1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu tác động tưới ẩm đến tăng trưởng và cấu trúc năng suất của 2 loài cỏ voi và cỏ ghinê tại xã Phúc Ứng huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang

76 251 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 2,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do đó con người đầu tư trí tuệ cho việc khai thác đồng cỏ bằng cách tiến hành nghiên cứu một cách toàn diện từ đặc điểm sinh thái, sinh vật học đến phương thức cải tạo và sử dụng hợp lý

Trang 1

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM ––––––––––––––––––––

LÊ THỊ THU

NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG TƯỚI ẨM ĐẾN TĂNG TRƯỞNG VÀ CẤU TRÚC NĂNG SUẤT CỦA 2 LOÀI CỎ VOI VÀ CỎ GHINÊ TẠI XÃ PHÚC ỨNG HUYỆN SƠN DƯƠNG - TỈNH TUYÊN QUANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC

THÁI NGUYÊN - 2015

Trang 2

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM ––––––––––––––––––––

LÊ THỊ THU

NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG TƯỚI ẨM ĐẾN TĂNG TRƯỞNG VÀ CẤU TRÚC NĂNG SUẤT CỦA 2 LOÀI CỎ VOI VÀ CỎ GHINÊ TẠI XÃ PHÚC ỨNG HUYỆN SƠN DƯƠNG - TỈNH TUYÊN QUANG

Chuyên ngành: Sinh thái học

Mã số: 60.42.01.20

LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Hoàng Chung

THÁI NGUYÊN - 2015

Trang 3

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/i

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

Lê Thị Thu

XÁC NHẬN CỦA KHOA

CHUYÊN MÔN

XÁC NHẬN CỦA GVHD

Trang 4

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/ii

Tôi xin cảm ơn chú Trần Quốc Sơn - nhà cung cấp cỏ xanh cho công ty TNHH Sữa cho Tương Lai đã hướng dẫn tôi tận tình, tạo điều kiện cho tôi được thí nghiệm trên đồng cỏ và công ty TNHH Sữa cho Tương Lai tại xã Phúc Ứng – huyện Sơn Dương – tỉnh Tuyên Quang đã giúp đỡ tận tình, tạo điều kiện để chúng tôi hoàn thành được luận văn này

Cuối cùng , tôi bày tỏ lòng biết ơn đến gia đình, bạn bè đã tạo điều kiện, động viên, cổ vũ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn

Trong quá trình thực hiện còn nhiều hạn chế về thời gian, kinh phí cũng như chuyên môn nên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong nhận được ý kiến đóng góp quý báu của thầy cô giáo, các nhà khoa học và bạn

bè đồng nghiệp

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày 10 tháng 5 năm 2014

Tác giả

Lê Thị Thu

Trang 5

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/iii

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục các từ viết tắt iv

Danh mục các bảng v

Danh mục các hình vi

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Tình hình nghiên cứu cây thức ăn gia súc trên thế giới và Việt Nam 4

1.1.1 Tình hình nghiên cứu cây thức ăn gia súc trên thế giới 5

1.1.2 Tình hình nghiên cứu cây thức ăn chăn nuôi ở Việt Nam 10

1.2 Đặc tính sinh thái và sinh vật học của cỏ hoà thảo 15

1.2.1 Đặc tính sinh thái học 15

1.2.2 Đặc tính sinh lý 16

1.3 Đặc điểm của cỏ làm thí nghiệm 20

1.3.1 Cỏ Voi (Pennisetum Purpureum) 20

1.3.2.Cỏ Ghinê (Panicum maximum) 24

Chương 2: ĐIỀU KIỆN KINH TẾ - XÃ HỘI VÙNG NGHIÊN CỨU 29

2.1 Điều kiện tự nhiên 29

2.1.1 Vị trí địa lý 29

2.1.3 Khí hậu thủy văn 30

2.2 Điều kiện kinh tế - xã hội vùng nghiên cứu huyện Sơn Dương 32

2.2.1 Điều kiện kinh tế - xã hội 32

2.2.2 Giao thông, thủy lợi 32

Trang 6

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/iv

Chương 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU 34

3.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu 34

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 34

3.1.2 Địa điểm nghiên cứu 34

3.1.3.Thời gian nghiên cứu 34

3.2 Nội dung và phương pháp nghiên cứu 34

3.2.1 Nội dung nghiên cứu 34

3.2.2 Phương pháp nghiên cứu 34

Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 40

4.1 Tính chất lý, hóa học của đất trồng 40

4.2 Năng suất và cấu trúc năng suất phần trên mặt đất 41

4.2.1 Thí nghiệm trồng cỏ và tưới nước 42

4.2.2 Năng suất và biến động mùa của cỏ Ghine và cỏ Voi 44

4.2.3 Cấu trúc năng suất phần trên mặt đất của cỏ voi và cỏ ghinê 48

4.3 Ảnh hưởng của độ ẩm đất đến năng suất và cấu trúc năng suất phần trên mặt đất của cỏ voi và cỏ ghi nê 55

4.4 Đề xuất biện pháp tác động 57

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 60

TÀI LIỆU THAM KHẢO 61

Trang 7

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/iv

Trang 8

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/v

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1 Thành phần hoá học của một số cây thức ăn xanhtrong họ hoà thảo 5

Bảng 1.2 Sản lượng VCK và chất lượng những loài cỏ trên vùng thấp vào 45 ngày cắt 9

Bảng 1.3 Sản lượng VCK của cỏ Ghine tỉa cắt 30 ngày 10

Bảng 1.4 Năng suất cỏ Voi theo mùa 22

Bảng 1.5 Năng suất cỏ Voi theo tuần tuổi 22

Bảng 1.6 Giá trị dinh dưỡng của cỏ Voi 23

Bảng 1.7 Năng suất cỏ Ghi nê theo mùa 26

Bảng 1.8 Thành phần hoá học của vật chất khô 26

Bảng 1.9 Thành phần dinh dưỡng của cỏ Ghi nê 27

Bảng 1.10 Thành phần hoá học cỏ Ghinê và tỷ lệ tiêu hóa 27

Bảng 4.1 Kết quả phân tích mẫu đất 40

Bảng 4.2 Lượng nước tưới trong 100g đất tát ngập nước (độ ẩm 100%) và đất ô thí nghiệm 41

Bảng 4.3 Lượng nước tưới ô TN qua các lứa cỏ voi và cỏ ghinê 43

Bảng 4.4 Năng suất tươi và khô của cỏ Ghinê qua các lứa cắt 44

Bảng 4.5 Năng suất tươi và năng suất khô của cỏ voi qua các lứa cắt 46

Bảng 4.6 Tỷ lệ trọng lượng thân, lá cỏ ghinê qua các lứa cắt 48

Bảng 4.7 Trọng lượng thân, lá cỏ voi qua các lứa cắt 50

Bảng 4.8 Diện tích bề mặt lá của cỏ ghinê thí nghiệm 52

Bảng 4.9 Diện tích bề mặt lá của cỏ voi thí nghiệm 53

Bảng 4.10 Quan hệ giữa bề mặt lá với khối lượng tươi của cỏ ghinê 54

Bảng 4.11 Quan hệ giữa bề mặt lá với khối lượng tươi của cỏ voi 54

Trang 9

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/vi

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 4.1 Năng suất tươi cỏ Ghinê qua các lứa cắt 45

Hình 4.2 Năng suất tươi của cỏ voi qua các lứa cắt 47

Hình 4.3 Diện tích bề mặt lá của cỏ ghinê thí nghiệm 52

Hình 4.4 Diện tích bề mặt lá của cỏ voi thí nghiệm 53

Trang 10

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/1

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Hiện nay, trên thế giới cũng như ở nước ta nhu cầu sinh hoạt của con người ngày càng cần nhiều thịt sữa Trong chăn nuôi gia súc như trâu, bò, ngựa,… thì cỏ là thức ăn chính, trong khi đó diện tích cỏ tự nhiên ngày càng bị thu hẹp, lượng cỏ giàu đạm như cây họ Đậu, cỏ hỗn hợp … có rất ít Với nền nông nghiệp ngày càng phát triển, quy mô chăn nuôi ngày càng lớn, số lượng đàn gia súc tăng lên nên hình thức chăn thả tự nhiên như trước không thể đáp ứng được Do đó con người đầu tư trí tuệ cho việc khai thác đồng cỏ bằng cách tiến hành nghiên cứu một cách toàn diện từ đặc điểm sinh thái, sinh vật học đến phương thức cải tạo và sử dụng hợp lý để tạo ra sản phẩm, năng lượng tối đa trên đơn vị diện tích đồng cỏ tự nhiên cũng như cỏ trồng

Ở nước ta hiện nay, việc nghiên cứu về đặc điểm sinh thái của cỏ, các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát triển và năng suất và nghiên cứu cỏ tạo

ra các giống cỏ mới cho năng suất và chất lượng cao đã được chú trọng nhiều hơn khi quy mô chăn nuôi được mở rộng và phát triển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa vì cỏ là thức ăn chăn nuôi gia súc Trong những năm gần đây với các thành tựu phát triển khoa học kỹ thuật, hợp tác chăn nuôi với tổ chức Quốc tế, nước ta đã nhập nhiều giống cây thức ăn họ hòa thảo và họ đậu có nguồn gốc nhiệt đới từ Philippin, Indonexia, Thái Lan… Một số giống cỏ nhập nội đã được đánh giá ban đầu là có năng suất cao và thích hợp với điều kiện tự nhiên của nước ta Trong số đó phải kể đến các giống cỏ Voi, cỏ Ghi nê

Tuyên Quang là tỉnh miền núi phía Bắc với ngành chăn nuôi khá phát triển có nhiều trang trại chăn nuôi bò có quy mô lớn , cung cấp lượng lớn thịt

và sữa đảm bảo chất lượng cho tiêu dùng Có được các kết quả đó các trang trại

đã chú trọng đến chuồng trại bảo đảm vệ sinh, phòng tránh dịch bệnh thường xuyên cho gia súc Ở Tuyên Quang có nhiều trang trại chăn nuôi bò lấy sữa, trong đó có trang trại của công ty TNHH Sữa Cho Tương Lai Trang trại rất

Trang 11

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/2

chú trọng chất lượng sữa nên đã sử dụng thức ăn chính là thức ăn thô xanh, và

đã tiến hành trồng một số giống cỏ, trang trại đã có một quy mô lớn cỏ trồng với các kỹ thuật chăm sóc hợp lý

Để cỏ trồng đạt năng suất cao, chất lượng tốt khắc phục được trạng thái thiếu thức ăn cho gia súc đặc biệt là mùa khô, cần phải chú ý đến biện pháp kỹ thuật chăm sóc hợp lý, cung cấp các yếu tố cần thiết cho sinh trưởng và phát triển để cỏ đạt năng suất cao như: yếu tố nhiệt độ, ánh sáng, độ ẩm, đất… Trong các yếu tố đó độ ẩm có ảnh hưởng mạnh mẽ tới tăng trưởng và cấu trúc năng suất của cỏ

Để làm sáng tỏ ảnh hưởng của độ ẩm đến tăng trưởng và cấu trúc năng

suất của cỏ trồng chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu tác động tưới ẩm đến tăng trưởng và cấu trúc năng suất của 2 loài cỏ Voi và cỏ Ghinê tại xã Phúc Ứng-huyện Sơn Dương- tỉnh Tuyên Quang”

2 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu ảnh hưởng của độ ẩm đến năng suất và cấu trúc năng suất phần trên mặt đất của cỏ tại trang trại của Công ty TNHH Sữa Cho Tương Lai nhằm xác lập nhu cầu ẩm, cung cấp độ ẩm thích hợp cho các giai đoạn sinh trưởng và phát triển của cỏ giúp nâng cao năng suất và cấu trúc năng suất của

cỏ Voi và cỏ Ghinê tại đây

3 Ý nghĩa và khoa học thực tiễn

Hiện nay, do nhu cầu sử dụng đất đai của con người phục vụ cho sinh hoạt và phát triển công nghiệp tăng mạnh nên diện tích đồng cỏ tự nhiên bị thu hẹp về diện tích, việc chăn thả gia súc của người dân không theo quy mô dẫn đến nhiều loài cỏ tốt có giá trị trong chăn nuôi bị suy giảm dần Từ thực tế đó,

để đảm bảo đủ thức ăn cho gia súc nhập nội, nước ta đã tiến hành nhập và trồng một số giống cỏ trên nhiều địa phương trong cả nước Để cây trồng sinh trưởng, phát triển tốt, cho năng suất cao thì cần có biện pháp chăm sóc hợp lý

Trang 12

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/3

Trong đó có yếu tố độ ẩm là yếu tố môi trường có ảnh hưởng quan trọng đến tăng trưởng và cấu trúc năng suất của cỏ

Từ những lý do trên chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài “Nghiên cứu tác động tưới ẩm đến tăng trưởng và cấu trúc năng suất của 2 loài cỏ Voi và

cỏ Ghinê tại xã Phúc Ứng-huyện Sơn Dương- tỉnh Tuyên Quang”

Trang 13

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/4

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Tình hình nghiên cứu cây thức ăn gia súc trên thế giới và Việt Nam

Khái niệm cây thức ăn xanh là loại thức ăn mà người và gia súc đều sử dụng ở trạng thái tươi, nó chiếm tỷ lệ cao trong động vật nhai lại Thức ăn xanh ở động vật có thể chia thành 2 nhóm chính bao gồm: cây cỏ tự nhiên và cây trồng Nhóm cây thảo như cỏ ở bãi chăn, cỏ trồng, thân lá cây ngô… Nhóm cây họ đậu như cỏ stylô, cây điền thanh, … một số cây thức ăn xanh khác như cây lấp, cây chuối,…

Thức ăn xanh trên thế giới rất phong phú và đa dạng bao gồm thân lá của một số cây,cỏ trồng hoặc cỏ mọc tự nhiên trên cạn hoặc dưới nước và là nguồn cung cấp thức ăn quan trọng cho gia súc các nông hộ Loại thức ăn này chứa hầu hết các chất dinh dưỡng mà vật nuôi cần như protein, các vitamin, khoáng đa lượng và vi lượng thiết yếu và các chất có hoạt tính sinh học cao…

Thức ăn xanh chứa nhiều nước, chất xơ, tỷ lệ nước trung bình 80- 90%,

tỷ lệ xơ thô trung bình ở giai đoạn non là 2 - 3%, trưởng thành 6 - 8% so với thức ăn tươi Thức ăn tươi chứa nhiều nước và nhiều chất xơ nên vât nuôi cần lượng lớn mới thoả mãn nhu cầu nhưng do hạn chế dường dung tích nên con vật không ăn được nhiều

Thức ăn xanh dễ tiêu hoá, tỷ lệ tiêu hoá đối với loài nhai lại là 70 - 80%

Ví dụ , 1ha cỏ voi cho 150 – 300 tấn chất xanh

Thức ăn xanh giàu vitamin: nhiều nhất là caroten, vitamin B, đặc biệt là vitamin B2, vitamin E có hàm lượng thấp Cỏ mục túc khô có 0,15mgB1/100g

và 0,45mgB2/100g Cỏ tươi có 0.25mgB1/ 100g, 0.40mgB2/100g [6]

Trang 14

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/5

Bảng 1.1 Thành phần hoá học của một số cây thức ăn xanh

trong họ hoà thảo Protein

thô Mỡ thô Xơ thô DSKĐ

Khoáng Tổng số Canxi Photpho

(Nguồn: Viện Chăn nuôi, 1995)

Như vậy, thức ăn xanh vô cùng quan trọng đối với gia súc và là nguồn thức ăn được chú trọng trong chăn nuôi gia súc ở những nước phát triển và đang phát triển Việc phát triển đồng cỏ không chỉ cung cấp thức ăn tươi mà

còn cung cấp thức ăn dự trữ cho gia súc vào mùa khô

Theo Meilroy (1972), cần chọn cỏ để làm thức ăn gia súc là khi thu hoạch dưới dạng này hay dạng khác phải đảm bảo các yêu cầu sau:

- Cỏ phải có khả năng tái sinh qua mầm chồi còn lại sau mỗi lần thu hoạch

- Các tế bào sinh trưởng phải tập trung phần lớn ở các gốc là nơi khi thu hoạch ít bị ảnh hưởng tới

- Cần sinh trưởng liên tục với khả năng chịu hạn và chịu lạnh cao

- Cần có thân ngầm để tạo điều kiện phát triển cả trên và dưới mặt đất

- Có hệ thống rễ phát triển để cho phép chịu đựng sự thu hoạch và đảm bảo lấy được dinh dưỡng đã được giải phóng hay phân huỷ từ dưới

1.1.1 Tình hình nghiên cứu cây thức ăn gia súc trên thế giới

Trang 15

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/6

phát triển chăn nuôi ngày một lớn, hình thức chăn thả trên các thảm cỏ tự nhiên như trước không thể đáp ứng được Do đó đòi hỏi loài người phải đầu tư trí tuệ cho việc khai thác đồng cỏ và tạo ra các thảm cỏ mới

Tuy nhiên, đến nay quan niệm về đồng cỏ vẫn là vấn đề còn đang tranh cãi Nhiều nhà nghiên cứu đã đưa ra những đặc điểm cần có của loại hình đồng

cỏ hoặc nhóm đặc điểm và cũng đã đưa ra hàng loạt định nghĩa về đồng cỏ

Theo A.O.Felipe (1965)[38], những vùng đất rộng lớn, kể cả đồng bằng cũng như miền đồi núi, bao phủ bởi cỏ địa phương được sử dụng cho chăn thả quản canh được gọi là bãi cỏ tự nhiên Còn đồng cỏ nhân tạo được xây dựng lên để thay thế bãi cỏ tự nhiên bằng cách trồng những loài cỏ có năng suất và giá trị dinh dưỡng cao hơn Đa số các tác giả cho rằng đồng cỏ (Grassland) là vùng đất được che phủ bởi thảm cỏ liên tục, nơi có lượng mưa dao động từ 250 – 750mm ở vùng ôn đới và tới 1200mm ở vùng nhiệt đới, cỏ sinh trưởng liên tục trong mùa sinh dưỡng, ngừng sinh trưởng trong mùa khô hay lạnh

Ở Việt Nam, theo Trịnh Văn Thịnh (1974)[27], cũng có những đề nghị khác nhau: Danh từ “đồng cỏ” để chỉ những diện tích đồng cỏ (vĩnh viễn hay tạm thời) còn những đất đai sử dụng để chăn thả súc vật (có người đề nghị là chăn dắt) chủ yếu dựa vào cỏ tự nhiên thì gọi là bãi chăn

Theo Hoàng Chung (2006)[8]: Đồng cỏ là các sinh địa quần lạc, thảm thực vật của nó được đặc trưng bởi các quần xã cỏ với độ khép tán lớn hay nhỏ

và chủ yếu là cỏ trung sinh nhiều năm, đôi khi là cỏ ẩm sinh, có sự ngừng sinh trưởng vào mùa đông, thường mùa hè không biểu thị sự giảm sút rõ rệt, đất đa dạng về độ ẩm, độ phì và hàm lượng muối

1.1.1.2 Tình hình nghiên cứu cây thức ăn gia súc trên thế giới

Trên thế giới, ở các nước có nền chăn nuôi đại gia súc phát triển, vấn đề thức ăn rất được quan tâm và đầu tư nghiên cứu như: Úc, Mỹ, Brazin, … Chăn nuôi là một bộ phận quan trọng trong hệ thống sản xuất vùng đồi núi ở vùng Đông Nam Á, nên cũng đã có những quan tâm đầu tư cho lĩnh vực này

Trang 16

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/7

Tác giả T.Kanno và M.C.M Macedo, 2001 [59] đã tiến hành thí nghiệm

gieo hạt của các cỏ Brachiaria decumbens, B.brizantha, B.dictyoneura, B

humidicola, Andropogon gayanus, Setaria anceps và Paspalum atratum vào

đầu mùa mưa tại các cánh đồng ở khu vực đầm lầy Các tác giả thấy rằng không có loài nào có thể sống sót tại mùa mưa ở khu vực đất lầy Còn khi gieo hạt vào giữa mùa mưa thì chỉ còn một lượng nhỏ cây giống con còn tồn tại vào cuối mùa mưa, tuy nhiên cũng không thể sống sót cho đến hết mùa mưa Những kết quả chỉ rõ rằng giai đoạn cây con phù hợp nhất ở khu vực đầm lầy là bắt đầu của mùa khô, khi đất trở nên cứng có thể sử dụng được máy kéo

- Ở Thái Lan, với 70% dân liên quan đến sản xuất nông nghiệp, sản phẩm trồng trọt có giá trị thấp, thịt bò và sữa chưa đủ cung cấp theo nhu cầu tiêu dùng Theo FAO, Chính phủ Thái Lan có chủ trương tăng thu nhập của người nông dân bằng giải pháp: giảm trồng lúa, sắn, đẩy mạnh phát triển chăn nuôi đặc biệt là gia súc nhai lại Nông dân nuôi bò trong dự án được cấp hạt giống cỏ để trồng

- Ở Trung Quốc, cây thức ăn gia súc được chú ý phát triển ở khu vực

phía Nam Trong quá trình nghiên cứu đã xác định được các giống cỏ Stylo,

Brachiaria, Pennisetum,… sử dụng có hiệu quả cho gia súc Hằng năm còn sản

xuất 20,5 tấn hạt cỏ cung cấp cho trong và ngoài nước (Thông tin khoa học kỹ thuật chăn nuôi, 1998) [29]

- Ở Philippiin, với 90% gia súc nhai lại nuôi tại vườn nhà hoặc ở các

trang trại nhỏ được trồng các giống Stylo 184, Panicum maxinum, Paspalum

atratum,… đều phát triển tốt cung cấp nguồn thức ăn cho gia súc Ngoài ra, các

giống cỏ trên còn được trồng theo đường đồng mức ở đất dốc, cải tạo đất trống đồi núi trọc, trồng dưới tán cây ăn quả Hằng năm sản xuất được trên 1 tấn hạt

cỏ (E.F Lating, F Gagunada, 1995)[45]

Một số nước khác như Malaysia, Lào,… từ những năm 1985 cũng đã chú trọng đầu tư phát triển cây thức ăn cho gia súc Cho đến nay một số giống cỏ

Trang 17

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/8

Hoà thảo và cỏ họ Đậu được chọn lọc, đang phát huy hiệu quả cao trong sản xuất Hằng năm sản xuất được 2 - 3 tấn hạt cỏ các loại

Như vậy, phong trào trồng cây thức ăn xanh để chăn nuôi gia súc đang được nhiều nước quan tâm Nó thực sự là động lực thúc đẩy ngành chăn nuôi đại gia súc phát triển

1.1.1.3 Những kết quả nghiên cứu về nâng cao năng suất cây thức ăn gia súc trên thế giới

Hiện nay trên thế giới ngoài việc tuyển chọn, lai tạo, di nhập các giống

cỏ tốt từ vùng này sang vùng khác, người ta còn tập trung giải quyết vấn đề năng suất, chất lượng cỏ

Tại Purertorico, Vieente - Chandler Silva và Figarella (1959) [60] thông báo năng suất giống Panicum maximum Cv Makueni đạt 26.846 kg VCK/ha với mức bón 440 kg đạm/ha và cứ 40 ngày cắt 1 lần khi trồng cỏ

Thí nghiệm cắt hàng năm cho năng suất chất khô đạt 36.700 kg/ha, kết quả này cao hơn so với cỏ Pangola (Digitaria decumbens), Para (Brachiaria

mutica) và Ghinê (Panicum maximum) (Barnard, 1969) [39]

Tại Samford, Queensland năng suất hàng năm của giống Paspalum dilatatum là 15.000 kg VCK (Davies J.G, 1970) [44]

Tại Fiji với điều kiện khắc nghiệt hơn năng suất trung bình là 5.313 kg VCK/ha với mức prôtein thô là 9,9% trong thời gian trên 3 năm (Roberts, 1970) [56]

Tại Redland Bay, Queensland (Riveros và Wilson, 1970) [50] thông báo năng suất cỏ Setaria sphacelata đạt từ 23.500 - 28.000 kg/ha qua mùa sinh trưởng 6 tháng trong điều kiện cỏ được tưới nước và cung cấp 225 kg đạm ure/ha/năm trên nền đất baza mầu mỡ

Middleton và Micosker, (1975) [50] cho biết vào năm 1973 và 1974 tại miền Nam Johnstone, vùng Queensland, vẫn giống Panicum maximum Cv Makueni đã sản xuất được 60.000 kg VCK/ha với điều kiện cung cấp 300 kg

Trang 18

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/9

đạm/ha Theo Quilichao (Colombia CIAT, 1978) [43], giống Brachiaria decumbens có thể đạt năng suất chất khô trên 42.000 kg/ha/năm với thí nghiệm không bón đạm nhưng bón đủ lân và nó là một giống cỏ tốt nhất trong điều kiện bón lân và đạm thích hợp

Theo Anon, 2000 [37] tại Thái Lan, sản lượng vật chất khô của các giống

cỏ Digitaria decumbens, Paspalum atratum, Brachiaria mutica và Paspalum plicatulum khoảng từ 15 - 20, 18 - 25, 9 - 15 và 6 - 10 tấn/ha Sản lượng này được thể hiện cụ thể ở bảng 1.2

Bảng 1.2 Sản lƣợng VCK và chất lƣợng những loài cỏ

trên vùng thấp vào 45 ngày cắt Tên khoa học Tên Việt Nam Năng suất (tấn/ha) Prôtêin

(Nguồn: Division of Animal Nutrition, Anon, 2000 [37])

Trong đó, giống cỏ đắng Paspalum atratum và Paspalum plicatulum là

những loài cỏ cho sản lượng hạt giống lớn, có thể tới trên 600kg/ha Do vậy, hai giống này đã được phân bố rộng rãi ở Thái Lan

Theo M.D Hare và cộng sự [49], cho biết các cỏ Brachiaria mutica và

Paspalum atratum khi không có cây bộ đậu và dưới điều kiện cằn cỗi, nằm

thấp, đất khô ở vùng tây bắc Thái Lan phát triển tốt ở năm đầu, sản xuất trung bình là 20tạ/ha VCK Không có sự sai khác có ý nghĩa về sản lượng giữa hai loài và không khác nhau về sản lượng giữa khoảng cách thu cắt 45 ngày và 65

ngày ở mùa mưa đầu tiên Còn ở mùa mưa thứ hai Paspalum atratum sản xuất

30 tạ/ha VCK lớn hơn 10tạ/ha so với B Mutica

Tại Trung tâm nghiên cứu nuôi dưỡng động vật tỉnh Petchaburi (Thái Lan) cỏ Ghinê tía được trồng và cắt 30 ngày một lần, với mật độ trồng là 50 x

Trang 19

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/10

50cm và được bón phân hỗn hợp (15 - 15 - 15) trước khi trồng ở mức 300 kg/ha tương đương 18 tấn phân bón/ha Lượng cỏ thu hoạch khoảng 8,9 tấn/ha

ở lứa đầu (70 ngày sau trồng) và khoảng 2,6 đến 7,1 tấn/ha cắt sau 30 ngày (Animal Nutrition Division, 2001) [36] Sản lượng này được thể hiện ở bảng 1.3

Bảng 1.3 Sản lƣợng VCK của cỏ Ghine tỉa cắt 30 ngày

Thời gian cắt Năng suất VCK (tấn/ha)

(Nguồn: Annual Report on Animal Nutrition Division, 2000, [36])

1.1.2 Tình hình nghiên cứu cây thức ăn chăn nuôi ở Việt Nam

1.1.2.1 Tình hình phát triển

Trong những năm gần đây, ngành chăn nuôi Việt Nam đã phát triển đáng

kể Kể từ năm 1990 đến nay ngành chăn nuôi có hướng phát triển tương đối ổn định với tốc độ tăng trưởng bình quân đạt đến 5,27% năm Tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm tăng rõ rệt, tư 3,5% năm trong các giai đoạn 1990-1995 lên đến 6,7% năm trong giai đoạn 1996-2000 và trong các năm còn lại đă tăng lên tới 9,1% năm (Thông tin khoa học kỹ thuật chăn nuôi,1998)[29]

Bên cạnh tình hình chăn nuôi lấy thịt, chăn nuôi bò sữa cũng phát triển mạnh trong những năm gần đây và không chỉ cung cấp sưa tươi cho tiêu thụ mà còn cung cấp cho các nhà máy chế biến sữa Số lượng bò sữa tăng từ 11.000

Trang 20

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/11

con năm 1990 lên gần 80.000 con năm 2004, trong đó, bò cái sinh sản có khoảng 50.000 con, bò sữa xấp xỉ 40.000 con (Thông tin khoa học kỹ thuật chăn nuôi,1998)[29]

Do sự tăng trưởng mạnh nên đòi hỏi cần phải có nguồn thức ăn phong phú để cung cấp đủ cho số lượng đàn gia súc ngày càng tăng lên

Năm 1960, ngành nông nghiệp Việt Nam đã chủ trương phát triển cánh đồng cỏ cho gia súc Năm 1960 , ở miền Bắc chỉ có 96 ha trồng cỏ thì tới năm

1961, 1962 diện tích cỏ đã tăng lên 323 ha và 687 ha Đến năm 1963, theo số liệu 6 tỉnh đồng bằng diện tích trồng cỏ và ngô đay làm thức ăn cho gia súc tăng 3.585 mẫu Bắc bộ (Thái Đình Dũng, Đặng Thị Liệu, 1979)[11]

Năm 1976, Bộ Nông nghiệp đã phát hành bản dự thảo “Quy phạm, xây dựng, sử dụng, dự trữ và quản lý đồng cỏ”, từ đó đến nay diện tích đồng cỏ trồng có tới 5.000 – 6.000 ha, nhiều cơ sở như Mộc Châu, Sao Đỏ, Đồng Giao, Phú Mãn,… đã xây dựng được hàng nghìn ha đồng cỏ chăn thả luân phiên (Báo cáo của tổng cục chăn nuôi, 1976)

Do cỏ ở nước ta hàm lượng dinh dưỡng và cho năng suất kém nên nước

ta đã tiến hành nhập khẩu một số cỏ đậu và cỏ hoà thảo ở những nước như Australia , Cuba… và tiến hành trồng thí nghiệm ở một số địa phương Một số

giống cỏ được đưa vào trồng thí nghiệm là cỏ Pangalo (Digitaria decumbes), cỏ đậu Stylo (Stylosathes)… kết quả thu hoạch các loại cỏ cho biết , mỗi năm cắt 3

- 4 lứa thì có thể đạt năng suất 50 - 60tấn/ha, trồng qua 3 - 4 năm vẫn phát triển tốt (Đoàn Ân, Võ Văn Trị, 1976)[2]

Trong khoảng hơn 20 năm trở lại đây thông qua các hoạt động hợp tác Quốc tế và từ nhiều nguồn khác nhau chúng ta nhập trên 100 giống cây thức ăn hoà thảo và cây họ đậu có nguồn gốc nhiệt đới (CSIRO, HIAT, Philippin, Indonesia, Thailand) nhằm tăng khả năng sản xuất thức ăn xanh cho chăn nuôi,

cụ thể như:

Năm 1990, chương trình cho bò thịt VIE86/608 nhập 17 giống cây thức

ăn họ đậu, hoà thảo khác nhau từ Australia

Trang 21

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/12

Năm 1995 chương trình cây thức ăn cho nông hộ nhập 70 giống từ CRISO và CIAT, chương trình cây keo dậu nhập 22 giống keo dậu từ Australia

Năm 1997, thông qua hoạt động hợp tác quốc tế đã nhập 10giống Stylo

từ Trung Quốc và Philippin

Năm 1998, chương trình “phát triển bò thịt một cách hiệu quả ở Việt Nam ACIR Projeet as 9/97/18” nhập 55 loại cây thức ăn gồm 15 loại cây họ đậu và 40 loại cây họ hoà thảo

Một số giống cây có nhập nội đã được đánh giá ban đầu và thu được kết quả tốt, ứng dụng sản xuất ở một số vùng

Nhưng do không có sự quản lý, chỉ đạo thống nhất cho nên một số giống sau khi đánh giá đã bị thất lạc hoặc chưa có điều kiện thử nghiệm ở các vùng khác nhau để có cơ sở chắc chắn mở rộng thử nghiệm ra sản xuất

1.1.2.2 Kết quả các công trình nghiên cứu về cây thức ăn chăn nuôi

Trong những năm trước đây, một số nhà khoa học mới tập trung vào nghiên cứu một số giống cây thức ăn hòa thảo, họ đậu nhập nội ở một số vùng như:

Lục Văn Ngôn, 1970 [22] đã nghiên cứu so sánh năng suất và khả năng sống qua đông của một số giống cỏ trồng nhập nội trên đất đồi Thái Nguyên

trong đó có giống cỏ Tây Nghệ An (Panicum maximum), Mộc Châu (Paspalum

urvillei), cỏ Xu đăng (Sorglum xudannens), Goatemala (Trypsacum laxum), cỏ

voi, Pangola, cỏ lông Para, qua thí nghiệm cho thấy các loài cỏ voi, Tây Nghệ

An có năng suất cao và có khả năng phát triển trong mùa đông Tác giả cũng cho thấy năng suất tỉ lệ thuận lượng phân bón nitơ

Lê Hòa Bình và cộng sự, 1992 [4] khảo sát năng suất cây thức ăn mới nhập nội ở một số vùng và ứng dụng trong hộ chăn nuôi đã cho kết quả như sau:

- Tại Long Mỹ giống Makueni và Hamil cho năng suất chất xanh đạt 56.959,9 tấn/ha tương ứng với 9,7 - 11,9 tấn VCK

- Tại Sơn Thành: Giống Hamil lại cho năng suất cao hơn cả, đạt 92,9 tấn chất xanh tương ứng 17,6 tấn VCK/ha/năm

Trang 22

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/13

- Tại Ba Vì hai giống ghine là Liconi và Hamil có năng suất tốt hơn trong đó nổi bật là Liconi Năng suất chất xanh đạt 99,96 tấn tương đương 18,93 tấn VCK/ha/năm

Như vậy, trong cùng một giống cỏ nhưng năng suất có sự khác nhau giữa các vùng khá lớn do ảnh hưởng của khí hậu, đất đai và các yếu tố khác

Lê Hòa Bình, Nguyễn Phúc Tiến, Hồ Văn Núng, Đặng Đình Hanh, 1997 [5]

đã nghiên cứu giống cỏ Para, các tác giả cho biết cỏ Para có năng suất 89 - 98 tấn/ha với khối lượng xanh thu trong mùa đông 35 - 45 tấn/ha tương đương 39 - 47% khi trồng trên đất có độ ẩm cao và có ngập nước

Nguyễn Tuấn Hảo, (1999) [14] đã trồng thử nghiệm một số loài cây thức

ăn gia súc nhập nội và cải tạo đất, trong đó tác giả đưa vào nghiên cứu 24 loại cây họ đậu và 18 loài hòa thảo nhằm mục đích tìm ra một số cây vừa làm thức

ăn gia súc, vừa có tác dụng chống xói mòn và cải tạo đất, phù hợp với khí hậu vùng trung du Bắc Bộ Trong các loài thử nghiệm tác giả đã kết luận ưu điểm

của các giống cỏ Brachiria brizantha CIAT 16835 và cỏ Brachiria ruziensis ex

Thái lan là hai loài cỏ mọc khỏe nhất, cho sinh khối cao (năng suất khoảng 30 -

40 tấn/ha) và có khả năng chịu hạn

Ngoài ra, tác giả đề cập đến 2 giống cỏ triển vọng là Paspalum atratum BRA 9610 và Paspalum guenoarum BRA 3824

Phan Thị Phần và CTV (1999) [23]; Vũ Thị Kim Thoa, Khổng Văn Đĩnh (2001) [28] khi nghiên cứu cỏ Ghinê TD58 ở khu vực miền Nam và miền Bắc cho kết quả:

- Khu vực miền Nam, địa điểm nghiên cứu tại vùng đất xám Bình Dương với 20 tấn phân chuồng, 80 kg P2O5, 80 kg K2O và 500 kg vôi/ha/năm Lượng

phân đạm bón từ 60 - 90 kg/ha/năm, năng suất chất xanh cỏ Panicum maximum

TD 58 đạt 64,59 - 83,33 tấn/ha/năm Tỷ lệ lá cao 51,48 - 60,44%, năng suất hạt

287 - 323 kg/ha/năm Khoảng cách lứa cắt thích hợp là 40 ngày/lứa

- Khu vực miền Bắc trên 2 loại đất của vùng đồng bằng và vùng đất đồi trong điều kiện trung tính, đất tốt, đất chua nghèo lân và kali cỏ đều có tốc độ

Trang 23

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/14

sinh trưởng khá tốt (1,96 - 2,01 cm/ngày) Năng suất chất xanh đạt 90 - 100 tấn/ ha/ năm Cỏ Ghinê có khả năng cho thu hạt, năng suất đạt 450 kg/ha, tỷ lệ sử dụng của gia súc đối với cỏ cao: Trâu 94%, bò sữa 77% và ngựa 85%.Tỷ lệ tiêu

hóa của dê đối với cỏ Panicum maximum TD 58 cao, khả năng sử dụng của gia

súc đều tốt từ 86 - 100%

Tại Trung tâm nghiên cứu và phát triển chăn nuôi miền núi Thái Nguyên, tác giả Nguyễn Văn Quang, 2002 [25] khi nghiên cứu so sánh về tốc độ sinh trưởng, năng suất, chất lượng, tính ngon miệng của 5 giống cỏ nhập nội cho biết: cả 5 giống cỏ đều có tốc độ sinh trưởng khá cao từ 1,45 - 1,82 cm/ngày

Trong đó 2 giống cỏ Paspalum astratum và Panicum maximum TD 58 có tốc

độ sinh trưởng cao nhất (1,82 và 1,70 cm/ngày)

Nguyễn Văn Lợi, Nguyễn Văn Quang, Nguyễn Thị Mùi, Lê Hòa Bình, Đặng Đình Hanh, 2004 [19] đã nghiên cứu xây dựng mô hình thử nghiệm thâm canh, xen canh cỏ hòa thảo, họ đậu làm thức ăn cho gia súc tại Thái Nguyên, năng suất các giống cỏ đạt từ 90 - 179 tấn/ha trong điều kiện trồng thuần; 93 - 138,5 tấn/ha trong điều kiện xen với cây ăn quả; 17 - 18,9 tấn/ha trong điều kiện trồng theo băng; 28,5 - 36,9 tấn/ha trong kiều kiện trồng theo đường đi

Nguyễn Thu Hồng, Nguyễn Ngọc Tấn, Đinh văn Cải, 2006 [14] đã tiến hành thí nghiệm trồng cỏ tại vùng khô hạn tỉnh Ninh Thuận Các tác giả cho

biết các giống cỏ hòa thảo như voi, sả, cỏ Ruzi và Paspalum đều có thể sinh

trưởng và phát triển trong điều kiện khô nóng tại Ninh Thuận Trong điều kiện tưới nước phân bón năng suất có thể đạt 100 - 150 tấn/ha/năm

Những nghiên cứu tại Sơn La: Tại Sở khoa học công nghệ và môi trường tỉnh Sơn La đã nhập nhiều giống cỏ đậu và hoà thảo có nguồn gốc nhiệt đới Một số giống cỏ có triển vọng đã được trồng thử nghiệm cho năng suất bình quân hàng năm như sau: (Theo số liệu của kỹ sư: Đoàn Thị Xuân)

- Năng suất chất xanh có sự sai khác nhất định giữa các giống cỏ khác

nhau Thấp nhất là cây P glaucum hybrit là 75,1 tấn/ha, keo đậu 60,4 tấn/ha và

Trang 24

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/15

cao nhất là các giống cỏ sweer jumbo, superdan, cỏ voi: 365,3 tấn/ha; 349,3

tấn/ha; 362,5 tấn/ha

- Các giống cỏ hiện nay đã được chuyển giao cho một số địa điểm tại Sơn La như: Một Châu; Mai Sơn; Thuận Châu; Thị xã Tuy nhiên việc nghiên cứu để tăng năng suất chất lượng cỏ đặc biệt trong mùa khô để đáp ứng nhu cầu thức ăn cho gia súc vẫn chưa được đề cập nhiều

Hoàng Chung, Giàng thị Hương (2006) [9] tại Mai Sơn - Sơn La đã tiến hành tưới nước và bón phân cho cỏ trồng (cỏ voi, cỏ ghinê), tăng 1 - 2 lứa/năm, năng suất tăng từ 1,9 đến 2,16 lần, năng suất tăng từ (100 tấn - 120 tấn/ha)

Tháng 7/2004, viện Khoa học kỹ thuật nông nghiệp miền Nam thuộc bộ Nông nghiệp và PTNT đã triển khai thực hiện dự án “Trồng thử nghiệm tập đoàn giống cỏ nhập nội nuôi bò” tại xã Cam Sơn, An Thạch (Mỏ Cày), Hữu Định (Châu Thành) và An Đức (Ba Tri) đã đưa ra kết luận: Cỏ voi chiếm ưu thế hơn cả, nếu trồng chuyên canh trên nền đất trống, năng suất đạt 29,04 tấn/ha/lứa; trồng xen vườn dừa là 15,18 tấn/ha, trồng xen vườn ăn trái là 25 - 27 tấn/ha Đứng thứ hai là cỏ sả lá lớn, trồng thâm canh là 23,11 tấn/ha, trồng xen vườn dừa là 11,77 tấn/ha, trồng xen vườn cây ăn trái là 20,4 - 21,4 tấn/ha Tiếp theo là cỏ Ruzi, cỏ sả lá nhỏ và cỏ lông tây (Báo Lao động, 2005) [3]

1.2 Đặc tính sinh thái và sinh vật học của cỏ hoà thảo

Cỏ hoà thảo chỉ có một họ duy nhất là họ hoà thảo (Poaceae) và có 28 họ

phụ, 563 chi, 6802 loài(Võ Văn Chi và Dương Đức Tiến, 1976) [7] Cỏ hoà thảo thường chiếm phần lớn trong đồng cỏ( khoảng 95- 98%) và trong khẩu phần thức ăn của gia súc nhai lại (khoảng 70- 80%)

1.2.1 Đặc tính sinh thái học

Các loài thuộc họ Hòa thảo có các đặc điểm sau:

Cây thân cỏ, sống lâu năm, ít khi 1 hay 2 năm, một số có dạng thân gỗ thứ sinh (tre, nứa v.v) thân khí sinh chia gióng (cọng) và mấu (đốt): gióng thường rỗng (trừ một số loài như nứa, kê, ngô có thân đặc), không phân nhánh (trừ tre) mà chỉ phân nhánh từ thân rễ hoặc từ gốc

Trang 25

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/16

Lá mọc cách (so le), xếp hai dãy theo thân (trên cùng một mặt phẳng), ít khi có dạng xoắn ốc, gân lá song song Bẹ lá to, dài, hai mép của bẹ không dính liền nhau Lá không có cuống (trừ tre), phiến lá hình dải hẹp Giữa bẹ và phiến

lá có lưỡi bẹ nhỏ hình bản mỏng hay hình dãy lông mi nguồn gốc của lưỡi không rõ ràng, một số tác giả cho là do hai lá kèm dính nhau biến đổi thành Vai trò sinh học của nó là cản bớt nước chảy vào thân non ở đốt Gốc bẹ lá hơi phồng lên, mép ôm chặt lấy thân và che chở cho mô phân sinh đốt, nhờ đó mà

mô này duy trì hoạt động được khá lâu

Hoa nhỏ, thụ phấn nhờ gió, tập trung thành cụm bông, cơ sở là các hoa nhỏ Các hoa nhỏ này lại hợp thành những cụm bông phức tạp hơn như bông kép, chùm, chùy v.v nhưng không có các cánh hoa

Mỗi bông mang từ 1 - 10 hoa nhỏ Ở gốc bông nhỏ thường có mày (lá bắc) bông xếp đối nhau: còn ở gốc mỗi hoa có 2 mày hoa, mày hoa dưới ôm lấy mày hoa trên, nhỏ và mềm hơn, mày hoa dưới chỉ có 1 gân ở chính giữa, còn mày hoa trên có 2 gân bên Ở nhiều loài, mày hoa dưới kéo dài ra thành chỉ ngón Phía trong 2 mày hoa còn 2 mày cực nhỏ rất bé và mềm Như vậy, thông thường mỗi hoa có 4 mày, nhưng trong thực tế số lượng này có khi không đầy

đủ Nhị thường là 3 (đôi khi 6), chỉ nhị dài bao phấn đính lưng, hai bao phấn khi chín thường xòe ra thành hình chữ X Bầu trên có 1 ô, 1 noãn, 2 vòi nhụy ngắn và 2 đầu nhụy dài mang chùm lông quét, thường màu nâu hoặc tím

1.2.2 Đặc tính sinh lý

1.2.2.1 Nhu cầu về nước

Nước đóng góp vào sự hô hấp, quang hợp của cây, giữ vai trò quan trọng cho sự phát triển của thực vật cũng như các vi sinh vật đất Cỏ hoà thảo yêu cầu nước cao do bộ lá lớn, hệ số toả hơi nước lớn hơn họ đậu Hệ số toả hơi nước của

cỏ này vào khoảng 400 - 500 gram, trong khi của cỏ họ đậu 214 - 216 gram

Theo Nguyễn Văn Thiện, 2005[26], với đồng cỏ có độ ẩm đất khoảng 70%, một tháng 10m2

cỏ bay hơi khoảng 1m3 nước, trong 5 tháng sẽ có 50 tạ cỏ

Trang 26

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/17

khô/1ha Trên cơ sở đó ta có thể xác định công thức tưới nước trong mùa khô Như vậy, chế độ nước của các sinh địa quần lạc cỏ trong một vùng khí hậu xác định phụ thuộc địa thế của đồng cỏ và thành phần cơ giới của đất như đất bằng, đất trũng, đất dốc, đất thấp hay bãi bồi,

Độ ẩm của đất cũng yêu cầu theo từng giai đoạn trong đời sống của cây:

- Từ nảy mầm đến lúc chia nhánh: 25 - 30 %

- Giai đoạn phát triển cành : 75 %

- Cuối thời kỳ sinh trưởng nhu cầu nước giảm dần

1.2.2.2 Nhu cầu về dinh dưỡng

Theo Nguyễn Đăng Khôi, Dương Hữu Thời, (1981)[17] Cỏ hoà thảo đòi hỏi đất tốt, giàu mùn, đạm, lân và ka ly Nhu cầu về dinh dưỡng cũng chia theo từng giai đoạn

- Giai đoạn 1 (nẩy mầm - phân nhánh) cần nhiều đạm, lân, kaly

- Giai đoạn 2 (phân nhánh) cần nhiều đạm, lân

- Giai đoạn 3 (ra hoa hình thành hạt) cần nhiều lân và kaly Cỏ càng cho năng suất cao thì yêu cầu lượng phân bón càng lớn

Trong đồng cỏ, người ta thấy có sự quan hệ rõ rệt giữa việc bón đạm và

số chồi có hoa Trong điều kiện có bón đạm vào mùa xuân, số chồi sinh sản tăng lên Bón phân, tưới nước cũng làm tăng số chồi của cây cỏ loại nhiều chồi

Thí dụ (Festuca pratensis): không tưới nước số chồi là 3,5, tưới ẩm 40 - 60%

có 11,5 và 80% có 14,8 chồi

Quan hệ với phân cũng vậy, (Rabốtnốp T.A, 1984) [53] cỏ Pleum

pratens không có phân bón có 605 chồi trên đơn vị diện tích, có 19% số chồi có

hoa, nếu bón phân NPK có 790 chồi trong đó có 35% chồi có hoa Trên đất nghèo không có phân bón thì đời sống thường kéo dài không quá 3 - 5 năm Trên đất phì nhiêu hay thường xuyên có phân bón có thể kéo dài 10 năm, có khi hơn

Trang 27

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/18

1.2.2.3 Nhu cầu về không khí

Các loại cỏ thân đứng, thân bụi, thân rễ phân chia nhánh dưới mặt đất đòi hỏi phải tơi xốp, thoáng khí Các loại thuộc thân bụi chia nhánh trên mặt đất và thân bò thì có thể chịu được đất kém thoáng khí và độ ẩm thấp hơn Tính chịu sương giá và kháng xuân Loại cỏ chịu sương giá tốt thì trong giai đoạn cuối thu đầu đông nó vẫn phát triển bình thường, còn loại chịu giá yếu kém thì ngừng sinh trưởng hoặc chết vào mùa đông Tính kháng xuân hay còn gọi là khả năng chịu đựng của cỏ mùa đông Nó thể hiện khả năng chịu đựng của cỏ

về sự chênh lệch nhiệ t độ không khí và nhiệt độ trong đất, sự chênh lệch này làm cho sự vận chuyển các chất dinh dưỡng trong thân cỏ và quá trình đồng hóa, dị hóa của cỏ mất điều hòa nên có tính kháng xuân kém sẽ bị chết Tuy nhiên tính kháng xuân của cỏ còn phụ thuộc vào các yếu tố như: Cỏ địa phương kháng xuân tốt hơn cỏ nhập nội, cỏ mọc riêng rẽ thấp bé kháng xuân mạnh, cỏ thân rễ, cỏ sinh trưởng phát triển chậm kháng xuân tốt Loại mùa xuân phục hồi nhanh kháng xuân kém hơn loại phục hồi chậm, cỏ có hàm lượng vật chất khô cao thì kháng xuân tốt và ngược lại Loại có bộ phận trên mặt đất bị chết trong vụ đông thì kháng xuân mạnh và ngược lại

Trang 28

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/19

của giống cỏ Thu hoạch non, năng xuất sẽ thấp, thu hoạch già, giá trị dinh dưỡng sẽ kém, ảnh hưởng đến tái sinh lần sau, giảm số lứa cắt/năm Nếu bộ phận trên đất quá mau lứa thì dự trữ đường bột tích luỹ ở gốc để phát triển thành lá sẽ bị suy kiệt, đồng cỏ chóng bị tàn lụi

Đối với cỏ Ghinê, thu hoạch khi thảm cỏ cao 60 - 90 cm; Cỏ lông Para, thu hoạch khi cao khoảng 40 - 50 cm; Cỏ Pangola, thu hoạch khi cao khoảng

35 - 50 cm (L Rham phrây, 1980)

Theo Điền Hưng (1964) [15] cho biết:

- Cỏ thân bò thu hoạch lứa đầu sau trồng 60 ngày, lứa sau khi cắt 30 -

cỏ hoà thảo thành 4 loại sau:

- Loại cỏ sống một năm thì tàn lụi và chết gọi là cỏ hàng năm như cỏ

để đảm bảo năng suất

1.2.2.6 Giá trị kinh tế của cỏ hoà thảo

Cỏ hoà thảo có giá trị kinh tế lớn không chỉ vì nó phân bố rộng, chiếm tỷ

lệ cao trong thảm cỏ, mà còn cho năng suất và giá trị dinh dưỡng cao Khi chế

Trang 29

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/20

biến, dự trữ ít rơi rụng lá, ít bị thối, tỷ lệ cỏ độc ít, chịu đựng chăn dắt cao Cỏ

tự nhiên cho 10 - 20 tấn (chất xanh)/ha/năm, cỏ trồng thân bò cho 30 - 40 tấn/ha/năm, thân bụi cho 50 - 60 tấn/ha/năm, thân đứng cho 80 - 100 tấn/ha/năm, nếu thâm canh có thể cho 160 - 260 tấn/ha/năm 1 kg cỏ tươi cho từ 0,1- 0,2 đơn vị thức ăn tương đương với 250 - 500 KcalME Cỏ hoà thảo có giá trị dinh dưỡng cao Ở những nơi đất tốt, nhiều mùn, ẩm, loài cỏ tốt nhất có thể chứa 16g prôtêin tiêu hoá và 32g lipit trong 1kg cỏ tươi, 8kg cỏ có thể tương đương 1đơn vị thức ăn (Nguyễn Thiện, 2005) [26]

1.3 Đặc điểm của cỏ làm thí nghiệm

1.3.1 Cỏ Voi (Pennisetum Purpureum)

Phạm vi ứng dụng: Thích hợp cho thu cắt và ủ chua

1.3.1.1 Nguồn gốc

Nguồn gốc ở Nam Phi, phân bố rộng ở các nước nhiệt đới trên thế giới Quê hương lâu đời của cỏ voi là vùng Uganda (100 độ vĩ Bắc – 200 độ vĩ Nam) nhập vào Mỹ từ năm 1913, Australia 1914, Cuba 1917, Brasil 1920(Đinh Văn Cải, De Boever, Phùng Thị Lâm Dung, 2004) [6]

Ở Việt Nam, cỏ voi được coi là cỏ Huế vì lần đầu tiên lấy giống ở đây đưa ra Bắc (1908) Hiện nay cỏ voi được trồng ở nhiều vùng sinh thái ở nước

ta Đây là một giống cỏ cho năng suất chất xanh cao nhất trong điều kiện thâm canh ở Việt Nam Ngoài giống cỏ voi thường đang được trồng ở Việt Nam

(King grass) thì một số giống Voi lai (P purpureum Selection 1) Cỏ voi lùn có

thời gian sinh trưởng dài hơn, hàm lượng protein cao hơn và tốc độ giảm hàm lượng protein theo tuổi chậm hơn so với các giống khác

1.3.1.2 Đặc điểm chung

Cỏ voi là loại lâu năm, thân đứng có thể cao từ 4-6m, nhiều đốt, những đốt gần gốc thường ra rễ, hình thành cả thân ngầm phát triển thành búi to, lá hình dải có mũi nhọn ở đầu, bẹ lá dẹt ngắn và mềm, dài 30cm, rộng 2cm Chùm hoa hình trùy giống đuôi chó, màu vàng nhạt Rễ phát triển mạnh, ăn sâu có khi

Trang 30

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/21

tới 2m Tỷ lệ lá/toàn cây biến động rất lớn Các phần lá và thân chiếm khoảng 58%, các phần ngầm dưới đất chiếm 42% Tỷ lệ lá giảm dần khi tăng tuổi cây (từ 66 đến 30% từ 2 đến 12 tuần tuổi) Tái sinh nhanh sau 30 ngày tuổi (chiều cao trung bình 120cm)

Cỏ voi sinh trưởng mạnh trong mùa hè khi nhiệt độ và độ ẩm cao Sinh trưởng chậm strong mùa đông và mẫn cảm với sương muối Nhiệt độ thích hợp nhất cho sinh trưởng từ 25 - 4000C Nhiệt độ thấp nhất cho sinh trưởng khoảng

1500C Cỏ voi có thể sinh trưởng ở những vùng cao tới 2000m so với mực nước biển Thích hợp nhất với đất giàu dinh dưỡng có tầng canh tác sâu, pH= 6 - 7, đất không bùn và không ngập úng Thích hợp ở những vùng có lượng mưa khoảng 1500mm/năm (Nguyễn Thiện, 2005)[26]

1.3.1.3 Gieo trồng và chăm sóc

Trồng cỏ voi bằng hom trong mùa mưa, nhưng tốt nhất là đầu mùa mưa Chuẩn bị đất: Cày đất ở độ sâu 20-25cm, bừa và cày đảo (lần 2) làm tơi đất, vơ cỏ dại và san phẳng mặt đất trồng Rạch hàng sâu 15-20cm theo hướng Đông – Tây; khoảng cách hàng là 60-80cm

Phân bón: Đầu tư cho 1 ha cỏ trồng gồm phân hữu cơ hoai mục: 15 - 20 tấn; supe lân : 250- 300 kg; sulfat kali : 150- 200 kg; urê: 400- 500 kg

Các loại phân hữu cơ, lân, kali dùng bón lót toàn bộ theo lòng rãnh hàng; phân đạm bón chia đều cho các lần thu hoạch trong năm và bón thúc

Giống: Sử dụng loại thân giống có độ tuổi 80-100 ngày và được chặt vát thành hom có độ dài 50-60cm Mỗi hom có 3-5 mắt mầm Tốt nhất lấy phần thân bánh tẻ Sử dụng 6-7 tấn giống/ha (giống đã chặt thành hom)

Cách trồng: Đất sau khi rạch hàng và bón phân đầy đủ theo quy định, đặt hom theo lòng rãnh, đặt hom này gối lên nửa hom kia nối tiếp nhau, lấp kín hom bằng một lớp đất 3-5cm và đảm bảo mặt đất bằng phẳng sau khi lấp hom giống

Chăm sóc: Sau khi trồng 10-15 ngày, tiến hành kiểm tra tỷ lệ nảy mầm (mầm nhô lên mặt đất) Trồng dặm những chỗ bị chết và làm cỏ phá váng

Trang 31

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/22

(tránh không làm động thân giống đã trồng) Dùng cuốc làm cỏ dại 2-3 lần trước khi cỏ lên cao phủ kín đất trồng Dùng 100 kg urê/ha bón thúc khi cỏ ở giai đoạn 25-30 ngày tuổi Sau mỗi lần thu hoạch, làm cỏ dại một lần và bón H thúc phân đạm khi cỏ

300 tấn/ha/năm và có thể lên 500 tấn/ha/năm

Bảng 1.4 Năng suất cỏ Voi theo mùa Mùa

% mùa khô (%)

(Nguồn : Theo Crépo, 1974)

Bảng 1.5 Năng suất cỏ Voi theo tuần tuổi Tuần tuổi

Trang 32

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/23

hàm lượng protein thô đạt 10%, sau 10 tuần thì chỉ còn 7,6% Hàm lượng protein thô và tỷ lê tiêu hoá chất khô lá cỏ theo thứ tự biến động từ 9,5-19,7 và

68 - 74% Giá trị năng lượng trao đổi, protein Độ cao gốc còn lạ 15% thô, xơ trung tính (NDF) trung bình theo thứ tự là 8,9MJ/kg VCK, 13,2% và 63%

Giá trị dinh dưỡng của cỏ Voi cho biết như bảng sau:

Bảng1.6 Giá trị dinh dƣỡng của cỏ Voi Chỉ tiêu

% so với VCK Pro thô thô Xơ Khoáng NN NFE

Tươi, 40cm Tanzania 20,0 9,8 29,7 14.0 2,6 43,9 Tươi 80cm Tanzania 20,0 9,0 28,6 14.8 1,1 46,5 Tươi 240cm Tanzania 25,0 7,2 36,1 12.4 1,0 43,3 Tươi, phần ngọn,

Tươi, cắt sau 6 tuần một

lần tại Malaixia 19,0 1,.0 31,6 15.3 2,1 41,0 Tươi, cắt sau 8 tuần một

Trang 33

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/24

1.3.1.6 Sử dụng

Cỏ voi dùng thu cắt làm thức ăn gia súc dưới hình thức tươi hay ủ chua Cắt lần đầu sát mặt đất cho cây sinh trưởng và đẻ nhánh nhiều không trồi lên trên Trên thực tế, cỏ voi chỉ sử dụng 3-4 năm và phải trồng lại Tuy nhiên, nếu quản lý tốt có thể cho năng suất cao trong 10 năm liền Có thể trồng xen với các cây họ đậu (Kudzu, Centro, Desmodium) Cỏ voi có thể ủ chua để dự trữ cho gia súc vào mùa thiếu thức ăn

1.3.2.Cỏ Ghinê (Panicum maximum)

Phạm vi ứng dụng: Thích hợp thu cắt, ủ chua và chăn thả nhẹ

Ở nước ta cỏ Ghinê đã được đưa vào Nam Bộ năm 1975 và trồng phổ

biến nhiều nơi trên cả nước Một số giống cỏ ghi-nê phổ biến: P maximum

TD58, P maximum CIAT 673, P maximum Common, P maximum Harmil, v.v 1.3.2.2 Đặc điểm chung

Cỏ Ghinê là loài cỏ lâu năm, thân cao 2-3m, không có thân bò, chỉ sinh nhánh và tạo thành bụi Bẹ lá mọc quanh gốc có màu tím, cả bẹ và lá đều có lông nhỏ và trắng, nhất là ở bẹ lá Những lá phía trên ngắn và có bẹ lá dài nên không che nắng ở những lá dưới Lá có khả năng xoay theo chiều nắng Tỷ lệ lá/thân là 1,7, cụm hoa hình chuông là đặc trưng của cỏ, cũng có lông nhỏ và mịn Bộ rễ có nhiều nhánh, phát triển rất mạnh Cỏ phát triển tạo thành từng cụm như một cái phễu hứng nước mưa nên khả năng chịu hạn cao Nhiệt độ thích hợp cho sự sinh trưởng của cỏ Ghinê từ 19,1 - 22,90

C, không chịu được sương muối nặng Sinh trưởng tốt trong những vùng có lượng mưa từ 800 -

Trang 34

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/25

1800 mm/năm Không chịu hạn được ở những vùng quá khô Sống được trên nhiều loại đất nhưng ưa đất nhiều màu mỡ và đất phù sa Ưa đất giàu canxi, oxyt sắt, tiêu nước tốt Tốt nhất ở pH = 6, không chịu được đất ẩm kéo dài Chịu được ở đất mặn nhẹ Là cây phản ứng với ánh sáng ngày ngắn và tương đối chịu bóng Nó có thể mọc tốt ở những nơi cao tới 2500m so với mực nước biển

1.3.2.3 Gieo trồng và chăm sóc

Trồng vào mùa mưa, tốt nhất trồng ở đầu mùa mưa để đảm bảo tỷ lệ sống cao Chuẩn bị đất: Cày vỡ đất với độ sâu 20cm, bừa và cày đảo (cày 2 lần), bừa tơi đất, nhặt sạch cỏ dại và san phẳng mặt đất trồng Nếu dùng hạt gieo thì chuẩn bị đất kỹ hơn, cày bừa nhiều lần đảm bảo đất tơi nhỏ

Phân bón cho 1ha trồng cỏ gồm: Phân hữu cơ hoai mục: 10-15 tấn Supe lân: 200-250 kg Sulfat kali: 100-200 kg Phân đạm urê: 300-350 kg 3 Các loại phân hữu cơ, lân, kali dùng bón lót theo hàng; phân đạm dùng để bón thúc và chia đều cho mỗi lần thu hoạch trong năm

Giống: Gieo trồng bằng hạt cần 4-6 kg hạt tiêu chuẩn/ha Trồng bằng thân sử dụng 4-6 tấn/ha và được chuẩn bị như sau: Khóm/bụi cỏ Ghinê làm giống được xén bỏ phần lá ngọn để lại gốc cao khoảng 25-30cm Dùng cuốc đánh khóm cỏ lên, đập rủ đất khỏi rễ cắt bớt rễ để lại còn 4- 5cm Sau đó tách khóm thành các cụm nhỏ liền khối, đảm bảo mỗi cụm có 4-5 thân nhánh tươi

Cách trồng: Đất sau khi rạch hàng, bón phân theo quy định, đặt từng cụm giống vào thành hàng rạch với khoảng cách 35-40cm, dùng cuốc lấp kín 1/2

độ dài của thân giống (phần gốc) và dùng chân dậm chặt đất lấp phần gốc

để rễ cỏ tiếp xúc chặt với đất tạo điều kiện độ ẩm cao, chóng nảy mầm và đạt tỷ lệ sống cao Nếu dùng hạt gieo rải đều theo hàng rạch và dùng đất nhỏ lấp kín hạt một lớp mỏng (không quá 1 cm) hoặc dùng tay khỏa đều hạt với đất theo hàng trồng

Trang 35

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/26

Chăm sóc: Sau khi trồng 15-20 ngày kiểm tra tỷ lệ sống, những chỗ không có mầm mọc thì trồng bổ sung Nếu là cây con mọc từ hạt thì phải chờ đến khi phân biệt rõ (rất dễ nhầm lẫn với cỏ dại) mới chăm sóc cỏ trong hàng

và trồng tỉa bổ sung Chăm sóc làm cỏ dại 2 lần trước khi cỏ 4 phát triển tốt che phủ đất Dùng phân đạm bón thúc khi thảm cỏ nảy mầm xanh và sau khi làm cỏ dại

1.3.2.4 Năng suất

Lứa đầu thu hoạch khi thảm cỏ trồng được 60 ngày tuổi, các lứa tái sinh thu hoạch sau khi thảm cỏ có độ cao 45-60 cm (tùy theo mùa và trạng thái phát dục của cỏ) Phần gốc để lại là 10-15cm Năng suất đạt từ 50-100 tấn tươi/ha và

có thể lên tới 180 tấn/ha Có thể cắt 8-9 lứa/năm Cỏ Ghinê phát triển nhanh trong mùa mưa và đây là một trong những loài có thể thay thế Pangola vì giữ được năng suất đáng kể mặc dù độ ngon miệng có kém hơn

Bảng 1.7 Năng suất cỏ Ghi nê theo mùa Năng suất Mùa khô Mùa mƣa Tổng cộng % mùa khô

(Nguồn: Pérez Infante, 1970)[52]

1.3.2.5 Thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng

Hàm lượng chất khô 20-30%, protein thô 5-9%, xơ thô 30-40% Tỷ lệ tiêu hoá chất khô của cỏ diễn biến từ 64% (sau 2 tuần thu hoạch) xuống 50% (sau 8 tuần thu hoạch)

Ở Coasta Rica người ta đã phân tích được thành phần hóa học như sau:

Bảng 1.8 Thành phần hoá học của vật chất khô (%) Chỉ tiêu

(Nguồn: Nguyễn Danh Kỷ, 1970)

Vào giai đoạn cây chuẩn bị ra hoa Phân tích của Gohl (1975) ở Tanzania

và Thái Lan cho thấy lượng Protein biến động trong khoảng 5,3 đến 25% VCK

Trang 36

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/27

Theo Nguyễn Danh Kỷ (1970)[32] thành phần dinh dưỡng của cỏ Ghi

nê như sau:

Bảng 1.9 Thành phần dinh dƣỡng của cỏ Ghi nê Chỉ tiêu

(Nguồn:Theo Nguyễn Danh Kỷ ,1970)

Và cứ 5kg cỏ này tương ướng với 1 đơn vị thức ăn

Bảng 1.10 Thành phần hoá học cỏ Ghinê và tỷ lệ tiêu hóa (%)

Tươi, 40cm Tanzania 25,0 8,8 29,9 11,2 1,6 48,5 Tươi 80cm Tanzania 25,0 8,8 32,8 12,9 1,5 44,0 Tươi, mới có hoa 28,0 5,3 39,6 10,6 1,4 43,0

Cỏ Ghinê có thể dùng để chăn thả hay thu cắt làm cỏ xanh hoặc khô hoặc

ủ chua Chu kỳ sử dụng dài tới 6 năm, phụ thuộc vào chế độ sử dụng Có thể trồng xen với keo dậu, Stylo để làm tăng giá trị dinh dưỡng của hỗn hợp cỏ

Trồng cỏ Ghinê để chăn thả thì 2 lứa đầu tiên phải thu cắt, đến lứa thứ 3 mới đưa bò vào chăn thả Thảm cỏ chăn thả có độ cao 35-40 cm là hợp lý Thời

Trang 37

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/28 gian nghỉ để cỏ tái sinh mọc lại (chu kỳ chăn thả) khoảng 25-35 ngày và thời gian chăn gia súc liên tục trên một lô cỏ không quá 4 ngày

Trang 38

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/29

Chương 2 ĐIỀU KIỆN KINH TẾ - XÃ HỘI VÙNG NGHIÊN CỨU

2.1 Điều kiện tự nhiên

2.1.1 Vị trí địa lý

Tuyên Quang nằm ở trung tâm của lưu vực sông Lô Sông Gâm chảy qua tỉnh theo hướng Bắc-Nam và nhập vào sông Lô ở phía Tây Bắc huyện Yên Sơn chỗ giáp ranh giữa ba xã Phúc Ninh, Thắng Quân và Tân Long

Địa giới hành chính:

Tỉnh có phía Bắc giáp tỉnh Hà Giang,

Phía Đông Bắc giáp Cao Bằng,

Phía Đông giáp Bắc Kạn và Thái Nguyên,

Phía Nam giáp Vĩnh Phúc,

Phía Tây-Nam giáp Phú Thọ,

Phía Tây giáp Yên Bái

Tuyên Quang được chia thành các đơn vị hành chính sau: 1 thành phố, 6

huyện và 5 thị trấn Trong đó có thị trấn Sơn Dương

Sơn Dương là huyện nằm ở phía Nam tỉnh Tuyên Quang, từ thành phố Tuyên Quang đi dọc theo quốc lộ 37 khoảng 30km sẽ đến huyện Sơn Dương

Vị trí địa lý

Phía Đông Sơn Dương giáp với tỉnh Thái Nguyên;

phía Tây giáp tỉnh Phú Thọ;

phía Nam giáp tỉnh Vĩnh Phúc;

phía Bắc giáp huyện Yên Sơn

Địa hình

Địa hình Sơn Dương có đặc thù của vùng chuyển tiếp giữa trung du và miền núi, rừng núi chiếm 3/4 diện tích đất tự nhiên Địa hình chia thành 2 vùng,

Ngày đăng: 07/01/2016, 09:39

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1. Thành phần hoá học của một số cây thức ăn xanh - Nghiên cứu tác động tưới ẩm đến tăng trưởng và cấu trúc năng suất của 2 loài cỏ voi và cỏ ghinê tại xã Phúc Ứng huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang
Bảng 1.1. Thành phần hoá học của một số cây thức ăn xanh (Trang 14)
Bảng 1.4. Năng suất cỏ Voi theo mùa   Mùa - Nghiên cứu tác động tưới ẩm đến tăng trưởng và cấu trúc năng suất của 2 loài cỏ voi và cỏ ghinê tại xã Phúc Ứng huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang
Bảng 1.4. Năng suất cỏ Voi theo mùa Mùa (Trang 31)
Bảng 1.9. Thành phần dinh dƣỡng của cỏ Ghi nê - Nghiên cứu tác động tưới ẩm đến tăng trưởng và cấu trúc năng suất của 2 loài cỏ voi và cỏ ghinê tại xã Phúc Ứng huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang
Bảng 1.9. Thành phần dinh dƣỡng của cỏ Ghi nê (Trang 36)
Bảng 4.1. Kết quả phân tích mẫu đất  Tiêu chí - Nghiên cứu tác động tưới ẩm đến tăng trưởng và cấu trúc năng suất của 2 loài cỏ voi và cỏ ghinê tại xã Phúc Ứng huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang
Bảng 4.1. Kết quả phân tích mẫu đất Tiêu chí (Trang 49)
Bảng 4.2. Lượng nước tưới trong 100g đất tát ngập nước (độ ẩm 100%) và - Nghiên cứu tác động tưới ẩm đến tăng trưởng và cấu trúc năng suất của 2 loài cỏ voi và cỏ ghinê tại xã Phúc Ứng huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang
Bảng 4.2. Lượng nước tưới trong 100g đất tát ngập nước (độ ẩm 100%) và (Trang 50)
Bảng 4.3. Lượng nước tưới ô TN qua các lứa cỏ voi và cỏ ghinê - Nghiên cứu tác động tưới ẩm đến tăng trưởng và cấu trúc năng suất của 2 loài cỏ voi và cỏ ghinê tại xã Phúc Ứng huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang
Bảng 4.3. Lượng nước tưới ô TN qua các lứa cỏ voi và cỏ ghinê (Trang 52)
Bảng 4.4. Năng suất tươi và khô của cỏ Ghinê qua các lứa cắt - Nghiên cứu tác động tưới ẩm đến tăng trưởng và cấu trúc năng suất của 2 loài cỏ voi và cỏ ghinê tại xã Phúc Ứng huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang
Bảng 4.4. Năng suất tươi và khô của cỏ Ghinê qua các lứa cắt (Trang 53)
Hình 4.1. Năng suất tươi cỏ Ghinê qua các lứa cắt (kg/m 2  đất / lứa) - Nghiên cứu tác động tưới ẩm đến tăng trưởng và cấu trúc năng suất của 2 loài cỏ voi và cỏ ghinê tại xã Phúc Ứng huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang
Hình 4.1. Năng suất tươi cỏ Ghinê qua các lứa cắt (kg/m 2 đất / lứa) (Trang 54)
Bảng 4.5. Năng suất tươi và năng suất khô của cỏ voi qua các lứa cắt - Nghiên cứu tác động tưới ẩm đến tăng trưởng và cấu trúc năng suất của 2 loài cỏ voi và cỏ ghinê tại xã Phúc Ứng huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang
Bảng 4.5. Năng suất tươi và năng suất khô của cỏ voi qua các lứa cắt (Trang 55)
Bảng 4.8. Diện tích bề mặt lá của cỏ ghinê thí nghiệm (m 2 /m 2  đất/ lứa) - Nghiên cứu tác động tưới ẩm đến tăng trưởng và cấu trúc năng suất của 2 loài cỏ voi và cỏ ghinê tại xã Phúc Ứng huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang
Bảng 4.8. Diện tích bề mặt lá của cỏ ghinê thí nghiệm (m 2 /m 2 đất/ lứa) (Trang 61)
Bảng 4.9. Diện tích bề mặt lá của cỏ voi thí nghiệm (m 2 /m 2  đất/ lứa) - Nghiên cứu tác động tưới ẩm đến tăng trưởng và cấu trúc năng suất của 2 loài cỏ voi và cỏ ghinê tại xã Phúc Ứng huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang
Bảng 4.9. Diện tích bề mặt lá của cỏ voi thí nghiệm (m 2 /m 2 đất/ lứa) (Trang 62)
Hình 1: Cỏ voi ô ĐC và ô TN cắt 5 ngày (lứa 4) - Nghiên cứu tác động tưới ẩm đến tăng trưởng và cấu trúc năng suất của 2 loài cỏ voi và cỏ ghinê tại xã Phúc Ứng huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang
Hình 1 Cỏ voi ô ĐC và ô TN cắt 5 ngày (lứa 4) (Trang 75)
Hình 3: Cỏ ghi nê ô TN và ô ĐC 10 ngày tuổi (lứa 4) - Nghiên cứu tác động tưới ẩm đến tăng trưởng và cấu trúc năng suất của 2 loài cỏ voi và cỏ ghinê tại xã Phúc Ứng huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang
Hình 3 Cỏ ghi nê ô TN và ô ĐC 10 ngày tuổi (lứa 4) (Trang 76)
Hình 2: Cỏ voi ô ĐC và ô TN 45 ngày (lứa 4) - Nghiên cứu tác động tưới ẩm đến tăng trưởng và cấu trúc năng suất của 2 loài cỏ voi và cỏ ghinê tại xã Phúc Ứng huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang
Hình 2 Cỏ voi ô ĐC và ô TN 45 ngày (lứa 4) (Trang 76)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w