Vì vậy việc định hướng cho người dân trong xã khai thác và sử dụng hợp lý, có hiệu quả đất sản xuất nông nghiệp sau khi dồn điền đổithửa là một trong những vấn đề hết sức cần thiết để nâ
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập tại trường và làm đề tài khóa luận tốtnghiệp, tôi đã nhận được sự giúp đỡ, đóng góp ý kiến quý báu từ các thầygiáo, cô giáo cũng như ngành Quản Lý Đất Đai và Ban giám hiệu nhà trường,tôi không chỉ được tiếp thu các kiến thức mà còn được trưởng thành hơn dưới
sự rèn luyện của môi trường đại học
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cô giáo Bùi Thị Cúc, người đãtrực tiếp hướng dẫn tôi thực hiện khóa luận này, cùng các thầy cô trong bộmôn Quản lý đất đai đã giảng dạy tôi trong suốt thời gian tham gia học tập tạitrường
Ngoài ra trong thời gian nghiên cứu tại xã Liệp Tuyết, tôi cũng nhậnđược sự giúp đỡ, tạo điều kiện của UBND xã, các phòng ban và nhân dân củaxã
Sau thời gian nghiên cứu đề tài và lên kế hoạch đến nay luận văn củatôi cũng đã cơ bản hoàn thành, mặc dù đã cố gắng rất nhiều nhưng chắc chắnkhông tránh khỏi những thiếu sót nhất định.Chính vì vậy tôi rất mong nhậnđược sự đóng góp ý kiến của thầy cô trong bộ môn để nghiên cứu của tôiđược hoàn thiện hơn
Với lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 11 tháng 05 năm 2015
Sinh viên thực hiện
Bùi Văn Xuân
Trang 2MỤC LỤC
Trang 3DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CN – TTCN Công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp
Trang 4DANH MỤC BẢNG
Bảng 4.1: Hiện trạng sử dụng đất điểm nghiên cứu năm 2014
Trang 5DANH MỤC HÌNH
Trang 6ĐẶT VẤN ĐỀ
Xã hội phát triển, dân số tăng nhanh kéo theo những đòi hỏi ngày càngtăng về lương thực thực phẩm, chỗ ở cũng như các nhu cầu về văn hóa, xãhội Con người đã tìm mọi cách để khai thác đất đai nhằm thỏa mãn nhữngnhu cầu ngày càng tăng đó Vậy là đất đai, đặc biệt là đất nông nghiệp có hạn
về diện tích nhưng lại có nguy cơ bị suy thoái dưới tác động của thiên nhiên
và sự thiếu ý thức của con người trong quá trình sản xuất Để khai thác hếttiềm năng và lợi thế sẵn có, phát triển bền vững theo hướng CNH – HĐH, giữvững bản sắc văn hóa dân tộc…Đảng và nhà nước ta đã đưa ra chủ trươngxây dựng nông thôn mới
Xã Liệp Tuyết thuộc huyện Quốc Oai, Thành phố Hà Nội, có tổng diệntích là 383,97 ha, trong đó diện tích đất nông nghiệp của toàn xã là 250,41 hachiếm 65,22% Vì vậy việc định hướng cho người dân trong xã khai thác và
sử dụng hợp lý, có hiệu quả đất sản xuất nông nghiệp sau khi dồn điền đổithửa là một trong những vấn đề hết sức cần thiết để nâng cao hiệu quả sửdụng đất Để giải quyết vấn đề này thì việc đánh giá hiệu quả sử dụng đấtnông nghiệp nhằm đề xuất hướng sử dụng đất thích hợp là việc rất quantrọng
Xuất phát từ ý nghĩa thực tiễn trên và nhu cầu sử dụng đất, để nâng caothu nhập sau khi thực hiện DĐĐT chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“ Đánh giá hiệu quả các hệ thống sử dụng đất nông nghiệp sau dồn điền đổi thửa trong xây dựng nông thôn mới tại xã Liệp Tuyết, huyện Quốc Oai, TP Hà Nội”.
Trang 7Chương 1.TỔNG QUAN VỀ CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu
Căn cứ vào mục đích sử dụng đất đai được chia thành các loại như sau:
là sản phẩm của tự nhiên trải qua quá trình lao động của con người làm thayđổi các tính chất khác nhau của đất để phục vụ cho quá trình sản xuất nôngnghiệp.[2]
1.1.2 Vai trò của đất nông nghiệp
Trong sản xuất nông nghiệp đất đai có vai trò hết sức quan trọng bởi vì
nó là nguồn lực là cơ sở tự nhiên để tạo ra các sản phẩm nông - lâm - ngưnghiệp
Đất nông nghiệp là tư liệu sản xuất đặc biệt và duy nhất Con ngườichúng ta muốn tồn tại thì cần phải có cái ăn, muốn có cái ăn thì không chỉ dựavào những thứ có sẵn trong thiên nhiên ban tặng mà phải lao động sản xuất để
Trang 8tạo ra của cải vật chất là lương thực thực phẩm để nuôi sống con người và đápứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội và nơi duy nhất sản xuất ra những thứ
ấy đó chính là đất nông nghiệp
Đất nông nghiệp là môi trường sống là môi trường không gian để sảnxuất nông nghiệp.Sản xuất nông nghiệp có đặc thù là sản xuất ngoài trời tiếpxúc với thiên nhiên.Cây phải sống trên đất, quang hợp nhờ ánh nắng mặt trời,hút nước và chất dinh dưỡng từ đất.Đó chính là môi trường sống, là khônggian để sản xuất Muốn sản xuất phát triển thì ta phải giữ gìn và bảo vệ môitrường không vi phạm các quy luật tự nhiên, không chỉ khai thác mà còn phảibảo vệ, cải tạo và bồi bổ đất đai, tạo lập môi trường sống tốt nhất cho câytrồng vật nuôi
Đất nông nghiệp là tư liệu sản xuất chủ yếu để sản xuất hàng hóa Khitham ra vào quá trình sản đất nông nghiệp vừa là tư liệu sản xuất đặc biệt vừa
là đối tượng lao động Để sản xuất nông nghiệp theo hướng hàng hóa thì trướchết cần phải có diện tích đất nông nghiệp đủ lớn kết hợp với các yếu tố khácnhư lao động, công cụ lao động, khoa học kỹ thuật, chất lượng giống câytrồng, phân công lao động theo từng chuyên khâu thì mới có điều kiện tạo rakhối lượng sản phẩm hàng hóa đủ lớn để đáp ứng nhu cầu của thị trường.Ngoài những điều kiện trên sản xuất nông nghiệp theo hướng hàng hóa cũng
có thể tận dụng các lợi thế riêng, các điều kiện đặc thù của từng vùng đất đểtạo ra sản phẩm hằng hóa chất lượng cao Tóm lại dù khoa học công nghệ cóhiện đại tới đâu thì sản xuất nông nghiệp vẫn phải cần có không gian đất nôngnghiệp nhất định và đất nông nghiệp đóng vai trò quan trọng hàng đầu trongnền nông nghiệp sản xuất hàng hóa hiện đại
1.1.3 Khái niệm về hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
Hiệu quả sử dụng đất là kết quả của cả một hệ thống các biện pháp tổchức sản xuất, khoa học, kỹ thuật, quản lý kinh tế và phát huy các lợii thế,khắc phục các khó khăn khách quan của điều kiện tự nhiên, trong những hoàn
Trang 9cảnh cụ thể còn gắn sản xuất nông nghiệp với các ngành khác của nền kinh tếquốc dân, cũng như cần gắn sản xuất trong nước với thị trường quốc tế…
Sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả cao thông qua việc bố trí cơ cấu câytrồng vật nuôi là một trong những vấn đề bức xúc hiện nay của hầu hết các nướctrên thế giới Nó không chỉ thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học, các nhàhoạch định chính sách, các nhà kinh doanh nông nghiệp mà còn là mong muốncủa nông dân - những người trực tiếp tham gia sản xuất nông nghiệp
Căn cứ vào nhu cầu thị trường, thực hiện đa dạng hoá cây trồng vậtnuôi trên cơ sở lựa chọn các sản phẩm có ưu thế ở từng địa phương Từ đó,nghiên cứu áp dụng công nghệ mới nhằm làm cho sản phẩm có tính cạnh tranhcao - đó là điều kiện tiên quyết phát triển được nền nông nghiệp bền vững
- Quan điểm sử dụng đất đai bền vững:
Phát triển nông nghiệp bền vững chiếm vị trí quan trọng nhiều khi cótính quyết định trong sự phát triển chung của xã hội Khái niệm chung về pháttriển nông nghiệp bền vững trong sự phát triển của xã hội loài người mới chỉhình thành rõ nét trong những năm 1990 qua các hội thảo và xuất bản Điều
cơ bản nhất của phát triển nông nghiệp bền vững là cải thiện chất lượng cuộcsống trong sụ tiếp cận đúng đắn về môi trường để giữ gìn những tài nguyên
cơ bản nhất cho thế hệ sau Có rất nhiều định nghĩa về nông nghiệp bền vữngtuỳ theo tình hình cụ thể
Theo FAO: Nông nghiệp bền vững bao gồm quản lý có hiệu quả tàinguyên cho nông nghiệp để đáp ứng nhu cầu cuộc sống của con người đồngthời giữ gìn và cải thiện tài nguyên thiên nhiên môi trường và bảo vệ tàinguyên thiên nhiên.[10]
Theo Bộ Nông nghiệp Canada: Hệ thống nông nghiệp bền vững là hệthống có hiệu quả kinh tế, đáp ứng nhu cầu xã hội về an ninh lương thực,đồng thời giữ gìn và cải thiện tài nguyên thiên nhiên và chất lượng của môitrường sống cho đời sau.[10]
Trang 10Các định nghĩa có thể có nhiều các biểu thị khác nhau, song về nộidung bao gồm ba thành phần cơ bản sau:
- Bền vững an ninh lương thực trong thời gian dài trên cơ sở hệ thốngnông nghiệp phù hợp điều kiện sinh thái và không tổn hại môi trường
- Bền vững về tổ chức quản lý, hệ thống nông nghiệp phù hợp trongmối quan hệ con người cho cả đời sau
- Bền vững thể hiện ở tính cộng đồng trong hệ thống nông nghiệp hợp lý.Định nghĩa của Piere Croson (1993): Một hệ thống nông nghiệp bềnvững phải đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao về ăn và mặc thích hợp cóhiệu quả kinh tế, môi trường và xã hội gắn với tăng phúc lợi trên đầu người.Đáp ứng nhu cầu là một phần quan trọng cần đưa vào định nghĩa vì sản lượngnông nghiệp cần thiết phải được tăng trưởng trong những thập kỷ tới Phúc lợicho mọi người vì phúc lợi của đa số dân trên thế giới đều còn rất thấp
Trong tất cả các định nghĩa, thì điều quan trong nhất là biết sử dụnghợp lý tai nguyên đất đai, giữ vững và cải thiện chất lượng môi trường, cóhiệu quả kinh tế, năng xuất cao và ổn định, nâng cao chất lượng cuộc sống,bình đẳng giữa các thế hệ và hạn chế rủi ro
Khái niệm về quản lý đất bền vững được nhận biết trong khung khái niệm vềnông nghiệp thế giới.Trong thực tế mọi người thường nhầm lẫn giữa bảo vệ đất vàquản lý đất bền vững.Quản lý đất bền vững phải được hiểu với khái niệm rộng, baogồm toàn bộ hoạt động nông nghiệp có tác động đến các thông số về đất
Trong lịch sử canh tác nông nghiệp của nước ta, hệ thống sử dụng đấttrồng lúa nước là hệ thống canh tác khá bền vững.hệ thống canh tác sử dụngđất dốc còn tồn tại khá nhiều vấn đề cần giải quyết: xói mòn, rửa trôi, thoáihoá đất,
1.1.4 Phân loại hiệu quả sử dụng đất
1.1.4.1 Hiệu quả kinh tế
Hiệu quả kinh tế là một tiêu chí trong đánh giá tính bền vững quản lý sửdụng đất Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế, phản ánh về mặt chất lượng
Trang 11của các hoạt động sản xuất kinh doanh Trong khi các nguồn lực sản xuất cóhạn, nhu cầu về hàng hóa và dịch vụ của xã hội ngày càng gia tăng và đa dạngthì nâng cao hiệu quả kinh tế là một xu thế khách quan và bức xúc của sản xuất
xã hội[11]
Hiệu quả kinh tế được hiểu là mối tương quan so sánh giữa lượng kếtquả đạt được và lượng chi phí bỏ ra trong hoạt động sản xuất kinh doanh Kếtquả đạt được là phần gía trịthu được của sản phẩm đầu ra, lượng chi phí bỏ ra
là phần gí trị của ngườn lực đầu vào Mối tương quan đó cần xem xét cả vềphần so sánh tuyệt đối và tương đối cũng như xem xét mối quan hệ chặt chẽgiữa hai đại lượng đó
Từ những vấn đề trên có thể kết luận rằng: Bản chất của phạm trù kinh
tế sử dụng đất là “với một diện tích đất đai nhất định sản xuất ra một khốilượng của cải vật chất nhiều nhất với một lượng chi phí về vật chất và laođộng thấp nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về vật chất của xã hội”
2.1.4.2 Hiệu quả xã hội
Trong sử dụng đất nông nghiệp, hiệu quả về mặt xã hội chủ yếu đượcxác định bằng khả năng tạo việc làm trên một diện tích đất nông nghiệp mà chỉtiêu quan trọng nhất là giá trị của sản phẩm nông nghiệp đạt cao nhất trên mộtđơn vị diện tích [8]
Hiện nay, việc đánh giá hiệu quả xã hội của các loại hình sử dụng đấtnông nghiệp là vấn đề đang được nhiều nhà khoa học quan tâm.Hiệu quả xãhội trong sử dụng đất hiện nay chủ yếu được xác định bằng khả năng thu hútlao động, đảm bảo đời sống nhân dân, góp phần thúc đẩy xã hội phát triển,nội lực và nguồn lực của địa phương được phát huy, đáp ứng nhu cầu của hộnông dân về ăn, mặc, và nhu cầu sống khác Sử dụng đất phù hợp với tậpquán, nền văn hoá của địa phương
2.1.4.3 Hiệu quả môi trường
Hiệu quả môi trường là vấn đề mang tính toàn cầu, ngày nay đang đượcchú trọng quan tâm và không thể bỏ qua khi đánh giá hiệu quả Hiệu quả môi
Trang 12trường được thể hiện ở chỗ: Loại hình sử dụng đất phải bảo vệ được độ màu
mỡ của đất đai, ngăn chặn được sự thoái hoá đất bảo vệ môi trường sinh thái
Độ che phủ tối thiểu phải đạt ngưỡng an toàn sinh thái (>35%) đa dạng sinhhọc biểu hiện qua thành phần loài.[3]
Trong thực tế, tác động của môi trường sinh thái điễn ra rất phức tạp vàtheo chiều hướng khác nhau Cây trồng được phát triển tốt khi phát triển phùhợp với đặc tính, tính chất của đất.Tuy nhiên, trong quá trình sản xuất dướitác động của các hoạt động sản xuất, quản lý của con người hệ thống câytrồng sẽ tạo nên những ảnh hưởng rất khác nhau đến môi trường
Trong sản xuất nông nghiệp, hiệu quả môi trường là hiệu quả mang tínhlâu dài, vừa đảm bào lợi ích hiện tại mà không làm ảnh hưởng xấu đến tươnglai, nó gắn chặt với quá trình khai thác, sử dụng và bảo vệ tài nguyên đất vàmôi trường sinh thái.[13]
1.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
- Các yếu tố tự nhiên
Chất lượng đất : Sản xuất nông nghiệp trên đất tốt thì có hiệu quả sửdụng đất cao Tuy nhiên, để hình thành đất với độ phì nhiêu cần thiết chocanh tác nông nghiệp thì phải trải qua quá trình hàng nghìn năm, thậm chíhàng vạn năm Vì vậy mỗi khi sử dụng đất nông nghiệp cần cân nhắc kỹ đểkhông rơi vào tình trạng chạy theo lợi ích trước mắt mà không chú ý đến mụctiêu phát triển tương lai
Khí hậu thời tiết: Thời tiết là trạng thái khí quyển đặc trưng bởi một tậphợp các yếu tố khí tượng quan trắc được trong một thời điểm hoặc mộtkhoảng thời gian ngắn nhất định Sự kết các trị số của các yếu tố khí tượng rấtkhác nhau, ngoài ra nó biến thiên liên tục và đột ngột theo thời gian Vì vậy,nhìn chung thời tiết biểu hiện muôn hình muôn vẻ Việt Nam nằm trong vòngcung Châu Á – Thái Bình Dương, là nơi gặp gỡ của các luồng gió mùa vớigió tín phong tây Thái Bình Dương nên tính chất gió mùa thể hiện rõ rệt: khắptrong nước có 2 mùa, mùa mưa có lượng mưa chiếm 80 – 85% lượng mưa cả
Trang 13năm, mùa khô thuỷ triều xâm nhập sâu vào châu thổ nên đất bị nhiễm mặn, gâykhó khăn cho hoạt động sản xuất nông nghiệp Điều này cũng ảnh hưởng lớnđến việc lựa chọn giống cây trồng phù hợp với từng miền, từng vùng lãnh thổ,theo từng mùa khác nhau Mặc dù các mùa lặp đi lặp lại theo từng năm nhưngcũng có những biến đổi thất thường không giống nhau cũng làm ảnh hưởng đếnnăng suất của cây trồng Nếu thời tiết thuận lợi, mưa nắng điều hoà thì làm chonăng suất chất lượng của nông sản thu hoạch tăng và ngược lại.
Một số hiện tượng thời tiết gây bất lợi cho sản xuất của ngành nôngnghiệp:
+ Hiện tượng bão: mùa hè là thời gian thường có những trận mưa lớn kèmtheo những trận gió xoáy, gió lốc gây thiệt hại không nhỏ cả về con người lẫnvật chất như các công trình xây dựng nơi cơn bão đi qua, vật nuôi chết, các loạicây lương thực có thể sẽ không cho thu hoạch hoặc thu hoạch rất ít
+ Rét đậm, rét hại và sương muối: Mùa đông lạnh còn kèm theo làsương muối, đây là hiện tượng thời tiết phổ biến ở trung du miền núi phía bắc.Rét đậm, rét hại và sương muối khiến cho các loại cây lương thực dễ bị chết,nhất là mạ mới cấy, năng suất các cây ăn quả giảm
Hệ thống thủy lợi: Trong hoạt động nông nghiệp nước là tài nguyên vôcùng quan trọng và không thể thiếu Cây trồng cần phải được tưới lượng nướcphù hợp mới đảm bảo đựơc các quá trình sinh trưởng phát triển diễn ra tốt.Vìvậy, cần có một hệ thống tưới tiêu với các kênh, mương….phù hợp sao chodẫn nước được tới từng khu vực, đảm bảo lượng nước cần thiết cho cây trồng.Nước ta có hệ thống sông ngòi dày đặc, từ Bắc đến Nam lại là lưu vực của 2con sông lớn là Sông Hồng và Sông Mê Kông nên rất thuận lợi cho sản xuấtnông nghiệp
- Các yếu tố con người
Biện pháp kĩ thuật canh tác là các tác động của con người vào đất đai,cây trồng, vật nuôi nhằm tạo nên sự hài hòa giữa các yếu tố của các quá trìnhsản xuất để hình thành, phân bố và tích lũy năng suất kinh tế Đây là những
Trang 14tác động thể hiện sự hiểu biết sâu sắc đối tượng sản xuất, về thời tiết, về điềukiện môi trường và thể hiện những dự báo thông minh và sắc sảo[11] Trên cơ
sở nghiên cứu các quy luật tự nhiên của sinh vật lựa chọn các tác động kỹthuật, lựa chọn chủng loại và cách sử dụng các đầu vào nhằm đạt các mục tiêu
sử dụng đất đề ra Các nước phát triển, khi có tác động tích cực của kỹ thuật,giống mới, thủy lợi, phân bón tới hiệu quả thì cũng đặt ra yêu cầu mới đối với
tổ chức sử dụng đất Có nghĩa là ứng dụng công nghiệp sản xuất tiến bộ làmột đảm bảo vật chất cho kinh tế nông nghiệp tăng trưởng nhanh Cho đếngiữa thế kỷ 21, trong nông nghiệp nước ta, quy trình kỹ thuật có thể góp phầnđến 30% của năng suất kinh tế Như vậy, nhóm các biện pháp kỹ thuật đặcbiệt có ý nghĩa quan trọng trong quá trình khai thác đất theo chiều sâu vànâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp [11]
Công tác quy hoạch và bố trí sản xuất: Phát triển sản xuất hàng hoá phảigắn với công tác quy hoạch và phân vùng sinh thái nông nghiệp Cơ sở để tiếnhành quy hoạch dựa vào điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội đặc trưng chotừng vùng Việc phát triển sản xuất nông nghiệp phải đánh giá, phân tích thịtrường tiêu thụ và gắn với quy hoạch phát triển công nghiệp chế biến, kết cấu
hạ tầng, phát triển nguồn nhân lực và các thể chế pháp luật về bảo vệ tàinguyên, môi trường Đó sẽ là cơ sở để phát triển sản xuất, khai thác các tiềmnăng của đất đai, nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và phát triển sảnxuất hàng hoá
Cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất nông lâm nghiệp: Trong các yếu tố cơ
sở hạ tầng phục vụ sản xuất, yếu tố giao thông vận tải là quan trọng nhất, nógóp phần vào việc trao đổi tiêu thụ sản phẩm cũng như dịch vụ những yếu tốđầu vào cho sản xuất Các yếu tố khác như thủy lợi, điện, thông tin liên lạc,dịch vụ, nông nghiệp đều có sự ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả sử dụng.Trong đó, thuỷ lợi và điện là yếu tố không thể thiếu trong điều kiện sản xuấthiện nay
Trang 15Thị trường tiêu thụ sản phẩm nông lâm sản là cầu nối giữa người sảnxuất và tiêu dùng, ở đó người sản xuất thực hiện việc trao đổi hàng hoá.Theo Nguyễn Duy Tính [8], ba yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến hiệu quả sửdụng đất nông nghiệp là năng suất cây trồng, hệ số quay vòng đất và thịtrường cung ứng đầu vào và tiêu thụ đầu ra Trong cơ chế thị trường, cácnông hộ hoàn toàn tự do lựa chọn hàng hoá họ có khả năng sản xuất, đồngthời họ có xu hướng hợp tác, liên doanh, liên kết để sản xuất ra những nôngsản hàng hoá mà nhu cầu thị trường cần với chất lượng cao đáp ứng nhu cầuthị hiếu của khách hàng Muốn mở rộng thị trường phải phát triển hệ thống
cơ sở hạ tầng, hệ thống thông tin, dự báo, mở rộng các dịch vụ tư vấn Đồng thời, quy hoạch các vùng trọng điểm sản xuất hàng hoá để người sảnxuất biết nên sản xuất cái gì? bán ở đâu? mua tư liệu sản xuất và áp dụngkhoa học công nghệ gì? Sản phẩm hàng hoá của Việt Nam đa dạng, phongphú về chủng loại, chất lượng, giá rẻ và đang được lưu thông trên thị trường
là điều kiện thuận lợi cho phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hànghoá có hiệu quả[11]
Phát triển nông nghiệp nước ta thực sự khởi sắc sau sự kiện đổi mới củapháp luật và một loạt chính sách về đất đai bắt đầu là Nghị quyết 10 của Bộchính trị vào tháng 4 năm 1988, người nông dân được giao đất nông nghiệp sửdụng ổn định, lâu dài, được thừa nhận như một đơn vị kinh tế và được tự chủtrong sản xuất nông nghiệp Sự ra đời của Luật Đất đai 1993; sau đó là luật sửađổi bổ sung luật đất đai năm 1998 và năm 2001; Luật Đất đai năm 2003; Nghịđịnh 64/CP năm 1993 về giao đất nông nghiệp và Nghị định 02/CP năm 1994
về giao đất rừng và một loạt các văn bản liên quan khác đã đem lại luồng giómới cho sản xuất nông nghiệp Nước ta từ chỗ phải nhập khẩu lương thực nay
đã có thể tự túc lương thực và trở thành một nước xuất khẩu gạo đứng thứ haitrên thế giới
Sự ổn định chính trị - xã hội và các chính sách của Nhà nước: ổn địnhchính trị là yếu tố then chốt để tạo nên sự khác biệt giữa Việt Nam và các
Trang 16nước khác trong khu vực Đầu tư vào một nước có nền chính trị ổn định tạotâm lý yên tâm về khả năng tìm kiếm lợi nhuận và thu hồi vốn, giúp các nhàđầu tư có thể tính toán chiến lược đầu tư lớn và dài hạn.
1.1.6 Chính sách dồn điền đổi thửa trong xây dựng nông thôn mới
2.1.6.1 Khái niệm về dồn điền đổi thửa
Dồn điền đổi thửa (Regrouping of lands, trong tiếng Anh, hayRemenbrement, trong tiếng Pháp) là việc tập hợp, dồn đổi các thửa ruộng nhỏthành thửa ruộng lớn, trái ngược với việc chia các mảnh ruộng to thành cácmảnh ruộng nhỏ Có 2 cơ chế chủ yếu để thực hiện dồn điền đổi thửa:
Một là, Để cho thị trường ruộng đất, và các nhân tố phi tập trung thamgia vào, nhà nước chỉ hỗ trợ sao cho cơ chế này vận hành tốt hơn
Hai là, thực hiện các biện pháp can thiệp hành chính, tổ chức phân chialại ruộng đất, thực hiện các quy hoạch có chủ định Theo cách này, các địaphương đều xác định là DĐĐT sẽ không làm thay đổi các quyền của nông hộđối với ruộng đất đã được quy định trong pháp luật.Tuy nhiên, việc thực hiệnquá trình này có thể làm thay đổi khả năng tiếp cận ruộng đất của các nhómnông dân hưởng lợi khác nhau dẫn đến thay đổi bình quân ruộng đất ở cácnhóm xã hội khác nhau
2.1.6.2 Nguyên nhân tiến hành dồn điền đổi thửa
Chủ trương của Đảng và Nhà nước ta là tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệpđổi mới cơ chế kinh tế nông nghiệp nông thôn, thừa nhận hộ nông dân là đơn
vị kinh tế tự chủ trong nền kinh tế thị trường Tuy nhiên trước nhu cầu của sựcông nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nức, nền công nghiệp và đặc biệt là vấn đềruộng đất trong nông nghiệp đã bộc lộ nhưng tồn tại nảy sinh mới cần phảiđược quan tâm giải quyết, đó chính là tình trạng ruộng đất quá manh mún,phân tán Việc tạo nhiều ô thửa lớn là việc làm cần thiết để tạo tiền đề choviệc thực hiện công nghiệp hóa hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn
Mặt khác khi thực hiện giao đất còn nhiều sai sót dẫn đến tình trạngkhiếu kiện kéo dài gây mất ổn định ở cơ sở; quy hoạch sử dụng đất, quy
Trang 17hoạch kiến thiết lại ruộng đồng thiếu khoa học, thiếu tầm nhìn chiến lượcđang gây trở ngại lớn cho việc đổi mới quản lý, tổ chức lại sản xuất nhất làchuyển dịch cơ cấu kinh tế.
2.1.6.3 Mục đích của dồn điền đổi thửa đất nông nghiệp
Mục đích của công tác dồn điền đổi thửa là nhắm khắc phục tình trạngmanh mún đất đai Tạo điều kiện để áp dụng các tiến bộ khoa học – kỹ thuậtvào sản xuất, đẩy nhanh việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theohướng sản xuất hàng hóa, phát triển kinh tế hộ gia đình và kinh tế trang trại,giảm chi phí sản xuất và tăng thu nhập trên đơn vị diện tích và góp phần nângcao đời sống cho người dân
Quy hoạch lại ruộng đồng thành những vùng sản xuất tập trung, vùngchuyên canh lớn, để có thể dễ dàng quản lý và sử dụng đất đai theo hướngchuyên môn hóa đạt kết quả cao
1.2 Cơ sở thực tiễn của vấn đề nghiên cứu
1.2.1 Hiệu quả sử dụng đất sau DĐĐT trên thế giới
Ở Nhật Bản:
Vào những năm trước năm 1960 tình trạng đất đai manh mún xảy raphổ biến trên khắp nước Nhật Mỗi hộ nông dân có nhiều thửa ruộng nhỏ,phân tán xa nhau
Để đẩy mạnh phát triển nông nghiệp, Chính phủ Nhật Bản đã ban hànhLuật cơ bản về nông nghiệp từ quy mô nhỏ lên quy mô lớn.dựa trên ba mụctiêu chính “ rộng, chắc chắn, sâu”
- Rộng: nâng kích thước của thửa lên đến 3000 m2
- Chắc chắn: cải tạo lại nền đất xây dựng hệ thống thoát nước cho từng thửa
và toàn bộ khu vực để có thể áp dụng KH – KT một cách tối ưu
- Sâu: cải tầng canh tác ruộng đất đảm bảo độ dày khoảng 1m
Công tác chuyển đổi là hết sức khó khăn và phức tạp, vì vậy có nơi làmdần từng bước, lúc ban đầu từ 500 m2/thửa sau vài năm đã lên đến 3000
m2/thửa Kết quả là khoảng 2 triệu ha trong 2,7 triệu ha đất trồng lúa nước đã
Trang 18được chuyển đổi, số còn lại chủ yếu là đất trồng cỏ Trước chuyển đổi bìnhquân mỗi hộ nông dân có từ 3 đến 4 thửa đất, sau chuyển đổi họ chỉ còn từ 1đến 2 thửa.
Việc chuyển đổi đất nông nghiệp làm tăng năng suất máy nông nghiệp,tăng sức sản xuất của đất đai, tăng năng suất lao động của người nông dân,tạo điều kiện phát triển hàng hóa để nâng cao sức cạnh tranh của nông nghiệp.Năng suất lúa tăng cao kể từ khi tiến hành chính sách mới từ 3000 kg gạo/ha/năm năm 1960 lên 6000 kg gạo/ha/năm năm 1992 Hiện nay chính sáchchuyển đổi tiếp tục được thực hiện với quy mô dồn điền cao hơn lên tới 1 – 2ha.[1]
Ở Mỹ:
Mỹ là một nước có nền công nghiệp phát triển hàng đầu thế giới, đãthực hiện công nghiệp hoá hiện đại hoá mà bước đi ban đầu là thực hiện việctập trung đất đai và xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ nông nghiệp Nôngnghiệp nước Mỹ mà điển hình là mô hình kinh tế trang trại, tất cả các yếu tốđầu vào, đầu ra đều là hàng hoá với khối lượng lớn.Nhà nước Mỹ cấp đất cho
hộ nông dân, cho phép mua bán hoặc thuê đất để hình thành trang trai.Cáctrang trại sản xuất hoàn toàn trên ruộng đất có quy mô bình quân là 108 ha,còn các trang trại đi thuê có quy mô bình quân 229 ha.Các trang trại vừa canhtác trên đất tự có vừa trên đất đi thuê có quy mô đất bình quân là 357 ha Việctích tụ và tập trung ruộng đất để đi vào công nghiệp hoá hiện đại hoá tạo ra ưuthế cạnh tranh về chất lượng nông sản và giá thành ở nước Mỹ.[1]
Ở Malayxia:
Sở hữu đất đai nằm trong hai thành phần chính là các đại điền chủ sởhữu diện tích canh tác ít nhất là 40 ha và nông dân sở hữu diện tích canh tácnhỏ
Diện tích thuộc sở hữu người nông dân thì nhỏ, mặt khác sản xuất theophương thức truyền thống nên hiệu quả thấp Trong khi đó sản xuất nông
Trang 19nghiệp quy mô lớn của các đại điền chủ mang lại hiệu quả kinh tế cao hơnnhiều so với quy mô sản xuất nhỏ của người nông dân.
Tại quốc gia này chương trình phát triển đất đai nằm trong cải cáchruộng đất bắt đầu thực hiện 1996-1970 và tiếp tục 1971-1990 Cơ quan củng
cố và khôi phục đất đai có nhiệm vụ thực hiện việc củng cố, tập trung lạinhững mảnh ruộng nhỏ và manh mún từ đó làm tăng sản lượng cây trồng vàhiệu quả kinh tế.[1]
1.2.2 Hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp sau DĐĐT tại một số tỉnh trên
cả nước
1.2.2.1 Vấn đề về manh mún đất đai ở nước ta
Ở Việt Nam, tình trạng manh mún ruộng đất diễn ra khá phổ biến nhất
là khu vực Trung du và miền núi Bắc bộ Trên thực tế khái niệm manh múnruộng đất xuất hiện từ khi chia ruộng cho hộ nông dân theo nghị đinh 64/CPnăm 1993 của Chính phủ Theo số liệu tổng hợp của Bộ Tài nguyên và Môitrường cho thấy, cả nước có khoảng 75 triệu thửa đất, bình quân mỗi hộ cókhoảng 0.25 đến 0.5 ha đất nông nghiệp, bình quân mỗi hộ có 6,8 thửa đất.khu vực có độ manh mún cao nhất là Trung du miền núi phía Bắc và đồngbằng sông Hồng
Theo số liệu của Tổng cục địa chính năm 1998, bình quân 1 hộ thuộcvùng Đồng bằng sông Hồng có khoảng 7 thửa trong khi ở vùng núi phía Bắccon số này còn cao hơn từ 10 – 20 thửa Số liệu điều tra từ 43167 nông hộ ởtỉnh Hưng Yên cho thấy sau khi giao đất năm 1993, trung bình một hộ có 7,6thửa Vào năm 1988, Chính phủ đã đề ra chính sách khuyến khích nông dânđổi ruộng chon hay để tạo thành những ô thửa có diện tích lớn hơn Từ đó cáctỉnh trên miền bắc đặc biệt là vùng Đồng bằng sông Hồng đã thành lập cáchội đồng thực hiện thi hành thí điểm công tác dồn điền đổi thửa
Trang 201.2.2.2 Thành tựu đạt được tại 1 số tính trên cả nước.
Tỉnh Nam Định:
Sau vụ mùa năm 2011, trên địa bàn tỉnh đã có 91/209 xã, thị trấn triểnkhai DĐĐT, trong đó có 84/96 xã, thị trấn xây dựng nông thôn mới Đến hếtnằm 2011, có 57 xã, thị trấn đã hoàn thành giao đất ngoài thực địa, Hải Hậu làhuyện đầu tiên hoàn thành công tác DĐĐT ( 35/35 xã, thị trấn)
Sau vụ mùa nằm 2012, có thêm 108 xã, thị trấn triển khai DĐĐT Nhưvậy đã có 199/209 xã, thị trấn thực hiện DĐĐT, trong đó 75 xã, thị trấn đãhoàn thành việc giao đất ngoài thực địa cho người dân, 33 xã, thị trấn đangtập trung hoàn thành các công trình giao thông thủy lợi nội đồng, bốc thăm vịtrí chuẩn bị giao đất ngoài thực địa
Nhìn chung công tác DĐĐT tại các xã, thị trấn đã giao đất tại thực địa
cơ bản đã đạt yêu cầu: đã kết hợp DĐĐT với chỉnh trang, kiến thiết đồngruộng, làm giao thông và thủy lợi nội đồng, hình thành các vùng sản xuất tậptrung, giảm số thửa của mỗi hộ gia đình (từ 3,5 xuống còn 1,5 thửa/ hộ)
Sau 2 nằm thực hiện công tác DĐĐT, với sự vận động nhân dân đã gópđược hơn 1000 ha đất, đắp được gần 2000km đường giao thông nội đồng.Hầu hết tất cả các xã, thị trấn đã từng bước xây dụng kế hoạch sản xuất theo
mô hình cánh đồng mẫu lớn Dự kiến năm 2013 tỉnh sẽ hoàn thành công tácDĐĐT
Sau DĐĐT các mô hình sử dụng đất cho thấy hiệu quả rõ rệt so vớitrước DĐĐT Số mô hình sử dụng đất giảm đi nhưng năng suất của các môhình tăng lên nhiều lần Góp phần làm tăng thêm thu nhập cho người dântrong tỉnh
Tỉnh Lào Cai:
Triển khai ở xã Quang Kim, huyện Bát Sát năm 2004
Quang kim có diện tích 171 ha đất nông nghiệp chia cho 1135 hộ dân ở
17 thôn, bản bình quân mỗi hộ gia đình có từ 6 – 7 thửa Đầu năm 2004, Đảng
ủy UBND xã Quang Kim đã ra Nghị quyết về DĐĐT xác định đây là giải
Trang 21pháp giúp nông dân làm giàu Trưởng ban chỉ đạo là Bí thư Đảng ủy xã trựctiếp chỉ đạo công tác DĐĐT Trong hội nghị, cán bộ xã tuyên truyền chủ yếu
về lợi ích và cách thức thực hiện việc DĐĐT để toàn bộ nhân dân được biết
và nghiêm túc thực hiện
Sau DĐĐT giá trị sản xuất đã tăng từ 3 – 4 lần so với trước DĐĐT, đờisống của nhân dân từng bước được cải thiện và nâng cao Từ DĐĐT xãQuang Kim rút ra những kinh nhiệm quý báu trong công tác DĐĐT như: cán
bộ phải luôn sát cánh cùng nhân dân, cán bộ thực hiện phải gương mẫu, tiênphong thực hiện…
Những khó khăn sau việc DĐĐT thường xuất hiện đó là các vấn đề vềcây giống, vật nuôi chưa đáp ứng kịp thời cho người dân tiến hành sản xuất,nguồn vốn vay để người dân duy trì phát triển còn chưa đủ và có thời gianngắn hạn chưa đủ để người dân quay vòng vốn, thị trường tiêu thụ sản phẩmcho người nông dân còn nhiều vướng mắc
Tỉnh Bắc Ninh:
Triển khai tại xã Phú Lâm, huyện Tiên Du từ năm 2002; xã Mộ Đạo,huyện Quế Võ từ năm 2003; xã Châu khê, thị xã Từ Sơn từ năm 2005; xãThụy Hòa, huyện Yên Phong từ năm 2007; thôn Đoan Bái, xã Đại Bái; thônNgô Cương, xã Nhân Thắng; thông Đông Cao, xã Đông Cứu; thôn Phương
Độ, xã Bình Dương; thôn Du Tràng, thôn Cổ Tiết, xã Giang Sơn, huyện GiaBình từ năm 2008
Trên cơ sở một số huyện đã thực hiện DĐĐT bước đầu đạt được kếtquả nhất định BCH Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh đã phấn đấu đến hết năm 2011hoàn thành kế hoạch DĐĐT trên địa bàn tỉnh với nguyên tắc : “ Giữ nguyên
số khẩu, định xuất, diện tích đã giao cho các hộ từ năm 1992 – 1993 Vềphương án chuyển đổi phải ổn định diện tích cánh tác của các thôn, HTX vàgiữ nguyên danh giới sử dụng đất Quá trình thực hiện đảm bảo ổn định, côngkhai, dân chủ, đúng pháp luật, tạo sự đồng thuận trong dân cư.Đối với nhữngvùng quy hoạch khu công nghiệp, đô thị… được cấp có thẩm quyền phê duyệt
Trang 22không thực hiện trong giai đoạn này.Giao Sở tài nguyên – Môi trường hoànchỉnh hướng dẫn quy trình thực hiện DĐĐT Các ngành, địa phương nghiêncứu đề xuất cơ chế hỗ trợ trên 4 lĩnh vực: chỉ đạo, khảo sát thiết kế, đo đạcbản đồ và cải tạo nâng cấp giao thông nội đồng”
Tỉnh Nghệ An:
Theo thống kê của các huyện, thành, thị trên địa bàn tỉnh Nghệ An có
319 xã có khả năng dồn điền đổi thửa.Năm 2014, trên địa bàn tỉnh đã có 251
xã tiến hành chuyển đổi ruộng đất vượt chỉ tiêu 38 xã so với kế hoạch đề racủa năm 2014 Trong đó có đến 180 xã đã hoàn thành việc chuyển đổi diệntích tại thực địa, 71 xã đang thực hiện và 68 xã chưa thực hiện
Hiện tại đã có 76.430,79 ha diện tích đất nông nghiệp đủ điều kiện dồnđiền đổi thửa với sự tham gia của 320.497 hộ Quy mô bình quân thửa đất saudồn điền đổi thửa là 1.214,19 m2/thửa việc xây dựng hệ thống giao thông,thủy lợi nội đồng sau khi dồn điền đổi thửa đã đáp ứng được yêu cầu thực tiễnvới khối lượng đào đắp lên tới 7.182.896,98 m3 gồm có các huyện QuỳnhLưu, Quế Phong, Diễn Châu, Thanh Chương…
Qua 2 năm thực hiện, toàn tỉnh đã xây dựng được trên 375 mô hình sảnxuất có hiệu quả như: sản xuất rau an toàn, lúa, ngô, lạc, măng tây xanh… cónăng xuất cao Tính đến tháng 7/2014 các địa phương đã triển khai được 28
mô hình, trong đó có 18 mô hình sản xuất lúa với diện tích 1.267,0 ha, năngxuất lúa đạt từ 65 – 70 tạ/ha ở các huyện Diễn Châu, Yên Thành, Quỳnh Lưu,Nghi Lộc; 06 mô hình sản xuất ngô với diện tích 201 ha cho năng suất từ 58 -
65 tạ/ha ở các huyện Tân Kỳ, Anh Sơn; 04 mô hình sản xuất lạc với diện tích
91 ha cho năng suất từ 40 – 45 tạ/ha ở các huyện Diễn Châu, Nghi Lộc
Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện DĐĐT đã đạt được nhiều thànhtựu đáng khen nhưng vẫn còn tồn tại nhiều khuyết điểm trong công tác thựchiện như: việc tổ chức xây dựng đề án DĐĐT của một số xã còn chậm, chưa
cụ thể; công tác tuyên truyền, vận động, thuyết phục nhân dân ở một số huyệnchưa đạt được sự hưởng ứng cao từ người dân
Trang 23 TP Hà Nội:
Hiện tại, thành phố Hà Nội đã tiến hành DĐĐT được 95,9% kế hoạch(tức 73.237,03/76.365,07 ha) Trong đó, một số huyện thực hiện DĐĐT đượcdiện tích lớn, như: Chương Mỹ, Sóc Sơn, Phú Xuyên, Mỹ Đức, Ứng Hòa,Thanh Oai Trong thời gian 02 năm từ năm 2012 – 2014, toàn thành phố đãDĐĐT được khối lượng diện tích đất nông nghiệp đã DĐĐT đều được quyhoạch lại, đào đắp mương máng, giao thông nội đồng theo tiêu chuẩn, tiêu chínông thôn mới Trên cơ sở đó, cơ giới hóa đã và đang được các tập thể xã,HTX và các tư nhân đầu tư vào đồng ruộng ở các khâu của quá trình sản xuất:làm đất, cấy và thu hoạch lúa Thực tế cho thấy, trước khi DĐĐT, bình quânmỗi hộ có 7-15 ô, thửa ruộng, thậm chí là 27-39 ô, thửa nhưng đến nay chỉcòn 1-2 ô thửa
Sau DĐĐT nhiều cánh đồng mẫu lớn sản xuất lúa chất lượng cao đãhình thành ở hầu hết các huyện có quy hoạch sản xuất lúa Bên cạnh đó, nhiều
mô hình sản xuất nông nghiệp hàng hóa đem lại giá trị kinh tế cao ra đời, như:
mô hình trồng hoa ở Đan Phượng, Hoài Đức, Thanh Trì, Đông Anh, đạt giátrị 0,5-1,5 tỷ/ha/năm, thậm chí 2 tỷ/ha/năm; mô hình trồng cây ăn quả ở một
số xã thuộc huyện Đan Phượng, Hoài Đức, Thanh Oai, Thanh Trì, Gia Lâm,Đông Anh, Mê Linh, đạt giá trị 0,5-1,5 tỷ/ha/năm; mô hình chăn nuôi tậptrung xa khu dân cư ở Sơn Tây, Ba Vì, Ứng Hòa, Chương Mỹ, Thanh Oai,Đan Phượng, Quốc Oai đạt giá trị 1-2 tỷ đồng;
Bên cạnh những kết quả đạt được thời gian qua, vẫn còn những tồn tại,hạn chế.Hiện, diện tích chưa DĐĐT nằm rải rác trên địa bàn 48 xã thuộc 12huyện Đáng lưu ý, một số địa phương do nhiều lý do khác nhau đã để nhândân phản ứng, tụ tập, khiếu kiện đông người gây mất trật tự an ninh khu vực,thậm chí biến thành điểm nóng ảnh hưởng chung phong trào của thành phố Đến nay, một số địa phương vẫn để ruộng hoang không cấy lúa vụ chiêmxuân, như: xã Cao Viên (Thanh Oai) 121ha; xã Tuyết Nghĩa (Quốc Oai) 50ha;Nguyễn Trãi (Thường Tín) 42ha và Hòa Bình (Thường Tín) 15ha
Trang 24Nhìn chung công tác DĐĐT trên cả nước đang diễn ra hết sức nhanhchóng, đã đạt được những thành công nhất định sau khi thực hiện thành công.
Có thể thấy rằng chủ trương DĐĐT của nhà nước ta là một điều hết sức đúngđắn, góp phần nâng cao đời sống, cũng như cải thiện đời sống của ngườidân.Mục đích cuối cùng của công tác DĐĐT là làm sao cho thửa ruộng códiện tích lớn hơn, canh tác có hiệu quả hơn nhằm đem lại lợi ích cho ngườinông dân Năng suất của các loại cây trồng sau DĐĐT đều tăng lên tạo nềntảng để phát triển kinh tế đất nước ta
Trang 25Chương 2 MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu nghiên cứu
2.2 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là quỹ đất nông nghiệp, các yếu tố liên quan sử dụng đất và hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn xã Liệp Tuyết, huyện Quốc Oai, TP Hà Nội
Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi thời gian : Sau DĐĐT (năm 2014)
- Phạm vi không gian: địa bàn xã Liệp Tuyết, huyện Quốc Oai, TP Hà Nội
2.3 Nội dung nghiên cứu
- Đánh giá điều kiện tự nhiên, KT – XH điểm nghiên cứu
- Hiện trạng sử dụng đất các HTSDĐ
- Đánh giá hiệu quả các HTSDĐ nông nghiệp
- Lựa chọn loại hình sử dụng đất có hiệu quả
- Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp thu thập số liệu
2.4.1.1 Chọn điểm nghiên cứu
Trang 26Chọn điểm nghiên cứu là vấn đề hết sức quan trọng, nó ảnh hưởng đếntính chính xác, khách quan và tính thực tiễn của kết quả nghiên cứu qua điềutra sơ bộ điểm nghiên cứu là một xã thuần nông ở huyện Quốc Oai có diệntích đất sản xuất nông nghiệp lớn và có điều kiện thuận lợi cho phát triểnnông nghiêp, hơn nữa xã là một trong những xã thực hiện chính sách dồn điềnđỏi thửa nhanh và đảm bảo yêu cầu trên địa bàn huyện Quốc Oai, do đó tôi đãchọn điểm nghiên cứu làm địa điểm để thực hiện đề tài nghiên cứu của mình.
2.4.1.2 Thu thập số liệu thứ cấp
Các tài liệu thu thập bao gồm:
- Các thông tin, tài liệu về điều kiện tự nhiên (vị trí địa lý, địa hình, khíhậu, tài nguyên, môi trường)
- Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp qua các kỳ thống kê, kiểm kê đấtđai
- Thực trạng phát triển kinh tế xã hội (dân số, lao động, việc làm, thựchiện phát triển cơ sở hạ tầng, thực trạng phát triển kinh tế, tình hình sản xuấtnông nghiệp)
2.4.1.3 Điều tra hiện trường
Sử dụng phương pháp và bộ công cụ đánh giá nông thôn có sự tham giacủa người dân (PRA).Đây là phương pháp nhằm thu hút sự tham gia tích cựccủa người dân trong quá trình thu thập và phân tích thông tin để đưa ra nhữngkiến nghị, sáng kiến để giải quyết các vấn đề đang tồn tại của địa phương vềvấn đề nghiên cứu Các công cụ thực hiện nghiên cứu bao gồm :
- Phỏng vấn hộ gia đình: tình hình sản xuất, loại cây trồng được sửdụng trong các vụ gieo trồng
- Phỏng vấn cán bộ xã, thôn: tình hình kinh tế xã hội của xã, tình hình
sử dụng đất nông, ngư nghiệp của thôn, xã Từ đó tìm ra những khó khăn gặpphải và mong muốn của thôn xã để đưa ra giải pháp phát triển sản xuất phùhợp
Trang 27- Thảo luận nhóm: Đây là phương pháp thu thập thông tin, đồng thờigiúp cộng đồng cùng tìm hiểu về vấn đề, trao đổi bàn giải pháp cộng đồngcho các vấn đề chung của cộng đồng Tăng cường cho người dân được thamgia trao đổi các vấn đề quan tâm chung của cộng đồng.
- Phân tích S.W.O.T (Strengths, Weaknesses, Opportunities, Theats) :
là một công cụ để giúp cộng đồng xác định những thuận lợi và bất lợi bằngcách phân tích những ảnh hưởng « bên trong » (mặt mạnh và mặt yếu) vànhững ảnh hưởng bên ngoài (cơ hội, rủi ro) mà nó gây tác động đến tiến trìnhphát triển
2.4.2 Phương pháp tổng hợp và sử lý số liệu
2.4.2.1 Phương pháp đánh giá hiệu quả sử dụng đất
Hiệu quả kinh tế được đánh giá theo các chỉ tiêu.
Các chỉ tiêu kinh tế:
- Giá trị sản xuất – GTSX (GO – Gross Output): là giá trị toàn bộ sản
phẩm sản xuất ra trong kỳ sử dụng đất (thường là 1 năm) Nó phản ánh năngsuất đất đai trên khía cạnh lượng giá trị thu được trên một đơn vị diện tích(ha)
GO = ∑Qi*PiTrong đó : Qi là sản lượng của sản phẩm thứ i được tạo ra
Pi là giá của đơn vị sản phẩm thứ i
- Chi phí trung gian – CPTG (IC – Intermediate Cost) : Là toàn bộ chi
phí vật chất và dịch vụ chi phí sản xuất quy ra tiền sử dụng trực tiếp cho quá trình sử dụng đất (giống, phân bón, thuốc hóa học, dụng cụ, nhiên liệu,
nguyên liệu
IC = ∑CjTrong đó : Cj là chi phí thứ j
- Thu nhập hỗn hợp – TNHH (VA – Value Added) : Là giá trị sản
phẩm vật chất mới tạo ra trong quá trình sản xuất, trong một năm hoặc một chu kỳ sản xuất, được xác định bằng giá trị sản xuất trừ chi phí trung gian
Trang 28VA = GO - IC
- Hiệu quả đồng vốn - HQĐV (VA/IC) : là hiệu quả của việc sử dụng
vốn vào trong sản xuất là giá trị gia tăng trên một đơn vị vhi phí sản xuất chỉ tiêu này cho biết với một đồng vốn bỏ ra sẽ thu được bao nhiêu lợi nhuận
- Hiệu quả kinh tế cho cây trồng lâu năm được tính như sau :
Trong đó : Bi là giá trị thu nhập năm thứ i
Ci là giá trị chi phí năm thứ i
r là lãi suất ngân hàng
t là thời điểm tính (năm)
o Giá trị hiện tại của chi phí :
CPV = ∑
o Giá trị hiện tại của thu nhập
BPV = ∑
o Tỷ suất thu nhập và chi phí : là tỉ số lãi suất thực tế, nó cho biết mức
độ đầu tư và thu nhập, qua đó cho biết hiệu quả và trình độ sản xuất kinh doanh của mô hình
BCR = HTCT nào có BCR >1 thì có lãi, HTCT nào có BCR <1 thì lỗ và nếu HTCT nào cso BCR=1 thì hòa vốn
Hiệu quả xã hội
Hiệu quả xã hội là mối tương quan giữa kết quả xã hội (kết quả xét vềmặt xã hội) và tổng chi phí bỏ ra, chủ yếu phản ánh bằng các chỉ tiêu mangtính chất định tính như tạo công ăn việc làm cho lao động, xoá đói giảm
Trang 29nghèo, công bằng xã hội, nâng cao mức sống của toàn dân.
Do điều kiện về mặt thời gian và phạm vi nghiên cứu của đề tài nênchúng tôi đánh giá hiệu quả xã hội theo một số chỉ tiêu mang tính định tínhnhư sau:
- Mức độ chấp nhận của người dân được đánh giá theo ý kiến của hộ khi
điều tra
- Thu hút nhiều lao động, giải quyết việc làm cho người nông dân.
- Nâng cao thu nhập cho người dân thể hiện qua giá trị ngày công của các
loại hình sử dụng đất
Hiệu quả môi trường.
Đánh giá tác động của việc sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vậtcho cây trồng đến đất thông qua so sánh liều lượng thực tế người dân sử dụngvới khuyến cáo sử dụng của trung tâm khuyến nông Thành Phố
Việc xác định hiệu quả về mặt môi trường của quá trình sử dụng đấtcần rất nhiều thời gian và phức tạp, khó định lượng, đòi hỏi phải nghiên cứu,phân tích trong thời gian dài để có thể xác định mức độ ảnh hưởng để đánhgiá
Do thời gian nghiên cứu hạn hẹp nên với đề tài của mình tôi chỉ đánhgiá hiệu quả sử dụng đất dựa trên 2 chỉ tiêu là hiệu quả kinh tế và hiệu quả xãhội ở trên
2.4.2.2 Phương pháp xử lý số liệu
Để đảm bảo cho việc xử lý số liệu được nhanh chóng và chính xác tôi
đã tiến hành xử lý số liệu bằng phần mềm Excel, qua đó tổng hợp và phântích thông tin số liệu dựa vào những chỉ tiêu cụ thể nhằm đạt được mục đíchnghiên cứu đề ra
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU