Lý do chọn đề tài Đói nghèo là một vấn đề xã hội mang tính toàn cầu, là đối tượng quan trọng của việc nghiên cứu và phát triển.Tình trạng đói nghèo từ lâu đã trở thành mối quan tâm hàng
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA LỊCH SỬ -
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học
TS NGUYỄN VĂN DŨNG
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo là giảng viên khoa Lịch sử, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã giảng dạy và giúp đỡ tôi hiểu hơn về Lịch sử dân tộc nói chung và Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam nói riêng Nhờ có quá trình tích lũy đó mà tôi hoàn thành được khóa luận này
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Tiến sĩ Nguyễn Văn Dũng – người đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong quá trình thực hiện khóa luận
Tôi xin cảm ơn phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện Hạ Hòa, Ban tuyên giáo huyện ủy Hạ Hòa đã cung cấp cho tôi những tư liệu về vấn đề nghiên cứu để tôi hoàn thành khóa luận
Do sự hạn chế về thời gian, nguồn tư liệu cũng như trình độ nghiên cứu nên khóa luận không thể tránh khỏi những thiếu sót Rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến từ các thầy cô và các bạn để khóa luận được hoàn chỉnh hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn !
Hà Nội, ngày…tháng…năm 2015
Tác giả khóa luận
Đỗ Thu Hà
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, được hoàn thành dưới sự hướng dẫn của Tiến sĩ Nguyễn Văn Dũng Các số liệu, kết quả trong khóa luận là hoàn toàn trung thực Các nguồn tài liệu trích dẫn có nguồn gốc và xuất sứ rõ ràng Tôi xin cam đoan những điều trên đây là hoàn toàn đúng sự thật
Hà Nội, ngày… tháng….năm 2015
Tác giả khóa luận
Đỗ Thu Hà
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3
3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu 4
4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 5
5 Đóng góp của khóa luận 5
6 Bố cục của khóa luận 5
Chương 1 CƠ SỞ ĐỂ ĐẢNG BỘ HUYỆN HẠ HÒA TỈNH PHÚ THỌ LÃNH ĐẠO XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2010 7
1.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HUYỆN HẠ HÒA 7
1.1.1 Điều kiện tự nhiên và dân cư 7
1.1.1.1 Điều kiện tự nhiên 7
1.1.1.2 Dân cư 13
1.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 13
1.1.3 Một vài nét về Đảng bộ huyện Hạ Hòa 16
1.2 THỰC TRẠNG ĐÓI NGHÈO Ở HẠ HÒA TRƯỚC NĂM 2001 20
1.3 CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VỀ XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO 23
Chương 2 ĐẢNG BỘ HUYỆN HẠ HÒA (TỈNH PHÚ THỌ) LÃNH ĐẠOXÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO TRONG NHỮNG NĂM 2001 – 2010 27
2.1 GIAI ĐOẠN 2001 - 2005 27
2.1.1 Chủ trương của Đảng bộ huyện Hạ Hòa 27
2.1.2 Những thành tựu và hạn chế 28
Trang 52.1.2.2 Hạn chế 39
2.2 GIAI ĐOẠN 2006 - 2010 40
2.2.1 Chủ trương của Đảng bộ huyện Hạ Hòa 40
2.2.2 Những thành tựu và hạn chế 41
2.2.2.1 Thành tựu 41
2.2.2.2 Hạn chế 55
Chương 3 NHẬN XÉT VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM 57
3.1 NHẬN XÉT CHUNG 57
3.1.1 Ưu điểm 57
3.1.2 Hạn chế 59
3.2 BÀI HỌC KINH NGHIỆM 60
KẾT LUẬN 62
TÀI LIỆU THAM KHẢO 64 PHỤ LỤC
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Đói nghèo là một vấn đề xã hội mang tính toàn cầu, là đối tượng quan trọng của việc nghiên cứu và phát triển.Tình trạng đói nghèo từ lâu đã trở thành mối quan tâm hàng đầu của các nhà lãnh đạo và các nhà khoa học không chỉ ở nước ta mà còn ở nhiều nước trên thế giới.Tại Việt Nam, vấn đề nghiên cứu hiện tượng đói nghèo và những biện pháp xóa đói giảm nghèo trên cả nước được triển khai tương đối hệ thống trong vòng những thập kỷ trở lại đây
Nước ta từ một nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp, trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa có
sự quản lí của Nhà nước, chấp nhận cạnh tranh, mở cửa Điều đó sẽ tạo ra sự phân hóa giàu nghèo hết sức gay gắt trong xã hội tạo gây nên những nhức nhối về nhiều mặt trong đời sống của đất nước Từ khi thực hiện chủ trương phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường
có sự quản lý của Nhà nước cho đến nay, một bộ phận nhân dân nhờ có vốn, kiến thức, đầu óc năng động, sáng tạo đã tiếp thu những kiến thức mới của khoa học và công nghệ, tiếp cận được thị trường nên đã nhanh chóng trở nên giàu có Bên cạnh những người giàu có, khá giả, vẫn còn một bộ phận không nhỏ người nghèo đói, không đảm bảo được điều kiện tối thiểu của cuộc sống
Sự phân hóa giàu nghèo đó là tất yếu, đã tác động đến đời sống xã hội.Việt Nam là một trong những nước nghèo nhất thế giới, với gần 80% dân số sống
ở khu vực nông nghiệp và 70% lực lượng lao động làm trong lĩnh vực nông nghiệp Số hộ đói nghèo đã chiếm 20 – 22% số hộ dân cư trong cả nước, trong đó 5 – 10% hộ rất nghèo vào diện thiếu đói triền miên (Tính đến hết năm 1997 cả nước vẫn còn khoảng 2,65 triệu hộ nghèo đói – chiếm tỉ lệ 17.7%; có 1498 xã có tỷ lệ hộ nghèo đói từ 40% trở lên; 1168 xã thiếu cơ sở
Trang 7hạ tầng (điện, đường, trường, trạm, chợ, nước) trong đó 2/3 số xã ở miền núi
và 90% số người nghèo sống ở nông thôn [1,tr.23]
Từ khi chuyển sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lí điều tiết của Nhà nước theo định hướng
xã hội chủ nghĩa, Nhà nước Việt Nam đã cho phép 5 thành phần kinh tế cùng tồn tại và phát triển Cơ chế thị trường đã tác động mạnh mẽ đến nền kinh tế khu vực nông thôn, làm cho sự phân hóa giàu nghèo ở khu vực này lại càng tăng lên.Việc ngăn chặn quá trình đói nghèo tự phát của một bộ phận dân cư
là đòi hỏi khách quan của nền kinh tế thị trường
Ngày nay, đói nghèo đang là một vấn đề có tác động tiêu cực tới mọi mặt của xã hội.Nó là một hiện tượng cản trở, gây khó khăn cho sự phát triển kinh tế xã hội của nước ta Chiến thắng đói nghèo đã và đang trở thành nội dung quan trọng trong chương trình, kế hoạch của các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương; xóa đói giảm nghèo là một chủ trương và quyết sách lớn Đảng và Nhà nước ta đã đưa xóa đói giảm nghèo trở thành chương trình, mục tiêu quốc gia phù hợp với định hướng phát triển kinh tế xã hội của đất nước nhằm hỗ trợ trực tiếp các xã nghèo, hộ nghèo những điều kiện cần thiết phát triển sản xuất, tăng thu nhập, ổn định đời sống, tự vươn lên thoát khỏi đói nghèo Tháng 7 – 1998, thủ tướng chính phủ đã chính thức phê duyệt triển khai chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói giảm nghèo nhằm giảm đói nghèo và lạc hậu trong cả nước.góp phần tích cực vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước
Hạ hòa là một huyện có điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, trình độ dân trí thấp, việc chăm sóc sức khỏe cho nhân dân còn kém, thiếu cơ sở vật chất kĩ thuật, tốc độ gia tăng dân số còn cao Tất cả những điều này đã làm cho nền kinh tế chậm phát triển, sản xuất chủ yếu để đáp ứng nhu cầu tự cung tự cấp
Do vậy, ban lãnh đạo huyện đã xác định công tác xóa đói giảm nghèo là một
Trang 8nhiệm vụ quan trọng nhằm thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo giai đoạn 2001 – 2010 của Chính phủ đồng thời phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, nâng cao đời sống nhân dân, Ban chấp hành Đảng bộ huyện đã ban hành Nghị quyết số 07 – NQ/HU ngày 24/5/2001, về chương trình xóa đói giảm nghèo giai đoạn 2001 – 2005 và Nghị quyết số 11 – NQ/HU ngày 10/7/2006 về Chương trình xóa đói giảm nghèo và giải quyết việc làm giai đoạn 2006 – 2010 Nhằm cụ thể hóa nội dung của nghị quyết số
11 – NQ/HU, Ủy ban nhân dân huyện đã xây dựng đề án số 842/ĐA – UBND ngày 19/7/ 2006 để triển khai tổ chức thực hiện; ban hành quyết định số 4973/QĐ-UBND ngày 03/12/2007 về việc kiên toàn ban chỉ đạo xóa đói giảm nghèo của huyện, kèm theo quy chế làm việc của ban chỉ đạo; thành lập tổ công tác giúp việc ban chỉ đạo, phân công việc cụ thể cho từng thành viên phụ trách các nhiệm vụ và chỉ đạo các xã, thị trấn trong việc thực hiện nghị quyết
Việc tìm hiểu sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện Hạ Hòa trong việc xóa đói giảm nghèo từ năm 2001 đến năm 2010 để thấy được những thành tựu và hạn chế, qua đó rút ra những bài học kinh nghiệm phục vụ cho công tác lãnh đạo, chỉ đạo phát triển xóa đói giảm nghèo trong thời gian tới là là một vấn đề có ý
nghĩa lý luận và thực tiễn Từ lý do đó, tôi đã quyết định chọn vấn đề “Đảng bộ huyện Hạ Hòa (tỉnh Phú Thọ) lãnh đạo xóa đói giảm nghèo từ năm 2001 đến năm 2010” làm đề tài nghiên cứu cho khóa luận tốt nghiệp của mình
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Liên quan đến vấn đề này có một số tài liệu đề cập đến ở mức độ khác nhau Đó là báo cáo tổng kết công tác xóa đói giảm nghèo của Ban chấp hành Đảng bộ huyện Hạ Hòa giai đoạn 2001 – 2005, và Báo cáo Tổng kết 5 năm thực hiện nghị quyết số 11 – NQ/HU ngày 10/7/2006 của Ban chấp hành Đảng bộ huyện Hạ Hòa về xóa đói giảm nghèo và giải quyết việc làm giai đoạn 2006 – 2010
Trang 9Tuy nhiên, các tài liệu này chưa đề cập một cách có hệ thống và nổi bật được sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện Hạ Hòa trong việc xóa đói giảm nghèo trong những năm 2001 – 2010 Đặc biệt chưa có công trình nào đánh giá, nhận xét và rút ra bài học kinh nghiệm về vấn đề mà đề tài khóa luận đặt ra
3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
- Đánh giá những mặt tích cực, hạn chế và rút ra những bài học kinh nghiệm
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tập hợp, xử lí nguồn tài liệu
- Trình bày, phân tích, đánh giá khách quan về sự lãnh đạo của Đảng
bộ huyện Hạ Hòa đối với xóa đói giảm nghèo Trên cơ sở đó rút ra những kinh nghiệm
3.3 Phạm vi nghiên cứu
Trong khuôn khổ một đề tài khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành lịch sử Đảng, đề tài tập trung làm rõ sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện Hạ Hòa với xóa đói giảm nghèo giai đoạn 2001 – 2010
Phạm vi không gian: Huyện Hạ Hòa (Phú Thọ)
Phạm vi thời gian: Đề tài nghiên cứu xóa đói giảm nghèo ở huyện Hạ Hòa trong những năm 2001 – 2010
Trang 104 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1 Nguồn tư liệu
Nguồn tài liệu được sử dụng trong khóa luận tốt nghiệp chủ yếu là:
- Các văn kiện, nghị quyết của tỉnh và Đảng bộ huyện Hạ Hòa về xóa đói giảm nghèo
- Các sách thông sử và lịch sử Đảng bộ huyện Hạ Hòa
- Các bài viết, báo cáo tổng kết hàng năm của phòng Lao động - Thương binh và xã hội huyện Hạ Hòa về xóa đói giảm nghèo
4.2 Phương pháp nghiên cứu
- Đề tài của tôi được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận sử học của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh
- Sử dụng phương pháp: Phương pháp Lịch sử, phương pháp lôgic, phương pháp thống kê, sưu tầm tài liệu, phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh
5 Đóng góp của khóa luận
- Đề tài làm sáng tỏ sự lãnh đạo xóa đói giảm nghèo của Đảng bộ huyện Hạ Hòa trong giai đoạn 2001 – 2010 Qua đó, tôi có nhận xét bước đầu
và rút ra kinh nghiệm lịch sử Đây có thể làm tài liệu tham khảo cho các cơ quan, chính quyền địa phương trong công tác lãnh đạo công tác xã hội, đặc biệt là xóa đói giảm nghèo trong thời gian tới
- Nguồn tư liệu phong phú và hệ thống được trình bày trong khóa luận
có thể giúp các nhà nghiên cứu lịch sử ở địa phương tham khảo
6 Bố cục của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, phụ lục, tài liệu tham khảo, khóa luận gồm 3 chương:
Chương 1 Cơ sở để Đảng bộ huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ lãnh đạo xóa đói giảm nghèo từ năm 2001 đến năm 2010
Trang 11Chương 2 Đảng bộ huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ lãnh đạo xóa đói giảm nghèo trong những năm 2001 – 2010
Chương 3 Nhận xét và bài học kinh nghiệm
Trang 12Chương 1
CƠ SỞ ĐỂ ĐẢNG BỘ HUYỆN HẠ HÒA TỈNH PHÚ THỌ LÃNH ĐẠO XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2010
1.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HUYỆN HẠ HÒA
1.1.1 Điều kiện tự nhiên và dân cư
1.1.1.1 Điều kiện tự nhiên
Địa hình
Hạ Hòa là một huyện miền núi nằm ở phía Bắc của tỉnh Phú Thọ Địa hình Hạ Hòa thuộc dạng lòng chảo, thoải dần theo hướng Đông Nam, được tạo nên bởi các triền núi cao như các núi Ông (218 m), núi Văn (387 m), núi Tiên Phong (125,5 m), núi Kìm (513 m), núi Trưa (221,9 m) nằm ở địa phận
10 xã, có sườn thoải dần về hữu ngạn sông Thao và các núi Gò Ngang (272 m
- Yên Kỳ), núi Buộm (Hương Xạ), núi Sơn Nhiễu (152 m - Đại Phạm), núi Thanh Hương (Phụ Khánh) sườn thoải dần về tả ngạn sông Thao Chính dạng địa hình trên đã tạo ra các vùng sinh thái khác nhau (vùng đất bãi trong đê sông Thao, vùng đồi đất thấp, vùng đồi cao và đất núi) có nhiều hứa hẹn và điều kiện để địa phương phát triển toàn diện lâm, nông, ngư nghiệp
Toàn huyện có 13.822 ha rừng trong tổng số 16.000 ha đất có khả năng lâm nghiệp (chiếm 40,73% đất tự nhiên), chia ra 2.367 ha rừng tự nhiên (1.664,3 ha rừng sản xuất; 702,7 ha rừng phòng hộ) và 11.455 ha rừng trồng (11.326 ha rừng sản xuất; 129 ha rừng phòng hộ)
Hạ Hoà xưa kia là vùng còn nhiều rừng, nhưng đến nay còn lại rất ít rừng nguyên sinh, chủ yếu là rừng tái sinh và rừng trồng, những dải rừng gỗ thứ sinh thường xanh và nửa rụng lá (lim xanh, trám trắng, chò nâu, dẻ đá, dẻ gai hoặc kém hơn là mỡ, hu, ba soi, chẹo ) ở những nơi xa đường giao thông,
đi lại khó khăn hoặc rừng tre nứa xen cây hoặc rừng tre nứa thuần nhất Các
Trang 13cây gỗ quý còn lại cũng chỉ là sồi, dẻ, re, vàng tâm và trai nghiến trên các núi
đá vôi
Trong điều kiện lớp phủ rừng nguyên sinh bị phá huỷ và lớp phủ rừng thứ sinh không có tán lá đủ rộng để ngăn những trận mưa xối xả vào đá phiến, sườn dốc làm cho lớp đất vụn bề mặt bị hòa nước rồi nhanh chóng cuốn xuống sông suối gần đó, đôi khi tạo ra những cơn lũ đột ngột khó lường được hậu quả Vì vậy, cần có biện pháp để bảo vệ lớp phủ thực vật rừng để điều tiết chế độ nước sông, nhằm ngăn chặn xói mòn và các thiên tai bất ngờ khác
Khí hậu
Khí hậu của Hạ Hòa nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, mang nhiều nét đặc trưng của khí hậu miền núi phía Tây Bắc Nhiệt độ trong năm trung bình từ 22o
C - 240C, cao nhất vào tháng 5 - 6 là 33,60C, có lúc lên tới 410
C; thấp nhất vào tháng 1 là 13,40C, có lúc xuống tới 40C Lượng mưa trung bình trong toàn huyện đo được 2.000 mm Mùa mưa từ tháng 5 - 10, chiếm 80 - 85% lượng mưa cả năm (cao điểm vào các tháng 6, 7, 8) Mùa khô từ tháng
11 đến tháng 12 chiếm 15 - 20% lượng mưa cả năm Ta có thể theo dõi tại
Ấm Thượng, lượng mưa từng tháng được ghi chép từ 1965 - 1997 (tính theo mm):
Đơn vị:mm
35,5 37,6 57,6 122 226 303 296 391 273 184 66,6 5,6
Nguồn: Lịch sử Đảng bộ huyện Hạ Hòa
Gió mùa đông bắc ở Hạ Hòa kéo dài từ tháng 12 đến tháng 3 Ở một số vùng thuộc hữu ngạn sông Thao thời kỳ này xuất hiện sương muối Gió mùa Đông Nam bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 11 trong năm, tạo ra sự mát mẻ và mưa nhiều ở địa phương Gió Tây Nam xen kẽ gió Đông Nam, mỗi đợt kéo
Trang 14dài vài ba ngày, khiến cho khí hậu khô nóng, độ ẩm thấp Những năm gầy đây thường xuất hiện bão lốc cục bộ, kèm theo mưa đá vào các tháng 4, 5, 6 hàng năm, có lẽ do Hạ Hòa nằm giữa lòng chảo khu vực hai hồ lớn thủy điện Hòa Bình và thủy điện Thác Bà
Hạ Hòa có độ ẩm trung bình 80 - 85%, trong đó độ ẩm cao nhất đo được là 96%, thấp nhất là 60%
Chế độ thuỷ văn của Hạ Hòa khá phong phú Lưu vực sông Thao bao trùm toàn bộ địa phương gồm dòng chính sông Thao và các phụ lưu, kéo dài
từ Tây Bắc xuống Đông Nam với chiều dài 33,5 km (trong tổng số 902 km có
332 km thuộc nước ta tính đến Việt Trì và 250 km theo hướng này), toả rộng sang 9 xã hữu ngạn và 12 xã tả ngạn có chiều rộng hàng chục cây số Đây cũng là khu vực chuyển tiếp từ Đông Bắc sang Tây Bắc Bắc Bộ Địa hình lưu vực sông Thao cao về phía Tây Bắc và thấp dần về phía Đông và Đông Nam, tạo điều kiện cho mưa địa hình hình thành Mưa tăng theo độ cao thể hiện khá
rõ rệt Vùng có địa hình núi cao thì lượng mưa nhiều Ngược lại, các thung lũng thấp, kín gió thì lượng mưa giảm Trên một bình diện khác ta thấy, vùng mưa lớn Hoàng Liên Sơn sông suối phát triển, có mật độ từ 1 - 1,75km/km2
, nhưng do Hạ Hòa nằm ở vùng thung lũng nên lượng mưa chỉ đạt 2.000mm/năm, lượng bốc hơi nhiều, độ dốc nhỏ, mạng lưới sông ngòi kém phát triển hơn, nên mật độ phổ biến chỉ đạt 0,6 - 1km2 Khí hậu Hạ Hòa tương đối khắc nghiệt, thiên tai thường xuyên xảy ra ảnh hưởng đến đời sống của người dân Vì vậy, ban lãnh đạo huyện cần đưa ra những niện pháp khắc phục thiên tai trong thời gian tới để đảm bảo cuộc sống cho người dân
Tài nguyên đất
Theo số liệu năm 2008, trong tổng số 33.994,05 ha đất tự nhiên, Hạ Hòa có 26.654,25 ha đất nông nghiệp (78,4%), 5.987,9 ha đất phi nông nghiệp, 611 ha đất thổ cư (1,74%) và 1.351,85 ha đất chưa sử dụng (đất hoang
Trang 15hoá, đất đồi - 19,68%) Mạng sông suối, ao hồ chiếm 2.973 ha, còn lại là đất lâm nghiệp (14.206,5 ha - 41%)
Về nông hóa thổ nhưỡng, đất Hạ Hòa có các loại như sau:
1) Đất phù sa được bồi tụ hàng năm 900 ha (2,65%), phân bố ở ngoại
đê sông Thao, dư lượng phù sa lớn, ít chua, thành phần cơ giới từ cát pha đến thịt trung bình, độ phì cao (mùn, đạm, lân tỷ lệ khá) thích hợp cho việc trồng rau màu, cây công nghiệp ngắn ngày
2) Đất phù sa không bồi tụ hàng năm 3.000 ha (8,84%), trải dọc theo
sông Thao, tạo thành vùng lúa chủ yếu của huyện, thành phần cơ giới từ thịt nhẹ đến sét, độ phì khá (hàm lượng mùn, đạm, lân, kali tương đối)
3) Đất phù sa có sản phẩm feralít 300 ha (0,88%) thuộc vàn cao chua,
nghèo dinh dưỡng, thường trồng màu, lúa màu Có nhiều ở Phụ Khánh, Vĩnh Chân, Quân Khê, Xuân Áng
4) Đất chiêm trũng úng nước trong mùa mưa1.200 ha (3,53%) phân bổ
ở các xã vùng đất giữa như Chính Công, Y Sơn, Bằng Giã Thành phần cơ giới thịt nặng, yếm khí, khó tiêu nước, dễ gây úng, hầu như ngập nước thường xuyên, giàu mùn, đạm nhưng nghèo lân và kali, trồng lúa năng suất thấp và bấp bênh
5) Đất bạc màu 2.000 ha (5,9%) tập trung ở các xã Vĩnh Chân, Phụ
Khánh, Yên Luật và có mặt ở hầu hết các xã trong huyện Đất chua, nghèo dinh dưỡng, thường trồng màu (đỗ, lạc )
6) Đất dốc tụ 1.000 ha (3%) phân bố khắp nơi, lớp mặt thường là cát
thô, sỏi cặn, chua, thành phần cơ giới từ cát pha đến thịt nhẹ, thường trồng hoa màu (sắn, khoai, đậu, đỗ )
7) Đất lầy thụt 400 ha (1,2%) tập trung ở thị trấn Hạ Hòa, Chính Công,
Bằng Giã
Trang 168) Đất feralít đỏ vàng trên nền phiến thạch sét 25.450 ha, bằng 2/3 diện
tích đồi núi của huyện, phân bổ ở 22 xã giáp Yên Bái, Đoan Hùng và các xã giáp Yên Lập, thường ở độ cao 70 m, độ dốc lớn, tầng đất dày, thành phần cơ giới thịt nặng, dinh dưỡng khá, dùng trồng rừng và cây công nghiệp
9)Đất feralít đỏ vàng phát triển trên đá mácma 8.483 ha, phân bố chủ
yếu ở các xã giáp Yên Lập, dùng trồng rừng và cây lâu năm
10)Đất phù sa xen giữa đồi núi 200 ha (0,59%) ít chua, hơi dốc tụ,
Tài nguyên nước
Lượng nước mặt của Hạ Hòa tương đối lớn nhờ vào hệ thống sông ngòi dày đặc:
Sông Thao là tên dành riêng gọi sông Hồng đoạn từ biên giới Việt - Trung đến Việt Trì, phát nguyên từ dãy Ngụy Sơn tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) cao trên 2.000 m Từ phía dưới Yên Bái, lòng sông mở rộng đến 300 -
400 m, địa hình hai bên bờ hạ thấp xuống dưới mức 25 m và thường bị nước
lũ tràn ngập Tại đây đã xuất hiện những đoạn đê đầu tiên của Sông Hồng và vận tải trên sông đã thuận tiện hơn, trừ một vài nơi xuất hiện bãi cạn Sông Thao có một số phụ lưu chảy qua đất Hạ Hòa như sau:
Ngòi Lao chảy từ núi Banh (220 m) qua Văn Chấn (Yên Bái), Yên Lập,
chảy vào Hạ Hoà 17 km thuộc xã Vô Tranh và Bằng Giã, lưu vực lòng rộng, lượng nước dồi dào (ngòi dài 69 km, lưu lượng 20,4 m3
/s)
Trang 17Ngòi Vần chảy từ núi Hân (810 m), núi Bổng (736 m), núi Nả (977 m)
của Yên Bái qua Hiền Lương 2,5 km được chặn lại thành hồ chứa nước rộng
300 ha cung cấp và tưới nước cho 3 xã hữu ngạn sông Thao
Ngòi Giành xuất phát từ huyện Yên Lập chảy ra sông Thao, lưu vực
rộng, độ dốc không cao, dễ gây lũ lụt
Ngòi Sen chảy từ Lục Yên (Yên Bái) qua Đại Phạm, Hậu Bổng ra sông
Thao
Ngòi Lửa (tên thông dụng gọi là Lửa Việt) chảy từ núi Buộm ra sông
Thao, bị chặn lại thành hồ Ao Châu có diện tích 260 ha, lưu vực rộng, thuỷ sinh dồi dào, cung cấp nước tưới cho 1.200 ha vùng hạ huyện, có nhiều tiềm năng du lịch
Hạ Hòa còn có một hệ thống hồ đầm rất phong phú như đầm: Chính Công, Phai Lón (Quân Khê); Móng Hội, Đầm Trì (Lâm Lợi); Láng Thượng, Thùi (Chuế Lưu), Hầm Kỳ (Xuân Áng), Cửa Hoảng (Văn Lang); Khe Bảo, Khe Gân (Vô Tranh); Đầm Đào (Minh Côi); Đồng Phai (Hậu Bổng); Cửa Khâu (Phụ Khánh); Khe Luồn (Yên Luật)
Sông ngòi và hồ đầm phong phú, trữ lượng nước lớn dùng trong việc cung cấp cho sinh hoạt, sản xuất, vận chuyển, nuôi trồng thủy sản và du lịch
Trong Vân Đài loại ngữ, Lê Quý Đôn đã từng viết: ở Hạ Hòa và Thanh Ba, mạn con sông Thao có thứ hoả ngư, giống cá trắng mà sắc hơi đỏ Lại có thứ
mã ngư, mõm như mõm ngựa; thiềm ngư, đầu như đầu cóc Về mạn dưới địa
phận Sơn Vi, Phù Khang không có các giống cá ấy Tuy nhiên, do tốc độ dòng chảy lớn về mùa mưa và luôn luôn thay đổi, lòng sông bị nâng cao nên hiện tượng xói lở, úng ngập ngày càng nhiều, gây không ít trở ngại cho sản xuất và sinh hoạt
Trang 181.1.1.2 Dân cư
Theo thống kê đến năm 2010, dân số toàn huyện là 102.792.000 người, dân tộc Kinh chiếm chủ yếu, ngoài ra còn một số ít dân tộc như Mán, Mường sống tập trung ở thôn Tiến Lang xã Quân Khê và một số địa phương khác
Hiện tại, Hạ Hòa có 308 điểm dân cư tập hợp thành 297 khu dân cư chiếm một diện tích là 2.597,74 ha Khu vực nông thôn rộng lớn này cho một bình quân là 91,54 ha/xã; 13,94 ha/ thôn; 9,51 ha/điểm dân cư; 1.262 m2/hộ
và 288 m2/khẩu, trong đó Quân Khê bình quân lên tới 2.262 m2/hộ, còn Vụ Cầu chỉ có 531 m2/hộ Tuy nhiên, diện tích dành cho thổ cư ở khu vực nông thôn chỉ chiếm chừng 26% diện tích kể trên, cụ thể là chỉ có 581,40 ha (trong tổng số 611,4 ha chiếm 1,71% diện tích đất tự nhiên và 2,13% diện tích đất sử dụng vào các mục đích khác Diện tích thổ cư bình quân trong toàn huyện là
262 m2/hộ nhưng ở thị trấn và các xã có khu dân cư phát triển dọc hai bên quốc lộ bình quân chỉ đạt 150 m2/hộ, khiến cho hầu hết các xã khác bình quân cao hơn mức 300 m2/hộ
Cư dân Hạ Hòa thuộc loại trẻ, số đang trong độ tuổi lao động cao Toàn huyện tính đến năm 2010 có trên 52.000 lao động, chiếm gần một nửa dân số
Có tới 90% dân cư và lao động sống bằng nghề nông
Với nguồn lao động phong phú này sẽ tạo nguồn lực quan trọng để phát triển kinh tế, xã hội của huyện
1.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
Giao thông thực sự là huyết mạch của guồng máy kinh tế của địa phương Cả huyện hiện tại đã giành ra 916,88 ha đất cho việc mở mang đường sá, chiếm tỷ lệ 29,80% diện tích đất chuyên dùng và 2,70 % diện tích đất tự nhiên Mạng lưới giao thông của Hạ Hòa phân bố khá đều, nhưng chất lượng chưa đạt những thông số về kỹ thuật
Trang 19Điều này có thể nhận biết ngay ở hai đường quốc lộ chạy qua địa bàn của huyện Quốc lộ 32C từ Minh Côi đến Hiền Lương dài tới 24,4 km hầu như được đặt toàn bộ trên mặt đê sông Thao được rải nhựa nhưng lòng đường hẹp, qua trận lũ cơn bão số 4 tháng 7/2008 đã bị hư hỏng nhiều đoạn Quốc lộ 70A Đoan Hùng - Yên Bái, qua Đại Phạm 4 km được trải nhựa nhưng qua địa phận của huyện quá ngắn Do dó cũng thật dễ hiểu các tỉnh lộ 311 (Yên Kỳ - Đại Phạm dài 28,73 km), 320 (Vụ Cầu - Thị trấn Hạ Hòa dài 14,5 km), 314 (Ấm Hạ - Hậu Bổng, dài 22 km) đều rải nhựa và cấp phối và hầu hết kết hợp với đê sông Thao nhưng chất lượng không cao Đối với hệ thống các huyện
lộ, chiều dài chỉ hạn chế trong khoảng 4 - 10 km như đường Gia Điền - Y Sơn (9 km), Vĩnh Chân - Hương Xạ (7 km), Đan Thượng - Đại Phạm (7 km), Xuân Áng - Hiền Lương (10 km), Bằng Giã - Mỹ Lương (9 km), Hương Xạ - Tây Cốc (6 km), Yên Kỳ - Vân Lĩnh (4 km), Hương Xạ - Phương Viên (4 km) Giao thông đường bộ của huyện bị cách trở bởi con sông Hồng; năm
2007 Nhà nước đầu tư xây dựng cầu Hạ Hòa tại khu vực thị trấn Hạ Hòa, năm
2010 đưa vào sử dụng đã góp phần quan trọng trong việc đi lại, giao lưu, buôn bán giữa các xã trong huyện Ngoài ra, toàn huyện còn 1.413 km đường
liên xã, liên thôn
Nhìn vào chiều rộng mặt đường và diện tích hành lang ta cũng thấy rõ
sự hạn chế về chất lượng Nói chung đều nhỏ hẹp, chất lượng xấu, lại bị lấn chiếm và chưa vào cấp đường Chẳng hạn như Quốc lộ 32C mặt đường rộng
16 m, diện tích nền chiếm 390.400 m2, diện tích hành lang chiếm 976.000 m2
; Quốc lộ 70A mặt đường rộng 20 m (80.000 m2
nền, 160.000 m2 hành lang); các tỉnh lộ mặt đường rộng 12 - 13m (819.260 m2
nền, 601.000 m2 hành lang); đường liên xã, liên thôn mặt đường rộng 5 m (7.066.600 m2
nền)
Trên địa bàn Hạ Hòa có 25,71 km đường sắt Hà Nội - Lào Cai chạy qua, chiếm bề mặt 15 m (37.250 m2
nền, 544.500 m2 hành lang) có 2 ga Ấm Thượng (thị trấn Hạ Hòa), Đan Thượng chiếm 16.210 m2
Trang 20
Giao thông đường thủy chủ yếu trên sông Thao Hiện tại một số giang cảng được mở ra ở Vĩnh Chân, Ấm Thượng và bến phà Ấm Thượng sang Chuế Lưu Nếu kể cả các bến đò ngang, diện tích dành cho bến cảng, bến phà
Về thông tin liên lạc, hiện tại ngoài bưu điện thị trấn Hạ Hòa, còn có 4 trạm bưu cục khu vực ở các xã Bằng Giã, Xuân Áng, Đan Thượng, Hương Xạ; 33 xã, thị trấn đã có điểm bưu điện - văn hoá xã, đã có đài truyền thanh cấp huyện và 33 xã, thị trấn
Trong nhiều năm qua, ngành công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp Hạ Hòa tập trung vào sản xuất chè, giấy, vôi, gạch, cát, sỏi, gỗ thành phẩm và xay xát lương thực được thị trường ưa chuộng và chấp nhận
Ngoài Công ty cổ phần giấy Lửa Việt sản xuất và cung cấp cho nhu cầu trong và ngoài tỉnh nhiều sản phẩm giấy có chất lượng, trong huyện còn có nhiều cơ sở sản xuất vật liệu xây dựng ở Phụ Khánh, Y Sơn, Chuế Lưu, Minh Hạc Khai thác cao lanh, trường thạch ở Yên Luật, Phương Viên, Yên Kỳ
Toàn huyện tính đến năm 2010 có 30 trạm biến thế điện, công suất 6.500 KW với 64,28 km đường điện cao thế và 94,50 km đường điện hạ thế
Tiềm năng du lịch ở khu vực đầm Ao Châu, Đền Mẫu Âu Cơ, Đền Chu Hưng và hồ Ngòi Vần, Ao Giời - Suối Tiên cho nhiều hứa hẹn để phát triển nhiều loại hình du lịch thiên nhiên kết hợp với các sinh hoạt văn hoá cộng đồng
Trang 21Nghề rừng ở Hạ Hòa phát triển khá sớm Trước kia, ngoài việc khai thác gỗ, các sơn tràng còn tận dụng khai thác nhiều loại lâm sản khác để dùng cho việc làm nhà cửa, đan lát, chế tạo dụng cụ, làm nguyên liệu giấy (tre gai, hóp, trúc, mai, giang) Nhiều loại cây rừng đã được thuần hoá để cung cấp gỗ hoặc thực phẩm như mít, dẻ, trám, vả, đậu triều Không ít cây được trồng để khai thác tinh dầu nhựa như quế, trẩu, sở, bồ đề, sơn Ngoài ra còn một số cây dược liệu như ba kích, sa nhân, củ mài Ngày nay, địa phương đang hướng nghề rừng vào trồng các loại cây có giá trị như tre lấy măng xuất khẩu, cây nguyên liệu giấy Hàng năm, toàn huyện có 1.200 ha rừng đến chu kỳ khai thác, chủ yếu là bạch đàn (trữ lượng 30 - 40 m2/ha), keo, bồ đề
Ngày xưa, Hạ Hòa nằm trên con đường trung chuyển lâm sản giữa vùng ngược và vùng xuôi Theo sông Thao và các ngòi Vần, Ngòi Lao, Ngòi Giành, gỗ và tre nứa kết thành bè mảng; củ nâu, cánh kiến, nhựa trám, mộc nhĩ, nấm hương, quả dọc, trám, vỏ gió, măng, quýt chất đầy thuyền đưa về các tỉnh đồng bằng
Sự giao thoa giữa nghề rừng và nghề nông đã tạo ra loại hình vườn rừng (lâm viên) khá độc đáo Đã có những rừng cọ ở Hạ Hòa rộng hàng trăm mẫu Sơn lá si và sơn lá trắng, mặc dù phải chăm bón khá công phu nhưng cũng xuất hiện trên nhiều vùng đất dốc đồi thoải của huyện Trước đây chè được trồng lẻ tẻ ở các hộ gia đình, trong các nông trường; ngày nay chè được coi là cây công nghiệp chủ lực trên đồi của nhiều gia đình, trở thành cây xoá đói giảm nghèo của một số địa phương, năm 2010 diện tích chè toàn huyện có
1400 ha, trong đó chè kinh doanh 1200 ha, tập trung nhiều ở các xã Yên Kỳ, Hương Xạ, Cáo Điền, Phương Viên, Ấm Hạ
1.1.3 Một vài nét về Đảng bộ huyện Hạ Hòa
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời ngày 3/2/1930 là một sản phẩm của cuộc đấu tranh dân tộc và giai cấp Việt Nam đầu thế kỉ XX Nó là kết quả của
Trang 22quá trình lựa chọn con đường cứu nước và chuẩn bị về tư tưởng, chính trị và
tổ chức của một tập thể cách mạng, người có công to lớn là Nguyễn Ái Quốc Ngay từ khi ra đời Đảng đã có cương lĩnh đúng đắn, sáng tạo theo học thuyết Mac –Lênin, là ngọn cờ dẫn dắt dân tộc ta tiến lên đấu tranh vì độc lập, tự do,
mở đường đi lên Chủ nghĩa xã hội
Lúc này ở các địa phương chưa có tổ chức Đảng, có chăng chỉ là những
cơ sở hay chi bộ nhỏ bé Hạ Hòa (tỉnh Phú Thọ) là nơi có đền Quốc Mẫu Âu
Cơ, nhân dân Hạ Hòa cần cù gan dạ, anh dũng Khi có Đảng Cộng sản ra đời các thế hệ quân dân Hạ Hòa sớm giác ngộ theo Đảng, cùng nhân dân cả nước đánh giặc giành chính quyền và kháng chiến bảo vệ độc lập dân tộc và tự do cho chính mình
Vào những năm cuối thế kỉ XIX nhân dân Hạ Hòa cùng nhân dân tỉnh Phú Thọ bị thực dân Pháp và bọn phong kiến bóc lột hết sức nặng nề Mâu thuẫn giữa nhân dân với bọn đế quốc Pháp và phong kiến nhà Nguyễn ngày càng gay gắt, nhiều cuộc đấu tranh đã diễn ra
Năm 1939 – 1940, các đồng chí Trần Thị Minh Châu, Nguyễn Văn Trạch là cán bộ xứ ủy Bắc Kỳ, đồng chí Đào Duy Ký cán bộ của Ban cán sự tỉnh Phú Thọ đã về Hạ Hòa hoạt động lập cơ sở ở Na Sang – Vần (Hiền Lương), sau đó lan nhanh ra các xã Đan Thượng, Nhật Tân, Ấm Thượng, Gia Điền Phong trào không chỉ phát triển trong địa phận huyện Hạ Hòa mà còn lan sang một số địa phương khác thuộc địa phận tỉnh Phú Thọ và Yên Bái Do điều kiện, vị trí địa lí thuận lợi, phong trào quần chúng mạnh nên Trung ương Đảng, xứ ủy Bắc Kỳ và Ban cán sự tỉnh Phú Thọ - Yên Bái đã chọn Vần – Hiền Lương, để xây dựng căn cứ địa cách mạng chuẩn bị lực lượng cho công cuộc khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền ở Phú Thọ, Yên Bái, Nghĩa Lộ
Năm 1943, Chiến khu Vần – Hiền Lương được thành lập do các đồng chí Hoàng Quốc Việt, Ngô Minh Loan, Bình Phương trực tiếp chỉ đạo Tại
Trang 23chiến khu các chiến sĩ cách mạng đã móc nối với các chi bộ nhà tù Sơn La, tổ chức cho các chiến sỹ trong tù vượt ngục, đưa đón, nuôi giấu, bảo vệ các chiến sỹ Cộng sản như đồng chí Lê Thanh Nghị, Trần Quốc Hoàn,Trần Huy Liệu, Hoàng Tùng
Ngày 6/5/1945, để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng với chiến khu Vần – Hiền Lương, xứ ủy Bắc Kỳ đã chỉ đạo thành lập một chi bộ Đảng ở Na Sang gồm 3 đồng chí: Hoàng Quang Minh (tức Ngô Minh Loan) Lê Huy Ấm, Đặng Bá Lâu, do đồng chí Hoàng Quang Minh làm bí thư Ít lâu sau, ở Đan Thượng một chi bộ Đảng mới ra đời gồm 4 đảng viên do đồng chí Trịnh Xuân Tiến làm bí thư Đây là những chi bộ đầu tiên trên đất Hạ Hòa
Việc xây dựng lực lượng chiến đấu lúc này là hết sức cần thiết Ngày 14/5/1945, tại chùa Hiền Lương, đội du kích Âu Cơ được thành lập Đây là đội du kích đầu tiên trong khu vực Lúc đầu chỉ có 33 hội viên, về sau tăng lên 100 hội viên Đây cũng là lực lượng tiền thân của lực lượng vũ trang tỉnh Phú Thọ Chỉ trong một thời gian ngắn đội du kích Âu Cơ đã tổ chức được 10 trận đánh giặc, tước vũ khí, giải thoát tù chính trị, phá kho thóc của Nhật chia cho dân Đặc biệt ngày 22/6/1945, tại Đèo Giang – Hiền Lương diễn ra trận chiến đấu lớn, đội du kích ta đã tiêu diệt được 4 tên phát xít Nhật và nhiều lính ngụy, bắn chìm một thuyền, đập tan ý đồ phá khu căn cứ địa cách mạng Đây là trận đánh thắng Nhật đầu tiên khi Nhật hất cẳng Pháp (9/3/1945)
Với sự lớn mạnh của lực lượng vũ trang và tinh thần rực lửa cách mạng của quần chúng nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng, ngày 2/8/1945 toàn huyện đã tấn công khởi nghĩa giành chính quyền tại huyện lị Hạ Hòa Đây là nơi giành chính quyền sớm nhất tỉnh Phú Thọ Sau đó lực lương vũ trang tiếp tục giành chính quyền ở Yên Bái (17/8/1945), ở tỉnh lị Phú Thọ (23/8/1945)
Sự kiện ngày 2/8/1945 là một sự kiện trọng đại của Đảng bộ, quân và dân huyện Hạ Hòa, đã góp phần cùng nhân dân cả nước làm nên cách mạng tháng
Trang 24Tám 1945 thành công Sau khi giành được chính quyền, nhân dân Hạ Hòa cũng như nhân dân trên cả nước đứng trước những khó khăn và thử thách lớn Hậu quả của chế độ cũ để lai, nạn mù chữ, tệ nạn xã hội, nạn đói Trước tình hình đó, dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy, huyện đã thực hiện nhiệm vụ cấp bách
là phát động các phong trào tăng gia sản xuất, chống giặc đói, giặc dốt, bài trừ các tệ nạn xã hội, chia lại ruộng đất cho dân thiếu ruộng, tiến hành giảm tô cho nông dân và tá điền Vận động quần chúng ủng hộ chính phủ như: “tuần
lễ vàng” xây dựng “quỹ độc lập” Phát động phong trào bộ đội cách mạng như: lập quỹ “vệ quốc đoàn”, quỹ “mùa đông binh sĩ” đồng thời thực hiện phòng gian, bảo vệ và giữ vững thành quả cách mạng
Sau hiệp định sơ bộ ngày 6/3/1946, quân Tưởng rút về nước Triển khai chủ trương của tỉnh ủy Phú Thọ, lực lượng tự vệ trong huyện đã khẩn trương cùng với bộ đội chủ lực truy quét bọn Quốc dân Đảng phát động tại thị xã Yên Bái, Nghĩa Lộ Đêm ngày 2/6/1946 đã diễn ra trận đánh lớn vây bắt Vũ Hồng Khanh tại thị xã Yên Kì, quân dân Hạ Hòa đã tiêu diệt hàng chục tên giặc, giải thoát cho các chiến sĩ cách mạng bị chúng bắt như: Đồng chí Trần Đăng Ninh, Đặng Việt Châu, kĩ sư Lê Dung, cùng nhiều đồng bào bị chúng bắt theo, đập tan âm mưu tụ tập lại lực lượng của bọn Quốc dân Đảng phản động
Càng chiến đấu xây dựng càng trưởng thành, tổ chức chi bộ phát triển ở nhiều xã Thực hiện chủ trương của tỉnh ủy Phú Thọ tách các chi bộ ghép Đầu tháng 1/1947, Đại hội Đảng bộ lần thứ nhất của tỉnh Phú Thọ họp tại xã Cát Trù (huyện Cẩm Khê) Đại hội tiến hành kiểm điểm lại những ngày đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp, đề ra những nhiệm vụ cấp bách về quân
sự, chính trị và các mặt công tác khác Đặc biệt Đại hội đã nhấn mạnh những khuyết điểm trong công tác xây dựng Đảng và cần phải khắc phục ngay Chủ trương của Tỉnh ủy là “tích cực củng cố và phát triển Đảng làm cho Đảng có tính chất cách mạng mạnh mẽ, có cơ sở vững chắc ở các địa bàn quan trọng
Trang 25phát triển đi đôi với củng cố, tích cực xây dựng chi bộ làm cho các chi bộ có
đủ khả năng lãnh đạo mọi hoạt động ở địa phương” [2,tr.48]
Thực hiện chủ trương của tỉnh ủy Phú Thọ, ngay trong tháng 1/1947, tại nhà ông Hàn Cư (Vũ Ẻn – Thanh Ba) đã tổ chức Hội nghị tách liên chi bộ ghép Thanh Ba - Hạ Hòa và thành lập Ban cán sự Đảng Hạ Hòa gồm 5 đồng chí: Trịnh Xuân Tiến, Ma Quang Lâm, Nguyễn Văn Điệp, Doanh, Huyền (Hoài), do đồng chí Ma Quang Lâm làm Bí thư Từ đó trở đi, Ban chấp hành Đảng bộ huyện Hạ Hòa đã lãnh đạo cuộc kháng chiến của nhân dân Hạ Hòa
đi đến thắng lợi và lãnh đạo công cuộc xây dựng huyện trong thời kì mới
1.2 THỰC TRẠNG ĐÓI NGHÈO Ở HẠ HÒA TRƯỚC NĂM 2001
Đói nghèo và sự phân hóa giàu nghèo là một vấn đề kinh tế - xã hội nóng bỏng hiện nay Đó là một lực cản lớn trên con đường xây dựng đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Nhận thức được tầm quan trọng của các chính sách xã hội, trong đó có xóa đói giảm nghèo, từ đại hội VI (tháng 12/1986), Đảng ta đã có chủ trương
về chính sách xã hội và xóa đói giảm nghèo Sau đó được Đảng ta tiếp tục phát triển ở các kì đại hội tiếp theo Đặc biệt, từ năm 1998, đã đưa xóa đói giảm nghèo trở thành một trong 10 chương trình mục tiêu quốc gia
Ý thức được sâu sắc vấn đề này, trong những năm qua, Đảng bộ và nhân dân huyện Hạ Hòa (tỉnh Phú Thọ) đã có nhiều nỗ lực trên mọi lĩnh vực
để thực hiện xóa đói giảm nghèo, tăng giàu Tuy nhiên, tính đến trước năm
2001 Hạ Hòa vẫn còn hết sức khó khăn về nhiều mặt, nói chung vẫn là một huyện nghèo Nền kinh tế chủ yếu là thuần nông, độc canh Điều này được thể hiện rõ trong cơ cấu GDP, nông – lâm – ngư nghiệp chiếm gầm 45%, công nghiệp, dịch vụ còn kém phân tầng, tỷ lệ đói nghèo cao hơn bình quân cả nước và so với các huyện khác trong cùng tỉnh
Trang 26Dựa vào tiêu chí phân loại đói nghèo của quốc gia đến năm 1998 Phú Thọ có 56.101 hộ nghèo chiến tỷ lệ 19.5% số hộ trong toàn tỉnh, trong số đó hộ nghèo là 42.579 hộ chiếm 17.8%, số hộ đói: 13.522 hộ chiếm 4.7% Đây là những hộ cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc, chỗ ở chỉ là tạm bợ Ở Hạ Hòa, tổng số hộ 24.575 hộ với 105426 khẩu, số hộ đói nghèo 3864 hộ chiếm 15.72% trong đó hộ đói 1893 hộ chiếm 7.7%, hộ nghèo 1971 hộ chiếm 8.02%)
Trong điều kiện kinh tế thị trường và mở cửa, đói nghèo ở Hạ Hòa đi liền với sự gia tăng các tệ nạn xã hội và một mặt nào đó, chính các tệ nạn xã hội đã đẩy đói nghèo đến mức gay gắt hơn Xuất phát từ đặc điểm này, việc xóa đói giảm nghèo đòi hỏi phải giải quyết đồng bộ các biện pháp kinh tế, gắn chính sách kinh tế với chính sách xã hội
Một đặc điểm nữa là do chính sách đầu tư vào huyện chưa đáp ứng được yêu cầu của quá trình chuyển từ độc canh sang sản xuất hàng hóa, sự yếu kém của kết cấu hạ tầng ở huyện như: Giao thông, thủy lợi, thông tin liên lạc và các kết cấu hạ tầng khác Toàn huyện có 30.000 ha đất chưa sử dụng; trong đó diện tích đất trống, đồi núi chọc là 20.000 ha Một mặt vì thiếu vốn, mặt khác chưa có hình thức tổ chức thích hợp để giải quyết Địa hình của huyện có độ dốc lớn, độ phì nhiêu đất thấp, chủ yếu là đất bạc màu, đất lầy thụt độ chua trong đất cao, làm cho năng xuất cây trồng vật nuôi thấp, chi phí sản xuất cao nhưng hiệu quả lại ít ỏi
Tính đến trước năm 2001, các chính sách xã hội trợ giúp người nghèo còn ít, chưa đáp ứng được nhu cầu của người dân, hơn nữa chiến tranh vừa mới đi qua hậu quả để lại còn rất nặng nề, đời sống nhân dân ổn định chưa lâu Dân cư chủ yếu là dân bản địa, có tính bảo thủ cao Họ vẫn giữ những tập quán canh tác cũ, lạc hậu mà ít chịu tìm tòi học hỏi để đổi mới cách sản xuất (trong khi thị trường đòi hỏi phải có trình độ khoa học kĩ thuật để đạt được năng xuất, chất lượng hiệu quả) Từ khi chuyển sang cơ chế thị trường, các hộ
Trang 27nghèo đã không có đủ vốn liếng, cơ sở kỹ thuật, các quan hệ xã hội để kịp thích nghi với hoàn cảnh mới Cái duy nhất họ có lúc này là sức lao động Trong điều kiện hiện nay kỹ năng lao động và cơ hội làm việc là hai nhân tố quan trọng để vượt qua ngưỡng nghèo khổ Sự chuyển đổi cơ chế đã làm không ít hợp tác xã nông nghiệp, các cơ sở sản xuất bị giải thể, sản xuất bị suy giảm, tốc độ tăng trưởng chậm, năng xuất hầu như không có tích lũy từ một nền kinh tế Hơn nữa thiên tai liên tiếp, lưu thông phân phối lại ách tắc, nên các hộ nông dân ở các xã vùng núi trong huyện lâm vào cảnh túng thiếu, nghèo đói khá nghiêm trọng
Những hộ đói nghèo trên địa bàn huyện thường rơi vào những gia đình thuần nông, độc canh cây lúa và tự cung tự cấp ít tư liệu sản xuất, đông con, thiếu lao động, thiếu việc làm, thu nhập thấp Ngay tái sản xuất giản đơn cũng không đủ điều kiện, nghề phụ không có Bên cạnh những gia đình chủ yếu làm nghề nông thì có một bộ phận gia đình làm nghề tiểu thủ công nghiệp (4%), buôn bán dịch vụ (6%) Tuy nhiên những nghề này thu nhập bấp bênh, lúc được lúc không do những nghề này kém phát triển, buôn bán nhỏ, không
có thị trường tiêu thụ, bị ép giá
Xác định được công tác xóa đói giảm nghèo là một nhiệm vụ quan trọng, ngày 23-7-1998, Thủ tướng Chính phủ chính thức phê duyệt chương trình mục tiêu quốc gia về xóa đói giảm nghèo Để thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về xóa đói giảm nghèo giai đoạn 2001 – 2010 của chính phủ đồng thời phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương, nâng cao đời sống nhân dân, Ban chấp hành Đảng bộ huyện đã ban hành nghị quyết số 07 NQ/HU ngày 24/5/2001 về chương trình xóa đói giảm nghèo giai đoạn 2001 -
2006 Trong đó nêu rõ: “Đáp ứng các nhu cầu thiết yếu của nhân dân, đảm bảo vững chắc an ninh lương thực và thiếu đói giáp hạt trên địa bàn huyện, không ngừng nâng cao mức sống cho người dân, tăng thu nhập ”[7,tr.2]
Trang 28Ngày 10/7/2006, Ban chấp hành Đảng bộ huyện ban hành nghị quyết số
11 – NQ/HU về chương trình xóa đói giảm nghèo và giải quyết việc làm giai đoạn 2006 – 2010 Nghị quyết đã xác định nhiệm vụ trọng tâm của toàn huyện trong 5 năm tới là: “Tiếp tục thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia
về xóa đói giảm nghèo, không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân Cấp vốn và các vật tư cần thiết để thực hiện chuyên canh các cây công nghiệp trên địa bàn huyện, đồng thời phải giải quyết vấn đề việc làm cho nhân dân ” [8,tr.2]
Ban chấp hành huyện ủy đã ban hành các nghị quyết về xóa đói giảm nghèo đồng thời xây dựng các đề án để triển khai tổ chức thực hiện, thành lập Ban chỉ đạo và các tổ công tác giúp việc Ban chỉ đạo, phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng thành viên phụ trách các nhiệm vụ và chỉ đạo các xã và thị trấn trong việc thực hiện nghị quyết Nhờ vậy, việc thực hiện xóa đói giảm nghèo của huyện đạt được hiệu quả đáng khích lệ, nghị quyết về xóa đói giảm nghèo
và giải quyết việc làm được quán triệt đến toàn bộ cán bộ đảng viên và nhân dân; tập trung đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, thực hiện các chính sách, dự
án xóa đói giảm nghèo ở địa phương, khơi dậy ý chí vươn lên của người nghèo,
sự tham gia giúp đỡ của cộng đồng, tạo điều kiện để hộ nghèo thoát nghèo Với những chính sách, những nghị quyết mới của Ban lãnh đạo huyện đã đưa công tác xóa đói giảm nghèo đạt được những tựu lớn, dần dần ổn định đời sống nhân dân Tuy nhiên, bên cạnh những thành công, Đảng bộ và nhân dân huyện Hạ Hòa cũng gặp những khó khăn cần phải khắc phục trong giai đoạn tới
1.3 CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VỀ XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO
Đói nghèo là vấn đề kinh tế, đồng thời cũng là vấn đề xã hội mà không một quốc gia nào không quan tâm tới trong quá trình phát triển của mình
Muốn phát triển kinh tế - xã hội, đưa đất nước tiến lên trình độ văn
Trang 29quyết triệt để vấn đề đói nghèo đòi hỏi phải xóa bỏ tình trạng bóc lột, áp bức bất công xã hội đối với mọi người lao động Từ mấy năm trở lại đây, Đảng và Nhà nước đã đặt ra vấn đề xóa đói giảm nghèo coi đó là một công tác lớn, vừa bức xúc, gay gắt, vừa có ý nghĩa cơ bản, lâu dài nhất là đối với nông dân ở vùng nông thôn
Từ Hội nghị Trung ương lần thứ V (khóa VII) Đảng ta đã đề ra chủ trương xóa đói, giảm nghèo trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Nghị quyết đã chỉ rõ “Cùng quá trình đổi mới, tăng trưởng kinh tế phải tiến hành công tác xóa đói giảm nghèo, thực hiện công bằng xã hội tránh sự phân hóa giàu nghèo vượt quá giới hạn cho phép”
Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ IX diễn ra từ ngày 19/4 đến 22/4/2001 tại Hà Nội Nhiệm vụ của Đại hội là nhìn lại chặng đường 71 năm cách mạng Việt Nam, tổng kết 5 năm thực hiện nghị quyết đại hội VIII, 15 năm đất nước đổi mới, 10 năm thực hiện chiến lược kinh tế - xã hội, rút ra bài học kinh nghiệm sâu sắc, từ đó phát triển và hoàn thiện đường lối, định ra chiến lược phát triển đất nước trong hai thập kỉ đầu của thế kỉ XXI, hoạch định phương hướng, nhiệm vụ xây dựng Đảng ngang tầm đòi hỏi của nhân dântrong thời kỳ, sửa đổi bổ sung Điều lệ Đảng
Đảng ta đưa ra mục tiêu tổng quát của chiến lược 10 năm (2001 – 2010) đó là: Đưa nước ta thoát khỏi tình trạng kém phát triển; nâng cao rõ rệt đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần cho nhân dân; tạo nền tảng để đến năm
2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại Nguồn lực con người, năng lực khoa học và công nghệ, kết cấu hạ tầng, tiềm lực kinh tế, quốc phòng, an ninh được tăng cường, thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được hình thành về cơ bản; vị thế của nước ta trên trường quốc tế được nâng cao Và một trong các mục tiêu cụ thể của chiến lược được Đảng ta hướng tới đó là: Xóa hộ đói, giảm nhanh hộ nghèo
Trang 30Kế hoạch 5 năm 2001- 2005 được Đảng ta xác định là rất quan trọng trong việc thực hiện chiến lược 2001 – 2010 Mục tiêu là: “tăng cường kinh tế nhanh và bền vững Chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động theo hướng công nghiệp hóa hiện đại hóa Nâng cao rõ rệt hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế Mở rộng kinh tế đối ngoại Tạo chuyển biến mạnh mẽ về giáo dục và đào tạo, khoa học công nghệ, phát huy nhân tố con người Tạo việc làm; cơ bản xóa đói, giảm hộ nghèo; đẩy lùi các tệ nạn xã hội; ổn định và cải thiện đời sống nhân dân Tiếp tục tăng cường kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội; hình thành một bước quan trọng thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Giữ vững ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và an ninh quốc gia” [13, tr.24]
Đại hội lần thứ IX của Đảng (4 – 2001) và các hội nghịTrung ương khóa IX đã cụ thể hóa và bổ sung các quan điểm về chính sách xã hội của Đại hội VIII Đại hội chỉ rõ: Giải quyết các chính sách xã hội phải gắn liền với quá trình xây dựng thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; trong giải quyết các chính sách xã hội nhà nước vừa là điều tiết vừa là nhà đầu tư; coi trọng công bằng và hưởng thụ các dịch vụ xã hội, đặc biệt là trong hưởng thụ dịch vụ giáo dục và chăm sóc y tế với việc tạo cơ hội cho những đối tượng, những vùng khó khăn có cơ hội được chăm sóc tốt hơn; xã hội hóa việc giải quyết các vấn đề xã hội; thực hiện các chính sách xã hội, động viên toàn xã hội tham gia giải quyết các vấn đề xã hôi; thực hiện các chính sách xã hội hướng vào phát triển và lành mạnh hóa xã hội Như vậy, có thể thấy Đảng
ta đã có những nhận thức mới về vai trò của chính sách xã hội trong chính sách công và ngày càng dành những sự quan tâm, chú trọng hơn nữa tới các chính sách xã hội
Về vấn đề xóa đói giảm nghèo, Đảng ta đưa ra một loạt các quan điểm như: Tiếp tục thực hiện có hiệu quả chương trình xóa đói giảm nghèo; quan
Trang 31tâm xây dựng kết cấu hạ tầng cho các vùng nghèo, xã nghèo đồng thời nâng cấp, cải tạo các trục giao thông nối vùng nghèo, xã nghèo với nơi khác, tạo điều kiện thuân lợi cho vùng nghèo, vùng khó khăn phát triển; đi đôi với việc xây dựng kết cấu hạ tầng cơ sở, phải coi trọng việc tạo nguồn lực cần thiết để dân cư ở các vùng nghèo, xã nghèo đẩy mạnh sản xuất, phát triển ngành nghề, tăng thu nhập; nâng dần mức sống của các hộ đã thoát nghèo, tránh tình trạng tái nghèo
Đảng chủ trương: “Thực hiện chương trình xóa đói giảm nghèo thông qua biện pháp cụ thể, sát với tình hình từng địa phương, sớm đạt được mục tiêu không còn hộ đói, giảm mạnh các hộ nghèo Tiếp tục tăng tổng nguồn vốn xóa đói giảm nghèo, mở rộng các hình thức tín dụng trợ giúp người nghèo sản xuất kinh doanh Có chính sách trợ giá nông sản, phát triển việc làm và nghề phụ nhằm tăng thu nhập cho các hộ nông dân Thực hiện các chính sách xã hội bảo đảm an ninh cuộc sống mọi thành viên trong cộng đồng, bao gồm bảo hiểm xã hội đối với người lao động các thành phần kinh
tế, cứu trợ xã hội những người gặp rủi do, bất hạnh”[13,tr.32] Một trong những chỉ tiêu cụ thể của kế hoạch 10 năm 2001 – 2010 đó là: Xóa sạch hộ đói, giảm hộ nghèo xuống còn 3% vào năm 2010
Như vậy, với điều kiện tự nhiên là vùng trung du miền núi bắc bộ đất đai chủ yếu là đồi núi và khí hậu chỉ phù hợp với phát triển kinh tế nông – lâm nghiệp, điều này quyết định đến sự phát triển kinh tế xã hội của huyện
Từ điều kiện kinh tế - xã hội và thực trạng đói nghèo ở Hạ Hòa trước năm
2001 ta có thể thấy được mức độ phát triển kinh tế - xã hội, mức sống của người dân, thực trạng đời sống của nhân dân tại huyện Từ đó thấy được những chủ trương quyết sách của Đảng Cộng sản Việt Nam cũng như Đảng
bộ huyện Hạ Hòa là đúng đắn, phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước nói chung và Hạ Hòa nói riêng
Trang 32Chương 2 ĐẢNG BỘ HUYỆN HẠ HÒA (TỈNH PHÚ THỌ) LÃNH ĐẠO XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO TRONG NHỮNG NĂM 2001 – 2010
2.1 GIAI ĐOẠN 2001 - 2005
2.1.1 Chủ trương của Đảng bộ huyện Hạ Hòa
Để cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho người nghèo, thu hẹp khoảng cách với các huyện trong tỉnh về trình độ dân trí và chất lượng cuộc sống, góp phần ổn định đời sống, ổn định chính trị xã hội tạo điều kiện cho kinh tế phát triển Đảng bộ huyện Hạ Hòa đã có một số chủ trương sau: Tại Đại hội Đảng diễn ra vào đầu năm 2001 đã nêu ra mục tiêu chung cho giai đoạn 2001 – 2010 là “Tạo sự chuyển biến nhanh hơn về vật chất và tinh thần cho người nghèo Hỗ trợ phát triển sản xuất nông – lâm nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa, khai thác tốt các thế mạnh của địa phương Xây dựng cơ
sở hạ tầng kinh tế xã hội phù hợp, xây dựng xã hội nông thôn ổn định giàu bản sắc văn hóa dân tộc, dân trí được nâng cao môi trường sinh thái được bảo
vệ, đảm bảo vững chắc an ninh quốc phòng”
Đại hội cũng nêu rõ phương hướng cụ thể cho giai đoạn 2001 – 2005 như sau: “Giảm tỉ lệ hộ nghèo xuống dưới 40%, cơ bản không còn nhà ở tạm;
cơ bản hoàn thành việc giao đất, giao rừng trợ cấp lương thực cho người dân
ở những nơi không có điều kiện để tổ chức sản xuất, tạo sự chuyển biến bước đầu trong sản suất nông nghiệp, lâm nghiệp; nâng cao đời sống nhân dân trên
cơ sở phát triển nông nghiệp, bảo vệ và phát triển rừng, đẩy mạnh một bước xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội của huyện, tạo bước đột phá trong đào tạo nguồn nhân lực”[7,tr.1]
Để thực hiện phương hướng, nhiệm vụ và mục tiêu cụ thể trên, Đảng
ủy và nhân dân huyện Hạ Hòa đã có những chương trình, việc làm cụ thể để
Trang 33xóa đói giảm nghèo, giải quyết việc làm, hỗ trợ về vốn và kĩ thuật cho bà con nhân dân đầu tư sản xuất cải thiện đời sống Góp phần ổn định đời sống kinh
tế, xã hội để đưa huyện sánh ngang với các huyện khác trong tỉnh, đóng góp vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Xóa đói giảm nghèo là một việc làm hết sức cần thiết và phải thực hiện nhất quán Vì chỉ có xóa đói giảm nghèo thì mới ổn định được đời sống nhân dân, đời sống được ổn định thì kinh tế - xã hội mới phát triển, an ninh chính trị
- trật tự an toàn xã hội mới được giữ vững Nhân dân muốn thoát nghèo thì phải nhờ vào chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước Nhờ những chủ trương đúng đắn của Đảng và nhà nước, các tỉnh trong cả nước đã quyết tâm thực hiện xóa đói giảm nghèo làm cho nông dân, nông nghiệp, nông thôn ngày càng vững mạnh, đời sống nhân dân ngày càng được nâng cao, chính trị ngày càng vững mạnh, nhân dân ngày càng có niềm tin vào nhà nước, ngày càng gắng sức mình cho công cuộc xây dựng đất nước ngày càng phồn vinh, hạnh phúc
Hoạt động xóa đói giảm nghèo ở Hạ Hòa giai đoạn 2001 – 2005 bao gồm các chính sách và dự án Các chính sách liên quan đến xóa đói giảm nghèo, giải quyết việc làm (cho vay vốn để trồng rừng, mở rộng diện tích canh tác, đầu tư theo mô hình VAC), các chính sách kinh tế - xã hội, chính sách sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường, phát triển nguồn nhân lực, công tác xuất khẩu lao động, hỗ trợ sản xuất và dạy nghề (vay vốn lãi suất thấp, được tiếp cận cách làm mới thông qua các lớp tập huấn do Huyện ủy tổ chức) Hỗ trợ người nghèo về giáo dục Nhờ những chính sách trên mà nhân dân trong huyện ngày càng ổn định và phát triển
2.1.2.Những thành tựu và hạn chế
2.1.2.1 Thành tựu
Tổng kết giai đoạn 2001 – 2005, cùng với những thắng lợi hoàn thành các chỉ tiêu kinh tế - xã hội của huyện, trong lĩnh vực xóa đói giảm nghèo
Trang 34cũng thu được những thành tựu đáng khích lệ Đến hết năm 2005 số hộ đói giảm mạnh chỉ còn 3%, giảm số hộ nghèo, tăng hộ giàu; tỉ lệ hộ nghèo giảm
từ 56% năm 2001 xuống còn 34,8% năm 2006 Huy động được nguồn vốn lớn cho các chính sách xã hội, chương trình giải quyết việc làm đạt kết quả tốt Trong 5 năm đã giải quyết việc làm mới cho 3.418 lao động Các chính sách kinh tế - xã hội, hỗ trợ sản xuất và dạy nghề cũng có những khởi sắc
Đời sống nhân dân được cải thiện; hỗ trợ người nghèo tiếp cận với các dịch vụ sản xuất, dịch vụ xã hội một cách cơ bản và bình đẳng, giúp họ cải thiện một bước điều hiện cuộc sống và sản xuất Giảm khoảng cách chênh lệch về thu nhập, mức sống giữa các vùng Ưu tiên đầu tư cơ sở hạ tầng cho các xã có tỉ lệ hộ nghèo cao
Chương trình xóa đói giảm nghèo – giải quyết việc làm đã tạo thành sức mạnh tổng hợp: Nâng cao năng lực sản xuất, kiến thức làm kinh tế cho người nghèo; hướng dẫn người nghèo cách làm ăn; nông dân và các hộ nghèo
có vốn sản xuất, lao động có việc làm, sản xuất nông – lâm nghiệp, dịch vụ phát triển, trình độ dân trí, kinh nghiệm sản xuất được nâng lên, tạo điều kiện cho người nghèo tự vươn lên thoát nghèo và có điều kiện để làm giàu, góp phần giữ vững an ninh chính trị - trật tự an toàn xã hội trên địa bàn
Hầu hết các chính sách và dự án của chương trình thực hiện đạt mục tiêu đề ra: 100% hộ nghèo được cấp thẻ Bảo hiểm y tế miễm phí; 100% con
em các hộ nghèo được miễn giảm học phí và các khoản đóng góp theo quy định; hầu hết người nghèo có nhu cầu vay vốn để phát triển sản xuất và tham gia xuất khẩu lao động đều được vay vốn với mức vay đáp ứng chu kỳ sản xuất và xuất khẩu lao động
Công tác xóa đói giảm nghèo, giải quyết việc làm và quốc phòng
an ninh
Ngay sau khi nghị quyết số 07 của Ban Chấp hành Đảng bộ huyện
Trang 35cường công tác tuyên truyền chủ trương xóa đói giảm nghèo và giải quyết việc làm của Đảng và Nhà nước tới toàn thể cán bộ đảng viên và nhân dân, đồng thời xây dựng kế hoạch và chương trình thực hiện nghị quyết Ban chỉ đạo huyện và xã đã nắm chắc thực trạng và nguyên nhân để đề ra những giải pháp sát hợp, định hướng cho người nghèo vươn lên thoát nghèo Hàng năm, tổng hợp tình hình xóa đói giảm nghèo và giải quyết việc làm, đồng thời xây dựng kế hoạch thực hiện cho năm tiếp theo
Chương trình xóa đói giảm nghèo – giải quyết việc làm của huyện đã được huyện ủy lãnh đạo toàn diện, Hội đồng nhân dân huyện giám sát chặt chẽ, ủy ban nhân huyện chỉ đạo tổ chức thực hiện sâu sát, cụ thể; có sự phối hợp tổ chức thực hiện thống nhất đồng bộ giữa các cấp, các ngành, Ban chỉ đạo xây dựng kế hoạch và thực hiện đồng bộ các giải pháp, các chính sách dự
án giảm nghèo nên chương trình đã đạt được những mục tiêu đề ra
Tập trung lãnh đạo kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế - xã hội với củng cố quốc phòng - an ninh Xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân, xây dựng khu vực phòng thủ huyện vững chắc Chế độ thường trực sẵn sàng chiến đấu, luyện tập, diễn tập, chiến đấu trị an, huấn luyện dân quân tự vệ, dự bị động viên được chú trọng Làm tốt công tác tìm kiếm cứu nạn, phòng chống và giảm nhẹ thiên tai Hoàn thành 100% chỉ tiêu tuyển quân hàng năm
Chủ động xây dựng phương án đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; duy trì phong trào “Quần chúng bảo vệ an ninh tổ quốc” Chương trình quốc gia phòng chống tội phạm, phòng chống ma túy, phòng chống tội xâm hại phụ nữ, trẻ em, tấn công trấn áp tội phạm được thực hiện hiệu quả Giải quyết tốt các vấn đề phức tạp liên quan đến an ninh nông thôn Tăng cường công tác tuần tra, kiểm soát đảm bảo an toàn giao thông và trật tự an toàn xã hội
Trang 36Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật Thực hiện nghiêm túc công tác tiếp dân, nhận và giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân Chú trọng công tác cải cách Tư pháp Việc phối hợp giữ các cơ quan tư pháp trong điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án được thực hiện đúng pháp luật Tạo môi trường kinh tế chính trị xã hội ổn định để nhân dân yên tâm phát triển sản xuất
Chương trình phát triển nông nghiệp nông thôn theo hướng sản xuất hàng hóa
Thực hiện chương trình phát triển nông nghiệp nông thôn theo hướng sản xuất hàng hóa với nhiều loại giống cây mới Hầu hết năng suất và sản lượng các loại cây trồng đều tăng Năng suất lúa tăng từ 40 tạ/ha (năm 2000) lên 50 tạ/ha (năm 2005) bình quân lương thực đầu người từ 290 kg/người (năm 2000) lên 402 kg/người (năm 2005), tăng 112 kg/người Một số loại cây trồng có giá trị kinh tế như: Lạc, đậu tương, rau xanh ngày càng tăng về diện tích, năng suất, sản lượng Chăn nuôi gia súc, gia cầm, nuôi trồng thủy sản tăng khá Các biện pháp khoa học – kỹ thuật – công nghệ đã được đưa vào phục vụ sản xuất nông nghiệp Một số mô hình cánh đồng cỏ thu nhập cao đượ triển khai có hiệu quả Kinh tế nông thôn có nhiều chuyển biến, thu nhập của nông dân tăng lên, diện mạo nông thôn đã thay đổi khởi sác Cơ cấu kinh
tế nông nghiệp nông thôn chuyển dịch đúng hướng
Hệ thống kết cấu hạ tầng cơ sở phát triển tạo điều liện đột phá thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội Hệ thống đường giao thông liên tỉnh, liên huyện và giao thông nông thôn đã được nâng cấp mở rộng và làm mới Các công trình thủy lợi được nâng cấp, cải tạo, kiên cố hóa, đảm bảo được yêu cầu phục vụ đời sống và phục vụ sản xuất nông nghiệp, mang lại hiệu quả tưới tiêu tốt, góp phần tích cực vào nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương
Trang 37Đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội
Trong 5 năm qua được sự quan tâm của Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh cùng các Sở, ban ngành của tỉnh, sự lãnh đạo, chỉ đạo sâu sát của các cấp ủy Đảng, sự điều hành của các cấp, sự phối hợp chặt chẽ của các ban ngành đoàn thể và sự ủng hộ nhiệt tình của nhân dân trong huyện kinh tế - xã hội của huyện tiếp tục phát triển, nhịp độ tăng trưởng kinh tế bình quân 11,7%; giá trị sản xuất bình quân đạt 9.8 triệu đồng/người/năm; liên kết, hợp tác giữa các thành phần kinh tế, giữa sản xuất và tiêu thụ sản phẩm bước đầu được hình thành, nhất là trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm chè, cây nguyên liệu Hoạt động của các hợp tác xã được củng cố Kinh tế tư nhân được khuyến khích tạo điều kiện phát triển, mở rộng quy mô, hình thức hoạt động đa dạng Đến hết năm 2005 trên địa bàn huyện có 51 doanh nghiệp, 24 trang trại, trên 500
cơ sở sản xuất đang hoạt động Các thành phần kinh tế đã năng động trong việc tiếp cận thị trường, mở rộng sản xuất, kinh doanh, góp phần chuyển dịch
cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động, giải quyết việc làm và tăng thu nhập cho người lao động Các chương trình xóa đói giảm nghèo được triển khai thực hiện có hiệu quả: tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 56% năm 2001 xuống còn 34.8% vào năm 2006, tiếp tục thực hiện xóa hộ đói, giảm hộ nghèo tăng hộ giàu
Cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn chuyển dịch theo hướng ổn định diện tích trồng cây lương thực, tăng diện tích trồng cây có giá trị kinh tế cao, kinh tế nông nghiệp phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa, chất lượng, năng xuất được nâng lên, giá trị sản xuất nông – lâm nghiệp tăng bình quân 5.5%/năm Đến năm 2005 giá trị sản xuất nông – lâm nghiệp chiếm tỉ trọng 63% trong cơ cấu chung của huyện
Hệ thống hạ tầng kinh tế - xã hội được đầu tư phát triển nhanh đã làm thay đổi diện mạo nông thôn huyện Hệ thống giao thông quốc lộ, tỉnh lộ đã đang được nhựa hóa, hệ thống thủy lợi đã đáp ứng nhu cầu tưới chủ động