Lúc ấy, nếu muốn bắt đầu với nghề khác thì phải chịu tốn kém, mất thời gian học nghề mới… Đối với xã hội, việc có nhiều cá nhân lựa chọn sai nghề sẽ gây lãng phí cho công tác đào tạo và
Trang 1ĐỊA BÀN TPCT
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Ngành: Kinh tế ngoại thương
Mã số ngành:KT0924A2
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN PGS.TS VÕ THÀNH DANH
Tháng 05/2014
Trang 2i
LỜI CẢM TẠ
Lời đầu tiên, em xin chân thành cảm ơn các thầy cô đang công tác tại
Sở Giáo dục vào Đào tạo thành phố Cần Thơ đã cung cấp cho em những số liệu quan trọng liên quan đến đề tài
Em cũng đặc biệt cảm ơn Ban giám hiệu, thầy (cô) giáo, cán bộ Đoàn
và các em học sinh tại các trường THPT Châu Văn Liêm, Phan Ngọc Hiển, Bùi Hữu Nghĩa và Lý Tự Trọng đã nhiệt tình hỗ trợ em trong việc thu thập số liệu
Cuối cùng, em xin bày tỏ lòng biết ơn đối với thầy Võ Thành Danh Nhờ sự hướng dẫn và giúp đỡ của thầy, em đã có thể hoàn thành luận văn tốt nghiệp của mình một cách thuận lợi
Trong quá trình thực hiện, mặc dù có nhiều cố gắng, song em khó tránh khỏi thiếu sót, mong thầy chỉ dẫn, góp thêm ý kiến để em có thêm kiến thức và kinh nghiệm
Em xin kính chúc thầy luôn được nhiều sức khoẻ, thành công trong công việc và cuộc sống
Trân trọng kính chào!
Cần Thơ, ngày … tháng … năm …
Sinh viên thực hiện
Tài Huỳnh Bửu Quyên
Trang 3Cần Thơ, ngày … tháng … năm …
Sinh viên thực hiện
Tài Huỳnh Bửu Quyên
Trang 4iii
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
Cần Thơ, ngày … tháng … năm …
Trang 5iv
MỤC LỤC
Chương 1: GIỚI THIỆU
1.1 Lý do chọn đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.2.1 Mục tiêu chung 3
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3
1.3 Phạm vi nghiên cứu 3
1.3.1 Không gian nghiên cứu 3
1.3.2 Nội dung nghiên cứu 3
1.3.3 Nội dung nghiên cứu 3
1.3.4 Đối tượng nghiên cứu 3
Chương 2: PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 5
2.1 Các khái niêm 5
2.1.1 Lựa chọn 5
2.1.2 Hướng nghiệp 5
2.1.3 Tư vấn hướng nghiệp 5
2.1.4 Khái niệm nghề 6
2.2 Quá trình ra quyết định và quy trình chuyển biến tâm lý của người ra quyết định 6
2.2.1 Quá trình ra quyết định 7
2.2.2 Quy trình chuyển biến tâm lý của người ra quyết định 7
2.3 Quy trình ra quyết định chọn ngành nghề của học sinh lớp 12 8
2.3.1 Xác định nhu cầu bản thân 9
2.3.2 Tìm kiếm thông tin 9
2.3.3 Đánh giá thông tin lựa chọn 10
2.3.4 Đưa ra quyết định chọn ngành 10
2.3.5 Mức độ hài lòng sau quá trình ra quyết định 11
2.4 Lược khảo tài liệu 11
2.5 Khung phân tích 17
2.6 Câu hỏi nghiên cứu 17
2.7 Phương pháp phân tích 19
2.7.1 Thống kê mô tả 19
Trang 6v
2.7.2 Phân tích bảng chéo 21
2.7.3 Phương pháp hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha 22
2.7.4 Phân tích nhân tố 22
Chương 3: DỮ LIỆU VÀ MÔ TẢ DỮ LIỆU 25
3.1 Thu thập dữ liệu 25
3.2 Mô tả bảng câu hỏi 26
Chương 4: PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH CHỌN NGÀNH NGHỀ CỦA HỌC SINH LỚP 12 TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ CẦN THƠ 28
4.1 Thực trạng công tác hướng nghiệp tại các trường THPT địa bàn TPCT 28
4.2 Xu hướng chọn ngành nghề của học sinh lớp 12 năm học 2013-2014 31
4.2.1 Xu hướng chọn ngành nghề của học sinh năm học 2012-2013 31
4.2.1 Xu hướng chọn ngành nghề của học sinh năm học 2013-2014 32
4.3 Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định chọn ngành nghề của học sinh lớp 12 36
4.3.1 Nhận thức về sự cần thiết của ngành nghề sau khi tốt nghiệp trung học phổ thông 36
4.3.2 Những nhân tố tác động đến quyết định ngành nghề của học sinh lớp 12 41
4.3.3 Quá trình đánh giá lựa chọn ngành nghề của học sinh lớp 12 49
Chương 6:MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM ĐỊNH HƯỚNG NGÀNH NGHỀ CHO HỌC SINH THPT TRÊN ĐỊA BÀN TPCT 53
5.1 Về việc chọn ngành nghề 53
5.2 Các hoạt động định hướng, hướng nghiệp cho học sinh phổ thông 55
Chương 6: Kết luận và kiến nghị 58
6.1 Kết luận 58
6.2 Kiến nghị 59
Tài liệu tham khảo 61
Phụ lục 62
Trang 7vi
DANH MỤC HÌNH
Trang Hình 2.1 Quá trình ra quyết định 7
Hình 2.2 Quy trình chuyển biến tâm lý của người ra quyết định 8
Hình 2.3 Quy trình ra quyết định chọn ngành nghề của học sinh lớp 12 9
Hình 2.4 Mô hình nghiên cứu của D.W.Chapman 12
Hình 2.5 Mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chọn trường đại học của học sinh trung học phổ thông 14
Hình 2.6 Mô hình nghiên cứu các yếu tố chọn trường của học sinh lớp 12 THPT trên địa bàn tỉnh Tiền Giang 16
Hình 2.7 Mô hình nghiên cứu của đề tài 18
Hình 4.1 Nhận định về hoạt động hướng nghiệp của học sinh lớp 12 31
Hình 4.2 Xu hướng chọn ngành nghề của học sinh lớp 12 năm học 2013-2014 tại TPCT 33
Hình 4.3 Xu hướng chọn ngành nghề theo giới tính của học sinh lớp 12 năm học 2013-2014 tại TPCT 36
Hình 4.4 Mô hình nghiên cứu mới 49
Hình 4.5 Tỉ lệ học sinh là người ra quyết định chính trong việc chọn ngành nghề 50
Hình 4.6 Dự định chọn trường dự thi của học sinh lớp 12 52
Trang 8vii
DANH MỤC BẢNG
Trang
Bảng 3.1 Tỉ lệ học Sinh của từng Quận, Huyện 26
Bảng 3.2 Kích cỡ mẫu 26
Bảng 4.1 Mức độ thường xuyên của hoạt động hướng nghiệp tại các trường 29
Bảng 4.2 So sánh hình thức hướng nghiệp giữa các trường 29
Bảng 4.3 Nhận định về hoạt động hướng nghiệp của học sinh từng trường 30
Bảng 4.4 Số học sinh TPCT đăng ký dự thi tuyển sinh năm học 2012-2013 31
Bảng 4.5 Xu hướng chọn ngành nghề của học sinh 12 33
Bảng 4.6 Xu hướng chọn ngành nghề giữa nam và nữ 35
Bảng 4.7 Thời điểm định hướng ngành nghề giữa các trường 36
Bảng 4.8 Dự tính của học sinh lớp 12 sau khi tốt nghiệp THPT 37
Bảng 4.9 Phương án ưu tiên của học sinh lớp 12 sau khi tốt nghiệp THPT 38
Bảng 4.10 Mức độ hiểu biết về nghề nghiệp tương lai 39
Bảng 4.11 Định hướng của học sinh nếu không trúng tuyển Đại học 40
Bảng 4.12 Mối liên hệ giữa kết quả học tập của học sinh và định hướng nếu không trúng tuyển Đại học 41
Bảng 4.13 Cronbach alpha của các nhóm nhân tố 43
Bảng 4.14 Mức độ quan trọng của các yếu tố đối với quyết định chọn ngành nghề của học sinh 44
Bảng 4.15 Ma trận nhân tố sau khi xoay 45
Bảng 4.16 Ma trận hệ số điểm các nhân tố 46
Bảng 4.17 Dự định chọn ngành của học sinh lớp 12 năm học 2013-2014 51
Trang 9viii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
CĐ : Cao đẳng
ĐH : Đại học
GD&ĐT : Giáo dục và đào tạo
TCCN : Trung cấp chuyên nghiệp
THPT : Trung học phổ thông
TPCT : Thành phố Cần Thơ
Trang 10CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1.1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong quá trình hình thành và phát triển của mỗi cá nhân, một trong
những giai đoạn quan trọng ảnh hưởng không nhỏ đến tương lai chính là
những năm tháng học Trung học phổ thông (THPT) , hay cụ thể hơn là lớp 12
Chính thời điểm này, các em phải đưa ra cho mình lựa chọn phù hợp trước khi
bước vào ngưỡng cửa cuộc đời Có thể nói việc tìm được cho mình một ngành
nghề hay lĩnh vực yêu thích để theo học vừa tương xứng với năng lực vừa phù
hợp với nhu cầu xã hội là việc không hề dễ dàng với các em Theo thống kê
của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, năm 2011, tỷ lệ sinh viên ra
trường làm trái ngành đã học tại các trường đại học (ĐH) lên đến 60%, một
con số đáng để suy ngẫm Phó giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Văn Lê (người tham
gia nghiên cứu đề tài khoa học cấp nhà nước KX-05-09 mang tên "Giáo dục
phổ thông và hướng nghiệp - nền tảng để phát triển nguồn nhân lực đi vào
công nghiệp hoá - hiện đại hoá") chia sẻ: "Giáo dục phổ thông nước ta đang
đứng trước những thách thức to lớn và một tình trạng nan giải là: chỉ có một
tỷ lệ thấp số học sinh chấp nhận hoặc có định hướng theo học ở các trường
nghề, còn đa số học sinh muốn thi tuyển vào các trường ĐH chuyên nghiệp dù
bản thân tự đánh giá không có khả năng theo đuổi” Những sai lầm chủ quan
trong việc lựa chọn ngành học thường bắt đầu từ quan niệm mang nặng tính
thực dụng: ngành này có dễ xin việc làm, có thu nhập cao, có được làm việc ở
thành phố hay không,… Sai lầm có thể đến với người chọn nghề theo truyền
thống gia đình, theo sự thành đạt của người thân, theo sự rủ rê của bạn bè…
mà không quan tâm đến sự phù hợp của nghề đối với năng lực, nguyện vọng
bản thân Một sai lầm phổ biến nữa là chọn nghề hời hợt theo kiểu "nước đến
chân mới nhảy" Nhiều học sinh đến năm lớp 12 vẫn chưa tìm hiểu và chưa
quyết định chọn nghề Theo TS Phạm Mạnh Hà - Giám đốc Trung tâm Hỗ trợ
và tư vấn tâm lý (Trường ĐH Khoa học xã hội & Nhân văn, ĐH Quốc gia Hà
Nội): “Việc chọn sai nghề khiến bản thân khó phát huy năng lực, giảm năng
suất và hiệu quả lao động, từ đó dẫn tới tâm lý chán nản, thất vọng, thiếu tự tin,
Trang 11mất dần động lực làm việc Lúc ấy, nếu muốn bắt đầu với nghề khác thì phải
chịu tốn kém, mất thời gian học nghề mới… Đối với xã hội, việc có nhiều cá
nhân lựa chọn sai nghề sẽ gây lãng phí cho công tác đào tạo và đào tạo lại,
năng suất lao động không cao, nảy sinh nhiều xáo trộn cho hoạt động của các
doanh nghiệp, tổ chức (có nhiều người bỏ nghề, chuyển nghề)…”
Qua đó có thể thấy rõ hệ lụy của việc không có những định hướng đúng
đắn trước khi rời khỏi ghế nhà trường THPT, những hệ lụy đó không biểu hiện
một cách trực tiếp, ngay tức thì mà nó tác động về lâu dài Đối với một học
sinh, nếu đã nhận thức được mình chọn sai ngành học (do không phù hợp với
năng lực hay không yêu thích ngành nghề đó,…), thì học sinh đó sẽ phải đứng
trước những lựa chọn: một là, can đảm dừng lại và chọn theo học một ngành
khác; hai là, vẫn học tiếp ngành đó, song song theo học ngành hai mình yêu
thích; ba là, không có can đảm thay đổi, tiếp tục bước tiếp con đường đã chọn
và khi ra trường vướng vào hệ lụy: thất nghiệp, làm trái ngành,… Với hai lựa
chọn đầu, học sinh đó mặc dù đã tìm ra hướng đi của mình nhưng lại mất một
khoảng thời gian, về mặt kinh tế cả nhà trường và gia đình đều tổn thất khoản
phí không nhỏ Còn với lựa chọn cuối, hậu quả thường thấy: thất nghiệp trở
thành gánh nặng cho gia đình; nếu làm trái ngành thì chắc chắn hiệu suất làm
việc sẽ không cao, một lần nữa lại gián tiếp tác động đến kinh tế của xã hội
Học sinh là lực lượng lao động tiềm năng, là những nhân tài tương lai
của đất nước, là một trong những yếu tố quan trọng quyết định sự hưng thịnh
của một quốc gia Câu hỏi đặt ra là: “Làm thế nào để giúp học sinh có những
định hướng đúng đắn cho tương lai?”; “Làm thế nào để giảm thiểu tình trạng
thất nghiệp và làm trái ngành, nghề của học sinh, sinh viên?”… Để có lời giải
đáp, ta cần tìm hiểu những yếu tố nào ảnh hưởng đến việc lựa chọn ngành
nghề, trên cơ sở đó đưa ra những giải pháp thiết thực phần nào hạn chế được
những tác động xấu về mặt kinh tế cũng như xã hội Với thực trạng hiện nay
và những nhận định riêng của bản thân, tôi quyết định chọn đề tài “Phân tích
những nhân tố tác động đến việc chọn ngành nghề của học sinh lớp 12 THPT
tại các trường công lập trên địa bàn thành phố Cần Thơ” làm luận văn tốt
nghiệp của mình Hy vọng từ đề tài này có thể đưa những giải pháp thiết thực
Trang 12để giúp học sinh phổ thông có cái nhìn rõ ràng, đúng đắn hơn trong quyết định
chọn ngành nghề tương lai,… góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
của nước ta nói chung và TPCT nói riêng
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.2.1 Mục tiêu chung
Phân tích những nhân tố tác động đến việc chọn ngành nghề của học sinh
12 trên địa bàn TPCT, từ đó đề xuất những giải pháp cụ thể giúp học sinh cuối
cấp có những định hướng thích hợp cho tương lai của mình
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
_ Tìm hiểu thực trạng lựa chọn ngành nghề của học sinh lớp 12 tại các
trường THPT trên địa bàn TPCT
_ Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định chọn ngành nghề của
học sinh lớp 12
_ Đề xuất các giải pháp nhằm định hướng ngành nghề cho học sinh trên
địa bàn TPCT
1.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.3.1 Thời gian nghiên cứu
_ Số liệu sử dụng trong luận văn từ năm 2009 đến 2014
_ Thời gian thu thập số liệu điều tra sơ cấp: tháng 11/2013
1.3.2 Không gian nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện tại các trường THPT đại diện trên địa bàn
TPCT Cụ thể là 4 trường: THPT Châu Văn Liêm, THPT Phan Ngọc Hiển
(quận Ninh Kiều); THPT Lý Tự Trọng, THPT Bùi Hữu Nghĩa (quận Bình
Thủy)
1.3.3 Nội dung nghiên cứu
Đề tài chỉ tập trung phân tích và đánh giá tác động của những yếu tố
khác nhau đến việc chọn ngành nghề của học sinh 12 tại một số trường THPT
công lập đại diện trên địa bàn TPCT
Trang 131.3.4 Đối tượng nghiên cứu
Học sinh đang theo học lớp 12 tại các trường THPT công lập trên địa bàn
TPCT năm học 2013 – 2014
Trang 14CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 CÁC KHÁI NIỆM
2.1.1 Lựa chọn
Thuật ngữ “lựa chọn” được dùng để nhấn mạnh việc phải cân nhắc, tính
toán để quyết định sử dụng loại phương thức hay cách thức tối ưu trong số
những điều kiện hay cách thức thể hiện có thể đạt được mục tiêu trong các
điều kiện khan hiếm nguồn lực (Nguyễn Phương Toàn, 2011)
2.1.2 Hướng nghiệp
Tuỳ thuộc vào đặc trưng cho mỗi lĩnh vực hoạt động khoa học mà khi
xem xét hoạt động hướng nghiệp có thể có những quan điểm khác nhau về
khái niệm này Riêng các nhà kinh tế học thì cho rằng đó là những mối quan
hệ kinh tế giúp cho mỗi thành viên xã hội phát triển năng lực đối với lao động
và đưa họ vào một lĩnh vực hoạt động cụ thể, phù hợp với việc phân bố lực
lượng lao động xã hội
Giáo dục hướng nghiệp là một bộ phận của giáo dục toàn diện Thông
qua giáo dục hướng nghiệp, mỗi học sinh có sự hiểu biết về tính chất và đòi
hỏi của ngành nghề mà mình hướng tới, biết phân tích thị trường hoạt động và
sự đào tạo nghề tương ứng, tự sàng lọc những nguồn tư vấn để tự mình tháo
gỡ vướng mắc hoặc rèn luyện bản thân Từ đó, mỗi học sinh tự xác định được
đâu là nghề nghiệp phù hợp hoặc không phù hợp với mình
2.1.3 Tư vấn hướng nghiệp
Tư vấn hướng nghiệp là tư vấn về sự hỗ trợ khách quan và cả cách nỗ lực
chủ quan trong quá trình hướng nghiệp Nó có lợi cho người đang cần tư vấn
hướng nghiệp và cũng lợi cho cả người cần dẫn dắt người khác hướng nghiệp
(như phụ huynh, thầy cô, bạn bè…) Như vậy, tư vấn hướng nghiệp là một quá
trình hoạt động tích cực, tự giác của học sinh dưới sự hướng dẫn của nhà
trường, của gia đình cùng sự hỗ trợ của các tổ chức xã hội để giúp học sinh
Trang 15tìm hiểu về thế giới nghề nghiệp và chọn được ngành nghề phù hợp trong
tương lai để đạt được mục tiêu trong các điều kiện khan hiếm nguồn lực
2.1.4 Khái niệm nghề
Theo Nguyễn Hùng (2008, trang 11) thì: “Những chuyên môn có những
đặc điểm chung, gần giống nhau được xếp thành một nhóm chuyên môn và
được gọi là nghề Nghề là tập hợp của một nhóm chuyên môn cùng loại, gần
giống nhau Chuyên môn là một dạng lao động đặc biệt, mà qua đó con người
dùng sức mạnh vật chất và sức mạnh tinh thần của mình để tác động vào
những đối tượng cụ thể nhằm biến đổi những đối tượng đó theo hướng phục
vụ mục đích, yêu cầu và lợi ích của con người.”
Nói một cách đơn giản hơn, nghề là một lĩnh vực hoạt động lao động
mà trong đó, nhờ được đào tạo, con người có được tri thức, kỹ năng để làm ra
sản phẩm vật chất hay tinh thần nào đó, đáp ứng được những nhu cầu của xã
hội
Nghề nghiệp trong xã hội không phải là một cái gì cố định, cứng nhắc
Nghề nghiệp cũng giống như một cơ thể sống, có sinh thành, phát triển và tiêu
vong Chẳng hạn, do sự phát triển của kỹ thuật điện tử nên đã hình thành công
nghệ điện tử, do sự phát triển vũ bão của kỹ thuật máy tính nên đã hình thành
cả một nền công nghệ tin học đồ sộ bao gồm việc thiết kế, chế tạo cả phần
cứng, phần mềm và các thiết bị bổ trợ v.v… Công nghệ các hợp chất cao
phân tử tách ra từ công nghệ hóa dầu, công nghệ sinh học và các ngành dịch
vụ, du lịch tiếp nối ra đời…Bên cạnh sự ra đời và phát triển của khoa học kỹ
thuật, nhiều máy móc đã được ra đời thay thế người lao động nên có một số
ngành nghề thủ công , truyền thống dần dần bị mất đi Chẳng hạn như, nghề
thêu bằng tay dần dần bị thay thế bởi thêu máy, hay đan lát, dệt,…ngày càng ít
xuất hiện
2.2 QUÁ TRÌNH RA QUYẾT ĐỊNH VÀ QUY TRÌNH CHUYỂN BIẾN
TÂM LÝ CỦA NGƯỜI RA QUYẾT ĐỊNH
Trang 162.2.1 Quá trình ra quyết định
- Bước đầu tiên là nhận thức nhu cầu, xác định cụ thể vấn đề cần giải quyết
và thứ tự ưu tiên các mục tiêu
- Bước kế tiếp là tìm kiếm thông tin Trong bước này việc phân tích tình
huống sẽ cho thấy các khả năng không thể thực hiện hoặc không khả thi và
chỉ giữ lại những khả năng thực hiện được để đánh giá chi tiết
- Ở giai đoạn đánh giá các chọn lựa, ý kiến của người khác có thể được xem xét
- Trong bước quyết định, những lợi ích và bất lợi của những hành động phải
được đánh giá kỹ lưỡng và luôn hướng tới mục tiêu cuối cùng
Hình 2.1 Quá trình ra quyết định
(Nguồn : Hành vi khách hàng, Nguyễn Quốc Nghi – Lê Quang Viết, 2011)
2.2.2 Quy trình chuyển biến tâm lý của người ra quyết định
Trang 17Hình 2.2 Quy trình chuyển biến tâm lí của người ra quyết định
(Nguồn : Hành vi khách hàng, Nguyễn Quốc Nghi – Lê Quang Viết, 2011)
- Nhận thức là mức độ hiểu biết và có kiến thức của chủ thể về đối tượng, là khả năng tư duy của con người, là một quá trình thông qua đó một
cá nhân lựa chọn, tổ chức và giải thích các thông tin để tạo nên một bức tranh
có ý nghĩa về thế giới
- Hiểu biết: là sự diễn tả những thay đổi trong hành vi của một người phát sinh từ kinh nghiệm Nó giúp con người có khả năng khái quát hoá
về một đối tượng hoặc một hiện tượng nào đó
- Niềm tin: là nhận thức chủ quan của con người
- Thái độ: là sự đánh giá có ý thức những tình cảm và những xu hướng hành động có tính chất tốt hay xấu về một khách thể hay một ý tưởng nào đó
- Trong quá trình đưa ra một quyết định, người đó thông qua nhận thức
và hiểu biết của cá nhân mà hình thành niềm tin và thái độ để từ đó đi đến quyết định cuối cùng xác đáng và hợp lý
2.3 QUY TRÌNH RA QUYẾT ĐỊNH CHỌN NGÀNH NGHỀ CỦA
HỌC SINH LỚP 12
Từ những mô hình đã nêu có thể thấy quá trình ra quyết định chọn
ngành nghề của học sinh cũng trải qua các bước như quy trình sau :
Trang 18Hình 2.3 Quy trình ra quyết định chọn ngành nghề của học sinh lớp 12
2.3.1 Xác định nhu cầu của bản thân
Trong quá trình ra quyết định chọn ngành nhu cầu của bản thân là rất
quan trọng, đó là nền tảng để xác định mục tiêu lựa chọn trong tương lai Mỗi
người tự đưa ra quyết định cho bản thân xem nhu cầu nào là cần thiết và cấp
bách tại thời điểm ra quyết định Vào những năm học THPT nói chung và lớp
12 nói riêng, điều quan tâm lớn nhất của học sinh là : Sau khi tốt nghiệp
THPT mình sẽ làm gì ? Công việc nào mình mong muốn trong tương lai?
Mình cần theo học ngành nghề nào để đáp ứng yêu cầu của công việc đó ?
Một số em khá dễ dàng và nhanh chóng vạch ra hướng đi cho bản thân
nhưng ngược lại phần đông học sinh hiện nay lại cảm thấy khó khăn, mơ hồ
trên con đường tìm cho mình câu trả lời phù hợp Ngoài các yếu tố riêng của
mỗi cá nhân (năng lực, sở thích, ), những yếu tố bên ngoài xuất phát từ gia
đình, bạn bè, xã hội cũng trực tiếp hoặc gián tiếp làmnảy sinh nhu cầu lựa
chọn ngành nghề của bản thân học sinh
2.3.2 Tìm kiếm thông tin
Khi học sinh đã xác định được mình nên thi vào nhóm ngành nào hay theo
học một nghề nào không có nghĩa là đã hoàn thành công việc Học sinh phải tìm
kiếm thông tin cụ thể và chịu ảnh hưởng bởi các nguồn thông tin mà học sinh
tiếp cận Trong thời đại bùng nổ thông tin như hiện nay, các em rất dễ dàng
tiếp cận những thông tin liên quan đến tuyển sinh và đào tạo nghề từ: sách,
báo, tạp chí, truyền hình, internet,… Các nhóm ngành như tiếng Anh, công nghệ
thông tin, công nghệ thực phẩm, công nghệ sinh học, quản trị kinh doanh, kế
toán, tài chính, ngân hàng… được đào tạo ở rất nhiều trường ĐH, Cao đẳng (CĐ)
Trang 19khác nhau Mức điểm chuẩn, nguồn lực giảng viên, cơ sở vật chất, học phí ở
từng trường cũng rất phong phú và khác biệt Bên cạnh đó, những khóa đào tạo ở
các trung tâm dạy nghề từ kỹ thuật viên điện tử, sửa chữa cho đến đầu bếp, pha
chế,… đã và đang đáp ứng nhu cầu của nhiều học sinh sau tốt nghiệp Vì vậy, tùy
theo hoàn cảnh của mình (tài chính, năng lực học tập, cơ hội việc làm) mỗi cá
nhân sẽ tự cân nhắc để chọn môi trường đào tạo phù hợp nhất
2.3.3 Đánh giá thông tin và lựa chọn
Nguồn thông tin được tìm thấy rất phong phú và đa dạng Tuy nhiên,
không phải tất cả các nguồn thông tin đều được tiếp nhận Qua quá trình
tìm hiểu và chọn lọc, học sinh sẽ đánh giá mức độ quan trọng và tin cậy của
nguồn thông tin Từ đó, học sinh sẽ lựa chọn ra các tác nhân quan trọng và có
ảnh hưởng sâu sắc đến hành vi lựa chọn của mình
2.3.4 Đưa ra quyết định chọn ngành
Điều mà đa số thí sinh ít đặt câu hỏi trước mỗi kỳ thi tuyển sinh là chọn
nghề hay chọn ngành học? Trả lời được câu hỏi này, học sinh sẽ xác định
mình nên đi theo hướng nào Đào tạo trình độ CĐ giúp sinh viên có kiến thức
chuyên môn và kỹ năng thực hành cơ bản để giải quyết những vấn đề thông
thường thuộc chuyên ngành được đào tạo Đào tạo trình độ ĐH giúp sinh
viên nắm vững kiến thức chuyên môn và có kỹ năng thực hành thành thạo, có
khả năng làm việc độc lập, sáng tạo và giải quyết được những vấn đề thuộc
chuyên ngành được đào tạo
Như vậy, có thể nói giáo dục ĐH sẽ giúp học sinh chuẩn bị cho nghề
nghiệp tương lai nhưng không giới hạn ở một nghề nghiệp cụ thể nào Bất cứ
ngành học nào cũng có thể giúp bạn chuẩn bị cho một số nghề nghiệp khác
nhau Ví dụ: tốt nghiệp ngành công nghệ sinh học có thể làm trợ lý phòng thí
nghiệm, nghiên cứu viên, nhà khoa học, nhân viên xét nghiệm, chuyên viên
quản lý dự án liên quan, nhân viên sản xuất, tiếp thị, bán hàng, nhân viên quản
lý chất lượng hoặc mở công ty tư nhân…; tốt nghiệp ngành công nghệ thông
tin có thể làm chuyên viên kinh doanh, chuyên viên lập trình ứng dụng,
chuyên viên công nghệ thông tin, giáo viên, trưởng/phó phòng đào tạo, kỹ sư
lập trình ứng dụng web, lập trình viên, nhân viên marketing sản phẩm công
Trang 20nghệ thông tin, nhân viên quản lý mạng - máy chủ, nhân viên quản trị
website…; tốt nghiệp ngành tài nguyên - môi trường có thể làm việc ở các
chức danh như: nhân viên trắc địa bản đồ, địa chính viên, điều tra viên, dự báo
viên, kiểm soát viên khí tượng thủy văn, quan trắc viên tài nguyên và môi
trường Vì vậy, để tìm ra một ngành phù hợp thì cần nhìn xa trông rộng và
suy nghĩ thật kỹ trước khi quyết định lựa chọn Tóm lại, để tìm được ngành
học ưng ý nhất thì học sinh sẽ cần phải hiểu bản thân mình cần gì, hiểu được
ngành nghề mình lựa chọn có thật sự phù hợp với khả năng của mình và đó có
thật sự là niềm đam mê và quyết tâm hay không
2.3.5 Mức độ hài lòng sau quá trình quyết định
Theo một khảo sát gần nhất trong năm 2013 của Trung tâm Hỗ trợ và Tư
vấn tâm lý trường ĐH Khoa học xã hội và Nhân văn - ĐH Quốc gia Hà Nội,
có đến 75,6% sinh viên năm nhất “không thỏa mãn với nghề nghiệp đã chọn”
và 32,4% sinh viên muốn được thi lại vào năm sau Thực tế trên cho thấy học
sinh cần cân nhắc kỹ trong quá trình lựa chọn để tránh mắc những sai lầm
Trong khuôn khổ đề tài nghiên cứu, tác giả chỉ xoay quanh phân tích về những
yếu tố tác động trong quá trình chọn ngành nghề, đối tượng chính là học sinh
lớp 12, không đi sâu vào phân tích sau chọn lựa
2.4 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
Theo nghiên cứu của Chapman, D W (1981) về việc lựa chọn
trường ĐH của học sinh, tác giả đã đề xuất mô hình:
Trang 21Hình 2.4 Mô hình nghiên cứu của D.W.Chapman
Nguồn: Chapman, D.W (1981)
_ Dựa vào kết quả thống kê mô tả, tác giả chỉ ra có 2 nhóm yếu tố ảnh
hưởng nhiều đến quyết định chọn trường ĐH của học sinh Thứ nhất là đặc
điểm của gia đình và cá nhân học sinh Thứ hai là một số yếu tố bên ngoài ảnh
hưởng cụ thể như: các cá nhân có ảnh hưởng, các đặc điểm cố định của trường
ĐH và nỗ lực giao tiếp của trường ĐH với các học sinh
_ Trong nghiên cứu của mình, những yếu tố D.W.Chapman cho rằng sẽ
có ảnh hưởng đến quyết định chọn trường của học sinh:
+ Các yếu tố cố định của trường ĐH như học phí, vị trí địa lý, chính sách
hỗ trợ về chi phí hay môi trường ký túc xá
+ Nỗ lực giao tiếp của các trường với học sinh: Trong những nỗ lực ấy,
sự cải thiện hình ảnh của trường thông qua các hoạt động giới thiệu, quảng bá
hình ảnh đến các học sinh; phát triển các chiến lược thu hút học sinh như giới
Trang 22thiệu học bổng, học bổng du học hay đăng quảng cáo, lên tạp chí, tivi hoặc
thông qua các hoạt động văn hóa, thể thao để lôi kéo sự quan tâm của các học
sinh và gia đình của họ Các tài liệu có sẵn cũng tác động đến quá trình chọn
trường của học sinh Chọn trường là một quyết định không đầy đủ thông tin
của học sinh Vì thế, chất lượng thông tin và sự sẵn sàng của thông tin trong
tài liệu có sẵn như website hay các tài liệu in khác sẽ là một hỗ trợ không nhỏ
trong quyết định chọn trường của học sinh
+ Các cá nhân có ảnh hưởng: học sinh bị tác động mạnh mẽ bởi sự
thuyết phục, khuyên nhủ của bạn bè và gia đình Sự ảnh hưởng của các cá
nhân này đến các học sinh có thể thực hiện theo ba cách sau: ý kiến của họ ảnh
hưởng đến mong đợi về một trường ĐH cụ thể đó là như thế nào; họ cũng có
thể khuyên trực tiếp về nơi mà học sinh nên tham gia dự thi; trong trường hợp
là bạn thân, thì chính nơi mà bạn thân dự thi cũng ảnh hưởng đến quyết định
chọn trường của học sinh
+ Các yếu tố của đặc điểm cá nhân học sinh là một trong những nhóm
yếu tố ảnh hưởng lớn đến quyết định chọn trường của bản thân họ Trong
những yếu tố đó, yếu tố về năng lực và sở thích của bản thân học sinh là 2 yếu
tố ảnh hưởng đến quyết định chọn trường ĐH rõ nhất
Trong đề tài “Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chọn trường ĐH
của học sinh THPT”, hai tác giả Trần Văn Quí và Cao Hào Thi (2009) chỉ ra
mô hình nghiên cứu:
Trang 23Hình 2.5 Mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chọn trường ĐH
của học sinh THPT
Nguồn: Trần Văn Quí và Cao Hào Thi (2009)
_ Phương pháp nghiên cứu:
+ Nghiên cứu được tiến hành theo 2 bước, đầu tiên là nghiên cứu sơ bộ
bằng định tính rồi nghiên cứu chính thức bằng định lượng Thang đo và độ tin
cậy của biến quan sát được đánh giá bằng hệ số Cronbach’s Alpha và phương
pháp phân tích nhân tố khám phá EFA (exploratory factor analysis) Kiểm
định mô hình bằng phương pháp hồi quy đa biến với mức ý nghĩa từ 5% -10% + Phương pháp lấy mẫu thuận tiện được sử dụng để thu thập dữ liệu
Thang đo Likert với dãy giá từ 1 đến 5 được sử dụng để đo lường cảm nhận
của đối tượng khảo sát Nguồn cung cấp dữ liệu gồm dữ liệu thứ cấp và dữ
liệu sơ cấp Đối với dữ liệu sơ cấp, bảng câu hỏi được gởi trực tiếp đến đối
tượng phỏng vấn tại 5 trường phổ thông tại các huyện, thành phố tiêu biểu của
tỉnh là huyện Nghĩa Hành, huyện Tư Nghĩa, huyện Sơn Tịnh và thành phố
Quảng Ngãi Tỷ lệ hồi đáp trực tiếp là 37,8% tương ứng có 227 phản hồi có
giá trị trên số lượng gửi là 600
Trang 24_ Kết quả phân tích 227 bảng trả lời của học sinh lớp 12 năm học 2008-
2009 của 5 trường THPT tại Quảng Ngãi phản ánh cho thấy 5 yếu tố bao gồm
yếu tố cơ hội việc làm trong tương lai; yếu tố đặc điểm cố định của trường
ĐH; yếu tố về bản thân cá nhân học sinh; yếu tố về cá nhân có ảnh hưởng đến
quyết định của học sinh và yếu tố về thông tin có sẵn ảnh hưởng đến quyết
định chọn trường ĐH Kết quả phân tích hồi quy đa biến đã khẳng định mối
quan hệ giữa 5 yếu tố trên với quyết định chọn trường ĐH của học sinh THPT
với các giả thuyết được ủng hộ ở mức ý nghĩa 5% Nghiên cứu đề xuất một số
kiến nghị nhằm giúp đỡ gia đình, nhà trường và các tổ chức giáo dục có biện
pháp thiết thực nhằm định hướng có phương pháp và tạo điều kiện tốt nhất cho
các học sinh THPT lựa chọn trường một cách tốt nhất có thể
_ Một vài hạn chế: dữ liệu thu thập được có thể bị ảnh hưởng bởi mẫu
chưa mang ý nghĩa tổng quát cao khi chỉ thực hiện tại 5 trường THPT tại
Quảng Ngãi Mô hình chỉ mới giải thích được vấn đề nghiên cứu ở mức độ
21,5% khi nhân rộng ra tổng thể Nguyên nhân có thể do kích thước mẫu còn
nhỏ so với quy mô nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu còn hẹp do chỉ lấy mẫu
ở khu vực tỉnh Quảng Ngãi và nhiều yếu tố chưa được đưa vào khảo sát trong
nghiên cứu này
Theo nghiên cứu gần đây nhất về “Khảo sát các yếu tố chọn trường
của học sinh lớp 12 THPT trên địa bàn tỉnh Tiền Giang” của tác giả Nguyễn
Phương Toàn (2011), mô hình nghiên cứu được đề xuất:
Trang 25Hình 2.6 Mô hình nghiên cứu các yếu tố chọn trường của học sinh lớp 12
THPT trên địa bàn tỉnh Tiền Giang
Nguồn: Nguyễn Phương Toàn (2011)
_ Phương pháp nghiên cứu:
+ Phương pháp phân tích: Phân tích nhân tố khám phá (EFA) nhằm thu
nhỏ và tóm tắt dữ liệu để đưa vào các thủ tục phân tích đa biến; đánh giá độ tin
cậy của thang đo bằng hệ số tin cậy Cronbach alpha; thống kê mô tả; phân tích
phương sai Anova để xác định sự khác biệt giữa các nhóm trong việc đánh giá
tầm quan trọng của các yếu tố đến quyết định chọn trường; phân tích hồi quy
và kiểm định sự phù hợp của mô hình nhằm đo lường và đánh giá tác động của
các nhân tố đến quyết định chọn trường của học sinh; kiểm định các giả thuyết
theo mô hình nghiên cứu của đề tài
+ Phương pháp lấy mẫu hai giai đoạn được sử dụng để thu thập dữ liệu
Thang đo Likert với dãy giá trị từ 1 đến 5 được sử dụng để đo lường cảm nhận
của đối tượng khảo sát Nguồn cung cấp dữ liệu gồm dữ liệu thứ cấp và dữ
Trang 26liệu sơ cấp Đối với dữ liệu sơ cấp, bảng câu hỏi được gởi trực tiếp đến đối
tượng phỏng vấn tại 8/34 trường phổ thông trên địa bàn tỉnh Tiền Giang Tỷ lệ
hồi đáp trực tiếp là 89,33% tương ứng có 402 phản hồi có giá trị trên số lượng
gởi là 450
_ Kết quả kiểm định mô hình lý thuyết cho thấy các yếu tố ảnh hưởng
đến quyết định chọn trường ĐH của học sinh với 5 yếu tố ảnh hưởng từ mạnh
đến yếu như sau: Yếu tố về mức độ đa dạng và hấp dẫn ngành đào tạo; yếu tố
về đặc điểm của trường ĐH; yếu tố về khả năng đáp ứng sự mong đợi sau khi
ra trường; yếu tố về những nỗ lực giao tiếp của trường ĐH và yếu tố về danh
tiếng của trường ĐH Mô hình nghiên cứu giải thích được 27,6% cho tổng thể
về mối liên hệ của 5 yếu tố trên với biến lựa chọn trường ĐH của học sinh
Kết quả phân tích cũng cho thấy có sự khác biệt giữa nhóm học sinh theo đơn
vị trường THPT, theo giới tính và theo học lực trong sự đánh giá tầm quan
trọng của các yếu tố khi quyết định chọn trường ĐH để dự thi Bên cạnh đó,
kết quả phân tích còn ghi nhận sự khác biệt có ý nghĩa thống kê - giữa các
nhóm học sinh ở nông thôn và thị xã Gò Công, so với học sinh ở thành phố
Mỹ Tho - về đánh giá tầm quan trọng của các yếu tố ảnh hưởng của thân nhân
và yếu tố cơ hội trúng tuyển khi quyết định chọn trường ĐH dự thi
_ Hạn chế thuộc về mẫu nghiên cứu, do 8 trường THPT được chọn theo
phương pháp thuận tiện, dữ liệu thu thập được có thể bị ảnh hưởng một phần
bởi mẫu chưa mang ý nghĩa tổng quát cao khi chỉ thực hiện tại 8/34 trường
THPT tại tỉnh Tiền Giang Mô hình chỉ mới giải thích được vấn đề nghiên cứu
ở mức độ 27,6% khi nhân rộng ra tổng thể Nguyên nhân có thể do kích thước
mẫu còn nhỏ so với quy mô nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu còn hẹp do chỉ
lấy mẫu ở khu vực tỉnh Tiền Giang và nhiều yếu tố chưa được đưa vào khảo
sát trong nghiên cứu này
2.5 KHUNG PHÂN TÍCH
Đối với học sinh cuối cấp, quá trình chọn ngành thường đi đôi với chọn
trường, thông thường chọn ngành trước rồi chọn trường theo học sau Từ
những nghiên cứu trước đây cho thấy các yếu tố tác động đến việc chọn
Trang 27trường cũng có mối quan hệ mật thiết đến quá trình chọn ngành nghề Do đó,
để đề tài vừa mang tính khái quát vừa cụ thể, tác giả chọn cho mình mô hình
nghiên cứu như sau:
Hình 2.7 Mô hình nghiên cứu của đề tài _ Nhóm yếu tố cá nhân: theo các nghiên cứu trước đây, tác giả nhận thấy
các đặc điểm cá nhân (bao gồm sở thích, sở trường, năng lực học tập) và quan
niệm của bản thân học sinh (bao gồm những nhận định về khả năng trúng
tuyển vào ngành nghề, tính thời thượng của ngành nghề, vị trí xã hội của
ngành nghề, cơ hội việc làm trong tương lai, thu nhập cao trong tương lai, sự
tự hào khi học) đóng vai trò quan trọng trong việc chọn ngành nghề Một lần
nữa ở đề tài này tác giả đưa nhóm yếu tố này vào mô hình nghiên cứu để khảo
sát xem cá nhân mỗi học sinh sẽ quyết định việc chọn ngành nghề của mình
Đoàn thể địa phương
Giao lưu hướng nghiệp
Tài chính gia đình
Lời khuyên của ba mẹ
Lời tư vấn của anh/chị
Lời tư vấn của họ hàng
Trang 28_ Nhóm yếu tố gia đình: sự tác động của nhóm yếu tố này đến từ lời
khuyên của ba/mẹ, lời tư vấn của anh/chị, họ hàng; bên cạnh đó truyền thống
của gia đình và tài chính gia đình cũng ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình lựa
chọn của học sinh lớp 12
_ Nhóm yếu tố xã hội: trong quyết định chọn ngành nghề của bản thân,
học sinh cũng bị chi phối từ các mối quan hệ trong xã hội: lời khuyên của thầy
cô, từ hoạt động hướng nghiệp của nhà trường, các chương trình giao lưu
hướng nghiệp tại địa phương, xu hướng chọn ngành nghề của bạn bè,…
_ Nhóm yếu tố về trường/ nơi đào tạo: trong các nghiên cứu trước đây,
các tác giả đều chỉ ra các yếu tố về đặc điểm cố định trường đào tạo (danh
tiếng của trường, chất lượng đào tạo, cơ sở vật chất), các hoạt động tiếp thị để
thu hút sinh viên, sự thuận tiện khi học đã góp phần tác động vào sự lựa chọn
của học sinh
2.6 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
_ Xu hướng lựa chọn ngành nghề của học sinh lớp 12 trên địa bàn TPCT
trong những năm gần đây như thế nào?
_ Những yếu tố nào tác động đến việc lựa chọn ngành nghề của học sinh
Thống kê mô tả là mô tả dữ liệu bằng các phép tính và chỉ số thống kê
thông thường như số trung bình, số trung vị, phương sai, độ lệch chuẩn,
Phương pháp này được sử dụng để trình bày, đo lường số liệu được thu thập
và đưa ra những kết luận trong điều kiện không chắc chắn Đề tài sử dụng
phương pháp thống kê mô tả để mô tả và phân tích các số liệu tổng quan về
đặc điểm mặt nhân khẩu học của đáp viên để phản ánh một cách tổng quát đối
tượng nghiên cứu
Trang 29* Phân tích tần số : là một trong những công cụ thống kê mô tả được sử
dụng để mô tả và tìm hiểu về đặc tính phân phối của mốt số liệu thô nào đó
Trong phạm vi nghiên cứu này, phương pháp phân tích tần số để mô tả một số
biến liên quan đến đặc tính nhân khẩu học của đối tượng được phỏng vấn
Phương pháp này giúp chúng ta có cái nhìn tổng thể về một đặc tính nào đó
của mẫu điều tra Trong phân tích tần số thường bao gồm các giá trị sau :
- Frequency: là tần số của từng biểu hiện (tính bằng cách đếm và cộng
- Cumulative percent: là phần trăm tích lũy cộng dồn các phần trăm từ
trên xuống, nó cho ta biết có bao nhiêu phần trăm đối tượng ta đang khảo sát ở
mức độ nào đó trở lên
* Tính các đại lượng thống kê mô tả: chỉ được áp dụng với các biến định
lượng Các đại lượng thống kê mô tả thường dùng là :
- SE Mean: sai số chuẩn khi ước lượng trị trung bình
Đề tài không đơn thuần chỉ cho thấy có hay không sự tác động của các
nhân tố khác nhau đến quyết định lựa chọn ngành nghề mà còn thể hiện mức
độ tác động của nó, sự nhận định này mang tính đa khía cạnh Do đó, các biến
quan sát của các nhóm nhân tố độc lập sẽ được đo lường theo thang đo Likert
5 mức độ, ý nghĩa của từng giá trị trung bình đối với thang đo khoảng là :
Trang 30Giá trị khoảng cách = (Maximum- Minimum) /n
= (5-1) / 5 = 0.8
Giá trị trung bình Ý nghĩa
1,00 - 1,80 Rất không đồng ý/Rất không hài lòng/Rất không quan trọng
1,81 - 2,60 Không đồng ý/Không hài lòng/ Không quan trọng
2,61 - 3,40 Không ý kiến/trung bình
3,41 - 4,20 Đồng ý/ Hài lòng/ Quan trọng
4,21 - 5,00 Rất đồng ý/ Rất hài lòng/ Rất quan trọng
2.7.2 Phân tích bảng chéo (Cross-Tabulation)
_ Định nghĩa: Cross-Tabulation là một kỹ thuật thống kê mô tả hai hay ba biến cùng một lúc và bảng kết quả phản ánh sự kết hợp hai hay ba biến
có số lượng hạn chế trong phân loại hoặc trong giá trị phân biệt
Mô tả dữ liệu bằng Cross-Tabulation được sử dụng rộng rãi trong nghiên cứu marketing vì :
+ Kết quả của nó có thể được giải thích và hiểu được một cách dễ dàng đối với các nhà quản lý không có chuyên môn thống kê
+ Sự rõ ràng trong việc giải thích cung cấp sự kết hợp chặt chẽ giữa kết quả nghiên cứu và quyết định trong quản lý
+ Chuỗi phân tích Cross-Tab cung cấp những kết luận sâu hơn trong
n hững trường hợp phức tạp
+ Làm giảm bớt các vấn đề của các ô (cells)
+ Tiến hành đơn giản
_ Phân tích Cross-Tab hai biến
Bảng phân tích Cross-Tabulation hai biến còn gọi là bảng tiếp liên (Contigency table), mỗi ô trong bảng chứa đựng sự kết hợp phân loại của
hai biến
Việc phân tích các biến theo cột hay theo hàng là tùy thuộc vào việc biến
đó là biến phụ thuộc hay biến độc lập Thông thường khi xử lý biến xếp cột
là biến độc lập, biến hàng là biến phụ thuộc
Trang 312.7.3 Phương pháp hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha
_ Đề tài sử dụng phương pháp hệ số tin cậy Cronbach’Alpha để đánh giá
độ tin cậy của thang đo bằng cách loại bỏ các biến tạo ra những yếu tố giả
không phù hợp với mô hình nghiên cứu
Công thức của hệ số Cronbach là:
Với là hệ số tương quan trung bình giữa các mục hỏi, tượng trưng cho
tương quan trung bình tất cả các cặp mục hỏi được kiểm tra
Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc, 2008)
_ Đối với hệ số Cronbach’Alpha tổng của mô hình:
+ Lớn hơn 0,8 thì thang đo được sử dụng tốt
+ Từ 0,7 đến gần 0,8 là sử dụng được, cũng có ý kiến đề nghị rằng hệ số
Cronbach’Alpha từ 0,6 trở lên là sử dụng được trong trường hợp khái
niệm thang đo lường là mới (Nunnally, 1978)
_Các biến quan sát có hệ số tương quan giữa biến và tổng trong bảng kết
quả dưới 0,3 sẽ bị loại bỏ (Nunnally và Burnstein, 1994)
2.7.4 Phân tích nhân tố
_ Giới thiệu về phương pháp phân tích nhân tố : phương pháp này là tên
chung của một nhóm các thủ tục được sử dụng chủ yếu để thu nhỏ và tóm tắt
dữ liệu
_ Ứng dụng trong đề tài này để đánh giá những yếu tố tác động đến việc
ra quyết định chọn ngành nghề của học sinh phổ thông
_ Mô hình phân tích nhân tố
Xi = Aij + Ai2F2 +…+ AimFm + V i U i
Xi: Biến được chuẩn hóa thứ i Aij: Hệ số hồi quy bộ của biến được chuẩn hóa F: Nhân tố chung
Trang 32V : Hệ số hồi qui của biến chuẩn hóa i trên nhân
tố duy nhất i Ui: Nhân tố duy nhất của biến i m: số nhân tố chung
(Lưu Thanh Đức Hải, 2010) Mỗi nhân tố duy nhất thì tương quan với những nhân tố khác và với
các nhân tố chung Các nhân tố chung có sự kết hợp tuyến tính của các
biến quan sát
Fi = wijxj + wi2x2 +…+ wikxk Fi: ước lượng nhân tố thứ i wi: trọng số hay hệ số điểm nhân tố K: số biến
_ Các tham số thống kê trong phân tích nhân tố :
+ Barlett’s test of sphericity : là một đại lượng thống kê dùng để xem xét
giả thuyết các biến không có tương quan trong tổng thể Với giả thuyết sau:
H0: các biến không có tương quan với nhau
H1: có sự tương quan giữa các biến
Giá trị p của kiểm định là một số sao cho với mọi α > p thì giả thuyết H0 bị
bác bỏ
Trong kiểm định Barlett’s với mức ý nghĩa α = 5% thì:
Nếu giá trị p < α thì bác bỏ giả thuyết H0 và chấp nhận giả thuyết H1
Nếu giá trị p > α thì chấp nhận giả thuyết H0
+ Ma trận tương quan (Correlation matrix) : cho biết hệ số tương quan giữa
tất cả các cặp biến trong phân tích
Về mặt lý thuyết thì hệ số tương quan thông thường phải trên 0,7 thì các
biến có mối quan hệ tương quan rất cao với nhau Tuy nhiên, trong thực tế tiêu
chuẩn 0,7 là một số quá cao và số liệu thực tế nhiều khi không đáp ứng được
Do đó trong thực tế nghiên cứu đặc biệt đối với mục đích thăm dò sẽ sử dụng
một cấp độ thấp hơn có hệ số tương quan là 0,5
Trang 33+ Phương sai tối đa của mỗi nhân tố (Communality) : là lượng biến thiên
của một biến được giải thích chung với các biến khác được xem xét trong
phân tích Đây cũng là phần biến thiên được giải thích bởi các nhân tố chung
+ Phương sai tổng hợp từng nhân tố (Eigenvalue) : đại diện cho phần biến
thiên được giải thích bởi mỗi nhân tố
+ Factor loading (hệ số tải nhân tố): là những hệ số tương quan đơn giữa
các biến và các nhân tố
+ Factor Matrix (ma trận nhân tố) : chứa các hệ số tải nhân tố của tất cả các
biến đối với các nhân tố được rút ra
+ Factor scores : điểm số nhân tố tổng hợp được ước lượng cho từng quan
sát trên các nhân tố được rút ra Còn được gọi là nhân số
+ Kaiser- Meyer- Olkin (KMO) : là một chỉ số dùng để xem xét sự thích
hợp của phân tích nhân tố 0,5< trị số KMO < 1 là điều kiện đủ để phân tích
nhân tố là thích hợp, nếu trị số KMO nhỏ hơn 0,5 thì dữ liệu không phù hợp
*Phân tích nhân tố khám phá EFA( (Exploratory Factor Analysis)
Được dùng đến trong trường hợp mối quan hệ giữa các biến quan sát và
biến tiềm ẩn là không rõ ràng hay không chắc chắn Phân tích EFA theo đó
được tiến hành theo kiểu khám phá để xác định xem phạm vi, mức độ quan hệ
giữa các biến quan sát và các nhân tố cơ sở như thế nào, làm nền tảng cho một
tập hợp các phép đo để rút gọn hay giảm bớt số biến quan sát tải lên các nhân
tố cơ sở Số lượng các nhân tố cơ sở tuỳ thuộc vào mô hình nghiên cứu, trong
đó chúng ràng buộc nhau bằng cách xoay các vector trực giao nhau để không
xảy ra hiện tượng tương quan Phân tích nhân tố khám phá EFA rất hữu dụng
trong bước thực nghiệm ban đầu hay mở rộng kiểm định Theo phương pháp
phân tích này thì các biến quan sát có hệ số tương quan giữa biến và tổng dưới
0,3 sẽ bị loại bỏ (Nunnally và Burnstein, 1994) Sau đó, các biến quan sát có
trọng số nhỏ hơn 0,5 sẽ tiếp tục bị loại bỏ (Gerbing và Anderson, 1988) và
kiểm tra phương sai trích được (lớn hơn hoặc bằng 50%)
Trang 34CHƯƠNG 3
DỮ LIỆU VÀ MÔ TẢ DỮ LIỆU 3.1 THU THẬP DỮ LIỆU
Phương pháp thu thập
_ Thu thập số liệu thứ cấp: số liệu về kết quả tuyển sinh vào các trường
ĐH, CĐ của học sinh 12 TPCT qua các năm 2009 – 2013, tổng hợp số liệu của
các trường THPT tại TPCT, thu thập từ Sở Giáo dục & Đào tạo (GD&ĐT)
TPCT,…
_ Thu thập số liệu sơ cấp: Phương pháp phỏng vấn điều tra bằng bảng
câu hỏi
Xác định cỡ mẫu
_ Theo thống kê của Sở GD&ĐT TPCT, có tổng cộng 7.762 học sinh lớp
12 trên địa bàn TPCT năm học 2013 - 2014 (không bao gồm các trường tư
thục) Đây chính là tổng thể (N) Do nghiên cứu có được số liệu chính xác của
tổng thể nên nghiên cứu sử dụng phương pháp xác định cỡ mẫu phụ thuộc
vào tổng thể (Lưu Thanh Đức Hải, 2010)
Ta xác định cỡ mẫu dựa vào công thức:
) 1
N n
với e: sai số tối đa
Với độ tin cậy 95% thì e = 0,05 và cỡ mẫu được tính xấp xỉ 380
Phương pháp chọn mẫu
Tác giả tiến hành chọn mẫu theo phương pháp chọn mẫu phi xác suất,
cụ thể là chọn mẫu phân tầng theo tiêu thức vùng địa lý Thành phố Cần Thơ
được chia thành 5 quận và 4 huyện với số trường và số học sinh khác nhau
Dựa vào tỉ lệ học sinh từng quận, huyện, tác giả chọn 2 quận Ninh Kiều và
Bình Thủy là 2 vùng có tỉ lệ học sinh lớp 12 cao nhất để tiến hành khảo sát
(Bảng 3.1) Trong đó, chọn ra 2 trường đại diện ở mỗi quận, dựa vào tương
Trang 35quan giữa số học sinh của mỗi trường với tổng số học sinh của 4 trường và cỡ
mẫu để suy ra số mẫu cần khảo sát của từng trường (Bảng 3.2)
Bảng 3.1: Tỉ Lệ Học Sinh Của Từng Quận, Huyện
Quận/huyện Số trường Số học sinh Tỉ lệ theo học sinh (%)
Nguồn: Tổng hợp từ thống kê của Sở GD&ĐT TPCT
Phương pháp phỏng vấn: tác giả không phỏng vấn trực tiếp từng học
sinh mà thông qua người phụ trách của trường (giáo viên văn phòng, cán bộ
Đoàn, ) gửi bàng câu hỏi đến các em học sinh
3.2 MÔ TẢ BẢNG CÂU HỎI
Bảng câu hỏi gồm 3 phần: phần quản lý, phần nội dung và phần thông tin
cá nhân
1) Phần quản lý: thông tin về tên, số điện thoại, giới tính, ngày phỏng vấn
2) Phần nội dung
_ Định hướng, dự tính ngành nghề trong tương lai
_ Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chọn ngành nghề và mức độ quan
trọng của từng yếu tố
_ Vấn đề quan tâm khi chọn ngành nghề
_ Nội dung liên quan đến hoạt động hướng nghiệp của trường THPT
Trang 363) Phần thông tin cá nhân
_ Trường THPT đang theo học
_ Học lực năm 2012 – 2013
Trang 37CHƯƠNG 4 PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUYẾT
ĐỊNH CHỌN NGÀNH NGHỀ CỦA HỌC SINH LỚP 12
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
4.1 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC HƯỚNG NGHIỆP TẠI CÁC TRƯỜNG
THPT TRÊN ĐỊA BÀN TPCT
Hoạt động hướng nghiệp đóng một vai trò hết sức cần thiết với học sinh
THPT, bởi qua đó mà học sinh có thêm thông tin thiết thực cũng như giải tỏa
những thắc mắc xung quanh vấn đề chọn ngành nghề cho mình trong tương lai Hướng nghiệp có hiệu quả sẽ giảm thiểu tình trạng “thừa thầy, thiếu thợ”, góp
phần cho cân bằng cung cầu lao động tại địa phương nói riêng và cả nước nói
chung, từ đó mang lại lợi ích cho xã hội Nhận thấy tầm quan trọng của hoạt
động hướng nghiệp, từ năm 2006 các trường THPT đã chính thức đưa hoạt
động này vào chương trình giảng dạy theo chủ trương của Bộ GD&ĐT Riêng
tại TPCT, các trường THPT tổ chức hướng nghiệp dựa trên giáo trình của Sở
GD&ĐT TPCT và tùy điều kiện từng trường mà có các cách hướng nghiệp
khác nhau
Kết quả khảo sát 296 học sinh lớp 12 năm học 2013-2014 cho thấy
100% các trường đều tổ chức hoạt động hướng nghiệp Về mức độ thường
xuyên của hoạt động này, hai trường Phan Ngọc Hiển và Lý Tự Trọng có mật
độ thưa nhất (3 tháng 1 lần), trường Bùi Hữu Nghĩa có mật độ dày nhất (1 tuần
1 lần), còn trường Châu Văn Liêm thì định kì mỗi tháng một lần Trong đó
48,6% số học sinh cho biết được hướng nghiệp từ năm lớp 10 với các hình
thức khác nhau
Trang 38Bảng 4.1: Mức độ thường xuyên của hoạt động hướng nghiệp tại các trường
cộng 1l/tuần 1l/2
Nguồn: Số liệu điều tra, 11/2013
Bảng 4.2 So sánh hình thức hướng nghiệp giữa các trường
Đvt:%
Hình thức
hướng nghiệp
Trường Châu Văn
Liêm
Phan Ngọc Hiển
Lý Tự Trọng
Bùi Hữu Nghĩa Sinh hoạt vào các buổi
Mời các cựu học sinh thành
đạt về giao lưu, chia sẻ KN
Nguồn: Số liệu điều tra, 11/2013
Với câu hỏi nhiều lựa chọn về các hình thức hướng nghiệp, hình thức
phổ biến nhất hiện tại là tổ chức các buổi hướng nghiệp tại trường, người phụ
trách hướng dẫn có thể là giáo viên chuyên về công tác hướng nghiệp, hoặc
Ban giám hiệu nhà trường Bên cạnh đó, hai hình thức mới cũng được quan
tâm là tham quan các trường ĐH (phổ biến nhất ở trường Châu Văn Liêm với
29,8%) và mời cựu học sinh thành đạt về trường chia sẻ kinh nghiệm (phổ
biến ở Lý Tự Trọng với 38%)
Nhận xét về những hình thức hướng nghiệp trên, phần lớn học sinh cho
rằng thực tế và có ích (58,1%) nhưng một bộ phận không nhỏ lại cảm thấy
nhàm chán khi tham gia (25%) và 10,5% học sinh nhận định hoạt động của
trường nghiêng về lý thuyết nhiều, thiếu thực tế Xét riêng từng trường, nhận
Trang 39định hoạt động hướng nghiệp nhàm chán hay khó hiểu đa số thuộc về trường
Phan Ngọc Hiển, tỉ lệ học sinh có nhận xét tích cực về hoạt động này cũng chỉ
chiếm 43,9% trong khi 3 trường còn lại tỉ lệ này đều trên 50% Những nhận
định thiếu tích cực xuất phát từ hai vấn đề: một là các em chưa thực sự nghiêm
túc khi tham gia hoạt động này để định hướng cho nghề nghiệp tương lai, hai
là những hình thức hướng nghiệp của nhà trường quá máy móc khiến các em
cảm thấy gò bó và khó tiếp cận Bên cạnh đó, cũng phản ánh thực trạng nhà
trường chưa thực sự đầu tư đúng mức để hoạt động này trở nên gần gũi, dễ
tiếp cận hơn Học sinh cần được đẩy mạnh các hoạt động thực tế như tham
quan các trường ĐH, CĐ, Cơ sở đào tạo,…; giao lưu với cựu học sinh/doanh
nhân thành đạt trong các lĩnh vực nghề nghiệp Thông qua đó, các em có
những nhìn nhận rõ ràng hơn và có thể đưa ra những quyết định đúng đắn cho
tương lai của mình
Bảng 4.3: Nhận định về hoạt động hướng nghiệp của học sinh từng trường
Phan Ngọc Hiển
Lý Tự Trọng
Bùi Hữu Nghĩa
Trang 40Hình 4.1 Nhận định của học sinh về hoạt động hướng nghiệp của các trường
Nguồn: Số liệu điều tra, 11/2013
4.2 XU HƯỚNG CHỌN NGÀNH NGHỀ CỦA HỌC SINH 12 QUA 2
NĂM HỌC 2012-2013 VÀ 2013-2014
4.2.1 Xu hướng chọn ngành nghề của học sinh năm học 2012-2013
Bảng 4.4: Số học sinh TPCT đăng ký dự thi tuyển sinh năm học 2012-2013
Môi trường & Tài nguyên môi trường 1.521 138
Nguồn: Tổng hợp từ thống kê của Sở GD&ĐT TPCT
_ Với xấp xỉ 8000 học sinh lớp 12, nhưng lượt đăng ký dự thi lại hơn gấp
đôi (18.803), số lượng hồ sơ ảo còn rất nhiều và thực tế này cũng phản ánh các
em học sinh vẫn còn băn khoăn và chưa đưa ra quyết định cuối cùng Tuy
nhiên, thông qua lượt đăng ký dự thi của học sinh TPCT năm học 2012-2013,
có thể thấy rõ sự dàn trãi và khá đồng đều trong sự lựa chọn các nhóm ngành
khác nhau của các em Đặc biệt là 2 nhóm ngành Kỹ thuật- Công nghệ và
Nông nghiệp-Sinh học ứng dụng đã thu hút được lượng đăng ký tương đương
các nhóm ngành kinh điển như Kinh tế, Y dược và Sư phạm Điều này phản