1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

BÀN VỀ “CON NGƯỜI LÝ TƯỞNG” TRONG GIÁO DỤC CỦA NHO GIÁO

56 295 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 56
Dung lượng 2,15 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bên cạnh đó, một bộ phận cá nhân người nước ngoài hoạt động thương mại trái với pháp luật Việt Nam như không có “Giấy chứng nhận đăng ký quyền xuất khẩu đối với các loại hàng hoá được ph

Trang 1

TRƯỜNG CAO ĐẲNG THƯƠNG MẠI| 45 Dũng Sĩ Thanh Khê - TP Đà Nẵng 1

BÀN VỀ “CON NGƯỜI LÝ TƯỞNG”

TRONG GIÁO DỤC CỦA NHO GIÁO

ThS Phạm Thị Hoa, ThS Trần Đình Bình

GV Bộ môn Lý luận chính trị

Tóm tắt: Bất cứ thời đại nào cũng cần đến vai trò to lớn của những bậc

hiền, tài Đặc biệt trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, vai trò to lớn đó cần thiết hơn bao giờ hết Tuy vậy, sự suy thoái về mặt đạo đức của một bộ phận dân cư, lối sống vụ lợi, chạy theo đồng tiền… hiện nay đã ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của đất nước Vì thế, trong bài viết này tác giả chỉ

ra những điểm tiến bộ và chưa hợp lý của “Con người lý tưởng” trong quan niệm giáo dục của Nho giáo nhằm góp phần hạn chế cách nhìn thiển cận về con người

của bộ phận dân cư, đặc biệt giới trẻ hiện nay

Mỗi thời đại đều có mẫu người trung tâm đóng vai trò lớn cho sự vận hành

và phát triển của xã hội Ví như, trong xã hội Hy Lạp, La Mã cổ đại, lớp người trung tâm là lớp người thông thái, những nhà chính trị văn võ song toàn, hay ở xã hội phong kiến phương Đông là những nhà nho hay còn gọi là kẻ sĩ, người quân tử

Có thể nói, kẻ sĩ, người quân tử là mẫu người lý tưởng có tính hiện thực Trong lý thuyết, Nho giáo còn xây dựng hình ảnh con người huyền thoại “nội thánh, ngoại vương” làm gương cho mọi người noi theo “Nội thánh, ngoại vương”

là những người “bản thân có đức độ, phẩm chất của bậc thánh nhân Đối với quốc gia thiên hạ thì có thể thi hành đường lối chính sự của bậc vương giả”[1] Những người có phẩm chất như vậy được Nho giáo nhắc tới như mẫu hình lý tưởng tuyệt đối để làm gương cho thiên hạ trong giáo dục cũng như trong điều hành chính sự

Họ là Nghiêu, Thuấn, Văn Vương, Vũ Vương…

Mẫu người thực tế mà giáo dục nho giáo nêu ra có thể đạt tới là kẻ sĩ, người quân tử Trong lịch sử nho giáo đây là mẫu người được nhắc tới thường xuyên, là niềm tự hào của Nho giáo, là lực lượng cốt cán duy trì bảo vệ trật tự xã hội phong kiến Kẻ sĩ, người quân tử là những người được giáo dục và trưởng thành lên từ tầng lớp thứ dân, nhờ hết lòng học đạo, học giỏi, thông qua thi cử hoặc tiến cử mà

ra làm quan “trí quan, trạch dân”

Tiêu chí để phân biệt kẻ sĩ với người bình thường là ở sự chuyên tâm học đạo, vượt lên trên những lo toan thường nhật Khổng Tử nói “kẻ sĩ chuyên tâm cầu đạo nhưng còn hổ thẹn bởi áo xấu, cơm thô thì chưa đáng nghe bàn đạo lý”[2], còn Mạnh Tử viết “kẻ sĩ lúc cùng vẫn giữ lấy nghĩa mà chẳng sai, lúc đạt vẫn giữ lấy đạo mà chẳng bỏ” [3] Sự học đạo của kẻ sĩ không phải để “tri” mà để “hành” Trước tiên là thực hiện hành vi và suy nghĩ của mình theo đạo lý Tử Trương cho

Trang 2

TRƯỜNG CAO ĐẲNG THƯƠNG MẠI| 45 Dũng Sĩ Thanh Khê - TP Đà Nẵng 2

rằng “kẻ sĩ thấy sự nguy nan thì liều thân mạng để cứu, thấy món lợi thì nhớ đến việc nghĩa Trong khi thờ cúng tổ tiên thì nhớ lòng thành kính Trong cơn tang chế xét đến sự đau thương, như vậy mới đáng gọi là kẻ sĩ” Hiểu đạo và thực hành đạo

lý, ấy là kẻ sĩ đã giúp ích cho đời, hành vi của họ là những gương sống để những người xung quanh noi theo, nhờ vậy mà đạo được lan truyền rộng khắp

Đạo lý của Nho giáo ở đây không thuần túy là đạo đức, là cách ứng xử mà trong đó bao chứa một nội dung chính trị lớn lao với triết lý nhân sinh, lấy đạo đức làm nền tảng Bởi vậy, lý tưởng cao nhất của đạo lý Nho giáo là giáo dục con người

có nhân cách để phụng sự nền chính trị phong kiến nên họ được xã hội kính trọng

và cũng xứng đáng được xã hội tin dùng

Trên thực tế, không phải kẻ sĩ nào cũng quán triệt tư tưởng đạo lý Không ít những kẻ đã “giả danh đạo lý” để cầu bổng lộc, mưu cầu lợi ích cá nhân Khổng Tử phê phán gắt gao hạng người này, không thừa nhận đó là mô hình nhân cách mà giáo dục Nho giáo hướng tới Tử Cống hỏi Khổng tử: “thế nào mới đáng là kẻ sĩ” Khổng Tử đáp: “Gọi là kẻ sĩ những người học đạo, đọc sách thánh hiền, trong mọi hành động phải biết sĩ, hổ, đặng trái việc tránh lễ nghĩa, đi sứ các nước trong bốn phương không làm nhục mệnh vua giao phó” Tử Cống hỏi tiếp “kẻ sĩ bậc kế như thế nào?” Khổng Tử đáp “ấy là người họ hàng khen là thảo cha, làng xóm khen là thảo anh” Tử Cống hỏi tiếp “Dám hỏi kẻ sĩ bậc thứ ba?” Khổng Tử đáp “người nói ra thì giữ lời, làm việc thì quả quyết…” Tóm lại, theo Nho giáo kẻ sĩ vừa là người có nhân cách, vừa có tri thức góp phần lành mạnh hóa xã hội

Cùng với giáo dục kẻ sĩ, việc giáo dục thành người quân tử là vấn đề quan trọng nhất mà Nho giáo hướng tới Sách Đại học chú thích “Quân là vua là ngài, Tử

là thầy Quân tử nói chung là người được coi là có đức, có tài do đó mà có cương vị

bề trên trong làng, trong nước, dẫn dắt số đông coi như người kém tài mọn ở bên dưới gọi là tiểu nhân” [4] Như vậy, ta có thể hiểu “quân tử” là loại người ngoài có địa vị còn có nhân cách, có vai trò lớn trong xã hội hoặc dùng để chỉ những người không có địa vị nhưng có nhân cách lớn được mọi người kính trọng và thừa nhận

Vì thế, trong giáo dục của Nho giáo trước hết phải cải cách đội ngũ kẻ cầm quyền bằng chính sự tiến bộ của họ Mặt khác, không ngừng bổ sung đội ngũ này bằng những người tầng lớp thứ dân nếu họ có đức, có tài Giáo dục đạt tới mẫu hình người quân tử là mục đích thực tế cao nhất của Nho giáo, thể hiện khuynh hướng chính trị cũng như xu hướng cải cách của họ Bên cạnh đó thì trong Nho giáo tồn tại một luồng ý kiến cho rằng nên “sửa đổi” quan niệm “quân tử” để cho đạo đức thành ra có giá trị, khiến cho hạng bình dân có tài đức rồi thành giai cấp quý tộc, rồi buộc bọn quý tộc cũng phải tu thân như dân thường nếu muốn giữ địa vị của mình” [5] Phải nói rằng đây là khuynh hướng chính trị tiến bộ của Nho giáo

Tuy vậy, quan niệm nhân cách “quân tử” được làm rõ khi đem nó đối lập với

“tiểu nhân” Khái quát lại, quân tử là bậc cao quý còn tiểu nhân là hạng thấp hèn,

kẻ tiểu nhân phải phục tùng người quân tử Quan niệm này hầu hết đều tìm thấy trong sách kinh điển của Nho giáo, người quân tử luôn hướng tới giá trị tinh thần, còn tiểu nhân chỉ là hạng thấp hèn luôn bị các nhu cầu về vật dục chi phối, sai

Trang 3

TRƯỜNG CAO ĐẲNG THƯƠNG MẠI| 45 Dũng Sĩ Thanh Khê - TP Đà Nẵng 3

khiến Cách nhìn này thể hiện quan niệm lệch lạc về con người Vì quá đề cao các giá trị đạo đức, danh dự mà hạ thấp việc thõa mãn những nhu cầu vật chất chính đáng của con người, họ chỉ thấy cái động lực tinh thần là “nhân, lễ, nghĩa, trí, tín”

mà không thấy nội lực lợi ích vật chất chi phối suy nghĩ và hành động của con người Chính vì cách nhìn nhận như thế, nên trong giáo dục của Nho giáo người quân tử phải nỗ lực rèn luyện nhân cách, trong bất cứ hoàn cảnh nào, họ là người

có ý chí, khí tiết vững vàng, có nội lực mạnh mẽ để chiến thắng những tác động của ngoại cảnh

Tóm lại, mục đích cao nhất của giáo dục Nho giáo là tạo nên những bậc kẻ

sĩ, người quân tử cho xã hội Họ là những lực lượng hạt nhân trong cuộc sống đời thường cùng với các thế lực cầm quyền duy trì trật tự phong kiến ôn hòa Như Trần Trọng Kim nhận định: “Đạo của Khổng Tử là đạo của người quân tử, cốt dạy cho người ta thành đức hạnh hoàn toàn và có nhân phẩm tôn quý, cho nên bao nhiêu sự dạy dỗ, học tập của Khổng Tử đều chú trọng cả vào sự gây thành người quân tử” [6] Mô hình nhân cách quân tử là niềm tự hào của Nho giáo và xã hội phong kiến Song, cũng chính họ, về khía cạnh người quân tử không màng đến lợi ích vật chất chính đáng, coi kẻ tiểu nhân phải phục tùng người quân tử, đây chính là tư tưởng bảo thủ, cố hữu dẫn đến sự trì trệ kéo dài của chế độ phong kiến ở các nước phương Đông

Từ việc nghiên cứu “con người lý tưởng” trong giáo dục của Nho giáo, ta thấy rằng đối với nước ta hiện nay không còn tồn tại chế độ phong kiến, nên việc giáo dục con người trong xã hội thành người quân tử và kẻ tiểu nhân là điều không đáng bàn ở đây Tuy nhiên, trong nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay bên cạnh những mặt mạnh vốn có của nó, thì vẫn còn tồn tại những nhược điểm lớn như: đạo đức của một bộ phận dân cư, đặc biệt giới trẻ xuống cấp nghiêm trọng, lối sống chạy theo đồng tiền… thì việc nghiên cứu những điểm hợp lý về “con người

lý tưởng” trong giáo dục Nho giáo là điều hết sức cần thiết

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Vũ Trọng Rỹ, Con người phát triển toàn diện và phát triển toàn diện con người , Tạp chí Nghiên cứu giáo dục, Số 8, 1997, Tr.20;

[2,3] Vi Chính Thông, Nho giáo Trung Quốc ngày nay, NXB Chính trị quốc gia,

Hà Nội, 1996, Tr.34;

[4,5] Đoàn Trung còn (dịch), Luận ngữ, NXB Lá Bối, 1996, Tr.45, 215;

[6] Trần Trọng Kim, Nho giáo, NXB Thành phố Hồ Chí Minh, 1996, Tr.106

Trang 4

TRƯỜNG CAO ĐẲNG THƯƠNG MẠI| 45 Dũng Sĩ Thanh Khê - TP Đà Nẵng 4

SỬ DỤNG VĂN HỌC DÂN GIAN VIỆT NAM

TRONG GIẢNG DẠY HỌC PHẦN NHỮNG NGUYÊN LÝ

CƠ BẢN CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN (PHẦN 1)

ThS Trần Đình Bình

GV Bộ môn Lý luận chính trị

i qua năm tháng thăng trầm của lịch sử dựng nước và giữ nước, Việt Nam – dân tộc ngàn năm văn hiến, đã đúc kết, xây dựng nên kho tàng văn hóa truyền thống quý báu của dân tộc mình Trong kho tàng văn hóa đó, văn học dân gian là một sản phẩm vô giá xét về cả giá trị lịch sử, văn học và

triết lý nhân sinh quan Vì vậy, sử dụng những giá trị triết lý đó để minh

họa trong giảng dạy học phần Những nguyên lý cơ bản chủ nghĩa Mác – Lênin là điều cần thiết, làm cho bài giảng sinh động hơn

1 Một vài vấn đề về triết lý dân gian và triết học

Triết lý dân gian và triết học là hai lĩnh vực, hai hiện tượng ý thức xã hội khác nhau Triết lý dân gian thuộc lĩnh vực nghệ thuật, bao gồm các thể loại trong văn học dân gian: tục ngữ, ca dao, đồng dao, chuyện ngụ ngôn, còn triết học thuộc lĩnh vực khoa học, là khoa học về thế giới quan và phương pháp luận

Triết lý dân gian là tri thức của dân gian mà người lao động rút ra trên cơ sở quan sát và miêu tả cái cụ thể Đó là những tri thức kinh nghiệm, những "lẽ phải thông thường" Còn triết học là hệ thống những quan niệm, quan điểm về thế giới, là sự tổng hợp và khái quát ở mức độ chung nhất và cao nhất về những quy luật vận động của tự nhiên, của xã hội, của tư duy

Triết lý dân gian là sản phẩm mà tác giả của nó là quần chúng nhân dân, còn triết học là một môn khoa học, nên tác giả bao giờ cũng là những cá nhân - những người hoạt động trí óc chuyên nghiệp, có khả năng tư duy lý luận và có năng lực khái quát cao

Xét về mốc lịch sử, triết lý dân gian ra đời trước, triết học ra đời muộn hơn Triết học phải đến thời đại văn minh, tức là khi xã hội đã phân chia giai cấp thì triết học thực sự mới có điều kiện ra đời

Triết lý dân gian tuy không phải là triết học nhưng xét về bản chất nó rất gần gũi với triết học Triết lý dân gian được làm ra với mục đích cố gắng phát hiện ra bản chất và tính quy luật của các sự vật và hiện tượng tự nhiên, xã hội và đời sống con người "Triết học của nhân dân lao động" chứa đựng những yếu tố của tư tưởng triết học, nghĩa là những tư tưởng triết học không được thể hiện một cách đầy đủ và chặt chẽ như những quy luật,

Đ

Trang 5

TRƯỜNG CAO ĐẲNG THƯƠNG MẠI| 45 Dũng Sĩ Thanh Khê - TP Đà Nẵng 5

nguyên lý và mệnh đề triết học mà nó chỉ được thể hiện một phần nào trong nội dung của tục ngữ, ca dao, ngụ ngôn…

2 Sự cần thiết sử dụng văn học dân gian trong giảng dạy học phần những nguyên

lý cơ bản chủ nghĩa Mác – Lê nin

“Đề cương văn hóa Việt Nam” của Đảng Cộng sản Viêt Nam (1943) được xem là

“Tuyên ngôn” đầu tiên của Đảng về xây dựng nền văn hóa mới và con người mới đã nhấn mạnh: Văn hóa Việt Nam phải lấy chủ nghĩa Mác – Lênin làm nền tảng; phải làm cho chủ nghĩa Mác – Lênin thấm sâu vào trong đời sống nhân dân; đồng thời phải đảm bảo ba

nguyên tắc cơ bản “Dân tộc, khoa học, đại chúng” Tinh thần của Đề cương Văn hóa đó

ngày nay vẫn còn nguyên giá trị thời sự Có khác chăng chỉ là cách diễn đạt văn phong đó là: Nền văn hóa mà chúng ta đang xây dựng là một nền văn hóa “tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc” Vì vậy, việc giảng dạy Nguyên lý chủ nghĩa Mác – Lênin cho sinh viên và làm

cho họ nhận biết những giá trị đích thực của nó và vận dụng để lý giải những vấn đề của bản thân, xã hội là điều cần thiết

Tuy nhiên, do tính khái quát cao và trừu tượng, nên khi học học phần những nguyên

lý cơ bản chủ nghĩa Mác – Lênin, sinh viên gặp không ít khó khăn Chính trong hoàn cảnh này, giảng viên biết và vận dụng triết lý dân gian thông qua các câu tục ngữ, ca dao, chuyện ngụ ngôn… để minh họa cho các khái niệm, phạm trù của triết học sẽ giúp sinh viên dễ hiểu vận dụng hơn

Trong quá trình hội nhập và phát triển, hòa nhập nhưng không đánh mất bản sắc dân tộc, việc cho học sinh sưu tầm và nhận biết giá trị đích thực triết lý nhân sinh quan của cha ông, thông qua các thể loại văn học dân gian góp phần thực hiện đúng đắn chủ trương của Đảng trong việc xây dựng nền văn hóa mới, con người mới “Tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc” Việc làm này còn làm cho sinh viên tự hào và trân trọng hơn về những giá trị truyền thống của dân tộc mình

3 Vận dụng minh họa

Khi giảng về vấn đề thừa nhận sự tồn tại khách quan và vận động của thế giới không phụ thuộc vào con người, giảng viên có thể dùng những câu tục ngữ sau đây để minh họa: "Chạy trời không khỏi nắng", "Chạy mưa không khỏi trời" "Trời", "nắng",

"mưa" ở đây chính là hiện thực khách quan Sự vật và hiện tượng khách quan tồn tại, vận động và phát triển theo quy luật vốn có của nó: “Trăng đến rằm thì trăng tròn, sao đến tối thì sao mọc", "Còn da lông mọc, còn chồi nẩy cây"

Đi đôi với tư tưởng duy vật tự phát, Văn học dân gian Việt Nam cũng chứa đựng rất nhiều những yếu tố của tư tưởng biện chứng Đó là cách nhìn nhận các sự vật và hiện tượng không phải ở trạng thái đứng im, bất biến mà ở trong sự vận động, biến đổi, phát triển và luôn liên hệ điều đó với đời sống con người: “Trời còn có khi nắng khi mưa, ngày còn khi sớm khi trưa nữa người”, “Người có lúc vinh, lúc nhục; nước có lúc đục lúc trong”, “Ai giàu ba họ, ai khó ba đời”, “Hết cơn bĩ cực đến ngày thái lai”, “Tre già măng mọc”…

Về nguyên lý mối liên hệ phổ biến, các sự vật và hiện tượng không tồn tại độc lập, tách rời nhau, giữa chúng có những mối liên hệ, tác động qua lại lẫn nhau với mức độ và phạm vi khác nhau, tùy theo từng đối tượng cụ thể: “Hồ cậy rừng, rừng cậy hồ”, “Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng”, “Gần lửa rát mặt”, “Con sâu làm rầu nồi canh”, “Thớt trên mòn, thớt dưới cũng mòn’, “Trâu bò đánh nhau ruồi muỗi chết”…

Trang 6

TRƯỜNG CAO ĐẲNG THƯƠNG MẠI| 45 Dũng Sĩ Thanh Khê - TP Đà Nẵng 6

Mối quan hệ giữa số lượng và chất lượng được tục ngữ thể hiện khá phong phú và sinh động, tuy không phải dùng đến khái niệm: chất, lượng, độ, thuộc tính như triết học Phân biệt chất khác nhau được tạo nên bởi những thuộc tính khác nhau: “Chẳng chua cũng thể là chanh, chẳng ngọt cũng thể cam sành chín cây” Chất khác nhau tạo ra những giá trị khác nhau: “Trăng mờ còn tỏ hơn sao, dẫu rằng núi nở còn cao hơn đồi” Không thể lấy lượng thay chất được dù rằng lượng đó gấp bao nhiêu lần: “Trăm đom đóm không bằng bó đuốc” Chất bao giờ cũng được coi trọng hơn lượng “Quý hồ tinh bất quý hồ đa”, “Văn hay chẳng lọ dài dòng”… và rất nhiều câu diễn tả sự thay đổi về lượng khi

“vượt độ” sẽ dẫn đến sự thay đổi về chất: “Quá mù ra mưa”, “Tốt quá hoá lốp”

Về mối quan hệ giữa bản chất và hiện tượng được nói đến ở nhiều góc độ và mức

độ khác nhau, rất thực tế và linh hoạt Bản chất bao giờ cũng bộc lộ qua hiện tượng:

"Người khôn dồn ra mặt", "Khôn ngoan hiện ra nét mặt, què quặt hiện ra chân tay" Có thể căn cứ vào hiện tượng để kết luận về thực chất sự vật: "Nứa trôi sông chẳng giập thì gẫy, gái trồng rẫy chẳng chứng nọ cũng tật kia" Hiện lượng khác nhau nhưng bản chất chỉ là một: “Khác lọ cùng một nước" Cái bề ngoài thì dễ thấy nhưng cái bên trong thì khó

mà thấy: "Họa hổ hoạ bì nan họa cốt, tri nhân tri diện bất tri tâm" Nói về hiện tượng xuyên tạc bản chất: "Thủ thỉ nhưng mà quỷ ma", "Tẩm ngẩm tầm ngầm mà dẫm chết voi"

Về mối quan hệ giữa nguyên nhân và kết quả (gọi tắt là quan hệ nhân quả) cũng được thể hiện trong nhiều câu tục ngữ: "Không có lửa sao có khói", “Gieo gió gặt bão”,

“Trèo cao ngã đau”, “Nguồn đục dòng cũng đục”, “Thế gian chẳng ít thì nhiều, không dừng ai dễ đặt điều cho ai”…Mối quan hệ giữa cái riêng và cái chung trong tục ngữ được thể hiện như là sự gắn bó và phân biệt giữa cá thể và loài trong thế giới sinh vật: “Thân chim cũng như thân cò”, “Lòng sung cũng như bụng vả, một trăm con lợn cũng chung một chuồng”, “Sống mỗi người mỗi nết, chết mỗi người mỗi tật”…

4 Một vài kinh nghiệm và kiến nghị qua thực tế vận dụng

Từ thực tế vận dụng văn học dân gian với tính triết lý của nó trong giảng dạy học phần chủ nghĩa Mác – Lênin, bản thân tôi rút ra những kinh nghiệm sau:

Một là cần chọn lọc những triết lý phù hợp theo quan điểm giải thích biện chứng của triết học Mác – Lênin

Hai là giảng viên cần sưu tầm và vận dụng theo từng vấn đề của bài giảng một cách

có hệ thống, tránh hiện tượng “ngẫu hứng” Có như vậy mới tạo được sự hứng thú cho người học, bài giảng giảm bớt sự khô khan bởi những khái niệm trừu tượng

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Ca dao tục ngữ Việt Nam (http://www.vuontaodan.net);

[2] Từ điển Thành ngữ và Tục ngữ Việt Nam (http://tudienthanhngu.com/)

Trang 7

TRƯỜNG CAO ĐẲNG THƯƠNG MẠI| 45 Dũng Sĩ Thanh Khê - TP Đà Nẵng 7

HƯỚNG DẪN GIẢI MỘT SỐ DẠNG

BÀI TẬP CƠ BẢN TRONG HỌC PHẦN

NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN (PHẦN 2)

ThS Nguyễn Thị Tâm, ThS Trần Thị Thanh Tâm

GV Bộ môn Lý luận chính trị

au hơn 2 năm tổ chức đào tạo theo học chế tín chỉ, nhà trường đã tiến hành rà soát lại chương trình giáo dục nhằm điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp với tình hình thực tế Theo kết quả rà soát, hầu hết các học phần đã có sự tu chỉnh một cách hợp lý Theo đó, học phần Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin (phần 2) đã có sự điều chỉnh về thời lượng và nội dung theo hướng tăng thời gian thực hành (tự luận, bài tập) Do vậy, quá trình giảng dạy cũng như cách thức đánh giá quá trình học tập của sinh viên đã có những thay đổi nhất định Cụ thể, phần thực hành ngoài bài thảo luận mang tính lý luận thì phần lớn là bài tập áp dụng cho hai chương “Học thuyết giá trị” và “Học thuyết giá trị thặng dư”

Mặc dù bài tập tính toán đơn giản nhưng đa phần sinh viên thấy khó khăn do chưa quen với thuật ngữ chuyên ngành cũng như thói quen tâm lý cho rằng học phần này chỉ thuần túy lý thuyết Vấn đề cấp thiết đối với giảng viên là phải vận dụng các phương pháp dạy học tích cực, gắn nội dung bài học với bài tập thực hành, giúp sinh viên nắm được các dạng bài tập và vận dụng công thức để làm bài tập nhằm hướng đến nâng cao chất lượng học tập của sinh viên

Trong giới hạn bài viết này chúng tôi đưa ra một số dạng bài tập cơ bản và hướng dẫn trình tự cách làm bài

Thứ nhất, yêu cầu sinh viên để làm bài tập học phần này phải nhớ được các công thức,

bao gồm:

- Giá trị hàng hóa:w = c + v + m

Trong đó c : giá trị tư liệu sản xuất đã hao phí

v : giá trị sức lao động hay tiền công

- Khối lượng giá trị thặng dư: M = m’ x V

Trong đó: V: tổng số tư bản khả biến mà nhà tư bản sử dụng

- Tỷ suất giá trị thặng dư: ' 100 % x100 %

k

m x

v c

m

+

= Trong đó k: chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa

S

Trang 8

TRƯỜNG CAO ĐẲNG THƯƠNG MẠI| 45 Dũng Sĩ Thanh Khê - TP Đà Nẵng 8

)(

v c

Thứ hai, sau khi đọc xong đề bài, sinh viên cần xác định được bài toán yêu cầu tính

yếu tố nào, đề bài đã cho những giả thiết gì (các giả thiết nên đưa về dưới dạng kí hiệu để thuận lợi cho việc tính toán)

Trên cơ sở đó sinh viên sẽ tìm ra phương pháp tối ưu để đi đến thỏa mãn yêu cầu bài toán đặt ra

7

> )

Kết luận: Tỷ suất lợi nhuận tỷ lệ nghịch với cấu tạo hữu cơ của tư bản

2 Lấy ví dụ chứng minh nếu tư bản ứng trước không đổi, cấu tạo hữu cơ của tư bản không đổi thì tỷ suất lợi nhuận tỷ lệ thuận với tỷ suất giá trị thặng dư

Trang 9

TRƯỜNG CAO ĐẲNG THƯƠNG MẠI| 45 Dũng Sĩ Thanh Khê - TP Đà Nẵng 9

+ Trường hợp 1: Tỷ suất giá trị thặng dư m’= 100%

Vậy khi tỷ suất giá trị thặng dư tăng thì tỷ suất lợi nhuận tăng (Vì p '1< p2')

+ Trường hợp 3: Giảm tỷ suất giá trị thặng dư m’= 50%

Vậy khi tỷ suất giá trị thặng dư giảm thì tỷ suất lợi nhuận giảm (Vì p'1 > p'3)

Kết luận: Tỷ suất lợi nhuận tỷ lệ thuận với tỷ suất giá trị thặng dư

Dạng 2: Vận dụng công thức tỷ suất giá trị thặng dư (m’)

Có 100 công nhân làm việc tại công ty sản xuất hàng may mặc Cứ 4 giờ mỗi công nhân tạo ra lượng giá trị mới là 20 USD Giá trị sức lao động trong 1 ngày của mỗi công nhân là 16 USD

a Tính độ dài của ngày lao động Biết rằng trình độ bóc lột là 150%

b Nếu giá trị sức lao động không đổi Trình độ bóc lột giảm đi

5

1 thì khối lượng giá trị thặng dư tăng lên hay giảm xuống bao nhiêu?

Giải:

a Tính độ dài của ngày lao động Với m’ = 150%

Giá trị mới do một công nhân tạo ra trong 1 giờ là =

Mà giá trị sức lao động mỗi ngày của một công nhân là 16 USD

Nên độ dài ngày lao động của người công nhân =

2

16

= 8(giờ)

Kết luận: Độ dài ngày lao động là 8 giờ

b Tính sự thay đổi của khối lượng giá trị thặng dư

Nếu tiền công không đổi và trình độ bóc lột sức lao động giảm

5

1 lần so với ban đầu thì tỷ suất giá trị thặng dư thay đổi:

Trang 10

TRƯỜNG CAO ĐẲNG THƯƠNG MẠI| 45 Dũng Sĩ Thanh Khê - TP Đà Nẵng 10

Khối lượng giá trị thặng dư nhà tư bản chiếm đoạt ban đầu (m’= 150%) là:

M ’= 150% x 2 x 100 = 300 USD

Khối lượng giá trị thặng dư thay đổi = 300 - 240 = 60 USD

Kết luận: Khối lượng giá trị thặng dư giảm đi 60 USD

Dạng 3: Bài tập tổng hợp

Giả sử toàn bộ nền sản xuất xã hội của một quốc gia (trong điều kiện tự do cạnh tranh,

tư bản cố định khấu hao trong vòng 1 năm) trong năm 2010 có 4 ngành sản xuất Trong đó:

Ngành I: Chi chí sản xuất là 1.600 USD; cấu tạo hữu cơ 3:1, giá trị mới là 700 USD Ngành II: Tư bản khả biến là 400 USD; tư bản bất biến gấp 2,5 lần tư bản khả biến; tỷ suất lợi nhuận là 50%

Ngành III: Tư bản bất biến là 1.000 USD; cấu tạo hữu cơ 5:1; tỷ suất giá trị thặng dư

là 100%

Ngành IV: Chi phí sản xuất là 1.800USD; tư bản bất biến là 1.200 USD, tỷ suất giá lợi nhuận là 30%

a Tính giá trị cá biệt của từng ngành?

b Hãy xác định tỷ xuất lợi nhuận bình quân giữa các ngành?

c Tính lợi nhuận bình quân của mỗi ngành?

d Tính giá cả sản xuất của mỗi ngành?

m p

m p

+

a Tính giá trị cá biệt của mỗi ngành: với w = c + v + m ta có

Giá trị cá biệt của ngành I: w1 = 1.200 + 400 + 300 = 1.900 USD

Giá trị cá biệt của ngành II: w2 = 1.000 + 400 + 700 = 2.100 USD

Giá trị cá biệt của ngành III: w3 = 1.000 + 200 + 200 = 1.400 USD

Giá trị cá biệt của ngành IV: w4 = 1.800 + 600 = 2.400 USD

Trang 11

TRƯỜNG CAO ĐẲNG THƯƠNG MẠI| 45 Dũng Sĩ Thanh Khê - TP Đà Nẵng 11

b Tính tỷ suất lợi nhuận bình quân giữa các ngành:

)(

v c

m

++

++

+

++

000.18)200000

.1()000.1400(600

1

600200

700300

000.6

800.1

c Tính lợi nhuận bình quân từng ngành: Với p= p 'x k

Ta có:

Lợi nhuận bình quân của ngành I: p1= 30% x 1.600 = 4.800 USD

Lợi nhuận bình quân của ngành II: p2 = 30% x 1.400 = 2.100 USD

Lợi nhuận bình quân của ngành III: p3= 30% x 1.200 = 1.600 USD

Lợi nhuận bình quân của ngành IV: p4= 30% x 1.800 = 2.400 USD

d Tính giá cả sản xuất của mỗi ngành: Giá cả sản xuất= k + p

Ta có:

Giá cả sản xuất của ngành I = 1.600 + 4.800 = 6.200 USD

Giá cả sản xuất của ngành II = 1.400 + 2.100 = 3.500 USD

Giá cả sản xuất của ngành III = 1.200 + 1.600 = 2.800 USD

Giá cả sản xuất của ngành IV = 1.800 + 2.400 = 4.200 USD

Trên đây là 3 dạng bài tập cơ bản của học phần Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin (phần 2); chúng tôi đưa ra với mong muốn có thể giúp cho giảng viên

và sinh viên sử dụng làm tài liệu tham khảo cho quá trình giảng dạy cũng như học tập

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Giáo trình Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin, NXB Chính trị quốc

gia – Sự thật, Hà Nội, 2012;

[2] Giáo trình Kinh tế chính trị Mác – Lênin về phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa,

NXB Lý luận chính trị, Hà Nội, 2006;

[3] Tóm tắt lý thuyết và bài tập thực hành Kinh tế chính trị Mác – Lênin, NXB Đại học

Quốc gia TP Hồ Chí Minh, 2006;

[4] Đề cương bài giảng Kinh tế chính trị Mác – Lênin, NXB Đại học Quốc gia TP Hồ

Chí Minh, 2006;

[5] Các Mác, Tư bản; tập thứ nhất phần thứ 2, NXB Sự thật, Hà Nội, 1988;

quyluatkinhtecobancuacntb-codapan

Trang 12

[6]https://sites.google.com/site/toihocketoan/kinh-te-chinhtri/baitap/baitapsanxuatgiatrithangdu-TRƯỜNG CAO ĐẲNG THƯƠNG MẠI| 45 Dũng Sĩ Thanh Khê - TP Đà Nẵng 12

THƯƠNG NHÂN TRUNG QUỐC VỚI

CHIÊU TRÒ ” THU MUA NÔNG SẢN Ở VIỆT NAM

II Thực trạng hoạt động thu mua nông sản ở nước ta thời gian gần đây

Không phải thương nhân nước ngoài nào cũng làm ăn theo kiểu lừa đảo, chụp giật, gây hại đến lợi ích của nông dân Đó là những thương nhân nước ngoài có văn phòng, chi nhánh, hay những doanh nghiệp FDI làm ăn chân chính tại Việt Nam Bên cạnh đó, một

bộ phận cá nhân người nước ngoài hoạt động thương mại trái với pháp luật Việt Nam như không có “Giấy chứng nhận đăng ký quyền xuất khẩu đối với các loại hàng hoá được phép xuất khẩu theo quy định của pháp luật Việt Nam và theo lộ trình cam kết về mở cửa thị trường của Việt Nam”, nói cách khác là những thương nhân làm ăn phi pháp, đang chui lủi thu mua nông sản tại Việt Nam để đưa về nước hoặc xuất sang nước khác kiếm lời

Với lợi thế về tín dụng, nhiều tiền và trả giá cao khiến doanh nghiệp trong nước bất lực ngay tại sân nhà “Thủ đoạn” của các thương lái này là đẩy giá cả lên cao, thu mua tất

cả các sản phẩm không phân biệt chất lượng, tới tận nhà vườn để thu mua Đây là chiêu trò “dụ” nông dân tập trung sản xuất ào ạt dẫn đến tình trạng dư thừa, không thể tiêu thụ,

Trang 13

TRƯỜNG CAO ĐẲNG THƯƠNG MẠI| 45 Dũng Sĩ Thanh Khê - TP Đà Nẵng 13

sau đó họ không thu mua nữa hoặc dìm giá xuống rất thấp, khiến nhiều hộ nông dân điêu đứng Thực tế, nhiều mặt hàng như vải thiều, thanh long, dưa hấu, dứa, gạo có thời điểm đã được mua gom với giá cao nhưng sau đó rớt giá thê thảm, giảm từ 30-70% do thương lái ngừng thu mua Hay khoai lang tím ở Vĩnh Long giá đầu vụ là 800.000 đồng/tạ, giá giữa vụ còn 180.000 đồng/tạ, giá dừa Bến Tre từ 150.000 đồng/chục nay còn 12.000 đồng/chục, hải sản ở Khánh Hòa, mua cua tại Cà Mau Nghiêm trọng hơn có những vụ thu gom hàng có tính phá hoại như mua rễ thanh long, đỉa, mua lá sắn mà không mua củ, chè kém chất lượng mà còn xúi người dân bỏ thêm bùn đất, trộn gạo thường và thơm nhằm gây thiệt hại uy tín gạo xuất khẩu Việt Nam…

Theo Bộ Công Thương, từ tháng 5/2011 đến nay, hiện tượng thương nhân nước ngoài vào Việt Nam thu mua nông sản diễn ra trên diện rộng và có diễn biến theo chiều hướng ngày càng phức tạp với nhiều hình thức

Trong quý I/2013, thương nhân mua nông sản với giá cao để đáp ứng nguồn cung các sản phẩm lương thực, thực phẩm trên thị trường Trung Quốc gặp rất nhiều khó khăn do tình hình thời tiết bất lợi liên tục xảy ra và do giá nhân công trung bình tăng 3,1 USD/giờ Thực tế là vậy, nhưng chúng ta không khỏi đặt câu hỏi “đằng sau việc thu mua này có vấn

đề gì khác hay không?”

Với những thương nhân có động cơ tư lợi, phá hoại sẽ gây bất ổn thị trường thậm chí phá vỡ các quy hoạch vùng nguyên liệu và công nghiệp chế biến, tình trạng thiếu nguồn cung nguyên liệu của một số nhà máy chế biến nông sản trong nước, khiến các nhà máy hoạt động cầm chừng, người lao động thiếu công ăn việc làm, gây ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động sản xuất, kinh doanh, xuất khẩu nông sản Thu mua ồ ạt không phân biệt chất lượng, kích cỡ, chủng loại, tạo ra đơn hàng riêng… về lâu dài sẽ ảnh hưởng tới uy tín hàng hóa Việt Nam trên thị trường quốc tế, tạo sự phụ thuộc vào một thị trường xuất khẩu Đặc biệt, hoạt động thu mua trái phép không được quản lý đã gây thất thu thuế Từ mất ổn định về kinh tế, thương mại dẫn đến mất ổn định về trật tự an toàn xã hội tại các địa phương

Hiện tại chưa thể thống kê được chính xác số lượng nông sản Việt Nam xuất sang Trung Quốc bởi trong đó có rất nhiều mặt hàng đi theo đường tiểu ngạch, khó quản lý

III Biện pháp khắc phục điệp khúc “được mùa mất giá”

1 Nguyên nhân

Nguyên nhân dẫn đến thực trạng vấn đề thương nhân ép giá không chỉ do tác động từ

ý đồ bất chính của thương nhân nước ngoài mà do cả việc quản lý trong nước và nhận thức bản thân người nông dân

- Thiếu điều tiết hợp lý trong khâu trồng lẫn khâu tiêu thụ của nhà nước Điều này đã đẩy nhiều hộ nông dân vào hoàn cảnh tự tìm đường giải thoát cho mình nên dễ bị ép giá

- Thiếu cân nhắc khi sử dụng chính sách hỗ trợ cho địa phương như vụ đông năm

2012, nhiều địa phương tập trung hỗ trợ cho 3 loại cây là ngô nếp, bí xanh, khoai tây như: Gia Lộc, Nam Sách, Bình Giang, Ninh Giang, Kim Thành ở Hải Dương Theo đó, tỉnh hỗ trợ 140.000 đồng tiền mua giống ngô nếp HN88, MX10, WAX50, AG50 Diện tích ngô được hỗ trợ phải áp dụng biện pháp làm đất tối thiểu, quy vùng từ 3 ha trở lên Huyện Nam Sách hỗ trợ nông dân 50% giá mua các giống bí xanh số 2, dưa hấu lai F1, khoai tây

Hà Lan, khoai tây Atlantic, ngô ngọt, ớt lai với điều kiện quy vùng tối thiểu 2 ha Thành phố Hải Dương hỗ trợ 100.000 đồng/sào cà chua, su-lơ quy vùng tối thiểu 5 ha và khoai

Trang 14

TRƯỜNG CAO ĐẲNG THƯƠNG MẠI| 45 Dũng Sĩ Thanh Khê - TP Đà Nẵng 14

tây, bí xanh quy vùng ít nhất 3 ha Từ đó, nông dân tích cực gia tăng diện tích để hưởng chính sách dẫn tới nguy cơ cung vượt cầu

- Nhiều loại hoa quả vẫn chưa vươn ra được nhiều tỉnh thành khác do hạn chế về kênh phân phối

- Thiếu kiểm soát chặt chẽ của cơ quan quản lý tại các địa phương mặc dù luật pháp

và các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn rất đầy đủ Hoạt động chủ yếu của các thương lái là qua đường tiểu ngạch nên khó xử lý

- Do công tác tuyên truyền, phổ biến kiến thức pháp luật về thương nhân nước ngoài hoạt động thu mua nông sản tại Việt Nam chưa đầy đủ, chưa phù hợp với từng đối tượng

- Do thương nhân trong nước đã bắt tay, tạo điều kiện cho thương nhân nước ngoài không chân chính trục lợi

- Đặc biệt, do nhận thức của người nông dân còn hạn chế khi chỉ tập trung vào lợi ích trước mắt Đây là câu chuyện không gì mới của nhiều năm nay Khi giá mặt hàng nông sản nào đó tăng lên, người nông dân sẵn sàng thay đổi cơ cấu cây trồng hiện tại rồi chuyển sang cây trồng mới một cách không kiểm soát, để rồi cung vượt cầu tạo điều kiện cho thương lái ép giá Đây là cái giá phải trả của phát triển theo phong trào

- Cần nhận thức rõ về đối tượng để có công tác đấu tranh tốt, phối hợp với các bộ, ngành xử lý vi phạm xuất nhập cảnh, cấp giấy phép Các bộ ngành cần tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát mang tính đồng bộ để tránh trường hợp không có chỉ đạo thì không làm hoặc xem nhẹ và cần có chương trình mang tính dài hạn

- Luật pháp ban hành cần có những quy định, hình phạt nặng nề hơn để kiểm soát hoạt động của thương nhân Việt Nam tiếp tay với thương nhân nước ngoài

- Cần phải đẩy mạnh công tác tuyên truyền để người dân, người sản xuất, tiểu thương, thương lái hiểu rõ về quy định của hoạt động thương mại Riêng đối với thương nhân nước ngoài cần phải phổ biến giúp họ hiểu rõ luật pháp của nước sở tại khi thu mua nông sản trên địa bàn Việt Nam

Thiết nghĩ, trước khi có sự phối hợp đồng bộ các biện pháp nhằm hỗ trợ và bảo vệ quyền lợi của chính mình thì người nông dân phải chủ động phòng ngừa, tránh để bị “mắc vào bẫy buôn bán thời hội nhập” như trên Nói cách khác là người nông dân Việt Nam cần phải tránh tâm lý “tiểu nông”, xây dựng tác phong công nghiệp, không ngừng trau dồi, cập nhật kiến thức, kỹ năng trong một thế giới hội nhập ngày càng sâu rộng như hiện nay

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] www.dangcongsan.vn

[2] www.stockbiz.vn

[3] www.baomoi.com

[4] www.haiduong360.vn

Trang 15

TRƯỜNG CAO ĐẲNG THƯƠNG MẠI| 45 Dũng Sĩ Thanh Khê - TP Đà Nẵng 15

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ TRUYỀN THÔNG MARKETING TRONG GIÁO DỤC

ThS Nguyễn Thị Thanh

GV Khoa Quản trị kinh doanh

rong bối cảnh bắt đầu xuất hiện cạnh tranh trong giáo dục, các trường đại học, cao đẳng luôn tìm mọi cách để giới thiệu, khuyếch trương hình ảnh của mình nhằm thu hút người học, vì vậy truyền thông marketing đã trở thành một hoạt động được rất nhiều trường đại học, cao đẳng quan tâm Một số trường quốc tế và dân lập đã giành một ngân sách khá lớn cho hoạt động này và xem đây là một khoản đầu tư chứ không phải là chi phí Có thể nói, truyền thông marketing trong giáo dục không phải

là một vấn đề mới mẻ, tuy nhiên những lý luận về nó lại không được phổ biến, vì vậy, bài viết này xin trình bày một số vấn đề với hy vọng sẽ giúp cho người đọc hiểu rõ hơn về truyền thông marketing trong giáo dục

1 Khái niệm về truyền thông marketing trong giáo dục

Truyền thông marketing trong giáo dục là hoạt động thông đạt những nội dung về dịch vụ đào tạo và cơ sở đào tạo nhằm thông tin, thuyết phục và gợi nhớ người học một cách trực tiếp hoặc gián tiếp

Có thể hiểu truyền thông marketing trong giáo dục là việc sử dụng các phương tiện truyền thông marketing như: quảng cáo, khuyến mãi, quan hệ công chúng… của các cơ sở đào tạo nhằm truyền đạt những thông tin về các dịch vụ đào tạo và cơ sở đào tạo những gợi nhớ hoặc thuyết phục người học đến với cơ sở đào tạo

2 Công chúng mục tiêu

Khác với các doanh nghiệp, công chúng của một trường học rất đa dạng, mỗi nhóm

có những đặc điểm khác nhau và có những ảnh hưởng khác nhau đến hoạt động của trường, các nhóm công chúng; đó là:

- Các tổ chức chính phủ: Mặc dù đầu tư cho giáo dục đại học vẫn là nhiệm vụ tất yếu của bất kỳ chính phủ nào trên thế giới nhưng rõ ràng, duy trì và tạo lập được các mối quan hệ tốt với các thành viên làm việc tại các cơ quan chính phủ chắc chắn sẽ có nhiều tác động tích cực cho các trường như: mở rộng quy mô đào tạo, mở rộng các ngành, chuyên ngành Ngoài ra đối với một số trường công lập còn được Nhà nước trợ cấp về mặt tài chính

Ở Việt Nam, hầu hết các trường cao đẳng, đại học, đều có mối quan hệ với Bộ Giáo dục và Đào tạo; Bộ này sẽ quyết định chỉ tiêu tuyển sinh, mở rộng thêm ngành, chuyên ngành của trường Các trường thuộc một số Bộ chuyên ngành như: Bộ Công Thương, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn… thì hoạt động của nhà trường còn chịu sự giám sát của các Bộ này

- Sinh viên: Họ vừa là khách hàng đồng thời sau khi họ ra trường thì họ chính là sản phẩm của nhà trường Mặt khác, sinh viên chính là “đại sứ” và là “người làm marketing” miễn phí và tốt nhất cho nhà trường Toàn xã hội sẽ nhìn vào các sinh viên để đánh giá xem trường đó như thế nào

T

Trang 16

TRƯỜNG CAO ĐẲNG THƯƠNG MẠI| 45 Dũng Sĩ Thanh Khê - TP Đà Nẵng 16

- Giảng viên, chuyên viên hành chính vừa là người lao động nhưng cũng lại là

những “khách hàng nội bộ” của chính trường đó

- Cựu sinh viên: Đây là đối tượng mà khi nhìn vào họ xã hội sẽ đánh giá chất

lượng đào tạo của một trường Một trường có đa số cựu sinh viên là những người thành đạt xã hội sẽ đánh giá trường có chất lượng đào tạo tốt và ngược lại Mặt khác, không một cựu sinh viên nào lại không muốn trường cũ của mình phát triển và thịnh vượng, họ sẵn lòng giúp đỡ cho ngôi trường đã đào tạo mình Vì vậy, họ sẽ là một nguồn tài trợ lớn cho các trường

- Các cơ quan, doanh nghiệp, tổ chức sẽ sử dụng người được đào tạo: Mối quan hệ

tất yếu giữa các trường cao đẳng, đại học – các cơ quan, doanh nghiệp tổ chức sử dụng người được đào tạo đã, đang và sẽ thể hiện được tính ưu việt của nó Các trường cao đẳng, đại học chính là nơi đào tạo và cung cấp nguồn nhân lực cho các cơ quan, doanh nghiệp, tổ chức, vì vậy các trường phải tìm hiểu nhu cầu về số lượng nhân lực, trình độ, chuyên môn của nhân lực để đáp ứng cho phù hợp

- Phương tiện thông tin đại chúng: Tranh thủ được sự ủng hộ của “khách hàng” này

đem lại vô vàn lợi ích cho các trường cao đẳng, đại học, đặc biệt trong trường hợp xảy ra khủng hoảng

- Gia đình sinh viên: Khi các học sinh chuẩn bị làm hồ sơ đăng ký vào một trường

cao đẳng, đại học nào đó chắc chắn họ sẽ tham khảo những kinh nghiệm của anh chị đi trước trong gia đình, ý kiến của bố mẹ trước khi đưa ra quyết định cuối cùng

- Các cơ sở liên kết đào tạo là các trung tâm đào tạo tại các địa phương có hợp tác đào tạo với nhà trường Các trung tâm này sẽ là các đơn vị đại diện cho nhà trường tổ chức quản lý hoạt động đào tạo của trường tại địa phương, đồng thời các trung tâm này sẽ

tư vấn, hỗ trợ cho người học trong suốt quá trình học tập của họ tại các địa phương

3 Mục tiêu truyền thông marketing trong giáo dục

Mục tiêu truyền thông marketing trong giáo dục chỉ những kết quả cụ thể về truyền thông mà nhà trường mong muốn đạt được trong một giai đoạn nhất định và là cơ sở, nền tảng cho việc xây dựng, hình thành chiến lược truyền thông sau này

Mục tiêu của công tác truyền thông marketing trong giáo dục thường hướng đến các tiêu đích sau đây:

- Đối với người học và phụ huynh người học:

+ Thông tin cho người học, phụ huynh biết đến nhà trường và các hoạt động đào tạo; + Làm cho người học, phụ huynh hiểu được lợi ích mà nhà trường đem lại so với các đối thủ cạnh tranh khác;

+ Thuyết phục người học, phụ huynh lựa chọn trường để học và gắn bó với trường; + Tạo mối quan hệ với người học và phụ huynh người học

- Đối với doanh nghiệp:

+ Thông tin cho các doanh nghiệp biết về hoạt động đào tạo của nhà trường nhằm thu hút các doanh nghiệp có nhu cầu tuyển dụng nhân sự, tạo cơ hội việc làm cho người học tại trường;

+ Tạo mối quan hệ với các doanh nghiệp

- Đối với giảng viên, chuyên viên của trường:

Tạo mối quan hệ với họ để họ nổ lực làm việc và gắn bó lâu dài với trường

- Đối với những lao động muốn trở thành giảng viên, chuyên viên của trường:

Trang 17

TRƯỜNG CAO ĐẲNG THƯƠNG MẠI| 45 Dũng Sĩ Thanh Khê - TP Đà Nẵng 17

Thông tin cho họ biết vị trí tuyển dụng, yêu cầu tuyển dụng và thuyết phục họ thi tuyển nhân sự

4 Thông điệp truyền thông marketing trong giáo dục

Sản phẩm của giáo dục là những sản phẩm dịch vụ, phi vật thể người học không thể nhìn thấy nó, chính vì vậy thông điệp trong truyền thông marketing trong giáo dục cần phải được hữu hình hoá, để làm được điều này việc giới thiệu sản phẩm giáo dục của nhà trường kèm theo giới thiệu về đội ngũ giáo viên của nhà trường như số lượng giáo viên, trình độ của giáo viên, chương trình đào tạo, bởi vì đây là yếu tố chính quyết định chất lượng sản phẩm đào tạo, ngoài ra cần giới thiệu thêm về cơ sở vật chất, các trang thiết bị phục vụ cho học tập: thư viện, máy tính…

5 Các công cụ truyền thông marketing trong giáo dục

Bản chất của hoạt động truyền thông marketing trong giáo dục chính là truyền tin

về dịch vụ đào tạo và cơ sở đào tạo đến người đọc để thuyết phục họ đến với nhà trường Truyền thông trong giáo dục thường sử dụng các công cụ truyền thông sau:

5.1 Quảng cáo

Quảng cáo là việc sử dụng các phương tiện truyền thông đại chúng có trả tiền để cung cấp thông tin đến với công chúng mục tiêu về ngành nghề đào tạo, trình độ đào tạo, loại hình đào tạo,… của một cơ sở đào tạo

Quảng cáo là hoạt động quan trọng trong các hoạt động truyền thông, không chỉ trong giai đoạn đầu mở ra một trường học mà nó còn góp phần từng bước duy trì nhận thức của người học, phụ huynh về thương hiệu của trường trong suốt quá trình phát triển

Để chiến lược quảng bá nói chung và quảng cáo nói riêng có hiệu quả cao nhất, điều tất yếu là phải nghiên cứu tâm lý, đặc tính của nhóm khách hàng mục tiêu, các phương tiện truyền thông hỗ trợ, chính sách của các trường là đối thủ cạnh tranh Mục tiêu của quảng

bá là làm sao cho người học, phụ huynh biết đến, ghi nhớ và chấp nhận thương hiệu của trường Vì vậy lựa chọn chiến lược truyền thông phù hợp là yếu tố quyết định Tuỳ thuộc vào các chương trình đào tạo, thị trường mục tiêu và khả năng tài chính của trường học có thể áp dụng riêng lẻ hoặc tổng hợp một số phương tiện quảng cáo sau:

- Quảng cáo trên các phương tiện thông tin đại chúng: Tivi, báo, đài phát thanh, tạp chí… ưu thế của các phương tiện này là tác động mạnh, phạm vi ảnh hưởng rộng và phong phú, tuy nhiên đòi hỏi chi phí cao và tần suất lớn Việc lựa chọn phương tiện nào hoàn toàn phụ thuộc vào mục đích và khả năng của mỗi trường

- Quảng cáo ngoài trời: băng rôn, pano, áp phích, phương tiện giao thông, bảng đèn điện tử… Các phương tiện này cho phép khai thác tối đa các loại kích cỡ, hình dạng khác nhau dành cho quảng cáo Việc sử dụng màu sắc và hình vẽ do vậy cũng đơn giản hơn, nhưng sức hút người nhận tin kém

- Quảng cáo điện tử: sử dụng các banner, đặt các logo, pop-up trên các trang web hoặc đăng ký tra theo công cụ tra cứu của các trang chủ thích hợp

5.2 Khuyến mại

Khuyến mại là những biện pháp khuyến khích mang tính ngắn hạn như thực hiện các chương trình giảm học phí, tặng học bổng học tập, kiểm tra phân loại trình độ người học miễn phí… nhằm kích thích người học tham gia các chương trình đào tạo của mình Nếu như quảng cáo đưa ra cho người học lý do chọn trường thì xúc tiến đưa ra những biện pháp khuyến khích người học sử dụng dịch vụ đào tạo, tham gia các chương trình

Trang 18

TRƯỜNG CAO ĐẲNG THƯƠNG MẠI| 45 Dũng Sĩ Thanh Khê - TP Đà Nẵng 18

đào tạo của trường Khuyến mại nên được lập kế hoạch bền vững dựa trên việc thiết lập

và duy trì tiếng tăm và hình ảnh của nhà trường với người học

Có thể sử dụng các công cụ trong PR như sau:

- Các buổi hội thảo về chương trình đào tạo của trường: Trường học sẽ tổ chức các buổi hội thảo qua đó mời học sinh, phụ huynh đến tham dự và giới thiệu về các chương trình đào tạo, các hình thức đào tạo của trường;

- Marketing sự kiện và tài trợ là việc tham gia, tổ chức hoặc tài trợ cho các hoạt động và sự kiện thể thao, nghệ thuật, giải trí và các hoạt động xã hội khác Việc tài trợ các

sự kiện cho phép các trường học có nhiều lựa chọn trong tiếp cận với người học, phụ huynh Đây cũng là một phương tiện tăng cường hình ảnh nhà trường như một trường học tốt, có uy tín… bằng cách đó họ mong rằng người học sẽ tin tưởng vào nhà trường và sau này sẽ lựa chọn nhà trường để học tập;

- Các hoạt động cộng đồng là thực hiện các hoạt động nhân đạo, công tác xã hội, phụng dưỡng Mẹ Việt Nam anh hùng việc cung cấp sản phẩm tài trợ cho các sự kiện này luôn được hoan nghênh vì kinh phí dành cho các hoạt động cộng đồng nhằm giúp xã hội phát triển tốt đẹp hơn Đồng thời, các hoạt động cộng đồng đảm bảo nhà trường luôn duy trì một hình ảnh đẹp trong con mắt của công chúng;

- Tham gia hội chợ việc làm, các cuộc triển lãm về giáo dục: đó là việc thực hiện hoạt động trưng bày, giới thiệu các chương trình đào tạo của nhà trường tại các hội chợ việc làm, các cuộc triển lãm về giáo dục, tham dự các buổi tiếp xúc với học sinh, tham gia các hội thảo được tổ chức đi kèm cùng hội chợ sẽ gia tăng hình ảnh của trường học trong nhận thức của người học và phụ huynh học sinh;

- Các ấn phẩm của trường học: Nhà trường có thể quảng bá thương hiệu bằng cách

sử dụng ấn phẩm Ấn phẩm có thể xuất phát từ trong hay ngoài trường học Các ấn phẩm xuất phát từ trường khá đơn giản, chỉ là những phong bì, túi xách, cặp đựng tài liệu tập sách mỏng để giới thiệu Tất cả đều được in ấn thể hiện hình ảnh của nhà trường;

- Phim ảnh: Việc xây dựng các bộ phim giới thiệu về trường học, những nổ lực nhà trường đã trải qua và thành công đạt được trong một môi trường điều kiện xã hội hóa giáo dục, lấy chất lượng đào tạo và nhu cầu người học làm trọng tâm là một cố gắng nhằm thể hiện cho người học, phụ huynh về một hình ảnh đẹp của trường

Trang 19

TRƯỜNG CAO ĐẲNG THƯƠNG MẠI| 45 Dũng Sĩ Thanh Khê - TP Đà Nẵng 19

5.4 Bán hàng cá nhân

Bán hàng cá nhân là giao tiếp trực tiếp với công chúng mục tiêu (học viên, gia đình học viên) nhằm mục đích giới thiệu về chương trình đào tạo, chất lượng đào tạo… và thuyết phục họ tham gia các khoá học của cơ sở đào tạo thông qua các hoạt động tư vấn tuyển sinh, tư vấn mùa thi, các cán bộ giáo viên trực tiếp tiếp xúc với người học, phụ huynh để giới thiệu và thuyết phục họ tham gia học tập tại trường

6 Đặc điểm của giáo dục ảnh hưởng đến hoạt động truyền thông marketing trong giáo dục

- Đối tượng thuần nhất: Đối tượng sử dụng dịch vụ của trường học khá thuần nhất,

họ có thể khác nhau về độ tuổi, giới tính, nhưng đều có chung nhu cầu nâng cao trình độ chuyên môn, kiến thức cho bản thân, và họ đòi hỏi rất cao về chất lượng đào tạo do nhà trường cung cấp, tuy nhiên khi họ đã cảm nhận được chất lượng đào tạo tốt thì họ rất tin tưởng, gắn bó lâu dài, cảm thấy tự hào về trường họ đang theo học và sẵn sàng chia sẻ, giới thiệu với các người khác về trường của mình Vì vậy, trong lĩnh vực giáo dục nếu các trường làm cho khách hàng của mình hài lòng thì chính những khách hàng này sẽ là những người truyền thông cho trường một cách có hiệu quả nhất

- Tính tin cậy: Không giống như một ngành kinh doanh thông thường, các doanh nghiệp có thể quảng cáo, tiếp thị vượt quá giá trị thực chất mà sản phẩm của họ mang lại với mục đích cuối cùng là thu hút được nhiều khách hàng, thu được lợi nhuận và phát triển doanh nghiệp Điều này không thể thực hiện trong hoạt động giáo dục, nơi mà sự trung thực và tin cậy luôn đặt lên hàng đầu Nhà trường làm mọi việc để xã hội tin tưởng mình, bởi vì một khi niềm tin mất đi thì rất khó làm cho họ tin tưởng lại được

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Nguyễn Thị Thanh, Luận văn thạc sĩ – Đề tài: Xây dựng chiến lược truyền thông cho Trường Cao đẳng Thương mại, 2012;

[2] Brent Davies và Linda Ellison (2005), Lãnh đạo Nhà trường thế kỷ 21, NXB Đại học

Sư phạm Hà Nội;

[3] Lynton Gray, Marketing in education, 1994, London;

[4] Phillip Kotler (2003), Quản trị marketing, NXB Thống kê, Hà Nội;

[5] http://www.dnu.edu.vn/vi/tin-tuc-su-kien/tingiao-duc/

Trang 20

TRƯỜNG CAO ĐẲNG THƯƠNG MẠI| 45 Dũng Sĩ Thanh Khê - TP Đà Nẵng 20

Nghiên cứu rủi ro cảm nhận đối với

mua hàng thời trang trực tuyến

370 sinh viên Kết quả cho thấy các thành phần rủi ro cảm nhận có tác động tiêu cực đến

ý định mua quần áo thời trang trực tuyến của người tiêu dùng với mức độ ảnh hưởng mạnh nhất là rủi ro chức năng, tiếp đến là rủi ro tài chính và cuối cùng là rủi ro tâm lý Kết quả nghiên cứu này là cơ sở để các tổ chức, cá nhân kinh doanh quần áo thời trang nói riêng và kinh doanh trực tuyến nói chung có những giải pháp giảm thiểu rủi ro cảm nhận cho người tiêu dùng và thu hút họ đến với cửa hàng trực tuyến

Từ khóa: Rủi ro cảm nhận; ý định mua; mua sắm trực tuyến; hành vi người tiêu dùng; thời trang

1 Đặt vấn đề

Mua hàng trực tuyến đã trở thành một hình thức tiêu dùng phổ biến ở các nước; hàng năm mang về doanh thu hàng chục tỷ đô-la Mỹ Tại Việt Nam (VN), số lượng người dùng internet tăng trưởng rất nhanh trong những năm gần đây, đã lên đến 31 triệu người, chiếm khoảng 35% dân số; đa số người dùng internet trong độ tuổi từ 18 đến 35 Mặc dù mua bán trực tuyến ở VN được các chuyên gia đánh giá là thị trường tiềm năng trong thời gian tới, nhưng người tiêu dùng (NTD) vẫn còn rất e ngại, cảm thấy rủi ro khi thực hiện mua hàng trực tuyến Việc nghiên cứu về những ảnh hưởng của rủi ro cảm nhận của NTD đối với việc mua hàng trực tuyến là vấn đề mang tính cấp thiết và phù hợp với thực tiễn tại VN hiện nay

2 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

2.1 Cơ sở lý luận

Khái niệm rủi ro cảm nhận được Bauer nghiên cứu và đưa ra đầu tiên vào năm 1960

Bauer cho rằng: “Rủi ro cảm nhận trong hành vi của người tiêu dùng là những cảm nhận

về những nguy cơ sẽ xảy ra trong bất kì một hành động tiêu dùng mà người tiêu dùng cảm thấy không chắc chắn [3]

Trên nền tảng lý thuyết rủi ro cảm nhận của Bauer (1960), đã có nhiều nhà nghiên cứu kinh tế thực hiện nghiên cứu về rủi ro cảm nhận trong mua hàng trực tuyến Tân (1999) cho rằng NTD có cảm nhận về rủi ro trong mua trực tuyến cao hơn mua tại cửa hàng truyền thống Anjali Dabhade (2008)[1] cho rằng rủi ro cảm nhận ảnh hưởng đến ý định mua trực tuyến gồm có rủi ro chức năng, rủi ro tài chính và rủi ro thời gian Kết quả

Trang 21

TRƯỜNG CAO ĐẲNG THƯƠNG MẠI| 45 Dũng Sĩ Thanh Khê - TP Đà Nẵng 21

nghiên cứu của Moudi Almousa (2011)[6]; Mi-Jung-Kim (2008)[5] lại cho thấy ý định mua quần áo trực tuyến bị ảnh hưởng tiêu cực bởi yếu tố rủi ro cảm nhận, gồm rủi ro chức năng, rủi ro thời gian và rủi ro bảo mật, và ảnh hưởng không đáng kể bởi rủi ro tâm lý và tài chính Trên cơ sở những kết quả có được từ những mô hình nghiên cứu rủi ro cảm nhận trong mua sắm quần áo trực tuyến đã được thực hiện, chúng tôi đề xuất mô hình nghiên cứu gồm 6 thành phần rủi ro cảm nhận có mối quan hệ với ý định mua quần áo thời trang trực tuyến (hình 1)

- Rủi ro chức năng: Là những cảm nhận của NTD nguy cơ về hiệu năng của sản phẩm Trong môi trường mua sắm trực tuyến NTD không có khả năng mặc thử, đánh giá

đặc tính vật lý của sản phẩm may mặc như chất liệu, màu sắc thực tế, kiểu dáng, kích cỡ

Do vậy, rủi ro chức năng sản phẩm càng cao thì ý định mua quần áo trực tuyến của người tiêu dùng càng giảm (H1)

- Rủi ro tài chính: Là cảm nhận về nguy cơ mất tiền khi thực hiện giao dịch Không

như mua sắm truyền thống theo kiểu “tiền trao cháo múc”; trong bối cảnh mua sắm trực tuyến, NTD thường phải thanh toán tiền trước và nhận hàng sau đó vài ngày thậm chí một tuần Do vậy, khi thực hiện giao dịch trực tuyến, NTD lo ngại sản phẩm không được chuyển đến, lo ngại về an toàn của tài khoản tín dụng Ngoài ra, NTD còn phải trả thêm chi phí vận chuyển sản phẩm Rủi ro tài chính càng cao thì ý định mua quần áo trực tuyến của người tiêu dùng càng giảm (H2)

- Rủi ro tâm lý: Người tiêu dùng có thể trải nghiệm áp lực tinh thần như sự hối tiếc

kết quả mua sắm, cảm thấy thiếu tin tưởng hoặc lo ngại việc mua sắm quần áo trực tuyến

có thể không phù hợp với bản thân hoặc thất vọng khi sản phẩm không đáp ứng được như

Rủi ro hiệu năng

Rủi ro tài chính

Rủi ro tâm lý

Rủi ro xã hội

Rủi ro thời gian

Rủi ro bảo mật

Ý định mua trực tuyến

H1

H2

H3

H5 H4

H6

Hình 1: Mô hình nghiên cứu đề xuất

Trang 22

TRƯỜNG CAO ĐẲNG THƯƠNG MẠI| 45 Dũng Sĩ Thanh Khê - TP Đà Nẵng 22

mong đợi (Jacopy và Kaplan, 1972; Peter và Ryan, 1976)[3] Rủi ro tâm lý càng cao thì ý định mua sắm trực tuyến của NTD càng giảm (H3)

- Rủi ro thời gian: Là cảm nhận về sự thuận tiện, tiện lợi, lượng thời gian và công

sức khi mua một sản phẩm không đáp ứng đúng như mong đợi của NTD (Kaplan Jacopy, 1972)[3] Rủi ro thời gian càng cao thì ý định mua quần áo trực tuyến của NTD càng giảm (H4)

- Rủi ro xã hội: Liên quan đến cảm nhận về một quyết định mua sản phẩm không

được sự chấp nhận bởi gia đình, bạn bè và đồng nghiệp (Dowling và Stealin, 1994; Forthsy, 2006)[4] Thông thường, NTD thường cố gắng để có được những lời khuyên hoặc

sự đồng ý từ người khác trong nhóm xã hội (bạn bè, đồng nghiệp, gia đình) để giảm thiểu rủi ro xã hội Rủi ro xã hội càng cao thì ý định mua trực tuyến của NTD càng giảm (H5)

- Rủi ro bảo mật: Là nguy cơ NTD cảm nhận được họ bị mất kiểm soát thông tin cá

nhân (Featherman, Pavlou, 2003) Việc cung cấp các thông tin cá nhân và số tài khoản, số thẻ tín dụng trên các website có thể sẽ bị lạm dụng hoặc cửa hàng trực tuyến sử dụng thông tin cá nhân với mục đích khác Rủi ro bảo mật càng cao thì ý định mua trực tuyến của NTD càng giảm (H6)

2.2 Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu này kết hợp định tính với định lượng Bản câu hỏi được xây dựng dựa trên thang đo Likert 5 điểm; với 1 là “hoàn toàn đồng ý” đến 5 là “hoàn toàn không đồng ý” Đối tượng được khảo sát là những người tiêu dùng có sử dụng internet trong độ tuổi từ

18 đến 35 Phương pháp thu thập dữ liệu được sử dụng chủ yếu là phỏng vấn trực tiếp và phỏng vấn qua thư điện tử Số lượng bản câu hỏi phát ra là 370, trong đó có 300 bản giấy

và 70 bản điện tử Số lượng bản câu hỏi thu về hợp lệ là 300 Dữ liệu được xử lý và phân tích bằng phần mềm SPSS 16.0 và Amos 18.0

3 Kết quả nghiên cứu

3.1 Hiệu lực hóa thang đo

Thực hiện kiểm định KMO trước khi phân tích nhân tố với kết quả KMO = 0.697 (0.5<KMO<1); tổng phương sai trích được 62.1% Thực hiện phân tích nhân tố cho kết quả trích được 6 nhân tố với 8 items bị loại bỏ

Phân tích khẳng định CFA được thực hiện với 22 thành phần quan sát với 6 nhóm nhân tố trích được từ thực hiện EFA cho thấy trọng số chuẩn hóa của các chỉ báo đều

>0.5 và có ý nghĩa (p<0.05) Tính hiệu lực hội tụ của mô hình được đảm bảo khi phương sai trích trung bình AVE (Average Variance Extract) > = 0.5 (Bảng 1) Độ tin cậy Cronbach alpha đều gần bằng hoặc lớn hơn 0.8, được xem là tốt Độ tin cậy tổng hợp CR (Composite Reability)>0.6, lớn hơn 0.8 là tốt Tính hiệu lực phân biệt thỏa mãn vì AVE của bất kì tiêu thức nào đều lớn hơn tương quan giữa tiêu thức đó với các tiêu thức khác

đo lường cùng một khái niệm Tính phù hợp của mô hình với dữ liệu thực tế được xem xét bởi chỉ số GFI (Goodness-fit-index) = 0.900 > 09, CFI (Comparative Fit Index) = 0.908 > 0.9, RMSEA (Root mean square error of approximation) = 0.059 < 0.08 đạt yêu cầu Kiểm định Chisquare có ý nghĩa ở mức < 0.1

Trang 23

TRƯỜNG CAO ĐẲNG THƯƠNG MẠI| 45 Dũng Sĩ Thanh Khê - TP Đà Nẵng 23

Bảng 1: Hiệu lực hóa thang đo

chuẩn hóa

Rủi ro

bảo mật

Thông tin cá nhân của người mua hàng không được bảo mật 0.571

Thông tin yêu cầu của người mua có thể bị sai lệch hoặc thất lạc 0.968

Số tài khoản của người mua có thể không an toàn 0.510

α = 0.776.; CR = 0.788; AVE =0.50

Rủi ro

chức

năng

Tôi lo ngại chất liệu không đúng như cửa hàng trực tuyến

Tôi không thể đánh giá, kiểm định chất lượng quần áo trên

internet khi mua

0.611

Màu sắc, phong cách, kiểu dáng là một vấn đề lớn khi mua

quần áo trên internet vì hình ảnh trên màn hình vi tính và

Tôi cảm thấy bất an khi mua quần áo trên internet 0.627

Tôi cảm thấy thất vọng khi sản phẩm đáp ứng không như mong đợi 0.659

Tôi lo ngại mình sẽ hối tiếc khi thực hiện việc mua hàng

Tôi không tin tưởng cửa hàng trực tuyến 0.775

α = 0.718; CR = 0.723; AVE = 0.50

Rủi ro

thời

gian

Tôi mất nhiều thời gian để tìm kiếm trang web phù hợp 0.664

Tôi sẽ mất thời gian chờ đợi sản phẩm chuyển đến 0.739

Tôi mất nhiều thời gian để lựa chọn sản phẩm và chờ đợi

hình ảnh trên website được tải xuống

Tôi nghĩ việc mua hàng quần áo trên internet là thể hiện đẳng

cấp, lối sống hiện đại nhưng tôi lo ngại bạn bè và đồng

nghiệp sẽ không nghĩ như vậy

0.504

Trang 24

TRƯỜNG CAO ĐẲNG THƯƠNG MẠI| 45 Dũng Sĩ Thanh Khê - TP Đà Nẵng 24

α = 0.835; CR = 0.842; AVE = 0.64

Rủi ro

tài

chính

Tôi lo ngại số tài khoản tín dụng có thể không an toàn 0.761

Tôi sẽ tốn kém thêm chi phí vận chuyển và chi phí khác khi

mua trên internet

0.961

Tôi có thể bị mất tiền khi sản phẩm đặt mua không chuyển

tới

0.685

α: Cronbach alpha; CR: Độ tin cậy tổng hợp; AVE: Tổng phương sai trích

3.2 Kiểm định mô hình nghiên cứu

Phân tích SEM (Structural Equation Modeling) cho thấy tính phù hợp với dữ liệu thực tế hay chất lượng của mô hình đạt mức khá với GFI=0.900 >0.9, CFI=0.908>0.9, TLI = 0.889<0.9, RMSEA=0.059 <0.08 Kiểm định Chisquare có ý nghĩa ở mức<0.1 Với kết quả trên cho thấy mô hình có TLI chưa đạt yêu cầu, ta tiến hành điều chỉnh

mô hình bằng cách làm cho Chisquare càng nhỏ càng tốt thông qua nối các cặp sai số có

MI lớn hơn 10 Phân tích nhân tố khẳng định được thực hiện lại sau khi đã điều chỉnh mối quan hệ giữa các cặp sai số (e10<->e8, e11<->e9) Kết quả cho thấy TLI = 0.920 (> 0.9), CFI = 0.934 (> 0.9), GFI = 0.914>0.9 và RMSEA = 0.05(< 0.08) Do đó, mô hình này phù hợp với dữ liệu thị trường

Khái niệm rủi ro chức năng (P=0.00<0.1) có ảnh hưởng tiêu cực và mạnh nhất (trọng

số là -0.431) đến ý định mua quần áo trực tuyến Điều này được lý giải rằng trong bối cảnh mua trực tuyến NTD không được mặc thử và khó đánh giá các đặc tính vật lý như chất liệu, màu sắc và kích cỡ Tiếp đến, chi phí cho việc mua sản phẩm là điều mà NTD thường quan tâm, đặc biệt trong bối cảnh mua trực tuyến, NTD thanh toán trước và nhận hàng sau đó từ 7 đến 10 ngày Do đó, rủi ro tài chính có ảnh hưởng tiêu cực đến ý định mua trực tuyến (P= 0.00<0.1, trọng số là -0.277) và ảnh hưởng ít hơn là khái niệm rủi ro tâm lý (P=0.056<0.1; trọng số là -0.124) Các khái niệm rủi ro thời gian (P=0.410>0.1), rủi ro xã hội (P=0.643>0.1), rủi ro bảo mật (P=0.933>0.1) bị loại khỏi mô hình Các khái niệm bị loại khỏi mô hình có thể được lý giải rằng đối tượng nghiên cứu đa phần là sinh viên thuộc thế hệ 9X, trẻ và năng động, thích thể hiện cá tính; khi quyết định mua quần áo trực tuyến họ không cảm thấy bị ảnh hưởng bởi người khác Vì thường xuyên tham gia thảo luận tại các diễn đàn trực tuyến, nên việc cung cấp thông tin cá nhân họ không cảm thấy rủi ro và khi được hỏi về lợi ích đối với việc mua trực tuyến thì đa phần đối tượng đều cho rằng rất thuận tiện và tiết kiệm thời gian Vì vậy, yếu tố thời gian không thể hiện

sự ảnh hưởng trong mối quan hệ với ý định mua trực tuyến

Trang 25

TRƯỜNG CAO ĐẲNG THƯƠNG MẠI| 45 Dũng Sĩ Thanh Khê - TP Đà Nẵng 25

4.2 Một số giải pháp giảm thiểu rủi ro cảm nhận

- Đối với rủi ro chức năng: Trưng bày sản phẩm, cung cấp thông tin đúng với qui

cách của sản phẩm, cam kết đổi trả sản phẩm khi khách hàng mặc không vừa hoặc không ưng ý, không tính phí vận chuyển nếu trả hoặc đổi hàng, thiết lập một số nhà đại diện hoặc cửa hàng offline

- Đối với rủi ro tài chính: Hoàn tiền nếu sản phẩm không đúng với thông tin trên

website, sản phẩm bị lỗi hoặc bị thất thoát khi vận chuyển hoặc vận chuyển không đến đúng địa chỉ, thông tin đầy đủ về điều khoản và hình thức thanh toán trên website, xác nhận phản hồi sau khi hoạt động giao dịch thanh toán thành công

- Đối với rủi ro tâm lý: Tạo dựng uy tín, hình ảnh thương hiệu cho cửa hàng trực

tuyến/doanh nghiệp, giữ liên lạc với khách hàng sau khi thực hiện giao dịch, tạo sự quan tâm và an tâm cho khách hàng, giải quyết các sự cố về giao dịch theo hướng tôn trọng khách hàng để tạo niềm tin nơi khách hàng, cung cấp sự hướng dẫn làm thế nào để sử dụng dịch vụ an toàn nhất

4.3 Hạn chế và hướng nghiên cứu trong tương lai

Nghiên cứu đã chỉ ra được 3 thành phần rủi ro cảm nhận ảnh hưởng đến ý định mua quần áo thời trang trực tuyến của NTD Mặc dầu vẫn còn một số hạn chế như phạm

vi chọn mẫu chỉ tập trung trên một nhóm đối tượng là sinh viên nên tính đại diện của mẫu chưa cao; nghiên cứu tập trung vào nhân tố rủi ro cảm nhận mà chưa quan tâm đến các yếu tố ngoại lai khác như nghề nghiệp, giới tính, kinh nghiệm sử dụng internet… Trong tương lai có thể thực hiện nghiên cứu với phạm vi rộng hơn, mở rộng biến số của mô hình

và so sánh sự khác biệt về mức độ rủi ro cảm nhận giữa các nhóm giới tính, nghề nghiệp

và kinh nghiệm sử dụng internet

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Anjali Dabhade (2008), “Antecedents of older consumers’ internet shopping for apparel products: Perceived risk and benefits and shopping orientation”;

[2] Dr Suresh, A.M and Shashikala (2011), “Identifying Factors of Consumer Perceived Risk towards Online Shopping in India”;

[3] Fan Lan (2007), “The University of Sheffield, The Influence of perceived risk on customer behaviour in purchasing high-price product online”;

[4] Forthsy; Chuanlan Liu; David Shannon and Liu Chun Gardner, “Development of a scale to measure the perceived benefits and risks of online shopping”, Journal Interactive

Trang 26

TRƯỜNG CAO ĐẲNG THƯƠNG MẠI| 45 Dũng Sĩ Thanh Khê - TP Đà Nẵng 26

GIẢI THÍCH MỘT SỐ THUẬT NGỮ THƯỜNG GẶP

TRONG KẾ TOÁN QUỐC TẾ

ThS Nguyễn Thị Thu Đến

GV Khoa Kế toán – Kiểm toán

ngoài xu hướng đó, chuẩn mực kế toán Việt Nam cũng đang từng bước hội nhập với chuẩn mực

kế toán quốc tế; do vậy, việc tìm hiểu những vấn đề cơ bản về kế toán quốc tế ngày càng được nhiều người học kế toán quan tâm Để đọc hiểu được những văn bản về kế toán quốc tế như chuẩn mực, bài báo hay những báo cáo tài chính được thể hiện dưới ngôn ngữ quốc tế thì nhớ và hiểu những thuật ngữ thường gặp là yêu cầu thiết yếu Nội dung của bài báo này tập trung vào việc giải thích ngữ nghĩa những cụm từ tiếng Anh thường gặp trong lĩnh vực kế toán tài chính quốc tế nhằm hỗ trợ người học trong việc tìm hiểu và làm việc

1 Các từ và cụm từ thường gặp

1 Auditors Ban kiểm soát Là một nhóm các kiểm toán viên thuộc nội bộ doanh

nghiệp nhưng có quyền hạn độc lập, chỉ chịu sự chỉ đạo trực tiếp của hội đồng quản trị; thực hiện chức năng kiểm tra kế toán trong doanh nghiệp

2 Significant

Influence

Quyền ảnh hưởng đáng kể

Quyền có khả năng tác động đến các quyết định kinh doanh, tài chính của một doanh nghiệp

3 Installment Sales Bán trả góp Phương thức bán cho thanh toán nhiều lần và có trả lãi

5 Financial Statement Báo cáo tài chính Hệ thống các báo cáo về tình hình tài chính của

Property Bất động sản đầu tư Tài sản được sử dụng cho hoạt động cho thuê hoặc đang chờ để bán

10 Venturer Bên góp vốn liên

doanh Đối tác kinh doanh cùng góp vốn để thực hiện một hoạt động kinh doanh nào đó

11 Accounting Entry Bút toán/ Định

12 Single Entry Bút toán ghi đơn Là cách thức trình bày một nghiệp vụ kinh kế

phát sinh theo cách ghi vào bên Nợ của một hay bên Có của một tài khoản

Trang 27

TRƯỜNG CAO ĐẲNG THƯƠNG MẠI| 45 Dũng Sĩ Thanh Khê - TP Đà Nẵng 27

13 Double Entry Bút toán ghi kép Là cách thức trình bày một nghiệp vụ kinh kế

phát sinh theo quan hệ đối ứng Nợ - Có

14 Transaction Nghiệp vụ kinh tế Sự kiện kinh tế diễn ra ở doanh nghiệp

15 Offsetting Bù trừ Đối với nguyên tắc bù trừ yêu cầu tài sản và công

nợ, doanh thu và chi phí không được phù trừ lẫn nhau khi trình bày trên báo cáo tài chính

16 Stockholders Cổ đông Người sở hữu cổ phiếu của công ty cổ phần

17 Share Cổ phiếu Giấy ghi nhận quyền sở hữu một phần của công

ty cổ phần

18 Ordinary Share/

Common Stock

Cổ phiếu phổ thông Cổ phiếu không có những quyền ưu tiên như ưu

tiên về việc trả cổ tức,… như ở cổ phiếu ưu đãi

Chênh lệch do việc thay đổi tỷ giá trên thị trường

21 Current/Short-term

Asset

Tài sản ngắn hạn Tài sản có tốc độ lưu chuyển trong một niên độ

kế toán ở doanh nghiệp

22 Non-current/

Long-term Asset Tài sản dài hạn Tài sản có tốc độ lưu chuyển kéo dài hơn một niên độ kế toán ở doanh nghiệp

23 Factory Overhead Chi phí sản xuất

chung Các chi phí sử dụng cho phân xưởng sản xuất mà không phải là chi phí nguyên vật liệu trực tiếp và

chi phí nhân công trực tiếp như chi phí về nhiên liệu, chi phí khấu hao…

24 Direct Materials Chi phí nguyên vật

Policies Chính sách kế toán Là những nguyên tắc, phương pháp kế toán mà doanh nghiệp áp dụng trong việc hạch toán kế

toán và lập, trình bày báo cáo tài chính

27 Accrual Basis Cơ sở dồn tích Là nguyên tắc kế toán mà theo nguyên tắc này

việc ghi nhận nghiệp vụ kinh tế phát sinh căn cứ thời điểm phát sinh chứ không phải việc thu hay chi tiền thực tế

28 Joint-stock Company/

Corporation

Công ty cổ phần Loại hình doanh nghiệp có vốn điều lệ được chi

thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần

29 Subsidiary/ Branch Công ty con/ chi

nhánh

Công ty chịu sự kiểm soát của một công ty khác gọi là công ty mẹ

30 Cost/ Expense Chi phí Là những khoản mà doanh nghiệp tiêu dùng cho

hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

31 Interest Expense Chi phí lãi vay Chi phí về lãi suất phải trả khi vay ngân hàng hay

tổ chức tín dụng

32 Accrued Expenses Chi phí phải trả Là số tiền chi phí mà doanh nghiệp phải chi trả

trong tương lai

Trang 28

TRƯỜNG CAO ĐẲNG THƯƠNG MẠI| 45 Dũng Sĩ Thanh Khê - TP Đà Nẵng 28

35 Fixed Cost Chi phí cố định Theo kế toán quản trị, chi phí cố định là những

khoản chi phí không thay đổi khi khối lượng sản xuất thay đổi

36 Fixed Asset Tài sản cố định Tài sản dài hạn có giá trị lớn hơn hoặc bằng 10

triệu và thời gian sử dụng ước tính trên 1 năm

Là giá trị ban đầu doanh nghiệp bỏ ra khi hình thành các tài sản cố định hữu hình này

38 Creditors Khoản phải thu Là một loại tài sản của công ty tính dựa trên tất

cả các khoản nợ, các giao dịch chưa thanh toán hoặc bất cứ nghĩa vụ tiền tệ nào mà các con nợ hay khách hàng chưa thanh toán cho công ty Phải thu được kế toán của công ty ghi lại và phản ánh trên bảng cân đối kế toán, bao gồm tất cả các khoản nợ công ty chưa đòi được, tính cả các khoản nợ chưa đến hạn thanh toán

39 Liabities/ Payment

Account

Nợ phải trả/ Khoản phải trả

Khoản mà doanh nghiệp cam kết phải thanh toán

40 Inventory Hàng tồn kho Là những tài sản ngắn hạn bao gồm hàng mua đi

đường, nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ, chi phí sản xuất kinh doanh dở dang, thành phẩm, hàng hóa, hàng gửi đi bán và hàng hóa ở kho bảo thuế

41 Owner’s Equity Vốn chủ sở hữu Khoản mà doanh nghiệp không có cam kết thanh

44 Net Profit after Tax Lợi nhuận sau thuế Lợi nhuận sau khi đã trừ đi tất cả các chi phí có

liên quan bao gồm cả chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp

45 Gross Profit Lãi gộp Là số tiền doanh thu thuần từ hoạt động bán hàng

và cung cấp dịch vụ sau khi trừ đi giá vốn hàng bán

46 Income from

Operation

Lãi từ hoạt động kinh doanh

Là khoản lãi sinh ra từ hoạt động kinh doanh chính của doanh nghiệp

47 Cash Tiền mặt Tiền mặt tại quỹ, gửi tại tài khoản ngân hàng và

tiền đang chuyển

48 Historical Cost Giá gốc Giá trị ghi sổ tại thời điểm phát sinh nghiệp vụ

liên quan đến tài sản

49 Amortize Khấu hao Là hoạt động ước tính chi phí mà tài sản cố định

bị giảm dần giá trị trong quá trình sử dụng

50 Depreciable Cost Chi phí khấu hao Chi phí được ước tính cho sự hao mòn tài sản cho

việc sử dụng

51 Accumulated

Depreciable Hao mòn lũy kế Chi phí khấu hao tài sản cố định

52 Intangible Asset Tài sản cố định vô

hình

Tài sản dài hạn không có hình thái vật chất cụ thể như phần mềm, quyền phát minh sáng chế…

Ngày đăng: 06/01/2016, 18:21

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1: Mô hình nghiên cứu đề xuất - BÀN VỀ “CON NGƯỜI LÝ TƯỞNG” TRONG GIÁO DỤC CỦA NHO GIÁO
Hình 1 Mô hình nghiên cứu đề xuất (Trang 21)
Bảng 1: Hiệu lực hóa thang đo - BÀN VỀ “CON NGƯỜI LÝ TƯỞNG” TRONG GIÁO DỤC CỦA NHO GIÁO
Bảng 1 Hiệu lực hóa thang đo (Trang 23)
BẢNG CÂN ĐỐI KẾ TOÁN - BÀN VỀ “CON NGƯỜI LÝ TƯỞNG” TRONG GIÁO DỤC CỦA NHO GIÁO
BẢNG CÂN ĐỐI KẾ TOÁN (Trang 31)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w