Việc nghiên cứu về “ Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lãnh đạo kinh tế công nghiệp trong những năm từ 1997 đến năm 2013” có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc, không những làm sáng tỏ hơn đường
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA LỊCH SỬ -
NGUYỄN THỊ YẾN
ĐẢNG BỘ TỈNH VĨNH PHÚC LÃNH ĐẠO KINH TẾ CÔNG NGHIỆP
NHỮNG NĂM 1997 ĐẾN 2013
TÓM TẮT KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học
TS BÙI NGỌC THẠCH
HÀ NỘI - 2015
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Với tất cả lòng kính trọng và biết ơn, tôi xin chân thành cảm ơn thầy TS Bùi Ngọc Thạch đã định hướng và hướng dẫn tôi tận tình trong suốt quá trình làm đề tài khóa luận tốt nghiệp Nhân dịp này, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến thầy - người đã dẫn dắt tôi bước tiếp trên con đường nghiên cứu khoa học của mình
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban chủ nhiệm khoa và các thầy cô trong khoa Lịch sử đã cung cấp cho tôi những kiến thức trong quá trình tôi học tập tại trường
Cảm ơn bạn bè và người thân đã luôn tạo điều kiện và động viên khuyến khích tôi hoàn thành đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 04 tháng 05 năm 2015
Tác giả khóa luận
Nguyễn Thị Yến
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Khóa luận tốt nghiệp được hoàn thành dưới sự hướng dẫn tận tình của Thầy giáo TS Bùi Ngọc Thạch
Tôi xin cam đoan đề tài này là kết quả nghiên cứu của riêng Tôi, không trùng với bất kỳ kết quả nào của các tác giả khác
Hà Nội, ngày 04 tháng 05 năm 2015
Tác giả khóa luận
Nguyễn Thị Yến
Trang 4DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG KHÓA LUẬN
DDI : Vốn đầu tư trong nước
GTSXCN : Giá trị sản xuất công nghiệp
GO : Tỷ trọng công nghiệp
HĐND : Hội đồng nhân dân
HTX : Hợp tác xã
KCN : Khu công nghiệp
NGO : Vốn đầu tư phi chính phủ
ODA : Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
UBND : Ủy ban nhân dân
FDI : Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài
TCN : Thủ công nghiệp
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ ĐẢNG BỘ TỈNH VĨNH PHÚC LÃNH ĐẠO KINH TẾ CÔNG NGHIỆP GIAI ĐOẠN 1997 ĐẾN 2013 5
1.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN - KINH TẾ - XÃ HỘI TỈNH VĨNH PHÚC 5
1.1.1 Điều kiện tự nhiên 5
1.1.2 Điều kiện kinh tế 12
1.1.3 Điều kiện xã hội 17
1.2 TÌNH HÌNH KINH TẾ CÔNG NGHIỆP CỦA TỈNH VĨNH PHÚC TRƯỚC NĂM 1997 17
1.2.1 Về ưu điểm 17
1.2.2 Về hạn chế 21
Tiểu kết chương 1 23
CHƯƠNG 2 ĐẢNG BỘ TỈNH VĨNH PHÚC LÃNH ĐẠO KINH TẾ CÔNG NGHIỆP NHỮNG NĂM 1997 – 2013 25
2.1 CHỦ TRƯƠNG PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH VĨNH PHÚC TRONG NHỮNG NĂM 1997 – 2013 25
2.1.1 Kế hoạch phát triển công nghiệp từ năm 1997 – 2013 25
2.1.2 Đề án phát triển công nghiệp đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030 27
2.2 CÁC GIẢI PHÁP KHAI THÁC TIỀM NĂNG ĐỂ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP 29
2.2.1 Giải pháp về vốn và nguồn vốn thực hiện mục tiêu quy hoạch công nghiệp, tạo điều kiện phát triển các ngành công nghiệp mũi nhọn 29
2.2.2 Giải pháp về thị trường và tính cạnh tranh cho các các sản phẩm công nghiệp chủ yếu của tỉnh 32
2.2.3 Giải pháp về phát triển nguồn nhân lực cho công nghiệp 34
2.2.4 Giải pháp về nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệp 35
2.3 CÁC CHÍNH SÁCH CHỦ YẾU ĐỂ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP 36
Trang 62.3.1 Chính sách phát triển thị trường 36
2.3.2 Chính sách khuyến khích vốn đầu tư 37
2.3.3 Chính sách huy động vốn 37
2.3.4 Chính sách khoa học công nghệ 38
2.3.5 Chính sách phát triển các vùng nguyên liệu 38
2.4 THÀNH TỰU PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP Ở VĨNH PHÚC 39
2.5 HẠN CHẾ TRONG PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP Ở VĨNH PHÚC 41
Tiểu kết chương 2 44
Chương 3 ĐẶC ĐIỂM, VAI TRÒ VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM VỀ TRIỂN CÔNG NGHIỆP CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH VĨNH PHÚC 46
3.1 ĐẶC ĐIỂM 46
3.1.1 Số lượng các khu công nghiệp và trung tâm công nghiệp tăng nhanh 46
3.1.2 Số vốn đầu tư nước ngoài, nhất là của Nhật tăng cao 48
3.1.3 Cơ cấu các ngành công nghiệp cân đối, hợp lý 52
3.2 VAI TRÒ 53
3.2.1 Tạo ra sự biến đổi cơ cấu kinh tế sâu sắc 53
3.2.2 Tạo ra sự biến đổi to lớn về xã hội 57
3.3 BÀI HỌC KINH NGHIỆM 58
Tiểu kết chương 3 61
KẾT LUẬN 62
PHỤ LỤC 68
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong quá trình thực hiện đường lối đổi mới của Đảng phát triển kihn tế - xã hội, Đảng bộ Vĩnh Phúc đã lãnh đạo nhân dân đẩy mạnh kinh tế công nghiệp, tạo cơ
sở để thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Kể từ khi tái lập tỉnh (1997), Đảng bộ Vĩnh Phúc đã nghiêm túc phân tích, đánh giá những thành tựu đạt được ở thời kỳ trước khi tái lập tỉnh, đồng thời cũng chỉ ra những hạn chế, non kém về công tác lãnh đạo phát triển công nghiệp Trên cơ
sở đó, Đảng bộ Vĩnh Phúc đã đề ra nhiều chủ trương, giải pháp cụ thể: Đẩy mạnh cải cách hành chính, thực hiện chính sách mở cửa, thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước, áp dụng các tiến bộ khoa học – công nghệ…
Thực hiện chủ trương trên, Vĩnh Phúc đã đạt được nhiều thành tựu to lớn Các khu công nghiệp, cụm công nghiệp đã hình thành Vốn đầu tư nước ngoài tăng cao Vị trí công nghiệp của Vĩnh Phúc tính đến năm 2013 đã vươn lên vị trí hàng thứ 7 của cả nước Thành tựu đó, chứng tỏ những chủ trương, giải pháp của bộ Vĩnh Phúc đề ra là đúng đắn, phù hợp
Việc nghiên cứu về “ Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lãnh đạo kinh tế công nghiệp trong những năm từ 1997 đến năm 2013” có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc, không những làm sáng tỏ hơn đường lối đổi mới của Đảng, về công nghiệp hóa, hiện đại hóa, về đầu tư nước ngoài, mà còn làm rõ hơn những hoạt động thực tiễn xây dựng, phát triển kinh tế công nghiệp của tỉnh trong thời kỳ từ 1997 – 2013 Qua
đó rút ra các bài học kinh nghiệm phục vụ cho công việc xây dựng đất nước hiện nay
Về vấn đề này, đã có nhiều tác giả quan tâm đề cập, nghiên cứu với những cách tiếp cận khác nhau, nhằm mục đích khác nhau Tuy vậy, cho đến nay vẫn chưa
có một tác phẩm nào nghiên cứu một cách có hệ thống, đầy đủ, cụ thể vấn đề nêu trên Chính vì vậy, tôi quyết định chọn vấn đề “ Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lãnh đạo kinh tế công nghiệp những năm 1997 đến 2013” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp đại học của mình
Trang 8Cuốn sách đã sự cho thấy phát triển kinh tế Vĩnh Phúc một cách nhanh chóng kể từ khi tái lập tỉnh Từ một tỉnh nông nghiệp là chủ yếu thì nay kinh tế công nghiệp đã có vai trò, vị trí quan trọng Vĩnh Phúc đã hình thành nhiều khu công nghiệp và cụm công nghiệp thu hút nhiều vốn đầu tư nước ngoài Bộ mặt kinh
tế - xã hội thay đổi Tỉ trọng công nghiệp tăng cao
Đây là công trình nghiên cứu toàn diện về kinh tế Vĩnh Phúc trong thời gian (1997 – 2005), cho nên chưa đề cập những năm gần đây đồng thời chưa đi sâu nghiên cứu về ngành công nghiệp trong thời kỳ (1997 – 2013)
- Năm 2011, Sở Ngoại vụ Vĩnh Phúc cho xuất bản cuốn sách “ Vĩnh Phúc – đổi mới – kết nối – phát triển”, cuốn sách đã giới thiệu chính sách đổi mới mở cửa của tỉnh hội nhập quốc tế, thu hút các công ty trong và ngoài nước vào đầu tư ở Vĩnh Phúc, đồng thời cuốn sách này giới thiệu những thành tựu về kinh tế - văn hóa – xã hội của Vĩnh Phúc
Tuy vậy, cuốn sách là một công trình tập thể , không chuyên sâu phản ánh về
sự phát triển công nghiệp của Vĩnh Phúc
- Năm 2011, tác giả Nguyễn Thành Công, đã công bố công trình nghiên cứu
“ phát triển các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc”, đây là đề tài Thạc sĩ chuyên ngành kinh tế
Tác giả đã nêu lên vị trí quan trọng của Vĩnh Phúc ở vùng trọng điểm Bắc
Bộ, có nhiều điều kiện thuận lợi để xây dựng các khu công nghiệp Những thành tựu và hạn chế trong việc xây dựng các khu công nghiệp ở Vĩnh Phúc Tuy nhiên, tác giả chưa đề cập, đi sâu vào vấn đề vai trò lãnh đạo của Đảng bộ Vĩnh Phúc về công nghiệp ở thời kỳ (1997 – 2013)
Trang 9- Năm 2014, tác giả Hà Quang Tiến, công bố nghiên cứu đề tài “Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài dến phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Vĩnh Phúc”
Đây là luận án Tiến sĩ, chuyên ngành kinh tế Tác giả đã nêu lên nhu cầu phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Vĩnh Phúc rất nhiều nguồn FDI Với chính sách mở, Vĩnh Phúc đã thu được nhiều thành tựa về lĩnh vực này Song nó cũng đặt ra nhiều vấn đề cần phải giải quyết Tác động của FDI đối với kinh tế - xã hội Vĩnh Phúc là rất lớn
Tuy vậy, công trình này không chuyên sâu nghiên cứa về công nghiệp cũng như vấn đề “Đảng bộ Vĩnh Phúc lãnh đạo phát triển kinh tế công nghiệp trong những năm 1997 đến 2013”
Nhìn chung,cho đến nay cũng chưa có một công trình nghiên cứa khoa học nào nghiên cứu sâu về vấn đề “Đảng bộ Vĩnh Phúc lãnh đạo phát triển kinh tế công nghiệp trong những năm 1997 – 2013”
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
- Nêu rõ cơ sở để phát triển kinh tế công nghiệp tỉnh Vĩnh Phúc trong những
năm 1997 đến 2013
- Làm rõ vai trò của Đảng bộ Vĩnh Phúc trong việc lãnh đạo phát triển kinh
tế công nghiệp những năm 1997 đến năm 2013
- Rút ra những bài học kinh nghiệm về công tác lãnh đạo của Đảng bộ về kinh tế công nghiệp trong những năm 1997 đến năm 2013
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Trình bày cơ sở phát triển kinh tế công nghiệp vào tỉnh Vĩnh Phúc
- Nêu chủ trương, giải pháp và thành tựu, hạn chế của Đảng bộ Vĩnh Phúc lãnh đạo phát triển kinh tế công nghiệp trong những năm 1997 đến năm 2013
- Rút ra những bài học kinh nghiệm và công tác lãnh đạo phát triển kinh tế công nghiệp của Đảng bộ Vĩnh Phúc trong những năm 1997 đến năm 2013
3.3 Phạm vi nghiên cứu
Về thời gian: Đề tài thời gian từ năm 1997 đến năm 2013
Trang 10Về không gian: Đề tài nghiên cứu trên phạm vi địa giới tỉnh Vĩnh Phúc
4 Phương pháp nghiên cứu
- Sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh
-Kết hợp phương pháp lịch sử, phương pháp logic trong đó phương pháp lịch
sử là chủ yếu
- Sử dụng phương pháp thống kê, so sánh, đối chiếu, xác minh sự kiện
- Thực hiện phương pháp điền dã
5 Đóng góp của khóa luận
- Khóa luận dựng lại bức tranh lịch sử tương đối đầy đủ, có hệ thống về sự lãnh đạo của Đảng đối với kinh tế công nghiệp của tỉnh Vĩnh Phúc trong những năm từ
- Khai thác được một nguồn tài liệu địa phương có giá trị, tập hợp các tài liệu
đó thành một hệ thống, phục vụ cho công tác nghiên cứu lịch sử địa phương
6 Kết cấu của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, khóa luận gồm 3 chương như sau:
Chương 1: Cơ sở Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lãnh đạo kinh tế công nghiệp giai đoạn 1997 đến 2013
Chương 2: Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lãnh đạo kinh tế công nghiệp những năm năm từ 1997 đến năm 2013
Chương 3: Đặc điểm, vai trò và bài học kinh nghiệm về phát triển công nghiệp của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc
Trang 11Chương 1
CƠ SỞ ĐỂ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP CỦA TỈNH VĨNH PHÚC TRONG NHỮNG NĂM 1997 – 2013
1.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN – KINH TẾ - XÃ HỘI TỈNH VĨNH PHÚC
1.1.1 Điều kiện tự nhiên
* Vị trí địa lý
Vĩnh Phúc là một tỉnh có diện tích là 1.236,50 km theo thống kê năm 2010.Đây là tỉnh tiếp giáp giữa trung du, miền núi Đông Bắc và đồng bằng châu thổ Sông Hồng nên tỉnh có 3 vùng sinh thái: đó là vùng đồng bằng ở phía Nam tỉnh, vùng trung du ở phía Bắc tỉnh và vùng núi ở huyện Tam Đảo
Với vị trí này, Vĩnh Phúc nằm trong tọa độ địa lý từ 21o06’ đến 21o35’ vĩ độ Bắc và từ 106019’ đến 106048’ kinh độ Đông
Xét về chiều rộng từ Đông sang Tây giữa hai kinh tuyến là khoảng 46 km Xét về chiều dài từ Bắc xuống Nam giữa hai vĩ tuyến là khoảng 49 km
Phía Bắc giáp tỉnh Thái Nguyên và Tuyên Quang, danh giới là dãy núi Tam Đảo Phía Tây giáp tỉnh Phú Thọ, ranh giới tự nhiên là Sông Lô Phía Nam giáp Hà Nội, ranh giới tự nhiên là sông Hồng Phía Đông giáp hai huyện Sóc Sơn và Đông Anh – Hà Nội
* Địa hình
Vĩnh Phúc nằm trong vùng chuyển tiếp giữa vùng gò đồi trung du với vùng đồng bằng Châu thổ Sông Hồng Bởi vậy, địa hình thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam và chia làm 3 vùng sinh thái: đồng bằng, trung du và vùng núi
Vùng núi có diện tích tự nhiên 65.300 ha (đất nông nghiệp: 17.400ha, đất lâm nghiệp 20.300 ha) Vùng này chiếm phần lớn diện tích huyện Lập Thạch, huyện Sông Lô, huyện Tam Đảo và 4 xã thuộc huyện Bình Xuyên, 1 xã thuộc thị xã Phúc Yên Trong vùng có dãy núi Tam Đảo là tài nguyên du lịch quý giá của tỉnh và của
cả nước Vùng này có địa hình phức tạp, khó khăn cho việc xây dựng cơ sở hạ
Trang 12tầng, đặc biệt là giao thông
Vùng trung du kế tiếp vùng núi, chạy dài từ Tây Bắc xuống Đông - Nam Vùng có diện tích tự nhiên khoảng 24.900 ha (đất NN 14.000ha), chiếm phần lớn diện tích huyện Tam Dương và Bình Xuyên (15 xã), Thành phố Vĩnh Yên (9 phường, xã), một phần các huyện Lập Thạch và Sông Lô, thị xã Phúc Yên Quỹ đất đồi của vùng có thể xây dựng công nghiệp và đô thị, phát triển cây ăn quả, cây công nghiệp kết hợp chăn nuôi đại gia súc Trong vùng còn có nhiều hồ lớn như Đại Lải,
Xạ Hương, Vân Trục, Liễn Sơn, Đầm Vạc là nguồn cung cấp nước cho hoạt động sản xuất, cải tạo môi sinh và phát triển du lịch
Vùng đồng bằng có diện tích 32.800 ha, gồm các huyện Vĩnh Tường, Yên Lạc
và một phần thị xã Phúc Yên, đất đai bằng phẳng, thuận tiện cho phát triển cơ sở hạ tầng, các điểm dân cư đô thị và thích hợp cho sản xuất nông nghiệp [34,tr.24-26]
Sự phân biệt 3 vùng sinh thái rõ rệt là điều kiện thuận lợi cho tỉnh bố trí các loại hình sản xuất đa dạng
* Giao thông
Vĩnh Phúc nằm trên Quốc lộ só 2 và tuyến đường Sắt Hà Nội – Lào Cai, là cầu nối giữa vùn trung du miền núi phía Bắc với tủ đô Hà Nội; liền kề cảng hàng không quốc tế Nội Bài, qua đường quốc lộ số 5 thông với cảng Hải Phòng và trục đường 18 thông với cảng nước sâu Cái Lân
Vĩnh Phúc có mạng lưới giao thông khá phát triển với 3 loại: giao thông đường bộ, đường sắt, đường sông
Đường bộ: Toàn tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay có hơn 11.000 km đường giao thông, trong đó có đường do trung ương, do tỉnh, do huyện và do xa quản lý
Đường sắt: Tỉnh Vĩnh Phúc có tuyến đường sắt liên vận từ thủ đô Hà Nội đến tỉnh Lào Cai và tới tỉnh Vân Nam (Trung Quốc), đi qua tỉnh với 6 ga, trong đó
ga Phúc Yên và ga Vĩnh Yên là hai ga chính Đây là tuyến giao thông quan trọng trong vận tải hàng hóa, hành khách đi qua tỉnh Vĩnh Phúc và được tiếp nối với các tuyến đường sắt ra cảng Hải Phòng, đi Việt Bắc, vào miền Trung và Nam Bộ
Trang 13Đường sông: Tỉnh Vĩnh Phúc có các sông lớn chảy qua như: sông Hồng, sông Lô, sông Phó Đáy với các cảng sông Chu Phan, Vĩnh Thịnh trên sông Hồng và cảng Như Thụy (trên sông Lô) Đảm bảo được các phương tiện vận tải vận chuyển dưới 30 tấn Có thể vận chuyển nguyên vật liệu, nhiên liệu, hàng hóa thiết bị, máy móc từ cảng biển Hải Phòng (thành phố Hải Phòng) và tỉnh Quảng Ninh về tỉnh Vĩnh Phúc thuận lợi
Đường hàng không: Trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc chưa có sân bay nào Nhưng tỉnh Vĩnh Phúc chỉ cách sân bay quốc tế Nội Bài (thành phố Hà Nội) khoảng
30 km Sân bay này đang được nâng cấp và mở rộng lên quy mô 4 triệu hành khách/ năm và 90.000 tấn hàng hóa năm Do vậy, việc vận chuyển, đi lại rất thuận tiện đến các nơi trên thế giới và trong nước
Tỉnh Vĩnh Phúc vừa sát với thủ đô Hà Nội, gần sân bay Quốc tế Nội Bài, tỉnh lại có một hệ thống giao thông đủ loại và khá thuận lợi cho quá trình xây dựng
và phát triển kinh tế – xã hội của địa phương
* Hành chính
Từ xưa, Vĩnh Phúc là một miền đất cổ trải qua nhiều thời kỳ lịch sử khác nhau, miền đất này diễn ra nhiều thay đổi về lãnh thổ hành chính và tên gọi khác nhau nhất là từ thời kỳ Pháp thuộc
Để thực hiện chính sách cai trị Bắc kỳ, thực dân Pháp cắt một số vùng đất đai của các tỉnh Sơn Tây, Bắc Ninh, Thái Nguyên để thành lập các đơn vị hành chính mới - trong đó có Vĩnh Yên, Phúc Yên
Ngày 6/1/1890, Toàn quyền Đông Dương ra Nghị định thành lập đạo Vĩnh Yên bao gồm phủ Vĩnh Tường, 5 huyện thuộc tỉnh Sơn Tây (là Bạch Hạc, Lập Thạch, Tam Dương, Yên Lạc, Yên Lãng), huyện Bình Xuyên của tỉnh Thái Nguyên
và một phần huyện Kim Anh của tỉnh Bắc Ninh Lỵ sở của tỉnh Vĩnh Yên đặt tại Hương Canh (Bình Xuyên) nên nhân dân lúc bấy giờ còn gọi Vĩnh Yên là tỉnh Cánh Tuy nhiên đến ngày 12/4/1891, Toàn quyền Đông Dương lại ra Nghị định giải thể đạo Vĩnh Yên và giao cho tỉnh Sơn Tây Phải đến hơn 8 năm sau, ngày 29/12/1989, do “tình hình chống đối liên miên của dân chúng và sự cần thiết phải
Trang 14can thiệp trực tiếp vào cuộc cai trị” [14, tr.21], buộc thực dân Pháp lại phải lập lại tỉnh Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Yên mới được tái lập, tỉnh lỵ đặt tại xã Tích Sơn huyện Tam Dương
Ngày 6/10/1891, Chính phủ bảo hộ ra Nghị định thành lập 2 tỉnh Vĩnh Yên
và Phù Lỗ với cương vực mới Huyện Yên Lãng được tách khỏi Vĩnh Yên và nhập vào Phù Lỗ (tỉnh mới được thành lập) Từ đó, Vĩnh Yên có một phủ Vĩnh Tường và bốn huyện Yên Lạc, Lập Thạch, Tam Dương, Bình Xuyên
Ngày 10 tháng 12 năm 1903, tỉnh Phù Lỗ đổi tên thành tỉnh Phúc Yên (Phúc Yên là tên ghép của hai phủ Đa Phúc và Yên Lãng), tỉnh lỵ chuyển lên làng Tháp Miếu, tổng Bạch Trữ, phủ Yên Lãng (làng Tháp Miếu thuộc thị xã Phúc Yên ngày nay) Ngày 7 tháng 3 năm 1913, tỉnh Phúc Yên đổi thành đại lý Phúc Yên và lệ thuộc vào tỉnh Vĩnh Yên Mười năm sau, ngày 31 tháng 3 năm 1923, Thống sứ Bắc Kỳ
ra Nghị định lập lại tỉnh Phúc Yên gồm hai phủ là Đa Phúc, Yên Lãng và hai huyện là Kim Anh, Đông Anh Lúc bấy giờ, Phúc Yên là tỉnh nhỏ nhất của xứ Bắc Kỳ
Từ sau cách mạng Tháng Tám năm 1945, tình hình địa lý hành chính của tỉnh Vĩnh Phúc có nhiều lần thay đổi quan trọng về địa danh và địa giới
Tháng 3 năm 1968, thực hiện nghị quyết của Quốc hội và Quyết định của Chính phủ, tỉnh Vĩnh Phúc hợp nhất với tỉnh Phú Thọ thành tỉnh Vĩnh Phú
Do yêu cầu tăng cường công tác quản lý nhà nước phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội, ngày 15 tháng 11 năm 1996, Quốc Hội ra Nghị quyết tách tỉnh Vĩnh Phú thành hai tỉnh Vĩnh Phúc và Phú Thọ Như vậy sau gần 30 năm hợp nhất (từ năm 1968), tỉnh Vĩnh Phúc được tái lập, tỉnh lỵ đặt tại thị xã Vĩnh Yên
Ngày 1 tháng 1 năm 1997, tỉnh Vĩnh Phúc được tái lập và bắt đầu làm việc theo đơn vị hành chính mới
Theo Nghị định số 36/1998/NĐ-CP ngày 9/6/1998, huyện Tam Đảo được chia thành hai huyện Tam Dương và Bình Xuyên Theo Nghị định số 153/2003/NĐ-
CP của Chính Phủ nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, ngày 9/12/2003 thị
xã Phúc Yên và huyện Tam Đảo mới được thành lập Huyện Tam Đảo mới bao gồm các xã: Yên Dương, Đạo Trù, Bồ Lý (của huyện Lập Thạch), Đại Đình, Tam Quan,
Trang 15Hồ Sơn, Hợp Châu ( của huyện Tam Đảo), xã Minh Quang 9 (huyện Bình Xuyên)
và thị trấn Tam Đảo của thị xã Vĩnh Yên
Tỉnh Vĩnh Phúc đến năm 2009 gồm đơn vị hành chính là: Thành phố Vĩnh Yên (tỉnh lỵ), thị xã Phúc Yên và 7 huyện: Sông Lô, Lập Thạch, Tam Dương, Vĩnh Tường, Yên lạc, Bình Xuyên, Tam Đảo Toàn tỉnh có 13 phường, 12 thị trấn và 112 xã
* Khí hậu, thủy văn
Về khí hậu: Tỉnh nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm Nhiệt
độ trung bình năm 23,2 - 250C, lượng mưa 1.500 - 1.700 ml; độ ẩm trung bình 84 - 85%, số giờ nắng trong năm 1.400 - 1.800 giờ Hướng gió thịnh hành là hướng Đông - Nam thổi từ tháng 4 đến tháng 9, gió Đông - Bắc thổi từ tháng 10 tới tháng
3 năm sau, kèm theo sương muối Riêng vùng núi Tam Đảo có kiểu khí hậu quanh năm mát mẻ (nhiệt độ trung bình 180C) cùng với cảnh rừng núi xanh tươi, phù hợp cho phát triển các hoạt động du lịch, nghỉ ngơi, giải trí
Thuỷ văn: Tỉnh Vĩnh Phúc có nhiều con sông chảy qua, song chế độ thuỷ văn phụ thuộc vào 2 sông chính là sông Hồng và sông Lô
Sông Hồng chảy qua Vĩnh Phúc với chiều dài 50km, đã đem phù sa màu mỡ cho đất đai, song thời gian nước đầu nguồn tràn về cùng với lượng mưa tập trung dễ gây lũ lụt ở nhiều vùng (Vĩnh Tường, Yên Lạc)
Sông Lô chảy qua Vĩnh Phúc dài 35km, có địa thế khúc khuỷu, lòng sông hẹp, nhiều thác gềnh nên lũ sông Lô lên xuống nhanh chóng
Hệ thống sông nhỏ như sông Phan, sông Phó Đáy, sông Cà Lồ có mức tác động thuỷ văn thấp hơn nhiều so với sông Hồng và Sông Lô, nhưng chúng có ý nghĩa to lớn về thủy lợi Hệ thống sông này kết hợp với các tuyến kênh mương chính như kênh Liễn Sơn, kênh Bến Tre cung cấp nước tưới cho đồng ruộng, tạo khả năng tiêu úng về mùa mưa Trên địa bàn tỉnh còn có hệ thống hồ chứa hàng triệu m3
nước (Đại Lải, Thanh Lanh, Làng Hà, Đầm Vạc, Xạ Hương, Vân Trục, Đầm Thủy…), tạo nên nguồn dự trữ nước mặt phong phú đảm bảo phục vụ tốt cho hoạt động kinh tế và dân sinh
Trang 16* Tài nguyên thiên nhiên
Tài nguyên nước
Nguồn nước mặt: Nguồn nước mặt của tỉnh khá phong phú nhờ hai sông Hồng và Sông Lô cùng hệ thống các sông nhỏ như: sông Phó Đáy, sông Phan, sông
Cà Lồ và hàng loạt hồ chứa (Đại Lải, Xạ Hương, Vân Trục, Đầm Vạc ) dự trữ khối lượng nước khổng lồ, đủ để phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt của nhân dân
Nguồn nước ngầm: Nguồn nước ngầm có trữ lượng không lớn, đạt khoảng 1 triệu m3/ngày - đêm Hiện nay nguồn nước ngầm đang được khai thác ở thành phố Vĩnh Yên và thị xã Phúc Yên với lưu lượng 28.000 m3/ngày đêm nhưng đòi hỏi phải xử lý tốn kém Tại một số vùng nông thôn, nhân dân khai thác nước ngầm từ các giếng khoan (với lưu lượng khoảng 15.000 m3/ngày đêm) nhưng chất lượng hạn chế
Mặc dù nguồn nước của tỉnh khá phong phú song phân bố không đều trong năm Về mùa khô vẫn có thời điểm thiếu nước, đặc biệt là các huyện vùng núi cao
và trung du (Lập Thạch, Sông Lô, Tam Dương, Bình Xuyên) Để đảm bảo hài hòa nguồn nước cho phát triển kinh tế, cần quan tâm xây dựng thêm các công trình điều tiết nước và có biện pháp khai thác nước ngầm bổ sung
Tài nguyên khoáng sản
Theo đánh giá sơ bộ tài nguyên khoáng sản Vĩnh Phúc có thể phân thành các nhóm sau:
Nhóm khoáng sản nhiên liệu: gồm than antraxit trữ lượng khoảng một ngàn tấn ở Đạo Trù (Tam Đảo); than nâu ở các xã Bạch Lưu, Đồng Thịnh (Sông Lô), trữ lượng khoảng vài ngàn tấn; Than bùn ở Văn Quán (Lập Thạch); Hoàng Đan, Hoàng Lâu (Tam Dương) có trữ lượng (cấp P2) 693.600 tấn, đã được khai thác làm phân bón và chất đốt
Nhóm khoáng sản kim loại: Gồm chủ yếu ở vùng đứt gãy Tam Đảo và rải rác
ở các huyện Lập Thạch, Tam Dương, Bình Xuyên Nhìn chung, nhóm khoáng sản này nghèo và cũng chưa được nghiên cứu kỹ lưỡng nên chúng chưa phục vụ được cho phát triển kinh tế của tỉnh
Nhóm khoáng sản phi kim loại: Nhóm khoáng sản phi kim loại chủ yếu là cao
Trang 17lanh, nguồn gốc phong hóa từ các loại đá khác nhau, tại đây có khoảng 3 mỏ và 1 điểm quặng với trữ lượng khoảng 4 triệu tấn, tập trung ở Tam Dương, Vĩnh Yên, Lập Thạch Cao lanh của Vĩnh Phúc là nguyên liệu sản xuất gạch chịu lửa, đồ gốm, sứ, làm chất độn cho sơn, cho cao su, cho giấy ảnh, giấy in tiền Các mỏ cao lanh được khai thác từ năm 1965, mỗi năm tiêu thụ hàng ngàn tấn Ngoài ra trên địa bàn tỉnh còn có 6 mỏ Puzolan, tổng trữ lượng 4,2 triệu tấn
Nhóm vật liệu xây dựng: gồm sét gạch ngói khoảng 10 mỏ với tổng trữ lượng 51,8 triệu m3, sét đồng bằng, sét vùng đồi, sét màu xám đen, xám nâu, cát sỏi lòng sông và bậc thềm, cát cuội sỏi xây dựng (có 4 mỏ, tổng trữ lượng 4,75 triệu
m3, đá xây dựng và đá ốp lát (granit và riolit) có 3 mỏ với tổng trữ lượng 307 triệu
m3, đá ong có 3 mỏ, tổng trữ lượng 49triệu m3; Fenspat có 1 điểm, chưa đánh giá được trữ lượng
Nhìn chung, Vĩnh Phúc là tỉnh ở vị trí chuyển tiếp giữa miền núi và đồng bằng nên rất nghèo về tài nguyên khoáng sản Khoáng sản có giá trị thương mại trên địa bàn chỉ bao gồm một số loại như:đá xây dựng, cao lanh, than bùn…song trữ lượng không lớn và điều kiện khai thác hạn chế Tuy nhiên, tất cả các tài nguyên này đều phân bố không tập trung ở các vùng núi Tỉnh có tài nguyên đất là đáng kể nhất, với 40% là đồng bằng, đất ở trung du và đồi núi có diện tích lớn, có đặc tính
cơ lý tố thuận lợi cho việc phát triển nông lâm nghiệp, nhất là khu công nghiệp
Tài nguyên du lịch
Vĩnh Phúc có nhiều tiềm năng để phát triển du lịch tự nhiên và du lịch nhân văn Có Tam Đảo là dãy núi hình cánh cung dài 50 km, rộng 10 km với phong cảnh thiên nhiên đẹp, khí hậu trong lành, mát mẻ Đặc biệt có Vườn Quốc gia Tam Đảo
và các vùng phụ cận thuộc loại rừng nguyên sinh có nhiều loài động thực vật được bảo tồn tương đối nguyên vẹn Bên cạnh đó Vĩnh Phúc còn có hệ thống sông ngòi, đầm hồ tương đối phong phú, địa thế đẹp có thể vừa phục vụ sản xuất vừa có giá trị cho phát triển du lịch như: Đại Lải, Dị Nậu, Vân Trục, Đầm Vạc, đầm Dưng, Thanh Lanh Tiềm năng tự nhiên cho phát triển du lịch kết hợp với các giá trị (tài nguyên) văn hóa truyền thống phong phú sẽ là nguồn lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã
Trang 18hội Vĩnh Phúc
Vĩnh Phúc có vị trí quan trọng đối vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, đặc biệt đối với Thủ đô Hà Nội: Kinh tế Vĩnh Phúc phát triển sẽ góp phần cùng Thủ đô Hà Nội thúc đẩy tiến trình đô thị hóa, phát triển công nghiệp, giải quyết việc làm, giảm sức ép về đất đai, dân số, các nhu cầu về xã hội, du lịch, dịch vụ của thủ đô Hà Nội
Quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong các năm qua đã tạo cho Vĩnh Phúc những lợi thế mới về vị trí địa lý kinh tế, tỉnh đã trở thành một bộ phận cấu thành của vành đai phát triển công nghiệp các tỉnh phía Bắc Đồng thời,sự phát triển các tuyến hành lang giao thông quốc tế và quốc gia liên quan đã đưa Vĩnh Phúc xích gần hơn với các trung tâm kinh tế, công nghiệp và những thành phố lớn của quốc gia và quốc tế thuộc hành lang kinh tế Côn Minh - Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng, quốc lộ 2 Việt Trì - Hà Giang - Trung Quốc, hành lang đường 18 và trong tương lai là đường vành đai IV thành phố Hà Nội
Vị trí địa lý đã mang lại cho Vĩnh Phúc những thuận lợi và khó khăn nhất định trong phát triển kinh tế – xã hội:
– Nằm trong Vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc, gần Thành phố Hà Nội nên
có nhiều thuận lợi trong liên kết, giao thương hàng hoá, công nghệ, lao động kỹ thuật nhưng cũng phải chịu sự cạnh tranh mạnh mẽ từ nhiều phía
– Hệ thống hạ tầng giao thông đối ngoại đã và đang được đầu tư hiện đại là những tuyến chính gắn kết quan hệ toàn diện của Vĩnh Phúc với các tỉnh khác trong
cả nước và quốc tế
Song với vị trí địa lý và diện tích đất đai trên, tỉnh Vĩnh Phúc có nhiều điều kiện thuận lợi cho việc giao lưu hàng hóa, phát triển các loại hình dịch vụ, tiếp cận nhanh với các thành tựu khoa học kỹ thuật và thu hút các dự án đầu tư trực tiếp của nước ngoài cũng như trong nước
1.1.2 Điều kiện kinh tế
Nông nghiệp
Vĩnh Phúc được cả nước biết đến là tỉnh đi đầu về các chính sách đầu tư cho phát triển nông nghiệp, nông thôn, nông dân Từ việc đổi mới tư duy, cách tổ chức
Trang 19sản xuất trong phong trào khoán hộ, trồng cây ngô đông trên nền đất ướt đến Nghị quyết 03, tạo điểm nhấn quan trọng đưa Vĩnh Phúc dẫn đầu miền Bắc về sản xuất 3
vụ ổn định trong năm
Đặc biệt, ngày 10-9-1966, Tỉnh uỷ Vĩnh Phúc đã ra Nghị quyết số 68- NQ/TU “Về một số vấn đề quản lý lao động trong HTX nông nghiệp hiện nay” đánh dấu sự ra đời “Khoán hộ” ở Vĩnh Phúc, tạo nên nguồn sinh khí mới, động lực mới, làm thay đổi căn bản đời sống của người nông dân trong tỉnh, từng bước thúc đẩy nền sản xuất nông nghiệp phát triển Năm 1967, tuy chiến tranh ác liệt, hạn hán nặng nhưng toàn tỉnh có hơn 70% số HTX đạt năng suất lúa bình quân từ 5-7 tấn/ha/năm Tổng sản lượng lương thực qui thóc của tỉnh đạt 222.000 tấn, tăng 4.000 tấn so với năm 1966
Thực hiện chủ trương của Đại hội Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phú tỉnh lần thứ VI Đại hội thông qua phương hướng, nhiệm vụ chủ yếu trong kế hoạch 5 năm (1986-1990) của tỉnh là: đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, công nghiệp, trong
đó tập trung hết sức cho sản xuất lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu
Để khắc phục một bước những nhược điểm của Chỉ thị 100, ngày 5/4/1988,
Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 10-NQ/TW “Về đổi mới quản lý kinh tế trong nông nghiệp” Nghị quyết 10 đề ra cơ chế khoán mới, xác định hợp tác xã nông nghiệp là đơn vị kinh tế tự chủ, tự quản, hộ xã viên là đơn vị nhận khoán với hợp tác xã
Thực hiện Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị, ngày 21/4/1988, Tỉnh ủy Vĩnh Phú ra Nghị quyết số 10-NQ/TU về đổi mới quản lý trong hợp tác xã nông nghiệp nhằm tiếp tục tạo ra động lực thúc đẩy sản xuất phát triển Tỉnh ủy chủ trương từ vụ mùa năm 1988 thực hiện rộng rãi trong hợp tác xã nông nghiệp hình thức khoán trên cơ sở xác định mức ngày công và chi phí sản xuất, thanh toán bằng sản phẩm thay thế chế độ thanh toán bằng công điểm Thực hiện hình thức khoán mới nhằm phát huy mọi tiềm năng của các thành phần kinh tế, các vùng, ngành; chuyển nền nông nghiệp sang sản xuất hàng hóa theo hướng khai thác thế mạnh của từng vùng, giải quyết nhu cầu cơ bản về lương thực, thực phẩm, tăng thêm nguyên liệu cho
Trang 20công nghiệp, hàng hóa cho tiêu dùng và xuất khẩu, phục vụ tốt ba chương trình kinh tế lớn
Công nghiệp
Sau ngày giải phóng hoàn toàn miền Bắc năm 1954, các chủ, thợ lò, xưởng hồi cư về cơ sở cũ, hàn gắn vết thương chiến tranh, tổ chức lại sản xuất Năm 1957, toàn tỉnh đã hoàn thành về cơ bản cuộc cải cách ruộng đất và bắt đầu tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với công thương tư bản tư doanh Về thủ công nghiệp và công nghiệp, một số ngành nghề ( rèn, đúc mũi cày, …) tổ chức vào tập đoàn hay tổ sản xuất Trong 3 năm phát triển kinh tế (1958 – 1960) các mặt công tác của tỉnh đều đạt được kết quả tốt: đực biệt là về hợp tác hóa nông nghiệp, về cải thiện đời sống nhân dân nên đã thúc đẩy công nghiệp và thủ công nghiệp phát triển theo
“Trên cơ sở phát triển tương đối khá, công nghiệp địa phương năm 1960 đạt giá trị tổng sản lượng 444.273 triệu đồng, so với năm 1959 tăng 219%, đã góp một phần cung cấp các nông cụ cải tiến phục vụ cơ quan và nhân dân” [14, tr.194]
Trong năm 1961 – 1965 nhu cầu của hợp tác hóa nông nghiệp về công cụ cải tiến, máy móc, phương tiện vận tải; nhu cầu kiến thiết cơ bản của cơ quan và nhân dân; nhu cầu tiêu dung của toàn xã hopoij đòi hỏi công nghiệp địa phương và thủ
công nghiệp phỉa đáp ứng ngày càng nhiều
“ Đến năm 1965, tỉnh tách 3 xí nghiệp gỗ giao cho Ty công nghiệp quản lý;
xí nghiệp gỗ Đa Phúc (71 công nhân), xí nghiệp gỗ Bạch Hạc ( 128 công nhân và lao động), xí nghiệp mộc Cầu Oai ( 114 công nhân và lao động)” [ 14, tr.194- 195] Tính đến ngày 31 – 12 – 1965 Khối công nghiệp quốc doanh toàn tỉnh có 28 xí nghiệp và 15 tổ sản xuất thuộc các ngành hàng: điện, cơ khí, gỗ, chế biến nông sản, vật liệu kiến thiết, sửa chữa vô tuyến điện, ô tô, xe đạp, may đo, dược phẩm… [14, tr.195]
Tổng sản lượng công nghiệp và thủ công nghiệp đã tăng đều qua các năm và năm 1965 tăng 132% so với năm 1960 Sản phẩm công nghiệp và thủ công nghiệp
đã đa dạng, phong phú, phát triển mạnh nhất là ngành vật liệu xây dựng và ngành chế biến lương thực, thực phẩm, đáp ứng được yêu cầu cơ bản của phong trào hợp
Trang 21tác hóa nông nghiệp, của công nghiệp kiến thiết đô thị và thỏa mãn được một phần nhu cầu tiêu dung cho nhân dân; có một ít hàng hóa xuất khẩu
Trong thời kỳ hợp nhất tỉnh 1968 – 1996, tình hình có nhiều khó khăn nhưng tỉnh cũng đã có chủ trương nhằm thích ứng với tình hình, giữ vững và đẩy mạnh hoạt động sản xuất Những năm 1968 – 1975: Được trung ương và tỉnh đầu tư vốn,
Ty công nghiệp đã xây dựng them 26 xí nghiệp gồm 8 cơ khí huyện, 10 cơ sở nước chấm, 2 xí nghiệp sứ, 2 mỏ than, 1 mỏ cao lanh, 1 xưởng đường, 1 nhà máy rượu và
1 phòng điện lực; đồng thời mở rộng một số xí nghiệp cũ như 2 nhà máy cơ khí Vĩnh Yên và Phú Thọ, các xưởng ép dầu, xẻ gỗ…
Năm 1974, 42/89 HTX vượt chỉ tiêu đại hội ngành Năm 1975, có 17 HTX vượt mức kế hoạch nhà nước từ 1 tháng đến 2 tháng Đặc biệt có 5 HTX hoàn thành
kế hoạch trước 3 tháng, trong đó có 3 HTX ở Phúc Yên là Đại Đồng, Nề Mộc và Phúc Tiến Cả hai năm 1974 – 1975, Liên hiệp xã đều đạt giá trị tổng sản lượng 37 triệu đồng, so với năm 1971 tăng 15% [14, tr.198]
Từ năm 1976 đến năm 1980, giá trị tổng sản lượng toàn ngành tăng bình quân 5,6% mỗi năm; từ năm 1981 đến 1983 tốc độ tăng lên 6,9% năm Số mặt hàng làm ra đến năm 1985 đã lên tới con số 400, trong đó có 50 mặt hàng mới ra đời như màng mỏng PE, vải giả da, can nhựa, nilon…[14, tr.199]
Trong giai đoạn 1986 – 1996 toàn tỉnh thực hiện công cuộc đổi mới chuyển sang hoạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa Trong đó năm 1993, khối doanh nghiệp công nghiệp trực thuộc Sở công nghiệp có đà phát triển Với 21 doanh nghiệp có 15 đơn vị sản xuất có lãi, 4 đơn vị hòa, chỉ có 2 đơn vị lỗ vốn Gía trị tổng sản lượng toàn khối đạt 20 tye 860 triệu đồng, tăng hơn năm 1992 là 25,1% Nộp ngân sách 3 tỷ 822 triệu đồng, tăng 69,7% so với năm 1992 Thu nhập bình quân toàn ngành là 190.000 đồng/người/năm [14, tr.200]
Năm 1996 toàn tỉnh dồn còn lại 20 đơn vị doanh nghiệp địa phương, toàn tỉnh có 47 doanh nghiệp tư nhân, trong đó có 7 công ty trách nhiệm hữu hạn và chi nhánh được phép hoạt động với vốn đầu tư 31 tỷ đồng Kinh tế cá thể với 18.000 cơ
sở và 36.650 lao động phát triển ở khắp thị xã, thị trấn, thị tứ và các vùng nông
Trang 22thôn, chiếm tới 87% giá trị sản xuất ngoài quốc doanh, làm ra mấy trăm loại hàng hóa phục vụ nhu cầu tiêu dung xã hội [14, tr.201]
Thủ công nghiệp
– Phát triển ngành nghề tiểu thủ công nghiệp là trách nhiệm của toàn dân dưới sự hỗ trợ và quản lý của nhà nước; phải huy động mọi nguồn lực để đảm bảo phát triển bền vững và ổn định;
– Quy hoạch phát triển tiểu thủ công nghiệp gắn liền với quy hoạch phát triển kinh tế xã hội của địa phương, đặt trong mối quan hệ tương hỗ với quy hoạch phát triển các ngành, quy hoạch đô thị, kết hợp hài hòa nhiều loại hình kinh tế với công nghệ, thiết bị thích hợp, kết hợp hiện đại với truyền thống, thiết bị tiên tiến với tay nghề thủ công, nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm;
– Kết hợp hài hòa với phát triển sản xuất nông nghiệp trên cơ sở khai thác hiệu quả nguồn lao động, tài nguyên đất, nguyên liệu sẵn có tại địa phương, gắn liền với du lịch làng nghề…nhằm không ngừng nâng cao mức sống của cư dân nông thôn, giảm dần sự cách biệt giữa nông thôn và thành thị;
– Phát triển các sản phẩm thủ công mỹ nghệ có lợi thế cạnh tranh, phục vụ nhu cầu trong nước và xuất khẩu, giúp khu vực nông thôn phá được thế thuần nông, hướng tới các ngành có năng suất và thu nhập cao hơn;
– Bảo tồn, phát huy được những nét văn hóa truyền thống của địa phương, của dân tộc và bảo vệ môi trường
Mục tiêu phát triển tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc nhằm xóa đói, giảm nghèo cho các vùng sâu, vùng xa; tạo thêm việc làm và thu nhập cho người dân nông thôn; tạo sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế khu vực nông thôn; hướng tới phát triển bền vững, bảo vệ môi trường và an sinh xã hội; giảm dần sự cách biệt giữa nông thôn và thành thị, góp phần thực hiện mục tiêu được xác định tại Đại hội Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lần thứ XV: Phấn đấu đến năm 2015 cơ bản trở thành tỉnh công nghiệp; trở thành tỉnh công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020 và trở thành thành phố Vĩnh Phúc vào những năm 20 của thế kỷ XXI
Trang 231.1.3 Điều kiện xã hội
* Dân số
Theo kết quả điều tra dân số ngày 01 – 04- 2009,tỉnh Vĩnh Phúc có 1.000.838 người Trong đố có 629.000 người trong độ tuổi lao động, chiếm 62,85% dân số, đây chủ yếu là lao động trẻ, có kiến thức văn hóa phổ thông trở lên, có thể đào tạo nhanh thành công nhân kỹ thuật [4, tr.4]
*Dân tộc
Trên địa bàn Vĩnh Phúc dân tộc kinh chiếm đa số khoảng 96,5% Ngoài ra tỉnh còn có 30 dân tộc thiểu số gồm: Tày, Thái,Hoa, khơme, Mường, Nùng, H’Mông, Dao, Ngái, Sán Dìu, Hà Nhì, La Chỉ, Phù Lá, Lô Lô, Pú Péo, Ê Đê, Xu Năng, Chăm, Gia Rai, Bru, Vân Kiều, Thổ, Giay, Cơ Ho, M’Nông, Ba Na,…đến tỉnh định cư từ sớm và nhiều người hơn cả [34, tr.99]
Ngày nay, tỉnh Vĩnh Phúc có hơn 20 trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, trường dạy nghề của trung ương và địa phương, quy mô đào tạo hơn 20.000 học sinh, hàng năm có hơn 10.00 học sinh tố nghiệp Đây là nguồn nhân lực trẻ
có kiến thức văn hóa, kỹ thuật, đủ đáp ứng nhu cầu về lao động của tỉnh trong mọi thành phần kinh tế, nhất là công nghiệp và dịch vụ
1.2 TÌNH HÌNH KINH TẾ CÔNG NGHIỆP VĨNH PHÚC TRƯỚC NĂM
1997
1.1.1 Về ưu điểm
Trong kháng chiến chống Pháp, ở những vùng tự do chính quyền và ngành công thương tỉnh đã động viên các người có tay nghề, có vốn mở lò, xưởng phát triển tiểu thủ công nghiệp vừa để đáp ứng nhu cầu một phần hàng hóa tiêu dung cho nhân dân, vừa để đấu tranh kinh tế với địch Trong năm 1951, toàn tỉnh đã mở được: 1 lò đúc nồi đồng, 1 lò thuộc da, 2 lò nồi đất, 1 lò than, 3 xưởng đúc mũi cày,
2 xưởng ép dầu thảo mộc, 5 nhà dệt chiếu… các lò các xưởng kể trên đã sản xuát được 14.505 chiếc mũi cầy, 6211 bìa da thuộc… Nghề phụ gia đình phát triển nhất
là nghề đan thúng, mủng, rổ rá, quang vì các mặt hàng này được sản xuất nhiều vào
Trang 24các chợ vùng địch hậu [14, tr.192]
Sau ngày giải phóng hoàn toàn miền Bắc năm 1954, các chủ, thợ lò, xưởng hồi cư về cơ sở cũ, hàn gắn vết thương chiến tranh, tổ chức lại sản xuất Ngay từ cuối năm 1955, ngành công thương tỉnh đã nghiên cứu nắm bắt tình hình và đã vượt qua nhiều khó khăn để hướng họ đi dần vào làm ăn có kế hoạch theo sự lãnh đạo của Nhà nước Năm 1956, trên địa bàn toàn tỉnh đã khôi phục được 19 lò gạch, 2 lò ngói, 5 lò đúc mũi cày, 9 xưởng đúc cày bừa, 141 lò rèn, 10 cang chĩnh… sản xuất được 581.450 viên gạch, 167.500 viên ngói, 66.606 mũi cày, 2.202 cày bừa…[14, tr.192]
Năm 1957, toàn tỉnh đã hoàn thành về cơ bản cuộc cải cách ruộng đất và bắt đầu tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với công thương tư bản tư doanh Về thủ công nghiệp và công nghiệp, một số ngành nghề ( rèn, đúc mũi cày, …) tổ chức vào tập đoàn hay tổ sản xuất Nhìn chung, tình hình tiểu thủ công nghiệp và thủ công nghiệp trong 3 năm khôi phục và phát triển kinh tế ( 1955 – 1957) có bước chuyển biến tích cực: tận dụng được khả năng phát triển các mặt hàng để phục vụ sản xuất nông nghiệp, phục vụ đời sống và xuất khẩu
Trong 3 năm phát triển kinh tế (1958 – 1960) các mặt công tác của tỉnh đều đạt được kết quả tốt: đực biệt là về hợp tác hóa nông nghiệp, về cải thiện đời sống nhân dân nên đã thúc đẩy công nghiệp và thủ công nghiệp phát triển theo
“Trên cơ sở phát triển tương đối khá, công nghiệp địa phương năm 1960 đạt giá trị tổng sản lượng 444.273 triệu đồng, so với năm 1959 tăng 219%, đã góp một phần cung cấp các nông cụ cải tiến phục vụ cơ quan và nhân dân” [14, Tr.194]
Trong năm 1961 – 1965 nhu cầu của hợp tác hóa nông nghiệp về công cụ cải tiến, máy móc, phương tiện vận tải; nhu cầu kiến thiết cơ bản của cơ quan và nhân dân; nhu cầu tiêu dung của toàn xã hội đòi hỏi công nghiệp địa phương và thủ công nghiệp phỉa đáp ứng ngày càng nhiều
Xưởng nông cụ đổi gọi lại là xí nghiệp Cơ khí Vĩnh Yên được củng cố và tăng cường cán bộ, công nhân kỹ thuật, máy móc trang thiết bị Cuối năm 1959, tổng số cán bộ công nhân viên có 141 người; đến cuối năm 1965, lên 217 người,
Trang 25trong đó có 96 công nhân sản xuất Năm 1963, được trang bị them 1 trạm biến thế 200KW, 2 máy tiện chính xác, 1 máy mài, 1 máy khoan gạng nặng…
Căn cứ vào vùng nguyên liệu mía đường ven bãi Yên Lạc, Yên Lãng, năm
1961 tỉnh cho xây dựng nhà máy đường Quyết Tiến với 100 công nhân và lao động, bắt đầu sản xuất vào ngày toàn quốc kháng chiến 19 – 12 – 1961 Cả năm 1962 sản xuất được 155.344 kg đường
Trong năm 1961 này thì ty công nghiệp còn được cấp vốn xây dựng một xí nghiệp sản xuất bột sắn khoai, công suất 300 tấn/năm ở Liễn Sơn ( Lập Thạch); 1 xưởng khai thác cao lanh và 1 lò bát ở Định Trung ( Tam Dương); 1 xí nghiệp sản xuất men giống vi sinh vật để cung cấp cho các huyện về làm phân vi sinh Ngoài các xí nghiệp kể trên, trong tỉnh còn có 28 xí nghiệp quốc doanh do các ngành khác quản lý như: gạch ngói vôi, cát sỏi, khai thác, xẻ gỗ, chế biến gỗ, may mặc, xe đạp,in, dược phẩm, xay xát gạo; bánh kẹo, rượu, nước mắm, mổ lợn và làm đậu phụ
“ Đến năm 1965, tỉnh tách 3 xí nghiệp gỗ giao cho Ty công nghiệp quản lý;
xí nghiệp gỗ Đại Phúc (71 công nhân), xí nghiệp gỗ Bạch Hạc (128 công nhân và lao động), xí nghiệp mộc Cầu Oai ( 114 công nhân và lao động)” [15, Tr.194- 195] Tính đến ngày 31 – 12 – 1965 khối công nghiệp quốc doanh toàn tỉnh có 28 xí nghiệp và 15 tổ sản xuất thuộc các ngành hàng: điện, cơ khí, gỗ, chế biến nông sản, vật liệu kiến thiết, sửa chữa vô tuyến điện, ô tô, xe đạp, may đo, dược phẩm… [14, tr.195]
Về thủ công nghiệp, tỉnh đã hướng dẫn và chỉ đạo thành lập ban vận động HTX thủ công để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và sự giúp đỡ của Nhà nước đối với thủ công nghiệp, đẩy mạnh phát triển thủ công nghiệp trên cơ sở hợp tác hóa
và cải tiến kỹ thuật Kết thúc kế hoạch 5 năm từ 1961 – 1965 , đến ngày 31 – 8 –
1964, toàn tỉnh có 42 HTX thủ công nghiệp với 2174 xã viên, gồm 17 HTX với 614
xã viên ngành chế biến kim loại; 2 HTX với 178 xã viên ngành vật liệu xây dựng; 4 HTX với 614 xã viên ngành tre, gỗ, nứa lá: 2 HTX với 206 xã viên ngành thủy tinh, sành sứ; 13 HTX với 151 xã viên ngành thực phẩm; 1HTX khuy trai xuất khẩu với
Trang 2636 xã viên Ngoài ra còn có 10 tổ sản xuất TCN chuyên nghiệp với 570 xã viên kinhdoanh các ngành rèn, gạch ngói, may mặc, thực phẩm, thực phẩm; 668 cơ sở HTX nông nghiệp có sản xuấ thủ công nghiệp kinh doanh các nhành rèn, gạch ngói, cát xỏi, gốm, chế biến thực phẩm [14, tr.195]
Trog thời kỳ hợp nhất tỉnh 1968 – 1996, tình hình có nhiều khó khăn nhưng tỉnh cũng đã có chủ trương nhằm thích ứng với tình hình, giữ vững và đẩy mạnh hoạt động sản xuất Những năm 1968 – 1975: Được trung ương và tỉnh đầu tư vốn,
Ty công nghiệp đã xây dựng them 26 xí nghiệp gồm 8 cơ khí huyện, 10 cơ sở nước chấm, 2 xí nghiệp sứ, 2 mỏ than, 1 mỏ cao lanh, 1 xưởng đường, 1 nhà máy rượu và
1 phòng điện lực; đồng thời mở rộng một số xí nghiệp cũ như 2 nhà máy cơ khí Vĩnh Yên và Phú Thọ, các xưởng ép dầu, xẻ gỗ…
Tháng 12 – 1973, các HTX lần lượt tiến hành đại hội bầu ban quản trị, ban kiểm soát và đại biểu đi dự đại hội cấp trên Tháng 5 – 1973, ngành thủ công nghiệp Vĩnh Phú mở đại hội lần thứ nhất Sau đại hội, một không khí thi đua sôi nổi dấy lên trong toàn ngành Tổng kết năm 1973, Liên hiệp xã trung ương trao cờ khá nhất toàn miền Bắc cho ngành thủ công nghiệp Vĩnh Phú và thủ tướng chính phủ tặng bằng khen [14, tr.198]
Thời điểm năm 1982, trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phú có 57 xí nghiệp địa phương
do 11 sở và 6 huyện quản lý Phần sở Công nghiệp quản lý 16 xí nghiệp trong đó có
cơ khí Vĩnh Phúc, mộc Vĩnh Yên, nước chấm Ngoại Trạch… Các xí nghiệp trong giai đoạn này từng bước được sắp xếp lại, xác định rõ nhiệm vụ và phương hướng sản xuất Hình thức khoán gọn cho từng xí nghiệp với các đòn bẩy kinh tế thích hợp khuyến khích người lao động Nhờ vậy nhiều xí nghiệp đã ổn định được sản xuất [14, tr.198]
Từ năm 1976 đến năm 1980, giá trị tổng sản lượng toàn ngành tăng bình quân 5,6% mỗi năm; từ năm 1981 đến 1983 tốc độ tăng lên 6,9% năm Số mặt hàng làm ra đến năm 1985 đã lên tới con số 400, trong đó có 50 mặt hàng mới ra đời như màng mỏng PE, vải giả da, can nhựa, nilon…[14, tr.199]
Trong giai đoạn 1986 – 1996 toàn tỉnh thực hiện công cuộc đổi mới chuyển
Trang 27sang hoạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa Trong đó năm 1993, khối doanh nghiệp công nghiệp trực thuộc Sở công nghiệp có đà phát triển Với 21 doanh nghiệp có 15 đơn vị sản xuất có lãi, 4 đơn vị hòa, chỉ có 2 đơn vị lỗ vốn Gía trị tổng sản lượng toàn khối đạt 20 tye 860 triệu đồng, tăng hơn năm 1992 là 25,1% Nộp ngân sách 3 tỷ 822 triệu đồng, tăng 69,7% so với năm 1992 Thu nhập bình quân toàn ngành là 190.000 đồng/người/năm [14, tr.200]
Đến năm 1995, trong số 29 HTX thủ công còn lại chỉ có 17 HTX hoạt động tốt, 9 HTX ngừng một phần hoặc thôi sản xuất Trái lại, các thành phần kinh tế tư nhân phát triển mạnh, đặc biệt là thủ công cá thể và thủ công trong nông nghiệp Toàn tỉnh có 47 doanh nghiệp tư nhân, trong đó có 7 công ty trách nhiệm hữu hạn
và chi nhánh được phép hoạt động với vốn đầu tư 31 tỷ đồng Kinh tế cá thể với 18.000 cơ sở và 36.650 lao động phát triển ở khắp thị xã, thị trấn, thị tứ và các vùng nông thôn, chiếm tới 87% giá trị sản xuất ngoài quốc doanh, làm ra mấy trăm loại hàng hóa phục vụ nhu cầu tiêu dùng xã hội [14, tr.201]
1.1.2 Về hạn chế
Trong thời kỳ hợp nhất tỉnh 1968 – 1996, tình hình có nhiều biến động , nhất
là những khó khăn do chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ gây ra Công nghiệp Vĩnh Phúc đã gặp rất nhiều trở ngại Tháng 9 – 1972 đế quốc Mỹ ném bom miền Bắc làm cho các HTX thủ công đình đốn, phải đến tháng 1 – 1973 khi chấm dứt chiến tranh phá hoại mới trở lại phục hồi sản xuất bình thường
Từ năm 1975 đến năm 1985, chiến tranh biên giới và mùa màng thất bát triền miên đã gây ra nhiều khó khăn cho đời sống của công nhân và thợ thủ công, về cung cấp vật tư và nguyên liệu cho sản xuất Tình hình ấy kéo dài đã hạn chế sự phát triển của toàn ngành
Trong 10 năm thực hiện công cuộc đổi mới (1986 – 1996), toàn ngành công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp mất sáu bảy năm chao đảo trong quá trình bao cấp, chuyển sang hoạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa Quá trình tháo gỡ chuyển đổi
cơ chế bao cấp sang cơ chế thị trường còn gặp nhiều khó khăn và trải qua nhiều bước Riêng về cơ chế quản lý đã phải trải qua 3 quyết định của Chính Phủ
Trang 28- Quyết định 25/CP năm 1981 cho phép cơ sở được quyền chủ động sản xuất kinh doanh Nghĩa là cơ sở được lập kế hoạch để đưa lên trên xét quyết định mà không rót kế hoạch từ trên xuống nữa Như vậy đã bớt “quan liêu” nhưng “bao cấp” vẫn phong tỏa đầu vào lẫn đầu ra
- Quyết định 76/HĐBT năm 1985 cho cơ sở được tự chủ sản xuất kinh doanh Nghĩa là xí nghiệp cơ sở được độc lập làm kế hoạch và thực hiện kế hoạch trong khuôn khổ của kế hoạch nhà nước Vật tư nguyên liệu do nhà nước cấp và sản phẩm nộp nhà nước theo giá cả quy định thống nhất Sự cởi mở là ở chỗ xí nghiệp được tự do lo chạy vật tư nguyên liệu nếu nhà nước cấp chưa đủ, chứ không bắt phải nằm chờ như trước Quyết định này đã mở rộng cửa cho đầu vào, còn đầu ra vẫn bị kiềm chế bởi áp đặt giá, khiến có sản phẩm giá thành cao hơn giá bán, gây ách tắc cho sản xuất[34,tr.246]
- Quyết định 217/HĐBT ngày 14 – 11 – 1987 cho phép các xí nghiệp được toàn quyền vận dụng các phương pháp tiến hành sản xuất kinh doanh, kể cả hình thức tiền lương thưởng chủ động và linh hoạt
Bên cạnh những đơn vị sản xuất tốt được trong giai đoạn chuyển đổi này thì vẫn còn tồn tại nhiều đơn vị chưa thực hiện được bởi:
Máy móc dùng đã lâu năm cũ kỹ trang thiết bị suy giảm, công nghệ lạc hậu, chất lượng sản phẩm kém, hư hỏng nhiều
Vốn thiếu, nhà nước không cấp bổ sung Kế hoạch vay ngân hàng bị cắt giảm (vì bản thân ngân hàng cũng thiếu vốn) Quyền tự chủ về tài chính của xí nghiệp chưa đầy đủ điều kiện để huy động vốn ngoài xã hội Trong khi đó lãi suất ngân hàng tăng lên trở thành gánh nặng trong chi phí sản xuất Tính ra lợi nhuận của xí nghiệp nhỏ hơn nhiều so với lãi suất ngân hàng
Trong những năm này lạm phát liên tục làm cho đồng tiền trượt giá nhanh, sản phẩm vừa bán đi đã không mua nổi nguyên vật liệu để tái sản xuất ra cái mới cùng loại Lương bình quân của công nhân được nâng lên 9 lần nhưng giá hàng hóa thị trường tăng lên tới 13 lần đặc biệt lương thực tăng gắt gao hơn
Đồng chí Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh đã phát biểu trong Đại hooik công
Trang 29đoàn Việt Nam lần thứ 4 (1988) rằng: “Nếu tính đúng tính đủ đầu vào của sản xuất thì chắc chắn rằng rất nhiều đơn vị đứng bên bờ vực thẳm” [33, tr.250]
Trong giai đoạn 1989 trở đi hàng ngoại nhập lan tràn nhiều vào thị trường nước ta, nhất là của Trung Quốc Sau khi bình thường hóa quan hệ giữa hai nước, thì hàng hóa Trung Quốc tràn sang bằng mọi con đường thủy bộ, đại ngạch và tiểu ngạch, trong đó không ít hàng lậu thuế Hàng của họ phần nhiều đẹp và rẻ hơn hàng của ta nên đã giành được thị hiếu của người mua Do đó cuối quý I năm 1989 sản phẩm tồn kho trị giá 2,5 tỷ đồng, cuối quý II vẫn còn tồn kho tới 1,8 tỷ đồng
Vốn để hoạt động thiếu nghiêm trọng, vốn tự có của 20 xí nghiệp thuộc Sở chỉ còn có 527,6 triệu đồng bằng 16,2% nhu cầu.Tính đến quý I đã vay 1,8 tỷ, đến quý II số tiền vay lên tới 2,1 tỷ Qua 6 tháng đầu năm toàn ngành đã phải trả lãi 702 triệu đồng, riêng Xí nghiệp phân lân Thanh Ba phải trả 92 triệu đồng Năm 1990, có những doanh nghiệp phải vay lãi ngân hàng rất nặng, có xí nghiệp trả lãi ngân hàng
số lãi so với quĩ lương gấp rưỡi, gấp đôi, như: Xí nghiệp phâm lân Thanh Ba lãi gân hàng so với quĩ lương băng 211,7%
Từ các khó khăn đó mà dẫn đến nhiều xí nghiệp phải cho công nhân nghỉ việc như: Nhà máy cơ khí Vĩnh Phúc có 195 công nhân, cho nghỉ 90 người, xí nghiệp chế biến nông sản thực phẩm Việt trì có 223 công nhân cho nghỉ tới 173 người… Do sản xuất kém hiệu quả nên lương của cán bộ, công nhân ở một số đơn
vị phải trả lương bằng sản phẩm tồn kho khó tiêu thụ Một số khác còn khất lương nhiều tháng Trong giai doạn này đã có 13 đơn vị thuộc Sở quản lý phải thu hẹp sản xuất, 16 xí nghiệp quốc doanh bị chao đảo, 65 HTX gặp khó khăn chưa có cách tháo gỡ Tất cả những chao đảo khó khăn nền kinh tế công nghiệp tỉnh ta là bởi áp lực của hàng loạt chính sách mới
Nhìn chung, đời sống sản xuất của toàn ngành công nghiệp trong giai đoạn này còn gặp nhiều khó khăn cần thiết phải khắc phục thì mới phát triển như: manh mún, ít vốn, máy móc thiết bị công nghệ cũ và lạc hậu, nhiều co sở làm ăn thua lỗ kéo dài chưa được xử lý
Tiểu kết chương 1
Trang 30Tỉnh Vĩnh Phúc là tỉnh có lịch sử lâu đời, có truyền thống lịch sử hào hùng
và vị trí địa lý thuận lợi Trải qua bao nhiêu thăng trầm của lịch sử, nhân dân trong tỉnh luôn có lòng tin sắc son vào sự lãnh đạo của Đảng và nhà nước ta, phấn đấu xây dựng quê hương ngày một giàu mạnh và phồn vinh hơn Truyền thống lịch sử
ấy không chỉ thể hiện trong tinh thần đấu tranh chống giặc ngoại xâm mà còn thể hiện trong thời kỳ xây dựng đất nước, đổi mới đất nước Tỉnh Vĩnh Phúc là vùng đất có những điều kiện thuận lợi, giàu tiềm năng phát triển một nền kinh tế bền vững – xã hội ổn định, đặc biệt là phát triển kinh tế công nghiệp Sau đại hội Đảng
VI đã đánh dấu một bước ngoặt trong sự nghiệp xây dựng xã hội chủ nghĩa ở nước
ta nói chung và tỉnh Vĩnh Phúc nói riêng, tạo ra bước đột phá lớn và toàn diện, là cơ
sở đưa luồng sinh khí mới để phát triển nền kinh tế công nghiệp của tỉnh
Song công nghiệp của tỉnh trước 1997 khi chưa tái lập tỉnh còn có nhiều hạn chế: quy mô công nghiệp còn nhỏ bé, manh mún, vốn ít, máy, máy móc thiết bị công nghiệp cũ và lạc hậu, thiếu thợ lành nghề và thợ quản lý giỏi, nhiều cơ sở làm
ăn thua lỗ kéo dài chưa có biện pháp xử lý
Trang 31Chương 2 ĐẢNG BỘ TỈNH VĨNH PHÚC LÃNH ĐẠO KINH TẾ
CÔNG NGHIỆP NHỮNG NĂM 1997 – 2013
2.1 CHỦ TRƯƠNG PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH VĨNH PHÚC TRONG NHỮNG NĂM 1997 - 2013
2.1.1 Kế hoạch phát triển công nghiệp từ năm 1997 – 2013
Vĩnh Phúc, khi tái lập tỉnh còn là một tỉnh nghèo, xuất phát điểm của nền kinh tế còn thấp, sản xuất nông nghiệp là chủ yếu, công nghiệp vẫn nhỏ bé, cơ sở vật chất, kỹ thuật còn yếu kém Nhận thức được những khó khăn của tỉnh, Đảng bộ, UBND, HĐND đã đề ra nhiều chủ trương, chính sách để phát triển kinh tế công nghiệp
Thực hiện điều lệ Đảng và hướng dẫn số 06, ngày 23/7/1997 của Ban Tổ chức trung ương về việc tổ chức Đại hội Đảng bộ ở một số tỉnh, thành phố mới chia tách, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lần thứ XII được tiến hành từ ngày 5 – 7/11/1997 tại thị xã Vĩnh Yên
Đại hội đề ra phương hướngchung phát triển kinh tế, xã hội những năm 1997-2000 là: “Đẩy nhanh nhịp độ phát triển kinh tế chủ yếu là nông nghiệp, tạo tiền đề cho sự phát triển ổn định, vững chắc sau năm 2000, thu hẹp khoảng cách so với bình quân chung của cả nước Chuyển nền kinh tế theo hướng cơ cấu công nghiệp - nông nghiệp và dịch vụ… Kết hợp tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, xã hội, giải quyết tốt hơn về việc làm, nâng cao đời sống nhân dân” [12, tr.565] Đại hội nhất trí đề ra chỉ tiêu chủ yếu phấn đấu trong bốn năm 1997 - 2000 là:
- Nhịp độ tăng GDP bình quân 18-20%/năm
- Giá trị sản xuất công nghiệp, xây dựng tăng bình quân trên 50%/năm
- Giá trị sản xuất nông-lâm nghiệp tăng bình quân 4,5-5%/năm
- Giá trị sản xuất ngành dịch vụ tăng bình quân 17-18%/năm
Trang 32- Tổng sản lượng lương thực quy thóc bình quân 35 vạn tấn/năm, đến năm
2000 đạt 37-38 vạn tấn
- Tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 16 triệu USD vào năm 2000, trong đó, xuất khẩu địa phương đạt 7 triệu USD, xuất khẩu của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 9 triệu USD
- Thu nhập bình quân đầu người đạt từ 280-300USD vào năm 2000 Cơ bản xóa được hộ đói, giảm hộ nghèo xuống dưới 10%
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp và xây dựng, giảm tỷ trọng nông-lâm nghiệp Cụ thể, giảm tỷ trọng nông-lâm nghiệp trong GDP từ 48,27% năm 1996 xuống còn 25% năm 2000; tăng tỷ trọng công nghiệp và xây dựng từ 13,98% năm 1996 lên 44% năm 2000; giảm tỷ trọng dịch vụ từ 37,75% năm 1996 xuống còn 31% năm 2000
Thực hiện chủ trương của Trung ương Đảng về việc tiến hành Đại hội Đảng các cấp, từ ngày 12 đến ngày 15-3-2001, Đại hội đại biểu lần thứ XIII Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc được tổ chức trọng thể tại thị xã Vĩnh Yên Nêu cụ thể trong 5 năm 2001-2005: GDP tăng bình quân trên 10%/năm; thu nhập bình quân đầu người đạt 350USD/năm; giá trị sản xuất công nghiệp và xây dựng tăng bình quân hàng năm 16%; giá trị sản xuất nông – lâm nghiệp và thủy sản tăng bình quân hàng năm 4,5 – 5%; giá trị các nghành dịch vụ tăng bình quân 9%/năm;
Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Trung ương Đảng và kế hoạch của Ban Thường
vụ Tỉnh ủy, từ ngày 6 đến ngày 8-12-2005, tại thị xã Vĩnh Yên, Đại hội Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lần thứ XIV được tiến hành trọng thể Đại hội nêu bật những thành tựu đạt được trong 5 năm 2001-2005; kinh tế tăng trưởng cao, đứng đầu cả nước với mức tăng bình quân 15,6%/năm Cơ cấu kinh tế chuyển dịch mạnh theo chiều hướng tích cực, trong đó có công nghiệp – xây dựng 52,2%, giá trị sản xuất công nghiệp vươn lên vị trí thứ bảy cả nước; dịch vụ 26,6%; nông nghiệp 21,2%
Sau gần 10 năm tiến hành sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và gần 9 năm tái lập tỉnh, thực hiện Nghị quyết Đại hội VIII, IX của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XII, XIII, Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lãnh đạo các cấp,
Trang 33ngành, các địa phương nắm bắt thời cơ, vượt qua thách thức, phát huy thế mạnh của mình và khai thác mọi nguồn lực để tập trung phát triển kinh tế, văn hóa – xã hội Nhờ sự lãnh đạo sát sao, năng động của cấp ủy Đảng, chính quyền và sự lỗ lực của các tầng lớp nhân dân trong tỉnh, từ một tỉnh nghèo, kinh tế thuần nông, Vĩnh Phúc vươn lên trở thành một trong những tỉnh có tốc độ tăng trưởng trung bình hàng năm trên 15%, trong đó, giá trị sản xuất công nghiệp và xây dựng tăng bình quân 75,5% những năm (1997-2005) và 23% những năm (2001-2005) Riêng giá trị sản xuất công nghiệp tăng bình quân 23,6%/năm và trở thành tỉnh có giá trị sản xuất công nghiệp đứng thứ bảy cả nước, thứ ba miền Bắc Trên địa bàn tỉnh đã hình thành một
số ngành công nghiệp mũi nhọn như: cơ khí, lắp ráp ô tô, xe máy, vật liệu xây dựng… Hiện nay, Vĩnh Phúc trở thành điểm sáng ở miền Bắc trong việc thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước để phát triển công nghiệp Xây dựng cơ bản được tăng cường đầu tư, trên địa bàn tỉnh hình thành các đô thị mới cao cấp và hiện đại
Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực: công nghiệp và xây dựng 52,2% nông nghiệp 21,2% dịch vụ 26,6%
2.1.2 Đề án phát triển công nghiệp đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030
– Phát triển toàn diện công nghiệp, lấy phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững (bao gồm hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường; đồng thời đảm bảo hiệu quả trước mắt và hiệu quả lâu dài) làm cơ sở để hướng tới việc nâng cao đời sống của cộng đồng nhân dân
– Phát triển công nghiệp nói riêng và kinh tế - xã hội tỉnh Vĩnh Phúc nói chung phải đặt trong quan hệ tổng thể phát triển kinh tế - xã hội cả nước, vùng Bắc Bộ và vùng Thủ đô Hà Nội
– Phát triển kinh tế công nghiệp tỉnh Vĩnh Phúc với bước đi hợp lý theo hướng đẩy mạnh công nghiệp hóa vào giai đoạn đến năm 2020, đồng thời từng bước phát triển khu vực dịch vụ để hướng tới một nền kinh tế có cơ cấu hiệu quả và bền vững vào những năm 2020 Công nghiệp hóa gắn liền với đô thị hóa một cách
có kiểm soát, trật tự và bền vững
– Đẩy mạnh phát triển công nghiệp theo hướng mở cửa và hội nhập quốc tế trên
Trang 34cơ sở chú trọng khai thác thị trường trong nước nâng cao nội lực, sức cạnh tranh của nền kinh tế trên thị trường quốc tế cũng như ngay chính trên thị trường trong nước
– Phát triển kinh tế công nghiệp gắn liền với phát triển xã hội, xây dựng một
xã hội dân chủ, văn minh Chú ý phát triển kinh tế ở khu vực nông thôn, khu vực kém phát triển, giảm tối đa chênh lệch mức sống giữa các khu vực dân cư, đảm bảo mọi người dân được tiếp cận thuận tiện với các dịch vụ xã hội
– Kết hợp phát triển kinh tế công nghiệp nói riêng và phát triển kinh tế nói chung với củng cố quốc phòng, bảo vệ chính trị, giữ gìn trật tự, an ninh xã hội
– Phát triển kinh tế công nghiệp gắn với bảo vệ môi trường và phát triển bền vững không những đối với phạm vi lãnh thổ tỉnh mà còn cả khu vực các tỉnh, thành phố có liên quan, hướng tới hình thành một thành phố xanh, sạch về môi trường vào cuối những năm2020, đầu những năm 2030
Tầm nhìn 2030 đưa ra một số tiêu chí và các chi tiêu dự báo theo các tiêu chí
đó là cơ sở quan trọng cho việc xác định các định hướng lớn về phát triển kinh tế công nghiệp tỉnh Vĩnh Phúc trong thời kỳ quy hoạch (đến năm 2020)
Tầm nhìn công nghiệp Vĩnh Phúc đến năm 2030 được xác định dựa trên tư tưởng chỉ đạo của Nghị Quyết đại hội tỉnh Đảng bộ Vĩnh Phúc lần thứ 14, Nghị quyết của Hội đồng Nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc tại kỳ họp thứ VI, khóa 14 và căn cứ vào những đánh giá khái quát nhất về bối cảnh phát triển chung (trong nước và quốc tế) và các tác động cơ bản tới sự phát triển kinh tế - xã hội Vĩnh Phúc cũng như khả năng phát triển kinh tế công nghiệp Vĩnh Phúc trong triển vọng dài hạn đến năm
2030
Ngày 14 tháng 4 năm 2006, tại kỳ họp thứ VI, khóa XIV, Hội đồng Nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc đã có Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐND về “Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2006-2010” trong đó xác định mục tiêu tổng quát phát triển kinh tế công nghiệp tỉnh như sau:
Duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế cao theo hướng ổn định, bền vững; khai thác
có hiệu quả nguồn lực đầu tư cho phát triển Nâng cao chất lượng tăng trưởng trên cơ
sở đặc biệt quan tâm đến phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn; lấy phát triển
Trang 35công nghiệp làm nền tảng Phấn đấu có đủ yếu tố cơ bản của tỉnh công nghiệp vào năm 2015; trở thành thành phố Vĩnh Phúc vào những năm 20 của thế kỷ XXI
Mục tiêu phấn đấu có đủ yếu tố cơ bản của tỉnh công nghiệp vào năm 2015; trở thành thành phố Vĩnh Phúc vào những năm 20 của thế kỷ XXI có thể coi là định hướng cơ bản cho việc nghiên cứu xây dựng các phương án phát triển kinh tế - xã hội và các giải pháp đảm bảo thực hiện, trong đó có phát triển công nghiệp và khu công nghiệp
Mục tiêu tổng quát đặt ra trong phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Vĩnh Phúc cho giai đoạn đến 2020 là xây dựng tỉnh Vĩnh Phúc trở thành một thành phố công nghiệp, dịch vụ, văn minh, hiện đại, môi trường sạch, mức sống dân cư cao, là một trong những trung tâm công nghiệp, dịch vụ, du lịch của khu vực và của cả nước; nâng cao rõ rệt mức sống nhân dân; bảo đảm vững chắc về quốc phòng, an ninh
Xây dựng cơ sở vật chất, đặt nền móng hướng tới trở thành trung tâm kinh tế
có tầm ảnh hưởng lớn tới khu vực Bắc - Tây bắc Bắc Bộ với sự phát triển mạnh của khu vực dịch vụ trong một cơ cấu kinh tế dịch vụ - công nghiệp – nông nghiệp vào những năm cuối Thập kỷ 20, đầu thập kỷ 30
2.2 CÁC GIẢI PHÁP KHAI THÁC TIỀM NĂNG ĐỂ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP
2.2.1 Giải pháp về vốn và nguồn vốn thực hiện mục tiêu quy hoạch công nghiệp, tạo điều kiện phát triển các ngành công nghiệp mũi nhọn
Nguồn vốn đầu tư chủ yếu để thực hiện mục tiêu quy hoạch là nguồn vốn huy động từ các nguồn đầu tư trong và ngoài nước với mọi thành phần kinh tế Vốn của Nhà nước cần tập trung đầu tư chủ yếu vào xây dựng kết cấu hạ tầng, đặc biệt là kết cấu hạ tầng trong nông nghiệp và nông thôn, đảm bảo vốn cho các công trình trọng điểm quốc gia và các mục tiêu lớn của tỉnh, ưu tiên cho việc phát triển nguồn nhân lực và đầu tư nghiên cứu đổi mới khoa học công nghệ Vốn tích lũy của các doanh nghiệp và vốn vay nên tập trung cho đầu tư mở rộng sản xuất, đổi mới công nghệ, một phần dùng xây dựng hạ tầng cơ sở Vốn đầu tư trong nước và nước ngoài
ưu tiên cho các ngành công nghiệp mũi nhọn của tỉnh
Trang 36 Huy động vốn đầu tư nước ngoài
Thu hút vốn đầu tư nước ngoài là một cách thức quan trọng để phát triển ngành công nghiệp Việt Nam nói chung và ngành công nghiệp của tỉnh nói riêng trong bối cảnh nguồn vốn của chúng ta còn eo hẹp Vốn đầu tư nước ngoài có thể huy động nguồn vốn viện trợ phát triểm chính thức ODA, nguồn vốn của các tổ chức phi chính phủ (NGO) hoặc qua đầu tư trực tiếp hoặc gián tiếp của nước ngoài
Về vốn ODA cần tiếp tục tranh thủ nguồn tài trợ của các Chính phủ và các tổ chức tài chính quốc tế, các tổ chức phi Chính phủ, đẩy nhanh tốc độ giải ngân, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, gắn chặt việc sử dụng vốn vay với trách nhiệm trả nợ Tuy nhiên do đặc thù của nguồn vốn ODA với lãi suất vay thấp, thời hạn trả nợ kéo dài, thường kèm theo các điều kiện của nước cho vay và thủ tục vay vốn phức tạp nên cần cân nhắc về lĩnh vực đầu tư và hiệu quả của dự án Mặt khác cần chuẩn bị
đủ vốn đối ứng, theo dõi kiểm tra đôn đốc việc thực hiện để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
Về vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài: Ông Phùng Quang Hùng, Chủ tịch UBND tỉnh Vĩnh Phúc khẳng định, Vĩnh Phúc luôn coi trọng công tác cải thiện môi trường đầu tư, trong đó có thu hút FDI Với phương châm: “Tất cả các nhà đầu tư vào Vĩnh Phúc đều là công dân Vĩnh Phúc Thành công của doanh nghiệp chính là thành công và niềm tự hào của tỉnh” Đây là nguồn vốn quan trọng đối với các nước đang phát triển Các nhà đầu tư nước ngoài không chỉ cung cấp vốn mà cả công nghệ, thị trường, kỹ năng quản lý, bán hàng để đảm bảo lợi nhuận thu được
từ đầu tư Do đó, nguồn vốn này có thể đẩy nhanh năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng của sản phẩm Đặc biệt đối với các lĩnh vực công nghệ cao, sản phẩm mới, sản phẩm có giá trị cao phục vụ xuất khẩu… Tính đến hết năm 2013, toàn tỉnh Vĩnh Phúc có 137 dự án FDI với tổng vốn đầu tư là 2.767,6 triệu USD, trong đó 70% số vốn tiếp tục được đầu tư vào lĩnh vực công nghiệp [33,tr85]
Trang 37Đối với các dự án FDI, đầu tư vào sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ, ngoài ưu đãi theo quy định chung của Nhà nước Việt Nam, khi đầu tư vào Vĩnh Phúc, các nhà đầu tư sẽ được hưởng các ưu đãi của tỉnh cụ thể như: Hỗ trợ chi phí
tư vấn lập hồ sơ dự án đầu tư từ 20 đến 200 triệu đồng đối với các dự án có tổng mức đầu tư từ 200.000 USD 5.000.000 USD; hỗ trợ 2.000.000 đồng cho việc bố cáo thành lập doanh nghiệp; 5.000.000 đồng cho phí báo cáo đánh giá tác động môi trường; giải quyết các thủ tục hành chính nhanh chóng tại bộ phận “một cửa” thuộc Ban xúc tiến và hỗ trợ đầu tư tỉnh (IPA), khi cấp giấy chứng nhận đầu tư và thành lập doanh nghiệp với thời gian thực hiện được rút ngắn chỉ còn một nửa so với quy định Bên cạnh đó, các doanh nghiệp sẽ được hỗ trợ kinh phí đào tạo nghề và ưu tiên tuyển dụng lao động theo yêu cầu của dự án; hỗ trợ kinh phí lập hồ sơ dự án xin cấp giấy chứng nhận đầu tư cho các dự án
Theo đồng chí Phạm Hồng Hải, Phó Trưởng Ban thường trực Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Vĩnh Phúc, vài năm gần đây, Vĩnh Phúc tiếp tục có lực hút lớn so với các tỉnh lân cận về dòng vốn FDI Năm 2013, số dự án tăng cao so với năm 2012 và vượt kế hoạch đặt ra với tổng số 42 dự án Trong đó có 21 dự án FDI với tổng vốn đăng ký là 314,8 triệu USD, tăng 3,5 lần về số dự án và 206% về số vốn đăng ký Không chỉ vốn FDI đăng ký gia tăng, năm 2013 đã có thêm 14 dự án FDI đi vào sản xuất, kinh doanh, đưa tổng số dự án FDI đầu tư vào Vĩnh Phúc lên 112 dự án Ðây
là một nhân tố tích cực khiến hoạt động sản xuất tiếp tục được mở rộng, góp phần đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế của tỉnh trong năm 2013
Về vốn đầu tư gián tiếp của nước ngoài: Cần thu hút cả nguồn vốn đầu tư gián tiếp của nước ngoài thông qua việc mua chứng khoán, mua cổ phần của các doanh nghiệp trong nước, kể cả các doanh nghiệp nhà nước thực hiện cổ phần hoá; xây dựng các doanh nghiệp liên doanh, các công ty cổ phần có vốn FDI và cho phép các doanh nghiệp có vốn FDI được phát hành trái phiếu để huy động vốn trong khuôn khổ các quy định về chính sách và pháp luật được nhà nước ban hành
Để thu hút các nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài, cần xây dựng chiến lược vận động xúc tiến đầu tư trên cơ sở chuẩn bị tốt danh mục các dự án kêu gọi đầu tư của
Trang 38các địa phương kèm theo các hướng dẫn cụ thể về thủ tục đầu tư, địa điểm, hạ tầng
cơ sở, khả năng cung ứng các tiện ích công cộng đầu vào, mặt bằng giá cả tại địa bàn, các ưu đãi, các chính sách khuyến khích đầu tư hấp dẫn Để vận động, thuyết phục các nhà đầu tư Bên cạnh đó cũng cần có sự minh bạch, ổn định, nhất quán trong chính sách, phù hợp với các thoả thuận, cam kết quốc tế và đội ngũ cán bộ thực thi chuyên trách, kịp thời giải quyết các khó khăn vướng mắc của nhà đầu tư tạo niềm tin cho nhà đầu tư
Huy động các nguồn vốn đầu tư trong nước
Đầu tư trong nước vào ngành công nghiệp của tỉnh tuy tăng nhanh trong thời gian gần đây nhưng vẫn còn hạn chế về quy mô và trình độ công nghệ, một mặt do khả năng vốn không lớn, một mặt do các thủ tục, chính sách còn bất cập nên các nhà đầu tư trong nước gặp nhiều khó khăn phức tạp khi tiếp cận với vốn vay Ngân hàng; nhiều cơ sở công nghiệp ngoài quốc doanh vẫn phải huy động vốn phi chính thức, lãi suất cao, nhiều rủi ro để hoat động Cần sớm hình thành quỹ bảo lãnh tín dụng, quỹ hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ quỹ phi lợi nhuận của các tổ chức quốc
tế, quỹ đóng góp của các hiệp hội giúp các cơ sở đầu tư phát triển
Cần có chính sách khuyến khích các doanh nghiệp sử dụng lợi nhuận sau thuế tái đầu tư, huy động vốn từ cán bộ công nhân viên trong đơn vị, phát hành cổ phiếu, trái phiếu, huy động vốn thông qua thị trường chứng khoán; tiến hành cổ phần hoá toàn bộ hoặc một phần các doanh nghiệp Nhà nước nhằm huy động vốn trong dân Khuyến khích mọi thành phần kinh tế trong và ngoài tỉnh bỏ vốn đầu tư dưới hình thức liên doanh liên kết, đóng góp cổ phần hoặc đầu tư trực tiếp, đầu tư gián tiếp
2.2.2 Giải pháp về thị trường và tính cạnh tranh cho các các sản phẩm công nghiệp chủ yếu của tỉnh
Hiện nay, nước ta phát triển kinh tế theo hướng kinh tế thị trường thì việc đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng để phát triển sản xuất cần phải đi đôi với việc đầu tư
cơ sở hạ tầng phục vụ lưu thông hàng hoá, điều này rất quan trọng và cần thiết Để
Trang 39thực hiện chiến lược thị trường cho các sản phẩm công nghiệp của tỉnh, trong thời gian tới tỉnh cần chú ý các giải pháp sau:
- Phát triển thị trường trong tỉnh gắn với thị trường ngoài tỉnh, đồng thời đẩy mạnh việc xúc tiến thị trường nước ngoài để tăng thị phần xuất khẩu các sản phẩm sản xuất tại Vĩnh Phúc Đối với các sản phẩm đã có thị trường thì cần giữ vững và
mở rộng thêm thị trường mới, đối với sản phẩm chưa có thị trường cần tích cực tìm kiếm và phối hợp nhiều hình thức như quảng cáo, tham gia hội chợ, giới thiệu trên trang Web
- Có chính sách hỗ trợ thị trường nông thôn, thị trường này còn chưa được khai thác nhiều do sức mua còn hạn chế
- Nâng cao khả năng tiếp thị của các doanh nghiệp công nghiệp đóng trên địa bàn tỉnh
- Để làm tốt công tác tiếp thị, tìm kiếm thị trường tỉnh cần thành lập trung tâm hỗ trợ và xúc tiến thương mại cho các doanh nghiệp, thay vì để các doanh nghiệp của tỉnh phải tự tìm kiếm bạn hàng
- Tăng cường việc tham gia các hội chợ chuyên ngành được tổ chức trong nước cũng như ở nước ngoài để tìm kiếm thị trường mới cũng như nắm bắt kịp thời
xu thế tiêu dùng đối với các loại sản phẩm chủ yếu và có thế mạnh của tỉnh
- Hình thành và phát triển kết cấu hạ tầng thương mại nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động trao đổi, mua bán hàng hoá bao gồm: chợ, trung tâm thương mại (bán buôn, bán lẻ hàng hoá), siêu thị và mạng lưới các cửa hàng phù hợp và đáp ứng được yêu cầu phát triển sản xuất, liên kết ngang theo hình thức hiệp hội hoặc câu lạc bộ Đồng thời đổi mới tổ chức và hoạt động của các hợp tác xã thương mại – dịch vụ theo hướng hình thành HTX cổ phần để thực hiện các dịch vụ hai đầu cho kinh tế hộ thông qua phương thức đại lý mua bán và hợp đồng hai chiều giữa một bên là nông dân và một bên là doanh nghiệp, nâng cao vai trò trung gian của lực lượng thương lái trong mối liên kết giữa nông dân và doanh nghiệp [44, tr.178]
- Hỗ trợ các doanh nghiệp xây dựng thương hiệu, đăng ký bảo hộ độc quyền thương hiệu, kiểu dáng công nghiệp