1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đảng lãnh đạo công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài từ năm 1986 đến năm 2005

97 476 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 1,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tiếp đó là phân tích một số vấn đề nổi cộm trong công tác như: tổ chức, cốt cán và phong trào Việt kiều yêu nước, đấu tranh chống bọn phản động người Việt, huy động đóng góp của kiều bào

Trang 1

LUẬN VĂN:

Đảng lãnh đạo công tác đối với

người Việt Nam ở nước ngoài từ

năm 1986 đến năm 2005

Trang 2

mở đầu

1 Tính cấp thiết của đề tài

Cách đây hàng trăm năm đã có những người Việt Nam đầu tiên ra nước ngoài sinh sống Từ đó đến nay đã hình thành một cộng đồng người Việt Nam gồm khoảng 2,7 triệu người ở gần 90 nước và vùng lãnh thổ Về căn bản, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài đang phát triển theo chiều hướng ổn định, hòa nhập vào xã hội nơi

cư trú và có nhiều hoạt động thiết thực nhằm duy trì bản sắc văn hóa dân tộc, hướng về quê hương đất nước Hiện tượng trên là một biểu hiện thông thường, phù hợp với quy luật chuyển dịch dân cư trên thế giới Vì những lý do khách quan và chủ quan của từng nước, sự di chuyển dân cư này diễn ra nhiều hay ít ở những thời kỳ khác nhau, nhất là trong những thời kỳ biến động lịch sử đặc biệt như đấu tranh giai cấp quyết liệt hay chiến tranh Ngày nay, khi mà thế giới đang chuyển biến nhanh chóng trong xu thế toàn cầu hóa, quy luật này có thể trở nên phổ biến hơn, theo đó cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài sẽ có những phát triển mới về số lượng cũng như về tính đa dạng

Vì những mục đích khác nhau tất cả các nước có người dân của mình sinh sống ở nước ngoài đều có chính sách bảo hộ, hỗ trợ, vận động bộ phận dân cư này Đây không chỉ là việc làm có ý nghĩa về mặt tình cảm dân tộc, có tác động về chính trị, văn hóa, xã hội và an ninh quốc gia, mà việc huy động tiềm năng của bộ phận dân

cư này vào mục tiêu xây dựng đất nước có ý nghĩa kinh tế to lớn Riêng đối với Việt Nam, lịch sử công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài đã gắn liền với lịch sử cách mạng dân tộc từ gần một thế kỷ nay, đặc biệt được quan tâm và thúc đẩy từ khi Đảng ra đời, in đậm dấu ấn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ đã trực tiếp tiến hành

tổ chức và lãnh đạo công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài Do những tác động khách quan và điều kiện, hoàn cảnh lịch sử cụ thể từ sau khi đất nước thống nhất đến trước thời kỳ đổi mới (1975 – 1986), một phần không nhỏ những người rời Tổ quốc ra nước ngoài sinh sống thường có tư tưởng hận thù, chống lại chế độ mới và họ thường ra đi bằng con đường vượt biên trái phép Vì vậy, công tác đối với người Việt

Trang 3

Tình hình thế giới đang có những chuyển biến nhanh chóng và phức tạp Tình hình cách mạng trong nước cũng đang phát triển không ngừng, đòi hỏi mọi mặt công tác nói chung và lĩnh vực công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài của Đảng nói riêng phải vươn lên đáp ứng những đòi hỏi của tình hình mới Vì thế, cần nghiên cứu một cách có hệ thống quan điểm, chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài Từ thực tế hoạt động công tác này rút ra những bài học kinh nghiệm nhằm thúc đẩy công tác tiến lên một bước về chất, đáp ứng tầm phát triển của cách mạng Việc nêu lên những cơ sở lý luận từ những hoạt động thực tiễn phong phú trong gần nửa thế kỷ qua, đặc biệt từ 1986 trở lại đây không chỉ nhằm làm phong phú thêm thực tiễn mà còn cần thiết để đáp ứng các yêu cầu ngày càng cao trong hoàn cảnh công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài không ngừng được đổi mới nhằm theo kịp những chuyển biến nhanh chóng về mọi mặt

Công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài có ý nghĩa chiến lược, góp phần tăng cường sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng; bảo vệ an ninh từ xa, đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống lại đất nước của bọn phản động người Việt ở nước ngoài; tăng cường quan hệ hữu nghị giữa nước

ta với các nước, củng cố vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế; khai thác mọi tiềm năng và lợi thế của kiều bào phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Chọn đề tài “Đảng lãnh đạo công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài từ năm 1986 đến năm 2005” làm đề tài luận văn thạc sỹ khoa học lịch sử, chuyên ngành

lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam là góp phần tạo sự chuyển biến đối với công tác này

Trang 4

trong tình hình mới Qua đó, đánh giá một cách khách quan những thành tựu, hạn chế của công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài, góp phần bổ sung, hoàn thiện đường lối đổi mới của Đảng là hết sức cần thiết Những kinh nghiệm rút ra từ việc lãnh đạo thực hiện công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài trong những năm 1986-2005 có tác dụng thiết thực phục vụ cho việc tổng kết sự lãnh đạo của Đảng trong những năm đổi mới đất nước

2 Tình hình nghiên cứu

Thực tiễn công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài gần một thế kỷ qua bộc lộ tình hình sau: Trong khi những hoạt động thực tiễn là hết sức phong phú và hiệu quả thì việc nghiên cứu về cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài và về công tác đối với cộng đồng chưa được quan tâm đầy đủ, chưa theo kịp sự phát triển của tình hình Công tác hồ sơ tư liệu, ghi chép lịch sử, sự kiện không liên tục, chặt chẽ, việc đúc kết, tổng kết để nêu lên những bài học kinh nghiệm chưa được chú trọng thúc đẩy Thực tế

là cho đến nay có rất ít các công trình nghiên cứu về lĩnh vực công tác này kể cả ở trong nước và ngoài nước

Nghiên cứu những vấn đề về người Việt Nam ở nước ngoài có các công trình:

“Thuyền nhân Việt Nam định cư hay hồi hương” của Vũ Ngọc Bình, Nxb Chính

trị quốc gia, năm 1996 Trong cuốn sách, tác giả chủ yếu nghiên cứu những vấn đề về người tị nạn trên thế giới; về thuyền nhân Việt Nam và quá trình ra đi cũng như hồi hương của họ; về luật pháp quốc tế và luật pháp Việt Nam đối với thuyền nhân Cuốn sách đã thống kê nhiều số liệu về người tị nạn trên thế giới và thuyền nhân Việt Nam Đặc biệt những số liệu về người Việt Nam vượt biên bằng đường biển, số người hồi hương, số người còn trong các trại tị nạn ở Hồng Kông và một số nước Đông Nam á,

số người đã được đi định cư ở nước thứ ba từ năm 1975 đến năm 1996 Tư liệu được tác giả lấy từ các nguồn của Bộ Lao động – Thương binh và xã hội, Cao ủy Liên hợp quốc về Người tị nạn (UNHCR), Tổ chức Di dân quốc tế (IOM) và Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF)

Cuốn “Người Việt Nam ở nước ngoài” của tác giả Trần Trọng Đăng Đàn, Nxb

Chính trị quốc gia, năm 1997 Đây là một chuyên khảo nghiên cứu công phu với hệ

Trang 5

thống tư liệu phong phú, sinh động đề cập đến nhiều vấn đề trên các mặt, các lĩnh vực khác nhau trong đời sống kinh tế, chính trị, tư tưởng, văn hóa, xã hội…của người Việt Nam ở nước ngoài từ trước cho đến những năm đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX Tác giả trình bày bản khảo cứu về người Việt Nam ở nước ngoài theo từng vùng kiều cư: Tây

Âu, Bắc Mỹ, Liên Xô trước đây và Đông Âu, Ôtxtrâylia và Đông Nam á; theo từng nhóm người: trí thức, sinh viên, doanh nghiệp, văn nghệ sĩ, lao động…

Bên cạnh đó, các đề tài: “Thực trạng và một số giải pháp thu hút đầu tư của

người Việt Nam định cư ở nước ngoài”; “Công tác vận động người Việt Nam ở nước ngoài thực tiễn và một số cơ sở lý luận” của ủy ban về người Việt Nam ở nước ngoài

đã từng bước nghiên cứu vấn đề Đề tài thứ nhất chủ yếu nghiên cứu về tiềm năng và môi trường đầu tư liên quan tới người Việt Nam định cư ở nước ngoài, kinh nghiệm một số nước trong việc thu hút đầu tư của kiều dân Nhóm tác giả đã nêu lên thực trạng đầu tư tại Việt Nam của người Việt Nam ở nước ngoài; đồng thời đánh giá những kết quả đã đạt được, những tồn tại yếu kém và nguyên nhân; từ đó đề ra một số giải pháp nhắm thu hút đầu tư của người Việt Nam ở nước ngoài vào Việt Nam Đề tài thứ hai trình bày lược sử công tác vận động người Việt Nam ở nước ngoài từ năm

1930 đến năm 2002 Tiếp đó là phân tích một số vấn đề nổi cộm trong công tác như: tổ chức, cốt cán và phong trào Việt kiều yêu nước, đấu tranh chống bọn phản động người Việt, huy động đóng góp của kiều bào, thông tin văn hóa cho cộng đồng và nêu ra một

số kinh nghiệm trong việc thực hiện chính sách của Nhà nước đối với người Việt Nam

ở nước ngoài

Liên quan tới chủ đề, thời gian qua, còn có một số bài đăng trên các tạp chí Cộng sản, Quê hương, Thông tin đối ngoại; trên các báo Nhân Dân, Đại đoàn kết, Tiền

phong…Đáng chú ý là các bài viết của tác giả Nguyễn Phú Bình như: “Tiềm năng

cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài” (Tạp chí Quê hương, số 10, năm 2004),

“Công tác vận động người Việt Nam ở nước ngoài và những bài học thực tế” (Tạp chí

Cộng sản, số 2, tháng 1-2005), “Những chuyển biến tích cực trong công tác vận động

cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài năm 2005”(Tạp chí Cộng sản, số 2+3, năm

2006)…Trên sách, báo của người Việt Nam ở nước ngoài có nhiều bài đề cập đến khía cạnh này hay khía cạnh khác của vấn đề Đảng lãnh đạo công tác đối với người Việt

Trang 6

Nam ở nước ngoài, nhưng chưa có các công trình nghiên cứu khoa học, hệ thống Một

số tác giả người nước ngoài cũng đã có những công trình về người Việt Nam ở nước ngoài hoặc liên quan đến người Việt Nam ở nước ngoài Tác giả Trần Trọng Đăng

Đàn, trong cuốn Người Việt Nam ở nước ngoài cho biết ở Pháp có nhà dân tộc học

Georges Boudarel, giáo sư đại học Pari VII, đã có một công trình nghiên cứu về người

Việt Nam ở nước ngoài và hoàn cảnh lưu vong của họ ở Mỹ, ký giả Sonni Efron đã

thực hiện một phóng sự điều tra về thực trạng của cộng đồng người Việt Nam tại Mỹ sau 15 năm, đăng trên tờ “Los Angeles Times” năm 1990 Tại các nước thuộc Liên Xô trước đây và Đông âu có giáo sư, tiến sĩ N.I.Niculin- nhà Việt Nam học nổi tiếng đã để gần như suốt cả cuộc đời hơn 40 năm nghiên cứu khoa học của mình cho Việt Nam trong đó có nhiều công trình nghiên cứu về Việt kiều tại đây…

Nhìn chung ở từng chừng mực về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài từ năm 1986 đến năm 2005 đã được đề cập trong những công trình kể trên Tuy nhiên cho đến nay chưa có một công trình nghiên cứu nào chuyên về Đảng lãnh đạo công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài từ năm 1986 đến năm 2005

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

* Mục đích của luận văn:

Nhận thức rõ vai trò của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài và quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài Góp phần củng cố và tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc, đoàn kết giữa người Việt Nam ở trong nước với cộng đồng người Việt Nam sinh sống ở nước ngoài phấn đấu vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh

* Nhiệm vụ của luận văn:

-Làm rõ thực trạng tình hình, vai trò của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài đối với sự nghiệp đổi mới, xây dựng đất nước

-Nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với một lĩnh vực công tác mới và rất quan trọng là công tác với người Việt Nam ở nước ngoài Nêu bật quan điểm, chủ trương đúng đắn và nhất quán của Đảng đối với đồng bào Việt Nam định cư ở nước ngoài

Trang 7

-Khẳng định những thành công, hạn chế và kinh nghiệm lãnh đạo của Đảng đối

với công tác người Việt Nam ở nước ngoài

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là quá trình lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài từ năm 1986 đến năm

2005

- Phạm vi của luận văn là tập trung nghiên cứu nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài từ 1986 đến 2005 Các lĩnh vực công tác khác có liên quan mật thiết đến công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài như công tác vận động quần chúng của Đảng, Chiến lược đại đoàn kết dân tộc cũng được đề cập trong luận văn với mục đích so sánh hỗ trợ để nêu bật đặc thù của công tác đối với người Việt Nam

ở nước ngoài của Đảng

5 Cơ sở lý luận, nguồn tư liệu, phương pháp nghiên cứu

- Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác dân vận và đại đoàn kết dân tộc Các quan điểm lớn của Đảng và Nhà nước cũng như các chủ trương, chính sách về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài cũng là cơ sở lý luận của công trình nghiên cứu Về mặt thực tiễn, luận văn dựa trên thực tiễn mọi mặt đời sống của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài và thực tiễn công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài từ 1986 đến 2005

- Nguồn tư liệu để thực hiện luận văn này bao gồm:

+ Các văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng lần thứ VI, VII, VIII, IX; những chỉ thị, nghị quyết, quyết định, nghị định của Trung ương, Bộ Chính trị và Chính phủ về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài; về đại đoàn kết dân tộc;

về Mặt trận; về dân vận trong thời kỳ đổi mới

+ Những công trình nghiên cứu khoa học có liên quan đã được công bố

+ Báo Nhân Dân, báo Đại đoàn kết, tạp chí Cộng sản, báo Tiền phong, tạp chí Quê hương điện tử

- Luận văn sử dụng phương pháp lịch sử và phương pháp lô gích là chủ yếu Đồng thời kết hợp sử dụng một số phương pháp khác như thống kê, so sánh, đối chiếu nhằm làm nổi bật quá trình lãnh đạo công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài

của Đảng từ 1986 đến 2005

Trang 8

6 Đóng góp mới về khoa học của luận văn

- Trình bày có hệ thống, làm rõ tính đúng đắn, nhất quán trong đường lối, chủ trương, chính sách và tổ chức thực hiện công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài của Đảng từ 1986 đến 2005

- Bước đầu nêu lên một số kinh nghiệm thực tiễn góp phần làm tốt hơn công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài trong thời gian tới

7 Bố cục luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận văn được gồm 2 chương 5 tiết

Trang 9

Chương 1

sự lãnh đạo của đảng cộng sản Việt Nam

về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài

(1986 – 1993)

1.1 tình hình cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài

1.1.1 Hoàn cảnh lịch sử người Việt Nam ra nước ngoài

Đã có nhiều cách gọi người Việt Nam ở nước ngoài như “Việt kiều”, “kiều bào”, “người Việt Nam ở nước ngoài”, “người Việt Nam định cư ở nước ngoài”…Trong thực tiễn và ngay cả trong những văn bản pháp quy các khái niệm này luôn gắn liền với công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài

Khái niệm Việt kiều là khái niệm được sử dụng một cách rộng rãi và cũng là

danh từ sớm được sử dụng trong các văn bản chính thức Điều 36 Hiến pháp 1959, Điều 75 Hiến pháp 1980 quy định “Nhà nước bảo hộ quyền lợi chính đáng của Việt kiều” Tiền thân của ủy ban về người Việt Nam ở nước ngoài hiện nay cũng gọi là Ban Việt kiều Trung ương

Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, kiều bào ta ở nước ngoài đã có nhiều đóng góp về sức người, sức của Lúc này khái niệm “Việt kiều” được sử dụng rộng rãi trong tên gọi của các phong trào Việt kiều yêu nước Sau nam 1975, số người di tản ra nước ngoài ồ ạt Những người này ngại nhận mình là Việt kiều vì sợ lẫn với các phong trào Việt kiều yêu nước trước đó Do những mặc cảm về hoàn cảnh ra đi, thái độ với chế độ mới ở trong nước, họ thường nhận là

“người Việt tị nạn”, “người Việt hải ngoại”, “cộng đồng người Việt tự do”… Tại Nga

và các nước Đông âu, những người Việt Nam ở đây dù đã định cư cũng không muốn coi mình là Việt kiều vì mặc cảm cho rằng Việt kiều chỉ để chỉ những người Việt Nam

ở các nước tư bản phương Tây và sợ lẫn với người Việt tị nạn ở các nước này

Từ điển tiếng Việt 1997 chú giải từ “kiều” chỉ là “Yếu tố ghép sau một danh từ riêng, tên gọi một dân tộc, để cấu tạo danh từ, có nghĩa “Kiều dân”, ví dụ Hoa kiều, Việt kiều ở Mỹ Về ngôn ngữ từ “kiều” mang ý xa xôi, sống phiêu bạt ở nước ngoài

Như vậy việc sử dụng khái niệm “Việt kiều” hiện tại ít nhiều tạo ra những mặc cảm đối với cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài

Trang 10

Hiến pháp 1992 đã sử dụng khái niệm “người Việt Nam định cư ở nước ngoài” thay thế cho khái niệm “Việt kiều” Cho đến nay hầu hết các văn bản chính thức của Đảng và Nhà nước, văn bản pháp quy ban hành đã không dùng khái niệm “Việt kiều” nữa

Khái niệm kiều bào là khái niệm được sử dụng nhiều trong các nghị quyết của

Đảng, phát biểu của các nhà lãnh đạo Đảng và Nhà nước Từ điển tiếng Việt năm 1997 nói “Kiều bào là người dân nước mình sinh sống ở nước ngoài” Tuy nhiên trong thực

tế người ta không sử dụng kiều bào để chỉ những người Việt Nam đi lao động, học tập

có thời hạn ở nước ngoài

Khái niệm người Việt Nam định cư ở nước ngoài lần đầu tiên được giải thích

một cách chính thức trong Luật Quốc tịch Việt Nam 1998 Điều 2, Khoản 4 của Luật nêu rõ: “Người Việt Nam định cư ở nước ngoài là công dân Việt Nam và người gốc Việt Nam cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài ở nước ngoài” [63, tr.12] Định nghĩa này cũng chỉ mang tính ước lệ Trong thực tế để xác định rõ quy chế định cư của người Việt Nam ở nước ngoài, người ta thường phải xem xét trong từng trường hợp cụ thể trên cơ sở các giấy tờ của đương sự, các mối quan hệ, luật pháp nước sở tại

Khái niệm người Việt Nam ở nước ngoài được sử dụng phổ biến hiện nay Năm

1993 Ban Việt kiều Trung ương cũng đổi tên thành ủy ban về người Việt Nam ở nước ngoài Điều 2, Khoản 3 Luật Quốc tịch Việt Nam 1998 định nghĩa: “Người Việt Nam

ở nước ngoài là công dân Việt Nam và người gốc Việt Nam thường trú hoặc tạm trú ở nước ngoài” [63, tr.12] Có thể nói, đây là khái niệm rộng nhất, bao hàm tất cả các đối tượng người Việt Nam không phụ thuộc vào yếu tố quốc tịch hay cư trú

Trong thực tiễn chúng ta gặp nhiều khái niệm khác nhau để chỉ người Việt Nam

ở nước ngoài Tuy nhiên, cho đến nay, một số khái niệm lại chưa được định nghĩa một cách chính thức và đầy đủ Tình trạng này đã gây không ít khó khăn trong công tác xây dựng chính sách, trong thực tiễn áp dụng pháp luật cũng như trong công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài Thực tế này xuất phát từ tình trạng phức tạp về quốc tịch của kiều bào Vì vậy những khái niệm để chỉ người Việt Nam ở nước ngoài còn là vấn đề cần được hệ thống, nghiên cứu hơn nữa và phải được luật hóa trong tương lai

Trang 11

Cuối thế kỷ XIX và nhất là đầu thế kỷ XX số người Việt Nam ra nước ngoài tăng lên về số lượng và đặc biệt là về chất lượng Cùng với việc mở rộng kiều cư ra các nước châu á là các phong trào hoạt động yêu nước mà rầm rộ nhất là phong trào Đông du Phan Bội Châu hoạt động tại Nhật Bản và Trung Hoa từ năm 1904 cho đến năm 1925; cũng từ năm 1904, Tăng Bạt Hổ xuất dương sang Nhật mưu đồ cứu nước, rồi bôn ba ngót 20 năm ở Nhật Bản, Trung Quốc, Thái Lan và đến cả nước Nga; Nguyễn Thượng Hiền từ năm 1907 và Phạm Hồng Thái từ năm 1918 đã trở thành một chí sĩ người Việt Nam ở nước ngoài chiến đấu cho độc lập dân tộc và hy sinh ở Trung Quốc…Bên cạnh sự hoạt động của người Việt Nam ở nước ngoài thuộc các nước phương Đông người Việt Nam ở các nước phương Tây cũng có nhiều hoạt động sôi nổi Có một số nhân vật lỗi lạc đã trở thành niềm tự hào của người Việt Nam ở nước ngoài đó là Phan Chu Trinh, Phan Văn Trường, Nguyễn An Ninh …và đặc biệt là Nguyễn Tất Thành Từ năm 1911, Người đã sống và hoạt động cách mạng trên các châu lục và trở thành Nguyễn ái Quốc- một nhà cách mạng vĩ đại của dân tộc Việt Nam

Trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp 1945-1954, nhiều người Việt Nam yêu nước đã vượt biển đến vùng đông bắc Thái Lan để hoạt động chống thực dân Pháp Cùng thời gian này, một số người Việt Nam khác cũng bị thực dân

Trang 12

Pháp đưa sang Lào và Campuchia làm phu đồn điền Thời kỳ Mỹ xâm lược Việt Nam 1954-1975 số người Việt Nam ra nước ngoài tăng hơn, chủ yếu là để học tập và một phần là ra đi để trốn quân dịch Cho đến khi Mỹ thất bại ở miền Nam Việt Nam, toàn

bộ ngụy quyền, ngụy quân sụp đổ thì cả một làn sóng di cư ồ ạt từ Việt Nam ra nước ngoài, mà trước hết là đến Mỹ, Canada, ôxtrâylia, Pháp…đã làm cho số lượng người Việt Nam ở nước ngoài tăng vọt

Những năm 1975-1980, cuộc di cư ồ ạt do thất bại của Mỹ ở Việt Nam đã trở thành những đường dây vượt biên theo nhiều cách Tiếp đó là số người đi ra nước ngoài do sự kiện xung đột quân sự tại biên giới phía Bắc và những biến động tại Campuchia, tại mặt trận biên giới Tây Nam; có một phần nhỏ đi bằng đường bộ, nhưng chủ yếu đi bằng đường thủy và họ được gọi là “thuyền nhân” Theo thống kê của Cơ quan Cao ủy tị nạn Liên hợp quốc (UNHCR) thì từ năm 1975 đến năm 1991,

có hơn một triệu người Việt Nam di cư ra nước ngoài Năm 1979 là năm có người ra đi nhiều nhất (khoảng hơn 20 vạn người), trung bình có hơn 1,5 vạn mỗi tháng Số người này đến Hồng Kông, Thái Lan, Malaixia, Philippin, Inđônêxia, Nhật Bản và chính quyền ở đây chỉ cho “tạm trú” trong các trại tị nạn để được chọn chuyển đi định cư ở nước thứ ba Và cũng theo UNHCR cho biết đến tháng 2-1985, các nước phương Tây

đã tiếp nhận 555.573 “thuyền nhân” từ các tỉnh, thành thuộc miền Nam Việt Nam

Nhìn một cách tổng quát, lịch sử di dân của người Việt Nam ra nước ngoài gắn chặt với lịch sử cùng những biến cố lớn của đất nước và của thế giới Quá trình di dân

ra ngoài nước Việt Nam có kèm theo quá trình hồi hương của người Việt Nam từ nước ngoài về nước (chúng tôi sẽ đề cập ở phần sau) Lịch trình di dân càng về sau càng sôi động và đặt ra nhiều vấn đề mới không chỉ thuộc phạm vi quốc gia mà là cả quốc tế

1.1.2 Thực trạng của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài

Cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là một cộng đồng phức tạp về thành phần xã hội, xu hướng chính trị, địa vị pháp lý, thế hệ và đa dạng về nghề nghiệp, tôn giáo, dân tộc… Sự phức tạp này cũng rất khác nhau giữa các địa bàn và thể hiện dưới những nét chủ yếu sau:

Trang 13

-Số lượng, phân bố: tính đến năm 2004 có khoảng 2,7 triệu người Việt Nam

đang làm ăn sinh sống ở gần 90 nước và vùng lãnh thổ, trong đó hơn 4/5 sống ở các nước phương Tây Tập trung ở Mỹ khoảng 1300.000 người, Pháp khoảng 300.000 người, ôxtrâylia khoảng 250.000 người, Canađa khoảng 200.000 người Campuchia, Thái Lan, Nga và Đức mỗi nước khoảng 100.000 người… [6, tr.77-78] Có thể phân chia cộng đồng làm 3 khu vực với những điểm khác biệt tương đối rõ:

Số lượng và sự phân bố người Việt Nam ở các nước Tây Âu, Bắc Mỹ, Nhật và Ôxtrâylia chịu ảnh hưởng rất nhiều bởi sự kiện Mỹ thất bại tại Việt Nam hồi tháng 4-

1975 Những Việt kiều tới đây chủ yếu sau sự kiện này, với mục đích định cư lâu dài

và họ cư ngụ tập trung thành một vùng riêng biệt, điển hình nhất là ở Mỹ Phần lớn cộng đồng đã hòa nhập, ổn định về địa vị pháp lý và kinh tế, có tiềm năng về tri thức,

có khả năng giúp mở rộng quan hệ, mở thị trường Tuy vậy đây cũng là nơi tập trung nhiều người có quan hệ với chính quyền cũ hoặc gắn bó quyền lợi với chế độ thực dân, thù hận, mặc cảm với chính quyền cách mạng

Khu vực các nước láng giềng Lào, Campuchia, Thái Lan, Trung Quốc, một số nước Đông Nam á cộng đồng hình thành sớm, gắn bó với trong nước, tinh thần cách mạng cao, có nhiều đóng góp cho các cuộc kháng chiến của dân tộc Nhìn chung điều kiện kinh tế kiều bào nơi đây còn khó khăn hơn các khu vực khác, ít người được học cao

Trong khi đó kiều bào ở các nước thuộc Liên Xô trước đây và Đông Âu lại có những nét đặc thù riêng Cộng đồng hình thành chủ yếu sau năm 1990 kể từ khi chế độ XHCN ở các nước trên không còn, phần lớn là cán bộ, học sinh được cử đi công tác, học tập và lao động đã ở lại Những năm 1980-1989 ở đây mới có khoảng 2000 người Năm 1990 tăng lên 6000 người và hiện nay ước tính có khoảng 300.000 người [19, tr.34] Tỷ lệ người có xu hướng định cư lâu dài ở một nơi nào đó là rất nhỏ, nhiều người không có giấy phép cư trú, tư cách pháp lý yếu Không ít người đã qua đào tạo,

có trình độ học vấn nhưng chuyển sang kinh doanh, nhạy bén với thị trường, có vốn đầu tư về nước và là đầu mối đưa hàng Việt Nam vào thị trường này Tâm lý chung

Trang 14

và dành dụm một phần để giúp đỡ người thân trong nước

- Về quy chế pháp lý: Đánh giá chung về cộng đồng người Việt Nam ở nước

ngoài cho thấy, tại các nước có đông người Việt Nam sinh sống, phần lớn thủ tục xin nhập quốc tịch ít phức tạp, do nhu cầu làm ăn, sinh sống, tỷ lệ người Việt Nam đã có quốc tịch nước sở tại khá cao, hiện có khoảng 80% kiều bào ở Mỹ, Pháp, ôxtrâylia…đã nhập quốc tịch nước sở tại Những người chưa có quốc tịch sở tại đều hưởng quy chế định cư hoặc tạm cư Số người bất hợp pháp ít Định cư lâu dài và gia nhập quốc tịch nước sở tại sẽ tiếp tục gia tăng trong cộng đồng người Việt Nam ở các nước phát triển Điều này giúp cho người Việt Nam có cơ hội thành đạt hơn, sẽ xuất hiện nhiều người giàu có, nhiều người có bằng cấp khoa học và giữ các chức vụ cao trong hệ thống chính trị của nước sở tại

Bên cạnh đó, chỉ có một bộ phận người Việt Nam ở Nga và các nước Đông âu

có quy chế định cư, số có quốc tịch không đáng kể, vẫn còn nhiều người không có quy chế định cư hoặc giấy tờ hợp pháp Người Việt Nam tại các nước này, tuy đã đạt được một số thành tựu kinh tế ban đầu, nhưng số đông vẫn chưa xác định lập nghiệp, định

cư lâu dài; thêm vào đó, một số người mới sang thăm thân nhân, du lịch ở lại bất hợp

Trang 15

Chính sách đổi mới, mở cửa đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc đi lại, cho bà con kiều bào ở nước ngoài hướng về Tổ quốc và người trong nước đi ra nước ngoài Trong những năm qua, đã có hàng trăm nghìn người Việt Nam ra nước ngoài lao động, học tập, tu nghiệp; mỗi năm cũng có hàng chục nghìn người Việt Nam kết hôn với người nước ngoài hoặc được người nước ngoài nhận làm con nuôi, cũng như hàng nghìn người khác ra nước ngoài để đoàn tụ gia đình, chưa kể một bộ phận ra nước ngoài thăm thân nhân, vì những lý do khác nhau ở lại…

- Về đời sống kinh tế: Do nhu cầu cuộc sống, khoảng 2/3 số kiều bào đã nhập

quốc tịch nước ngoài Mức sống của kiều bào thuộc loại trung bình thấp hoặc trung bình so với mức sống của người dân sở tại; đa số làm thuê; số giàu có với mức vốn vài triệu USD trở lên còn ít Các doanh nghiệp của kiều bào chủ yếu phục vụ trong cộng đồng, khả năng vươn ra cạnh tranh thị trường bên ngoài còn yếu; thậm trí ngay tại một

số khu vực tập trung đông người Việt Nam sinh sống như ở Mỹ, Canada, ôxtrâylia, Pháp, Cộng hòa liên bang Đức, khu vực Đông âu, Thái lan, Campuchia… các doanh nghiệp, cửa hàng, cửa hiệu buôn bán của kiều bào đã và đang bị các thế lực kinh tế của một số cộng đồng kiều dân khác cạnh tranh, lấn át

Tuy nhiên người Việt Nam ở nước ngoài đã có một quá trình tích lũy vốn và kinh nghiệm, đủ khả năng đầu tư về Việt Nam chủ yếu ở mức độ quy mô với số vốn một vài trăm nghìn USD, trong đó có một số ít doanh nghiệp đầu tư với mức vốn khoảng một vài triệu USD Lượng kiều hối bà con gửi về trong những năm trở lại đây

Trang 16

tăng mạnh trung bình khoảng 10%/năm (năm 2004 là 3,5 tỷ USD) Ngoài ra kiều bào còn tiến hành có hiệu quả một số hoạt động có tính chất môi giới, tìm đối tác và làm cầu nối hợp tác giữa doanh nghiệp nước ngoài với trong nước, góp phần thu hút thêm đầu tư của nước ngoài vào Việt Nam

- Tiềm năng về trí thức khoa học và công nghệ: nhiều nguồn tài liệu nêu con số

hiện có khoảng 300.000 chuyên gia, trí thức người Việt Nam ở nước ngoài (chiếm xấp

xỉ 10-15% cộng đồng) bao gồm người được đào tạo ở trình độ đại học và công nhân kỹ thuật bậc cao ở các nước công nghiệp phát triển, có kiến thức cập nhật về văn hóa, khoa học và công nghệ, về quản lý kinh tế Trong đó một số người có vị trí quan trọng trong các viện nghiên cứu, trường đại học, bệnh viện, công ty kinh doanh và các tổ chức quốc tế Tiềm lực về khoa học và công nghệ của thế hệ người Việt Nam ở nước ngoài không ngừng phát triển; trong đó một thế hệ trí thức mới người nước ngoài gốc Việt Nam đang hình thành và phát triển, nhất là ở các nước Bắc Mỹ, Tây Âu và châu

úc Đội ngũ này tập trung ở nhiều lĩnh vực khoa học chuyên ngành và kinh tế mũi nhọn như: tin học, viễn thông, điện tử, sinh học, quản lý kinh tế, chứng khoán… Ước tính

ở Mỹ hiện có hơn 150.000 trí thức người Việt, Pháp khoảng 40.000, Canada hơn 20.000, Ôtxtrâylia có 7.000 Trong khi đó ở các nước Đông Âu chỉ còn khoảng 5.000 trí thức, số đông đã chuyển sang hoạt động kinh doanh, ít người còn làm nghề gắn với chuyên môn được đào tạo [19, tr.77]

- Về đời sống văn hóa tinh thần: người Việt Nam ở nước ngoài là một cộng

đồng không nhỏ, có những nơi tập trung cao như ở Mỹ, Canada, ôxtrâylia, Pháp, Lào, Campuchia, Thái Lan…là môi trường thuận lợi cho việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, các sinh hoạt lễ hội truyền thống và tiếng Việt Từ trước tới nay, các sinh hoạt lễ hội truyền thống và việc dạy tiếng Việt chủ yếu do các hội đoàn trong cộng đồng đứng

ra tổ chức, chưa có sự hỗ trợ tích cực từ phía trong nước Nên nhìn chung, các hoạt động văn hóa dân tộc còn nghèo nàn, thiếu sinh động; mặt khác, một số hoạt động này

ở một số nước phương Tây còn mang màu sắc chính trị chống đất nước, do bị bọn phản động người Việt khống chế, lũng đoạn

Trang 17

Có khoảng 750 người Việt Nam ở nước ngoài hoạt động trên các lĩnh vực văn học, nghệ thuật (số liệu thống kê từ giữa những năm 90) tại các vùng kiều dân Việt Nam cư ngụ trên thế giới Trong đó phần lớn hoạt động ca nhạc, chưa kể các hoạt động có liên quan như sản xuất băng nhạc, đĩa nhạc, cải lương, nhạc cổ, chủ vũ trường, chủ tụ điểm karaoke… chỉ tính riêng số nhạc sĩ, nhạc công, ca sĩ hát tân nhạc đã có tới

525 người chiếm tỷ lệ tới 64,575% tổng số người hoạt động văn nghệ trong các vùng

có người Việt Nam cư ngụ tại nước ngoài [23, tr.328]

Một hiện tượng khá phổ biến và cũng là điểm yếu trong xã hội kiều bào là tính liên kết cộng đồng, gắn bó tương trợ nhau không cao và trong nhiều gia đình chưa có

sự chăm lo đúng mức về việc giữ gìn bản sắc dân tộc, nên thế hệ trẻ sinh trưởng ở nước ngoài có xu hướng xa dần ngôn ngữ và các giá trị văn hóa dân tộc Việt Nam, đặc biệt là tiếng Việt – một trong những cơ sở quyết định trong việc duy trì bản sắc dân tộc

- Tình hình thông tin và thái độ chính trị của cộng đồng đối với đất nước Trong

cộng đồng có khoảng 3/4 số người thuộc diện “di tản” vào cuối cuộc chiến tranh 1975) hoặc “vượt biên” thời kỳ đất nước khó khăn nhất (1978 – 1982), trong đó một số lượng đáng kể đã từng phục vụ, gắn bó với chế độ Sài Gòn trước đây và nhập cư với thân phận “tỵ nạn chính trị”, tiếp đến là những người đi theo Chương trình ra đi có trật

(4-tự (the Orderly Departure Programme - ODP) Chương trình này tạo ra một cách ra đi

có thể thực hiện được cho những ai muốn ra đi thay cho việc ra đi lén lút bất hợp pháp

để định cư ở nước ngoài, được áp dụng cho những người có nguyện vọng, nhu cầu xuất cảnh ra nước ngoài sinh sống và đoàn tụ gia đình trong trật tự và an toàn Người

ra đi được nhập cảnh trong khuôn khổ, luật lệ của những nước mà họ tới Chương trình này do các tổ chức quốc tế, các nước có liên quan và Việt Nam tổ chức nhằm góp phần giải quyết vấn đề tị nạn ở Việt Nam Chương trình hợp tác đa phương này do Việt Nam và UNHCR thỏa thuận và tiến hành từ tháng 5-1979 Sau 16 năm, đã có hơn 60 vạn người được xuất cảnh và đi định cư ở hơn 30 nước trên thế giới (chủ yếu ở Mỹ, Ôxtrâylia và Canada) Trong Chương trình ODP có 2 thành tố đáng kể được tiến hành theo sự hợp tác song phương giữa Việt Nam và Mỹ là: Hoạt động nhân đạo

Trang 18

(Humanitarian Operation - HO) và Trẻ lai Mỹ (Amerasian Children - AC) [12, tr.76,79] Vì những nguyên nhân ra đi nói trên, nên không ít người vẫn còn mặc cảm với quá khứ “vượt biên”, thành kiến nặng nề hoặc thiếu hiểu biết về chế độ mới, một

số ít còn mang trong mình tư tưởng hận thù cách mạng Có thể nói, đây là đặc thù khá điển hình của cộng đồng người Việt so với nhiều cộng đồng kiều dân khác trên thế giới (nhiều cộng đồng kiều dân có ít hoặc thậm chí không có sự đối lập về chính trị với

Sống trong hoàn cảnh môi trường như vậy, nhiều người Việt Nam ở nước ngoài không có cơ hội tiếp xúc với thông tin thật, nên chưa hiểu đúng về thực trạng tình hình đất nước, còn hoài nghi về công cuộc đổi mới, về chính sách đoàn kết dân tộc cũng như các chính sách khác của Đảng và Nhà nước ta đối với kiều bào Phần lớn những người chưa về nước lần nào đều giữ trong mình một hình ảnh đất nước Việt Nam nghèo khó sau chiến tranh, họ không hình dung được những thay đổi lớn lao của đất nước thời gian qua

Một thực tế khách quan không thể phủ nhận là, người Việt Nam ở nước ngoài tuy sống xa Tổ quốc nhưng vẫn mang trong mình tinh thần yêu nước, lòng tự hào, tự tôn dân tộc, luôn hướng về cội nguồn, dòng tộc, có tình cảm gắn bó với gia đình, quê hương xứ sở và đã có đóng góp công sức, của cải và cả xương máu cho sự nghiệp đấu

Trang 19

tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước Những đặc điểm đó ngày càng được củng cố và khích lệ bởi những thành tựu to lớn đạt được trong sự nghiệp đổi mới và thực hiện chính sách đối ngoại rộng rãi Thái độ chính trị trong cộng đồng đối với đất nước đang chuyển biến theo chiều hướng tích cực Ngày càng có đông đảo kiều bào hoan nghênh, công khai bày tỏ ý kiến ủng hộ công cuộc đổi mới, ủng hộ chính sách đại đoàn kết dân tộc của Nhà nước ta

Thực tế còn nhiều người Việt Nam ở nước ngoài (chủ yếu sống ở các nước phương Tây có chế độ chính trị khác ta) hoài nghi về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, thậm chí còn rất “dị ứng” khi nói đến những từ như cộng sản, xã hội chủ nghĩa Nhưng khi đề cập đến vấn đề dân tộc, đến mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam “độc lập dân tộc, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” thì có sự đồng thuận hơn và trên thực tế dư luận kiều bào ngày càng có sự nhìn nhận khách quan về những thành tựu do công cuộc đổi mới đất nước đem lại, về sự ổn định chính trị – xã hội và vai trò của Việt Nam trên trường quốc tế Tâm lý nguyện vọng chung của kiều bào là muốn ổn định cuộc sống, an phận làm ăn, đồng thời muốn duy trì quan hệ tình cảm với gia đình, quê hương, muốn được đối xử bình đẳng như người trong nước, cũng như quan tâm đến lợi ích trong quan hệ với đất nước

- Hoạt động của các tổ chức phản động người Việt ở nước ngoài: chúng tổ chức

các cuộc biểu tình, hô khẩu hiệu chống chế độ Việt Nam trước các cơ quan đại diện ta nhân dịp các ngày lễ 30-4, 2-9, ngày nhân quyền Quốc tế hoặc khi có các phái đoàn lãnh đạo cấp cao trong nước sang thăm, các đoàn dự hội thảo, hội chợ, triển lãm, du lịch, văn nghệ sang biểu diễn phục vụ kiều bào Bọn phản động tổ chức các cuộc diễu hành, các buổi dạ hội thanh niên, đêm biểu diễn “văn nghệ đấu tranh”, các chiến dịch vận động quyên tiền ủng hộ cuộc “đấu tranh” của đồng bào trong nước…Cầm đầu các hoạt động này thường là các tổ chức “Cộng đồng người Việt tự do” ở địa phương và hằng năm chúng vẫn xin được tài trợ của chính quyền địa phương để hoạt động

Bên cạnh đó, chúng tìm mọi cách khống chế, sử dụng các phương tiện thông tin đại chúng, xuyên tạc tình hình trong nước và triệt để sử dụng các vấn đề dân chủ, nhân quyền, tôn giáo, dân tộc để vu khống, bôi nhọ chế độ ta Các thủ đoạn phổ biến là:

Trang 20

xuyên tạc các “vụ việc” xảy ra ở một số địa phương như Thái Bình, Đồng Nai, Tây Nguyên; xuyên tạc hoặc tuyên truyền sai trái về xử lý của ta đối với một số nhân vật như Nguyễn Đan Quế, Trần Độ, Thích Huyền Quang, Thích Quảng Độ, Lê Quang Liêm, Nguyễn Văn Lý ; đưa các đối tượng được ta đặc xá đi tuyên truyền vu cáo ta ở các nơi; liên kết các tổ chức phản động ở một số địa bàn để tổ chức hội nghị, hội thảo

về nhân quyền chống Việt Nam, tìm cách tham gia phát biểu tại các diễn đàn, gửi kháng thư cho Liên Hợp quốc, tiếp xúc vận động hoặc gửi thư đến các nghị sĩ Quốc hội Mỹ và các nước phương Tây lên án ta vi phạm nhân quyền, kêu gọi có biện pháp can thiệp đối với ta; đòi cho phép treo cờ ngụy tại nơi công cộng ở một số thành phố

có đông người Việt Nam sinh sống; tìm cách móc nối, kích động các phần tử chống đối, “bất đồng chính kiến”, tạo dựng ngọn cờ, gây rối chính trị ở trong nước; âm mưu công khai hóa, hợp pháp hóa các tổ chức chính trị chống đối và quốc tế hóa các vụ việc phức tạp trong nước; phát tán rất nhiều tài liệu phản động, đồi trụy vào trong nước

Nguy hiểm hơn là các tổ chức phản động cực đoan đã tiến hành một số vụ chống đối quyết liệt, mang tính chất khủng bố, đe dọa nghiêm trọng đến tính mạng và tài sản của các cơ quan đại diện ta, như vụ đặt bom ở cơ quan đại diện ta tại Thái Lan, Philippin; đe dọa đặt bom tàu biển chở gạo từ Việt Nam tới Trung Đông; gây nổ ở ngoài tường cơ quan đại diện ta tại Campuchia; đốt phá cơ quan đại diện ta tại Anh, Pháp; rồi vụ ép buộc máy bay của Thái Lan vào rải truyền đơn trên vùng trời thành phố Hồ Chí Minh…

Mục tiêu hoạt động của các tổ chức phản động người Việt ở nước ngoài là, cố gắng tạo ra một hình ảnh xấu về Việt Nam trong dư luận cộng đồng quốc tế và kiều bào, cản trở các hoạt động đối ngoại của ta, làm xói mòn lòng tin của quần chúng đối với sự lãnh đạo của Đảng, làm suy yếu khối đại đoàn kết toàn dân, làm mất ổn định về chính trị xã hội, đi đến bạo loạn lật đổ chế độ Một số tổ chức phản động tích cực hoạt động theo dạng này là: Uỷ ban cứu trợ người vượt biên của Nguyễn Đình Thắng; mạng lưới nhân quyền của Nguyễn Thanh Trang (Mỹ); Uỷ ban bảo vệ quyền làm người Việt Nam của Võ Văn ái, Văn phòng liên lạc các hội đoàn người Việt tự do của

Trang 21

Trần Bình Tịnh, Liên minh Việt Nam tự do của Nguyễn Văn Đức, Giáo hội Phật giáo thống nhất hải ngoại của Thích Minh Tâm (Pháp); Cộng đồng người Việt tại Bỉ của Lê Hữu Đào; Liên minh Việt Nam tự do của Nguyễn Đình Tâm, Nhóm Thông tin nhân bản (Đức); Cộng đồng người Việt Nam tự do tại ôxtrâylia của Đoàn Việt Trung…

Nhìn chung, quy mô các hoạt động chống đối của các tổ chức phản động người Việt không lớn, không gây được sự chú ý của dư luận sở tại; số bị người mua chuộc, lôi kéo tham gia các hoạt động chống đối giảm dần; nội bộ của các tổ chức này mâu thuẫn, tranh giành quyền lực, liên kết lỏng lẻo và thường xuyên tố cáo, nói xấu nhau

về các thủ đoạn lừa bịp, ăn tiền của kiều bào Hiện chỉ có khoảng 40 tổ chức có thế lực

và hoạt động quyết liệt, trong đó nguy hiểm nhất là các tổ chức hoạt động có tính chất khủng bố, manh động Tuy nhiên, các âm mưu phá hoại, gây tiếng nổ, kích động bạo loạn ở trong nước đã hoàn toàn bị thất bại Nhưng được sự hỗ trợ của các thế lực thù địch phương Tây, các tổ chức phản động tiếp tục chống đối quyết liệt và nham hiểm, đòi hỏi chúng ta phải hết sức cảnh giác đề phòng

Trên cơ sở phân tích sâu sắc và toàn diện thực trạng của người Việt Nam ở nước ngoài có thể thấy xu thế chủ yếu trong cộng đồng hiện tại là:

Mặc dù sống xa Tổ quốc, đồng bào luôn nuôi dưỡng tinh thần yêu nước, tự tôn dân tộc, giữ gìn truyền thống văn hóa và hướng về cội nguồn, dòng tộc, gắn bó với gia đình, quê hương Nhiều người đã có những đóng góp về tinh thần, vật chất và cả xương máu cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước Thành tựu to lớn của nhân dân ta trong sự nghiệp đổi mới, duy trì ổn định chính trị - xã hội và không ngừng nâng cao vị thế của đất nước Việt Nam ở nước ngoài Đông đảo bà con hoan nghênh công cuộc đổi mới và chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc của Đảng và Nhà nước, mong muốn đất nước cường thịnh, sánh vai với các quốc gia trong khu vực và trên thế giới; nhiều người đã về thăm gia đình, quê hương, tham gia các hoạt động đầu tư, kinh doanh, hợp tác khoa học, công nghệ, giáo dục, văn hóa, nghệ thuật, thể thao, nhân đạo, từ thiện… [37, tr.4]

Tuy nhiên, bên cạnh xu thế chủ yếu đó,

Trang 22

Người Việt Nam ở một số nước còn khó khăn trong việc ổn định cuộc sống, chưa được hưởng quy chế rõ ràng, thậm chí ở một số nơi còn bị kỳ thị, đời sống vật chất còn gặp nhiều khó khăn Một bộ phận chưa có dịp về thăm đất nước, tận mắt thấy được những thành tựu của công cuộc đổi mới hoặc do thành kiến, mặc cảm nên chưa hiểu đúng về tình hình đất nước Một số rất ít đi ngược lại lợi ích của dân tộc, ra sức chống phá đất nước, phá hoại mối quan hệ hợp tác giữa nước sở tại với Việt Nam Tính liên kết cộng đồng, sự gắn bó giúp đỡ lẫn nhau trong cộng đồng chưa cao Còn thiếu các biện pháp duy trì, phát huy truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc, việc gìn giữ tiếng Việt và bản sắc dân tộc trong thế hệ trẻ còn khó khăn, nhu cầu giao lưu văn hóa cộng đồng với đất nước, giữ gìn và phát triển tiếng Việt trong cộng đồng là rất lớn và trở nên bức thiết, song chưa được đáp ứng đúng mức Sự đóng góp của bà con vào xây dựng đất nước, nhất là về tri thức, chưa tương xứng với tiềm năng của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài [37, tr.5]

Thực trạng người Việt Nam ở nước ngoài về cơ bản thể hiện trên những mặt mạnh và yếu sau: kiều bào phân bố rộng, phức tạp về thành phần xã hội nhưng luôn mang trong mình tinh thần yêu nước, luôn hướng về quê hương xứ sở Cộng đồng đang phát triển theo xu hướng ngày một ổn định và hòa nhập vào xã hội sở tại, có tiềm năng về tri thức, kinh nghiệm quản lý, vốn và công nghệ Ngày càng có đông đảo kiều bào hoan nghênh và ủng hộ công cuộc đổi mới trong nước và sẵn sàng đóng góp xây dựng quê hương Tuy vậy việc gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong cộng đồng có phần bị quên lãng, đặc biệt là tiếng Việt bị mai một theo thời gian Thế hệ trẻ người Việt Nam ở nước ngoài thành đạt, có trình độ về chuyên môn, khoa học, kỹ thuật nhưng lại ít hiểu biết về đất nước, về văn hóa dân tộc và tiếng Việt Một số nhỏ còn có thái độ chính trị tiêu cực đối với đất nước Thực chất các tổ chức phản động người Việt ở nước ngoài được sự tiếp tay của các thế lực thù địch, luôn tìm mọi cách lật đổ chế độ ta, phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Từ thực trạng của người Việt Nam ở nước ngoài đòi hỏi Đảng và Nhà nước ta cần có những chủ trương, chính

Trang 23

sách nhất quán, đúng đắn, phù hợp nhằm quy tụ kiều bào vào trong khối đại đoàn kết toàn dân, phát huy sức mạnh toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

1.2 chủ trương và sự chỉ đạo của đảng về Công tác đối với người Việt Nam

ở nước ngoài (1986-1993)

1.2.1 Lược sử, chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài

Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa

ra đời Ngay từ những ngày đầu lập nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kêu gọi, động viên đồng bào ta ở nước ngoài phát huy tinh thần yêu nước, tranh thủ nhân dân sở tại, ủng

hộ đất nước Trong thời gian phái đoàn Chính phủ Việt Nam sang đàm phán ở Fontainebleau (Pháp), nhiều bà con kiều bào đã tham gia phục vụ, bảo vệ phái đoàn, vận động dư luận và nhân dân Pháp ủng hộ nền độc lập của Việt Nam Một số trí thức kiều bào đã theo Hồ Chủ tịch về nước tham gia kháng chiến, làm khoa học như: Trần Đại Nghĩa, Phạm Ngọc Thạch, Đặng Văn Ngữ…Trong các lời kêu gọi, thư gửi, thư chúc Tết hằng năm, Hồ Chủ tịch không bao giờ quên những người con xa Tổ quốc

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Hiệp định Giơnevơ năm 1954 về việc lập lại hòa bình ở Việt Nam quy định Tổng tuyển cử, thống nhất đất nước Cùng với đồng bào trong nước người Việt Nam ở nước ngoài phấn khởi tham gia các phong trào vận động đòi thi hành Hiệp định Tại Pháp và nhiều nước, kiều bào đã xuống đường mít tinh, lấy chữ ký, vận động nhân dân và dư luận sở tại đấu tranh buộc Mỹ-Diệm thi hành Hiệp định, chống đàn áp những người kháng chiến Nhiều trí thức và kiều bào chuẩn bị hồi hương, đem kiến thức và tài sản về góp phần xây dựng đất nước

Tháng 11-1959 Ban Việt kiều Trung ương được thành lập, là một Hội đồng liên ngành, có nhiệm vụ nghiên cứu, đề nghị với Chính phủ những biện pháp và chính sách đón tiếp Việt kiều Thái Lan về nước theo Hiệp định Rangun ký giữa hai Hội Chữ thập

đỏ Việt Nam và Thái Lan Đây là lần đầu tiên một cơ quan chuyên trách về công tác kiều bào của Nhà nước được thành lập, đánh dấu một bước tiến mới trong công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài Trong thời gian từ năm 1960 đến 1964 đã có

Trang 24

khoảng 45.000 kiều bào ở Thái Lan được đón tiếp hồi hương về nước Cũng trong thời gian này phong trào Việt kiều ở Campuchia, Pháp, Thái Lan… được tăng cường, trở thành cầu nối phát triển công tác vận động kiều bào ra các địa bàn khác, thiết lập được

hệ thống nhiều tổ chức quần chúng có sự chỉ đạo, liên hệ chặt chẽ từ cơ sở đến trung ương Hình thành nhiều nhóm cốt cán và phong trào Việt kiều yêu nước vận động kiều bào ủng hộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước

Đại thắng mùa Xuân năm 1975, đất nước thống nhất đã tạo niềm phấn khởi với đông đảo kiều bào yêu nước Nhiều tổ chức Việt kiều yêu nước ra hoạt động công khai

và đổi tên thành Hội người Việt Nam tại Pháp, Mỹ, Canada, Đức…Cũng trong giai đoạn này số lượng Việt kiều tăng nhanh chóng do nhiều người di tản sau chiến tranh Thành phần cộng đồng cũng thay đổi mạnh, với nhiều người có quan hệ với chính quyền cũ hoặc gắn bó quyền lợi với chế độ thực dân, thù hận, mặc cảm với chính quyền cách mạng Các tổ chức phản động người Việt, được sự tiếp tay của các thế lực thù địch nước ngoài mọc lên như nấm, chống phá quyết liệt, tìm cách phục quốc

Giai đoạn từ năm1979 đến 1981 là giai đoạn khó khăn của công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài Làn sóng người di tản, vấn đề “thuyền nhân” tác động mạnh cả trong và ngoài nước Tâm tư kiều bào và nhận thức của trong nước có nhiều biến động, xuất hiện tâm lý đề phòng, quản lý chặt chẽ đối với Việt kiều và thân nhân Ban Việt kiều Trung ương đã tích cực hoạt động để giữ vững phong trào Việt kiều yêu nước, đồng thời phối hợp với các cơ quan liên quan chống các tổ chức phản động người Việt “chuyển lửa về quê hương” Ngày 4-10-1982, Ban Bí thư Trung ương

Đảng ra Chỉ thị số 09/CT-TW về công tác vận động người Việt Nam ở nước ngoài,

trong đó nhấn mạnh: Phong trào Việt kiều yêu nước là một lực lượng quần chúng cách mạng Việt Nam ở nước ngoài, là chỗ dựa của Đảng và Nhà nước ta trong công tác vận động đồng bào ta ở nước ngoài, là người trợ thủ trên mặt trận chính trị và ngoại giao của ta ở ngoài nước [1]…Thực hiện Chỉ thị của Ban Bí thư, công tác vận động kiều bào từng bước chuyển biến theo hướng tập trung xây dựng nồng cốt, hỗ trợ phong trào

Nhìn chung, cho tới trước năm 1986, đặc biệt là giai đoạn 1975-1986, do hoàn cảnh lịch sử, do tác động của khách quan và cả những điều kiện chủ quan, cùng những

Trang 25

Vào cuối năm 1987, Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam được Quốc hội khóa VIII thông qua Đến ngày 23-12-1992 có Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam Điều 1 của Luật nêu rõ: “Nhà nước bảo hộ và khuyến khích tổ chức, công dân Việt Nam, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài cư trú lâu dài ở Việt Nam đầu tư vào các lĩnh vực kinh tế – xã hội trên lãnh thổ Việt Nam theo quy định của pháp luật Việt Nam” [61, tr.219] Triển khai thực hiện quy định của Luật các văn bản dưới luật đã được ban hành để cụ thể hóa các biện pháp khuyến khích người Việt Nam định cư ở nước ngoài đầu tư về nước, như Nghị định số

29/CP ngày 16-4-1993 về những biện pháp khuyến khích người Việt Nam định cư ở

nước ngoài đầu tư về nước; Thông tư của Uỷ ban Nhà nước về hợp tác đầu tư và Ban

Việt kiều Trung ương số 497/TTLB ngày 24-3-1994 hướng dẫn Nghị định 29/CP của Chính phủ… Theo quy định của Luật, người Việt Nam định cư ở nước ngoài được lựa chọn hình thức đầu tư, lĩnh vực, ngành nghề hoạt động, quy mô vốn như các nhà đầu

tư nước ngoài khác, ngoài ra được hưởng một số ưu đãi dành riêng cho người Việt Nam định cư ở nước ngoài như: được giảm 20% thuế lợi tức phải nộp so với đầu tư của nước ngoài, mức thuế chuyển lợi nhuận ra ngoài là 5% (đầu tư nước ngoài từ 7-10%); khi về nước chuẩn bị cho việc đầu tư, kiều bào được cấp thị thực nhập cảnh có giá trị nhiều lần, trong thời hạn từ 3 tháng đến 6 tháng và có thể ra hạn từng 6 tháng một; trường hợp về nước để thực hiện giấy phép đầu tư kinh doanh được cấp thị thực

Trang 26

lo ngại tiền kiều hối sẽ tạo chênh lệch gây mất ổn định xã hội nên quản lý việc gửi và nhận tiền rất nghiêm ngặt, đặt ra quy định về sổ nhận tiền, nhận hàng, hạn chế số lần,

số tiền nhận, tỷ giá chi trả của Nhà nước rất thấp so với thị trường chợ đen Nhận rõ sự bất cập đó, ngày 10-4-1987, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng ra Quyết định số 126-CT về

việc sửa đổi bổ sung chế độ nhận tiền và hàng của người Việt Nam định cư ở các nước

ngoài hệ thống XHCN gửi về giúp gia đình Quyết định quy định: khuyến khích người

Việt Nam định cư ở nước ngoài gửi tiền hoặc tư liệu sản xuất hoặc hàng tiêu dùng thiết yếu về nước để giúp gia đình hoặc góp phần xây dựng đất nước; tiền gửi về có thể qua Ngân hàng hoặc các tổ chức do Ngân hàng ủy nhiệm; bãi bỏ mọi hạn chế về số lần và trị giá tiền gửi… Quyết định 126 mở ra một giai đoạn mới làm chuyển biến mạnh tình hình kiều hối Tiếp đó, năm 1988, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng ra Quyết định 270-CT

về việc nhận và chi trả kiều hồi bằng vàng nhằm đáp ứng yêu cầu nhiều người cần giữ

vàng khi tiền Việt mất giá

Cùng với chính sách khuyến khích gửi và nhận tiền - hàng nói trên, còn có nhiều chính sách khác đối với thân nhân trong nước của người Việt Nam ở nước ngoài như: Chính sách cho phép đoàn tụ gia đình (Chương trình ODP), Chính sách cho phép con lai xuất cảnh (Chương trình AC), Chính sách cho phép xuất cảnh có thời hạn để giải quyết việc riêng như thăm thân nhân, du học, du lịch, chữa bệnh, kết hôn… đã đáp ứng được nguyện vọng chính đáng của kiều bào và thân nhân ở trong nước

Tác động đến kiều bào và công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài thời

kỳ này không chỉ là cơ quan chuyên trách như Ban Việt kiều Trung ương hay Ban Đối ngoại Trung ương mà còn có nhiều cơ quan khác như: cơ quan quản lý xuất nhập cảnh, công an, hải quan, ngân hàng, chính quyền các cấp mà tâm lý chung là e dè, cảnh giác

Trang 27

chặt chẽ với Việt kiều Trong lúc kinh tế đất nước khó khăn thì Việt kiều còn là đối tượng để một số cán bộ biến chất sách nhiễu Việt kiều về nước theo hạn định trong vòng 3 tháng, chỉ được lưu trú ở địa phương đã đăng ký, muốn đi ngoại tỉnh phải xin phép, nhiều người bị xét hỏi vô cớ, gửi và rút tiền ở ngân hàng khó khăn, thân nhân trong nước là đối tượng quản lý, bị phân biệt đối xử, gây khó khi cần chứng nhận giấy tờ…Mỗi ngành vì yêu cầu quản lý của riêng mình có thể đưa ra những quy định có khi trái ngược thiếu tính đồng bộ, không thống nhất với chủ trương, phát biểu của lãnh đạo cấp cao về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài

Nhận thức rõ tầm quan trọng của công tác vận động kiều bào thông qua thân nhân, từ giữa những năm 80, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã chỉ đạo Ban Việt kiều Trung ương hướng dẫn một số địa phương có đông thân nhân kiều bào thành lập các Hội thân nhân kiều bào là các tổ chức tự nguyện, sinh hoạt về các vấn đề liên lạc, phát triển mối quan hệ giữa kiều bào với gia đình và đất nước Tiêu biểu là Hội thân nhân Việt kiều thành phố Nha Trang Hội được thành lập từ năm 1985 với các tên gọi lúc đầu là Ban liên lạc gia đình Việt kiều thành phố Nha Trang và Hội gia đình Việt kiều

Có thời điểm Hội đã quy tụ được hàng chục ngàn hộ gia đình có người thân định cư ở trên 30 nước trên thế giới với nhiều hoạt động thiết thực Sau Hội gia đình Việt kiều thành phố Nha Trang nhiều Hội thân nhân Việt kiều khác đã thành lập, trong đó có một số Hội hoạt động tốt và thu được những kết quả khả quan như: Hải Phòng, thị xã Phan Thiết, Vũng Tàu, Vĩnh Long… Nhiệm vụ chính đặt ra cho Hội thân nhân Việt kiều là: tổ chức các hoạt động nhằm tăng cường đoàn kết, tương thân, tương ái, bồi dưỡng tinh thần yêu nước của hội viên và thân nhân của họ ở nước ngoài Phổ biến các chủ trương, chính sách và pháp luật của Đảng và Nhà nước có liên quan đến Việt kiều, đến thân nhân Việt kiều, động viên ý thức làm chủ, thực hiện nghiêm túc luật pháp Phản ánh tâm tư, nguyện vọng của Việt kiều và thân nhân Việt kiều cho chính quyền

và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, làm cầu nối giữa Việt kiều với các ngành, các đoàn thể nhân dân ở địa phương Trên tinh thần đó các Hội thân nhân Việt kiều ở các địa phương đã giúp cải thiện quan hệ của thân nhân với chính quyền địa phương, động viên thân nhân đầu tư sản xuất, thông tin kịp thời và chính xác cho Việt kiều về tình

Trang 28

Bộ trưởng ra Chỉ thị số 165-HĐBT về chủ trương đối với người Việt Nam định cư ở

các nước XHCN Chỉ thị quy định những đối tượng trên được hưởng chính sách chung

đối với Việt kiều, được cấp hoặc gia hạn hộ chiếu, cấp các giấy tờ cần thiết để làm thủ tục về cư trú, xin việc làm, kết hôn, khai sinh…được xem xét giải quyết về thăm gia đình, quê hương hoặc trở về sinh sống ở quê hương Đây là lần đầu tiên Nhà nước ta công nhận điều này, chấm dứt tình trạng mọi liên hệ của người Việt Nam định cư ở các nước XHCN với trong nước bị coi là bất hợp pháp

Thông tin văn hóa không chỉ là món ăn tinh thần, nhu cầu thiết yếu, mà còn là công cụ sắc bén của công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài Đây cũng là mặt trận nóng bỏng, nơi diễn ra cuộc đấu tranh quyết liệt giữa những người làm công tác vận động, những hội và phong trào Việt kiều yêu nước với các thế lực thù địch và lực lượng người Việt phản động ở nước ngoài Trong số dòng người di tản sau năm 1975

có không ít những người là văn nghệ sĩ, nhà báo, những người từng làm việc trong bộ máy thông tin của chính quyền cũ… Hàng trăm tờ báo, tạp chí với đủ thể loại ra đời, hàng chục đài phát thanh truyền hình nhằm vào cộng đồng, phần lớn hòa giọng bôi đen tình hình trong nước, hô hào chống cộng Những tin tức, hình ảnh bi quan về tình hình khó khăn trong nước và phe XHCN, hình ảnh thuyền nhân được mọi phương tiện thông tin đại chúng phương Tây phát rầm rộ và là đề tài thường thấy trên khắp các báo chí tiếng Việt ở nước ngoài Điều đó đã tác động mạnh đến tâm tư, tình cảm, tư tưởng cộng đồng, chưa kể đến một bộ phận hội viên, cán bộ lãnh đạo phong trào Việt kiều yêu nước có thân nhân, gia đình trong số di tản, thuyền nhân, bị đưa đi học tập, cải tạo,

bị mất tài sản trong đợt cải tạo công thương ở trong nước…Một số tờ báo của các hội,

phong trào Việt kiều yêu nước như: tờ Đoàn Kết của Hội người Việt Nam tại Pháp,

Đất Việt của Hội đoàn kết Việt kiều Canada, Phù Sa của Hội đoàn kết sinh viên và

Trang 29

Việt kiều Tây Berlin… không còn phát huy được tác dụng như trước nữa Dù rất cố gắng thông tin, vận động nhưng tiếng nói của một bộ phận tích cực trong cộng đồng vẫn bị chìm trong đủ loại giọng điệu phản tuyên truyền Không chỉ tìm cách khống chế cộng đồng, thông tin của bọn phản động người Việt được sự tiếp tay tài trợ của các thế lực phản động quốc tế còn tìm mọi cách để xâm nhập vào trong nước Báo chí tài liệu tuyên truyền phản động được tuồn vào theo đường Việt kiều về nước, dấu trong hành

lý, trong thùng hàng quà biếu Băng đĩa, phim ảnh phản động, đồi trụy cũng về nước theo con đường này Một thời khắp nơi, chỗ nào cũng gặp các băng đĩa hải ngoại có chương trình của Chế Linh, Tuấn Vũ, Khánh Ly, Thanh Tuyền, Pari by nigh…

Trước tình hình trên, Ban Việt kiều Trung ương đã mở các lớp tuyên huấn cho cán bộ, nòng cốt của các hội và phong trào Việt kiều yêu nước; mở các đợt bồi dưỡng

về công tác tuyên huấn và báo chí cho các ủy viên Ban Chấp hành và cán bộ phụ trách công tác báo chí của các Hội Việt kiều yêu nước ở Pháp, Thụy Sĩ, CHLB Đức, Tây Berlin, Canada…Thời gian trung bình của các lớp huấn luyện là 10 ngày, kể cả đi thăm quan thực tế ở các cơ sở trong nước Nhà nước chi tiền ăn ở, đi lại trong thời gian

về học cho các đại biểu, đài thọ vé máy bay nội địa cho những người có khó khăn Từ năm 1979 đến năm 1987, Nhà nước đài thọ kinh phí và chỉ đạo Ban Việt kiều Trung ương gửi 20 loại sách báo xuất bản trong nước cho 23 địa bàn có đông người Việt Nam sinh sống Năm 1987 do không còn kinh phí, một số cá nhân và phong trào phải gửi tiền về nhờ đặt mua Năm 1988 các Hội và cá nhân ở Canada, Mỹ, Anh, Pháp, CHLB Đức, Thụy Sĩ, Bỉ, ý đặt mua; năm 1989 chỉ còn 4 Hội đặt, sang năm 1991 không còn Hội nào đặt mua báo Từ năm 1985 đến năm 1988, Ban Việt kiều Trung ương đã đặt mua và gửi cho các Hội tổng số 40.000 quyển sách (kể cả các địa bàn như Nhật, Tây Berlin, Lào, Campuchia) Hàng quý, Ban tổ chức các buổi sinh hoạt với các

cơ quan báo chí, tuyên truyền để thông tin về tình hình cộng đồng, thông báo những chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước đối với kiều bào, trao đổi việc phối hợp thông tin cho kiều bào Đồng thời Ban thường xuyên cung cấp thông tin về hoạt động của người Việt Nam ở nước ngoài cho các cơ quan báo chí, phát thanh, truyền hình để đưa tin Năm 1991, Ban bắt đầu ra Bản tin hàng tháng cung cấp thông tin về người

Trang 30

Việt Nam ở nước ngoài đến các cơ quan, ban, ngành, địa phương trong nước; tổ chức quay băng video về tình hình trong nước để gửi ra cho Việt kiều Cùng với Ban Việt kiều Trung ương, nhiều cơ quan thông tin, tuyên truyền, văn hóa đã phối hợp làm công tác vận động, hướng tới cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài Từ năm 1981, chương trình phát thanh dành cho đồng bào ở xa Tổ quốc của Đài tiếng nói Việt Nam phát sóng liên tục, mỗi ngày vài giờ cho đồng bào ở các nước thuộc khu vực Đông Nam á và châu Âu

Công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài gắn liền với việc xây dựng các

tổ chức nòng cốt, xây dựng cốt cán, tiến tới hình thành phong trào và hội Việt kiều yêu nước Trừ phong trào ở Pháp, Thái Lan có từ trước, hầu hết các phong trào Việt kiều yêu nước ở các nước đều bắt nguồn từ những hoạt động đấu tranh ủng hộ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, giành độc lập dân tộc của học sinh, sinh viên như ở Bỉ, Đức, Canada, Mỹ, Nhật…Ngày 30-4-1988, thành lập thêm Hội Việt kiều đô thành Phnôm Pênh Hội luôn chấp hành chủ trương, đường lối, luật pháp của Nhà nước Campuchia, tôn trọng tập quán của nhân dân địa phương, tuyên truyền để kiều bào luôn thương yêu đùm bọc, giúp đỡ lẫn nhau, trao đổi nghề nghiệp cho nhau, giáo dục con em mình hiểu biết văn hóa lịch sử Việt Nam và học tiếng Khơme, tạo điều kiện cho bà con ổn định cuộc sống, yên tâm làm ăn lâu dài ở Campuchia và hướng về Tổ quốc Tuy nhiên trong quá trình hoạt động Hội gặp phải không ít khó khăn, các phái Khơme đối lập, đặc biệt

là phái Khơme đỏ luôn nêu vấn đề người Việt Nam làm cái cớ để chúng không thực hiện các quy định và mưu đồ lật đổ Nhà nước Campuchia Chúng dùng người Việt làm ngòi nổ kích động hận thù dân tộc, gây xung đột sắc tộc, gây bạo loạn để chống lại chính quyền Năm 1992, chúng đã gây hàng loạt cuộc thảm sát Việt kiều ở nhiều nơi trên đất Campuchia Trước tình hình đó, Bộ Ngoại giao ta đã có thư gửi Tổng Thư ký Liên hợp quốc, phía UNTAC (Cơ quan quyền lực quá độ của Liên hợp quốc tại Campuchia và Sihanouk Đại sứ quán Việt Nam tại Campuchia đã kịp thời phối hợp với các cơ quan trong nước như Ban Việt kiều Trung ương, Bộ Ngoại giao… đấu tranh bằng mọi hình thức đòi các nhà lãnh đạo phải bảo vệ người Việt Nam làm ăn sinh sống tại Campuchia; tố cáo âm mưu của phái Khơme đỏ phản động sát hại người Việt, giải

Trang 31

bà con, vạch rõ âm mưu của phái đối lập, nhất là Khơme đỏ, đề ra các biện pháp cụ thể

về phòng chống khủng bố, tàn sát Việt kiều, động viên bà con yên tâm ở lại làm ăn, chấp hành tốt luật pháp nước sở tại, đoàn kết gắn bó với nhân dân và chính quyền địa phương [23, tr.34]

Cho đến trước năm 1989 các phong trào và các hội Việt kiều yêu nước vẫn đóng vai trò tích cực trong công tác vận động cộng đồng, là cầu nối của cộng đồng với đất nước, có nhiều hoạt động huy động kiều bào đóng góp, ủng hộ trong nước Thông qua sự giới thiệu hỗ trợ của Ban Việt kiều Trung ương có nhiều cuộc tiếp xúc, liên hệ với các cơ quan, địa phương, lãnh đạo trong nước, hỗ trợ có hiệu quả cho nhiều cơ quan giải quyết khó khăn về ngoại tệ, vật tư, thiết bị, trao đổi hợp tác nghiên cứu khoa học… Trong 15 địa bàn hoạt động của phong trào Việt kiều hướng về Tổ quốc thời gian đó thì phong trào ở Canada thuộc loại mạnh Kiều bào ở đây đã từng tổ chức được một Hội người Việt yêu nước với nhiều hoạt động tích cực và tạo được một cơ quan

ngôn luận là tờ báo Đất Việt, sau đổi tên thành Đất Mới, rồi Người Việt gắn bó khá

chặt chẽ với đất nước [23, tr.123]

Từ năm 1988, một số Hội người Việt Nam ở nước ngoài mất phương hướng hoạt động, mất vai trò với hội viên, độc lập với sứ quán, phê phán sai lầm trong nước Trên các báo của các Hội người Việt Nam ở nước ngoài đã xuất hiện lúc đầu lẻ tẻ, về sau càng dồn dập những bài báo nói về tình hình tiêu cực trong nước, truy nguyên tình hình này là do sự lãnh đạo và quản lý của Đảng Cán bộ của nhiều phong trào đã tổ chức những cuộc hội thảo về tình hình Việt Nam, muốn tạo nên một sự liên kết giữa các phong trào để làm đối trọng với trong nước Hội thảo Dourdan ở Pháp (1988) có

86 đại biểu từ 7 nước tham dự, coi như là một bước “tập sự làm dân chủ” Hội thảo Frankfurt ở CHLB Đức (1989) có 180 đại biểu ở 7 nước tham dự với mục đích công

Trang 32

khai phê phán vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, phê phán học thuyết Mác-Lênin và CNXH Khi xảy ra sự kiện Thiên An Môn ở Trung Quốc, phong trào ở Pháp, CHLB Đức, Canada ra tuyên bố ủng hộ cuộc đấu tranh đòi dân chủ của thanh niên, sinh viên Trung Quốc Thêm vào đó, lúc này ta bắt đầu bình thường hóa quan hệ với các nước láng giềng và thực thi chính sách đối ngoại là bạn với tất cả các nước nên

có chủ trương không duy trì các đảng bộ, các nhóm nòng cốt ở ngoài nước Công tác vận động người Việt Nam ở nước ngoài không còn dưới sự chỉ đạo trực tiếp của các cơ quan Đảng mà chuyển giao dần cho các cơ quan chuyên trách của Nhà nước [19, tr.34, 50, 56] Khi tình hình các nước Đông Âu diễn biến theo chiều hướng trượt dần khỏi quỹ đạo XHCN thì những khuynh hướng trên càng bộc lộ rõ rệt, công khai hơn và đã có những hoạt động của một bộ phận cán bộ các phong trào đòi cải tổ chính trị trong nước theo kiểu Đông Âu Nhóm Nguyễn Ngọc Giao ở Pháp cùng nhóm Bùi Văn Nam Sơn ở Cộng hòa Liên bang Đức ra “Tâm thư gửi các vị lãnh đạo Việt Nam cùng đồng bào trong và ngoài nước về việc cải tổ hệ thống chính trị”, đòi “tách rời định chế của Nhà nước ra khỏi bộ máy Đảng, thiết lập một nền dân chủ đa nguyên và mở đối thoại với toàn thể xã hội” [19, tr.57] Họ trù tính vận động cán bộ lãnh đạo chủ chốt của các phong trào Việt kiều yêu nước và một số nhân vật có tên tuổi ký tên khởi xướng Tâm thư, lập ủy ban phối hợp chung giữa các phong trào, thu thập chữ ký gửi về nước Trên

500 người đã ký Tâm thư, trong đó có không ít cán bộ chủ chốt của các phong trào, đông nhất ở Pháp gần 400 (có 20 người trong nhóm nòng cốt còn lại là hội viên) Các thế lực phản động sở tại và các tổ chức người Việt phản động được dịp tăng cường tuyên truyền chống phá, đe dọa, o ép các tổ chức, phong trào Việt kiều yêu nước Do dao động về tư tưởng trong lãnh đạo, đấu tranh nội bộ, hoạt động của một số Hội Việt kiều yêu nước trở nên xa lạ với quần chúng kiều bào, đi ngược với đường lối và tiến trình đổi mới trong nước Dần dần các Hội người Việt Nam tại Tây Đức, Canađa tự giải tán, một số hội ở các nước khác hoạt động cầm chừng

Tuy nhiên, do đường lối kiên định và cuộc đấu tranh, vận động mạnh mẽ từ trong nước, đã có nhiều tiếng nói trong các Hội và cộng đồng phản đối các luận điểm của Nhóm Tâm thư Hội Công nhân Lao động Việt Nam tại Pháp đã gửi thư cho Trung

Trang 33

ương Đảng bày tỏ sự tin tưởng vào đường lối lãnh đạo của Đảng Trên một số các báo của các Hội Việt kiều yêu nước xuất hiện nhiều bài phân tích đường lối đổi mới đúng đắn trong nước Một số người bị lợi dụng chót ký tên vào Tâm thư đã viết thư về nước hoặc gặp đại sứ nhận lỗi và rút tên khỏi danh sách những người ký tên Ban Thường trực Hội người Việt Nam tại Pháp, nhân dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Chủ tịch

Hồ Chí Minh đã ra tuyên bố khẳng định lại sự ủng hộ đường lối đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam và góp phần xây dựng một nước Việt Nam giàu mạnh

Trước những biến động của tình hình thế giới và của các phong trào Việt kiều,

Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ra Chỉ thị số 67/CT-W ngày 4-12-1990, về công tác

vận động người Việt Nam ở nước ngoài trong tình hình mới, nêu rõ: các phong trào

Việt kiều yêu nước là lực lượng nòng cốt trong việc vận động Kiều bào hướng về đất nước, đang đứng trước những khó khăn và thử thách mới Hơn hai triệu người Việt Nam ở nước ngoài có mối quan hệ gắn bó với hàng triệu thân nhân ở trong nước là một lực lượng đông đảo có ảnh hưởng và tác động nhiều mặt đến tình hình đất nước Nhiệm vụ cơ bản của công tác vận động người Việt Nam ở nước ngoài là:

Hỗ trợ kiều bào giữ gìn bản sắc, truyền thống và giá trị văn hóa dân tộc, phát huy tinh thần đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau ổn định cuộc sống, củng

cố và nâng cao vị trí của cộng đồng người Việt Nam trong xã hội sở tại; động viên tình cảm dân tộc, lòng yêu quê hương đất nước; vận động kiều bào đóng góp ngày càng có hiệu quả vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước; kiên trì thuyết phục, cảm hóa làm cho kiều bào hiểu rõ và ủng hộ sự nghiệp cách mạng mà nhân dân ta đã lựa chọn [2, tr.2]

Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII (năm1991) nêu rõ:

Hơn hai triệu người Việt Nam định cư ở nước ngoài có mối quan hệ gắn bó với thân nhân, với quê hương, đất nước Đảng và Nhà nước ta hoan nghênh bà con giữ gìn bản sắc, truyền thống và giá trị văn hóa dân tộc, tình cảm gắn bó với quê hương… cần tổ chức tốt việc thông tin tình hình trong nước và tạo điều kiện dễ dàng để bà con người Việt Nam ở nước ngoài về thăm quê hương đất nước [32, tr.79]

Trang 34

Các đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng và Nhà nước bước đầu có những thông tin, chỉ đạo công khai về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài tại các diễn đàn và trên các phương tiện thông tin đại chúng Tổng bí thư Đỗ Mười tại kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa IX (tháng 9/1992) phát biểu “Đoàn kết đồng bào cả nước và Kiều bào ta ở nước ngoài, xóa bỏ mặc cảm, xóa bỏ hận thù, nhìn về tương lai” [64, tr.4]

Tiếp đó trong bài trả lời phỏng vấn báo Đại đoàn kết số ra ngày 6-11-1992 đồng chí

nói:

Chúng ta chủ trương thực hiện đoàn kết, hòa hợp dân tộc Người Việt Nam thuộc mọi giai cấp và tầng lớp, dân tộc và tôn giáo, trong nước và ở nước ngoài, dù quá khứ trước kia ra sao, dù từng giữ chức vụ gì trong chế

độ cũ, nay vẫn lấy độc lập của Tổ quốc, tự do của nhân dân, hạnh phúc của đồng bào làm chí hướng của mình, tự nguyện mang sức lực và tài năng ra giúp nước thì đều có chỗ đứng trong khối đại đoàn kết toàn dân, được Nhà nước và nhân dân hoan nghênh… người Việt Nam ở nước ngoài là một bộ phận không thể tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam [65]

Từ những năm đầu thập kỷ 90 Đảng và Nhà nước ta đã từng bước quan tâm đầy

đủ hơn và tương đối có hệ thống hơn đối với trí thức là người Việt Nam kiều ngụ ở nước ngoài, bao gồm cả giới doanh nghiệp, công kỹ nghệ gia Chẳng hạn như đã tổ chức các cuộc hội nghị, hội thảo có quy mô khá lớn và có sự chuẩn bị khá chu đáo Tháng 5-1990, tại Quảng Nam - Đà Nẵng, Ban Việt kiều Trung ương tổ chức Hội nghị với qui mô lớn đầu tiên về hoạt động kinh tế của người Việt Nam ở nước ngoài với trong nước, với khoảng 350 đại biểu tham dự, trong đó có đại diện khoảng 60 công ty Việt kiều Hội nghị cũng là dịp để giới thiệu, tạo điều kiện để các công ty của người Việt Nam ở nước ngoài tiếp xúc với các ngành, địa phương trong nước

Hội nghị Việt kiều Xuân Quý Dậu tổ chức tại thành phố Hồ Chí Minh hai ngày

8 và 9-2-1993 và các cuộc tiếp xúc chuyên ngành trong hai ngày tiếp theo là một trong những Hội nghị thu hút sự quan tâm, hưởng ứng của đông đảo trí thức Việt kiều Từ

24 nước đã có 103 đại biểu Việt kiều về dự với 30 giáo sư, tiến sĩ, 29 nhà hoạt động khoa học, công nghệ, 49 người hoạt động kinh tế, kinh doanh, 18 người hoạt động

Trang 35

trong các hội đoàn, 4 người hoạt động văn hóa, nghệ thuật, 3 nhân sĩ, tôn giáo… Thủ tướng Chính phủ Võ Văn Kiệt, nhiều vị lãnh đạo Đảng và Nhà nước cùng đại diện nhiều cơ quan trong nước đã tới dự Sau nhiều năm, Hội nghị này tập hợp được đại diện tiêu biểu của kiều bào với nhiều thành phần ở nhiều nước, được nhiều người đánh giá như một “Hội nghị Diên Hồng của kiều bào” đóng góp cho sự nghiệp đổi mới và công tác vận động kiều bào, có tiếng vang cả trong và ngoài nước

Bảo hộ quyền lợi của người Việt Nam ở nước ngoài là một vấn đề rất cấp thiết Người Việt Nam rời đất nước ra đi sống ở nước ngoài trong bất cứ hoàn cảnh nào và với bất cứ động cơ nào cũng cần được Nhà nước Việt Nam bảo hộ quyền lợi chính đáng của họ trong làm ăn, sinh sống ở nước sở tại Trong Hiến pháp năm 1992 của Việt Nam điều 75 cũng đã quy định như vậy Điều 15 Luật tổ chức Chính phủ, cũng đã pháp lý hóa thêm một bước quy định này Luật quốc tịch Việt Nam, Điều 2 cũng đã xác nhận trách nhiệm bảo hộ kiều dân Ngoài ra Nhà nước Việt Nam còn ký nhiều hiệp định liên quan đến việc bảo hộ kiều bào ở nước ngoài như: Hiệp định về lãnh sự, Hiệp định tương trợ tư pháp…

Bên cạnh những chính sách của Đảng và Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài nêu trên thời gian này còn có một số văn bản của các bộ ngành ban hành có liên quan đến người Việt Nam ở nước ngoài như: Công văn số 292/LĐ-

NL ngày 13-10-1986 của Bộ Lao động về việc trợ cấp thôi việc đối với người

được phép xuất cảnh sang nước ngoài sinh sống; Công văn số 988-PLC ngày

20-12-1987 của Bộ Tư pháp về việc sử lý tài sản, nhà ở trong những vụ trốn đi nước

ngoài; Quy định số 01/QĐ-BNV ngày 17-6-1988 của Bộ Nội vụ về xuất cảnh định

cư ở nước ngoài; Thông tư số 04/TT-LB ngày 2-6-1988 của liên Bộ Nội vụ –

Ngoại giao về giải quyết cho người Việt Nam có nguyện vọng xuất cảnh đoàn tụ

gia đình vì lý do nhân đạo; Thông tư số 04/LB của liên Bộ Ngoại giao – Nội vụ –

Ban Việt kiều Trung ương ngày 18-1-1993 về việc nhập, xuất cảnh, tạm trú, đi lại

tại Việt Nam của người Việt Nam định cư ở nước ngoài …và hàng chục văn bản

khác về quốc tịch, xuất nhập cảnh, gửi tiền hàng, giao nhận con nuôi, thuê nhà, thuê lao động, hồi hương, kết hôn, đầu tư, văn hóa, giáo dục, nghệ thuật…Nhìn

Trang 36

dù họ sống ở đâu, dù thuộc thế hệ thứ mấy, dù chỉ mang trong mình một phần dòng máu Việt Nam, thậm chí có cả những người còn chưa từ bỏ ý thức chống đối chế độ mới, cũng vẫn ít nhiều nhớ về cội nguồn Đó là tình cảm tự nhiên của con người Đó cũng là cái chung nhất làm cơ sở cho việc hoạch định chính sách Chính sách đúng đắn, cởi mở trên tinh thần khuyến khích lòng yêu nước chân chính và phù hợp với quyền lợi chính đáng của kiều bào sẽ là nội dung tuyên truyền, vận động thiết thực và hiệu quả sẽ cao nhất

1.2.2 Một số kết quả bước đầu và những hạn chế của công tác đối với

người Việt Nam ở nước ngoài trong giai đoạn 1986-1993

Những năm đầu bước vào thực hiện đường lối đổi mới, cùng với đồng bào trong nước, người Việt Nam ở nước ngoài đã có nhiều hoạt động tích cực góp phần xây dựng đất nước Hiểu rõ những khó khăn, thiếu thốn trong nước và cũng từ những chính sách cởi mở của Đảng và Nhà nước, kiều bào ở nhiều nước đã phát động phong trào vận động quyên góp sách báo, tài liệu khoa học kỹ thuật, trang thiết bị đã qua sử dụng gửi về nước Hội Khoa học kỹ thuật Việt Nam tại Pháp, Hội người Việt Nam tại một số nước đã thành lập các nhóm đóng góp khoa học kỹ thuật, cử người về nước tìm hiểu nhu cầu, khả năng hợp tác, xây dựng các đề án, chương trình hợp tác với trong nước, huy động khả năng của các thành viên của Hội và của các bạn bè sở tại Có thể

kể nhiều chương trình hợp tác đóng góp có hiệu quả: Hội người Việt Nam ở Pháp hỗ trợ xây dựng Trung tâm phân tích hóa tại thành phố Hồ Chí Minh, xây dựng nhà máy lọc dầu cỡ nhỏ của Sài Gòn Petro, giúp tỉnh Bến Tre xây dựng lò thiêu kết than hoạt tính từ gáo dừa để xuất khẩu; Hội người Việt Nam ở CHLB Đức hỗ trợ nhà máy in

Trang 37

LIKSIN ở thành phố Hồ Chí Minh nhập dây chuyền in hiện đại nhất lúc đó, giới thiệu

để nhà máy in Ngân hàng tiếp cận và nhập thiết bị hiện đại; Công ty VIBA của người Việt ở Tây Berlin giới thiệu công nghệ quang dẫn, ông Phạm Văn Hữu ở Achentina giới thiệu công nghệ vi sinh, ông Phạm Văn Phúc ở Pháp hướng dẫn kỹ thuật chế tạo máy bay… Tự bỏ tiền cá nhân hoặc thông qua các chương trình hợp tác song phương, hợp tác quốc tế, nhiều trí thức kiều bào đã về nước giảng dạy tư vấn, trao đổi chuyên môn với nhiều cơ quan, trường học trong nước Khi nước ta còn bị cấm vận, nhiều vật

tư, trang bị quý đã được chuyển về trong nước qua con đường Việt kiều về nước

Nhờ có những chính sách thông thoáng, thuận tiện, đáp ứng quyền lợi cho cả người gửi và người nhận được ban hành, lượng kiều hối gửi về nước qua con đường chính thức ngày một tăng lên Năm 1991 số tiền gửi về là 35 triệu USD, đến năm 1992 tăng lên 136 triệu USD.Trong những năm đất nước còn khó khăn thì tiền kiều hối là nguồn sống chủ yếu của nhiều gia đình và tạo việc làm cho nhiều gia đình khác Kiều hối cũng là nguồn chính cung cấp nguyên liệu cho nhiều xí nghiệp dược, cung cấp thuốc chữa bệnh cho đồng bào trong nước trong nhiều năm

Từ rất sớm, tiền kiều hối đã trở thành nguồn đầu tư qua các gia đình thân nhân hoặc đứng tên người trong nước Thời kỳ này đầu tư của kiều bào về nước thường là đầu tư nhỏ, mang tính thăm dò Kể từ sau khi có Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, mỗi năm trung bình người Việt Nam ở nước ngoài đầu tư về nước khoảng từ 7-8 dự

án, nhưng phân bố không đều Số lượng dự án nhiều từ 10-12 vào những năm1988,

1989, 1990, riêng năm 1991 giảm xuống 2, nhưng sau đó lại tăng từ 6-8 dự án Theo thống kê từ năm 1988 đến năm 1995 có 54 dự án với tổng số vốn đầu tư là 127.622.179 USD tập trung vào các lĩnh vực khách sạn và du lịch, công nghiệp nặng, công nghiệp nhẹ, cơ khí, giao thông vận tải…trong đó phần lớn đầu tư vào khách sạn

và du lịch, với10 dự án, tổng vốn là 63.260.000 USD, chiếm tỷ lệ 49,6% Số dự án đầu

tư về nước chủ yếu của Việt kiều ở các nước Nhật, Pháp, Đức, Ôxtrâylia Điều đó chứng tỏ kiều bào ta từ lâu vẫn mong đợi có cơ hội được hoạt động kinh tế tại đất nước quê hương [23, tr.232, 234]

Trang 38

Đường lối đổi mới và mở cửa của Đảng Cộng sản Việt Nam đã mở ra khả năng

to lớn đưa đất nước vào thời kỳ mới của sự phát triển Đặc biệt từ năm 1989, công cuộc đổi mới đã đạt được những kết quả bước đầu quan trọng, làm thay đổi nhiều mặt sâu sắc đời sống kinh tế – xã hội Đời sống nhân dân được nâng lên rõ rệt, và đây là những tiền đề điều kiện quan trọng để ngăn chặn dòng người ra đi bất hợp pháp và tiếp nhận hồi hương vào cộng đồng, cùng nhau xây dựng đất nước với mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh” Đến năm 1993, dòng người ra đi bất hợp pháp theo các ngả đường biển và đường bộ về cơ bản hầu như hoàn toàn dừng lại Năm 1987 có 28.096 người vượt biên trái phép bằng thuyền đến năm 1992 giảm xuống còn 55 người Những cuộc ra đi bằng đường biển được giảm bớt một phần nhờ chiến dịch thông tin rộng rãi, nhằm làm cho mọi người nhận thức được những mối nguy hiểm của việc ra đi lén lút Chiến dịch này được gắn với việc mở rộng chương trình ra đi

có tổ chức tới một số nước cho phép định cư Đồng thời một chương trình tín dụng và phát triển cộng đồng, phần lớn do Cộng đồng châu Âu – EC (sau là Liên minh châu Âu – EU) tài trợ, đã được lập ra ở Việt Nam, trên quan điểm làm cho những người muốn ra đi gắn bó với cộng đồng của họ và cổ vũ sự tái hòa nhập của những người Việt Nam hồi hương tự nguyện từ nước mà họ sống tạm thời ở Đông Nam á và Hồng Kông [12, tr.33,34]

Từ chủ trương, chính sách mới của Đảng và Nhà nước phần nào đáp ứng yêu cầu nguyện vọng của người Việt Nam ở nước ngoài, số lượng Kiều bào về nước thăm thân nhân, hợp tác nghiên cứu, trao đổi khoa học kỹ thuật, đầu tư làm ăn, du lịch, từ thiện… hàng năm không ngừng tăng, từ 8.000 lượt (1987) lên 163.000 lượt (1993) Đã xuất hiện các quan hệ mới của người Việt Nam ở nước ngoài với trong nước trên nhiều mặt: kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội Việt kiều về nước được tận mắt chứng kiến sự đổi thay trên quê hương, đất nước, khi trở ra kể lại sự thực, đã trở thành những người tuyên truyền tích cực cho trong nước Hoang mang trước tình hình đó, báo chí, loa, đài của các tổ chức phản động người Việt lu loa, vu cáo, đe dọa rằng cộng sản lừa cho Việt kiều về sẽ bắt giam, người nào về là tiếp tay cho cộng sản, các công ty du lịch tổ chức cho Việt kiều về là tay sai, làm kinh tài cho cộng sản Nhưng trước xu thế của

Trang 39

cộng đồng hướng về đất nước và những kết quả khả quan trên các mặt kinh tế - xã hội của những năm đầu đổi mới, dần dần ngay chính những kẻ chống đối cũng cho người thân về nước hoặc tìm cách liên hệ với cơ quan đại diện để xin được về thăm Một số người từng là sĩ quan, quan chức cao cấp trong chính quyền ngụy cũng bày tỏ nguyện vọng xin được về thăm quê hương

Sự khởi sắc trên quê hương cũng kéo theo sự chuyển mình trong dòng văn hóa, văn nghệ Từ chỗ băng đĩa ca nhạc hải ngoại tràn ngập trong nước, dần dần đã vãn đi, thay vào đó là các chương trình do các ca sĩ trong nước biểu diễn được công chúng hâm mộ Nhiều băng đĩa của ca sĩ trong nước được bày bán ở các trung tâm, cơ sở kinh doanh của người Việt Nam ở nước ngoài Bước đầu đã có một vài ca sĩ hải ngoại được phép về nước biểu diễn, quay hình, thu băng Mặc dù gặp phải không ít sự chống đối quyết liệt của bọn người Việt phản động, nhưng nhiều ca sĩ đã bày tỏ thái độ tiếp tục về nước hợp tác biểu diễn Hoạt động tích cực từ nhiều năm trước về âm nhạc dân tộc Việt Nam của nhạc sĩ Trần Văn Khê được phát triển mạnh hơn vào giai đoạn này

Ca sĩ Hoàng Lan- kiều bào Việt Nam tại Pháp, sau hơn 30 năm xa quê hương chị vẫn biểu diễn những ca khúc mà đồng bào trong nước yêu thích như “Bóng cây Kơ nia”,

“Biết ơn chị Võ Thị Sáu”, “Xa khơi”… Trong lĩnh vực điện ảnh có bộ phim “Từ Hollywood đến Hà Nội” được khởi quay từ năm 1988 đến năm 1993 của đạo diễn Việt kiều Mỹ Tiana Thanh Nga nói về vấn đề đoàn tụ gia đình Bộ phim đã được nhận giải thưởng cao ở Liên hoan phim tài liệu quốc tế ở Vinice năm 1993 Hoạt động văn học của người Việt Nam ở nước ngoài thời kỳ này ảnh hưởng đến trong nước rất ít nhưng không phải là hoàn toàn không có Năm 1990 Nhà xuất bản thành phố Hồ Chí Minh đã

cho in cuốn Thơ văn người Việt Nam ở nước ngoài 1975-1990, do nhà nghiên cứu

Nguyễn Phúc sưu tầm và giới thiệu Cuốn sách phản ánh rõ nét một số tâm trạng, nguyện vọng của kiều bào đang sống và làm việc trong lòng xã hội các nước phương Tây Họ luôn tâm niệm mình là người Việt Nam, mong muốn ổn định cuộc sống, giữ mối quan hệ thiêng liêng với những người thân ở trong nước, với quê hương xứ sở…[23, tr.319]

Trang 40

Tuy nhiên, cho đến khoảng trước năm 1993 công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài vẫn gần như không công khai, hoạt động đóng góp của kiều bào ít được công bố ngay cả với trong nước Trên báo chí và các phương tiện thông tin đại chúng thường chỉ phản ánh những tiêu cực liên quan đến Việt kiều Thực tế có tâm lý ngại tiếp xúc với Việt kiều, có nhiều khó khăn đối với thân nhân kiều bào, đặc biệt là ở các ngành các địa phương, nơi trực tiếp tiếp xúc, giải quyết các thủ tục hành chính liên quan đến kiều bào và thân nhân Một điều đáng tiếc là công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài nhiều khi bị ảnh hưởng không tốt chỉ vì sự chậm trễ của các văn

bản mang tính pháp lý Ví dụ: Chỉ thị của Hội đồng Bộ trưởng số 165 về chủ trương

đối với người Việt Nam định cư ở các nước XHCN ban hành ngày 28-10-1988, nhưng

mãi đến ngày 1-2-1990 mới có Thông tư liên bộ hướng dẫn thi hành; Nghị định của

Chính phủ về các biện pháp khuyến khích người Việt Nam định cư ở nước ngoài đầu tư về

nước ban hành ngày 27-5-1993, nhưng phải đến 24-3-1994 mới có Thông tư hướng dẫn thi

hành và mãi đến ngày 14-9-1994 mới có mẫu, đơn để kiều bào có thể bắt đầu làm thủ tục đầu tư về nước…[23, tr.259]

Một bất cập nữa, khi Nhà nước ưu tiên dành độc quyền cho các tổ chức của các hội và phong trào Việt kiều yêu nước lập các công ty, tổ chức kinh doanh kiều hối, hàng quà biếu, mua vé máy bay cho Việt kiều nhằm hạn chế các hoạt động không kiểm soát được trên các lĩnh vực đó, tạo sự thuận lợi và an toàn cho người gửi cũng như người nhận, đồng thời tạo thế và lực cho các hội và phong trào ở Pháp có các công ty Vietnam Diffusion, Vipharco, Parexim…; ở Đức có Asimex, Asico, Unico, Viba…; ở Canada có QTK, Laser…; ở Mỹ có Vinamex…Theo quy định ở các nước các hội đoàn không được đứng tên sở hữu các công ty, hoạt động kinh doanh Vì vậy, các tổ chức kinh doanh của hội, phong trào đều do một số cá nhân đứng tên Do độc quyền, lãi suất lớn, nhiều công ty có tài sản, thu nhập nhanh chóng đạt hàng triệu đô

la Khi đó bắt đầu phát sinh mâu thuẫn trong các phong trào, trong hội về công khai lợi nhuận, về địa vị của người đứng tên chủ công ty và người trong hội, phong trào và nhân viên công ty, về vị thế của người chủ công ty với người hoạt động chính trị thuần túy trong phong trào Mâu thuẫn kinh tế đã là nguyên nhân chính dẫn đến sự phân liệt,

Ngày đăng: 07/01/2016, 10:39

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban Bí thư Trung ương Đảng, Chỉ thị số 09-CT/TW ngày 4-10-1982 về công tác vận động người Việt Nam ở nước ngoài (Tài liệu lưu tại ủy ban về NVNONN) Sách, tạp chí
Tiêu đề: về công tác vận động người Việt Nam ở nước ngoài
2. Ban Bí thư Trung ương Đảng, Chỉ thị số 67-CT/TW ngày 4-12-1990 về công tác vận động người Việt Nam ở nước ngoài trong tình hình mới (Tài liệu lưu tại ủy ban về NVNONN) Sách, tạp chí
Tiêu đề: về công tác vận động người Việt Nam ở nước ngoài trong tình hình mới
3. Ban Bí thư Trung ương Đảng, Chỉ thị số 55-CT/TW ngày 23-3-1995 Về triển khai thực hiện nghị quyết của Bộ Chính trị về chính sách và công tác vận động người Việt Nam ở nước ngoài (Tài liệu lưu tại ủy ban về NVNONN) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về triển khai thực hiện nghị quyết của Bộ Chính trị về chính sách và công tác vận động người Việt Nam ở nước ngoài
4. Ban Bí thư Trung ương Đảng, Chỉ thị số 51-CT/TW ngày 13-4-2005 về tăng cường công tác đảng ở ngoài nước trong tình hình mới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ban Bí thư Trung ương Đảng, Chỉ thị số 51-CT/TW ngày 13-4-2005
5. Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Báo cáo số 12-BC/BCSDNN ngày 3-8-2006 sơ kết thực hiện Chỉ thị 51-CT/TW của Ban Bí thư “Về tăng cường công tác đảng ở ngoài nước trong tình hình mới” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Báo cáo số 12-BC/BCSDNN ngày 3-8-2006 "sơ kết thực hiện Chỉ thị 51-CT/TW của Ban Bí thư “Về tăng cường công tác đảng ở ngoài nước trong tình hình mới
6. Ban Tư tưởng – Văn hóa Trung ương, Ban cán sự Đảng Bộ Ngoại giao (2004), Tài liệu học tập Nghị quyết 36-NQ/TW của Bộ Chính trị về Công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu học tập Nghị quyết 36-NQ/TW của Bộ Chính trị về Công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài
Tác giả: Ban Tư tưởng – Văn hóa Trung ương, Ban cán sự Đảng Bộ Ngoại giao
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2004
7. Ban Tư tưởng – Văn hóa Trung ương (2005), Lịch sử biên niên công tác tư tưởng- văn hóa của Đảng Cộng sản Việt Nam (1976-2004), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử biên niên công tác tư tưởng-văn hóa của Đảng Cộng sản Việt Nam (1976-2004)
Tác giả: Ban Tư tưởng – Văn hóa Trung ương
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2005
8. Ban Việt kiều Trung ương, Báo cáo số 158/VK ngày 7-8-1990 về tình hình người Việt Nam định cư ở nước ngoài (Tài liệu lưu tại ủy ban về NVNONN) Sách, tạp chí
Tiêu đề: về tình hình người Việt Nam định cư ở nước ngoài
9. Ban Việt kiều Trung ương, Báo cáo số 105/V K ngày 13-3-1993 về ban hành Nghị quyết của Đảng về công tác vận động cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài (Tài liệu lưu tại ủy ban về NVNONN ) Sách, tạp chí
Tiêu đề: về ban hành Nghị quyết của Đảng về công tác vận động cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài
10. Ban Việt kiều Trung ương, Báo cáo số 432/Việt kiều, ngày 28-12-1988 về tình hình Hội người Việt Nam ở Canada (Tài liệu lưu tại ủy ban về NVNONN) Sách, tạp chí
Tiêu đề: về tình hình Hội người Việt Nam ở Canada
11. Nguyễn Đình Bin (2003), “Người Việt Nam ở nước ngoài hội nhập và hướng về quê hương”, Cộng sản, (4+5) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người Việt Nam ở nước ngoài hội nhập và hướng về quê hương”, "Cộng sản
Tác giả: Nguyễn Đình Bin
Năm: 2003
12. Vũ Ngọc Bình (1996), Thuyền nhân Việt Nam định cư hay hồi hương? Vietnamese boat people resettlement or repatriation? Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thuyền nhân Việt Nam định cư hay hồi hương? Vietnamese boat people resettlement or repatriation
Tác giả: Vũ Ngọc Bình
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1996
13. Nguyễn Phú Bình (2005), “Công tác vận động người Việt Nam ở nước ngoài và những bài học thực tế”, Cộng sản, (2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác vận động người Việt Nam ở nước ngoài và những bài học thực tế”," Cộng sản
Tác giả: Nguyễn Phú Bình
Năm: 2005
14. Nguyễn Phú Bình (2004), “Tiềm năng cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài”, Quê hương, (10) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiềm năng cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài”, "Quê hương
Tác giả: Nguyễn Phú Bình
Năm: 2004
15. Nguyễn Phú Bình (2006), “Những chuyển biến tích cực trong công tác vận động cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài năm 2005”, Cộng sản, (2+3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Phú Bình (2006), “Những chuyển biến tích cực trong công tác vận động cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài năm 2005”, C"ộng sản
Tác giả: Nguyễn Phú Bình
Năm: 2006
16. Nguyễn Phú Bình (2006), “Tiếp tục thực hiện tốt hơn nữa công tác vận động người Việt Nam ở nước ngoài”, Thông tin đối ngoại, (2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Phú Bình (2006), “Tiếp tục thực hiện tốt hơn nữa công tác vận động người Việt Nam ở nước ngoài”, "Thông tin đối ngoại
Tác giả: Nguyễn Phú Bình
Năm: 2006
17. Bộ Công an, Viện Nghiên cứu Chiến lược và Khoa học Công an (2003), Toàn cầu hóa kinh tế bản chất, thời cơ và thách thức đối với các nước và Việt Nam, Lưu hành nội bộ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn cầu hóa kinh tế bản chất, thời cơ và thách thức đối với các nước và Việt Nam
Tác giả: Bộ Công an, Viện Nghiên cứu Chiến lược và Khoa học Công an
Năm: 2003
18. Bộ Ngoại giao (2002), Ngoại giao Việt Nam 1945-2000, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngoại giao Việt Nam 1945-2000
Tác giả: Bộ Ngoại giao
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2002
19. Bộ Ngoại giao, ủy ban về người Việt Nam ở nước ngoài (2003), Đề tài nghiên cứu Khoa học cấp Bộ, Công tác vận động người Việt Nam ở nước ngoài: Thực tiễn và một số cơ sở lý luận, Chủ nhiệm đề tài: Nguyễn Chiến Thắng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác vận động người Việt Nam ở nước ngoài: Thực tiễn và một số cơ sở lý luận
Tác giả: Bộ Ngoại giao, ủy ban về người Việt Nam ở nước ngoài
Năm: 2003
20. Bộ Ngoại giao (2005), Báo cáo kết quả triển khai chương trình hành động của Bộ Ngoại giao thực hiện Nghị quết 36 của Bộ Chính trị về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài (Tài liệu lưu tại ủy ban về NVNONN) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả triển khai chương trình hành động của Bộ Ngoại giao thực hiện Nghị quết 36 của Bộ Chính trị về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài
Tác giả: Bộ Ngoại giao
Năm: 2005

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w