Kết quả nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật trồng đến sinh trưởng phát triển và chất lượng của giống hoa tulip Lilabella .... Nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại giá thể đến sinh trưởn
Trang 1ĐÀO THANH THÙY LINH
ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG,
PHÁT TRIỂN VÀ NGHIÊN CỨU BIỆN PHÁP
KỸ THUẬT CHO HOA TULIP HÀ LAN
TẠI THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CÂY TRỒNG
Trang 2ĐÀO THANH THÙY LINH
ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG,
PHÁT TRIỂN VÀ NGHIÊN CỨU BIỆN PHÁP
KỸ THUẬT CHO HOA TULIP HÀ LAN
TẠI THÁI NGUYÊN
Ngành: Khoa học cây trồng
Mã số: 60.62.01.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CÂY TRỒNG
Người hướng dẫn khoa học: 1 PGS TS ĐÀO THANH VÂN
2 TS NGUYỄN TUẤN ĐIỆP
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố
Tôi xin cam đoan rằng, các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc
Thái Nguyên, ngày 20 tháng 10 năm 2015
Tác giả luận văn
Đào Thanh Thùy Linh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài nghiên cứu, tôi luôn nhận
được sự quan tâm của cơ quan, nhà trường, sự giúp đỡ tận tình của các thầy cô, các đồng nghiệp, bạn bè và gia đình
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo: PGS.TS Đào Thanh Vân
và thầy giáo: TS Nguyễn Tuấn Điệp những người thầy đã tận tình giúp đỡ, hướng
dẫn tôi thực hiện đề tài và hoàn thành công trình nghiên cứu này
Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Nông học - Trường
Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tạo điều kiện, hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt
quá trình học tập, nghiên cứu để có thể hoàn thành luận văn
Nhân dịp này, tôi xin trân trọng cảm ơn toàn thể gia đình, bạn bè đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Thái Nguyên, ngày 20 tháng 10 năm 2015
Tác giả luận văn
Đào Thanh Thùy Linh
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Đặt vấn đề 1
2 Mục tiêu và yêu cầu 2
2.1 Mục tiêu 2
2.2 Yêu cầu 2
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn đề tài 2
3.1 Ý nghĩa khoa học 2
3.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 2
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 3
1.1.1 Cơ sở khoa học của nghiên cứu giá thể 3
1.1.2 Cơ sở khoa học của việc nghiên cứu chất kích thích sinh trưởng 5
1.1.3 Cơ sở khoa học của việc nghiên cứu giống 7
1.2 Giới thiệu chung về cây hoa tulip 9
1.2.1 Nguồn gốc 9
1.2.2 Phân loại 10
1.2.3 Đặc điểm thực vật học 13
1.2.4 Yêu cầu ngoại cảnh 12
1.3 Tình hình sản xuất và tiêu thụ hoa trên thế giới và Việt Nam 13
1.3.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ hoa trên thế giới 13
1.3.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ hoa ở Việt Nam 16
1.3.3 Tình hình sản xuất và phát triển cây hoa tulip trên thế giới và ở Việt Nam 21
1.4 Tình hình nghiên cứu hoa tulip trên thế giới và Việt Nam 22
1.4.1 Tình hình nghiên cứu hoa tulip trên thế giới 22
1.4.2 Tình hình nghiên cứu hoa tulip ở Việt Nam 23
Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
2.1 Đối tượng và vật liệu nghiên cứu 26
Trang 62.1.2 Vật liệu nghiên cứu 26
2.2 Phạm vi nghiên cứu 27
2.3 Nội dung nghiên cứu 27
2.4 Phương pháp nghiên cứu 28
2.4.1.Bố trí thí nghiệm 28
2.4.2 Các chỉ tiêu và phương pháp nghiên cứu 30
2.4.3 Kỹ thuật trồng và chăm sóc hoa tulip trong các thí nghiệm 32
2.5 Hiệu quả kinh tế 32
2.6 Phương pháp xử lý số liệu 32
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 33
3.1 Đặc điểm thời tiết khí hậu của tỉnh Thái Nguyên 33
3.2 Kết quả đánh giá khả năng sinh trưởng phát triển và chất lượng hoa
của một số giống hoa tulip Hà Lan tại Thái Nguyên 34
3.2.1 Đặc điểm hình thái của các giống hoa tulip thí nghiệm 35
3.2.2 Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển và chất lượng hoa
của các giống hoa tulip Hà Lan trồng tại Thái Nguyên 36
3.3 Kết quả nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật trồng đến sinh trưởng
phát triển và chất lượng của giống hoa tulip Lilabella 46
3.3.1 Nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại giá thể đến sinh trưởng
phát triển và chất lượng của giống hoa tulip Lilabella 46
3.3.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của một số chế phẩm kích thích đến
sinh trưởng phát triển và chất lượng của giống hoa tulip Lilabella 56
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 65
1 Kết luận 65
2 Đề nghị 65
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Diện tích trồng hoa ở một số vùng trên thế giới năm 2012 13
Bảng 1.2: Tình hình xuất khẩu hoa của một số nước trên thế giới năm 2012 14 Bảng 1.3: Tình hình nhập khẩu hoa của một số nước trên thế giới năm 2012 15 Bảng 1.4: Diện tích và giá trị sản lượng hoa cây cảnh ở Việt Nam năm 2012 16
Bảng 1.5: Tốc độ phát triển của ngành sản xuất hoa cây cảnh 17
Bảng 1.6: Cơ cấu số lượng, chủng loại hoa ở Việt Nam qua một số năm 18
1.3.3.1 Tình hình sản xuất và phát triển cây hoa tulip trên thế giới 21
3.1 Đặc điểm thời tiết khí hậu của tỉnh Thái Nguyên 33
Bảng 3.2: Đặc điểm hình thái của các giống hoa tulip 35
Bảng 3.3: Tỷ lệ mọc mầm và các giai đoạn sinh trưởng 37
của các giống tulip Hà Lan tại Thái Nguyên 37
Bảng 3.4: Động thái tăng trưởng chiều cao cây và số lá của các giống tulip 39 Bảng 3.5: Khả năng sinh trưởng của các giống hoa tulip 42
Bảng 3.6: Tỷ lệ hoa hữu hiệu và chất lượng hoa của các giống tulip 43
Bảng 3.7: Tình hình bệnh hại các giống tulip thí nghiệm 45
Bảng 3.8: Hiệu quả kinh tế của các giống tulip thí nghiệm 46
Bảng 3.9: Ảnh hưởng của của một số loại giá thể đến các thời kỳ sinh trưởng của giống hoa tulip Lilabella của Hà Lan 47
Bảng 3.10: Ảnh hưởng của của một số loại giá thể đến động thái tăng trưởng chiều cao cây và số lá của giống hoa tulip Lilabella 49
Bảng 3.11: Ảnh hưởng của của một số loại giá thể đến khả năng 51
sinh trưởng của giống hoa tulip Lilabella 51
Bảng 3.12: Ảnh hưởng của một số loại giá thể đến tỷ lệ 53
hoa hữu hiệu và chất lượng của giống hoa tulip Lilabella 53
Trang 8Bảng 3.13: Mức độ nhiễm bệnh của giống tulip Lilabella 55
ở các nền giá thể khác nhau 55
Bảng 3.14: Hiệu quả kinh tế của các loại giá thể khác nhau 55
cho giống hoa tulip Lilabella Hà Lan tại Thái Nguyên 55
Bảng 3.15: Ảnh hưởng của một số chế phẩm kích thích 56
đến các thời kỳ sinh trưởng của của giống hoa tulip Lilabella 56
Bảng 3.16: Ảnh hưởng của một số chế phẩm kích thích đến động thái tăng trưởng chiều cao cây và số lá của giống hoa tulip Lilabella 58
Bảng: 3.17: Ảnh hưởng của một số chế phẩm kích thích 60
đến khả năng sinh trưởng của giống hoa tulip Lilabella 60
Bảng 3.18: Ảnh hưởng của một số chế phẩm kích thích đến tỷ lệ 62
hoa hữu hiệu và chất lượng cho giống hoa tulip Lilabella 62
Bảng 3.19: Ảnh hưởng của các chế phẩm kích thích 64
đến mức độ bệnh hại của giống tulip Lilabella 64
Bảng 3.20: Hiệu quả kinh tế của một số chế phẩm kích thích 64
sinh trưởng cho giống hoa tulip Lilabella 64
Trang 9DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CC : Chiều cao CCC : Chiều cao cây
CD : Chiều dài
CT : Công thức CV% : Hệ số biến động
Đ/C : Đối chứng
ĐK : Đường kính
LL : Giống Lilabella LSD5% : Sự sai khác ở mức nhỏ nhất 0,05
MB : Giống Mary bell
SD : Giống Seadov
SG : Giống Strong Gold
T0 : Nhiệt độ
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Hoa là sản phẩm của sự kết hợp hài hòa những gì tinh túy nhất của thiên nhiên ban tặng cho con người Hoa đem lại giá trị tinh thần và cảm xúc thẩm mỹ cao quý
Đã từ lâu hoa đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống con người Cùng với sự phát
triển của xã hội thì nhu cầu về hoa ngày càng cao Ngày nay hầu hết mọi người trên thế giới đều biết đến hoa như món ăn tinh thần không thể thiếu trong cuộc sống Hoa tulip là một trong những loại hoa có giá trị cao với vẻ đẹp sang trọng, màu sắc phong phú, đã tạo ra những ấn tượng mới mẻ, độc đáo cho người chơi hoa ở Việt Nam
Hoa tulip hay còn gọi là hoa Uất Kim Cương thuộc chi Tulipa Hoa có thể sống ở vùng ôn đới và đặc biệt thích nghi với khí hậu và thời tiết Bắc Bộ Du nhập vào Việt Nam từ những năm gần đây, tuy nhu cầu thị trường cao và giá trị kinh tế lớn nhưng đến nay số lượng hoa tulip trên thị trường không đáng kể Ngoài một số khu vực
có khí hậu mát mẻ và tập trung sản xuất hoa theo công nghệ cao như Đà Lạt, Mộc Châu thì hầu như tulip chưa xuất hiện nhiều Vài năm gần đây hoa tulip đã được trồng tại Thái Nguyên vào dịp tết Nguyên Đán nhưng chủng loại hoa chưa đa dạng và chất lượng hoa còn kém Việc trồng hoa tulip tại Thái Nguyên còn rất hạn chế là do thiếu hiểu biết về giống, không lựa chọn được những giống tulip phù hợp và do chưa nắm vững kĩ thuật trong quy trình trồng, chăm sóc hoa tulip mà đặc biệt là kĩ thuật xử lý củ giống, phân bón; chưa chọn loại giá thể phù hơp cho tulip nên dẫn đến sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng hoa tulip không cao
Để lựa chọn được các giống hoa tulip có chất lượng cao, phù hợp với điều
kiện sinh thái của địa phương, đáp ứng được thị hiếu ngày càng cao của người tiêu dùng, đồng thời xây dựng biện pháp kỹ thuật trồng, chăm sóc phù hợp nhằm nâng cao chất lượng, tăng hiệu quả kinh tế, chúng tôi đã tiến hành thực hiện để tài:
“Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển và nghiên cứu biện pháp kỹ thuật cho hoa tulip Hà Lan tại Thái Nguyên”
Trang 112 Mục tiêu và yêu cầu
3.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
- Bổ sung một số giống hoa mới vào cơ cấu chủng loại hoa phục vụ sản xuất hoa tại Thái Nguyên
- Là cơ sở khoa học cho việc xây dựng quy trình trồng, chăm sóc cho giống hoa tulip
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài
1.1.1 Cơ sở khoa học của nghiên cứu giá thể
Giá thể là loại có khả năng giữ nước tương đương với độ thoáng khí Khả năng giữ nước và độ thoáng khí của giá thể được quyết định bởi những khoảng trống (khe, kẽ) trong nó Trong cát mịn có những khoảng trống rất nhỏ, không chứa
được nhiều nước và oxi Ngược lại sỏi thô tạo ra những khoảng trống khá lớn, nhiều
không khí nhưng mất nước nhanh T.G.Berke (1997)[24] Giá thể có những đặc
điểm giữ nước cũng như thoáng khí, có pH trung tính và có khả năng ổn định pH,
thấm nước dễ dàng, bền và có khả năng tái sử dụng hoặc phân hủy ngoài môi trường, nhẹ và rẻ rất thông dụng Giá thể thì có nhiều loại như xơ dừa, trấu hun, mùn cưa, cát, sỏi vụn (cỡ hạt đậu), đá trân châu,… có thể dùng đơn lẻ hoặc trộn lại
để tận dụng ưu điểm từng loại Vì vậy, trồng cây trong giá thể, dinh dưỡng được
cung cấp cho cây thông qua phân bón trộn trong giá thể và bón thúc Giá thể được
để trong những khay chậu Giá thể là khái niệm dùng để chỉ tất cả các vật chất bao
quanh bộ rễ của cây trồng Việc sử dụng các giá thể phù hợp có ý nghĩa đặc biệt đối với cây trồng Giá thể được sử dụng hiện nay gồm: Than củi, gạch nung, rêu, xơ dừa, rễ bèo tây, vỏ cây, rễ dương xỉ, trấu hun, sỏi, đất, bã nấm ,
* Mùn xơ dừa: là giá thể tơi xốp, thoáng khí, dễ thấm nước, giữ ẩm cao,
không mang mầm bệnh, chứa nhiều vi sinh vật có lợi cho đất, rẻ tiền, dễ kiếm Tuy
nhiên cũng có nhược điểm thoát nước nhanh, chóng mục, vì vậy dễ bị sâu bệnh
* Trấu hun: rẻ, dễ làm, thoát nước, nhẹ dễ vận chuyển, cung cấp chất khoáng, làm cứng cây Tuy nhiên không có chất hữu cơ, kém dinh dưỡng, hấp thụ nhiệt mạnh nên chỉ dùng cho giâm cây bằng hom và trồng cây giai đoạn đầu
Đất không phải là môi trường tốt cho cây con, cho thêm cát hoặc cát + than
bùn sẽ tạo ra một hỗn hợp rất tốt Nhiều nơi đã và đang phát triển những hỗn hợp
đặc biệt mà có thể được sử dụng Những hỗn hợp này không sử dụng đất ruộng khi
Trang 13đất ruộng bị ô nhiễm do sâu bệnh và do hoá chất Sự khác nhau của môi trường
nhân tạo được thể hiện như sau:
Bunt (1965) [16] sử dụng hỗn hợp cho gieo hạt (theo thể tích 1 than bùn rêu nước + 1 cát +2,4kg/m 3 đá vôi nghiền và hỗn hợp trồng cây 3 than bùn rêu nước + 1 cát + 1,8kg/m3 đá vôi nghiền đều cho thấy cây con mập và khoẻ
Masstallerz (1977) [19] cho biết ở Mỹ đưa ra công thức phối trộn (tính theo thể tích) thành phần hỗn hợp bầu bao gồm sét và mùn cát sét và mùn cát có tỷ lệ 1:2:2; 1:1:1 hay 1:2:0 đều cho hiệu quả
Trung Tâm Nghiên cứu phát triển rau châu Á (AVRDC)(1992) [17] khuyến cáo việc sử dụng rêu than bùn hoặc chất khoáng được coi như môi trường tốt cho cây con
Theo Northen (1974) [22] cho rằng, việc cấy cây phong lan con lấy ra từ ống nghiệm nên dùng 3 phần vỏ cây thông xay nhuyễn + 1 phần cát hoặc 8 phần Osmida xay nhuyễn + 1 phần than vụn Giá thể này cho tỷ lệ sống của cây lan con cao và cây sinh trưởng phát triển tốt Có nhiều công trình nghiên cứu về thành phần của giá thể
ảnh hưởng đến chất lượng cây trồng Tuỳ từng loại cây khác nhau mà giá thể có thành
phần khác nhau.Tác giả Phạm Thị Kim Thu và Đặng Thị Vân (1997) [14] cho biết nền
đất + phân hữu cơ + cát đen tỷ lệ là 1:1:1 có phủ một lớp cát đen 2 cm lên trên là tốt
nhất khi đưa chuối nuôi cấy mô ra vườn ươm Đối với cây con được gieo từ hạt khả năng thích ứng với môi trường là cao hơn với cấy In vitro nhưng thời kỳ cây con ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát triển năng suất của cây sau này Vì vậy, việc xác định giá thể và hàm lượng chất khoáng cho cây con trong bầu cũng rất quan trọng.Tác giả Trần Khắc Thi (1980) [13] cho biết để trồng cây dựa trên diện tích dành cho cây vụ Đông, dùng bầu đất để gieo cây con với thành phần vật liệu gồm: 60% mùn trấu hoặc rơm đã mục + 20% bùn + 15% phân bắc mục và 5% cát (Tỷ lệ 3: 1: 0,75: 0,25) Có thể trộn thêm phân hoá học với số lượng 1m3 hỗn hợp rắc 0,5kg đạm Sulfat và lân +1,5kg Kali Kết quả cho thấy gieo bầu đảm bảo mật độ cây (do tỷ lệ cây sống cao); chất lượng cây con tốt hơn, tranh thủ được thời gian gieo sớm hơn từ 10-20 ngày; mỗi ha tiết kiệm
được 120 - 150 công giảm nhẹ công gieo và tưới nước
Trang 141.1.2 Cơ sở khoa học của việc nghiên cứu chất kích thích sinh trưởng
* Tình hình nghiên cứu về chất kích thích sinh trưởng trong sản xuất hoa
Các chất điều tiết sinh trưởng có vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh quá trình sinh trưởng, phát triển và các hoạt động sinh lý của cây trồng Căn cứ vào hoạt tính sinh lý của các chất điều tiết sinh trưởng, các nhà khoa học đã phân thành 2 nhóm chất là các chất kích thích sinh trưởng và các chất ức chế sinh trưởng Các chất kích thích sinh trưởng như GA3, IAA, IBA… có tác dụng kéo dài chiều cao cây, kéo dài chiều dài cành hoa, tăng số cành nhánh, tăng kích thước hoa Các chất
ức chế sinh trưởng như CCC, B9, MH … có tác dụng giảm chiều cao cây nhưng
làm tăng đường kính thân Vì vậy, chất điều tiết sinh trưởng thực vật ngày càng
được ứng dụng rộng rãi trong sản xuất nông nghiệp nói chung và trong sản xuất hoa
nói riêng
Khi nghiên cứu tác dụng của axit gibberellic (GA3) và malein hydrazyt (MH) sau khi trồng 30 và 60 ngày đến sự phát triển hoa và năng suất của hoa cúc được trồng trong điều kiện nhà lưới, S.R.Dalal và cs (2009)[23] đã cho thấy GA3 ở nồng độ 200 ppm làm tăng chiều cao cây tối đa, thúc đẩy nhanh sự ra hoa, tăng đường kính của hoa, chiều dài của cuống hoa và năng suất giống hoa cúc thí nghiệm Phun MH ở nồng độ
750 ppm làm tăng số nhánh trên cây và đường kính bông hoa
Prohexadione calcium (Pro - Ca) là chất có tác dụng ức chế quá trình sinh tổng hợp gibberallin làm giảm chiều dài tế bào của đốt thân, chiều cao cây, chậm quá trình sinh trưởng của cây và được sử dụng cho cây trồng chậu, trồng thảm… Yoon Ha Kim và cs (2010) [28] đã tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng của prohexadione calcium (Pro - Ca) và daminozide (B9) đến sự sinh trưởng, phát triển của giống cúc (MorifoliumR cv Monalisa White) 3 tuần tuổi, phun 3 lần (mỗi lần cách nhau 7 ngày) Kết quả cho thấy ở nồng độ 400 ppm Pro - Ca làm giảm nhiều chiều cao cây 30,7%, tăng đường kính thân cây, khối lượng cây và số lượng hoa không bị ảnh hưởng Việc sử dụng các loại chế phẩm và chất kích thích sinh trưởng như Spray - N Grow 1%, atonik 0,5%, GA3 50ppm đều có tác dụng rõ rệt tới sự sinh trưởng của cây trồng Trong đó GA3 có tác động mạnh ở giai đoạn sinh trưởng
Trang 15sinh dưỡng làm tăng chiều dài cây và rút ngắn thời gian nở hoa còn Spray - N - Grow và atonik tác động mạnh ở giai đoạn sinh trưởng sinh dục nâng cao tỷ lệ nở hoa và kéo dài độ bền hoa cắt và 2 loại thuốc Spray - N - Grow 1% và GA3 100ppm cũng có ảnh hưởng tốt đến sinh trưởng phát triển của cúc CN93 trong vụ Đông làm tăng tỷ lệ nở hoa đặc biệt là chiều cao cây mang lại hiệu quả kinh tế cao (Đặng Văn
Đông , 2000) [2]
*Ưu điểm của việc sử dụng chất điều tiết sinh trưởng trong sản xuất hoa
Với nghề trồng hoa sử dụng chất điều tiết sinh trưởng có nhiều thuận lợi là:
- Hoa không phải là thực phẩm cho người và vật nuôi, do đó các ảnh hưởng độc hại (nếu có) của chất điều tiết sinh trưởng không ảnh hưởng đến con người và vật nuôi
- Ở nồng độ rất thấp các chất điều tiết sinh trưởng đã phát huy tác dụng đối với cây trồng nói chung và với hoa nói riêng nên dư lượng của nó trong đất, nước là không đáng kể
- Tác dụng cảu chất điều tiết sinh trưởng đối với hoa nhanh, rỗ rệt
- Các chất điều tiết sinh trưởng có thể làm thay đổi một số đặc điểm thực vật học của hoa như: Thay đổi chiều cao cây, mùa sắc lá, thời gian sinh trưởng, sự ra hoa, chất lượng và tuổi thọ của hoa Những chất có tác dụng kích thích sinh trưởng của cây gọi là chất kích thích sinh trưởng như: auxin, gibberellin, xytokinin Những chất có tác dụng kìm hãm các quá trình sinh trưởng của cây gọi là chất kìm hãm sinh trưởng như: axit abxixic, etylen…
*Một số ứng dụng của chất điều tiết sinh trưởng trong sản xuất hoa
- Xúc tiến sự nảy mầm của củ giống và hạt giống: sự ngủ nghỉ của hạt và củ giống được quyết định bởi cân bằng ABA/GA3 Do đó có thể thay đổi cân bằng này
có lợi cho sự nảy mầm bằng cách giảm ABA hoặc tăng GA3 Với nhiều hạt giống và
củ giống hoa - cây cảnh thì việc xử lý GA3 2-5ppm có tác dụng xúc tiến nảy mầm tốt (cẩm chướng, violet, tô liên, lay ơn…)
- Xúc tiến hình thành rễ bất định của cành chiết, cành giâm trong nhân giống vô tính Có rất nhiều loại hoa được nhân giống theo con đường vô tính: cúc, thược dược, cẩm chướng, hồng, đào… Hàm lượng auxin trong cành chiết, cành
Trang 16giâm khá thấp không đủ để gây ra sự phân hóa rễ bất định Do đó người ta phải xử
lý auxin ngoại sinh cho cành chiết, cành giâm để làm nhanh sự ra rễ
Nồng độ auxin ( IBA hoặc NAA) cụ thể với một số hoa như sau (ppm): cúc 1.000; thược dược 500; đào 3.000; hồng 2.000; hoa giấy 2.000
- Điều khiển sự ra hoa: sự ra hoa của cây trồng nói chung và cây hoa nói riêng phụ thuộc vào nhiều yếu tố như ánh sáng, nhiệt độ, tương quan sinh trưởng, phát triển, hàm lượng các chất điều tiết sinh trưởng… xét cho cùng thì các ảnh hưởng của điều kiện ngoại cảnh như: Ánh sáng, độ ẩm và nhiệt độ không khí đều
ảnh hưởng đến các vật chất xúc tiến ra hoa của cây Trong đó các phytohoocmon đóng vai trò rất quan trọng GA3 và chất đối kháng với GA3 là CCC được sử dụng
rộng rãi để xúc tiến sự ra hoa
Xử lý hoa layơn với GA3 100ppm trước khi trồng, sau đó định kỳ 30 ngày một lần phun GA3 100ppm cho hoa nở sớm hơn, bông dài và bền hơn Layơn là một trong rất ít cây mà chiều cao cây được kích thích khi sử dụng CCC Phun CCC nồng
độ 8000 ppm 03 lần Lần thứ nhất xử lý ngay sau khi mọc, lần thứ 2 sau 4 tuần, lần
thứ 3 cách 3 tuần sau lần thứ 2, tức khoảng 25 ngày trước khi ra hoa Kết quả là hoa
tự kéo dài, số lượng hoa trên một ngồng hoa nhiều hơn
Hoa trà nếu được xử lý CCC có thể ra hoa sau 1 năm giâm cành Trong khi
đó hoa trà không được xử lý phải 3 – 4 năm sau mới có hoa
- Điều khiển sinh trưởng của cây
Làm tăng chiều cao và sinh khối của toàn cây: GA3 10 – 15 ppm làm tăng chiều dài cành hoa, do đó nâng cao được chất lượng hoa cắt ở hầu hết các loài hoa
Ví dụ: + NAA 500 ppm thúc đẩy sự phân nhánh của nhài, thược dược
- Làm ngắn thân của một số loài hoa đặc biệt là hoa trồng chậu CCC 0,25 – 1
% có tác dụng ức chế chiều cao của một số loài (hồng, cẩm chướng, cúc, lily )
- Ức chế sự hình thành chồi bên ở hoa cúc, cẩm chướng
1.1.3 Cơ sở khoa học của việc nghiên cứu giống
Cây hoa Tulip mới được phát triển ở nước ta những năm gần đây, giống Tulip đưa vào sản xuất chủ yếu được nhập nội từ Hà Lan Hiện nay tại Việt Nam
Trang 17chưa có nhiều nghiên cứu khảo nghiệm tại các vùng sinh thái một cách hệ thống trước khi trồng nên dẫn đến một số giống có chất lượng hoa kém, mẫu mã không
đẹp, hoa nở không đúng dịp,… gây khó khăn cho người sản xuất, hiệu quả kinh tế
thấp, có khi dẫn đến sự thất bại Nghiên cứu giống sẽ giúp chúng ta nắm bắt được
đặc điểm, khả năng sinh trưởng phát triển của giống phù hợp với điều kiện ngoại
cảnh, từ đó có thể lựa chọn được những giống phù hợp với điều kiện của địa phương trước khi đưa vào sản xuất
Trên thế giới các chương trình nghiên cứu về sử dụng kĩ thuật giao nhau giữa các loài khác nhau trong lai giống để cho ra các đặc tính kháng bệnh, các đặc điểm
về thẩm mỹ và đặc điểm sinh lý mới trong nguồn giống hoa tulip đã được phát triển
ở Hà Lan Họ chỉ ra khả năng sử dụng các thể giao nhau khác loài là bị hạn chế
(Van Eijk và các cộng sự, 1991; Van Raamsdonk và các cộng sự, 1995)[26][27] Hoặc ức chế hạt phấn không nảy mầm hoặc hạt phấn có nảy mầm nhưng sự phát triển của ống phấn kém là những biểu hiện thường được quan sát thấy (Kho và Baer, 1971)[20] Để khắc phục vấn đề này, đã có nhiều kĩ thuật khác nhau, bao gồm
kĩ thuật nuôi cấy trong ống nghiệm invitro như thụ phấn trong ống nghiệm, nuôi cấy noãn, nuôi cấy lát mỏng của bầu nhuỵ (Okazaki, 2005)[21] nuôi cấy phôi và cứu phôi ( Custers và các cộng sự, 1992, 1995; Okazaki, 2005)[18][21]và phương pháp
điều trị nội tiết tố Mặc dù một vài kết quả tích cực đã đạt được nhưng chúng lại có
kiểu gen phụ thuộc Sau đó những nghiên cứu nuôi cấy đoạn thân trong ống nghiệm kết hợp với nuôi cấy chồi ngẫu nhiên xảy ra sau ở Hà Lan và tỉ lệ nhân giống lên đến
6000 củ giống sau 2 năm là có thể được thu Hiện nay, không kĩ thuật nào trong số các kĩ thuật này được sử dụng thường xuyên trong các chương trình nhân giống hoa tulip Nuôi cấy phôi và đặc biệt là nuôi cấy phôi chưa trưởng thành được quan tâm cho việc lai giống giữa các loài khác nhau (Custer và các cộng sự, 1992, 1995; Okazaki, 2005)[18][21]
Ở Việt Nam các nhà nghiên cứu còn chưa đi sâu vào việc nghiên cứu chọn
lọc để tạo ra các giống tulip mới tuy nhiên đã có nhiều nghiên cứu so sánh, đánh giá
về khả năng sinh trưởng phát triển và thích nghicuar các giống hoa tulip như:
Trang 18Nguyễn Mạnh Toàn 2013 [11] nghiên cứu về 4 giông hoa tulip: Ile France, Strong Gold, DHI Set Chrismas, Leen Vanderrmark đã có kết luận các giống tulip thí nghiệm đều có khả năng sinh trưởng, phát triển tốt trong điều kiện vùng Thái Nguyên Tỷ lệ sống cao từ 96,6 – 98,3%, tốc độ sinh trưởng phát triển nhanh, khả năng chống chịu sâu bệnh tốt Trong đó, giống Leen Vandermark được đánh giá là
có hiệu quả kinh tế cao và triển vọng hơn, được nhiều người tiêu dùng ưa chuộng
Theo Lê Thị Phượng (2011) [9], khi nghiên cứu về một số giống hoa tulip ở Mộc Châu đã chỉ ra giống Strong Gold được đánh giá là giống có triển vọng: bông hoa to dài cân đối, trục hoa cứng và thẳng, hoa có mùi thơm nhẹ, độ đồng đều cao,
ra nụ và báo màu tập trung, hình dáng cây đẹp, tán gọn, ít sâu bệnh, màu sắc hoa
đẹp được nhiều người tiêu dùng ưa chuộng
Như vậy, việc nghiên cứu các giống tulip ở Việt Nam đã từng bước phát triển và chỉ ra được các giống thích nghi với điều kiện của vùng những kết quả đó
là cơ sở tiền đề cho việc nghiên cứu và sản xuất hoa tulip ở nước ta
1.2 Giới thiệu chung về cây hoa tulip
1.2.1 Nguồn gốc
Hoa tulip xuất xứ là một loài hoa dại, mọc ở Trung Á, lần đầu tiên được trồng ở Thổ Nhĩ Kỳ vào khoảng năm 1000 sau công nguyên Các trung tâm phát sinh của loài hoa này nằm ở dãy Thiên Sơn và dãy Pamir gần Islanabad ngày nay, vùng gần giữa Nga và Trung Quốc Chính từ khu vực này, loài hoa tulip đã phát triển rộng về phía Tây và phía Tây Bắc, về phía Đông và sang tận Trung Quốc và Mông Cổ Vùng đất thứ hai của tulip được hình thành là vùng Azerbaijan và Armenia Từ những khu vực này, loài hoa tulip lại tiếp tục phát triển mạnh sang những vùng lân cận, trong đó có vùng đất bao la của châu Âu Sau đó loài hoa này
được Carolus – Clusius một nhà sinh vật học nổi tiếng của Áo, được công nhận là
người đã có công đem tulip du nhập vào Hà Lan những năm 1593 Ông làm được
điều này nhờ vào sự giúp đỡ của một người bạn Flemish De Busbecq Trong thời
gian làm sứ giả, Flemish De Busbecq đã từng bị lôi cuốn bởi một loài hoa đẹp được trồng trong các vườn hoa cung điện - tulip (hay là hoa Uất Kim Cương) Chính ông
Trang 19đã gửi một ít củ giống hoa về cho Clusius để trồng chúng tại vườn hoa Leiden
Những năm 1936 - 1937 tulip bắt đầu nổi tiếng Nhiều loại tulip đắt giá, một vườn hoa đắt ngang một căn nhà ở Amsterdam Tulip nổi tiếng bởi màu sắc tươi sáng Ngày nay, chúng ta vẫn tìm thấy loài hoa này mọc tự nhiên rất nhiều nơi trên các quốc gia Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Pháp, Ý Tại Hà Lan hoa tulip vẫn đang rất thịnh hành, là nguồn hàng xuất khẩu có giá trị của Hà Lan, 75% hoa tulip trồng ở
Hà Lan dành cho xuất khẩu (Nguồn: en.wikipedia.org, 2014) [32]
1.2.2 Phân loại
Theo Võ Văn Chi, Dương Đức Tiến (1978)[1], hoa tulip thuộc chi Tulipa, họ
hành (Alliaceae), bộ hành (Liliales), phân lớp hành (Liliidae), lớp một lá mầm (Monocotyledoneae), ngành thực vật hạt kín (Angiospermatophyta) Chi Tulipa có
khoảng 109 loài hoa tulip khác nhau Hầu hết các giống hoa tulip hiện nay có nguồn
- Thân trục: được tạo thành do mầm dinh dưỡng co ngắn lại, trục thân thẳng
có chiều cao từ 10 - 70 cm khi cây ra nụ thì số lá đã được cố định Chiều cao cây
Trang 20quyết định bởi số lá và chiều dài đốt, số lá phần lớn do đặc điểm di truyền của giống quyết định
- Lá: hoa tulip thông thường có từ 2 – 4 lá, phần lớn trên trục thân có lá, rất ít loại không có lá Có nhiều dạng khác nhau: hình thuôn dài, tròn dài… lá không có cuống xếp thành vòng xoắn kích thước phụ thuộc vào giống và điều kiện chăm sóc,
lá giòn, dễ gẫy, màu xanh nhạt hoặc xanh đậm phụ thuộc vào giống Chiều rộng lá 5 – 8cm, chiều dài lá 20 – 25cm
- Hoa: hoa có cuống thường có một hoa trên cây Hoa có nhiều màu sắc khác nhau như màu kem, màu xanh, cam viền, trắng, hồng, vằng, tím, tía nhạt, đỏ thẫm… nhiều hình dạng đẹp mắt: Hình chuông, tháp, lục lăng, hình kim, hình chén… hoa không có lá bắc, có từ 6 – 7 cánh chia làm hai hàng trong ngoài, có loại
có hương thơm nhẹ, có loại không có 6 nhị màu đen hoặc màu vàng sáng nhạt ngắn hơn cánh, nhụy màu vàng nhạt có 3 thuỳ, mỗi thuỳ có 2 hàng hạt
- Quả: quả tulip thuộc loại quả nang bên trong có 3 ngăn, mỗi ngăn có 2 hàng hạt Hạt dẹt xung quanh có cánh mỏng, hình bán cầu hoặc hình trụ
* Đặc điểm sinh trưởng
- Đặc điểm sinh trưởng tự nhiên: quá trình sinh trưởng tự nhiên của chi tulip
có thể phân chia làm các giai đoạn sau:
+ Từ khi trồng đến nảy mầm: lá bắt đầu sinh trưởng, giai đoạn này hoàn toàn dựa vào dinh dưỡng trong củ
+ Từ khi nảy mầm đến hết sinh trưởng: giai đoạn này lá sinh trưởng mạnh, sản phẩm quang hợp được vận chuyển xuống thân
+ Từ khi ra hoa đến khi tàn hoa: khối lượng chất khô ở tất cả các bộ phận của cây đều tăng nhanh, đặc biệt là ở củ
+ Từ khi hoa tàn đến khi thu hoạch củ: lúc này cây ngừng sinh trưởng chỉ có
củ tiếp tục quá trình tích luỹ dinh dưỡng để phát triển hoàn thiện về dinh dưỡng trong củ để ra hoa ở vụ sau
- Đặc điểm phát dục
Giai đoạn phát dục của hoa tulip gồm: phát triển trục thân ra nụ, ra hoa, kết hạt, chết Củ vùi trong đất 70 – 80 ngày mới nảy mầm, để củ có hoa thì củ phải trải
Trang 21qua mùa đông lạnh (0-100C) Nếu củ giống được đem xử lý lạnh (phá ngủ) thì sau khoảng 7-15 ngày đã mọc mầm tuỳ thuộc vào điều kiện thời tiết sau khi trồng Xử
lý lạnh không tốt, thời gian gieo trồng gặp lạnh thì giai đoạn mọc mầm có thể kéo dài tới 3 - 4 tuần
Theo Hoàng Ngọc Thuận (2003)[12], thì cây hoa tulip là cây thuộc nhóm cây dài ngày, yêu cầu thời gian chiếu sáng dài thì cây mới ra hoa, thời gian tốt từ 8 – 10 giờ/ ngày Nếu như trồng trong điều kiện ngày ngắn thì sự tích luỹ Hyđrat cacbua giảm, Protein trong giai đoạn sinh trưởng sinh thực giảm, cây không ra hoa
Tulip xử lý lạnh ở 40C trong 12 tuần, sau khi trồng khoảng 7-15 ngày đỉnh sinh truởng mầm rút ngắn, bắt đầu hình thành mầm hoa nguyên thuỷ, khi củ đã qua
xử lý lạnh thì trước khi trồng củ có thể mọc mầm và phân hóa hoa Vì vậy, nếu không trồng kịp thời sẽ bất lợi cho sự phát dục mầm hoa Sự ra hoa và chất lượng hoa chịu ảnh hưởng rất lớn của điều kiện trước khi trồng nhưng tốc độ phát dục của
nụ và hoa lại chịu ảnh hưởng của điều kiện sau khi trồng
1.2.4 Yêu cầu ngoại cảnh
Theo Đặng Văn Đông và CS (2009) [3], yêu cầu điều kiện ngoại cảnh của chi Tulipa như sau:
- Nhiệt độ (t0C): hoa tulip chủ yếu được nhập từ vùng có vĩ độ cao (Hà Lan) nên có tính chịu rét tốt, chịu nóng kém, ưa khí hậu mát và ẩm, nhiệt độ thích hợp ban ngày là 16 – 200C, ban đêm là 10 – 150C Dưới 100C và trên 300C cây sinh trưởng kém, hoa dễ bị mù, thời gian khoảng 2 tuần đầu nhiệt độ thấp (10 – 150C) có lợi cho sự ra rễ và phân hoá mầm hoa
- Ánh sáng: hoa tulip ưa cường độ ánh sáng từ trung bình đến yếu Chiếu sáng dài ngày ảnh hưởng đến thời gian phát dục của hoa Trong điều kiện Bắc Cạn nếu trồng vào thời vụ Thu Đông (thu hoạch vào dịp tết Nguyên Đán), không cần che ánh sáng chỉ cần che mưa, sương muối
- Độ ẩm: đất quá ẩm hoặc quá khô đều ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của hoa tulip Thời kỳ đầu cây cần nhiều nước (tương đương độ ẩm đất 75 – 80%) nếu quá lớn sẽ gây thối củ và thối rễ, thời kỳ ra hoa cây cần ít nước hơn (độ
Trang 22ẩm đất 65 – 70%) Độ ẩm đất trung bình 70 – 75%, độ ẩm không khí 80 – 85% là
thích hợp với cây hoa tulip
- Đất: đất trồng tulip có thành phần cơ giới nhẹ, tơi xốp, nhiều mùn, độ ẩm vừa phải, thoát nước nhanh nhưng giữ ẩm tốt, giàu chất hữu cơ có pH= 6,8 – 7,2
Đất sạch không có sâu bệnh, không bón lót
- Phân bón: tulip từ khi trồng đến khi thu hoa rất ngắn, ở giai đoạn cây sinh trưởng không cần phải bón phân vì cây sử dụng chất dinh dưỡng ở củ Khi cây có nụ tiến hành phun phân bón lá hoặc tưới phân với nồng độ loãng
1.3 Tình hình sản xuất và tiêu thụ hoa trên thế giới và Việt Nam
1.3.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ hoa trên thế giới
Với sự phát triển của các ngành công nghiệp, ngành sản xuất hoa, cây cảnh trên thế giới đang rất phát triển và trở thành một ngành có giá trị thương mại cao Sản xuất hoa cây cảnh đã mang lại nhiều lợi ích cho nền kinh tế các nước Năm
2011, diện tích sản xuất hoa trên thế giới đạt 400,000 ha, Lượng tiêu thụ hoa toàn cầu ước tính khoảng 40 – 60 tỷ USD năm, các nước tiêu thụ hoa lớn nhất tập trung
ở Tây Âu, Pháp, Mỹ, Đức, Anh và Thụy Sỹ, tiêu thụ khoảng 80% tổng sản lượng
hoa thế giới, trong đó, 6 nước tiêu thụ hoa cắt cành lớn nhất đều đến từ thị trường
EU là Đức, Anh, Pháp, Ý, Hà Lan và Tây Ban Nha, hai nước Nhật và Mỹ chiếm
20% thị trường (Nguồn: Nông nghiệp Việt Nam, 2014) [30]
Bảng 1.1: Diện tích trồng hoa ở một số vùng trên thế giới năm 2012
(Nguồn: AIPA - Union Fleurs, International Statistics
Flowers and Plants, 2012)[29]
Trang 23Xuất khẩu hoa thế giới năm 2007 đạt 17 tỷ USD, trong đó hoa và lá cảnh đạt 8,31 tỷ USD (49,1%), cây, củ và hoa cắt cành đạt 8,60 USD (50,9%) Các nước đã phát triển của châu Âu, châu Mỹ và châu Á chiếm 90% tổng lượng hoa buôn bán trên thế giới Hoa hồng chiếm 70% trong ngành công nghiệp hoa cắt cành Hà Lan
là nước liên tục chiếm ngôi đầu bảng trong xuất khẩu hoa thế giới Năm 2007, với doanh số đạt 8,56 tỷ USD, xuất khẩu hoa của Hà Lan chiếm 49,6% thế giới Colmbia là nước xuất khẩu hoa đứng hạng nhì doanh số đạt 1,12 tỷ USD chiếm 6,5% Ấn Độ xếp hạng 16 thế giới về xuất khẩu hoa với thị phần chỉ có 0,82% (141
triệu USD) (nguồn:Bạn nhà nông, 2012) [31]
Bảng 1.2: Tình hình xuất khẩu hoa của một số nước trên thế giới năm 2012
1 Hà lan 64,8 Lily, hồng, layơn, đồng tiền, phăng
2 Colombia 12,0 Cúc, hồng, layơn, đồng tiền
(Nguồn: Nguyễn Xuân Linh 2012)[7]
Do cây hoa mang lại lợi nhuận khá cao nên một số nước rất chú trọng đầu tư,
Trang 24ngành nghề khác có nhiều liên quan như: công nghệ sinh học, tin học, tự động hoá, vật lý, hoá học, ngành công nghiệp làm nhà kính, nhà lưới, ngành công nghiệp sản xuất giá thể, phân bón, thuốc phòng trừ sâu bệnh…
Kết quả là mỗi năm trên thế giới tạo ra hàng trăm chủng loại hoa và giống hoa mới, đã xây dựng rất nhiều “nhà máy” sản xuất hoa với hàng tỷ bông hoa chất lượng cao cung cấp cho người tiêu dùng đồng thời đã thúc đẩy rất nhiều ngành nghề khác phát triển.Theo phân tích và dự báo của các chuyên gia kinh tế, ngành sản xuất kinh doanh hoa trên thế giới còn tiếp tục phát triển và vẫn có tốc độ phát triển cao (từ 12 - 15%) trong những năm tới
Bảng 1.3: Tình hình nhập khẩu hoa của một số nước trên thế giới năm 2012
8 Các nước khác 15,9
(Nguồn: Nguyễn Xuân Linh, 2012)[7]
Phát triển hoa cây cảnh không chỉ đóng một vài trò quan trọng là mang lại lợi nhuận to lớn cho nền kinh tế của đất nước mà còn góp phần đáng kể trong việc
Trang 25cải tạo môi trường sống phục vụ cho nhu cầu thiết kế, xây dựng, trang trí công cộng
và làm cho con người trở nên gần gũi với thiên nhiên hơn
1.3.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ hoa ở Việt Nam
Việt Nam có điều kiện khí hậu phù hợp cho nhiều loài hoa và cây cảnh phát triển Tính đến năm 2013, nước ta có khoảng 17.300 ha diện tích trồng hoa cây cảnh
(Nguồn: Trung tâm NC & PT hoa cây cảnh, 2014) [34] Sản xuất hoa cho thu nhập
cao, bình quân đạt 70 - 130 triệu đồng/ha nên rất nhiều địa phương trong cả nước
đang mở rộng diện tích trồng hoa trên những vùng đất có tiềm năng
Bảng 1.4: Diện tích và giá trị sản lượng hoa cây cảnh ở Việt Nam năm 2012
Vùng Diện tích (ha) Giá trị sản lượng (Tr.đ)
(Nguồn: Số liệu Cục thống kê, 2012)[35]
Mặc dù diện tích trồng hoa cây cảnh nước ta tăng, nhưng việc sử dụng hoa cắt ở nước ta chưa nhiều, bình quân 1USD/người/năm So với các nước khác trên thế giới như: Mỹ, Đức, Nhật, Hà Lan… bình quân 1 người 16,6USD/người/, trong khi đó việc sử dụng hoa cắt cành ở nước ta còn rất ít Tiêu thụ hoa trong nước đa dạng về chủng loại, nhưng chất lượng hoa thấp, giá rẻ, hiệu quả kinh tế không cao; hoa tiêu thụ tập trung vào những ngày lễ, tết, các ngày kỉ niệm… Hiện nay, Việt
Trang 26sang Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản…nhưng số lượng hoa chưa nhiều bình quân
10 triệu USD/năm Sở dĩ sản phẩm hoa cây cảnh của Việt Nam khó thâm nhập thị trường thế giới là do chủng loại, chất lượng, kích cỡ không đồng đều, chưa đáp ứng
được thị hiếu của khách hàng quốc tế Nghề sản xuất hoa cây cảnh ở Việt Nam có
từ lâu đời nhưng nó chỉ được coi là một ngành kinh tế và có giá trị hàng hoá từ những năm 1980 Cũng như một số ngành trên thế giới, ngành kinh tế này có tốc độ phát triển khá nhanh
Bảng 1.5: Tốc độ phát triển của ngành sản xuất hoa cây cảnh
(Nguồn: Đặng Văn Đông, 2015)[5]
So với năm 1997, diện tích hoa năm 2013 đã tăng 6,3 lần, giá trị sản lượng tăng 18,8 lần và mức tăng giá trị thu nhập/ha là 291,8 tr.đ/ha/năm Tốc độ tăng trưởng này là rất cao so với các ngành nông nghiệp khác Sự tăng trưởng của ngành sản xuất hoa cây cảnh luôn ổn định và theo cấp số cộng trong suốt 16 năm qua
Theo phân tích và đánh giá của các chuyên gia Viện nghiên cứu Rau quả, có
được kết quả trên là nhờ sự đóng góp của nhân tố xã hội (do thu nhập ngày càng cao, đời sống người dân ngày càng được cải thiện), chiếm 40%; sự đầu tư của Nhà nước
về cơ sở hạ tầng và cơ chế chính sách chiếm 15%; sự nỗ lực của người dân 25% và kết quả đóng góp của khoa học 20% Trước năm 1995, Việt Nam chủ yếu sử dụng
Trang 27những loại hoa truyền thống, thông dụng như: Quất, đào, mai, hồng, cúc, lay ơn, thược dược Trong những năm gần đây một số giống hoa cây cảnh mới, cao cấp đã dần dần được trú trọng và đang có xu hướng tăng dần về sản lượng và giá trị
Bảng 1.6: Cơ cấu số lượng, chủng loại hoa ở Việt Nam qua một số năm
(Nguồn: Đặng Văn Đông, 2015)[5]
Việt Nam là nước nông nghiệp, diện tích trồng trọt rộng lớn, có nguồn lao
động dồi dào, nhân dân ta cần cù chịu khó, sáng tạo có kinh nghiệm sản xuất hoa
lâu đời, đã hình thành được hệ thống nghiên cứu với nhiều cơ quan khoa học có uy tín Nước ta có nhiều vùng sinh thái khí hậu khác nhau thuận lợi cho nghề trồng hoa
Trang 28phát triển như: Hải Phòng, Sapa, Đà Lạt, Hà Nội (Ngọc Hà, Nghi Tàm, Quảng Bá, Nhật Tân), Mộc Châu - Sơn La Sự phát triển của một nền nông nghiệp bền vững góp phần thúc đẩy chuyển đổi cơ cấu cây trồng, đưa một phần diện tích trồng lúa, rau sang rồng hoa nâng cao thu nhập cho cuộc sống người dân như việc chuyển đổi
cơ cấu cây trồng sang sản xuất cây cảnh lâu năm: Chi phí cho 1 ha là 28.000.000
đồng, lợi nhuận thu được là: 90.000.000 đồng/ha/năm so với trồng 2 lúa + 1 màu
chi phí là 11,4 triệu/ha/năm lợi nhuận đạt 7,6 triệu đồng /ha Trong thời gian 3 – 3,5 tháng, chi phí đầu tư trên 1 sào bắc bộ trồng hoa Lily theo phương thức nhà lưới
đơn giản chi phí 88.700.000 đồng cho thu nhập 133.770.000 đồng từ hoa và phần củ
có thể là vật liệu giống nếu được bảo quản và xử lý lạnh
Hiện nay, do nhu cầu thị trường đòi hỏi về hoa cây cảnh với sản lượng lớn, phong phú về chủng loại và chất lượng cao trong khi hàng năm chúng ta vẫn phải nhập khẩu hoa từ nước ngoài Nắm được cơ hội này, một số doanh nghiệp lớn đang
có kế hoạch đầu tư vào lĩnh vực sản xuất kinh doanh hoa như Công ty Rừng hoa Đà Lạt, Công ty Langbian, Công ty Hương sắc, Công ty Mặt Trời (Đà Lạt), Công ty cổ phần Hoa Nhiệt đới (Mộc Châu - Sơn La)… Đây là những doanh nghiệp có tiềm lực kinh tế khá lớn, mạnh dạn đầu tư và đã đạt được kết quả nhất định trong sản xuất kinh doanh hoa cung cấp trong thời gian qua
Dự báo nhu cầu thị trường và khả năng phát triển của ngành hoa cây cảnh trong tương lai Theo kết quả điều tra của Viện Nghiên cứu Rau Quả cho thấy nhu câu tiêu dùng hoa mỗi năm ở Việt Nam giai đoạn 2005 – 2010 chỉ khoảng 35.000
đồng/người, trong khi ở Trung Quốc là 80.000 đồng/người, Hàn Quốc 260.000 đồng/người, Pháp là 230.000 đồng/người và Hà Lan là 350.000 đồng/người Theo
tốc độ tăng trưởng tiêu dùng như hiện nay thì nhu cầu tiêu dùng hoa tươi của Việt Nam sẽ tăng 45.000 đồng/người/năm vào năm 2015 và 65.000 đồng/người/năm vào năm 2020, tăng gần gấp đôi so với năm 2010 Nếu giá trị sản lượng một héc ta hoa
đạt trung bình 180 triệu đồng/héc ta trong năm 2015 thì cần phát triển khoảng
20.000 ha hoa và cây cảnh, tăng xấp xỉ 1,3 lần so với năm 2010 Đó là chúng ta chưa kể đến nếu xuất khẩu được thì diện tích trên càng tăng nhiều hơn.Trong bối
Trang 29cảnh Việt Nam gia nhập WTO thì ngoài việc tăng diện tích, sẽ có rất nhiều doanh nghiệp (trong và ngoài nước), các trang trại đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh hoa cây cảnh, đồng thời những giống hoa truyền thống có phẩm chất kém, nhanh tàn sẽ được thay thế bằng các giống hoa cây cảnh mới có chất lượng cao như lily, lan, hoa hồng, layơn Đến năm 2020 sẽ chỉ còn những hộ gia đình sản xuất hoa cây cảnh nhỏ lẻ chủ yếu cây cảnh trang trí, cây bonsai, dễ làm còn các loại hoa cao cấp
sẽ chuyển dần cho các công ty, các chủ trang trại có đầy đủ cơ sở vật chất, công nghệ và thị trường đảm nhận
* Định hướng phát triển: đẩy mạnh hơn nữa công tác nghiên cứu chọn tạo giống hoa mới, xây dựng và hoàn thiện các quy trình công nghệ theo hướng ứng dụng công nghệ cao; Tiếp tục đầu tư mở rộng sản xuất, quy hoạch mở rộng và phát triển một số vùng hoa, cây cảnh, đầu tư xây dựng một số vùng sản xuất chuyên canh
ở những nơi có điều kiện như Đà Lạt (Lâm Đồng), Mộc Châu, Ngọc Chiến (Sơn
La), Đồng bằng Sông Hồng, các tỉnh miền núi phía Bắc, các tỉnh ven thành phố Hồ Chí Minh, một số tỉnh thuộc đồng bằng sông Cửu Long; Tăng cường áp dụng tiến
bộ khoa học kỹ thuật cho hoa, cây cảnh; Thúc đẩy hơn nữa sự hợp tác, liên kết giữa các cơ quan quản lý, cơ quan khoa học, doanh nghiệp, nông dân trong sản xuất, kinh doanh, tiêu thụ sản phẩm hoa, cây cảnh; Tăng cường quảng bá, xúc tiến thương mại cho ngành hoa; Xây dựng các cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển ngành hoa , hỗ trợ các doanh nghiệp, các thành phần kinh tế đầu tư sản xuất hoa theo hướng công nghệ tiên tiến nhằm tạo ra các loại sản phẩm hoa có chất lượng cao tương đương với chất lượng hoa ngoại nhập, đủ sức cạnh tranh với các sản phẩm hoa cùng loại của các nước trong khu vực
* Tồn tại: diện tích trồng hoa của nước ta đã tăng nhanh nhưng sản xuất còn manh mún, nhỏ lẻ, tập trung chủ yếu ở một số vùng trồng chính như Hà Nội 4800
ha và thành phố Hồ Chí Minh với 2090 ha, Đà Lạt 2500 ha; Công tác nghiên cứu về hoa, cây cảnh vẫn còn nhiều hạn chế; các giống hoa mang bản quyền Việt Nam chưa nhiều; sự liên kết giữa các cơ quan khoa học, doanh nghiệp và người dân chưa cao; dẫn đến sản phẩm hoa của Việt Nam chưa có sức cạnh tranh cao trên thị trường quốc tế; diện tích hoa áp dụng công nghệ cao chưa nhiều chủ yếu trồng ngoài tự
Trang 30nhiên người nông dân trồng hoa cây cảnh phải chịu nhiều rủi ro có thể thất thu do
ảnh hưởng của thời tiết
1.3.3 Tình hình sản xuất và phát triển cây hoa tulip trên thế giới và ở Việt Nam
1.3.3.1 Tình hình sản xuất và phát triển cây hoa tulip trên thế giới
Hoa Tulip được phát hiện khoảng 400 năm, được ông Debusbecq người Đức phát hiện năm 1554 Đến năm 1593 khi nhà thực vật học Carolus Clusius (1526 – 1609), với những công trình nghiên cứu về các loại cây thuốc đến Hà Lan và trở thành nhà thực vật học đứng đầu vườn thực vật của trường ĐH Leiden
Hoa Tulip đã trở thành một trào lưu mới ở Hà Lan Nó đã đem lại lợi nhuận khổng lồ cho những giới thương mại khi họ nâng giá bán cao gấp nhiều lần
Ở Mỹ, thành phố Seattle, tiểu bang Washinhton hoa tulip nở từ tháng 4 đến
nửa đầu tháng 5 với những cánh đồng hoa rực rỡ màu sắc Ngành trồng hoa tulip ở
Mỹ chỉ mới phát triển hơn một thập niên qua nhưng hiện quy mô và chủng loại hoa
ở nơi đây không thua kém gì Hà Lan
Tại Canada nửa tháng đầu của tháng 5, tại thủ đô Ottawa diễn ra lễ hội hoa tulip Lễ hội này thu hút cả triệu du khách từ khắp nơi trên thế giới và mang lại cho nền kinh tế Ottawa khoảng 50 triệu USD
Hoa tulip là loại hoa được ưa chuộng ở khắp nơi trên thế giới được biết đến là biểu tượng của đất nước Hà Lan Hoa có hình dáng đẹp, màu sắc phong phú, quyến rũ, sang trọng Hoa tulip được trồng ở nhiều quốc gia trong đó Hà Lan được biết đến là là nước có diện tích trồng hoa tulip lớn nhất là 11,440 ha (chiếm 88% diện tích trồng hoa tulip trên thế giới) Hàng năm Hà Lan thu 300 triệu USD từ trồng hoa tulip, xuât khẩu tới 125 nước, phần lớn xuất khẩu sang các thị trường Mỹ, Đức, Nhật 5 quốc gia tiếp theo chính là Nhật Bản (300 ha, 2,5%), Pháp (293 ha, 2,4%), Ba Lan
(200 ha, 1,6%), Đức (155 ha, 1,3%) và New Zealand (122 ha, 1%) (nguồn: tulips in holland.com, 2015) [33]
Hoa tulip ở Hà Lan ngoài phục vụ cho nhu cầu nội địa còn là mặt hàng xuất khẩu có giá trị cao đem lại nguồn thu ngoại tệ lớn cho nước này Hơn 3 tỷ hoa tulip
được trồng mỗi năm ở Hà Lan và 2/3 số lượng hoa được xuất khẩu, chủ yếu sang
Mỹ và Đức (nguồn: theTulipomamania, 2012) [36]
Trang 311.3.3.2 Tình hình sản xuất và phát triển cây hoa tulip ở Việt Nam
Hoa tulip có đặc điểm nổi bật là hoa có màu rực rỡ, có mùi thơm nhẹ và có giá trị thưởng thức cao như hoa cắt cành, trồng thảm, trồng chậu Ở nước ta hoa tulip tuy đã được trồng ở một số nơi, loài hoa này vẫn chưa thực sự phổ biến vì nhiều hạn chế của điều kiện tự nhiên và kỹ thuật Hoa tulip xuất hiện ở nước ta từ mùa xuân năm 1996 do công ty hoa Đà Lạt Hasfarm cung cấp Càng ngày hoa tulip càng có sự đa dạng về chủng loại và dần dần được biết đến Ở Việt Nam hiện nay
có 2 nơi sản xuất hoa tulip lớn nhất là Đà Lạt Hassfarm ở Đà lạt - Lâm Đồng và công ty hoa Nhiệt Đới ở Mộc Châu - Sơn La Năm 2004, hoa tulip bắt đầu được trồng ở Mộc Châu - Sơn La với 15 giống có đủ màu sắc (duy nhất ở Việt Nam) Mùa Xuân năm 2007, công ty này cung cấp cho thị trường miền Bắc gần 300.000 cành hoa tulip với giá dao động từ 15000- 30000 đ/cành Còn lại là trồng mục đích phi thương mại với số lượng không đáng kể
Hoa được sử dụng trong các ngày lễ hội lớn trong nước và quốc tế, ngày tết và là quà tặng rất trang trọng Theo TS Đặng Văn Đông (2010) [4] ở Việt Nam vào dịp Tết Nguyên Đán hoa tulip có giá trị cao từ 20-25.000 đồng/cây, lợi nhuận 200-250% Theo Lê Thị Phượng [9], hiện nay ở nước ta hoa tulip chưa
được trồng nhiều, số lượng và chất lượng hoa chưa đáp ứng được thị trường Các
kết quả nghiên cứu về hoa tulip cũng chưa có nhiều, đó là một số kết quả thử nghiệm trồng hoa tulip ở Hưng Yên, Hà Nội, Mộc Châu và quy trình trồng hoa tulip tạm thời của Viện Rau Quả
1.4 Tình hình nghiên cứu hoa tulip trên thế giới và Việt Nam
1.4.1 Tình hình nghiên cứu hoa tulip trên thế giới
Hoa tulip được phát hiện khoảng 400 năm, được ông Debusbecq người Đức phát hiện năm 1554 Đến năm 1593 khi nhà thực vật học Carolus Clusius (1526 - 1609), với những công trình nghiên cứu về các loại cây thuốc đến Hà Lan và trở thành nhà thực vật học đứng đầu vườn thực vật của trường Đại học Leiden Hoa tulip đã trở thành một trào lưu mới ở Hà Lan Nó đã đem lại lợi nhuận khổng lồ cho những giới thương mại khi họ nâng giá bán cao gấp nhiều lần Ở Mỹ, thành phố
Trang 32những cánh đồng hoa rực rỡ màu sắc Ngành trồng hoa tulip ở Mỹ chỉ mới phát triển hơn một thập niên qua nhưng hiện quy mô và chủng loại hoa ở nơi đây không thua kém gì Hà Lan Tại Canada nửa tháng đầu của tháng 5, tại thủ đô Ottawa diễn
ra lễ hội hoa tulip Lễ hội này thu hút cả triệu du khách từ khắp nơi trên thế giới và mang lại cho nền kinh tế Ottawa khoảng 50 triệu USD
Hoa tulip là biểu tượng của Hà Lan và từ đó cho đến bây giờ nó là một trong những sản phẩm xuất khẩu chủ đạo của Hà Lan và cũng là nước xuất khẩu hoa tulip lớn nhất thế giới tới 125 quốc gia trên thế giới
Từ khi hoa tulip xuất hiện và trở thành cây trồng thương mại đã có rất nhiều các tài liệu nghiên cứu về loại hoa đẹp này Trước tiên phải kể đến sự phân loại thực vật học của chi Tulip bởi Hall (1940) dựa trên đặc điểm hình thái học và tế bào học Sau đó, Botschantzeva (1982) đã xuất bản một luận án toàn diện về hoa tulip Gần
đây một sự sửa đổi của chi tulip dựa trên các đặc điểm về hình thái học và di truyền
học tế bào, vượt qua dữ liệu đó, dữ liệu về phân bố địa lý đã được đề xuất bởi Van Raamsdonk và các cộng sự (1997)[30] Theo những phân tích của họ thì chi tulip bao gồm 55 loài phân bố trong 2 phái nhỏ là tulip gesneriana, loài mà được liên hệ
ở các vườn hoa tulip, là loài được trồng trọt nhiều nhất
Ngoài ra sản xuất hạt phấn hoa 2n cũng đã được báo cáo ở Nhật Bản bởi Okazaki (2005)[21] Các chương trình mở rộng cũng được phát triển để điều tra tính khả thi của lai tạo và chọn giống với những đặc điểm quan trọng cho những người trồng và sản xuất củ giống hoa Đặc biệt những nỗ lực được đặt vào tính kháng bệnh, chủ yếu là nấm và các virus phá vỡ tulip (TBV) Nghiên cứu cũng đề cập đến các khía cạnh khác, bao gồm cả việc truyền tải các đặc điểm, sự phát triển của các xét nghiệm sàng lọc cho việc lựa chọn kiểu gen kháng và đánh giá đặc điểm của các giống thương mại (Van Eijk và Leegwater, 1975) [25]
1.4.2 Tình hình nghiên cứu hoa tulip ở Việt Nam
Cây hoa tulip là loài cây trồng có nguồn gốc ôn đới, được đưa vào trồng nước ta từ mùa Xuân năm 1996 do công ty hoa Đà Lạt Hasfarm cung cấp Càng ngày hoa tulip càng có sự đa dạng về chủng loại và dần dần được biết đến, tuy đã
Trang 33được trồng ở một số nơi, loài hoa này vẫn chưa thực sự phổ biến vì nhiều hạn chế
của điều kiện tự nhiên và kỹ thuật và nguồn giống tulip ở nước ta vẫn còn nhập khẩu, các nghiên cứu về cây tulip còn hạn chế
Các nhà nghiên cứu đã bắt đầu có những nghiên cứu đánh giá giống và các biện pháp kỹ thuật trồng và chăm sóc tulip Các kết quả nghiên cứu về hoa tulip cũng chưa có nhiều, đó là một số kết quả thử nghiệm trồng hoa tulip ở Hưng Yên,
Hà Nội, Mộc Châu và quy trình trồng hoa tulip tạm thời của Viện Rau Quả Theo
TS Đặng Văn Đông và CS (2010)[4] thì hoa tulip chủ yếu được nhập từ vùng có
vĩ độ cao (Hà Lan) nên có tính chịu rét tốt, chịu nóng kém, ưa khí hậu mát và ẩm, nhiệt độ thích hợp ban ngày là 16-200C, ban đêm là 10-150C tulip xử lý lạnh ở
40C trong 12 tuần, sau khi trồng khoảng 7-15 ngày đỉnh sinh truởng mầm rút ngắn, bắt đầu hình thành mầm hoa nguyên thuỷ, khi củ đã qua xử lý lạnh thì trước khi trồng củ có thể mọc mầm và phân hóa hoa Vì vậy, nếu không trồng kịp thời sẽ bất lợi cho sự phát dục mầm hoa Sự ra hoa và chất lượng hoa chịu ảnh hưởng rất lớn của điều kiện trước khi trồng nhưng tốc độ phát dục của nụ và hoa lại chịu ảnh hưởng của điều kiện sau khi trồng Theo PGS.TS Hoàng Ngọc Thuận (2003) [12] thì cây hoa tulip là cây thuộc nhóm cây dài ngày, yêu cầu thời gian chiếu sáng dài thì cây mới ra hoa, thời gian tối từ 8 – 10 giờ/ ngày Nếu như trồng trong điều kiện ngày ngắn thì sự tích luỹ Hyđrat cacbua giảm, Protein trong giai đoạn sinh trưởng sinh thực giảm, cây không ra hoa Theo TS Đặng Văn Đông và CS (2010)[4], tulip từ khi trồng đến khi thu hoa rất ngắn ở giai đoạn cây sinh trưởng không cần phải bón phân vì cây sử dụng chất dinh dưỡng ở củ Khi cây có nụ tiến hành phun phân bón lá hoặc tưới phân với nồng độ loãng
Theo Lê Thị Phượng (2011) [8], “Nghiên cứu đánh giá giống và biện pháp
kỹ thuật trồng hoa tulip tại Mộc Châu – Sơn La” đã chỉ ra: Các giống tulip thí nghiệm đều có khả năng sinh trưởng, phát triển tốt trong điều kiện vùng Mộc Châu – Sơn La Tỷ lệ sống cao từ 97,0 – 98,4%, tốc độ sinh trưởng, phát triển nhanh, khả năng chống chịu sâu bệnh tốt
Trang 34+Về thời vụ trồng tulip Strong Gold: Đối với vùng Gia Lâm – Hà Nội tốt nhất trồng tulip để thu hoa bán vào ngày 28 – 30/12 âm lịch (tết Nguyên Đán) cần trồng trước tết từ 45 – 47 ngày Tại Mộc Châu – Sơn La, để thu hoạch vào dịp tết thì trồng trước tết 53 – 58 ngày
+ Sử dụng phương thức trồng trong chậu: 3 củ/chậu (kích thước chậu 25x30cm) là thích hợp nhất
+ Sử dụng giá thể trồng 40% mụn xơ dừa + 40% trấu hun + 30% đất là thích hợp nhất
+ Trồng hoa tulip có thể áp dụng phương pháp trồng cây theo hai giai đoạn, trong
đó giai đoạn 1 trồng cây trong kho lạnh ở nhiệt độ 120C – 130C với thời gian là 15 ngày giúp cây sinh trưởng, phát triển thuận lợi, nâng cao năng suất và chất lượng hoa
+ Trong điều kiện vụ Đông ở miền Bắc, cần trồng tulip trong nhà che nilon
và không nên che sáng giúp cho cây sinh trưởng phát triển thuận lợi
Hoàng Mạnh Toàn (2013) [11] “Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển một số giống và biện pháp kỹ thuật sản xuất hoa tulip tại Thái Nguyên” cho thấy: Các giống tulip thí nghiệm đều có khả năng sinh trưởng, phát triển tốt trong điều kiện vùng Thái Nguyên Trong đó, giống Leen Vandermark được đánh giá là có hiệu quả kinh tế cao và triển vọng hơn, được nhiều người tiêu dùng ưa chuộng
+ Về thời vụ trồng tulip Leen Vandermark: đối với vùng Thái Nguyên để thu bán hoa vào dịp Tết (ngày 28 – 30/12 âm lịch) tốt nhất nên trồng trước tết từ
Như vậy các kết quả nghiên cứu cho thấy khả năng sinh trưởng phát triển, chất lượng hoa của một số giống hoa tulip và xây dựng biện pháp kỹ thuật phù hợp trồng hoa tulip phù hợp với một số vùng của nước ta
Trang 35Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng và vật liệu nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng là 4 giống hoa tulip nhập nội Các giống hoa được nhập từ Viện
Nghiên Cứu Rau Quả đều có nguồn gốc từ Hà Lan
1 Strong Gold Hoa vàng tươi, nhụy – nhị vàng Hà Lan
2 Marry Bell Hoa đỏ viền vàng, nhụy vàng, nhị đen Hà Lan
3 Lilabella Hoa đỏ cờ, nhụy - nhị đen Hà Lan
4 Seadov Hoa đỏ nhung, nhụy – nhị đen Hà Lan
2.1.2 Vật liệu nghiên cứu
* Cây hoa tulip
- Hướng dẫn sử dụng:
Liều lượng pha 10ml/ bình 8lít
- Những điều cần chú ý khi sử dụng thuốc atonik:
+ Lượng dùng là 150-200 ml/ha (được hòa từ 500-1000 lít nước)
GA 3 : (gibberellin)
Trang 36- Thành Phần: dạng tinh bột trắng được đóng gói 1g/1 gói có tên thương phẩm là thuốc điều tiết sinh trưởng 920 do nhà máy sản xuất thuốc Thập Bát - Công ty trách nhiệm hữu hạn thuốc Đồng Nhân - Trung Quốc sản xuất Công thức hóa học tổng quát của GA3 là C19H22O6, GA3
- Sử dụng: pha với nồng độ 50ppm
- Công dụng:
+ Kéo giãn tế bào theo chiều dọc của cây làm tăng chiều cao cây
+ Tăng trưởng tế bào theo chiều dọc của cây và lá
+ Kích thích rõ rệt, tăng năng suất rất cao
Kích phát tố hoa trái thiên nông:
- Hoạt chất: alpha - naphthalene acetic acid 2%, beta-naphtoxy acetic acid 0.5%, gibberrellic acid GA-3 0.1% (ANA, 1- NAA + ß - naphtoxy acetic acid (ß – N.A.A) + gibberellic acid - GA3)
- Địa điểm nghiên cứu: thành phố Thái Nguyên
- Thời gian nghiên cứu: từ tháng 12/2014 đến 02/2015
2.3 Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu đặc điểm hình thái, khả năng sinh trưởng và phát triển của một
số giống hoa tulip Hà Lan tại Thái Nguyên
- Nghiên cứu một số loại chế phẩm kích thích cho giống hoa tulip Lilabera
Hà Lan trồng tại Thái Nguyên
- Nghiên cứu một số loại giá thể cho giống hoa tulip Lilabera Hà Lan trồng tại Thái Nguyên
Trang 372.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm 1: Đánh giá khả năng sinh trưởng và phát triển của một số giống
hoa tulip Hà Lan tại Thái Nguyên
Bố trí thí nghiệm: thí nghiệm được bố trí theo phương pháp ngẫu nhiên hoàn toàn (CRD), trong nhà có mái che, mỗi giống 50 cây, 3 lần nhắc lại, bố trí trồng trong các sọt, mỗi sọt trồng 50 củ Tổng số củ trong thí nghiệm: 4 giống x 50 củ x 3
NL = 600 củ
+ Công thức thí nghiệm:
Công thức 1 (đ/c): Strong Gold
Công thức 2: Mary Bell
Công thức 3: Lilabera
Công thức 4: Seadov
+Thời gian trồng là ngày 9/01/2015; khoảng cách 2 x 2cm
Cách tiến hành: Sau khi trồng các giống khác nhau vào các sọt, ta tiến hành
đưa các sọt tulip vào xử lý lạnh: ngày đầu tiên để 120
C; 3 ngày sau giảm dần, mỗi ngày giảm 10C, cho đến ngày thứ 4 để ở 8 – 90C, và giữ điều kiện nhiệt độ ổn định
4 ngày, sau đó tăng dần lên mỗi ngày 20C, khi nhiệt độ đạt 140C, giữ thêm môt ngày trong kho lạnh, sau đó đưa ra ngoài tự nhiên hoặc nhà lưới và xếp theo thứ tự sơ đồ thí nghiệm, tổng thời gian xử lý lạnh từ 12 – 14 ngày (cây cao khoảng 10 – 12cm)
Sơ đồ thí nghiệm
Trang 38Thí nghiệm 2: Nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại giá thể đến trồng
giống hoa tulip Lilabella Hà Lan tại Thái Nguyên
Bố trí thí nghiệm: Thí nghiệm được bố trí theo kiều ngẫu nhiên hoàn toàn (CRD) Mỗi công thức trồng 50 cây, 3 lần nhắc lại, bố trí trồng trong các sọt mỗi sọt trồng 50 củ Tổng số củ trong thí nghiệm: 3 công thức x 50 củ x 3 NL = 450 củ
+ Công thức thí nghiệm
Công thức 1(đ/c): Trấu hun 60 % + đất 30% + phân hữu cơ 10%
Công thức 2: Xơ dừa 60% + đất 30 % + phân hữu cơ 10%
Công thức 3: Bã nấm ủ EM 60% + đất 30 % + phân hữu cơ 10%
+Thời gian trồng: 09/01/2015; khoảng cách 2 x 2cm
Cách tiến hành: giống hoa tulip Lilabella được trồng trong các loại giá thể khác nhau sau đó đưa vào xử lý lạnh: ngày đầu tiên để 120C; 3 ngày sau giảm dần, mỗi ngày giảm 10C, cho đến ngày thứ 4 để ở 8 – 90C, và giữ điều kiện nhiệt độ ổn định 4 ngày, sau đó tăng dần lên mỗi ngày 20C, khi nhiệt độ đạt 140C, giữ thêm môt ngày trong kho lạnh, sau đó đưa ra ngoài tự nhiên hoặc nhà lưới và sắp xếp theo thứ tự sơ đồ thí nghiệm Tổng thời gian xử lý lạnh từ 12 – 14 ngày (cây cao khoảng 10 – 12cm)
Sơ đồ thí nghiệm:
Thí nghiệm 3 Nghiên cứu ảnh hưởng của các chế phẩm chế phẩm kích thích
khác nhau đến giống hoa tulip Lilabella của Hà Lan
Bố trí thí nghiệm: Thí nghiệm được bố trí theo kiều ngẫu nhiên hoàn toàn (CRD) Mỗi công thức trồng 50 cây, 3 lần nhắc lại, bố trí trồng trong các sọt mỗi sọt trồng 50 củ Tổng số củ trong thí nghiệm: 4 công thức x 50 củ x 3 NL = 600 củ
+ Công thức thí nghiệm:
Công thức 1(đ/c): không phun kích thích sinh trưởng
Trang 39Công thức 2: phun kích phát tố hoa trái Thiên Nông
Công thức 3: phun Atonik
Công thức 4: Phun GA3
+ Thời gian trồng: 09/01/2015; khoảng cách 2 x 2cm
Cách tiến hành: Sau khi trồng trong các sọt cây tulip được đưa vào xử lý lạnh: ngày đầu tiên để 120C; 3 ngày sau giảm dần, mỗi ngày giảm 10C, cho đến ngày thứ 4 để ở 8 – 90C, và giữ điều kiện nhiệt độ ổn định 4 ngày, sau đó tăng dần lên mỗi ngày 20C, khi nhiệt độ đạt đạt 140C, giữ thêm môt ngày trong kho lạnh, sau đó đưa ra ngoài tự nhiên hoặc nhà lưới, tổng thời gian xử lý lạnh từ 12 – 14 ngày (cây cao khoảng 10 – 12cm) lúc này bắt đâu tiến hành phun kích thích sinh trưởng lần đầu tiên, khoảng cách giữa các lần phun là 7 ngày phun một lần, phun đều ướt đẫm lá
Hoa: màu sắc cánh, mép hoa, nhị hoa
*Khả năng sinh trưởng, phát triển
-Tỉ lệ mọc mầm (%) = (số củ mọc mầm/ số củ trồng) x 100
-Thời gian từ trồng đến mọc 50%, ra nụ 50%, nở hoa 50%; đếm số ngày từ trồng đến 50% cây mọc mầm, 50% cây ra nụ, 50% cây nở hoa
- Thời gian sinh trưởng (ngày): tính từ ngày trồng đến 100% cây nở hoa
- Chiều cao thân cây (cm): đo từ mặt đất lên đến đỉnh sinh trưởng cao nhất
Trang 40- Số lá (lá): đếm toàn bộ số lá/cây, đánh dấu lá cuối cùng của lần đo trước, số
lá lần sau bằng tổng số lá lần trước cộng với số lá ra trong khoảng thời gian giữa hai lần đo
- Kích thước lá (cm): đo các lá trưởng thành khi các lá đã xoè hoàn toàn (chiều dài + Chiều rộng)
- Chu vi gốc thân (cm): đo cách gốc 3cm khi nụ hoa báo màu
* Chất lượng hoa:
- Tỷ lệ hoa hữu hiệu (%) = (tổng số cây ra hoa/tổng số cây trồng)x100
- Chiều cao đỉnh nụ (cm): đo từ đỉnh củ đến đỉnh nụ
- Đường kính nụ (cm): đo khi nụ xuất hiện và trước khi nụ xòe
- Đường kính hoa (cm): khi hoa nở hoàn toàn, đo khoảng cách từ 2 bên mép hoa qua tâm của hoa Đo khi hoa nở hoàn toàn
- Chiều dài bông: đo khi hoa nở hoàn toàn, đo từ đế hoa đến mép hoa
- Độ bền hoa nhổ trồng (ngày): khi hoa hé nở nụ, đánh cây, rửa sạch, trồng lại trong giá thể xác định số ngày hoa tồn tại (nở, héo, tàn) và số ngày cả cành hoa tàn (hoa cuối cùng tàn)
- Độ bền hoa tự nhiên (ngày): theo dõi từ khi hoa hé nở, xác định số ngày hoa tồn tại (nở, héo, tàn) và số ngày cả cành hoa tàn
*Phương pháp theo dõi bệnh hại:
Áp dụng theo “Phương pháp chẩn đoán bệnh bằng mắt thường” của Hà Minh Trung, Vũ Khắc Nhượng (1983) và “Quy định về phương pháp điều tra phát hiện sinh vật hại cây trồng” (QĐ số 82/2003/QĐ- BNN&PTNT về việc ban hành 10TCN 224)
-Theo dõi tỷ lệ nhiễm bệnh ở các cây trong ô thí nghiệm
+ Tỷ lệ bệnh (%) = (A x 100)/B
A: số lượng cây bị bệnh
B: tổng số cây điều tra
Đánh giá mức độ bệnh hại nặng, trung bình, nhẹ:
- Không gây hại
+ Mức độ nhẹ: tỷ lệ bệnh < 20% cây bị bệnh
++ Mức độ trung bình: tỷ lệ bệnh 20 - 40% cây bị bệnh