1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác đầu tư xây dựng cơ bản ở tỉnh gia lai

56 300 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 56
Dung lượng 1,8 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu đầu tư Xây dựng cơ bản ở tỉnh Gia Lai Quan điêm đầu tư Đầu tư đảm bảo phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế- xã hội, qui hoạchphát triển ngành, lĩnh vực, đáp ứng các yêu cầu

Trang 1

Tiếng Việt

MỤC LỤC DANH MỤC CÁC CHỮ VIÉT TẮT

LỜI MỞ ĐẦU CHƯƠNG I: THựC TRẠNG VỀ ĐẰU TƯ XÂY DỤNG co BẢN Ở TỈNH GIA

LAI NHỮNG NĂM VỪẨ QUA (2006 -2010) 4

I Khái niệm và đặc điểm của đầu tư Xây dựng cơ bản 4

1 Khải niệm 4

2 Đặc điếm của đầu tư Xây dựng cơ bản 5

II Đặc điếm tự nhiên, kinh tế - xã hội và mục tiêu đầu tư Xây dựng CO’ bản ở tỉnh Gia Lai trong giai đoạn 2006 - 2010 6

1 Đặc điếm tự nhiên 6

2 Tinh hình kinh tế - xã hội giai đoạn 2006 -2009 7

3 Mục tiêu đầu tư Xây dựng cơ bản ở tỉnh Gia Lai 11

3.1 Mục tiêu 11

3.2 Quan điêm đâu tư 11

III Thực trạng đầu tư Xây dựng CO’ bản ở tỉnh Gia Lai trong những năm qua ( 2006 - 2010). 7.77 7 7 12

1 Tinh hình về vốn và nguồn vốn đầu tư cho xây dựng cơ bản ở Gia Lai giai đoạn 2006 -2010 7.7 12

2 Cơ cẩu nguồn vốn theo nội dung đầu tư xây dựng cơ bản 17

3 Cơ cấu đầu tư Xây dựng cơ bản theo ngành ở tỉnh Gia Laigiai đoạn 2006-2010 7 * 22

4 Đánh giá tình hình đầu tư Xây dựng cơ bản ở tỉnh Gia Lai những năm qua( 2006-2009) 7.7. 32

4.1 Tình hình công tác quản lý hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản tại địa bàn tỉnh Gia Lai 33

4.2 Những kết quả đạt được 2006 - 2009 36

4.2.1 Phát triển giao thông 36

4.2.2 Phát triển hạ tầng nông lâm nghiệp - thủy lợi 38

4.2.3 Phát triển lưới điện 40

4.2.4 Phát triển thông tin liên lạc 41

4.2.5 Phát triển mạng lưới thương mại - dịch vụ du lịchvà hạ tầng đô thỊ43 4.2.6 Phát triển hạ tầng các cụm khu công nghiệp 46

4.2.7 Phát triển các lĩnh vực xã hội: 47

4.3 Những hạn chế và nguyên nhân của hạn chế trong quá trình thực hiện đầu tư xây dựng cơ bản ở tỉnh Gia Lai 2006-2009 52

4.3.1 Những hạn chế còn tồn tại: 52

4.3.2 Nguyên nhân những hạn chế trong công tác đầu tư Xây dựng cơ bản 7 7 7 7 56

CHƯƠNG III: MỘT SÓ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC ĐẦU TU XÂY DựNG Cơ BẢN Ở TỈNH GIA LAI 7 .59

I Dự báo về tình hình kinh tế và phưo ng hưóng phát triển kinh tế - xã hội của Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS Đinh Đào Anh Thủy 2 Mục tiêu phát tríến kỉnh tế - xã hội của tỉnh Gia Lai đến năm 2020 61

3 Định hướng đầu tư phát triển các kết cấu hạ tầng trọng điếm 63

3.1 Phát triền hạ tầng công nghiệp 63

3.2 Phát triến giao thông 65

3.3 Phát triến hạ tầng nông lâm nghiệp-Thủy lợi 68

3.4 Phát triền lưới điện 70

3.5 Phát triền thông tin liên lạc 71

3.6 Phát triến thương mại - dịch vụ du lịch 73

3.7 Phát triến hạ tầng đô thị 76

3.8 Phát triền các lĩnh vực xã hội: 79

II Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác đầu tư xây dụng CO’ bản ở tỉnh Gia Lai 83

1 Qui hoạch đầu tư theo ngành, địa phương nằm trong qui hoạch tống thế phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh 84

2 Đối mới công tác kế hoạch hóa và chủ trương đầu tư của các dự án 85

3 Nâng cao hiệu quả quản lý của nhà nước, chống thất thoát lãng phí vốn đầu tư Xây dựng cơ bản 86

4 Nâng cao chất lượng của ban quản lý công trình 87

5 Đào tạo và đào tạo lại nguồn nhân lực phục vụ cho công tác đầu tư xây dựng cơ bản 90

6 Nâng cao chất lượng thấm định dự án đầu tư và chất lượng cấp giấy phép đầu tư 90

7 Một so kiến nghị 91

KẾT LUẬN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tiếng Anh:

Trang 2

- GNP:

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài:

2 Mục tiêu nghiên cứu:

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

4 Phương pháp nghiên cửu:

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài:

6 Ket cấu chuyên đề:

Ngoài phần Mở đầu và kết luận, chuyên đề gồm 2 chương như sau:

- Chưong I: Thực trạng về đầu tư xây dựng cơ bản ở tỉnh Gia Lai những

năm vừa qua ( 2006-2010 )

- Chưong II: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác đầu tư xây dựng cơ

CHƯƠNG I: THỤC TRẠNG VÈ ĐẦU TU XÂY DỤNG co BẢN Ở TỈNH

GIA LAI NHỮNG NĂM VỪA QUA (2006 -2010)

I Khái niệm và đặc điếm của đầu tư Xây dựng cơ bản.

1 Khái niệm

Đầu tư là sự bỏ ra, sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại (tiền, của cải, côngnghệ, đội ngũ lao động , trí tuệ, bí quyết công nghệ, ), để tiến hành một hoạtđộng nào đó ở hiện tại, nhằm đạt kết quả lớn hơn trong tương lai

Xây dựng cơ bản và đầu tư Xây dựng cơ bản là những hoạt động với chức

Trang 3

trình phát triển kinh tế - xã hội của nền kinh tế nói chung và của các cơ sở sản xuấtkinh doanh nói riêng Đầu tư Xây dựng cơ bản là hoạt động chủ yếu tạo ra tài sản

cố định đưa vào hoạt động trong lĩnh vực kinh tế - xã hội , nhằm thu được lợi íchvới nhiều hình thức khác nhau Đầu tư Xây dựng cơ bản trong nền kinh tế quốcdân được thông qua nhiều hình thức xây dựng mới, cải tạo, mở rộng, hiện đại hoáhay khôi phục tài sản cố định cho nền kinh tế

Xây dựng cơ bản là hoạt động cụ thể tạo ra các tài sản cổ định ( khảo sát,thiết kế, xây dựng, lắp đặt máy móc thiết bị) kết quả của các hoạt động Xây dựng

cơ bản là các tài sản cố định, với năng lực sản xuất phục vụ nhất định

2 Đặc điếm của đầu tư Xây dựng cơ bản.

Hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản là một bộ phận của đầu tư phát triển dovậy nó cũng mang những đặc điểm của đầu tư phát triển :

- Đòi hỏi vốn lớn, ứ đọng trong thời gian dài

Hoạt động đầu tư Xây dựng cơ bản đòi hỏi một số lượng vốn lao động, vật

tư lớn Nguồn vốn này nằm khê đọng trong suốt quá trình đầu tư Vì vậy trong quátrình đầu tư chúng ta phải có kế hoạch huy động và sử dụng nguồn vốn một cáchhợp lý đồng thời có kế hoạch phân bổ nguồn lao động, vật tư thiết bị phù hợp đảmbảo cho công trình hoàn thành trong thời gian ngắn chồng lãng phí nguồn lực

- Thời gian dài với nhiều biến động

Thời gian tiến hành một công cuộc đầu tư cho đến khi thành quả của nóphát huy tác dụng thường đòi hỏi nhiều năm tháng với nhiều biến động xảy ra

- Có giá trị sử dụng lâu dài

Các thành quả của thành quả đầu tư xây dựng cơ bản có giá trị sử dụng lâudài, có khi hàng trăm, hàng nghìn năm, thậm chí tồn tại vĩnh viễn như các côngtrình nối tiếng thế giới như vườn Babylon ở Iraq, tượng nữ thần tự do ở Mỹ , kim

tụ tháp cổ Ai cập, nhà thờ La Mã ở Roma, vạn lý trường thành ở Trung Quốc, thápAngcovat ở Campuchia,

Trang 4

có điều kiện thuận lợi, đế khai thác lợi thế so sánh của vùng, quốc gia, đồng thờiphải đảm bảo được sự phát triển cân đổi của vùng lãnh thổ

- Liên quan đến nhiều ngành

Hoạt động đầu tư Xây dựng cơ bản rất phức tạp liên quan đến nhiều ngành,nhiều lĩnh vực Diễn ra không những ở phạm vi một địa phương mà còn nhiều địaphương với nhau Vì vậy khi tiến hanh hoạt động này, cần phải có sự liên kết chặtchẽ giữa các ngành, các cấp trong quản lý quá trình đầu tư, bên cạnh đó phải quiđịnh rõ phạm vi trách nhiệm của các chủ thể tham gia đầu tư, tuy nhiên vẫn phảiđảm bảo được tính tập trung dân chủ trong quá trình thực hiện đầu tư

II Đặc điếm tự nhiên, kinh tế - xã hội và mục tiêu đầu tư Xây dựng cơ bản ở tỉnh Gia Lai trong giai đoạn 2006 - 2010.

/ Đặc điếm tự nhiên

Gia Lai là tỉnh miền núi, biên giới nằm ở phía Bắc vùng Tây Nguyên, códiện tích tự nhiên 15.536,9 km2 (theo Quyết định số 272/ỌĐ-TTg ngày 27/2/2007của Thủ tướng Chính phủ) Tiếp giáp theo địa giới hành chính bao gồm:

Phía Bắc giáp tỉnh Kon Tum; Phía Đông giáp tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định

và Phú Yên; Phía Nam giáp tỉnh ĐắkLăk; Phía Tây giáp Campuchia

Có 34 dân tộc anh em sinh sống, trong đó dân tộc Kinh chiếm gần 55,2%.Dân tộc thiểu số chiếm 44,8% trong đó dân tộc Jrai 30,3%, dân tộc Bahnar chiếm12,4% Dân số năm 2007 là 1.187,8 ngàn người, ước năm 2008 là 1.213,7 ngànngười

Gia Lai có 16 đơn vị hành chính bao gồm: Thành phố Pleiku, thị xã AnKhê, thị xã Ayun Pa, các huyện: Kbang, Đăk Đoa, Chư Păh, la Grai, Mang Yang,Kông Chro, Đức Cơ, Chư Prông, Chư Sê, Đăk Pơ, la Pa, Phú Thiện và huyệnKrông Pa

Trong đó Thành phố Pleiku là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa vàthương mại của tỉnh, nơi hội tụ của 2 quốc lộ chiến lược của vùng Tây Nguyên làquốc lộ 14 theo hướng Bắc Nam và quốc lộ 19 theo hướng Đông Tây, là điều kiệnthuận lợi đế giao lưu phát triển kinh tế - xã hội với vùng Duyên Hải Nam Trung

Bộ, cả nước và quốc tế

Trang 5

Gia Lai có 90 km đường biên giới chung với Campuchia, có cửa khẩu quốc

tế Lệ Thanh, đây là điều kiện thuận lợi đế phát triển kinh tế trong điều kiện hộinhập kinh tế quốc tế hiện nay

Gia Lai là đầu nguồn của nhiều hệ thống sông chảy xuống vùng Duyên Hải

và lưu vực sông Mê Kông nên có vị trí quan trọng trong việc cân bằng môi trườngsinh thái, không chỉ của Gia Lai mà còn của các tỉnh Duyên Hải Nam Trung Bộ vàkhu vực

Mặt khác đây còn là nơi có vị trí thuận lợi nhất cho việc phát triển trụcđường bộ và đường sắt nối Duyên Hải miền Trung với Tây Nguyên

Tỉnh có vị trí khá thuận lợi về giao thông, với 3 trục quốc lộ: quốc lộ 14nối Gia Lai với các tỉnh Quảng Nam, Đà Nằng với Tây Nguyên với Tp Hồ ChíMinh, Đông Nam Bộ vùng Đồng bằng sông Cửu Long (từ Pleiku đến Buôn MêThuột tỉnh ĐăkLăk khoảng 200 km), quốc lộ 19 nối tỉnh với cảng Quy Nhơn(khoảng cách từ Pleiku khoảng 180 km) và Campuchia (cửa khẩu quốc tế LệThanh), quốc lộ 25 nối Gia Lai với tỉnh Phú Yên và Duyên Hải Miền Trung.Ngoài ra còn có sân bay Pleiku nối liền với mạng lưới đường hàng không cả nước

Gia Lai là tỉnh thuộc Tam giác phát triển khu vục biên giới ba nước ViệtNam, Lào và Campuchia, được hình thành vào năm 1999 bao gồm 10 tỉnh thuộckhu vực biên giới chung giữa 3 nước là Stung Treng, Rattanakiri, Mondulkiri(Campuchia), Sekong, Attapư, Saravan (Lào) và Kon Tum, Gia Lai, Đăk Lăk, ĐăkNông (Việt Nam) Khu vực Tam giác phát triển có diện tích tự nhiên 111.021 km2,dân số gần 4,3 triệu người Gia Lai nằm ở vị trí trung tâm của khu vực, là cửa ngõ đi

ra biển của phần lớn các tỉnh trong khu vực, nên đây là điều kiện để cùng các tỉnhbạn đẩy mạnh hợp tác phát triển và phát huy các lợi thế vốn có của mình nhằm tăngnăng lực sản xuất và hạ tầng kinh tế - xã hội, nâng cao năng lực cạnh tranh của nềnkinh tế tạo điều kiện cho các vùng và hệ thống đô thị hình thành và phát triển, đầu

tư có trọng điểm tạo khâu đột phá để thúc đẩy nền kinh tế phát triển đúng hướng,tạo thế Gia Lai trở thành vùng kinh tế động lực trong khu vực thúc đẩy các tỉnhkhác trong vùng cùng phát triển

2 Tình hình kinh tế - xã hội giai đoạn 2006 -2009.

Tăng trưởng kinh tế cao và được duy trì trong nhiều năm đã đưa quy môGDP (tính theo giá hiện hành) của tỉnh lên gấp 5,52 lần sau 9 năm, từ 2.905 tỷ đồngnăm 2000 lên 16030 tỷ đồng năm 2009 Trong đó, khu vực I đạt hơn 8.228 tỷ, khu

vực II đạt 5.180 tỷ và khu vực III đạt 5.330 tỷ Như vậy quy mô năm 2010 gấp

6,45 lần năm 2000 và gấp 3,21 lần năm 2005

Quy mô nền kinh tế tỉnh tăng nhanh đã nâng dần tỷ trọng GDP của tỉnh sovới cả nước từ 0,724% năm 2004 lên 0,730% năm 2006 và 0,761% vào năm 2007(theo Bộ Ke hoạch và Đầu tư, 2008) Gia Lai vẫn đang đứng ở vị trí khá khiêm tốntrong tổng thể kinh tế Việt Nam với GDP chiếm chưa đầy 1% GDP cả nước

Bảng 1.1: GDP (Theo giá hiện hành)

Đơn vị: tỷ đồng

Trang 6

Gia Lai 5,14 7,766 10,524 12,933 14,806

Nguồn:Bộ Ke hoạch và Đầu tư

2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 Tổng GDP 100.0 100.0 100.0 100.0 100.0 100.0 100.0 100.0 100.0 100.0100.0

Nguồn: Niên giám thống kê 2008 tĩnh Gia Lai và tính toán.

ĐÔ mỉ thái tăng trưởng kinh tế

Thời kỳ 2001-2007, tăng trưởng kinh tế của tỉnh năm sau luôn cao hơn nămtrước và đạt thấp nhất là 7,9% năm 2001, cao nhất là 13,6% năm 2007 Ngoại trừnăm 2001 khu vực công nghiệp và xây dựng tăng trưởng âm (-1,0%), năm 2002 đạt16,5% còn lại từ các năm 2003-2007 tăng trưởng của ngành luôn đạt ở mức cao,trên 20% liên tục trong 5 năm; tăng trưởng của ngành công nghiệp trong thời gianqua chủ yếu từ công nghiệp năng lượng (sản xuất điện) và công nghiệp chế biếnnông - lâm nghiệp Khu vực dịch vụ có tốc độ tăng trên 10% và luôn cao hơn mức

trường, việc hình thành các vùng sản xuất tập trung cây công nghiệp và lúa nước 2

vụ được mở rộng, một số cây trồng kém hiệu quả đã được chuyển sang các loại cógiá trị kinh tế cao hơn; công tác khuyến nông được chú trọng; tiến bộ khoa học kỹthuật đã được ứng dụng ngày càng nhiều và phù hợp

Bảng 1.2: Hình Động thái tăng trưởng kinh tế 2002-2010

+ Đóng góp vào tăng trưởng kinh tếThời kỳ 2001-2005, khu vực I đóng góp cao nhất vào tăng trưởng kinh

tế của tỉnh (đóng góp 41%), kế đến là khu vực III (30,5%) và sau cùng là khuvực II (28,5%) Do khu vực II duy trì được mức tăng trưởng cao, ước thời kỳ2006-2010 có thay đối đáng kể trong đóng góp của các khu vực vào tăngtrưởng kinh tế của tỉnh Thời kỳ 2006-2010, khu vực II đóng góp cao nhất vàotăng trưởng kinh tế của tỉnh (đóng góp 44,7%), kế đến là khu vực III (31,7%)

và sau cùng là khu vực I (23,6%)

tính theo giá hiện hành, năm 2005 GDP/người của Gia Lai đạt 5,14 triệu đồngbằng 50,4% của cả nước, năm 2007 GDP/người của Gia Lai đạt 7,766 triệu đồngbằng 57,6% của cả nước, năm 2008 đạt 10,5 triệu đồng bằng 60,8%; năm 2009 đạt12,9 triệu đồng bằng 62,5% và kế hoạch năm 2010 đạt 14,8 triệu đồng bằng 76,8%của cả nước Kinh tế có bước tiến đáng kể, song GDP/người của Gia Lai vẫn đang

ở mức thấp hơn so với bình quân chung của vùng Tây Nguyên, bằng 88,7% năm2007; 94,2% năm 2008 và 95,9% năm 2009

Bảng 1.3: GDP/người Gia Lai so vói vùng Tây Nguyên, cả nước

(theo giá hiện hành)

Đơn vị tính: Triệu đồng, %

Cơ cấu kinh tế ngành chuyến dịch theo hướng tích cực, giảm nhanh tỷ trọngnông - lâm - thủy đồng thời tăng dần ngành công nghiệp - xây dựng và dịch vụ Tỷtrọng khu vục I giảm 10,6 điếm phần trăm từ 57,8% năm 2000 xuống 47,2% năm

2007, trung bình hàng năm giảm 1,52 điếm phần trăm; khu vục II tăng 8,1 điếmphần trăm và đạt 26% tống GDP của nền kinh tế năm 2007; khu vục III tăng tù'24,3% năm 2000 lên 26,8% năm 2007 Dự báo đến năm 2010, tỷ trọng khu vực Itrong cơ cấu GDP giảm còn 43,9%; khu vục II tăng lên 27,7% và khu vục III tănglên 28,4%

Nguồn: Niên giảm thống kê 2008 tình Gia Lai và tính toán

3 Mục tiêu đầu tư Xây dựng cơ bản ở tỉnh Gia Lai

Quan điêm đầu tư

Đầu tư đảm bảo phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế- xã hội, qui hoạchphát triển ngành, lĩnh vực, đáp ứng các yêu cầu trước mắt cũng như lâu dài, có tácdụng thúc đẩy sản xuất phát triển

Đầu tư phải có trọng tâm trọng điếm, tạo được sự bứt phá trong việc thu hútcác nguồn vốn khác để khai thác tiềm năng, thế mạnh của tỉnh, đẩy nhanh tốc độphát triển kinh tế - xã hội

Chương trình chỉ tập trung đầu tư cho các công trình trọng điểm thuộc cáclĩnh vực sau:

> Giao thông: Đầu tư các tuyến quốc lộ, tỉnh lộ và huyện lộ Phát huy tối đalợi thế về vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên của tỉnh, đế phát triển hệ thống giaothông hợp lý nhằm giảm thiểu chi phí vận tải, tiết kiệm chi phí xã hội Pháttriển giao thông một cách đồng bộ, họp lý, từng bước đi vào hiện đại, tạonên mạng lưới hoàn chỉnh, liên hoàn, liên kết giữa các phương thức vận tải,giữa các vùng, giữa đô thị và nông thôn trên phạm vi tỉnh đồng thời gắn với

Trang 7

Tơnư vốn đầu tu’ 2.005.620 2.377.635 2.660.780 3.098.270 3.935.584

> Mạng lưới điện: Đầu tư mới đường dây và trạm biến áp 110 KV phục vụcác cụm, khu công nghiệp và thực hiện phát triển chương trình phát triểnlưới điện hạ thế

> Thông tin liên lạc: Mở rộng mạng lưới điện thoại vùng nông thôn, miềnnúi, phát triển các dịch vụ chất lượng cao ở các đô thị, khu công nghiệp

> Mạng lưới thương mại, dịch vụ du lịch: Đầu tư tạo các tuyến du lịch củatỉnh, nâng cấp hệ thống khách sạn, nhà hàng Xây dựng chợ đầu mối ở cáchuyện và trung tâm thương mại Pleiku

> Hạ tầng đô thị: Tập trung đầu tư phát triển hạ tầng thành phố Pleiku, chủyếu là đường giao thông, các điểm vui chơi, quảng trường và các khu đô thịmới

> Hạ tầng các cụm, khu công nghiệp: Hoàn thành giai đoạn hai khu côngnghiệp Trà Đa; đầu tư hạ tầng cụm công nghiệp Tây Pleiku,

> Các lĩnh vực xã hội: Xây dựng trường CĐSP Gia Lai chuẩn bị lên ĐH, xâydựng mới trường Hùng Vương, một số trường THCS tại các huyện; các cơ

sở đào tạo - dạy nghề phục vụ chường trình đào tạo phát triển nguồn nhânlực; thực hiện chương trình kiên cố hóa trường học; đầu tư các cơ sở tuyếntỉnh, huyện và một số công trình văn hóa, thông tin, thế thao cấp tỉnh

III Thực trạng đầu tư Xây dựng cơ bản ở tỉnh Gia Lai trong những năm qua ( 2006 - 2010).

1 Tình hình về von và nguồn von đầu tư cho xây dựng cơ bản ở Gia Lai giai đoạn 2006 -2010.

Vốn đầu tư Xây dựng cơ bản là toàn bộ những chi phí để đạt được mụcđích đầu tư bao gồm chi phí cho việc khảo sát thiết kế và xây dựng, mua sắm, lắpđặt máy móc thiết bị và các chi phí khác được ghi trong tổng dự toán

Vốn đầu tư Xây dựng cơ bản được hình thành từ các nguồn sau :

- Nguồn trong nước: Đây là nguồn vốn có vai trò quyết định tới sự pháttriển kinh tế của đất nước, nguồn này chiếm tỷ trọng lớn, nó bao gồm từ các nguồnsau :

-Vốn ngân sách nhà nước: Gồm ngân sách TW và ngân sách địaphương, được hình thành từ sự tích luỹ của nền kinh tế, vốn khấu hao cơ bản

và một số nguồn khác dành cho đầu tư Xây dựng cơ bản

-Vốn tín dụng đầu tư (do ngân hàng đầu tư phát triến và quĩ hỗ trợ pháttriến quản lý ) gồm: vốn của nhà nước chuyến sang, vốn huy động từ các đơn

vị kinh tế và các tầng lớp dân cư, dưới các hình thức, vốn vay dài hạn của các

tổ chức tài chính tín dụng quốc tế và người Việt Nam ở nước ngoài

-Vốn của các đơn vị sản xuất kinh doanh, dịch vụ thuộc các thành phần

kinh tế khác

- Vốn nước ngoài: Nguồn này có vai trò hết sức quan trọng trong quá trìnhđầu tư Xây dựng cơ bản và sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia Nguồn này baogồm

Vốn viện trợ của các tổ chức quốc tế như WB, ADB, các tố chức chính phủnhư JBIC ( OECF), các tổ chức phi chính phủ ( NGO) Đây là nguồn (ODA )

Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thông qua hình thức 100 % vốn nướcngoài, liên doanh, hợp đồng hợp tác kinh doanh

về huy động vốn, khai thác vốn 4 năm qua (2006-2009) đạt 10.133,305 tỷđồng, bình quân 2533,33 tỷ đồng/ năm và tăng 15,63 %/ năm Dự kiến đến năm

2010 tổng vốn phát triển đầu tư xây dựng cơ bản đạt khoảng 3.935,584 tỷ đồng(tăng 27% so với năm 2009)

Bảng 1.5: Cơ cấu nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản tại Gia Lai

Đơn vị tính: Triệu đồng

Nguồn: Sở kế hoạch và đầu tư Gia Lai

Theo số liệu thu đuợc từ những năm qua, ta thấy tổng vốn đầu tu xây dựng

cơ bản tại Gia Lai rất ốn định và liên tục tăng qua các năm Năm 2006, tống vốnđầu tư xây dựng cơ bản là 2.005,62 tỷ đồng; năm 2007 tăng lên 2.377,635 tỷ đồng(tăng 18,55% so với năm 2006); năm 2008 tăng lên đạt 2.660,78 tỷ đồng (tăng32,67% so với năm 2006, tăng 11,9% so với năm 2007); năm 2009, tổng vốn đầu

tư xây dựng cơ bản đạt 3.098,27 tỷ đồng ( tăng 54,5% so với năm 2006, tăng16,44% so với năm 2008) Do một số biến động về nền kinh tế của khu vục nêncũng ảnh hưởng tới tổng vốn đầu tư xây dựng cơ bản của Gia Lai, tuy vốn đầu tưxây dựng cơ bản có tăng nhưng tăng với tốc độ thấp hơn so với giai đoạn 2006-

2007 Sau đó, đầu tư vào xây dựng cơ bản đã ốn định và tăng dần lên Điều nàycho thấy địa bàn tỉnh Gia Lai, tình hình nền kinh tế ngày càng phát triến dẫn đếnnhu cầu về xây dựng cơ bản tăng lên, nhiều công trình đã được xây dựng bắt đầuphát huy tác dụng và phục vụ một cách có hiệu quả cho chiến lược phát triến kinh

- Các dự án kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, quốc phòng an ninh không cókhả năng thu hồi vốn và được quản lý sử dụng theo phân cấp về chi ngân sách Nhànước cho đầu tư phát triển

- Hỗ trợ các dự án của các doanh nghiệp đầu tư vào các lĩnh vực cần có sựtham gia của Nhà nước theo quy định của pháp luật

- Chi cho công tác điều tra, khảo sát, lập các dự án quy hoạch tống thể pháttriển kinh tế - xã hội vùng, lãnh thổ, quy hoạch xây dựng đô thị và nông thôn khiđược Thủ tướng Chính phủ cho phép

- Các doanh nghiệp Nhà nước được sử dụng vốn khấu hao cơ bản và cáckhoản thu của Nhà nước đế lại đế đầu tư (đầu tư mở rộng, trang bị lại kỹ thuật)

Tống vốn đầu tư XDCB ngân sách nhà nước đầu tư vào tỉnh Gia Lai năm

2006 là 626,5 tỷ đồng, tới năm 2007 tăng lên thành 817,785 tỷ đồng; năm 2008vốn đầu tư XDCB đạt 899,580 tỷ đồng và tới năm 2009 đạt 1.066,07 tỷ đồng.Trong năm 2009, đầu tư XDCB qua tỉnh là 447,24 tỷ đồng ( chiếm 41,95% vốn

Trang 8

ngân sách nhà nước; chiếm 33,1% tổng vốn đầu tư XDCB); ngân sách TW hỗ trợđạt 341,944 tỷ đồng ( chiếm 23,5% tổng vốn đầu tư XDCB).

Hai nguồn vốn khác cũng rất quan trọng là vốn tín dụng và nguồn vốnODA, trong năm 2009 đã đạt tới con số 311 tỷ đồng cao hon rất nhiều so vớinhững năm trước đây (tăng 7,6% so với năm 2008) Đó là dấu hiệu chứng tỏ nềnkinh tế của tỉnh Gia Lai đang ngày càng phát triển đi lên với bước tiến vững chắc

Từ đó cũng cho thấy vai trò quan trọng trong việc định hướng phát triển kinh tế

-xã hội của nhà nước

Nguồn vốn CTMT là nguồn vốn dùng để thực hiện các chương trình, dự ánmục tiêu quốc gia như xóa đói giảm nghèo, vệ sinh nước sạch nông thôn, chămsóc sức khỏe Uỷ ban nhân dân tỉnh quyết định phân bổ nhiệm vụ, kinh phí hỗ trợthực hiện CTMT trên địa bàn tỉnh, giao Uỷ ban nhân dân các huyện, thị xã và đơn

vị, chủ dự án thuộc tỉnh quản lý tố chức thực hiện, do nhu cầu phát triển kinh tế

-xã hội cân bằng nên nhu cầu về nguồn vốn này có xu hướng tăng đều lên qua cácnăm

Vốn tín dụng là nguồn vốn được huy động từ các tổ chức tín dụng và cáckhoản vay từ dân dưới dạng trái phiếu hoặc công trái hoặc vay từ các tố chức quốc

tế đế dành cho đầu tư XDCB Nguồn vốn này tại Gia Lai khá ốn định và ở mứctương đối, lượng vốn tín dụng tăng đều hàng năm

Nguồn vốn đầu tư của khu vực dân cư và tư nhân trong địa bàn là một trongnhững nguồn vốn khá quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh GiaLai Vốn trong dân là nguồn vốn được huy động từ dân cư, phường xã, hợp tác xã.Qua những năm gần đây, nguồn vốn này ngày càng tăng đáng kể vào việc đầu tưphát triển của Gia Lai, năm 2006 lượng vốn đầu tư của khu vực này là 470 tỷđồng, năm 2007 đạt 492,6 tỷ đồng, năm 2008 là 581,2 tỷ đồng và trong năm 2009

là 631 tỷ đồng, tăng vọt so với những năm trước, vốn ở khu vực này ngày càngtăng, chứng tỏ chủ trương toàn dân làm chủ, phát huy tinh thần tự chủ của dân đãđược làm một cách xuất sắc Lượng vốn này đã đóng góp một phần đáng kế đếphát triển kinh tế ở tỉnh Gia Lai Nguồn vốn từ khu vực tư nhân tăng đều lên hàngnăm với tốc độ cao: năm 2006 đạt 470 tỷ đồng, tới năm 2008 tăng lên đạt 581 tỷđồng (tăng 23,6% so với năm 2006); năm 2010 theo kế hoạch khối lượng vốn từ

tư nhân đạt 738 tỷ đồng (tăng 27% so với năm 2008) Tỷ lệ tăng này là tương đốicao so với các nguồn vốn khác, đây là nguồn vốn đầu tư được coi là có lợi nhất

Trang 9

Vốn (Triệu đồng)

(Triệu dồng)

(Triệu đông)

(Triệuđồng)

Vốn(Triệuđồng)

5 Thủy lợi- Nông nghiệp 382.433 237.785 62,17 104.74827,39 39.92610,44

6 Vốn đầu tư cho Y tế-xã

cho nền kinh tế của một đất nước Do đó, các chính sách, kế hoạch cần có nhữnggiải pháp đế phát huy tối đa nguồn lực từ khu vực này

Một nguồn vốn rất quan trọng nữa đó là nguồn vốn đầu tư trực tiếp nướcngoài (FDI), tuy nhiên nguồn vốn này vẫn là một tiềm năng chưa được chú ý tới,

số lượng vốn này dành cho XDCB còn rất khiêm tốn, năm 2008 chỉ đạt 76 tỷđồng, tới năm 2009 tăng lên thành 85 tỷ đồng, số vốn ít và tăng không nhiều, phầnnào cho thấy nền kinh tế tại Gia Lai vẫn chưa tạo được lòng tin đối với các nhàđầu tư và các doanh nghiệp nước ngoài, vốn FDI được cộng vào các nguồn vốnkhác Số dự án FDI đầu tư vào địa bàn tỉnh cũng không đáng kể, tính đến hết năm

2009 chỉ có 5 dự án

2 Cơ cấu nguồn vốn theo nội dung đầu tư xây dựng cơ bản

Nội dung của vốn đầu tư Xây dựng cơ bản bao gồm các khoản chi phí gắnliền với hoạt động đầu tư Xây dựng cơ bản, nội dung này bao gồm :

❖ Vốn cho xây dựng và lắp đặt

- Vốn cho hoạt động chuẩn bị xây dựng và chuẩn bị mặt bằng

- Nhũng chi phí xây dựng công trình, hạng mục công trình, nhà xưởng, vănphòng làm việc, nhà kho, bến bãi,

-Chi phí cho công tác lắp đặt máy móc, trang thiết bị vào công trình vàhạng mục công trình

-Chi phí để hoàn thiện công trình

❖ Vốn mua sắm máy móc thiết bị:

- Đó là toàn bộ các chi phí cho công tác mua sắm và vận chuyến bốc dỡmáy móc thiết bị được lắp vào công trình, vốn mua sắm máy móc thiết bị baogồm được tính bao gồm: giá trị máy móc thiết bị, chi phí vận chuyển, bảo quảnbốc dỡ, gia công, kiểm tra trước khi giao lắp các công cụ, dụng cụ

❖ Vốn kiết thiết cơ bản khác bao gồm :-Chi phí kiến thiết cơ bản được tính vào giá trị công trình như chi phí cho

tư vấn đầu tư, đền bù, chi phí cho quản lý dự án, bảo hiểm, dự phòng, thấm định,

-Các chi phí kiến thiết tính vào tài sản lun động bao gồm chi phí cho muasắm nguyên vật liệu, công cụ, dụng cụ không đủ tiêu chuẩn là tài sản cố định hoặcchi phí cho đào tạo

-Nhũng chi phí kiến thiết cơ bản khác được nhà nước cho phép không tínhvào giá trị công trình ( do ảnh hưởng của thiên tai, những nguyên nhân bất khảkháng )

Đối với 1 nền kinh tế đã phát triển thì lượng vốn dành cho mua sắm máymóc, thiết bị là cao nhất, chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng vốn đầu tư XDCB.Tuy nhiên tại Gia Lai, vì còn là một nền kinh tế mới xây dựng co sở kiến thiết nên

tỷ lệ vốn cho xây lắp luôn là cao nhất, trong giai đoạn 2006-2009 lượng vốn dànhcho xây lắp đều lớn hơn 60%; đây là bước ban đầu đế tạo dựng cơ sở vật chấtnhằm phát triến kinh tế - xã hội một cách hợp lý nhất Trong thời gian sắp tới, nộidung của vốn đầu tư XDCB sẽ có những thay đối đáng kể đế phù hợp với tiến độphát triển hiện nay cũng như nâng cao hiệu quả lao động bằng cách mua sắm thiết

bị, máy móc

Bảng 1.6: Co’ cấu vốn đầu tư XDCB theo nội dung

Nguồn: Sở kế hoạch và đầu tư tỉnh Gia Lai

300 0 250 0

200 0

150 0

100 0

500

0

Vốn xây lắp

Vốn thiết bị

Từ bảng trên ta thấy rằng vốn đầu tư dành cho đầu tư xây lắp là lớn nhất,tiếp đó đến vốn mua sắm thiết bị, máy móc và vốn cho kiến thiết co bản là chiếm

tỷ lệ ít nhất Như vậy, việc đầu tư cho xây lắp là cao đối với nhu cầu hiện nay,nhất là đối với địa bàn tỉnh Gia Lai, nhu cầu đầu tư xây lắp lại càng đòi hỏi cao vì

cơ sở hạ tầng tại đây chưa phát triến, trạm, trườn, đườngg trại còn nhiều yếu kém

và thiếu, chưa đáp ứng đủ nhu cầu của người dân địa phương cũng như tạo lòngtin và cơ hội cho các nhà đầu tư muốn đầu tư vào địa bàn tỉnh

Thông thường đế đảm bảo cho việc phát triến được hiệu quả thì đầu tư chocông tác mua sắm thiết bị luôn được quan tâm hàng đầu Bởi vì, chính trang thiết

bị mới trực tiếp tạo ra sản phấm cho xã hội Trong các năm gần đây, tại địa bànGia Lai vốn dành cho xây lắp luôn lớn hơn 60% Tỉ trọng vốn xây lắp này là chưahọp lý vì thực tế vốn xây lắp chỉ có tác dụng tạo nên phần vở che cho công trình,

nó không trực tiếp tạo ra các sản phẩm cho xã hội Vì vậy, chúng ta cần có cáinhìn khách quan về sự phân bố nguồn vốn đầu tư XDCB theo nội dung một cáchhợp lý với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Gia Lai

Dựa trên bản đồ, ta có thể thấy vốn đế mua sắm thiết bị chiếm phần ngàycàng tăng trong tổng vốn đều tư XDCB, đây là một khuynh hướng tất yếu và phùhợp với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội công nghiệp hóa, hiện đại hóa đấtnước

Đe nghiên cứu về cơ cấu vốn đầu tư XDCB theo nội dung một cách tổngquát, ta xem xét sự phân bố vốn đầu tư cho các ngành kinh tế trọng điếm theo nộidung đầu tư XDCB sau:

Bảng 1.7: Nội dung đầu tư XDCB cho các ngành kinh tế năm 2009

Nguồn: Báo cáo chỉ tiêu kinh tế - xã hội năm 2009 tỉnh Gia Lai

Qua bảng trên, ta có thế thấy vốn xây lắp phân bố cho các ngành kinh tếluôn chiếm phần đa ( luôn trên 55%), trong ngành công nghiệp là ngành đòi hỏimáy móc trang thiết bị nhiều và hiện đại đế phục vụ sản xuất nhưng vốn dành chomua sắm máy móc cũng chỉ chiếm 27,31% tổng vốn dành cho ngành công nghiệp;trong một số ngành nghề khác như: y tế xã hội, giáo dục đào tạo, số vốn đế muasắm máy móc cũng chiếm một tỷ lệ khá cao lần lượt là 29,93% và 32,79% Đây làmột kết quả khá khả quan bởi đây là những ngành đòi hỏi phải luôn cập nhật máymóc thiết bị hiện đại từng năm để phục vụ công tác chuyên môn đào tạo và chămsóc sức khỏe của người dân; thêm vào đó, xã hội ngày càng phát triển đặt ra yêucầu các dịch vụ dành cho người dân ngày càng hoàn thiện hơn nữa

Các ngành như: điện, giao thông, nông nghiệp - thủy lợi, là những ngànhchuyên xây dựng và hoàn thiện các cơ sở hạ tầng bên ngoài để phục vụ cho quá

trình sản xuất tốt hơn, đạt được những mục tiêu đã đặt ra Vì vậy mà vốn dành choxây lắp cũng chiếm phần đa lần lượt là 70,32%; 72,43% và 62,17% Tỉnh Gia Lai

là một tỉnh thuộc khu vực Tây Nguyên có vị trí quan trọng trong vùng, tuy nhiên

cơ sở hạ tầng còn nhiều yếu kém, chính vì vậy mà hoạt động đầu tư XDCB đượcxem như là yếu tố hang đầu trong công cuộc phát triển kinh tế - xã hội; trong đóphải kế tới hoạt động đầu tư xây lắp ngày một hoàn thiện và được nâng cao hơn vềchất lượng và sổ lượng

Bảng 1.8: Nội dung đầu tư XDCB cho các ngành kinh tế năm 2010

Trang 10

1 Công nghiệp 473.560 279.826 59,09166.598 35,18 27.135 5,73

5 Thủy lợi- Nông nghiệp 823.006 529.192 64,30210.690 25,60 83.124 10,1

6 Vốn đầu tư cho Y tế-xã

Trang 11

Vốn đầu tư cho công nghiệp 473.560 496.815 596.178 823.006 938.226

1 Đầu tư qua tỉnh: 147.750 193.408 158.938 160.000 198.700

Ngân sách đầu tư tập trung 53.400 60.000 50.000 33.500 46.700

Vốn đầu tư cho Nông lâm nghiệp 267.195 301.219 337.150 382.433 435.973

1 Đầu tư qua tỉnh: 89.835 120.039 131.480 148.410 165.000

Nguồn: Báo cáo chỉ tiêu kinh tê - xã hội năm 2009 tỉnh Gia Lai

Trong kế hoạch năm 2010, vốn đầu tư XDCB theo nội dung có một số biếnđộng đáng chú ý là: vốn xây lắp cơ bản sẽ tăng lên khoảng 5% ở một số ngành

như: giao thông, thủy lợi nông nghiệp, y tế,giáo dục; một số ngành còn lại thì vốnxây lắp lại có xu hướng giảm, đây là do chiến lược phát triển của tỉnh Gia Laiđang trong năm cuối của giai đoạn 2006-2010 Những năm trước đó, tỉnh đã đầu

tư hầu hết các công trình vỏ bọc bên ngoài cho nền kinh tế và những năm tiếp theonày, tỉnh sẽ có những định hướng mới: chủ yếu đầu tư cho thiết bị máy móc vàcông nghệ Đây là một xu hướng tất yếu của bất kỳ một nền kinh tế nào muốncông nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước Gia Lai đang nồ lực phấn đấu hết sức đếđưa nền kinh tế tỉnh tuy còn nhỏ bé nhưng đã, đang và sẽ đi đúng hướng mà Đảng

và nhà nước ta đề ra

Tuy nhiên khi quan sát kỹ bảng số liệu trên, ta thấy rằng dù ở một số ngànhvốn dành cho xây lắp đã giảm nhưng giảm không nhiều so với ở một số ngànhkhác có vốn cho xây lắp tăng lên Do đó, tổng vốn dành cho xây lắp trong nềnkinh tế tỉnh vẫn tăng lên; và tất nhiên theo đó là vốn dành cho thiết bị giảm xuốngtương đương với số vốn xây lắp đã tăng lên; còn vốn kiến thiết cơ bản vẫn ở mức7,66%

3 Cư cấu đầu tư Xây dựng cơ bản theo ngành ở tỉnh Gia Lai giai đoạn 2006-2010.

Tống vốn đầu tư cho các kết cấu hạ tầng trọng điếm ( bao gồm các côngtrình trọng điểm về giao thông, điện, hạ tầng nông lâm nghiệp, hạ tầng đô thị, cáccụm khu công nghiệp, cơ sở dịch vụ, thông tin liên lạc, giáo dục đào tạo, y tế, vănhóa ) đạt 1.235,669 tỷ đồng năm 2006; đạt 1.323,929tỷ đồng năm 2007; đạt1.594 tỷ đồng năm 2008; và 1.836 tỷ đồng vào năm 2009 Theo kế hoạch vào năm

2010 số vốn để đầu tư XDCB cho các ngành kinh tế quan trọng đạt 2.119 tỷ đồng

Đe xem xét cơ cấu vốn đầu tư Xây dựng cơ bản theo ngành kinh tế quốcdân ở tỉnh Gia Lai, ta theo dõi biểu khái quát sau :

Bảng 1.9 : Co’ cấu vốn đầu tư XDCB theo ngành của tỉnh Gia Lai các năm

Đơn vị tỉnh: Triệu đồng

Nguồn: Bảo cảo chỉ tiêu kế hoạch phát triền kinh tế- xã hội tinh Gia Lai các năm

Qua bảng khái quát trên, ta thấy vốn đầu tư cho các ngành như:côngnghiệp, điện, giao thông, nông lâm nghiệp- thủy lợi đã chiếm tỷ trọng lớn trong cơcấu vốn đầu tư XDCB ở tỉnh Gia Lai, cụ thể là giai đoạn 2006-2009 vừa qua đãđạt 5.990 tỷ đồng Trong đó, ngành công nghiệp có tỷ lệ vốn cao nhất và tăng đềuqua các năm, năm 2007 đạt 496,815 tỷ đồng ( tăng 5% so với năm 2006); năm

2008 đạt 596,18 tỷ đồng (tăng 205 so với năm 2007); năm 2009 đạt 823 tỷ đồng(tăng 38% so với năm 2008) Đây là mức tăng vượt bậc qua các năm, chứng tỏrằng cơ cấu kinh tế trên địa bàn tỉnh Gia Lai đang ngày càng chuyển dịch theohướng tích cực, ngành công nghiệp đang ngày càng được quan tâm đúng hướng vàhợp lý hơn

Thực hiện chương trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá, tỉnh Gia Lai đã cónhững chính sách đúng đắn để khuyến khích phát triển công nghiệp, sự phát triển

đó đã được biếu hiện qua những năm qua, với số vốn đầu tư cho công nghiệp ngàycàng tăng Cụ thể ta xem biểu sau :

Bảng 1.10: Vốn đầu tư Xây dựng CO' bản cho ngành công nghiệp

Đơn vị tỉnh: Triệu đòng

(Nguồn: sở kế hoạch và đầu tư tỉnh Gia Lai)

Tại Gia Lai ngành công nghiệp đang ngày càng được chú trọng phát triển,nhất là công nghiệp chế biến nông sản, đây là ngành công nghiệp đòi hỏi vốn cốđịnh để XDCB rất lớn, thời gian thu hồi lại khá lâu,vì vậy trong quá trình đầu tư sẽphát sinh thêm các khoản tu bổ, sửa chữa Bên cạnh các ngành công nghiệp chếbiến nông sản, Gia Lai còn phát triển về công nghiệp khai thác khoáng sản, mộttrong những ngành chiểm tỷ trọng lớn trong đóng góp vào tốc độ tăng trưởng kinh

tế tỉnh Do đó, ngành này thu hút được khối lượng vốn đầu tư từ khu vực tư nhânkhá cao, ngang bằng với đầu tư từ ngân sách nhà nước Đây được coi là một bước

đi tiến bộ của mục tiêu phát triển kinh tế ngành

Ngành điện với mục tiêu phấn đấu đạt số hộ trong tỉnh được dùng điện là

100 % nên đã được chú ý và số vốn đầu tư vào ngành điện vì thế đã ốn định và cóthể hoàn thành lưới điện đế phục vụ các cụm công nghiệp như khu công nghiệpThị xã An Khê, khu công nghiệp Trà Đa, cụm công nghiệp Tây Pleiku, Cácnguồn vốn đầu tư vào ngành điện trong những năm vừa qua được thế hiện qua

biểu sau:

Đơn vị tỉnh: Triệu đồng

(Nguồn: Sở kế hoạch và đầu tư tỉnh Gia Lai)

Trong những năm vừa qua, điện được coi là nguồn tài nguyên khan hiếmtrên cả nước, do đó, tình hình đầu tư phát triển ngành điện đang được hết sức chútrọng nhằm khai thác hết tiềm năng đế phục vụ cho nhu cầu của người dân và quátrình sản xuất Tuy nhiên, đây là 1 trong những ngành mà nhà nước độc quyền vàcòn nhiều hạn chế nên việc thu hút vốn từ khu vực tư nhân còn rất khó khăn,lượng vốn đầu tư khai thác từ khu vực này còn quá nhở so với tiềm năng mà nó có.Vốn đầu tư cho ngành điện chủ yếu vẫn tập trung chủ yếu từ ngân sách nhà nước

và các khoản viện trợ Nguồn viên trợ ODA vẫn tăng lên hàng năm, năm 2008 là15,1 tỷ đồng, năm 2009 đạt 20,2 tỷ đồng (tăng 33,8% so với năm 2008); trong nă

2010 vốn ODA sẽ là 32 tỷ đồng (tăng 58,4% so với năm 2009) Song, chúng takhông thể cứ dựa vào các khoản viện trợ từ nước ngoài vì đi kèm theo đó luôn lànhững điều kiện ràng buộc gây bất lợi cho ta Chúng ta phải biết lựa chọn cáckhoản viện trợ đem lại lợi ích nhiều nhất cho ta cả hiện tại lẫn tưong lai

Khi chưa đủ điều kiện đế phát triển thành một tỉnh có nền kinh tế côngnghiệp hoá- hiện đại hoá, thì nông nghiệp là một phần không thể thiếu để pháttriển kinh tế tại địa bàn tỉnh Gia Lai

Trong những năm gần đây, nước ta đang chuyến từ nền kinh tế kế hoạchhoá tập trung sang cơ ché thị trường và hiện nay đang trong công cuộc côngnghiệp hoá hiện đại hoá đất nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa Đe đấynhanh công cuộc công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước thì việc chú trọng pháttriến cơ sở hạ tầng là hết sức cần thiết trong đó không thế không nhắc tới chi đầu

tư xây dựng cơ bản cho ngành nông nghiệp- thuỷ lợi

Chi đầu tư XDCB cho ngành nông nghiệp - thuỷ lợi là những khoản chinhằm tăng cường co sở vật chất cho ngành thuỷ lợi như: xây dựng mới các côngtrình, mua sắm máy móc thiết bị

Mức độ đầu tư nhiều hay ít chịu ảnh hưởng của các nhân tố như: tình trạngcác công trình, quan điểm của Nhà nước trong từng thòi kỳ, ngoài ra còn phụthuộc chủ yếu vào nguồn vốn ngân sách, tín dụng

Đánh giá tình hình chi đầu tư XDCB cho ngành thuỷ lợi trong ba năm từ2006- 2010 ta thấy kế hoạch chi ngân sách nhà nước cho ngành nông nghiệp- thuỷlợi luôn tăng lên qua các năm 2006 là 267,195 tỷ đồng, năm 2007 là 301,2 tỷ đồng(tăng 12,7% so với năm 2006), năm 2008 là 337,15 tỷ đồng (tăng 11,93% so vớinăm 2007), năm 2009 là 382,4 tỷ đồng (tăng 13,42% so với năm 2008), kế hoạchnăm 2010 vốn đầu tư xây dựng cơ bản ngành nông lâm nghiệp - thủy lợi đạt 435,9

tỷ đồng (tăng 14% so với năm 2009) Như vậy, nguồn vốn đầu tư cho nôngnghiệp- thủy lợi tăng đều bình quân hàng năm khoảng 12,7%

Vốn đầu tư chủ yếu phân bổ cho nông nghiệp- thủy lợi vẫn là từ ngân sáchnhà nước, năm 2009 đạt 230 tỷ đồng ( chiếm 60,1% so với tổng vốn đầu tư XDCBngành nông nghiệp - thủy lợi năm 2009)

Thực hiện chủ trương đường lối của Đảng và Nhà nước trong thời gian quangành nông nghiệp - thuỷ lợi tại tỉnh Gia Lai đã có nhũng chuyển biến tích cực cả

về chất lượng cũng như số lượng như có nhiều công trình được xây dựng mới và

đã tạo ra năng lực tưới rất lớn so với trước đây Có thế xem tình hình chi đầu tưXDCB từ NSNN cho ngành Thuỷ lợi trên một số chỉ tiêu sau:

Bảng 1.12: vốn đầu tư Xây dựng CO’ bản cho Nông lâm nghiệp-thuỷ lọi

Đơn vị tỉnh: Triệu đồng

Trang 12

Ngân sách đầu tu tập trung 39.200 40.380 43.500 45.000 58.000

3 Đầu tư của khu vực tư nhân 75.800 96.950 112.000 117.097 127.800

Vốn đầu tư cho ngành giao thông 367.222 385.300 509.400 422.181 493.951

Ngân sách đầu tư tập trung 40.000 43.300 34.561 28.000 43.100

-3 Đầu tư của khu vục tư nhân 156.000 161.200 273.209 176.100 169.426

(Nguồn: sở kế hoạch và đầu tư tỉnh Gia Lai)

Trong điều kiện hiện nay, thấy rõ được tầm quan trọng của ngành thuỷ lợi đổi với

sự phát triển kinh tế của tỉnh nên mức độ đầu tư XDCB đối với ngành cũng cầnphải được tăng cường Qua bảng số liệu trên ta thấy cơ cấu chi NSNN, số chi chođầu tư XDCB đối với ngành Nông nghiệp - Thuỷ lợi không ngừng tăng lên cả về

số tương đối lẫn số tuyệt đối

Trong giai đoạn 2006-2009, mặc dù có nhiều tác động của tự nhiên và tìnhhình kinh tế xã hội, tốc độ tăng trưởng kinh tế vào khoảng 13,6%, tỷ lệ động viênvào GDP và NSNN giảm song đầu tư cho ngành nông lâm nghiêp-thuỷ lợi trong 4năm là 497,57 tỷ đồng chiếm khoảng 14,5% chi NSNN Vì phát triển ngành Nônglâm nghiệp- thuỷ lợi là một trong những động lực thúc đẩy kinh tế nông nghiệpnông thôn ngày càng phát triển mạnh hơn góp phần vào việc thực hiện công cuộccông nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước

Chi đầu tư xây dựng cho thuỷ lợi xét về tuyệt đối thì có phần tăng nhưngxét về tương đối thì không tăng lên là mấy: Năm 2006 chi đầu tư XDCB chongành thuỷ lợi là năm 2006 là 267,195 tỷ đồng, năm 2007 là 301,2 tỷ đồng (tăng12,7% so với năm 2006), năm 2008 là 337,15 tỷ đồng (tăng 11,9% so với năm2007), năm 2009 là 382,4 tỷ đồng (tăng 13,4% so với năm 2008), kế hoạch năm

2010 vốn đầu tư xây dựng cơ bản ngành nông lâm nghiệp - thủy lợi đạt 442,5 tỷđồng (tăng 15,7% so với năm 2009)

Nhìn chung thì tốc độ tăng chi đầu tư XDCB cho ngành thuỷ lợi có tăngnhưng chưa đáng kế, chưa thực sự xứng đáng với vai trò và nhiệm vụ mang tínhchiến lược của nó và chưa thế hiện được nhũng đường lối của Đảng và Nhà nướctrong việc phát triển thuỷ lợi mà nhà nước đã khắng định đó là : Thuỷ lợi là biệnpháp hàng đầu trên mặt trận sản xuất nông nghiệp, công trình thuỷ lợi là cơ sở hạtầng quan trọng đế phát triển bền vững đất nước

Thời gian qua đầu tư của tỉnh Gia Lai cho giao thông không ngừng đượctăng lên Đây là sự tăng rất đều cho thấy chủ trương mở rộng và nâng cao các côngtrình giao thông vận tải của tỉnh, vốn đầu tư cho giao thông dược biểu hiện quabiểu sau:

Bảng 1.13: vốn đầu tư Xây dựng cơ bản cho ngành giao thông

(Đơn vị: triệu đồng)

(Nguôn: Sớ kế hoạch và đầu tư tính Gia Lai)

Ngành giao thông cũng ngày càng khắng định tầm quan trọng của nó trongviệc phát triến kinh tế - xã hội ở tỉnh Gia Lai, biếu hiện qua việc nó đuợc đầu tưnhiều thứ hai sau ngành công nghiệp trong CO' cấu kinh tế , giai đoạn 2006-2009 ,ngành giao thông đã huy động được tổng số vốn là 1.684 tỷ đồng, vốn đầu tư chongành giao thông tăng lên do nhu cầu đi lại của nhân dân tỉnh Gia Lai cũng nhưnhu cầu của người dân trên khắp cả nước đã được nâng cao, cải thiện tốt hơn nhiều

so với trước khi đối mới Cùng với nó, là tỉnh Gia Lai đã dần chú trọng đến pháttriển giao lưu với các tỉnh lân cận trong và ngoài nước vì vậy càng làm tăng nhucầu đi lại Ngành giao thông đòi hỏi vốn đầu tư cao và ốn định qua các năm để xâydựng cơ sở hạ tầng, sửa chữa cầu đường Tuy nhiên, trên thực tế để huy độngđược đủ vốn đế đáp ứng nhu cầu đầu tư ngành giao thông lại là một vấn đề hết sứckhó khăn, lĩnh vực giao thông vẫn mong ngóng vào các khoản viện trợ của nướcngoài cũng như hình thức vay tín dụng, ngân sách nhà nước dành cho giao thôngchưa nhiều, vì vậy cần phát huy hình thức kêu gọi, thu hút vốn từ khu vực tư nhân

để đầu tư XDCB ngành giao thông

Năm 2009 có nhiều chuyển biến rất tích cực trong công tác đầu tư XDCBngành giao thông vận tải với các chỉ tiêu đều vượt mức kế hoạch Tính đến hếttháng 11, nguồn vốn NSNN thực hiện 185,4/190,76 tỷ đồng Các dự án ODA thựchiện 24 tỷ đồng Năm 2009, nhiều dự án lớn, có ý nghĩa quan trọng đáp ứng nhucầu cấp bách về hạ tầng giao thông của nền kinh tế được triển khai, như ĐườngTrường Sơn Đông, mở rộng Quốc lộ 19, quốc lộ 14, Chưa bao giờ ngành Giaothông- Vận tải Gia Lai tiếp nhận và đầu tư nhiều dự án xây dựng, nâng cấp, cải tạo

hệ thống giao thông đến thế Neu tiến độ triển khai các dự án được đảm bảo, đếncuối năm 2011, hệ thống giao thông trên địa bàn tỉnh cơ bản hoàn chỉnh, góp phầnthúc đấy kinh tế- xã hội phát triển nhanh và bền vững

Hiện nay, trên địa bàn Gia Lai có không dưới chục dự án giao thông đangtriển khai thi công Có 3 dự án do Trung ương đầu tư trực tiếp, bao gồm: Dự ánnâng cấp quốc lộ 14C giai đoạn I (nền đường và hệ thống thoát nước) với số vốn 30

tỉ đồng; dự án nâng cấp quốc lộ 25, đoạn từ cầu Lệ Bắc đến hết đèo Tô Na, vốn đầu

tư xấp xỉ 40 tỉ đồng; dự án ADB 5 (nâng cấp, cải tạo tỉnh lộ 670 và 5 km đường ởhuyện Krông Pa)

Trang 13

Tô mỉ công 769.951 1.053.706 1.066.332 1.261.490 1.816.439

2 Vốn đầu tư cho Y tế-xã

Quốc lộ 14C là dự án có ý nghĩa cả về kinh tế-xã hội lẫn quốc phòng-anninh Đây là tuyến đường dọc biên giới Việt Nam- Lào, Việt Nam- Campuchia cótổng chiều dài 112 km, trong đó đoạn đi qua Gia Lai là 80 km Hiện nay, ngoài việcđôn đốc các đơn vị đẩy nhanh tiến độ thi công, chủ đầu tư đã hoàn thành việc lập dự

án giai đoạn II với tổng kinh phí dự toán lên đến 350 tỉ đồng Sau khi hoàn thànhgiai đoạn II, quốc lộ 14C đạt tiêu chuẩn cấp 4 miền núi (mặt đường 5,5 mét, nềnđường 6,5 mét, thảm nhựa) Đối với dự án quốc lộ 25, quá trình triển khai thi cônggặp một số vướng mắc trong công tác giải phóng mặt bằng (chuyển đối đất rừngsang đất xây dựng cơ bản), chính quyền địa phương cố gắng hoàn thành Tương tự,

dự án tỉnh lộ 670 (từ Kon Dơng- Mang Yang đến Tà Huỳnh- Kon Tum) cũng gặpvướng mắc trong việc giải phóng mặt bằng Tuy vậy, nhờ sự cố gắng của các cấpchính quyền đến nay mọi việc đã được giải quyết xong, việc triến khai thi công đangđược đẩy mạnh

Ngoài các dự án do Trung ương đầu tư, thời gian qua, UBND tỉnh đã triểnkhai thi công nhiều dự án giao thông quan trọng Đó là dự án nâng cấp tỉnh lộ 670B(từ xã Biển Hồ- TP Pleiku đến xã Đak Sơ Mei- Đak Đoa, tiếp giáp với tỉnh lộ 670)với vốn đầu tư 6,55 tỉ đồng; dự án nâng cấp tỉnh lộ 667 (An Khê- Kông Chro dài28,8 km, với số vốn 96 tỉ đồng; dự án nâng cấp tỉnh lộ 663 (huyện Chư Prông) vớitổng chiều dài khoảng 47 km, đã khởi công nâng cấp đoạn từ xã Bàu Cạn đến trungtâm huyện dài 13,7 km Bên cạnh đó, Ban Quản lý dự án Thủy điện An Khê- KaNak cũng đã đầu tư nâng cấp tỉnh lộ 669 (An Khê- Kbang) Đen nay, dự án đã hoànthành các hạng mục cơ bản, đang trong giai đoạn hoàn thiện

Cùng với các dự án nêu trên, từ nay đến cuối năm 2010, ƯBND tỉnh sẽ chỉđạo khởi công xây dựng 3 chiếc cầu quan trọng trong hệ thống giao thông tỉnh,gồm: Cầu la Be (TP Pleiku) với số vốn đầu tư khoảng 20 tỉ đồng; cầu qua sông Bakhoảng 50 tỉ đồng và cầu Phú cần (Krông Pa) Bên cạnh đó, tỉnh cũng sẽ cho khởicông nâng cấp tỉnh lộ 666 (Mang Yang- la Pa, tiếp giáp với đường Trường SơnĐông), tống chiều dài khoảng 60,8 km, với tổng số vốn đầu tư 250 tỉ đồng (tráiphiếu Chính phủ) Năm 2010, Ban Quản lý Đầu tư Xây dựng Thủy lợi 8 cũng sẽcho khởi công cải tạo, nâng cấp tỉnh lộ 665 (nằm trong vùng dự án thủy lợi la Lâu,

la Mơr- Chư Prông)

Bên cạnh các dự án do Nhà nước đầu tư, năm 2010 cũng sẽ là năm có khảnăng ký kết một số dự án đầu tư nâng cấp một số đoạn quốc lộ trên địa bàn theo

hình thức BOT Trước mắt, nhiều khả năng dự án đầu tư quốc lộ 14 (TP tiếp giáp tỉnh Đak Lak) sẽ được ký kết và triển khai thực hiện

Pleiku-Với sự quan tâm đầu tư của Trung ương và sự nỗ lực của tỉnh, Gia Lai có thể

ví như một đại công trường Hầu hết hệ thống tỉnh lộ đều có dự án cải tạo, nâng cấp.Neu được tiếp tục quan tâm đầu tư, đến cuối năm 2011, hệ thống giao thông trên địabàn tỉnh sẽ cơ bản hoàn chỉnh, góp phần phát triển kinh tế- xã hội và đảm bảo quốcphòng- an ninh của tỉnh

Bên cạnh những ngành đóng góp quan trọng trong quá trình phát triển kinh

tế , tỉnh Gia Lai vân luôn quan tâm đầu tư xây dựng cơ bản các ngành quan trọngtrong phát triển xã hội như: giáo dục, y tế, an ninh quốc phòng Mặc dù, sự đầu

tư này chưa thể đáp ứng đủ nhu cầu của xã hội nhưng đây được coi là một nồ lựcrất lớn của lãnh đạo và nhân dân tỉnh Gia Lai

Bảng 1.14: Co’ cấu vốn ỏ’ một số ngành khác như sau:

(Đơn vị: triệu đồng)

Trang 14

Vốn đầu tư vào các ngành khác đều ổn định và có xu hướng ngày càngtăng Ngành giáo dục - đào tạo, lượng vốn đầu tư vào ngành này là tăng lớn nhất,năm 2007 là 145,9 tỷ đồng (tăng 8,5% so với năm 2006), năm 2008 là 208,44 tỷđồng (tăng 42,8% so với năm 2007), năm 2009 là 255,45 tỷ đồng (tăng 22,55% sovới năm 2008) Ke hoạch vào năm 2010, vốn cho giáo dục là 424,9 tỷ đồng (tăng66,33% so vói năm 2009) Ngành giáo dục đào tạo ở tỉnh Gia Lai hiện nay đã có

đủ các điều kiện đế giảng dạy và học tập, đó là điều đáng mừng cho sự nghiệp đàotạo nguồn nhân lực cho tỉnh Gia Lai và cho cả nước Trong năm 2010 này, tỉnhGia Lai có kế hoạch xây dựng thêm 20 trường cấp 1, 2 và xây thêm 5 trường cấp 3tại các xã, huyện trên địa bàn tỉnh Trong thời gian này, trường trung cấp y tế GiaLai cũng đang trong quá trình hoàn thiện đế đưa vào hoạt động

Riêng ngành y tế, lượng vốn đầu tư XDCB cũng tăng đáng kế tuy nhiênchưa nhiều, năm 2006 là 148,89 tỷ đồng, năm 2007 là 146,181 tỷ đồng (giảm1,8% so với năm 2006), tới năm 2008 là 157,785 tỷ đồng (tăng 7,9% so với năm2007), năm 2009 là 230,96 tỷ đồng ( tăng 46,4% so với năm 2008), đây là nămđánh dấu quan trọng trong sự phát triển về y tế - xã hội của tỉnh Gia Lai, số vốnđầu tư cho ngành tăng một cách vượt bậc Dự kiến vào năm 2010, ngành y tế - xãhội trên địa bàn tỉnh Gia Lai sẽ còn tiếp tục tăng cao hon nữa, vốn đầu tư đạt 342

tỷ đồng (tăng 48%% so vói năm 2009) Những năm đầu tư vào y tế xã hội giảm

là do tỉnh Gia Lai đang phải tập trung vốn cho công nghiệp, giao thông và một sốngành quan trọng khác đế phát triển kinh tế - xã hội Tuy nhiên, trong những nămgần đây ngành giáo dục và y tế là những ngành đang được ưu tiên phát triển

Các ngành và lĩnh vực khác bao gồm: đầu tư XDCB các công trình côngcộng, hỗ trợ đầu tư huyện mới, chương trình bố trí lại dân cư, định canh định cư,

Đe án tin học, các chương trình 134, 135, Dự án lâm nghiệp- 5 triệu ha rừng vốnđầu tư cho các ngành, lĩnh vực này đều từ ngân sách nhà nước Do đó, nguồn vốnkhông ổn định qua các năm mà tùy sự phát triển kinh tế - xã hội từng năm đế cóchiến lược phát triển các ngành này Các ngành này chịu sự ảnh hưởng rất nhiều từcác khoản thu - chi của ngân sách nhà nước Khi nền kinh tế có sự bất ốn thìnhững ngành này chịu tác động nhiều nhất

4 Đánh giá tình hình đầu tư Xây dựng cơ bản ở tỉnh Gia Lai những năm qua( 2006-2009)

Trang 15

Tình hình công tác quản lý hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản tại địa bàn tinh

Gia Lai

Những năm qua, công tác quản lý đầu tư Xây dựng cơ bản đã bám nghị quyếtcủa tỉnh uỷ Hội đồng nhân dân tỉnh tập trung cho nông nghiệp nông thôn, tăngcường cơ sở vật chất phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội và văn hoá, từng bướcxây dựng đô thị, do vậy tạo nên năng lực mới trên tất cả các mặt góp phần xoá đóigiảm nghèo, giải quyết việc làm và nâng cao mức sống, mức hưởng thụ cuả cácvùng, các tầng lớp dân cư, tạo tiền đề thúc đấy sự tăng trưởng kinh tế phát triểnvăn hoá xã hội, giữ vững an ninh quốc phòng và đảm bảo trật tự và an toàn xã hội.Tuy vậy, vẫn còn nhiều tồn tại vướng mắc đã hạn chế hiệu quả của công tác đầu tưviệc chấp hành các thủ tục về xây dựng cơ bản Quá trình triển khai thực hiện quytrình và sự đồng bộ hoá còn nhiều vấn đề bất cập cần được đổi mới cho phù hợpvới quy định của nhà nước và thực tế địa phương Nổi lên một số vấn đề như sau:

- Công tác chuẩn bị đầu tư :

Công tác chuẩn bị đầu tư là khâu quan trọng trong kế hoạch hoá đầu tư .Thực tế , lâu nay chúng ta thụ động chưa kế hoạch hoá được công tác này Trướchết là về chủ trương chuẩn bị đầu tư chưa được quan tâm đúng mức nên khi xâydựng kế hoạch hàng năm về Xây dựng cơ bản còn thụ động , lúng túng và thựchiện dự án không đồng bộ gây nên sai sót về quy chế và sự chậm trễ trong quátrình thực hiện công tác chuẩn bị khảo sát, điều tra cơ bản và các số liệu cần thiếtcho việc xây dựng dự án chưa được chuẩn bị đầy đủ nên một số dự án chấtlượng chưa cao, thể hiện trong quá trình thực hiện đầu tư phải điều chỉnh đi, điềuchỉnh lại nhiều lần

về qui trình xây dựng dự án:

Nhìn chung các dự án lớn đã lập đúng trình tự theo quy định Đại bộ phậncác dự án co quy mô nhỏ do các huyện , thị hoặc do các xã , phường lập thì hầuhết không đủ nội dung theo các trình tự yêu cầu của một dự án theo quy định chonên việc thẩm định thường phải sửa đi, sửa lại nhiều lần gây mất thời gian khôngcần thiết

Nhiều dự án chưa có chủ trương của tỉnh nhưng các ngành, các huyện thị

đã lập đưa lên sở kế hoạch và đầu tư để thẩm định và trình duyệt nhưng cũng cónhững dự án đã có chủ trương của tỉnh nhưng việc triển khai xây dựng chậm, chấtlượng không cao phải điều chỉnh nhiều lần

Trang 16

Các dự án khi thẩm định thường vướng mắc nhất là thiếu các thủ tục, cáccăn cứ khoa học đế xây dựng như đã nêu , áp dụng một số định mức chưa thốngnhất giữa các bộ và địa phương gây nên khó khăn trong việc xác định quy mô vàkhái toán vốn đầu tư

Nói chung nhiều dự án là còn sơ sài , thiếu căn cứ khoa học và thực hiệnchưa theo đúng trình tự dặc biệt đổi với các dự án sản xuất kinh doanh việc tínhtoán hiệu quả kinh tế , việc thu hồi và trả nợ vốn vay chưa được chuẩn mực

về công tác thâm định dự án:

Lâu nay Sở kế hoạch và đầu tư là cơ quan được nhà nước giao cho làmcông việc này đã cố gắng làm theo đúng quy trình như: soát xét các hồ sơ trìnhduyệt của chủ đầu tư , phối hợp giữa Sở kế hoạch và đầu tư , các cơ quan quản lýtổng hợp và các sở quản lý chuyên ngành, hoàn thiện văn bản trình Uỷ ban nhândân tỉnh phê duyệt

- về công tác đấu thầu và chỉ định thầu

Công tác đấu thầu và chỉ định thầu đã được triển khai theo đúng quy địnhcủa nhà nước và các hướng dẫn của bộ ngành Trung ương, theo đúng các thủ tụchành chính, nhưng còn một số vướng mắc tồn tại như :

Đối với một số chủ đầu tư :

Hồ sơ kế hoạch mời thầu, đấu thầu tiêu chuẩn thang điểm thường làm chậm

và không đầy đủ nhất là các chủ đầu tư không chuyên Xây dựng cơ bản , chấtlượng hồ sơ kém phải làm đi làm , làm lại gây chậm trễ

về quy trình thẩm định cũng như duyệt kế hoạch đấu thầu chỉ định thầunhưng chưa thực sự khoa học Duyệt kế hoạch trước rồi mới duyệt hồ sơ mời thầu, thường thẩm định xong một hồ sơ phải mất từ 10-15 ngày Thẩm định và phêduyệt kết quả trúng thầu từ 7-10 ngày; ký hợp đồng, duyệt hợp đồng cũng mất 5-7ngày Như vậy, riêng công tác làm thủ tục đấu thầu cũng mất từ 1 tháng rưỡi đến 2tháng cho nên hàng năm công trình tháng 4 , tháng 5 hoặc tháng 6 mới triển khaiđược

Trong đấu thầu các chủ đầu tư chỉ muốn đấu thầu hạn chế, do vậy dẫn đếncác nhà thầu có sự dàn xếp , cho nên mức tiết kiệm qua đấu thầu còn hạn chế Chỉcác công trình đấu thầu rộng rãi mới thực chất rõ ràng, minh bạch và tăng đượctính cạnh tranh và tiết kiệm trong Xây dụng cơ bản

Trang 17

Có một số công trình đã thi công xong, hoặc thi công dở dang mới làm kếhoạch chỉ định thầu dẫn đến tình trạng sự việc đã rồi, buộc các co quan chức năng

và Uỷ ban nhân dân giải quyết Hiện tuợng này cần phải được chấn chỉnh và cónhững biện pháp hữu hiệu đế ngăn chặn

- Việc ứng vốn, cấp phát, thanh quyết toán

Việc cho vay và cấp phát và thanh quyết toán đều qua Bộ đầu tư và kho bạcNhà nước Công tác này mấy lâu nay thường chậm trễ: một mặt do các thủ tục khárườm rà, cứng nhắc do các ngành dọc quy định, mặt khác là do năng lực các chủđầu tư chưa làm tròn về trách nhiệm của mình Một số cán bộ chưa đủ năng lực vàtrách nhiệm để làm công tác này cho nên khách hàng thường kêu ca nhiều trongkhâu cấp phát và thanh quyết toán đặc biệt việc thay đổi cơ quan cấp phát vốnđầu tư , từ bộ đầu tư sang kho bạc cũng làm cho xáo trộn nề nếp ứng vốn và thanhtoán của các nhà thầu và chủ đầu tư, tâm lý các chủ đầu tư không muốn ứng trướcvốn cho các nhà thầu đối với khối lượng hoàn thành không lên kịp phiếu giá, cácbước giải ngân chậm Tuy vậy do có sự hướng dẫn của kho bạc nhà nước, công tácứng vốn và cấp phát năm 2004 đã có nhiều tiến bộ

- về quản lý chất lượng công tác giám sát thi công

Năng lực của các ban quản lý công trình nói chung còn nhiều bất cập, phầnlớn các cán bộ đều làm việc kiêm nhiệm nên công tác quản lý của các ban A cònchưa tốt Công tác quản lý chất lượng và giám sát các công trình xây dựng ngàycàng được quan tâm nhưng nhìn chung chất lượng còn thấp, chưa được làmthường xuyên , đội ngũ giám sát còn mỏng, năng lực còn nhiều hạn chế, còn có viphạm chế độ về quản lý chất lượng như: thiếu nhật ký công trình, thiếu báo cáođịnh kỳ trong Xây dựng cơ bản, thiếu cán bộ có năng lực, tâm huyết trong côngtác quản lý kỹ thuật, nói chung chất lượng công trình còn kém

- về giá và quản lý giá đầu tư Xây dựng cơ bản

Trong thời gian qua, hệ thống đơn giá Xây dựng cơ bản được củng cố, soạnthảo tương đối đầy đủ, có hệ thống cung cấp cho các ngành đế góp phần tăngcường công tác quản lý Xây dựng cơ bản trên địa bàn Tuy nhiên hệ thống đơngiá của ta hiện nay vẫn đang còn nhiều tồn tại: giá các loại vật liệu như điện, nước,trang thiết bị nội thất còn chưa đồng bộ Phản ánh giá còn chậm, chưa kịp thời,chưa đáp ứng được yêu cầu thanh quyết toán hàng tháng, làm vướng mắc trong bùgiảm kinh phí Giá một số loại xây dựng chưa đúng, chưa đầy đủ các chi phí và

Trang 18

yếu tố đảm bảo sự điều tiết của nhà nước, còn tình trạng phải trình duyệt bố sung,điều chỉnh giá qua các ngành, các cấp gây nên sự chậm trễ trong đầu tư và xâydựng Một sổ công trình trọng điểm, có tính đặc thù thì trong bộ đon giá chưađược phản ánh.

- Đánh giá năng lực của các đơn vị thi công xây dựng

Số lượng các đơn vị thi công thương đối nhiều nhất là các đơn vị tư nhânnhưng nhìn chung năng lực các đơn vị còn yếu kế cả năng lực thi công và năng lực

về tài chính (đại bộ phận là vốn vay , vốn tự có rất ít) Đa số các doanh nghiệp ,đặc biệt là các doanh nghiệp tư nhân do thiếu đội ngũ công nhân lành nghề, thiếucán bộ có trình độ kỹ thuật và thiếu thiết bị xây dựng nên đã ảnh hưởng rất nhiềuđến thiến độ thi công các công trình

Những kết quả đạt được 2006 - 2009.

4.2.1 Phát triển giao thông

Giao thông trên địa bàn chủ yếu là GTVT đường bộ và một phần đườngkhông Quốc lộ 14, 25, 19 và đường Hồ Chí Minh cùng với sân bay Pleiku nối kếtGia Lai với các tỉnh duyên hải miền Trung, Đông Nam Bộ, Thành phố Hồ ChíMinh và nhiều địa phương khác trong cả nước

Hê thống giao thông

Mạng lưới đường bộ

+ Hệ thống quốc lộ (QL): Đi qua địa bàn tỉnh Gia Lai hiện có 4 tuyến QLvới tống chiều dài 517,3 km, bao gồm ỌL.19 và QL 14 (nay là đường Hồ ChíMinh, do Trung ương quản lý); QL.25 và ỌL 14C (tỉnh quản lý do trung ương ủythác) Trong đó, có 246 km đường bê tông nhựa, 86 km mặt láng nhựa, 24 kmmặt cấp phối và còn lại 147 km đường đất (QL 14C có 108 km, QL 25 còn 39km) Tống số cầu trên hệ thống QL có 80 cái, dài 2.570 km trong đó 87,5% làcầu bê tông cốt thép vĩnh cửu, còn lại một cầu thép dài 15 mét và 9 cầu tạm dài

79 mét trên QL 14C và QL 25

QL.I9: qua địa phận tỉnh Gia Lai tuyến có chiều dài 168 km, tù' Km67 (tiếpgiáp tỉnh Bình Định) đến Km247 (tiếp giáp ỌL.78 - Campuchia qua cửa khấu LệThanh, xã la Dom, huyện Đức Cơ)

Trang 19

QL.I4 (đường Hồ Chí Minh)’, qua địa phận tỉnh Gia Lai tuyến QL.14 có

chiều dài 113,4 km, từ Km494+600 (tiếp giáp tỉnh Kontum) - Km608 (tiếp giáp tỉnhĐắc Lắc) Đây là tuyến đường được xây dựng trước năm 1975 có quy mô đườngcấp V miền núi, chiều rộng mặt đường khoảng 6m, nền đường rộng từ 7 - 9 m

QL.25: qua địa phận tỉnh Gia Lai tuyến có chiều dài 112 km, từ Km69 (tiếpgiáp tỉnh Phú Yên) - Kml81 (địa phận huyện Chư Sê tỉnh Gia Lai)

QL.14C: qua địa phận tỉnh Gia Lai tuyến có chiều dài 112 km, từ Kml07(sông Sêsan - tiếp giáp tỉnh Kontum) - Km219 (sông H Lốp - tiếp giáp tỉnh ĐắcLắc)

+ Các tuyến đường tỉnh: Hệ thống đường tỉnh hiện tại bao gồm 11 tuyếnvới tổng chiều dài 573 km Cụ thể:

- Đường tỉnh 661: cóchiều dài 22,5 km, đạt tiêu chuấn đường cấp IV - miền núi

- Đường tỉnh 662: cóchiều dài 80,5 km, đạt tiêu chuấn đường cấp VI - miền núi

- Đường tỉnh 663: có chiều dài 48 km, đạt tiêu chuẩn đường cấp VI - miền núi

- Đường tỉnh 664: cóchiều dài 58,4 km, đạt tiêu chuẩn đường cấp IV - miền núi

- Đường tỉnh 665: cóchiều dài 60 km, đạt tiêu chuẩn đường cấp V - miền núi

- Đường tỉnh 666: cóchiều dài 61,2 km, đạt tiêu chuẩn đường cấp IV - miền núi

- Đường tỉnh 667: cóchiều dài 31 km, đạt tiêu chuẩn đường cấp V - miền núi

- Đường tỉnh 668: cóchiều dài 15,5 km, đạt tiêu chuẩn đường cấp V - miền núi

- Đường tỉnh 669: cóchiều dài 61,2 km, đạt tiêu chuấn đường cấp IV - miền núi

- Đường tỉnh 670: có chiều dài 46 km, đạt tiêu chuẩn đường cấp VI - miền núi

- Đường tỉnh 670B: có chiều dài 24 km, đạt tiêu chuẩn đường cấp V - miền núi.+ Các tuyến đường huyện: Hiện có chiều dài 1.260,7 km, hầu hết là các tuyến

đường đất

+ Các tuyến đường xã: Với tổng chiều dài 5.753,5 km, hầu hết là các tuyến

đường đất hoặc đường mòn

+ Đường đô thị:

Trang 20

- Tp Pleiku: hệ thống đường đô thị có tổng chiều dài dài 170 km, đường giao

thông nông thôn tống chiều dài 565 km Các tuyến đường chính trong thành phốkhá rộng rãi, khang trang với mặt đường bê tông nhựa, vỉa hè rộng 5-7m, có nhiềucây xanh Tuy nhiên, thành phố cũng có những tuyến đường chính có vỉa hè hẹp

và hầu như không có dải đường dành riêng đi bộ

- TX An Khê: trục đường chính của thị xã là QL 19 nên các sinh hoạt của đô

thị ảnh hưởng nhiều đến tốc độ lưu thông của các phương tiện vận tải

Đường không

Sân bay Pleiku cách thành phố Pleiku 3 km về phía Bắc, diện tích 247,5hecta, có chiều dài đường băng khoảng 1.830 mét và chiều rộng đường băng 36m;chỉ có 2 loại máy bay ATR72 (tổng trọng tải 22 tấn) và Foker (trọng tải 36.7 tấn)cất và hạ cánh Khả năng phục vụ tối đa 150 khách/thời điểm phục vụ

Đánh giá chưng:

- Các QL 14, 14C, 19 và 25 nối tỉnh với các địa phương khác trong vùngTây Nguyên, cả nước cũng như của vùng tam giác phát triến của 3 nước ĐôngDương, đặc biệt là đường Hồ Chí Minh thực sự là những huyết mạch quantrọng đế Gia Lai có thế thúc đẩy nhanh quá phát triển kinh tế - xã hội

Với nền đất có khả năng chịu lực tốt và khá phong phú về nguồn nguyênliệu, vật liệu xây dựng như đá Granit, đá cấp phổi thuận lợi trong việc phát triểngiao thông đường bộ

Tuy nhiên, do địa hình vùng núi phức tạp, lại nằm trong vùng thường cóthiên tai như lũ quét, sạt lở đất do lũ nên kinh phí cho việc đầu tư xây dựng, sửachữa và bảo dưỡng khá lớn trong khi nguồn vốn của tỉnh còn nhiều khó khăn

Hệ thống giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh Gia Lai phân bố đều khắp

là một thuận lợi lớn trong việc nâng cấp mạng lưới giao thông đường bộ trongtương lai Tuy nhiên, do địa hình đồi núi phức tạp và khó khăn về nguồn vốn nênviệc phát triến tuyến đường huyện và giao thông nông thôn nói chung gặp khánhiều khó khăn

4.2.2 Phát triến hạ tầng nông lâm nghiệp - thủy lợiCông tác quản lý khai thác công trình thủy lợi những năm gần đây đã được

huy có hiệu quả, việc khai thác điều tiết nuớc hợp lý, tiết kiệm nuớc, không thấtthoát gây lãng phí nuớc đồng thời còn rất chú trọng trong công tác duy tu sửa chữathuòng xuyên nên hạn chế đuợc sự xuống cấp của công trình Có những công trìnhphát huy hiệu quả vuợt năng lực thiết kế như công trình Chu Jôr, thành phốPleiku

- Thủy lơiĐen năm 2005 số luợng công trình thủy lợi kiên cố của tỉnh là 252 công trình,năng lực tuới thiết kế năm 2000 là 22.000 ha lúa hai vụ, 15.000 ha cây côngnghiệp và đến năm 2005 là 34.670 ha

Đen giữa năm 2006, số lượng công trình thủy lợi hiện có là 297 công trìnhcác loại gồm 96 hồ chứa, 164 đập dâng và 37 trạm bơm với tổng năng lực tướithiết kế 46.480 ha Thực tế đã phát huy tưới được 27.200 ha đạt 58% năng lực tướithiết kế So với diện tích cần tưới mới chỉ đạt 11% nhu cầu (27.200 ha/251.390ha) Đen cuối năm 2007 năng lực tưới cho lúa đạt 25.076 ha, cho cây công nghiệpđạt 10.795 ha

Bảng 1.15: Các công trình thủy lọi hiện có

Nguồn: Quy hoạch thủy lợi

Các công trình đã được xây dựng trong tỉnh hầu hết có quy mô nhỏ Tồn tạichính của các công trình vẫn là hệ thống kênh mương chưa hoàn chỉnh, hàng nămvẫn phải duy tu bảo dưỡng, sửa chữa do thiên tai, mưa lũ gây ra, bên cạnh đó trình

độ quản lý ở các công trình nhỏ do cấp xã quản lý còn nhiều yếu kém

4.2.3 Phát triển lưới điện

Hệ thong điện

Hiện nay, trên địa bàn tỉnh có nhà máy thủy điện (NMTĐ) Iaĩy công suất

720 MW (4*180 MW), hàng năm cung cấp cho hệ thống điện Việt Nam khoảng3,6 tỷ Kwh Đây là nhà máy thủy điện có công suất lớn nhất miền Trung, đượcphát qua trạm biến áp nâng Ialy-15,75/500 Kv, đấu nối vào trạm 500 Kv Pleikuqua đường dây mạch kép 2*ACSR 330*4, có chiều dài khoảng 20 Km

Ngoài ra, tỉnh Gia Lai còn có trạm 500 Kv Pleiku với quy mô 3*150 500/220 KV và một MBA nối cấp 220/110 kV-1*125 MVA Trạm nhận điện 500

MVA-kv từ NMTĐ Ialy phát lên hệ thống điện quốc gia Trạm 500 MVA-kv còn là trạm trungchuyến công suất, có vị trí quan trọng trong hệ thống truyền tải 500 kv của toànquốc

Toàn bộ phụ tải của tỉnh Gia Lai được cấp điện chủ yếu từ 5 trạm 110 kvtrên địa bàn, có tổng công suất là 132 MVA, p cực đại là 80MW, gồm có: Trạm

110 kv Biển Hồ (E 41); Trạm 110 kv Diên Hồng (E 42); Trạm 110 KV Chư Sê (E50); Trạm 110 kv Ayun Pa (E 44) và Trạm 110 kv An Khê (E 43)

Sản lượng điện thương phẩm năm 2007 là: 533.992.000 Kw Năm 2008 là675.121.000 Kw

Số xã và tỷ lệ hộ dùng điệnTính đến cuối năm 2007, tỉnh Gia Lai đã hoàn thành đưa điện lưới quốc giađến 209/209 xã, phường, thị trấn (đạt 100%)

Đen tháng 6 năm 2008 thì tổng sổ thôn, làng có điện là 2320 thôn,làng - chiếm 92,6%; tổng số hộ sử dụng điện là 253.887 hộ chiếm trên 94,8%,trong đó: đồng bào dân tộc thiểu số là 75.867 hộ - chiếm 82%

Bảng 1.16: Tỷ lệ hộ sử dụng điện lưói quốc gia của tỉnh

so vói vùng Tây Nguyên và cả nước

Đơn vị: %

Nguồn: Cục thống kê tinh Gia Lai

Công nghiệp điện năng là công nghiệp chủ lực của tỉnh nó là ngành tạo điềukiện cho các ngành khác phát triến Tỉnh có nhiều tiềm năng với trữ lượng nguồnnước mặt khoảng 24 tỷ m3 và có thể kết nối được với hệ thống điện của các nướctrong khu vực như: Thái Lan, Lào, Campuchia, đặc biệt là nguồn thủy điện từ sông

Mê Công Ngành công nghiệp điện năng chủ lực này dự kiến sẽ tạo đột phá cho tỉnhtrong 7-10 năm tới

Sản lượng điện sản xuất trên địa bàn năm 2010 sẽ đạt 8,1 tỷ KWh Trongphương là 460 triệu Kwh

Trang 21

trong nước Có 15 trên tổng sổ 45 (33%) bưu cục cung cấp dịch vụ chuyển tiềnnhanh Các bưu cục, đại lý Bưu điện đa dịch vụ tập trung ở những địa bàn đôngdân cư có nhu cầu sử dụng dịch vụ Bưu chính Viễn thông và đem lại doanh thucao; các điểm Bưu điện văn hóa xã tập trung chủ yếu ở tuyến xã, cùng hệ thốngbưu cục cung cấp các dịch vụ Bưu chính Viễn thông phố cập cho người dân; ngoài

ra còn là nơi phục vụ nhân dân đọc sách báo miễn phí; điểm truy nhập Internettừng bước rút ngắn khoảng cách về thông tin giữa thành thị và nông thôn

Hiện tại, bán kính phục vụ bình quân của một điếm phục vụ là 3,9 km/điểmphục vụ, số dân phục vụ bình quân là 3.631 người/điếm, 96% xã có báo trongngày So với chỉ tiêu cả nước năm 2006, (bán kính phục vụ bình quân của mộtđiểm phục vụ là 2,37 km và số dân bình quân được phục vụ bởi một điểm phục vụ

là 4.332 người), thì Gia Lai đạt mức trung bình của cả nước

Bưu điện tỉnh Gia Lai là đơn vị chủ lực, cung cấp tất cả các dịch vụ cơ bản vàcác dịch vụ cộng thêm, đồng thời Bưu điện tỉnh cũng thực hiện cung cấp các dịch vụbưu chính công ích, bao gồm các dịch vụ bưu chính phố cập và dịch vụ bưu chính bắtbuộc Các doanh nghiệp khác cũng triển khai một số loại hình dịch vụ cơ bản như dịch

vụ buư phẩm, bưu kiện tại khu vục tmng tâm thành phố và một số huyện lân cận

Viễn thông

Nhìn chung bán kính phủ sóng bình quân của một trạm trên toàn tỉnh là lớn(thông thường chỉ từ 2 - 4 km/trạm) Bán kính phủ sóng của các huyện có sự chênhlệch tương đổi cao Huyện K’Bang, huyện la Pa, huyện Krông Pa có bán kính phục

vụ bình quân của một trạm thu phát sóng BTS là lớn nhất; do số lượng và mật độtrạm thu phát ít, mà chủ yếu các trạm này được đầu tư xây dựng tại các trung tâm củathành phố, trung tâm huyện nên ở các khu vực khác của huyện vẫn còn hiện tượngkhông có sóng điện thoại di động Trong thời gian tới đấy mạnh quá trình phủ sóng,đến 2010 đảm bảo hầu hết các xã, thôn, buôn được phủ sóng điện thoại di động

Tỉnh Gia Lai có 01 đài phát thanh, truyền hình cấp tỉnh thực hiện phủ sóng toàntỉnh 100% các huyện, thị xã, thành phố có đài truyền thanh và các đài này hầuhết đều nằm ở trung tâm hành chính; có trụ sở làm việc, cơ sở vật chất độc lập

và tương đối khang trang

Dịch vụ viễn thông khu vực trung tâm thành phố, các huyện được các doanhnghiệp tập trung phát triển, cung cấp nhiều loại hình dịch vụ mới, chất lượng ngày càng

Trang 22

nâng cao, người dân có nhiều sự lựa chọn dịch vụ và nhà cung cấp phù hợp với điềukiện của mình.

Đến 12/2006 là 123.310 thuê bao (cả trả trước và trả sau), đạt 10,7 máy/100 dân

so với mức trung bình của cả nước 22,41 máy/100 dân thì mật độ điện thoại của tỉnh ởmức thấp hon Năm 2006, tốc tăng trưởng điện thoại di động đạt 91% so với năm 2005.Năm 2006 phát triển mới 15.536 thuê bao điện thoại cố định so vớinăm 2005, nâng sổ thuê bao điện thoại cố định toàn tỉnh đến 12/2006 lên 75.130thuê bao, đạt mật độ 6,5 máy/100 Tuy nhiên mật độ điện thoại vẫn ở mức thấphơn mức trung bình của cả nước (theo báo cáo tổng kết công tác năm 2006 của BộBưu chính Viễn thông cả nước đạt mật độ 32,57 thuê bao/100 dân, trong đó điệnthoại cố định đạt 10,16 thuê bao/100 dân)

Dịch vụ điện thoại cố định mới chỉ được phổ cập 98% số xã trên toàn tỉnh.Dịch vụ điện thoại cố định hầu hết do Bưu điện tỉnh cung cấp Năm 2006, tốc tăngtrưởng điện thoại cố định tăng 26% so với năm 2005

- Đen năm 2010 Gia Lai phấn đấu trở thành tỉnh có mức độ phát triến Viễnthông đạt mức trung bình khá của cả nước

- Đen năm 2010 tống số thuê bao điện thoại đạt khoảng 780.000 thuê baođạt mật độ 61,13 máy/100 dân trong đó điện thoại cố định đạt 197.798 đạt 15,5thuê bao/100 dân; di động đạt 582.202 đạt 45,63 thuê bao/100 dân

Dịch vụ Internet

Đen 12/2006, toàn tỉnh có 3.127 thuê bao Internet, trong đó: 2.010 thuê baoInternet băng hẹp và Internet băng rộng 1.127 thuê bao (tăng 670 thuê bao so vớinăm 2005) Hiện tại 100% trung tâm huyện đã được cung cấp dịch vụ truy nhậpInternet băng rộng, số xã có Internet băng rộng 5 xã (chiếm 2% tống số xã)

Hiện tại số dân sử dụng Internet của tỉnh đạt 17,05% (cả nước đạt 17,67%)

Và chủ yếu tập trung tại khu vục các khu vực: Tp Pleiku, TX An Khê và các thịtrấn trung tâm huyện

4.2.5 Phát triển mạng lưới thương mại - dịch vụ du lịch và hạ tầng đô thịTrong những năm qua tỉnh đã chú trọng đầu tư , phát triển mạng lưới, dịch

vụ, đảm bảo cung ứng vật tư, hàng thiết yếu phục vụ sản xuất và đời sống nhân

Trang 23

khách sạn nhà hàng được mở rộng ở nhiều huyện; hạ tầng các điểm du lịch đãđược chú trọng đầu tư

Hạ tầng đô thị của thành phố Pleiku đã được quan tâm đầu tư , nhất là hệthống đường giao thông , điện, cấp thoát nước, vệ sinh môi trường, các công trìnhcông cộng, văn hóa, thể thao

Ngoài hệ thống chợ hiện có trên địa bàn (chủ yếu là chợ cửa khẩu, chợ đầumối và các chợ nhỏ hình thành theo nhu cầu tự phát), hệ thống phân phối hiện đạinhư: trung tâm thương mại, siêu thị, cửa hàng tự chọn, cửa hàng tiện lợi cũngđang được hình thành và phát triển trên địa bàn tỉnh

Năm 2006, trên địa bàn tỉnh Gia Lai có 75 chợ Các huyện trên địa bàn tỉnhđều có chợ Chợ trên địa bàn tỉnh tập trung nhiều ở thành phố Pleiku, thị xã AnKhê, huyện Chư Păh, huyện Chư Sê, thị xã Ayun Pa Ngoài các chợ đã được quyhoạch trên địa bàn tỉnh còn có nhiều chợ tạm, chợ cóc được hình thành một cách

tự phát trên nhiều địa bàn huyện thị

Tình hình cơ sở vật chất các chợ trên địa bàn tỉnh còn nghèo nàn, có 6chợ xây dựng kiên cố, 46 chợ bán kiên cố và 23 chợ tạm

Trên địa bàn huyện hiện có 231 cửa hàng xăng dầu đang hoạt động Phântheo loại hình doanh nghiệp cụ thế như sau: Doanh nghiệp Nhà nước 29 cửa hàng,chiếm 12,55%; Cty cổ phần, HTX 33 cửa hàng, chiếm 14,28%; Công ty TNHH,doanh nghiệp tư nhân 166 cửa hàng, chiếm 71,86%; Các đơn vị hành chính sựnghiệp và lực lượng vũ trang 2 cửa hàng, chiếm 0,86%

Nhìn chung, tài nguyên du lịch của Gia Lai vừa mang tính tự nhiên nhưngcũng đậm đà bản sắc văn hoá dân tộc Đây là thế mạnh về khả năng phát triển du lịchcủa Gia Lai mà không phải tỉnh nào cũng có được Trong những năm qua sản phẩm

du lịch của tỉnh khai thác trên những giá trị về thắng cảnh thiên nhiên còn nguyên sơ

và bản sắc văn hóa của người thiểu số Các chương trình du lịch đặc trưng của tỉnh cósức hấp dẫn với khách du lịch chủ yếu là các “tour” văn hóa-sinh thái và thăm chiếntrường xưa kết họp với dã ngoại Việc khai thác tài nguyên du lịch còn mang tính tựphát, không có sự đầu tư tái tạo, duy trì, do đó hạn chế khả năng thu hút khách đến dulịch Gia Lai

Bình quân giai đoạn 2001-2005 lượt khách du lịch của Gia Lai tăng12,93%/năm Trong đó chủ yếu là khách nội địa, khách quốc tế còn ít và giảm2%/năm

Doanh thu du lịch ngày càng tăng, trong đó tăng mạnh bởi doanh thu kháchsạn nhà hàng Tổng doanh thu du lịch năm 2007 đạt 78,318 tỷ đồng tăng 32% sovới cùng kỳ và vượt 11% so với kế hoạch

Tổng số nhà hàng, số cơ sở lưu trú và sổ phòng xếp sao ngày càng tăng,đồng thời số lao động trong ngành du lịch cũng tăng theo Tuy nhiên, xét về con

số thực thì tăng còn thấp, số cơ sở lưu trú xếp sao năm 2000 là 3, đến năm 2005tăng lên là 6; số nhà hàng năm 2000 là 9, năm 2005 tăng lên là 15

Bảng 1.17: Một số chi tiêu du lịch tỉnh Gia Lai giai đoạn 2000-2005

Trang 24

Năm 2006 và 2007 sổ lượt khách du lịch của Gia Lai đã tăng lên đáng kể,năm 2006 đón 101.546 lượt khách và năm 2007 đón 127.378 lượt khách, năm

2008 là 150.000 lượt khách, năm 2009 đạt 18.000 lượt khách, dự kiến năm 2010 là250.000 lượt khách Trong đó đáng chú ý là số khách nước ngoài ngày càng tăng.Năm 2007 khách quốc tế đạt 6508 lượt người tăng 49% so với cùng kỳ và vượt25% so với kế hoạch, năm 2008 là 9.000 và dự kiến năm 2010 là 20.000 lượtkhách

Dự kiến trung bình giai đoạn 2006-2010 lượt khách nước ngoài trên địa bàn tỉnhtăng 36%/năm; khách nội địa tiếp tục tăng, tăng 19% và tăng cao hơn so với giai đoạntrước

Giai đoạn tới các chỉ tiêu như: lao động, số cơ sở lưu trú, số nhà hàngkhách sạn, số phòng và điểm vui chơi giải trí trên địa bàn tỉnh sẽ ngày một tăng.Giai đoạn 2006-2010 du lịch được xác định là một ngành có thế mạnh của tỉnh.4.2.6 Phát triển hạ tầng các cụm khu công nghiệp

Các khư, cưm công nghiệp

Khu công nghiệp Trà Đa có diện tích khoảng 110 ha, tính đến cuối năm 2007

đã thu hút được 24 nhà đầu tư với tổng số vốn đầu tư là 300 tỷ đồng (đã lấp đầykhoảng 82% tổng diện tích) Trong số các nhà đầu tư thì có 21 doanh nghiệp đã đivào hoạt động, tạo công ăn việc làm cho khoảng 2000 lao động ở địa phương, Giá trịsản xuất (GTSX) công nghiệp là 300 tỷ đồng, chiếm khoảng 12,6% GTSX toàn tỉnh;giá trị xuất khẩu khoảng 2,5 triệu USD, nộp ngân sách khoảng 20 tỷ đồng, lĩnh vựcđầu tư chủ yếu là chế biến nông lâm sản, vật liệu xây dựng và hàng tiêu dùng,

Khu công nghiệp tây Pĩeiku được quy hoạch tổng thế với quy mô là 615,4

ha Hiện nay, giai đoạn 1 đã quy hoạch được diện tích 249,9 ha đang đầu tư để xâydựng cơ sở hạ tầng và tích cực kêu gọi các dự án đầu tư

Cụm công nghiệp Chư Sê nằm cạnh giao lộ 14 và 25; cụm công nghiệpAyun Pa nằm cạnh quốc lộ 25; cụm công nghiệp An Khê nằm bên quốc lộ 19 và

xu hướng đón tiếp các nhà đầu tư và giao thương với các cảng biển của Miềntrung Bên cạnh đó còn có các khu công nghiệp như: Khu công nghiệp trà Bá, BắcBiển Hồ và khu công nghiệp Hàm Rồng

Ngoài ra, hầu hết các huyện, thị xã và Thành phố đều quy hoạch và hìnhthành các cụm, điếm công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp đế thu hút các nhà máy,

cơ sở chế biến nông lâm sản tại chỗ và di dời các cơ sở sản xuất nhở lẻ, gây ô

nhiễm tập trung về một khu vực chung dành cho công nghiệp - tiểu thủ công

nghiệp

4.2.7 Phát triển các lĩnh vực xã hội:

- về giáo dục đào tạoMạng lưới trường lớp đa được qui hoạch khá hợp lý, đã tạo thuận lợi chotrẻ em đến trường và đáp ứng được nhu cầu học tập của nhân dân Cơ sở vật chấttrường học được chú trọng đầu tư , số phòng học kiên cổ , bán kiên cổ tăng nhanh

tỷ lệ phòng học cấp 4 trở lên đạt trên 80%, trong đó phòng học cao tầng chiếm

25,5 % Hệ thống dạy nghề , các cơ sở đào tạo từng bước được củng cố.

Hê thống mang lưới cơ sở vât chất trường, lớp hoc:

Năm học 2008-2009, toàn tỉnh có 221 trường mầm non, 221 trường tiểuhọc, 224 trường trung học cơ sở, 35 trường trung học phố thông, 5 trường trunghọc chuyên nghiệp và 1 Phân hiệu đại học Nông lâm; So với năm học 2007-2008:tăng 12 trường mầm non, 08 trường tiểu học, 07 trường trung học cơ sở, 04 trườngtrung học phố thông và 1 trường trung học chuyên nghiệp

Đen nay toàn tỉnh có 22 trường tiếu học và 5 trường mầm non được côngnhận đạt chuẩn quốc gia

Bảng 1.19: số trường học, lóp học

(Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Gia Lai năm 2008)

Dự báo trung bình giai đoạn 2006-2010 số trường mầm non của tỉnh GiaLai tăng 7,62%, trường tiểu học tăng 3,7%, trường trung học co sở tăng 4,08%,trường trung học phố thông tăng 8,18% và trường trung học chuyên nghiệp tăng4,56%

Cùng với sự tăng lên về quy mô trường học, phòng học và lớp học thể hiện

hệ thống giáo dục của tỉnh đã có bước phát triến Trung bình giai đoạn 2006-2010

số phòng học của bậc: tiểu học tăng 2,31%, trung học cơ sở tăng 6,89%, trung họcphố thông tăng 10,9% và trung học chuyên nghiệp tăng 5,62%

Giáo dục ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh rất được chútrọng đầu tư Đen nay, tỉnh có 1 trường dân tộc nội trú cấp tỉnh, 15 trường dân tộcnội trú ở các huyện Ớ các xã vùng sâu, vùng xa, vùng căn cứ cách mạng đều cócác lớp bán trú tại các trung tâm cụm xã, có các lớp học tại các làng thuộc cácvùng dân tộc thiếu sổ

Mô hình bán trú dân nuôi cấp 1, cấp 2 ngày càng phát triến trên địa bàntỉnh, hiện có 41 xã có trường bán trú dân nuôi với 127 lớp và 2.545 học sinh

Nhìn chung, hệ thống cơ sở hạ tầng- cơ sở vật chất kỹ thuật ngành giáo dục

đã và đang từng bước được đầu tư, xây dựng, nâng cấp, trang bị hướng đến ngàycàng hoàn thiện hơn Ờ vùng đồng bào dân tộc, khó khăn về thiếu trường lớp ngàycàng được khắc phục, một số trường mới được xây dựng nhằm tạo điều kiện đáp

chức năng: kho đế thiết bị dạy học, phòng thư viện, một số trường chưa đủ phòng thí

nghiệm, thực hành, nhiều trường thiếu sân chơi, bãi tập theo quy định

- về y tếNhững năm gần đây hệ thống y tế Gia Lai từng bước được cải thiện vànâng lên về mặt chất lượng Việc cung ứng các dịch vụ y tế được mở rộng, tỷ lệđồng bào dân tộc thiểu số được khám chữa bệnh và hưởng các dịch vụ chăm sócsức khỏe ngày càng tăng

về cơ sở vât chất và trang thiết bi V tế

Bảng 1.20: Mạng lưới y tế

Trang 25

(Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Gia Lai năm 2008)

Cơ sở vật chất và trang thiết bị y tế từ tuyến tỉnh đến tuyến huyện, xã đượctăng cường đầu tư, chuân hoá dân từng bước và cơ bản đảm bảo khám chữa bệnh

Năm 2000, toàn tỉnh có 14 bệnh viện tuyến tỉnh, huyện, 9 phòng khám đakhoa khu vực, 144 trạm y tế xã Đen năm 2007, toàn tỉnh có 18 bệnh viện tuyếntỉnh, huyện, 16 phòng khám đa khoa khu vực, 209 trạm y tế xã, phường

Cùng với sự tăng lên về co sở hạ tầng, giường bệnh trên địa bàn tỉnh cũngtăng Năm 2000 toàn tỉnh Gia Lai có 1.400 giường bệnh viện đến năm 2007 tănglên là 1.620 giường bệnh viện, và ước thực hiện năm 2008 là 1.720 giường bệnh,trung bình giai đoạn 2001-2005 tăng 2,06%

Tổng giường bệnh của các phòng khám đa khoa khu vực của tỉnh năm 2000

có 90 giường, năm 2007 tăng lên là 170 giường, trung bình giai đoạn 2001-2005 tăng12,2%

Giường bệnh trong các trạm y tế xã phường của tỉnh năm 2007 là 880 giường,ước thực hiện năm 2008 tăng 1.005 giường, tăng bình quân giai đoạn 2001-2005 là

1,2%

Năm 2007 toàn tỉnh có 12 xã đạt chuẩn quốc gia về y tế xã, ước năm 2008

có 18 xã đạt chuẩn quốc gia về y tế xã theo quy định của Bộ y tế, chiếm tỷ lệ

8,6%

Nhũng tồn tại:

- Mặc dù đã có nhiều đổi mới những năm gần đây nhưng số xã có cơ sở y tếđạt chuẩn của Gia Lai vẫn thấp hơn so với vùng Tây Nguyên và so với cả nước(Khu vực Tây Nguyên 15%, cả nước 35,7%)

- Hệ thống cơ sở hạ tầng, trang thiết bị y tế của tỉnh đã có nhiều cảithiện, song vẫn còn thiếu thốn và tỷ lệ đạt chuẩn về y tế xã còn thấp Các trungtâm y tế dự phòng tuyến huyện còn thiếu cơ sở vật chất, trang thiết bị Cáctrung tâm y tế dự phòng tỉnh, trung tâm kiếm nghiệm thuốc-thực phấm-mỹphẩm còn thiếu trang thiết bị kiểm nghiệm, xét nghiệm

- Năng lực hoạt động của các cơ sở khám chữa bệnh còn nhiều hạn chế

- Các bệnh viện tuyến huyện quy mô nhỏ, chưa đáp ứng nhu cầu khám

và điều trị của nhân dân, tỷ lệ vượt tuyến cao dẫn đến bệnh viện tỉnh thườngxuyên quá tải và hạn chế về chất lượng điều trị, chăm sóc sức khỏe; hầu hết cáctrạm y tế xã chưa có cán bộ về dược

Nhìn chung giai đoạn 2006-2010 y tế tỉnh phát triển theo hướng tiếp tục củng

cố y tế tỉnh, huyện và hoàn thiện hệ thống y tế cơ sở; tập trung nâng cao hơn nữa chấtlượng và hiệu quả của công tác chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân; thực hiện tốt các

Trang 26

chương trình y tế quốc gia nhằm đảm bảo trên 95% trẻ em được tiêm chủng mở rộng;giảm tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng xuống còn 24% năm 2010; giảm tỷ lệ mắc bệnh vàchết do các bệnh sốt rét, lao, viêm phổi trẻ em, thanh toán bệnh phong, bại liệt, uốnván trẻ sơ sinh công tác truyền thông giáo dục sức khoẻ được tăng cường.

Dự kiến đến năm 2010, kiện toàn cơ sở vật chất, quy mô giường bệnh đảmbảo đáp ứng yêu cầu khám, chữa bệnh cho nhân dân và khống chế các loại dịchbệnh; phát triển sự nghiệp y tế, chăm sóc sức khỏe cho nhân dân theo hướng dựphòng tích cực và chủ động; lấy phòng bệnh và chăm sóc sức khoẻ ban đầu làmmục tiêu phấn đấu

- về văn hóa, thông tin và thể thao

Các thiết chế văn hoá , thông tin, thể thao được coi trọng đầu tư và củng cổ.Nhiều cơ sở văn hoá , khu vui chơi, luyện tập thế thao, các khu di tích lịch sử , hệthống phát thanh, truyền hình từ tỉnh đến huyện và xã được đầu tư mới hoặc sửachữa, nâng cấp, mức hưởng thụ văn hoá , tinh thần của nhân dân được nâng lên.Tỉnh đã quan tâm xây dựng một số nhà văn hóa, trung tâm văn hóa huyện, xâydựng các thư viện huyện, nhà văn hóa, nhà rông văn hóa cấp xã Các thiết chế nhưnhà văn hóa, nhà rông văn hóa đã được nhân dân đồng tình ủng hộ, có những đóng

góp tích cực và hoạt động có hiệu quả

Tóm lại, mặc dù còn nhiều khó khăn , nhưng do có những cơ chế, giải pháphuy động, khai thác vốn đầu tư hợp lý ; định hướng đầu tư có trọng điểm, nên kếtcấu hạ tầng kinh tế - xã hội của tỉnh những năm qua được đầu tư với tốc độ khánhanh, bước đầu thu hút được các nguồn vốn từ khu vực dân cư, tư nhân, cácdoanh nghiệp nước ngoài và tỉnh ngoài Việc bố trí cơ cấu đầu tư đúng hướng, đã

có tác dụng phát huy thế mạnh trên từng ngành, từng lĩnh vực, góp phần đấynhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế , giải quyết việclàm cho người lao động

Các hoạt động thể dục thế thao khá sôi động, tỉnh đã tổ chức đăng cai nhiềugiải thể thao cấp khu vực và toàn quốc; đặc biệt là tố chức thành công Đại hội thểdục thế thao cấp xã, phường, thị trấn, tổ chức hội thi thể dục thể thao các dân tộcthiểu số

Đe án đưa thể dục thể thao về cơ sở, xây dựng chương trình phát triển thểdục thể thao ở xã, phường, thị trấn đến năm 2010 theo Quyết định số 100/QĐ-TTgcủa Thủ tướng Chính phủ đã được triển khai, thành lập mới 9 tố chức xã hội thế

Trang 27

thao, xây dựng 16 nhà tập, 5 sân bóng đá, 32 sân quần vợt, 3 hồ bơi và nhiều điểmtập luyện bóng bàn, cờ tướng, số câu lạc bộ thể dục thế thao trên địa bàn tỉnh năm

2001 là 139, đến năm 2007 tăng lên là 260 Tỉnh đang đầu tư cơ sở hạ tầng của Khuliên hợp TDTT Hoa Lư và kêu gọi xã hội hoá đầu tư các sân, bãi luyện tập và thiđấu các môn thể thao

Công tác xã hội hoá thế dục thể thao trên địa bàn tỉnh được đấy mạnh và cóchuyển biến đáng kể, đã góp phần mở rộng quy mô, đa dạng hóa các loại hình hoạtđộng thể dục thể thao, huy động được nhiều nguồn tài chính để tăng cường đầu tư

và phát triển thể dục thể thao

Tuy nhiên thế dục thế thao trên địa bàn tỉnh còn gặp một số khó khăn: cơ sởvật chất cho hoạt động thể dục thể thao còn thiếu cơ sở và phòng luyện tập; việc pháttriển thể dục thể thao chưa đều, đặc biệt ở vùng sâu vùng xa đời sống người dân cònkhó khăn nên thể dục thể thao ít được chú ý; số người luyện tập thể dục thể thao tăngnhưng còn thấp so với mật độ dân số; công tác tuyên truyền về xã hội hoá thể dục thểthao chưa sâu rộng, đặc biệt là tuyên truyền về các chính sách khuyến khích, tạo điềukiện cho tố chức, cá nhân trong tỉnh, ngoài tỉnh đầu tư, tài trợ đế phát triển sự nghiệpthể dục thể thao; còn thiếu nhũng văn bản hướng dẫn triển khai kinh doanh thể dụcthể thao ngoài công lập

Những hạn chế và nguyên nhân của hạn chế trong quá trình thực hiện đầu tư

xây dựng cơ bản ở tỉnh Gia Lai 2006-2009.

4.3.1 Những hạn chế còn tồn tại:

> Huy động vốn chưa đủ; khai thác vốn không hiệu quả

- Huy động các nguồn nội lực còn hạn ché, nhất là đầu tư từ khu vực dân

cư, tư nhân, vốn đầu tư từ ngân sách tỉnh, thực hiện các dự án chủ yếu dựa vàonguồn vốn Trung ương hỗ trợ hàng năm

- Tổ chức khai thác nguồn lực từ các cơ ché, chính sách cả nhà nước, từ cácchương trình, dự án của các bộ, ngành trên địa bàn chưa nhiều Khai thác tiềmnăng đất đai, tài nguyên đế tạo thành nguồn lực cho đầu tư còn hạn chế

- Thực hiện các chính sách ưu đãi, cơ chế một nửa, một đầu mối thu hútvốn đầu tư nước ngoài, tỉnh ngoài mới chỉ là bước đầu; phối hợp thực hiện giữacác cấp, các ngành còn nhiều vướng mắc

Trang 28

- Công tác kế hoạch hoá, lồng ghép các nguồn vốn còn thiếu cơ chế cụ thể;nguồn lực đầu tư còn phân tán; bố trí còn dàn trải, có lúc, có nơi còn lãng phí, thấtthoát.

> Ket cấu hạ tầng còn thiếu đồng bộ

- Hệ thống đường giao thông mới tập trung phát triển các tuyến trục dọc.Chất lượng đường còn thấp (đường đạt tiêu chuẩn chỉ chiếm 25 % ), nhiều tuyếncòn quá nhỏ , nhiều công trình phụ trợ trên tuyến chưa đảm bảo tiêu chuẩn kỹthuật, nhất là các tuyến phía Tây của tỉnh

- Hạ tầng phục vụ sản xuất nông lâm nghiệp; các cơ sở sản xuất, cung ứnggiống cây trồng, vật nuôi phục vụ các chương trình chuyển dịch cơ cấu kinh tếnông nghiệp , nông thôn, chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi, cơ cấu mùa vụ cònhạn chế Các công trình thuỷ lợi mới tập trung ở vùng đồng bằng và tưới cây trồngđất ruộng ( chủ yếu là cây lúa ); đầu tư phát triển hệ thống thuỷ lợi vùng đồi vàtưới cây trên đồi mới chỉ là bước đầu Hệ thống đê, kè hiện có chưa đáp ứng đượcyêu cầu phòng chống bão lũ trước những diễn biến bất thường của thời tiết

- Ớ khu vực nông thôn, điện chủ yếu mới đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, điệnnăng phục vụ sản xuất, kinh doanh còn rất hạn chế ( chỉ chiếm khoảng 12 % ); hầuhết các xã miền núi mới có điện ở khu vực trung tâm xã Tốn thất điện năng lớn(20-25% ), giá điện khu vực nông thôn còn cao

- Mạng lưới thương mại, dịch vụ du lịch, thông tin liên lạc ở các huyệnmiền núi chưa phát triển Khai thác tiềm năng về du lịch chưa nhiều, chưa hìnhthành được các tuyến điểm du lịch, về cơ bản tiềm năng du lịch chưa được khaithác Mạng lưới thông tin khu vực nông thôn, miền núi phát triển còn chậm, sốmáy điện thoại ở các xã miền núi mới đạt 3- máy/ xã

-Hạ tầng đô thị thành phố Pleiku còn thiếu đòng bộ, chất lượng thấp; kiếntrúc không gian còn nhiều bất cập; các điểm vui chơi, giải trí hấu như chưa có .Nhìn chung những hạ tầng hiện có chưa đáp ứng được với yêu cầu phát triển của

đô thị hiện đại, văn minh

- Hạ tầng các cụm, các khu công nghiệp chưa đáp ứng được nhu cầu củacác nhà đầu tư, triển khai còn nhiều vướng mắc vốn đầu tư chủ yếu từ ngân sáchnhà nước ( vốn vay ), chưa huy động được các nguồn vốn khác tham gia đầu tư hạtầng Suất đầu tư chưa cao, trong khi các doanh nghiệp đầu tư vào khu công

Ngày đăng: 06/01/2016, 17:48

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.15: Các công trình thủy lọi hiện có - Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác đầu tư xây dựng cơ bản ở tỉnh gia lai
Bảng 1.15 Các công trình thủy lọi hiện có (Trang 20)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w