57
Bảng 2.5 Số lao động tham gia dịch vụ Du lịch dựa vào cộng đồng trên cù lao Ông Hổ 60
Bảng 2.6 Thu nhập bình quân đầu người/năm ở cù lao Ông Hổ 61
Bảng 2.7 Tỷ lệ hộ nghèo ở cù lao Ông Hổ 61
Bảng 2.8 Tỷ lệ du khách thích sử dụng các sản phẩm du lịch của CĐĐP 64
Bảng 2.9 Các công ty du lịch đánh giá về sức hấp dẫn của sản phẩm DLDVCĐ tại cù lao Ông Hổ, An Giang 65
Bảng 2.10 Phân tích SWOT 66
Biểu đồ 2.1 Khách du lịch đánh giá sức hấp dẫn của các sản phẩm DLDVCĐ tại cù lao Ông Hổ, An Giang 63
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Du lịch là ngành kinh tế có mối quan hệ với nhiều ngành, nhiều lĩnh vực, trong đó du lịch có mối quan hệ hết sức chặt chẽ với cộng đồng địa phương Việc phát triển du lịch dựa vào cộng đồng đã đem lại rất nhiều lợi ích trực tiếp hoặc gián tiếp cho cộng đồng địa phương như: tạo việc làm; tăng thu nhập; giúp xây dựng và
tu bổ cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật tốt hơn; đem đến sự hiểu biết, giao lưu văn hóa; xóa đói giảm nghèo, nâng cao đời sống của người dân; góp phần vào quá trình phát triển kinh tế của vùng, của đất nước… Điều đó mang ý nghĩa nhân văn to lớn, thể hiện đường lối chiến lược, chính sách phát triển kinh tế xã hội đúng đắn, phù hợp của mỗi quốc gia
Du lịch dựa vào cộng đồng đã được quan tâm quy hoạch, đầu tư phát triển mang lại kết quả về nhiều mặt ở nhiều quốc gia trên thế giới Ở Việt Nam, các loại hình du lịch này đã được tổ chức và mang lại những thành công bước đầu ở nhiều địa phương
Cù lao Ông Hổ, xã Mỹ Hòa Hưng, TP Long Xuyên, An Giang là một trong những xã có tiềm năng về du lịch dựa vào cộng đồng, với cảnh đẹp thiên nhiên, và các di tích lịch sử đáp ứng nhu cầu tham quan nghỉ mát của khách du lịch
Thực tế cho thấy, đối tượng tham gia làm du lịch ở xã Mỹ Hoà Hưng chủ yếu
là những hộ có kinh tế khá ổn định, họ có nhà sàn cổ, có diện tích đất vườn rộng, những hộ nghèo tham gia dự án là rất ít, họ hầu như không được hưởng lợi từ thành quả của dự án mang lại Người dân chỉ chủ yếu tham gia vào một số khâu, lợi ích kinh tế không thường xuyên và bấp bênh, các hình thức tham gia hầu như mang tính chất tự phát, người dân thấy có lợi, có thu nhập thì họ làm
Vì vậy, cần giúp người dân địa phương tham gia các hoạt động du lịch, cùng
vì lợi ích và mục đích chung nâng cao chất lượng cuộc sống cho cộng đồng địa phương Phát triển du lịch dựa vào cộng đồng không chỉ giúp người dân nâng cao chất lượng cuộc sống mà còn nâng cao nhận thức về du lịch, về ý thức bảo vệ tài nguyên du lịch, bảo vệ môi trường sinh thái, ý thức về vị trí, vai trò của cộng đồng trong việc tạo ra môi trường nhân văn hấp dẫn du khách
Trang 9Từ những lý do trên, tác giả quyết định chọn đề tài: “Nghiên cứu phát triển
du lịch dựa vào cộng đồng tại cù lao Ông Hổ, An Giang”
2 Lịch sử nghiên cứu đề tài
Nghiên cứu phát triển du lịch dựa vào cộng đồng ở cù lao Ông Hổ, An Giang
là một đề tài mới, chưa có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này Năm 2010, tác giả Phạm Xuân Phú, trong đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường tại Đại học An Giang “Nghiên cứu phát triển du lịch dựa vào cộng đồng ở xã Mỹ Hòa Hưng, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang” đã chủ yếu tập trung tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của du lịch dựa vào cộng đồng tại cù lao Ông Hổ, An Giang, và thực trạng phát triển du lịch dựa vào cộng đồng của địa phương giai đoạn
Dauglas Hainsworth trong bài báo cáo khoa học “Phương pháp tiếp cận du lịch vì người nghèo, một số kinh nghiệm và bài học ở Việt Nam” đã chỉ ra một số phương pháp nghiên cứu, kinh nghiệm phát triển, kết quả ban đầu của việc phát triển DLDVCĐ ở một số địa phương nghèo ở Việt Nam [51, tr 19 – 26]
Streaut II trong bài báo cáo khoa học “Sự phát triển du lịch, ảnh hưởng của
nó đối với sự phát triển KT – XH, văn hóa và môi trường” đã chỉ ra những tác động tích cực và tiêu cực của hoạt động du lịch đến sự phát triển KT – XH, văn hóa và môi trường của CĐĐP và một số giải pháp cho vấn đề này [56]
Trong báo cáo của Ủy ban Phát triển Bền vững của Liên Hiệp Quốc tại Hội nghị thượng đỉnh về phát triển bền vững tổ chức tại Johan nesburg, năm 2002 đã kêu gọi “Phát triển bền vững để mang lại nhiều lợi ích hơn cho cộng đồng dân cư tại các điểm du lịch, đồng thời đảm bảo duy trì sự phát triển bền vững của các yếu tố văn hóa và môi trường nơi sống của họ” Cũng tại hội nghị này, Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO) đã đưa ra sáng kiến phát triển du lịch bền vững gắn với xóa đói
Trang 10giảm nghèo hay gọi là sáng kiến STEP Với sáng kiến này, UNWTO đã cùng với chính phủ các nước xác định và tài trợ cho một số dự án phát triển du lịch có khả năng xóa đói giảm nghèo [50]
S.Singh, DJ Timothy, RK Dowling trong cuốn “Tourism in Destination Communities” đã hệ thống cơ sở lý luận DLCĐ, du lịch của CĐĐP, những thách thức và cơ hội cho các điểm đến DLCĐ, các vấn đề phát sinh trong cộng đồng, kế hoạch thích hợp cho phát triển các điểm đến DLCĐ, marketing điểm đến DLCĐ, nhận thức và du lịch và điểm đến DLCĐ, một số mô hình phát triển DLCĐ của các nước trên thế giới [60]
Sue BeeTon trong cuốn “Commumnity Development through Tourism” đã
hệ thống hóa cơ sở lý luận về DLCĐ, DLCĐ nông thôn, đối phó với khủng hoảng DLCĐ, lập kế hoạch chiến lược cho DLCĐ, xúc tiến phát triển DLCĐ, phát triển cộng đồng thông qua du lịch, mô hình phát triển DLCĐ, du lịch nông thôn ở một số nước trên thế giới [61]
Grey Richards and Derek Hall trong cuốn “Tourism and Sustainable community Development” đã đưa ra những khái niệm, đặc điểm về sự tham gia du lịch của cộng đồng, phương pháp tiếp cận lập kế hoạch phát triển du lịch bền vững gắn với phát triển cộng đồng, phát triển các doanh nghiệp nhỏ của cộng đồng, các tiêu chuẩn của môi trường và đo lường điểm đến, các công cụ tiếp thị, cộng đồng nông thôn và phát triển du lịch Những mô hình, kinh nghiệm phát triển DLCĐ ở nhiều quốc gia trên thế giới [58]
Ở Việt Nam
Tổng cục Du lịch Việt Nam trong đề tài khoa học “Nghiên cứu vận dụng kinh nghiệm của nước ngoài trong việc quản lý phát triển lưu trú cho khách ở nhà dân” đã đưa ra các khái niệm về DLDVCĐ, du lịch homestay, thu thập, tổng hợp một số kinh nghiệm phát triển du lịch homestay của một số quốc gia trên thế giới và cách thức vận dụng vào Việt Nam [36]
Tác giả Võ Quế trong cuốn “Du lịch cộng đồng lý thuyết và vận dụng tập 1”
đã hệ thống cơ sở lý luận về DLDVCĐ và nghiên cứu mô hình phát triển DLDVCĐ
ở một số quốc gia trên thế giới [27]
Tác giả Phạm Trung Lương (chủ biên) và cộng sự trong cuốn “Du lịch sinh thái, những vấn đề lý luận và thực tiễn phát triển ở Việt Nam” khẳng định phải thu
Trang 11hút CĐĐP vào hoạt động du lịch, chia sẻ lợi ích từ hoạt động du lịch với CĐĐP
trong một số nguyên tắc phát triển du lịch sinh thái [19]
Tác giả Bùi Thị Hải Yến (chủ biên và cộng sự) trong các công trình, báo cáo
và đề tài khoa học “Vai trò giáo dục cộng đồng với phát triển bền vững trên thế giới
và ở Việt Nam”, “Du lịch cộng đồng”, “Tài nguyên du lịch”, “Nhận thức và năng
lực du lịch nhằm góp phần xóa đói giảm nghèo cho cộng đồng người Mường ở khu
vực Vườn Quốc gia Cúc Phương” đã hệ thống cơ sở lý luận DLDVCĐ, mô hình,
kinh nghiệm phát triển DLDVCĐ của một số quốc gia trên thế giới và ở Việt Nam,
đưa ra một số giải pháp phát triển DLDVCĐ cho người Mường ở VQG Cúc Phương
và các nguồn lực phát triển DLDVCĐ tại Việt Nam [49]; [50]
Tác giả Phạm Hồng Long trong Luận án tiến sĩ “Nhận thức của người dân
địa phương về tác động của du lịch và sự ủng hộ của họ cho phát triển du lịch:
trường hợp vịnh Hạ Long, Quảng Ninh, Việt Nam” đã xác định việc hiểu được nhận
thức của người dân địa phương về tác động của du lịch và thái độ của họ đối với sự
phát triển du lịch là nền tảng cho sự thành công và sự phát triển lâu dài của bất kỳ
hình thức phát triển du lịch nào Qua đó, phát triển một mô hình giúp cho việc giải
thích về nhận thức của người dân địa phương về du lịch
Tác giả Huỳnh Ngọc Phương, trong Luận văn Cao học Du lịch – Khoa Du
lịch học – ĐHKHXH & NV – ĐHQG Hà Nội, « Phát triển du lịch cộng đồng tại các
làng nghề truyền thống ở thành phố Nha Trang » hệ thống những vấn đề lý luận về
DLDVCĐ và các mô hình phát triển DLDVCĐ ở Việt Nam và trên thế giới Điều tra,
thống kê, phân tích và đánh giá các nguồn lực và thực trạng phát triển DLDVCĐ tại các
làng nghề truyền thốngở Nha Trang Đề xuất các kiến giải nhằm phát triển DLDVCĐ tại
các làng nghề truyền thống ở Nha Trang theo hướng bền vững
Kết quả nghiên cứu về lý luận cũng như thực tiễn phát triển DLDVCĐ của
các tác giả trên thế giới và Việt Nam sẽ là nguồn tri thức quí giá cho tác giả vận
dụng vào nghiên cứu đề tài luân văn thạc sĩ của mình
3 Mục đích của đề tài
Tìm hiểu thực trạng du lịch dựa vào cộng đồng ở Cù lao Ông Hổ, An Giang
nhằm đề ra những giải pháp góp phần thu hút cộng đồng tham gia vào hoạt động du
lịch, qua đó, phát triển loại hình du lịch này
Comment [H1]: Có thể bổ sung một số luận văn, luận án làm về du lịch cộng đồng cho phần này dài thêm một chút
Trang 124 Nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
Để đạt được mục đích trên, đặt ra những nhiệm vụ nghiên cứu đề tài như sau:
Thu thập và tổng quan tài liệu về các vấn đề liên quan như tài liệu, công trình
nghiên cứu về du lịch cộng đồng, các thông tin về tự nhiên - xã hội, các số liệu,
thông tin về hoạt động du lịch của địa phương
Thu thập các dữ liệu sơ cấp thông qua khảo sát thực địa, phỏng vấn chuyên
gia, điều tra xã hội học để bổ sung thông tin
Đánh giá năng lực và sự tham gia của cộng đồng vào hoạt động du lịch nhằm
đề xuất giải pháp nhằm thu hút hơn nữa cộng đồng tham gia vào hoạt động du lịch
ở cù lao Ông Hổ, An Giang
Đánh giá hiệu quả thực tế của các sản phẩm du lịch, của hoạt động xúc tiến,
quảng bá, của khâu tổ chức, quản lý du lịch tại cù lao Ông Hổ, qua đó đề xuất
những giải pháp, kiến nghị nhằm phát triển du lịch cộng đồng tại cù lao Ông Hổ, An
Giang
5 Đối tượng nghiên cứu
- Các điều kiện phát triển du lịch dựa vào cộng đồng của cù lao Ông Hổ
- Thực trạng hoạt động du lịch dựa vào cộng đồng ở cù lao Ông Hổ
- Cộng đồng địa phương tại cù lao Ông Hổ, An Giang
6 Phạm vi nghiên cứu
- Không gian nghiên cứu: Luận văn chủ yếu tập trung nghiên cứu trên địa
bàn cù lao Ông Hổ, An Giang
- Thời gian nghiên cứu: Số liệu nghiên cứu trong giai đoạn từ năm 2010 đến
năm 2014
7 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện các nhiệm vụ đặt ra, các quan điểm và phương pháp nghiên cứu
chủ yếu sau đã được sử dụng:
Quan điểm nghiên cứu
- Quan điểm hệ thống: Được tác giả vận dụng trong việc hệ thống hóa, sắp
xếp, xử lý các bước nghiên cứu, các vấn đề nghiên cứu, cả tri thức lý luận cũng như
thực tiễn
Comment [H2]: Mục đích cố gắng viết sao không trùng với nhiệm vụ Chính vì vậy, mục đích của đề tài có thể là “Tìm hiểu thực trạng hoạt động du lịch dựa vào cộng đồng ở Cù Lao Ông Hổ, qua đó đề ra được những giải pháp nhằm phát triển loại hình du lịch này”
Comment [H3]: Viết lại phần này Đối tượng nghiên cứu là:
- Các điều kiện phát triển du lịch của cù lao ông Hổ -Thực trạng hoạt động du lịch dựa vào cộng đồng ở
cù lao ông Hổ
- Các bên tham gia vào phát triển du lịch dựa vào cộng đồng ở cù lao ông Hổ
Trang 13- Quan điểm phát triển bền vững: Tác giả đã vận dụng cơ sở lý luận cũng
như thực tiễn phát triển bền vững ở Việt Nam và trên thế giới để phục vụ cho việc
nghiên cứu của đề tài
- Quan điểm kế thừa: Tác giả đã kế thừa có chọn lọc kết quả nghiên cứu, các
nguồn thông tin tư liệu của các nhà khoa học, tận dụng những ưu điểm của các công
trình nghiên cứu đi trước để khắc phục được những hạn chế của đề tài nghiên cứu
- Quan điểm lãnh thổ tổng hợp và chuyên môn hóa: Tác giả nghiên cứu tổng
hợp các nguồn lực cho phát triển DLDVCĐ tại cù lao Ông Hổ, An Giang Việc
nghiên cứu này nhằm đưa ra được các đánh giá xác thực, xây dựng những kiến giải
phát huy lợi thế tổng hợp và tránh lãng phí hoặc khai thác quá mức các nguồn lực
cho phát triển DLDVCĐ tại địa phương
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp khảo cứu thực tế và thu thập tư liệu:
Tác giả đã lập kế hoạch khảo cứu thực tế kết hợp với thu thập tư liệu bằng
văn bản, ảnh tư liệu, quan sát ghi chép các nguồn tri thức từ thực tiễn thông qua 4
chuyến điền dã khảo cứu tại cù lao Ông Hổ, An Giang và các địa phương trong tỉnh
An Giang
Trong quá trình khảo cứu thực địa, tác giả đã tiến hành quan sát tham dự,
quan sát không tham dự, chụp ảnh kết hợp với điều tra xã hội học bằng hỏi đáp,
bằng bảng hỏi đối với người dân, cán bộ các cơ quan chính quyền địa phương, các
cán bộ quản lý du lịch và KDL tại An Giang
Ngoài ra, tác giả còn thu thập các thông tin dữ liệu thứ cấp từ các nguồn:
sách, báo, tạp chí, các công trình khoa học, tài liệu về phát triển DLDVCĐ của địa
phương, các thông tin bài báo trên internet
- Phương pháp điều tra xã hội học: Phương pháp điều tra xã hội học được
tiến hành đồng thời với phương pháp các khảo cứu thực tế và thu thập tài liệu Gồm
phương pháp bảng hỏi, phương pháp phỏng vấn Đối với phương pháp bảng hỏi, tác
giả thực hiện phát ra: 20 bảng hỏi cho các công ty du lịch tại Thành phố Hồ Chí
Minh, Cần Thơ, An Giang, 50 bảng hỏi cho CĐĐP, 50 bảng hỏi cho KDL nội địa,
50 bảng hỏi cho KDL Quốc tế Số lượng bảng hỏi thu về đầy đủ và xử lý hết Đối
với phương pháp phỏng vấn, tác giả thực hiện phỏng vấn 20 người, từ các cơ quan
Comment [H4]: Phương pháp này cần phải được
mô tả chi tiết Thời gian, địa điểm, số phiếu phát ra,
số phiếu thu về, số phiếu xử lý…
Ngoài ra liên quan tới phỏng vấn thì phải chỉ rõ phỏng vấn bao người, họ là ai, thời gian phỏng vấn…
Phần này rất hay bị giáo viên phản biện và thành viên hội đồng bắt bẻ nếu không có đầy đủ thông tin minh chứng Em viết thêm mà thấy chưa ưng ý lắm,
có thể sau khi nộp bài em sẽ cho thêm phần phụ lục
có mẫu bảng hỏi và bảng xử lý số liệu giống luận văn của anh Phương Nhưng em thấy như vậy dài lắm thầy ah Thầy cho em ý kiến nhé thầy
Trang 14quản lý du lịch (Trung tâm du lịch nông dân An Giang), chính quyền địa phương
(Hội Nông dân xã Mỹ Hòa Hưng), các công ty du lịch tại Thành phố Hồ Chí Minh,
Cần Thơ, An Giang, người dân địa phương có tham gia kinh doanh dịch vụ du lịch
(homestay, xe ôm, xe lôi, đò máy, ẩm thực, vườn sinh thái )
- Phương pháp bản đồ, sơ đồ và ảnh tư liệu: Tác giả vận dụng phương pháp
này để tìm hiểu và xác định vị trí, nội dung, ranh giới của địa bàn nghiên cứu, các
điểm tuyến tham quan du lịch Cụ thể, để hình thành bản đồ du lịch địa bàn nghiên
cứu, tác giả đã xác định vị trí các kênh rạch, các cây cầu, xác định vị trí các điểm
tham quan, các cơ sở dịch vụ du lịch Tác giả lựa chọn các đối tượng nghiên cứu,
chụp ảnh và sử dụng ảnh để minh chứng cho các đối tượng nghiên cứu Hình ảnh
được thu thập, biên tập và đưa vào danh mục hình ảnh trong phần phụ lục
- Phương pháp thống kê, phân tích, so sánh và tổng hợp: Tác giả lựa chọn,
sắp xếp các thông tin theo nội dung nghiên cứu, sau đó tiến hành phân tích, so sánh,
đánh giá, tổng hợp thành các nhận định, báo cáo nhằm có được một nội dung hoàn
chỉnh, tổng thể về đối tượng nghiên cứu
8 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, phần nội dung
chính của luận văn bao gồm 3 chương
Chương 1 Cơ sở lí luận về du lịch dựa vào cộng đồng
Chương 2 Thực trạng phát triển du lịch dựa vào cộng đồng tại Cù lao Ông Hổ
– An Giang
Chương 3 Các giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả trong phát triển
du lịch dựa vào cộng đồng tại Cù lao Ông Hổ – An Giang
Comment [H5]: Để thế này cũng Ok Nhưng nếu cẩn thận hơn thì phải nói là “Cơ sở lí luận về du lịch dựa vào cộng đồng”
Trang 15CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DU LỊCH DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG 1.1 Một số khái niệm
1.1.1 Khái niệm cộng đồng
Cộng đồng là một khái niệm về tổ chức xã hội đã được nhiều nhà nghiên cứu đưa ra với nhiều cách định nghĩa khác nhau:
Từ điển bách khoa Việt Nam (2000) định nghĩa: “Cộng đồng là một tập
đoàn người rộng lớn, có những dấu hiệu chung về thành phần giai cấp, về nghề nghiệp, về địa điểm sinh tụ và cư trú Cũng có những cộng đồng xã hội bao gồm một dòng giống, một sắc tộc, một dân tộc” [37, tr.601]
Tác giả Võ Quế trong cuốn Du lịch cộng đồng lý thuyết và vận dụng (2006)
đã viết: “Khái niệm cộng đồng được cho là một khái niệm có nhiều tuyến nghĩa Trong tuyến nghĩa khoa học xã hội bao gồm: Các thực tế xã hội có cơ cấu tổ chức chặt chẽ hoặc không chặt chẽ, tồn tại trong một không gian địa lý nhất định” [27]
Tác giả Sue BeeTon trong cuốn Commumnity Development through Tourism
viết: “Cộng đồng có nguồn gốc từ Latin, mà đề cập đến tinh thần rất cộng đồng, hoặc một cộng đồng không có cấu trúc bên trong mà mọi người đều bình đẳng”
“Hoặc cộng đồng là một nhóm người có cùng một tín ngưỡng, cùng sống trong một thời gian và một không gian nhất định” [61, tr.3 – 4]
Trong cuốn Du lịch cộng đồng (2012) tác giả Bùi Thị Hải Yến viết: “Cộng
đồng được hiểu là một nhóm dân cư cùng sinh sống trên một lãnh thổ nhất định được gọi tên như: Làng, xã, huyện, thị xã, tỉnh, thành phố, quốc gia… có những dấu hiệu chung về thành phần giai cấp, truyền thống văn hóa, đặc điểm kinh tế - xã hội” [50, tr.33]
Như vậy, cộng đồng có thể được hiểu theo nghĩa rộng:“một nhóm dân cư, một tập đoàn người rộng lớn cùng sinh sống trên một lãnh thổ nhất định được gọi tên như: Làng (bản, buôn, sóc), xã (phường, thị trấn), huyện (thị xã, thành phố), tỉnh (thành phố), quốc gia,…cùng có những dấu hiệu chung về tôn giáo, thành phần giai cấp, về truyền thống văn hóa, về kinh tế xã hội”
1.1.2 Khái niệm cộng đồng địa phương
Trong sách Du lịch cộng đồng tác giả Bùi Thị Hải Yến: “CĐĐP là một
nhóm dân cư cùng sinh sống trên một lãnh thổ nhất định được gọi tên như các đơn
Trang 16vị làng (bản, buôn, thôn, sóc), xã, huyện, tỉnh (thành phố) nhất định qua nhiều thế
hệ và có những đặc điểm chung về các giá trị văn hóa truyền thống, bảo tồn, sử
dụng chung các nguồn TNMT, có cùng mối quan tâm về KT – XH, có sự gắn kết về
huyết thống, tình cảm và có sự chia sẻ nguồn lợi và trách nhiệm trong cộng đồng”
[48, tr.33]
Theo cuốn Phát triển cộng đồng do Nguyễn Hữu Nhân biên soạn: “CĐĐP
được hiểu là tập hợp các nhóm người có chung địa bàn cư trú và có quyền sử dụng
các tài nguyên ở địa phương đó” [24, tr.8]
Như vậy, khái niệm CĐĐP được hiểu theo nghĩa hẹp, gắn với một vùng lãnh
thổ nhất định, trong đó, có quan hệ gắn kết về tình cảm, quyền lợi, về giá trị văn
hoá, truyền thống, và cùng thực hiện những quy ước chung của cộng đồng Cộng
đồng địa phương được hiểu: “một nhóm dân cư hoặc một tập đoàn người rộng lớn
cùng sinh sống trên một lãnh thổ nhất định được gọi tên như Làng (bản, thôn, buôn,
sóc), xã (phường, thị trấn), huyện (thị xã, thành phố), tỉnh (thành phố), qua nhiều
thế hệ, có sự gắn kết về truyền thống, tình cảm, có quyền lợi và nghĩa vụ trong việc
bảo tồn, phát triển, sử dụng các nguồn tài nguyên ở địa phương, có các dấu hiệu
chung về tôn giáo, tín ngưỡng, KT – XH, truyền thống văn hóa”
1.1.3 Khái niệm du lịch dựa vào cộng đồng
Việc tìm hiểu khái niệm du lịch dựa vào cộng đồng cần bắt đầu từ việc tìm
hiểu khái niệm du lịch cộng đồng Theo đó, du lịch cộng đồng thực chất là phương
thức phát triển các loại hình du lịch bền vững có sự tham gia của CĐĐP nơi phân
bố hoặc gần nơi phân bố các nguồn TNDL Khái niệm DLCĐ cũng đã được nhiều
nhà khoa học, nhiều tổ chức tiến hành nghiên cứu
Tác giả Đỗ Thanh Hoa trong Tạp chí du lịch Việt Nam cho rằng:“Phát huy
vai trò của cộng đồng địa phương phát triển du lịch bền vững”, “DLCĐ là một hình
thái du lịch, trong đó chủ yếu là những người dân địa phương đứng ra phát triển
quản lý du lịch Kinh tế địa phương sẽ được phần lớn lợi nhuận từ hoạt động du
lịch” [13, tr.22]
Trong báo cáo khoa học Phát triển du lịch cộng đồng trong bối cảnh kinh tế
thị trường tác giả Nguyễn Văn Lưu viết: “Tính cộng đồng trong tạo cung du lịch có
thể hiểu là sự liên kết nhiều quá trình hoạt động du lịch riêng biệt thành quá trình
KT – XH như một hệ thống hữu cơ” [20, tr.67 – 69]
Comment [H6]: Lưu ý nội dung phần này Nói về khái niệm du lịch dựa vào cộng đồng, nhưng thực tế lại chỉ đề cập đến “du lịch cộng đồng” Vậy đâu là sự khác nhau giữa du lịch dựa vào cộng đồng và du lịch cộng đồng Phần này em đã cố gắng sửa để phân biệt giữa DLCĐ và DL dựa vào CĐ Tuy nhiên không tự tin lắm Thầy coi góp ý cho em nha thầy
Trang 17Theo tác giả Bùi Thị Hải Yến trong sách Du lịch cộng đồng: “DLCĐ có thể
được hiểu là phương thức phát triển du lịch bền vững mà ở đó CĐĐP có sự tham gia trực tiếp và chủ yếu trong các giai đoạn phát triển và mọi hoạt động du lịch Cộng đồng nhận được sự hợp tác giúp đỡ của các tổ chức, cá nhân trong nước và quốc tế, của chính quyền địa phương, cũng như chính phủ và nhận được phần lớn lợi nhuận thu được từ hoạt động du lịch nhằm phát triển cộng đồng, bảo tồn, khai thác TNMTDL bền vững, đáp ứng nhu cầu du lịch phong phú, có chất lượng cao và hợp lý của du khách để mọi tầng lớp dân cư đểu có thể sử dụng tiêu dùng các sản phẩm du lịch” [50, tr.35 – 36]
Từ việc nghiên cứu cơ sở lý luận, quan niệm DLCĐ được nhiều nhà khoa học, cùng các tổ chức đưa ra cũng như từ thực tiễn phát triển DLCĐ trên thế giới và
ở Việt Nam, DLCĐ có thể được hiểu:“Là phương thức phát triển du lịch bền vững
có sự tham gia trực tiếp chủ yếu với vai trò chủ thể của CĐĐP trong mọi hoạt động
và tất cả quá trình phát triển du lịch CĐĐP nhận được sự trợ giúp, hợp tác của các chủ thể tham gia khác, đồng thời được hưởng phần lớn những nguồn lợi thu được
từ hoạt động du lịch Phát triển DLCĐ nhằm bảo tồn, phát triển, khai thác TNMTDL bền vững, phát triển cộng đồng và du lịch bền vững, đáp ứng nhu cầu du lịch đa dạng ngày càng cao và hợp lý của du khách, để mọi tầng lớp dân cư có thể tiêu dùng các sản phẩm du lịch” [25, tr.12 – 13]
Trên cơ sở khái niệm du lịch cộng đồng ta thấy rằng trong thực tế phát triển
du lịch cộng đồng hiện nay, ở nhiều nơi, hoạt động này không hoàn toàn chỉ là sự tham gia trực tiếp, chủ yếu với vai trò chủ thể của CĐĐP, mà theo đó, CĐĐP trực tiếp tham gia vào các hoạt động du lịch như khai thác, quản lý, bảo tồn tài nguyên
du lịch thông qua sự giúp đỡ của các cơ quan tài trợ, các tổ chức phi chính phủ, chính quyền địa phương… Đây chính là điểm khác giữa du lịch cộng đồng và du lịch dựa vào cộng đồng Như vậy, ta có thể hiểu, du lịch dựa vào cộng đồng là việc CĐĐP trực tiếp tham gia vào các hoạt động du lịch như khai thác, quản lý, bảo tồn tài nguyên du lịch thông qua sự giúp đỡ của các cơ quan tài trợ, các tổ chức phi chính phủ, chính quyền địa phương… Lợi ích thu được sẽ đóng góp nhiều cho kinh
tế địa phương, giảm tỷ lệ đói nghèo, cải thiện thu nhập, nâng cao chất lượng đời sống Khách du lịch được nâng cao nhận thức, học hỏi về cộng đồng, và về cuộc
Trang 18sống đời thường, văn hóa truyền thống của người dân bản xứ Đồng thời du lịch dựa vào cộng đồng giúp giữ gìn, bảo tồn các di sản về văn hóa, di sản thiên nhiên của địa phương, và hướng đến sự phát triển du lịch bền vững
1.2 Đặc điểm và những nguyên tắc phát triển du lịch dựa vào cộng đồng
1.2.1 Đặc điểm du lịch dựa vào cộng đồng
Du lịch dựa vào cộng đồng là loại hình du lịch mà cộng đồng dân cư là những người được tham gia ngay từ đầu và trong suốt quá trình phát triển du lịch: từ khâu nghiên cứu, lập dự án quy hoạch phát triển du lịch, tham gia với vai trò quản
lý và quyết định các vấn đề phát triển du lịch, triển khai các hoạt động kinh doanh, cung cấp các sản phẩm du lịch phục vụ du khách Họ giữ vai trò chủ đạo phát triển
và duy trì các dịch vụ Hoạt động này có tính đến hiệu quả và chịu sự điều tiết của các quy luật kinh tế thị trường
Địa điểm tổ chức phát triển du lịch dựa vào cộng đồng diễn ra tại nơi cư trú hoặc gần nơi cư trú của cộng đồng địa phương Đây là những khu vực có tài nguyên
du lịch tự nhiên và nhân văn phong phú, hấp dẫn, có độ nhạy cảm cao về đa dạng sinh học, chính trị, văn hóa xã hội và hiện đang bị tác động bởi con người
Cộng đồng dân cư phải là người dân sinh sống làm ăn trong hoặc liền kề các điểm tài nguyên du lịch, đồng thời cộng đồng phải có trách nhiệm tham gia bảo vệ tài nguyên môi trường nhằm hạn chế, giảm tác động tiêu cực từ chính việc khai thác tài nguyên của cộng đồng và hoạt động của khách du lịch
Du lịch dựa vào cộng đồng có nghĩa là giao quyền cho cộng đồng, cộng đồng được khuyến khích tham gia và đảm nhiệm các hoạt động du lịch và bảo tồn tài nguyên
Phát triển du lịch dựa vào cộng đồng, phải đảm bảo sự công bằng trong việc chia sẻ nguồn lợi từ thu nhập du lịch cho cộng đồng và các bên tham gia
Phát triển du lịch dựa vào cộng đồng, góp phần làm đa dạng hóa các ngành kinh tế trong khi vẫn duy trì và phát triển các ngành kinh tế truyền thống
Du lịch dựa vào cộng đồng còn bao gồm các yếu tố trợ giúp, tạo điều kiện của các bên tham gia trong đó vai trò của các tổ chức chính phủ, phi chính phủ, các cấp quản lý Nhà nước, ban quản lý
Trang 191.2.2 Những nguyên tắc phát triển du lịch dựa vào cộng đồng
Các loại hình du lịch dựa vào cộng đồng thực chất là các loại hình phát triển
du lịch bền vững, có trách nhiệm với tài nguyên môi trường cũng như sự phát triển của cộng đồng – chủ thể của các hoạt động du lịch và nguồn lợi từ các hoạt động này là hướng vào cộng đồng Vì thế, khi phát triển du lịch dựa vào cộng đồng cần thực hiện các nguyên tắc sau:
1/ Thừa nhận, ủng hộ và thúc đẩy mối quan hệ sở hữu của cộng đồng về du lịch
2/ Lấy ý kiến của các bên tham gia, tôn trọng ý kiến của cộng đồng, bảo đảm những kiến nghị của cộng đồng được chuyển đến những người có trách nhiệm xem xét và giải quyết
3/ Ngay từ đầu, cần thu hút, khuyến khích sự tham gia của cộng đồng vào tất
cả các lĩnh vực hoạt động du lịch và bảo tồn
4/ Phát triển du lịch đi đôi với duy trì phát triển sự đa dạng các ngành kinh tế, không làm suy giảm các ngành truyền thống Phát triển du lịch như một phương cách giúp CĐĐP phát triển KT – XH, xóa đói giảm nghèo
5/ Hòa nhập quy hoạch phát triển CĐĐP vào quy hoạch phát triển KT – XH của địa phương và quốc gia
6/ Bảo tồn, phát triển và khai thác các nguồn lực phát triển du lịch theo hướng thận trọng, có kiểm soát, tiết kiệm, bền vững và tạo ra sản phẩm du lịch đặc sắc có tính cạnh tranh
7/ Duy trì tính đa dạng về tự nhiên và VH đặc biệt các giá trị văn hóa bản địa 8/ Tăng cường giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực địa phương và các bên tham gia Giáo dục và đào tạo du lịch còn cần được thực hiện với các chủ thể tham gia vào hoạt động DLDVCĐ
9/ Phần lớn nguồn thu từ hoạt động du lịch cần được giữ lại cho cộng đồng, dùng để đầu tư cho việc bảo tồn, tôn tạo TNDL, phát triển du lịch và phát triển cộng đồng Khi phân chia các nguồn lợi thu được từ các hoạt động du lịch cần công bằng
và công khai giữa các bên tham gia, cũng như giữa cộng đồng
10/ Đầu tư, xúc tiến phát triển du lịch có trách nhiệm và trung thực
Trang 201.3 Một số loại hình du lịch có sự tham gia của cộng đồng địa phương
Bảng 1.1 Mô tả các loại hình Du lịch dựa vào cộng đồng
hình)
Du lịch di sản Là du lịch bảo tồn và phát huy
các di sản văn hóa trong làng (nhà cổ, đình làng, miếu-đền, nhà thờ họ, bia đá, các làn điệu dân ca) còn lưu lại cho hậu thế và các hoạt động của người xưa, để cho du khách có thể học tập, giao lưu, trải nghiêm
Tham quan, nghiên cứu và học tập từ các di tích lịch sử, thăm các nhà cổ, thưởng thức các làn điệu dân ca, tập hát xướng…
Trải nghiệm nghề truyền thống, giao lưu với nghệ nhân, mua các sản phẩm nghề truyền thống, tham gia tour đi tham quan nguồn gốc các sản phẩm nghề truyền thống hoặc tham gia các công đoạn sản xuất sản phẩm…
Du lịch sinh thái Du lịch vận dụng các điều
kiện tự nhiên như cảnh quan sông nước, cù lao, công viên, vườn cây ăn quả, nhà vườn, khí hậu…
Tour khám phá, trải nghiệm môi trường thiên nhiên như sông nước, phong cảnh, tham quan
và thưởng thức các sản phẩm tại các vườn cây ăn quả hoặc cơ sở chế biến…
Du lịch nông
sinh học
Du lịch tận dụng các thế mạnh của nghề nông, các điều kiện nông thôn và cuộc sống tại các nông thôn
Các chương trình tham quan, trải nghiệm, học tập về nông nghiệp, tập sản xuất nông nghiệp, thưởng thức nông sản,
Trang 21giao lưu với nông dân…
Du lịch thể thao Du lịch dựa vào các tài
nguyên thiên nhiên để trải nghiệm: bơi, lặn biển, chèo thuyền, câu cá, đua thuyền, leo núi, trượt tuyết, săn bắn…
Các chương trình trải nghiệm cuộc sống hoang dã, thử thách mạo hiểm, rèn luyện sức khỏe, thưởng thức sản phẩm săn bắt được…
Các sản phẩm ngâm tắm khoáng, ngâm tắm thuốc dân gian… nhằm trải nghiệm và phục hồi sức khỏe
Nguồn: Viện nghiên cứu Phát triển Du lịch, Cẩm nang thực tiễn phát triển du lịch nông thôn Việt Nam (2013)
1.4 Một số hoạt động du lịch có sự tham gia của cộng đồng địa phương
Nhà hàng: kinh doanh dịch vụ ẩm thực tại nhà người dân, sử dụng rau, các loại thực phẩm lấy tại nơi sinh sống của họ và các loại thủy hải sản đánh bắt tại địa phương
Dịch vụ homestay: kinh doanh dịch vụ lưu trú tại nhà người dân, cung cấp cho du khách sự trải nghiệm chính cuộc sống của họ trong một không gian mới Trải nghiệm, mua sắm với nghề truyền thống: biểu diễn các công đoạn sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ cho du khách xem…và sau đó cho khách tự làm các sản phẩm để trải nghiệm thực tế Họ sẽ trả chi phí dịch vụ để được có sản phẩm hoặc mua sản phẩm tại địa phương
Trải nghiệm nông nghiệp: cho du khách trải nghiệm như cày ruộng, cấy lúa, trồng rau, thu hoạch mùa màng, chăm sóc gia súc và có thể cho họ được thưởng thức các thành quả của họ
Tham quan, trải nghiệm các lễ tế, màn trình diễn nghệ thuật truyền thống: hát múa tại các lễ hội, tổ chức các buổi trình diễn nghệ thuật truyền thống Du khách có thể tham gia một số công đoạn trong các lễ hội và họ cùng vui chơi thưởng thức các trò chơi dân gian, nấu ăn các món ăn truyền thống…
Giao lưu với người dân địa phương, hướng dẫn viên địa phương: là hoạt
Trang 22động giao lưu hoặc giới thiệu những phong tục tập quán, lễ tiết, luật lệ…về làng cho
du khách bởi chính người dân bản địa
Tái hiện lại lịch sử và văn hóa: cung cấp các dịch vụ viếng thăm và nghe người dân bản địa diễn giảicác tài nguyên văn hóa và các công trình kiến trúc còn lưu lại
1.5 Mối quan hệ giữa cộng đồng địa phương với hoạt động du lịch dựa vào cộng đồng
1.5.1 Vai trò của cộng đồng địa phương đối với hoạt động du lịch dựa vào cộng đồng
Hoạt động du lịch dựa vào cộng đồng hướng tới nhấn mạnh yếu tố cộng đồng và vì mục tiêu phát triển cộng đồng, bảo tồn những giá trị hiện có của cộng đồng, do vậy cộng đồng địa phương là yếu tố cơ bản, hàng đầu cần quan tâm trong phát triển du lịch cộng đồng
Cộng đồng địa phương là nhân tố hình thành, nuôi dưỡng, bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa bản địa: nghệ thuật kiến trúc trang trí nhà, nghệ thuật sản xuất hàng thủ công mỹ thuật truyền thống, nghệ thuật ẩm thực, văn hóa ứng xử, lễ hội, văn hóa dân gian, văn hóa nghệ thuật truyền thống, tôn giáo tín ngưỡng Đây là nguồn tài nguyên có sức hấp dẫn đặc biệt đối với khách du lịch
Bên cạnh đó cộng đồng địa phương còn là người sản xuất các nông phẩm cung cấp cho khách du lịch, đồng thời họ tham gia các hoạt động du lịch, tạo ra các sản phẩm du lịch phục vụ du khách trong quá trình du lịch tại điểm đến Đây là chủ thể của mọi hoạt động du lịch và bảo tồn ở địa phương và thu lợi từ hoạt động du lịch tại địa phương Du khách có thực hiện được mục đích chuyến đi của mình hay không, có được đáp ứng những nhu cầu du lịch hay không phụ thuộc chủ yếu vào cộng đồng địa phương và môi trường sống của họ
Thực tế, cộng đồng địa phương làm du lịch thường sống tại các làng bản có địa hình cách trở, xa trung tâm văn hóa kinh tế chính Các tài nguyên như khí hậu, đất đai, nguồn nước khó khăn, giao thông kém phát triển, trình độ kinh tế - văn hóa còn lạc hậu Do vậy, trình độ văn hóa nhận thức của cộng đồng nói chung, đặc biệt nhận thức về du lịch, môi trường còn thấp, dễ bị suy thoái về văn hóa, chất lượng cuộc sống thấp Đây là những khó khăn, hạn chế lớn đối với cộng đồng địa phương khi tham gia vào hoạt động du lịch
Trang 23Vì vậy, các hoạt động du lịch cần được quy hoạch, quản lý tổ chức hợp lý, đúng đắn theo hướng bền vững ngay từ đầu và trong quá trình phát triển Đặc điểm các cộng đồng địa phương đó là sự gắn kết tình cảm lâu đời, có quan hệ huyết thống, vì thế quan hệ ứng xử của cộng đồng thường theo thứ bậc, tôn kính trưởng
họ, già làng, trưởng bản Những người này có uy tín và được tôn kính đối với cộng đồng và am hiểu về văn hóa cũng như phương cách sống của cộng đồng, có vai trò dẫn dắt cộng đồng Họ thường là những người đại diện cho cộng đồng, tham gia vào các dự án, các quyết định phát triển du lịch, các vị trí trưởng nhóm kinh doanh, trưởng ban du lịch của các bản
1.5.2 Những tác động của hoạt động du lịch dựa vào cộng đồng đến cộng đồng địa phương
Nhiều địa phương nghèo, khó khăn về các điều kiện phát triển kinh tế nhưng lại có lợi thế cạnh tranh về các số lượng cũng như chất lượng TNDL sẽ mở ra cơ hội cho phát triển các sản phẩm du lịch độc đáo giải quyết việc làm và xóa đói giảm nghèo
Khi phát triển DLDVCĐ, CĐĐP nhận được nhiều sự hỗ trợ từ các bên tham gia, góp phần nâng cao nhận thức cộng đồng, CĐĐP có cơ hội phát huy khai thác, bảo tồn có hiệu quả hơn các nguồn lực ở địa phương Từ đó, tạo nhiều cơ hội cho CĐĐP phát triển KT – XH, nâng cao CLCS cộng đồng
Thông qua việc tiêu thụ sản phẩm du lịch của du khách, CĐĐP có khả năng khôi phục, phát triển nhiều ngành nghề truyền thống, cơ hội tạo nhiều việc làm thường xuyên, việc làm bán thời gian, tạo cơ hội tăng thu nhập, phát triển kinh tế địa phương
DLDVCĐ tạo nhiều cơ hội phát triển văn hóa, giáo dục, cơ hội để người nghèo có thể được đào tạo nghề, nâng cao trình độ, từ đó, góp phần nâng cao đời sống tinh thần, tạo cơ hội tìm việc làm, nâng cao CLCS cho người nghèo, phát triển KT–XH ở những địa phương nghèo
DLDVCĐ mang lại cơ hội đầu tư kinh doanh cho kinh tế hộ gia đình và các doanh nghiệp nhỏ, bởi vốn khởi nghiệp ban đầu không đòi hỏi quá cao, đồng thời lại nhận được sự hỗ trợ về vốn, kinh nghiệm, chính sách từ các bên tham gia
Trang 24DLDVCĐ mang lại nhiều giá trị phi vật chất cho CĐĐP như: cơ hội để lưu giữ, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, khai thác hiệu quả, hợp lý các tài nguyên du lịch tự nhiên, tăng cường mối quan hệ gắn kết, hỗ trợ nhau trong cộng đồng, góp phần nâng cao hình ảnh của địa phương và của quốc gia
Du lịch dựa vào cộng đồng cũng đã đem lại rất nhiều tác động tích cực về kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường, tuy nhiên nếu không có các biện pháp quản
lý tốt thì du lịch dựa vào cộng đồng cũng dễ gây ra nhiều nguy cơ: tăng chi phí sinh hoạt, tăng giá đất, phá vỡ môi trường tự nhiên, tăng lượng rác thải gây ô nhiễm môi trường, gia tăng tiếng ồn, tắc nghẽn giao thông
Ngoài ra cũng cần phải tính đến các nguy cơ về xã hội như sự gia tăng tội phạm, việc đánh mất bản sắc cộng đồng, xuống cấp giá trị văn hóa…
Chính vì vậy Ban quản lý Du lịch dựa vào cộng đồng địa phương thường xuyên phải có các hoạt động theo dõi và đánh giá để đề ra các biện pháp phù hợp nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực của du lịch dựa vào cộng đồng trong khi vẫn tối
ưu hóa được lợi ích do du lịch dựa vào cộng đồng đem lại
Bảng 1.2 Những tác động của Du lịch dựa vào cộng đồng
NHỮNG TÁC ĐỘNG CỦA DU LỊCH DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG
I Những tác động kinh tế tích cực
1 DLDVCĐ đã làm tăng thêm nhiều cơ hội việc làm tại địa phương
2 Thu nhập về kinh tế của người dân được tăng lên đáng kể
3 Du lịch đã thu hút được nhiều hơn vốn đầu tư cho địa phương
4 Chất lượng các dịch vụ công cộng tại địa phương tốt hơn nhờ sự đầu tư từ du lịch
5 DLDVCĐ là một trong những lĩnh vực quan trọng hỗ trợ nền kinh tế địa phương
6 DLDVCĐ tạo ra nhiều cơ hội kinh doanh mới cho cư dân địa phương
Trang 259 Giá cả nhiều mặt hàng và dịch vụ ở địa phương tăng lên là vì du lịch
10 Giá cả nhà đất ở địa phương tăng lên là vì du lịch
11 Tính mùa vụ của du lịch tạo ra rủi ro cao, tình trạng thiếu việc làm hoặc thất nghiệp
12 Việc phát triển du lịch tại các khu du lịch cũng gây trở ngại cho hoạt động kiếm kế sinh nhai của người dân địa phương
III Những tác động văn hoá - xã hội tích cực
13
Du lịch đã cải thiện chất lượng các sản phẩm và dịch vụ hạ tầng du lịch như hệ thống giao thông vận tải, đường xá, điện, nước, các nhà hàng, các cửa hiệu, khách sạn và các nhà nghỉ trong khu vực
14 DLDVCĐ làm tăng lòng tự hào của người dân về văn hoá bản địa của mình
15
DLDVCĐ khuyến khích việc phát triển rộng rãi các hoạt động văn hoá như phát triển nghề thủ công, các loại hình biểu diễn nghệ thuật và âm nhạc tại địa phương
16 DLDVCĐ giúp cho việc gìn giữ, tôn tạo và duy trì bản sắc văn hóa dân tộc của người dân địa phương
17 DLDVCĐ giúp tăng cường sự giao lưu văn hoá giữa du khách và dân địa phương
18 Nhờ phát triển du lịch mà người dân địa phương có nhiều hơn các cơ hội giải trí
19 DLDVCĐ giúp cải thiện CLCS của người dân địa phương
IV Những tác động văn hoá - xã hội tiêu cực
20 Người dân địa phương phải chịu những thiệt thòi vì sống trong điểm du lịch
21 Du lịch đang làm huỷ hoại văn hoá địa phương
22 Du lịch kích thích người dân địa phương bắt chước, đua đòi cách ứng xử của
du khách và từ bỏ những giá trị văn hoá truyền thống
23 Sự gia tăng số lượng du khách dẫn đến sự gia tăng mối bất hoà giữa cư dân địa phương và du khách
24 Do sự xuất hiện của KDL, càng ngày càng khó có thể tìm được một không gian yên tĩnh ở quanh khu vực này
Trang 2625
Du lịch đã làm hạn chế việc sử dụng các phương tiện giải trí của người dân địa
phương đối với các trung tâm vui chơi giải trí, khu thể thao tổng hợp và bãi
tắm
26 Du lịch làm gia tăng các tệ nạn xã hội như tình trạng phạm tội, nghiện hút, mại
dâm, cờ bạc, rượu chè, buôn lậu, trộm cắp tại địa phương
V Những tác động môi trường tích cực
27 Du lịch đã giúp bảo tồn môi trường thiên nhiên và bảo vệ các loài động vật
hoang dã tại các khu du lịch
28 Du lịch đã giúp cải thiện môi trường sinh thái địa phương ở rất nhiều khía cạnh
như bảo tồn, tôn vinh…
29 Du lịch đã cải thiện diện mạo (bộ mặt) của địa phương (hợp thị giác và có tính
thẩm mỹ)
30 Du lịch cung cấp động cơ cho việc phục hồi các công trình kiến trúc mang tính
lịch sử
VI Những tác động môi trường tiêu cực
31 Việc xây dựng các cơ sở lưu trú du lịch như khách sạn, nhà nghỉ phục vụ du
khách làm phá huỷ môi trường cảnh quan tại các khu du lịch
32 Du lịch có tác động tiêu cực đến các tài nguyên thiên nhiên như suy giảm sự đa
dạng của các loài động thực vật
33 Du lịch gây ra đáng kể việc ô nhiễm không khí, nguồn nước, tiếng ồn, chất thải
rắn và ô nhiễm đất trồng
34 Do hoạt động du lịch, hiện giờ diện tích đất nông nghiệp và đất tự nhiên trong
khu vực bị thu hẹp lại
35 Các trang thiết bị phục vụ du lịch được xây dựng trong và phụ cận tại các khu
du lịch không hài hoà với môi trường tự nhiên và kiểu kiến trúc truyền thống
Nguồn: Phạm Hồng Long, Nhận thức của người dân địa phương về tác động
của du lịch và sự ủng hộ của họ cho phát triển du lịch: trường hợp vịnh Hạ Long,
Quảng Ninh, Việt Nam, Luận án Tiến sĩ (2013)
1.6 Những bên liên quan tham gia du lịch dựa vào cộng đồng
1.6.1 Cộng đồng địa phương
Việc tham gia vào du lịch dựa vào cộng đồng ở địa phương mang tính tự
Comment [D7]: Thầy cho em xin tên luận án của Thầy để em trích dân nhé Thầy
Trang 27nguyện dựa trên sự trao đổi và thống nhất giữa ban quản lý du lịch dựa vào cộng đồng địa phương với các hộ gia đình Dù tham gia hay không tham gia, dù tham gia nhiều hay ít thì các hộ gia đình có trách nhiệm chung trong việc xây dựng những hình ảnh tốt đẹp nhất về du lịch dựa vào cộng đồng tại địa phương mình
Có 3 mô hình phát triển du lịch dựa vào cộng đồng tại một địa phương, mô hình thứ nhất là cả cộng đồng cùng tham gia vào du lịch dựa vào cộng đồng; mô hình thứ hai chỉ gồm một bộ phận cộng đồng hoặc hộ gia đình tham gia và mô hình thứ ba là mô hình liên doanh giữa cộng đồng hoặc một số thành viên cộng đồng và đối tác kinh doanh [31, tr.10]
Mức độ tham gia trong một dự án du lịch dựa vào cộng đồng của cộng đồng
có thể khác nhau tùy theo từng nơi Một số lựa chọn để cộng đồng tham gia vào du lịch dựa vào cộng đồng bao gồm:
- Cá nhân sản xuất và bán hàng địa phương (hoa quả, hàng thủ công ) cho du khách trực tiếp hoặc thông qua các doanh nghiệp du lịch Đây là một cách tốt để lan tỏa thu nhập trong cộng đồng
- Doanh nghiệp du lịch tư nhân (thường ở bên ngoài cộng đồng - Doanh nghiệp tư nhân bên ngoài) được phép cung cấp các dịch vụ cho khách du lịch tại điểm du lịch dựa vào cộng đồng và sau đó chia sẻ lại lợi nhuận cho cộng đồng trên
cơ sở thỏa thuận
- Một số cá nhân tham gia vào hoạt động kinh doanh du lịch một cách không chính thức (doanh nghiệp vận hành và quản lý bởi cá nhân địa phương), thường các
cá nhân này thiếu kỹ năng và kiến thức du lịch nên việc thành công cũng còn hạn chế
- Các doanh nghiệp do cộng đồng cùng sở hữu và điều hành (doanh nghiệp cộng đồng): Mô hình này đôi khi có thể thiếu tính chuyên nghiệp trong việc tổ chức hoạt động, nhưng điều này có thể được khắc phục theo thời gian
- Liên doanh giữa cộng đồng và doanh nghiệp tư nhân: Bao gồm chia quyền
sở hữu, hoặc các thỏa thuận hợp đồng chặt chẽ liên quan đến dịch vụ ăn ở cho khách hoặc các hoạt động du lịch khác
Nếu toàn bộ hoặc một bộ phận cộng đồng lựa chọn một trong các phương pháp này, thì cần phải phát triển một chiến lược rõ ràng được thông qua không chỉ
Trang 28bởi các thành viên của cộng đồng địa phương mà còn bởi các bên liên quan khác có quan tâm đến du lịch dựa vào cộng đồng Điều này đặc biệt cần thiết nếu chọn mô hình doanh nghiệp do cộng đồng cùng sở hữu và điều hành Thiết lập một bộ phận quy hoạch du lịch cùng với các thành viên trong cộng đồng là một điều kiện tiên quyết cho bất kỳ loại du lịch dựa vào cộng đồng nào
1.6.2 Chính quyền địa phương
Được cộng đồng địa phương tín nhiệm, bầu ra và đại diện cho cộng đồng Họ
là những người lãnh đạo, có vai trò tổ chức và quản lý, tăng cường sức mạnh đoàn kết tập thể của cộng đồng, đặc biệt phát huy tiềm năng, thế mạnh của cộng đồng trong mọi hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội của cộng đồng theo các chủ trương, đường lối của nhà nước và pháp luật, là cầu nối giữa cộng đồng với thế giới bên ngoài
1.6.3 Các tổ chức, các nhà tài trợ, các tổ chức thuộc chính phủ và phi chính phủ, các nhà khoa học
Là nhân tố hỗ trợ cộng đồng về việc lập dự án quy hoạch, phát triển du lịch,
tài chính, vốn, kỹ thuật, kinh nghiệm và cơ chế chính sách để phát triển du lịch dựa vào cộng đồng Các tổ chức này có vai trò là những người chỉ lối dẫn đường, giúp cộng đồng thực hiện các mục tiêu phát triển du lịch trong giai đoạn đầu, đưa ra các phương pháp làm du lịch Sau một thời gian du lịch hoạt động, họ sẽ trao quyền quản lý cho cộng đồng và chính quyền địa phương
1.6.4 Các doanh nghiệp lữ hành và dịch vụ du lịch
Là cầu nối giữa khách du lịch với cộng đồng, giữ vai trò môi giới trung gian
để bán sản phẩm du lịch cho cộng đồng và cung cấp một phần sản phẩm du lịch mà cộng đồng chưa cung ứng đủ, đảm bảo cho sự đa dạng và chất lượng cho sản phẩm
du lịch Họ có thể sử dụng lao động là người địa phương, góp phần tạo công ăn việc làm và thu nhập cho người dân bản địa Bên cạnh đó, họ góp phần vào việc chia sẻ lợi ích từ du lịch cho cộng đồng bằng việc đóng thuế, phí môi trường, mua vé thắng cảnh cho cộng đồng
1.6.5 Khách du lịch
Thực tế tại nhiều mô hình phát triển du lịch dựa vào cộng đồng, phần lớn khách du lịch đến từ các nước phát triển Do vậy, họ có thói quen ăn ở vệ sinh và
Trang 29sống tiện nghi Đây chính là những khó khăn trong việc đảm bảo sự hài lòng của khách du lịch đối với sản phẩm du lịch dựa vào cộng đồng
1.7 Khu vực có khả năng phát triển du lịch dựa vào cộng đồng
Để xác định khả năng phát triển du lịch dựa vào cộng đồng của một khu vực, cần xem xét đến các yếu tố như: sự kết nối văn hoá, vị trí địa lý, sự thu hút từ yếu tố tài nguyên, trang thiết bị, tính tiếp cận của điểm đến, các dịch vụ bổ sung, tính hợp
lý của giá cả, an ninh trật tự, hình ảnh tích cực của điểm đến
- Sự kết nối văn hoá: Yếu tố quê hương, cội nguồn, gia đình, dòng họ có tầm ảnh hưởng lớn đến việc lựa chọn điểm đến của du khách Họ có thể du lịch kết hợp với thăm người thân, du lịch để tìm hiểu, quay về với cội nguồn Ngoài ra, yếu tố tôn giáo, tâm linh cũng tạo sức hút không nhỏ trong việc lựa chọn điểm đến của du khách
- Vị trí địa lý: Được xem xét trên góc độ khoảng cách từ khu vực phát triển
du lịch đến các khu trung tâm, đô thị, các đầu mối giao thông Với vị trí địa lý càng
xa, giao thông cách trở càng khó cho việc thu hút khách du lịch, ngược lại, khu vực
có vị trí địa lý gần các khu trung tâm càng thuận lợi cho giao thông, tạo điều kiện cho các hoạt động du lịch phát triển
- Sự thu hút từ các yếu tố tài nguyên: Có thể chia nguồn TNDL thành hai nhóm chính: nguồn tài nguyên liên quan đến yếu tố văn hóa và nguồn tài nguyên tự nhiên
Nguồn tài nguyên liên quan đến yếu tố văn hóa gồm: Dân tộc thiểu số; các loại hình biểu diễn địa phương như bài hát, điệu múa; lễ hội, di tích lịch sử; công trình tôn giáo; loại hình nghệ thuật; hàng thủ công, cảnh quan văn hóa; cây trồng đặc trưng, hình thức lao động đặc trưng; ẩm thực; hoạt động thường nhật của cộng đồng; sự tiếp đón thân thiện của người dân
Nguồn tài nguyên tự nhiên gồm: Khí hậu, nguồn nước, khu vực thiên nhiên, công viên, động thực vật, các điểm tham quan đặc biệt như thác nước, dòng sông…
- Trang thiết bị: Bao gồm những trang thiết bị phục vụ cho việc đảm bảo an toàn và dịch vụ y tế cơ bản cho du khách; trang thiết bị đảm bảo kết nối thông tin thuận tiện; trang thiết bị phục vụ giao thông như đường xá, phương tiện giao thông; trang thiết bị cho dịch vụ du lịch: cơ sở lưu trú, hệ thống nhà hàng, quán ăn, hệ
Trang 30Kênh thông tin: đóng vai trò cung cấp, truyền tải thông tin về điểm đến, cụ thể: truyền hình, báo chí, internet, sách, công ty du lịch, người dân địa phương… Thủ tục hành chính: Gồm những quy định, thủ tục đối với khách du lịch, cụ thể như quy định về thủ tục đăng ký tại cơ sở lưu trú, quy định lưu trú đối với người nước ngoài…
- Các dịch vụ bổ sung: bên cạnh các dịch vụ du lịch, các dịch vụ bổ sung sẽ đáp ứng đầy đủ hơn nhu cầu của khách du lịch Dịch vụ bổ sung bao gồm: dịch vụ vui chơi, giải trí, thể thao, chăm sóc sắc đẹp, dịch vụ cung cấp thông tin, các dịch vụ công cộng…
- Tính hợp lý của giá cả: Khi giá cả hợp lý, khách du lịch cảm thấy lượng tiền bỏ ra phù hợp giá trị mang lại, đồng thời, với giá cả càng thấp, chi phí du khách
bỏ ra càng thấp, vì vậy điểm đến sẽ thu hút nhiều khách hơn Tính hợp lý của giá cả được nhìn nhận trên giá cả dịch vụ du lịch, giá cả ăn uống, lưu trú, giá cả phương tiện lưu thông và giá các dịch vụ bổ sung…
- An ninh trật tự: Khu vực phát triển du lịch dựa vào cộng đồng phải đảm bảo
sự ổn định an ninh trật tự, đảm bảo an toàn cho tính mạng và tài sản của du khách,
có phương án đối phó với những tình huống khẩn cấp
- Hình ảnh tích cực của điểm đến: là yếu tố giúp điểm đến có vị trí nhất định trong tâm trí du khách, nó ảnh hưởng mạnh mẽ đến quyết định lựa chọn hay không lựa chọn điểm đến của du khách Hình ảnh tích cực của điểm đến phải là yếu tố mô
tả được và đánh giá được
Tiểu kết chương 1:
Chương 1 của luận văn đã giải quyết được cơ sở lý luận cơ bản của DLDVCĐ để tạo nền tảng lý luận cho luận văn Trước hết, tác giả đã khái quát việc nghiên cứu khái niệm DLDVCĐ của một số tác giả, đồng thời đưa ra một số khái
Trang 31niệm phù hợp về DLDVCĐ Tác giả cũng tập trung vào việc xác định và phân tích các đặc điểm, các nguyên tắc phát triển, các loại hình du lịch và các hoạt động dịch
vụ trong DLDVCĐ, phân tích mối quan hệ giữa CĐĐP với các hoạt động DLDVCĐ Thêm vào đó, việc tập trung tìm hiểu về những bên tham gia DLDVCĐ, tìm hiểu những tiêu chí nhằm xác định những khu vực có khả năng phát triển DLDVCĐ, chính là những cơ sở lý luận cơ bản cho việc phân tích, đánh giá hiện trạng phát triển DLDVCĐ tại địa bàn nghiên cứu
Trang 32CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH DỰA VÀO CỘNG
ĐỒNG TẠI CÙ LAO ÔNG HỔ, AN GIANG 2.1 Khái quát chung về cù lao Ông Hổ, An Giang
Cù lao ông Hổ trước đây thuộc Tổng Bình Thành, tỉnh Long Xuyên Cù lao nằm giữa dòng sông nước mênh mông, kề sát bên tỉnh lỵ Long Xuyên Tên gọi cù lao Ông Hổ là địa danh xưa, gắn với truyền thuyết con hổ nghĩa tình
Tương truyền, ngày xưa có hai vợ chồng nông dân, hàng ngày đánh bắt cá để kiếm sống Một hôm bơi xuồng đi kiếm củi về, nhìn trên đám lục bình có con vật rất giống con mèo mướp, hai vợ chồng bơi xuồng đến gần để xem thì đây là một con
hổ con lạc mẹ, nó đang bị ướt, lạnh Hai vợ chồng vớt con hổ lên xuồng và đem về nhà nuôi dưỡng Hổ mỗi ngày một lớn, sống trong tình thương của người nên hổ được thuần hóa hiền lành, không giống như giống loài sống hoang dã Hai vợ chồng
về sau chỉ sinh được một người con gái, cô bé thường chơi đùa với hổ và gọi hổ bằng anh hai Khi tới tuổi trưởng thành, cô gái lấy chồng và về làm dâu xứ khác, hai ông bà chỉ còn sống với hổ làm bạn sớm hôm Khi hai ông bà qua đời, người dân trong làng thương xót lo chôn cất làm mộ, hổ buồn rầu bỏ đi
Hàng năm theo lệ, hổ vẫn về lại cù lao vào ban đêm, mang theo hươu, nai, heo rừng mà hổ săn được để tế ông bà lão Lần cuối cùng, người ta thấy hổ đi quanh hai nấm mồ, nhưng đến nửa đêm thì hổ chết Thương con vật sống có tình, dân làng chôn cất con vật giữa hai nấm mồ của ông bà lão Từ đó, dân làng lập miếu thờ Ông
Hổ và đặt tên cho cù lao này là cù lao Ông Hổ.[5, tr.25]
Cù lao Ông Hổ nay là xã Mỹ Hòa Hưng, trực thuộc thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang, phía Bắc và phía Đông giáp huyện Chợ Mới, phía Tây và Tây Nam giáp huyện Châu Thành và nội thành thành phố Long Xuyên Dân số toàn xã là 4.581 hộ với 23.699 người chiếm 8,6% dân số toàn thành phố, mật độ dân số 1.117 người/km2 trong đó nam giới là 11.501 người chiếm 48,53 % và nữ giới là 12.198 người với 51,47 %, tỷ lệ hộ nghèo là 4,89% với số hộ là 224 hộ, hộ cận nghèo là 18
hộ với 0,39% Tổng diện tích tự nhiên toàn xã là 21,21km2, gồm 9 ấp: Mỹ Thuận,
Mỹ Long 1, Mỹ Hiệp, Mỹ Khánh 1, Mỹ Long 2, Mỹ Khánh 2, mỹ An 1, Mỹ An 2,
Mỹ Thạnh [8]
Trang 33Mỹ Hoà Hưng là một xã cù lao được bao quanh bởi sông Hậu, là một trong những xã có tiềm năng về du lịch sinh thái với cảnh đẹp thiên nhiên nhất là cảnh sông nước làng bè, vườn cây ăn trái, với nhiều loại cây ăn trái quanh năm, nhiều kênh rạch đan xen chằng chịt và những tuyến dân cư nhà vườn dọc theo các tuyến này, tạo nên không gian thoáng mát, yên lành đáp ứng nhu cầu tham quan nghỉ mát của khách du lịch
Từ nhiều năm qua, Mỹ Hoà Hưng được xem như một lá phổi của thành phố Long Xuyên và đã được tỉnh chọn nơi đây để phát triển du lịch sinh thái cộng đồng,
để có điều kiện thuận lợi thu hút khách tham quan du lịch tìm hiểu lịch sử về thân thế cuộc đời sự nghiệp Bác Tôn, sự tích cù lao Ông Hổ, làng bè, vườn sinh thái… Cảnh quan thiên nhiên đẹp cùng với khu lưu niệm di tích Bác Tôn, những ngôi đình, miếu, chùa cùng với nét cổ kính của một số ngôi nhà cổ có tuổi thọ trên
100 năm đã tô điểm thêm nét đẹp cho cù lao Ông Hổ và với những điều kiện đã tạo thuận lợi cho phát triển du lịch ở cù lao Ông Hổ
2.2 Khả năng phát triển du lịch dựa vào cộng đồng tại cù lao Ông Hổ, An Giang
Việc đánh giá khả năng phát triển du lịch dựa vào cộng đồng tại cù lao Ông
Hổ, An Giang được xem xét đến các yếu tố như: vị trí địa lý, sự thu hút từ yếu tố tài nguyên, trang thiết bị, tính tiếp cận của điểm đến, các dịch vụ bổ sung, tính hợp lý của giá cả, an ninh trật tự, hình ảnh tích cực của điểm đến, những chính sách kịp thời
2.2.1 Vị trí địa lý
Là một xã cù lao thuộc thành phố Long Xuyên, cù lao Ông Hổ nằm ở tọa độ địa lý 10024’46” vĩ độ bắc và 105025’46” kinh độ đông, phía Bắc và phía Đông giáp huyện Chợ Mới, phía Tây và Tây Nam giáp huyện Châu Thành và TP Long Xuyên
Cù lao Ông Hổ nằm giữa bốn bề sông nước mênh mông, dải đất cù lao chia đôi dòng sông Hậu từ phía Tây Bắc rồi đôi dòng lại hợp lưu ở phía Đông Nam thành phố Long Xuyên Cùng với hệ thống kênh rạch chằng chịt, vườn cây trái sum suê, tạo cho cù lao cảnh quan độc đáo, không gian thoáng mát, cùng cảnh sống sinh hoạt đậm nét văn hóa vùng sông nước Cửu Long, với xuồng ghe tấp nập, trên bến dưới thuyền
Trang 34Mặc dù là một xã cù lao, giữa bốn bề sông nước, nhưng vị trí cù lao Ông Hổ hết sức thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội Bởi lẽ, cù lao chỉ cách trung tâm thành phố Long Xuyên có một nhánh sông, với hai bến phà Trà Ôn và Ô Môi nối cù lao với trung tâm thành phố Long Xuyên Ngoài hai bến phà chính, tại cù lao còn có những bến đò nhỏ, như bến đò Tầm Pha nối cù lao với huyện Chợ Mới, An Giang, bến đò Bình Khánh nối cù lao với tuyến đường từ Long Xuyên đi Châu Thành
Từ cù lao Ông Hổ có thể kết nối với các thành phố, các trung tâm du lịch của vùng Đồng bằng sông Cửu Long theo cả đường bộ và đường thủy Theo đường bộ, trục giao thông chính của An Giang là quốc lộ 91 nối thành phố Long xuyên với cửa khẩu Tịnh Biên và thành phố Châu Đốc Theo đường bộ từ Thành phố Long Xuyên, còn kết nối thuận tiên đến các thành phố trong khu vực như Cần Thơ, Cao Lãnh, Hà Tiên, Rạch Giá Thành phố Long Xuyên cách Cần Thơ 65km, Mỹ Tho
125 km, Hà Tiên 150 km, TP Hồ Chí Minh 190 km Giao thông đường thủy tại cù lao Ông Hổ hết sức thuận lợi, từ cù lao có thể ngược dòng sông hậu lên Châu Đốc, khu vực biên giới Campuchia, hay dọc sông Vàm Nao sang sông Tiền rồi hòa cùng tuyến giao thông huyết mạch của vùng Đồng bằng sông Cửu Long, qua Tam Nông, Cao Lãnh, Sa Đéc, Vĩnh Long, Tiền Giang, Bến Tre, thành phố Hồ Chí Minh Từ
cù lao Ông Hổ, xuôi dòng sông Hâu là tuyến giao thông đường thủy nội địa kết nối Đồng Tháp, An Giang, Vĩnh Long, Cần Thơ, Sóc Trăng, Trà Vinh
2.2.2 Tài nguyên du lịch tự nhiên
2.2.2.1 Địa chất, địa hình
Cù lao Ông Hổ với đặc điểm địa chất vùng cù lao sông, là phần đất phát triển ngang được nhô ra do dòng sông chuyển hướng dòng chảy, thành phần địa chất chủ yếu là cát thô và bột, đây là phần trầm tích đáy của lòng sông Hậu và sông Tiền Cồn sông có địa hình không bằng phẳng, nó được bao bọc bởi gờ cao chung quanh,
ở giữa cồn thường có địa hình lồi lõm, dấu vết của quá trình gắn liền những cồn sông cổ lại với nhau Nơi có cơ cấu cây trồng rất đặc biệt, gồm các loại cây ăn trái
và hoa màu
Cù lao Ông Hổ thuộc vùng Tứ giác Long Xuyên, vùng đồng bằng do phù sa sông Mê Kông trầm tích tạo nên, địa hình khá bằng phẳng, có độ nghiêng nhỏ và độ cao tương đối thấp
Trang 352.2.2.2 Khí hậu
Cù lao Ông Hổ nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, trong năm có 2 mùa rõ rệt Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 âm lịch, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 âm lịch năm sau Do vị trí nằm sâu trong đất liền nên ít chị ảnh hưởng của gió bão, nhiệt độ cao và ổn định, nhiệt độ cao nhất trong năm thường xuất hiện vào tháng 4, dao động trong khoảng 36oC - 38oC; nhiệt độ thấp nhất trong năm thường xuất hiện vào tháng 10, khoảng dưới 18
o
C Nhiệt độ trung bình năm khoảng 27
o
C; lượng mưa trung bình năm khoảng 1.130 mm, có năm lên tới 1.700 - 1.800 mm; độ
ẩm trung bình 80% - 85% và có sự dao động theo chế độ mưa mùa Đây là một trong những điều kiện để thu hút khách du lịch, ngoài ra, tài nguyên này còn có lợi ích chữa bệnh, phục hồi sức khỏe Tuy nhiên khí hậu nhiệt đới ẩm cao, đòi hỏi các nhà quy hoạch du lịch, nhà kiến trúc, lưu ý trong việc quy hoạch các quần thể kiến trúc du lịch, đảm bảo yêu cầu thoáng mát, có cây xanh phù hợp và các giải pháp tích cực để khắc phục tính mùa vụ trong du lịch
Bảng 2.1 Nhiệt độ trung bình tháng của TP Long Xuyên (độ C)
Với lượng mưa bình quân hàng năm là 1.130 mm, lượng nước do sông Hậu cung cấp là nguồn nước mặt và trữ lượng nước ngầm dồi dào đủ cho phát triển nông nghiệp, công nghiệp, du lịch, giao thông và sinh hoạt cho dân cư trong vùng cả trong mùa khô Hàng năm, vào mùa mưa, nước từ thượng nguồn sông Mê Kông tràn về Đồng Tháp Mười và Tứ giác Long Xuyên, tạo nên “Mùa nước nổi” Đây là thời điểm thu hút khách du lịch đến tham quan những cánh đồng tràn nước, những khu rừng tràm ngập nước, trải nghiệm đời sống người nông dân Nam Bộ trong mùa
Trang 36nước nổi Đây cũng là mùa thả lưới, giăng câu, hái bông điên điển của nhà nông Nam Bộ khi những cánh đồng bị nhấn chìm giữa biển nước mênh mông
2.2.2.4 Tài nguyên sinh vật
Tài nguyên thủy sinh vật của cù lao Ông Hổ tương đối đa dạng, phong phú bao gồm các loài sinh vật, thực vật đặc trưng cho vùng phù sa ngọt, với nhiều loại thủy sản phong phú như: cá bông lau, cá ngát, cá trèn, cá chẽm, cá hú, cá lăng, cá linh, cá chốt, cá leo, cá lóc và các loại tôm tép Đặc biệt, nguồn nước sông Hậu khúc chảy qua cù lao Ông Hổ rất thuận lợi cho sự sinh trưởng, phát triển của cá ba
sa
Ngoài ra, cù lao Ông Hổ có hệ thực vật phong phú, với nhiều loại cây trái: xoài, sơ ri, táo, mận, ổi Đất phù sa màu mỡ, tạo điều kiện cho sự phát triển các loại cây hoa màu: rau, hành, mè, khoai môn, ớt
2.2.3 Tài nguyên du lịch nhân văn
2.2.3.1 Di tích lịch sử, công trình tôn giáo
Khu lưu niệm Chủ tịch Tôn Đức Thắng
Khu di tích lưu niệm Chủ tịch Tôn Đức Thắng nằm ở Cù lao Ông Hổ, thuộc
tổ 4, ấp Mỹ An 2, xã Mỹ Hòa Hưng, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang Chủ tịch Tôn Đức Thắng (1888 - 1980) là Chủ tịch nước thứ hai và cuối cùng của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và sau này là Chủ tịch nước đầu tiên của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ca ngợi ông
"là gương mẫu đạo đức cách mạng, suốt đời cần kiệm liêm chính, suốt đời hết lòng, hết sức phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân" Chủ tịch Tôn Đức Thắng là biểu tượng cho hình ảnh đồng bào miền Nam trong công cuộc đấu tranh, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Ông là người đầu tiên được tặng thưởng Huân chương Sao Vàng, năm 1958 Cũng trong dịp kỷ niệm sinh nhật lần thứ 90, đoàn Chủ tịch Quốc hội Mông Cổ đã trao tặng Chủ tịch Tôn Đức Thắng Huân chương Xukhe Bato - Huân chương cao quý nhất của Nhà nước Mông Cổ Ông cũng là người Việt Nam đầu tiên nhận được Giải thưởng Lênin: Vì hòa bình và hữu nghị các dân tộc vào năm 1955 và Huân chương Lênin vào năm 1967 do Chính phủ Liên bang Xô viết trao tặng
Trang 37Khu lưu niệm Chủ tịch Tôn Đức Thắng tại ấp Mỹ An, xã Mỹ Hòa Hưng, tỉnh
An Giang được thành lập sau khi Bộ trưởng Bộ Văn hóa - Thông tin, nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quyết định xếp hạng là Di tích lịch sử quốc gia năm 1984 Khu di tích lưu niệm Chủ tịch Tôn Đức Thắng có giá trị đặc biệt về lịch sử, văn hóa, du lịch Ngày 10/5/2012, Thủ tướng Chính phủ đã quyết định xếp hạng Khu di tích lưu niệm Chủ tịch Tôn Đức Thắng là Di tích Quốc gia đặc biệt
Đây là nơi Bác Tôn đã sinh ra, trưởng thành, là nơi hình thành nhân cách, hun đúc lòng yêu nước, tinh thần đấu tranh cách mạng của người lãnh tụ của nhân dân Nam Bộ nói riêng và nhân dân cả nước nói chung Khu di tích này rộng khoảng 3.102m2, nằm trong một tổng thể không gian cảnh quan thoáng mát như bao nhiêu làng quê Nam Bộ, bao gồm các hạng mục chính:
- Ngôi nhà sàn: do ông Tôn Văn Đề, thân sinh Chủ tịch Tôn Đức Thắng, dựng năm 1887, trên nền đất hương hỏa dòng họ Tôn Năm 1888, Bác Tôn sinh ra tại ngôi nhà này và sống ở đây suốt thời niên thiếu đến khi rời quê lên Sài Gòn học nghề năm 1906
Đây là một kiến trúc vững chắc nhưng hết sức mộc mạc, giản dị, ít chạm trổ cầu kỳ, theo kiểu nhà Nam bộ Trong ngôi nhà này vẫn còn lưu giữ nhiều hiện vật gốc như: 2 tấm ảnh của song thân Bác Tôn, một bộ ngựa gõ mà Bác Tôn thường nằm lúc còn niên thiếu, một tủ thờ cẩn ốc xà cừ, các tấm liễn đối cẩn ốc, một tấm ảnh Bác Tôn chụp năm 18 tuổi, một tấm ảnh Bác Tôn chụp ở chiến khu Việt Bắc - lúc Bác đang làm Chủ tịch Mặt trận Liên Việt, gửi về tặng gia đình, phía sau tấm ảnh có ghi những dòng chữ “Kính biếu mẹ già và mấy em, ngày 24-7-1951”, dưới dòng chữ có chữ ký của Bác
- Khu mộ chí: nằm trong khu vực vườn cây ăn quả, có diện tích nền 110m2, thẳng phía sau nhà sàn, là nơi an nghỉ cuối cùng của hai thân sinh và vợ chồng người em trai thứ tư của Bác Tôn là bác Tôn Đức Nhung
- Vườn cây: gồm các loại cây, hoa trái tiêu biểu của vùng đất Nam Bộ như: mai, tre xanh, vú sữa, xoài
- Công trình Kỷ niệm 110 năm ngày sinh Bác Tôn, gồm 03 hạng mục: + Đền tưởng niệm Chủ tịch Tôn Đức Thắng
+ Nhà trưng bày: giới thiệu toàn bộ cuộc đời và sự nghiệp của Bác Tôn;
Trang 38+ Quảng trường: nằm bên bờ sông Hậu, tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao, mít tinh, lễ hội
- Công trình Kỷ niệm 120 năm ngày sinh Bác Tôn, gồm 07 hạng mục: + Nhà làm việc của Bác Tôn
+ Chiếc Ca nô: mang tên Giải phóng, đây là chiếc ca nô mà Bác Tôn Đức Thắng đã điều khiển, đưa một số đồng chí trong Ban lãnh đạo Đảng và cán bộ cách mạng bị tù Côn Đảo trở về, chấm dứt 15 năm Bác Tôn bị tù đày tại địa ngục Côn Đảo
+ Máy bay YAK-40 số 452: đã đưa Chủ tịch Tôn Đức Thắng từ Hà Nội vào Sài Gòn ngày 11/5/1975 để dự lễ mít tinh kỷ niệm 30/4/1975
+ Tàu Giang Cảnh: là phương tiện đưa Bác Tôn từ Long Xuyên về thăm quê nhà cù lao Ông Hổ, xã Mỹ Hòa Hưng, tháng 10 năm 1975
+ Nhà trưng bày các tác phẩm điêu khắc: gồm 23 tác phẩm điêu khắc, bằng gốc cây lâu năm, chủ đề về Bác Tôn và quê hương Mỹ Hòa Hưng
Các di vật tiêu biểu trong khu di tích lưu niệm: trong ngôi nhà sàn vẫn lưu giữ 12 hiện vật gốc được gia tộc họ Tôn sử dụng từ khi dựng nhà, tiêu biểu như:
bộ ngựa gõ, bộ bàn ghế tiếp khách, tủ thờ, đỉnh trầm, tủ áo
Nhà Trưng bày thân thế, sự nghiệp Chủ tịch Tôn Đức Thắng có 36 hiện vật gốc gắn với cuộc đời niên thiếu và sự nghiệp hoạt động cách mạng của Bác Tôn, tiêu biểu như: đôi hài hàm ếch, đồng hồ đeo tay, quần kaki và nhiều hiện vật phục chế khác
Khu Di tích, lưu niệm Chủ tịch Tôn Đức Thắng là địa điểm lưu niệm danh nhân cách mạng Tại đây, Bác đã sinh ra, học tập, trưởng thành và chứng kiến đời sống lầm than cơ cực của người dân vùng quê Bác do những áp bức, bóc lột của thực dân và phong kiến, để khi hết tiểu học Bác rời quê lên Sài gòn học nghề và bước vào con đường đấu tranh cách mạng
Hiện nay, Khu lưu niệm Bác Tôn đã trở thành một địa điểm lưu niệm quan trọng về Bác, đồng thời là nơi sinh hoạt văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao trong các ngày lễ hội và các ngày lễ lớn của đất nước Những hoạt động diễn ra ở đây mang tính chất thường kỳ, có ý nghĩa tuyên truyền, giáo dục truyền thống sâu sắc, nhất là đối với thế hệ trẻ [5, tr.28-76]
Trang 39hổ con lạc mẹ, nó đang bị ướt, lạnh Hai vợ chồng vớt con hổ lên xuồng và đem về nhà nuôi dưỡng Hổ mỗi ngày một lớn, sống trong tình thương của người nên hổ được thuần hóa hiền lành, không giống như giống loài sống hoang dã Hai vợ chồng
về sau chỉ sinh được một người con gái, cô bé thường chơi đùa với hổ và gọi hổ bằng anh hai Khi tới tuổi trưởng thành, cô gái lấy chồng và về làm dâu xứ khác, hai ông bà chỉ còn sống với hổ làm bạn sớm hôm Khi hai ông bà qua đời, người dân trong làng thương xót lo chôn cất làm mộ, hổ buồn rầu bỏ đi
Hàng năm theo lệ, hổ vẫn về lại cù lao vào ban đêm, mang theo hươu, nai, heo rừng mà hổ săn được để tế ông bà lão Lần cuối cùng, người ta thấy hổ đi quanh hai nấm mồ, nhưng đến nửa đêm thì hổ chết Thương con vật sống có tình, dân làng chôn cất con vật giữa hai nấm mồ của ông bà lão Từ đó, dân làng lập miếu thờ Ông
Hổ và đặt tên cho cù lao này là cù lao Ông Hổ
Quang cảnh tại khu đất này bao gồm: nhiều cây sao độ 60 tuổi tạo nên không khí thoáng mát, có một ngôi miếu thờ và một ngôi mộ lộ thiên, bên trên mộ có đặt tượng một con hổ Hiện nay, đây là điểm tham quan thu hút rất đông khách du lịch
và người dân địa phương tới chiêm bái.[41]
Hưng Long tự
Hưng Long tự còn được người dân địa phương gọi là chùa Chư Vị, thuộc ấp
Mỹ An 1, cách trung tâm xã khoảng 2,6 km, nằm trên trục đường chính của xã, nối liền trung tâm xã với Khu lưu niệm Bác Tôn Đường vào chùa chạy men theo tuyến rạch Rích, với cây trái sum xuê, phát huy lợi thế ấy, nhà chùa đang phát triển khu vườn sinh thái tại khuôn viên chùa với tổng diện tích 15ha Khuôn viên chùa bao gồm: một điện chính và hai bảo tháp, khu vườn phía sau chùa với hàng cây sao cao tới 20m Hàng năm, cứ vào dịp từ giữa tháng 5 đến cuối tháng 11 âm lịch hàng ngàn con dơi quạ lại về chùa trú ngụ trên hàng cây sao trong chùa, đặc biệt, số lượng dơi
Trang 40năm sau thường cao hơn năm trước, oằn nặng các nhánh cây trong khuôn viên chùa Theo nghiên cứu, đây là loài dơi có thân hình to lớn, trên cổ có vệt lông màu nâu, sải cánh rộng đến 1,2m, ước mỗi con nặng từ 1 đến 1,2kg, giống loài dơi ở chùa Dơi
Ngoại thất đình có 3 bộ nóc, mái tam cấp lợp ngói đại tiểu, trên các bờ nóc
có gắn lưỡng long tranh châu và cá hóa long, cuối các đường chân, góc mái trang trí tượng nhật nguyệt, hoa văn hình học, các mặt dựng cổ lầu vẽ tứ linh
Chính diện đình trang trí khá cầu kỳ: trên cùng trang trí phù điêu dạng cuốn thư, giữa cuốn thư đắp nổi hình bát quái, dây hoa lá cách điệu, chính giữa bên dưới đắp nổi phù điêu long hổ hội, xung quanh cẩn gạch, đắp nổi vòm bán nguyệt Hoa
lá, hoa văn hình học, gờ chỉ trong kiến trúc trang trí được thể hiện mềm mại duyên dáng, sắc màu sinh động, tạo nên bức tranh tiền diện đậm nét cổ truyền dân tộc Trang trọng và đẹp nhất là gian chính điện, nơi tập trung các bàn thờ, các vật thờ có giá trị lịch sử Hệ thống các bàn thờ được sắp xếp theo trật tự chức sắc xã hội phong kiến đương thời Giữa sát vách trong cùng đặt khánh thờ thần Thành hoàng bổn cảnh, được vua Khải Định sắc phong năm 1917 Trung tâm khánh khắc nổi đại
tự “Thần”, mặt khánh chạm lộng lưỡng long tranh châu, dây hoa lá Trước bàn Thần
là bàn thờ Hội Đồng nội, nơi đây đặt chân dung thờ vọng Nguyễn Trung Trực và Tuyên Trung Hầu Nguyễn Văn Tuyên, hai bên đặt 2 bộ lỗ bộ; Trong đó, một bộ cán
gỗ lưỡng đồng chạm nổi, khắc chìm nhiều hoa văn, là hiện vật còn từ thời lập đình Khu vực chính điện trang trí nhiều tác phẩm nghệ thuật có giá trị, thể hiện trên các bao lam thành vọng, hoành phi liễn đối, tranh sơn thủy, chủ đề tứ linh, tứ thời và được sơn son thếp vàng rực rỡ