1. Bạn hiểu thế nào về CNSTH (Công nghệ sau thu hoạch)? CNSTH (công nghệ sau thu hoạch) là hệ thống các công cụ, các phương tiện và các giải pháp để biến đổi các loại nông sản thô thành các sản phẩm phục vụ nhu cầu trực tiếp và gián tiếp ngày càng tăng của con người bao gồm 4 thành phần chủ yếu: Phần kỹ thuật Phần con người Phần thông tin Phần tổ chức quản lý
Trang 1CÂU HỎI ÔN TẬP CÔNG NGHỆ
CHẾ BIẾN RAU QUẢ CHƯƠNG 1
1 Bạn hiểu thế nào về CNSTH (Công nghệ sau thu hoạch)?
CNSTH (công nghệ sau thu hoạch) là hệ thống các công cụ, các phương tiện và cácgiải pháp để biến đổi các loại nông sản thô thành các sản phẩm phục vụ nhu cầu trực tiếp vàgián tiếp ngày càng tăng của con người bao gồm 4 thành phần chủ yếu:
Phần kỹ thuật
Phần con người
Phần thông tin
Phần tổ chức quản lý
2 Tầm quan trọng của CNSTH (công nghệ sau thu hoạch)?
Công nghệ sau thu hoạch được xem là sự phát triển ở mức độ cao hơn trong các hoạtđộng sau thu hoạch
Nhằm giảm tối thiểu mức độ tổn thất đến chất lượng sản phẩm (sự hư hỏng thôngthường, các biến đổi sinh lý), tạo ra các điều kiện không thuận lợi (hoá học,vật lý môitrường)
Tổn thất sau thu hoạch đối với hạt lương thực ở các nước đang phát triển ở mức 20%.Một vụ mùa thành công là sự nổ lực từ việc tăng năng suất, thực hiện thành công việcgiảm thiểu thiệt hại sau thu hoạch
3 Những bất cập trong phát triển CNSTH ở nước ta hiện nay?
Hiện nay, diện tích trồng cây nông nghiệp không nhiều, vấn đề được đặt ra cho nôngnghiệp Việt Nam là tăng năng suất, kết hợp giải quyết tốt công nghệ sau thu hoạch nhằmgiảm tổn thất sau thu hoạch Việc này cần phải bắt đầu từ những hộ nông dân nhỏ lẻ
- Đối với lúa gạo
Tuốt lúa: Sản xuất với nhiều loại giống khác nhau, nguyên liệu không đồng đều cho
chế biến một trong những thách thức cho sản xuất lúa gạo ở Việt Nam không những tronggiai đoạn cơ giới hóa ngoài đồng ruộng mà còn cả giai đoạn chế biến sau thu hoạch
Phơi, sấy: Hiện nay, Việt Nam dự định đầu tư vào các dạng máy sấy: máy sấy loại nhỏ dùng
cho các hộ nông dân, máy lớn hơn dùng trong các xí nghiệp và máy sấy công suất cao dùng chocác công ty có kho chứa lớn
Trang 2Kho bảo quản lúa gạo: Từ năm 1977 -1987, 4 hệ thống silo hiện đại đãđược lắp đặt ở
Cần Thơ, Sóc Trăng, Cao Lãnh, TP HCM nhưng không có silo nào hoạt động có hiệu quả Các silo thường không được sử dụng hoặc sử dụng với hiệu suất rất thấp, vì giá bảoquản gao, cơ chế quản lý của các xí nghiệp còn nặng nề, thiếu hiệu quả, kinh tế kém Chủyếu thóc gạo hiện nay vẫn bảo quản trong dân bằng các kho đơn sơ dễ bị côn trùng, sâu mọtphá hoại
Công nghệ và thiết bị xay xát: có khoảng 80.000 nhà máy xay nhỏ chủ yếu các tư nhân
năng suất 0,5-2 tấn/giờ Ở Việt Nam vì xay xát nhỏ, nguyên liệu không đồng điều, phơi lúadưới ánh nắng mặt trời tỷ thệ thu hồi (gạo + tấm) 60 - 66% trong đó có 40 - 48% gạonguyên (whole kernel), tổn thất trong xay xát lớn, trong khi quy trình xay xát chuẩn trênmáy xay lớn tỷ lệ thu hồi 68%
- Thủy sản
Khả năng sản xuất nước đá 3.300 tấn/ngày, nhưng nước đá nhiều cơ sở không đảm bảo
vệ sinh, nhiễm khuẩn, tạo điều kiện cho vi sinh vật xâm nhập trong quá trình vận chuyển vàbảo quản
Nuôi trồng thủy sản có nguồn lợi lớn, phát triển thiếu quy hoạch nghề nuôi trồng ven
bờ
Kết quả, rừng ngập mặn bị tàn phá, ảnh hưởng lớn đến môi trường sinh thái Đó cũng
là một thách thức đối với Việt Nam
- Cà phê
Cà phê được trồng tập trung ở Daklak, phân tán trong các hộ gia đình, thiếu phươngtiện phơi sấy, (phơi trên đường) xát vỏ nên chất lượng kém, mùa mưa dễ bị mốc, lên men,tổn thất về thất lượng và số lượng
Phương pháp chế biến ướt có nhiều ưu điểm: nâng cao chất lượng cà phê, tăng giá trịxuất khẩu, nhưng chỉ áp dụng ở các cơ sở chế biến lớn
- Cây ăn trái
Có khoảng 370.000 ha cây ăn trái các loại, sản lượng 3-4 triệu tấn/năm, trong đó 75%tập trung ở đồng bằng sông Cửu Long nhưng còn phân tán, mang tính tự phát, nhiều loại tráicây, mỗi loại lại có nhiều giống nên khó khăn cho công nghệ sau thu hoạch và xuất khẩu Một số nhà máy xây dựng đã lạc hậu Một số đã và đang được xây dựng theo côngnghệ mới, trong đó có hai nhà máy liên doanh nhưng chưa chú ý đầu tư tạo vùng nguyênliệu
- Rau củ
Người làm vườn, buôn bán chưa có khái niệm về công nghệ sau thu hoạch quả, chưa
có nhà đóng gói, hệ thống vân chuyển, xử lý và bảo quản trái cây nên tổn thất sau thu hoạch khá lớn (25-40%)
Trang 3CHƯƠNG 2Câu 1: Các hoạt động (giai đoạn) để tạo ra thực phẩm cung cấp cho người tiêu dùng? Theo bạn trong các hoạt động (giai đoạn) trên thì hoạt động nào là quan trọng nhất?
Vì sao?
Các hoạt động để tạo thực phẩm cung cấp cho người tiêu dùng thường được chiathành 2 giai đoạn:
- Giai đoạn trước thu hoạch
- Giai đoạn sau thu hoạch
Giai đoạn cận thu hoạch nằm trong các hoạt động trước thu hoạch nhưng lại có vai trò quan trọng không những đến chất lượng nông sản mà còn tác động trực tiếp đến các hoạtđộng sau thu hoạch
1 GIAI ĐOẠN TRƯỚC THU HOẠCH
Giai đoạn này có vai trò quyết định đến năng suất và chất lượng nông sản thô,nguyên liệu cho các hoạt động sau thu hoạch
2 GIAI ĐOẠN CẬN THU HOẠCH
Đây thường là giai đoạn cây trồng, vật nuôi có sự biến đổi sâu sắc về chất và lượng.Nắm vững và xử lý tốt giai đoạn cận thu hoạch, người sản xuất đã thu hoạch được nhữngphẩm chất cao nhất
3 GIAI ĐOẠN SAU THU HOẠCH
Gồm các khâu thu hoạch, sơ chế (tách hạt, làm sạch, làm khô, phân loại ), vậnchuyển, bảo quản, chế biến và tiếp thị Giai đoạn sau thu hoạch là cầu nối giữa sản xuấtnông nghiệp với người tiêu dùng; là đầu ra cho nông sản
Những công nghệ liên quan đến những hoạt động này được gọi chung là công nghệsau thu hoạch
Câu 2: Cấu trúc cơ bản của nông sản? (hạt, rau quả, củ,…)
Nếu căn cứ vào thành phần hoá học, người ta chia làm 3 nhóm :
- Nhóm giàu tinh bột : thóc, ngô, khoai, sắn (khoai mì)
- Nhóm giàu protein : hạt đậu, đỗ
- Nhóm giàu chất béo : lạc, vừng
1 Vỏ hạt
Vỏ hạt bao bọc xung quanh toàn bộ hạt, có tác dụng bảo vệ, chống lại ảnh hưởng xấu của điều kiện ngoại cảnh (thời tiết, vi sinh vật hại )
Trang 4Vỏ hạt được cấu tạo từ nhiều lớp tế bào mà thành phần của nó chủ yếu là xenlluloza vàhemixelluloza.
Có thể chia hạt nông sản thành 2 loại:
- Loại có vỏ trần : ngô, lúa mì, đậu
- Loại có vỏ trấu : như lúa, kê, đại mạch
Lớp vỏ hạt có tác dụng quan trọng để bảo vệ phôi hạt, vì thế trong quá trình bảo quản phải hết sức giữ gìn bảo vệ lớp vỏ hạt, tránh để xây xát cơ giới, ngược lại trong quá trình chế biến lại cần phải tách tách lớp vỏ hạt ra khỏi sản phẩm để đảm bảo tốt cho chất lượng chế biến
2 Lớp alơron
Là lớp tế bào trong cùng của vỏ hạt tiếp giáp với nội nhũ
Lớp alơron tập trung nhiều dinh dưỡng quan trọng Ở hạt có bột (như hạt thóc) chứa chủ yếu là protein, lipit, muối khoáng và vitamin
Vì thế cám có dinh dưỡng cao: khi xay xát thóc, càng xát kỹ bao nhiêu thì gạo càng trắng, bảo quản càng dễ, nhưng dinh dưỡng (đặc biệt là Vitamin B1) càng mất đi bấy nhiêu
3 Nội nhũ
Hạt nông sản có thể có nội nhũ lớn (họ Graminae, họ Ranunculaceae, họ
Papaveraceae ) Có thể có nội nhũ nhỏ (họ Cruciferae, họ Leguminosae) và có thể không cónội nhũ (họ Rosaceae, họ Campositae)
Nội nhũ là nơi tập trung toàn bộ chất dinh dưỡng chủ yếu của hạt Do đó nếu nội nhũ càng lớn, hạt càng có giá trị, tỷ lệ thành phẩm chế biến càng nhiều
Loại hạt có nhiều tinh bột thì nội nhũ chứa nhiều tinh bột, loai hạt có nhiều chất béo thìnội nhũ chứa nhiều dầu
Nội nhũ là nơi dự trữ nguyên liệu cho hô hấp của hạt, cho nên trong quá trình bảo quản, nội nhũ hao hụt nhiều nhất
4 Phôi hạt
Thường nằm ở góc hạt, phôi được bảo vệ bởi tử diệp (lá mầm) Qua lá mầm, phôi nhậnđược đầy đủ các chất dinh dưỡng chủ yếu để duy trì sức sống và để phát triển thành cây con khi hạt nảy mầm
Trang 5Phôi hạt chứa nhiều chất dinh dưỡng có giá trị như protein, lipit, đường, vitamin, một
số enzim
Các loại củ, rau
1 Cấu tạo, giải phẩu củ sắn (khoai mì)
Vỏ gỗ : là lớp ngoài cùng, sần sùi màu nâu sẫm, chứa các sắc tố đặc trưng cho loại sắn
vỏ đỏ, vỏ trắng hay vàng, thành phần chủ yếu là Celluloza và Hemicelluloza, có tác dụnggiữ cho củ rất bền
Vỏ cùi : dày hơn lớp vỏ gỗ, chiếm khoảng 8 - 20% trọng lượng củ Vỏ cùi mềm, cấu
tạo bởi Celluloza và tinh bột (5 - 8%) vì vậy để tận dụng lượng bột này khi chế biến, khôngnên tách vỏ cùi ra Giữa lớp vỏ là mạng lưới ống dẫn nhựa mủ Trong mủ gồm nhiều chấtnhư tamin, sắc tố, chất men v.v
Thịt sắn (còn gọi là ruột củ) : là các mô tế bào mềm chứa nhiều tinh bột Hàm lượng
tinh bột trong thịt sắn phân bố không đều Sắn một năm thì ít celluloza nếu sắn để lưu thì cónhiều xơ Mỗi năm 1 lớp xơ, dựa vào đó mà người ta biết sắn lưu mấy năm
Lõi sắn : thường nằm ở trung tâm, dọc suốt từ cuống tới đuôi của sắn Lõi chiếm
khoảng 0,3 - 1% trọng lượng, thành phần chủ yếu là cellulo và hemicellulo
3 Khoai lang
Là loại cây lương thực ăn củ được trồng nhiều ở nước ta Khoai lang là loại củ không
có lõi Dọc theo củ có hệ thống xơ nối ngọn củ với đuôi củ Các mặt trên củ có thể là rễ củ hay mầm
Vỏ khoai lang tương đối mỏng, thành phần cấu tạo chủ yếu là cellulo và hemicellulo Ruột khoai thành phần chủ yếu là tinh bột và nước
4 Cải bắp
Cải bắp có hình dạng rất khác nhau bao gồm 2 phần chính : thân trong và lá bắp cải cuốn thành bắp
Thân trong càng ngắn thì giá trị của bắp càng cao
Lá ngoài xanh hơn, chủ yếu làm nhiệm vụ quang hợp, lá trong màu trắng ngà, nơi dự trữ dinh dưỡng chủ yếu
Trang 65 Cà chua
Cà chua có các bộ phận chính sau đây: vỏ quả, thịt quả và hạt Vỏ rất mỏng, thường rấtkhó tách khỏi thịt quả.Thịt quả là phần dự trữ dinh dưỡng chủ yếu Một quả có thể có 2, 3 hay nhiều ô
6 Su hào
Củ su hào có 2 phần rõ rệt: vỏ củ và ruột củ Tất cả đều chứa một lượng xơ khá cao, đặc biệt ở những củ già Trong ruột củ, phần thịt củ về phía gốc chứa một lượng xơ lớn hơn
Trang 7CHƯƠNG 3Câu 1/ Một số khái niệm về độ chín của nông sản? Trạng thái nghỉ của hạt nông sản? Nguyên nhân và điều khiển sự nghỉ của hạt nông sản?
Một số khái niệm về độ chín của nông sản:
a Độ chín thu hoạch: Là độ chín đạt ở thời kỳ trước khi chín thực dụng mà có thể thu
hoạch được, chưa chín hoàn toàn, vật chất đã tích lũy đầy đủ Đối với rau quả, độchín thu hoạch đạt ở giai đoạn chín ương - Đối với loại hạt nông sản, hạt lương thựcthường là ở thời kỳ gần chín hoàn toàn, hạt khô
b Độ chín sinh lý: Hạt, rau quả chín thuần thục hoàn toàn về phương diện sinh lý như
quả đã mềm, hạt bắt đầu rời khỏi thịt Hạt đã khô, quá trình tích lũy vật chất đạt tớimức cao nhất
c Độ chín chế biến: Độ chín của mỗi loại nông sản thích hợp với quy trình chế biến nào
đó thì người ta gọi là độ chín chế biến
Trạng thái nghỉ của hạt nông sản
Khái niệm: Tất cả hạt có sức sống mà ở trạng thái đứng yên không nảy mầm gọi là
hạt nghỉ
Sự nghỉ của hạt có hai loại:
Loại thứ nhất: do bản thân hạt chưa hoàn thành giai đoạn chín sinh lý, mặc dù trongđiều kiện thích hợp, hạt vẫn không nảy mầm Loại này gọi là sự nghỉ sâu hay nghỉ tự phát
Loại thứ hai: là những hạt giống hoặc củ giống đã có năng lực nảy mầm nhưng dođiều kiện ngoại cảnh không thích nghi, hạt giống vẫn ở trạng thái đứng yên, trường hợp đógọi là nghỉ cưỡng bức
Hiện tượng nghỉ của hạt, củ là một hình thức bảo tồn nòi giống của cây giống, chống
đỡ với điều kiện ngoại cảnh Trong thực tế sản xuất, sự nghỉ của hạt có khi có lợi, nhưngcũng có khi có hại
Hạt nghỉ sẽ tránh được những điều kiện bất lợi của ngoại cảnh và giảm bớt được tổnthất trong quá trình bảo quản nhưng lại giảm thấp tỷ lệ hạt nếu như tỉ lệ nNy mầm của hạtquá thấp do sự nghỉ
Mặt khác hạt đang trong giai đoạn nghỉ sẽ ảnh hưởng đến kết quả kiểm nghiệm, ảnhhưởng đến việc diệt trừ cỏ dại khó khăn nếu hạt có lẫn cỏ dại
Nguyên nhân và điều khiển sự nghỉ của hạt nông sản
a Nguyên nhân hạt nghỉ
Trang 8Phôi hạt chưa chín già: Hạt tuy đã rời khỏi cây nhưng phôi của hạt vẫn chưa chín,
hoặc có phôi nhưng tổ chức của phôi phân hóa chưa hoàn thành
Hạt chưa hoàn thành giai đoạn chín sau: Hạt đã chín, phôi, đã phát triển đầy đủ
nhưng vật chất tích lũy trong hạt chưa đủ cần thiết cho phôi đồng hóa, các dạng men tronghạt ở trạng thái không hoạt động
Ảnh hưởng của trạng thái vỏ hạt : Vỏ hạt luôn luôn gây trở ngại cho quá trình nảy
mầm của hạt, chủ yếu ở nguyên nhân sau:
Tính không thấm nước của vỏ hạt
Tính không hút khí của vỏ hạt: có hạt giống tuy là vỏ có thể hút nước nhưng donước ở trong vỏ cao, hình thành một tầng màng khiến cho các thể khí khó qualớp màng đó
Cũng do thủy phân cao, hạt hô hấp mạnh, thiếu dưỡng khí, thừa CO2 không thải
ra được ức chế quá trình trao đổi khí, từ đó sinh trưởng phôi bị trở ngại
Tác dụng cơ giới bắt buộc với vỏ hạt:
Có hạt giống, tính hút nước, hút khí rất mạnh nhưng vỏ hạt bị ràng buộc bởi một lực
cơ giới khiến cho phôi không thể vươn lên được
Tồn tại những vật chất ức chế: Một số vỏ quả, hạt cây trồng, phôi hoặc phôi nhũ
thường tồn tại một số chất ức chế nảy mầm như ure, dầu thơm, axit không bảo hòa
Ảnh hưởng của những điều kiện không thích nghi Có một số hạt vốn đã qua giai
đoạn nghỉ nhưng nếu không tạo điều kiện thuận lợi cho chúng nảy mầm thì chúng sẽ nghỉtrở lại: hoặc có những hạt đã phá vỡ trạng thái nghỉ, nhưng sau đó chúng lại bị ảnh hưởngcủa điều kiện bất lợi tác động vào khiến chúng lại bước vào thời kỳ nghỉ - đó là hiện tượngnghỉ lần 2 hay nghỉ trở lại
b Điều khiển sự nghỉ của hạt nông sản
Từ công tác bảo quản
Hạt giống là một thể hữu cơ sống, quan hệ mật thiết với điều kiện ngoại cảnh Sau khihạt rời khỏi cây mẹ chúng vẫn còn hô hấp và chuyển hóa vật chất, do đó điều kiện ngoạicảnh có ảnh hưởng trực tiếp với chúng trong thời gian bảo quản Có thể sử dụng những biệnpháp thích hợp để điều khiển sự nghỉ của hạt để tránh những tổn thất có thể xảy ra
Đối với những hạt đã qua giai đoạn chín sau cần phải chú ý vì tốc độ nảy mầm của hạttăng Đối với những hạt giống, củ giống nảy mầm trong thời gian bảo quản cần phải có biệnpháp kéo dài thời gian ngủ nghỉ Sử dụng biện pháp hóa học có thể thụ được nhiều kết quảtốt
Phá vỡ sự nghỉ của hạt bằng các biện pháp xử lý thích hợp.
Xử lý hóa học: dùng các hợp chất hóa học, các chất điều hòa sinh trưởng
Trang 9Ví dụ Thiourê, 2,4D, Giberellin, rindit xử lý cho khoai tây, dùng Streptomixin xử
lý cho hạt tiểu mạch có khả năng làm cho chúng nảy mầm ngay
Xử lý biện pháp cơ giới: có thể trộn hạt với cát để giả làm cho vỏ hạt bị tổnthương, xúc tiến nảy mầm Khoai tây cắt thành từng miếng hoặc tác động vào vỏ, vàomắt củ cũng làm tăng tính thấm và dễ nảy mầm
Xử lý nhiệt độ: Nhiệt độ thấp có thể khắc phục được tính không thấm của một
số vỏ hạt Xử lý nhiệt độ cao có thể thúc đẩy quá trình chín sinh lý, đẩy mạnh quá trìnhtrao đổi vật chất trong hạt và tích lũy những vật chất đồng hóa
Xử lý phóng xạ: Dùng phóng xạ để xử lý hạt giống, làm thay đổi các
trạng thái sinh lý, hóa sinh, có thể làm thay đổi tính thấm của vỏ hạt và hoạtđộng của men làm cho hạt thông qua giai đoạn ngủ, nghỉ
Biện pháp trồng trọt thích hợp
Thời kỳ ngủ, nghỉ của hạt giống có quan hệ đến thời kỳ trồng trọt Để tránh những tổn thất xảy ra, cần có những biện pháp ngăn chặn Ví dụ đối với những hạt hòa thảo dễ nảy mầm ngay trên cây khi gặp mưa, cho nên cần xúc tiến biện pháp thu hoạch sớm, ức chế nảy mầm trên cây ( có thể phun MH cho cây lúc ra hoa) hoặc đối với khoai tây phun MH trước lúc thu hoạch 3 tuần, có thể ức chế sự nảy mầm sớm trong quá trình bảo quản
Câu 2/ Các nhân tố tác động đến quá trình chín nhân tạo của nông sản?
Nhiệt độ: Tăng nhiệt độ của môi trường nhằm tăng cường tác dụng hô hấp của rauquả làm cho quả nhanh chín hơn
Không khí:
Dùng oxy để tăng quá trình hô hấp hiếu khí, thúc đẩy cho quá trình chín nhanh hơn Nếu nồng độ oxy trong không khí đạt 50-70% thì chín nhanh hơn tự nhiên 3 lần Nếu nồng độ oxy là 5-6% thì sẽ chín chậm đi 40-60 ngày
Yếm khí: dùng khí CO2
Chất kích thích: Các chất này có tác dụng thúc đẩy các quá trình biến đổi sinh lý,
sinh hóa làm cho quả nhanh chóng chín hơn
Các chất thường dùng là C2H4 (etylen), C2H2 ( axetylen) C3H6( propylen) divinyl,rượu, Đôi khi còn dùng cả Etylen brômit, Tetraclorua cacbon
Câu 3: Sự nảy mầm của hạt nông sản?
Quá trình nẩy mầm của hạt trong thời gian bảo quản là quá trình phân giải các chất hữu
cơ tích lũy trong hạt Trong những điều kiện thuận lợi, tất cả những chất đó tạo cơ sở bướcđầu cho các quá trình tổng hợp mới, quá trình hình thành mầm, bởi trong giai đoạn bảo quảntốt, hạt không thể nẩy mầm mà chỉ trong những điều kiện nhất định nào đó hạt mới có thểnẩy mầm
Trang 10Hạt có thể nẩy mầm, trước hết là những hạt đã qua giai đoạn chín sinh lý và thời kỳnghỉ, hạt còn mới chưa mất khả năng nẩy mầm Mặt khác, hạt phải có trọng lượng và thểtích ( độ to) nhất định đó là những yếu tố nội tại của bản thân hạt, nó thay đổi tùy theo cácloại giống khác nhau.
Nguyên nhân
Trong quá trình bảo quản, hạt có bị nảy mầm hay không, tùy thuộc vào yếu tố môitrường Trước hết hạt muốn nảy mầm, hạt phải hút nước và trương lên Lượng nước tốithiểu hút vào nhiều hay ít tùy theo giống Nước là môi trường cần thiết đối với việc xuấthiện hoạt tính của các loại men trong hạt Những loại hạt có dầu, hút nước ít hơn so vớinhững hạt chứa nhiều prôtein và gluxit Khi hạt hút một lượng nước vượt quá lượng nướctối thiểu thì hạt có thể nảy mầm
Lượng nước tối thiểu là tỷ lệ % giữa lượng nước hút vào để nảy mầm so với trọnglượng của hạt
Các loại hạt giàu protein (các loại đậu) cần 100 - 120%,
Lúa nước chỉ cần lượng nước 50 - 80% N gô cần từ 38 - 40%
Hạt hướng dương cần 44% Đậu tương cần 94%
Trang 11CHƯƠNG 4
Câu 1: Bệnh STH là gì? Các dạng bệnh STH và nấm gây bệnh?
Bệnh sau thu hoạch là gì: bệnh thường xuất hiện trong giai đọan giữa thu hái và hoàn
thiện sản phẩm, trong quá trình bảo quản , vận chuyển, tại người bán buôn, bán lẽ
Là kết quả sự lây nhiễm vào các sản phẩm trước khi nó được chế biến hoặc đến tay người tiêu dùng
Các triệu chứng của Bệnh STH
Thối mềm và thối chảy nước gây ra bởi; Geotrichum , Rhizopus , Sclerotinia ,
Pseudomonas và Erwinia
Thối nâu do Phytophthora , Monilinia , Botrytis vv
Thối khô gây ra bởi phần lớn Fusarium spp
Thời điểm lây nhiễm và cách thức gây hại của bệnh sau thu hoạch
- Chủ động tấn công vào cây đang phát triển và sau đó phát triển trên cây trồng trong lưu trữ
Nấm Botrytis Cinerea trên nho, táo và lê,
Sclerotinia sclerotiorum trên đậu xanh
- Tấn công các loại cây trồng chỉ sau khi thu hoạch
Penicillium spp trên quả táo, lê, cam, quýt, tỏi, vv
Các loại lây nhiễm bệnh STH
Thông qua bề mặt nguyên vẹn: nấm thán thư
Thông qua bề mặt nguyên vẹn từ liền kề bệnh trái cây / rau: Nấm Botrytis Cinerea Thông qua chấn thương: Geotrichum, Penicillium, Rhizopus,Thieloviopsis vv
Câu 2: Tại sao nói tổn thương là yếu tố quan trọng gây bệnh STH? (tác hại của tổn thương
cơ học, nguyên nhân, các dạng tổn thương,….) Vẽ sơ đồ
Tác hại
• Cung cấp các điểm xâm nhập cho nấm mốc và vi khuẩn gây hư hỏng
• Tăng sự mất nước từ khu vực bị tổn thương;
• Nguyên nhân tăng tỷ lệ hô hấp và do đó gia tăng nhiệt
• Làm đổi màu bên trong vì các mô bị hư hỏng
• Làm thay đổi mùi vị
Nguyên nhân gây chấn thương cơ học