1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoàn thiện pháp luật về gia đình ở Việt Nam hiện nay

173 272 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 173
Dung lượng 1,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhiều vấn đề phát sinh trong lĩnh vực gia đình chưa được phản ánh và xử lý kịp thời; chính sách, pháp luật về gia đình chưa đồng bộ; công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về gia đình và

Trang 1

TRẦN TUYẾT ÁNH

hoàn thiện pháp luật

về gia đình ở việt nam hiện nay

LUẬN ÁN TIẾN SĨ CHUYấN NGÀNH: Lí LUẬN VÀ LỊCH SỬ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT

HÀ NỘI - 2015

Trang 2

TRẦN TUYẾT ÁNH

hoàn thiện pháp luật

về gia đình ở việt nam hiện nay

LUẬN ÁN TIẾN SĨ CHUYấN NGÀNH: Lí LUẬN VÀ LỊCH SỬ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT

Mó số: 62 38 01 01

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

GS.TS Lấ MINH TÂM

HÀ NỘI - 2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi; các số liệu, tư liệu được sử dụng trong luận án

là trung thực, có xuất xứ rõ ràng; những phát hiện đưa ra trong luận án là kết quả nghiên cứu của tác giả luận án

TÁC GIẢ LUẬN ÁN

Trang 4

Trang

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ GIA ĐÌNH, PHÁP

LUẬT VỀ GIA ĐÌNH, HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ GIA ĐÌNH VÀ

Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ GIA ĐÌNH Ở

2.1 Khái niệm pháp luật về gia đình, đặc điểm, nội dung và vai trò của

2.2 Các tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện pháp luật về gia đình ở

2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc hoàn thiện pháp luật về gia đình ở

2.4 Pháp luật về gia đình ở một số nước trên thế giới và những giá trị có thể

Chương 3: QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN VÀ THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT

Chương 4: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ

Trang 5

BĐG Bình đẳng giới

UBQGVSTBCPN Ủy ban quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Gia đình là tế bào của xã hội, là nơi duy trì nòi giống, là môi trường đặc biệt quan trọng để hình thành, nuôi dưỡng và giáo dục nhân cách con người, tạo nguồn nhân lực để phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Đồng thời, gia đình cũng là tổ ấm, nơi bình yên, an toàn, nơi duy trì và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống về gia đình, bảo tồn các phong tục, tập quán tốt đẹp, đấu tranh loại bỏ những tiêu cực, tệ nạn Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, giữa gia đình và xã hội có mối liên hệ mật thiết với nhau: “Gia đình tốt thì xã hội mới tốt, xã hội tốt thì gia đình càng tốt Hạt nhân của xã hội là gia đình”

Trong gần ba mươi năm thực hiện đường lối đổi mới, những thành tựu to lớn đạt được trong phát triển kinh tế, xã hội đã góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho mọi gia đình Vị trí, vai trò, chức năng của gia đình tiếp tục được phát huy và bổ sung thêm nhiều nét mới về nội dung và ý nghĩa xã hội ngày càng toàn diện và sâu sắc hơn Ngày càng có nhiều gia đình văn hóa góp phần giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Công tác xóa đói, giảm nghèo, giải quyết việc làm đã giúp hàng triệu gia đình thoát nghèo và nâng cao mức sống Kinh tế gia đình thực

sự đóng góp quan trọng trong việc duy trì sự tăng trưởng kinh tế và thu nhập quốc dân Nhiều giá trị nhân văn mới như phòng chống bạo lực gia đình, bình đẳng giới, quyền trẻ em, vai trò của phụ nữ trong gia đình ngày càng được đề cao Pháp luật về gia đình ngày càng hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý xây dựng gia đình ấm no, hạnh phúc, tiến bộ, bình đẳng Hệ thống cơ quan nhà nước và tổ chức tham gia công tác gia đình ngày càng kiện toàn và hoạt động có hiệu quả Đảng và Nhà nước đã quan tâm đề ra nhiều chủ trương, chính sách để phát huy vai trò của gia đình Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc và hội nhập quốc tế

Tuy nhiên, nhiều hiện tượng tiêu cực mới nẩy sinh trong quan hệ gia đình có

xu hướng ngày càng phức tạp Công tác quản lý nhà nước về gia đình chưa thực sự hiệu quả Bạo hành trong gia đình còn diễn biến rất phức tạp Ở nhiều nơi, trong nhiều gia đình vẫn còn nặng tư tưởng trọng nam, khinh nữ, chưa bảo đảm bình đẳng giới trong gia đình Tình trạng buôn bán phụ nữ và trẻ em, trẻ em bị xâm hại, trẻ em

Trang 7

phải lang thang kiếm sống, trẻ em vi phạm pháp luật có chiều hướng phát triển Các hiện tượng các tệ nạn xã hội như ma túy, mại dâm, HIV/AID xâm nhập vào gia đình chưa thuyên giảm Nhiều giá trị đạo đức truyền thống của gia đình như kính trên nhường dưới, thủy chung, hiếu nghĩa đang có biểu hiện xuống cấp Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình hình nói trên, trong đó có một số nguyên nhân như: Sự nhận thức về vị trí, vai trò của gia đình và công tác gia đình, công tác quản lý nhà nước về gia đình còn một số bất cập, chưa huy động sự tham gia của xã hội và cộng đồng Pháp luật về gia đình đã được sửa đổi, bổ sung nhưng chưa theo kịp sự phát triển của gia đình trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế Các quy định pháp luật về gia đình tồn tại rải rác trong nhiều văn bản khác nhau Nhiều quy phạm chưa cụ thể, rõ ràng, thiếu minh bạch, không phù hợp điều kiện thực tế khách quan nên tính khả thi còn hạn chế Nhiều vấn đề phát sinh trong lĩnh vực gia đình chưa được phản ánh và xử lý kịp thời; chính sách, pháp luật về gia đình chưa đồng bộ; công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về gia đình và trang bị các kiến thức,

kỹ năng ứng xử trong các quan hệ về gia đình chưa được coi trọng… Việc tổng kết thực hiện pháp luật về gia đình, nghiên cứu chính sách, pháp luật về gia đình chưa được quan tâm và đầu tư đúng mức, vì vậy, cho đến nay chưa có cơ sở khoa học và thực tiễn đúng đắn phục vụ cho công tác hoạch định chính sách, xây dựng và hoàn thiện pháp luật về gia đình

Do vậy, nghiên cứu một cách cơ bản, toàn diện pháp luật về gia đình, xây dựng cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc hoàn thiện pháp luật về gia đình, hướng tới

mục tiêu xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc và bền vững là cần thiết và có ý nghĩa hết sức quan trọng ở nước ta hiện nay

Xuất phát lý do trên, Nghiên cứu sinh chọn đề tài: “Hoàn thiện pháp luật về gia đình ở Việt Nam hiện nay” làm Luận án tiến sĩ của mình tại Học viện Chính trị

Quốc gia Hồ Chí Minh

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

2.1 Mục đích nghiên cứu của đề tài

Mục đích nghiên cứu của luận án là phân tích, làm rõ cơ sở lý luận hoàn thiện pháp luật về gia đình, đánh giá thực trạng pháp luật về gia đình ở Việt Nam và

đề ra quan điểm, giải pháp hoàn thiện pháp luật về gia đình ở Việt Nam hiện nay

Trang 8

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

- Phân tích khái niệm pháp luật về gia đình; làm rõ vai trò, nội dung và những đặc điểm của pháp luật về gia đình Việt Nam; nghiên cứu hình thành các tiêu chí để xác định mức độ hoàn thiện của pháp luật về gia đình; các yếu tố ảnh hưởng đến việc hoàn thiện pháp luật về gia đình ở Việt Nam Ở mức độ nhất định, đề tài nghiên cứu pháp luật về gia đình ở một số nước trên thế giới và rút ra những giá trị

có thể tham khảo ở Việt Nam

- Nghiên cứu tổng quan về quá trình phát triển của pháp luật về gia đình ở Việt Nam từ 1945 đến nay; phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật về gia đình Việt Nam trong giai đoạn hiện nay để khẳng định những bước phát triển, những

ưu điểm cần phát huy, đồng thời tìm ra những hạn chế và nguyên nhân dẫn đến thực trạng đó

- Đề xuất quan điểm và những giải pháp hoàn thiện pháp luật về gia đình ở Việt Nam hiện nay

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là những vấn đề lý luận và thực tiễn của pháp luật về gia đình ở Việt Nam hiện nay

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Pháp luật về gia đình có nội dung rộng, có liên quan đến nhiều lĩnh vực pháp luật khác trong hệ thống pháp luật chung, luận án tập trung nghiên cứu pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội có tác động và ảnh hưởng trực tiếp tới sự hình thành, tồn tại và phát triển của gia đình, với tư cách là một chủ thể, một tổ chức đặc biệt của đời sống xã hội; các quan hệ về kết hôn tuy có được đề cập nhưng chỉ ở mức độ nhất định

Có nhiều nhóm quan hệ xã hội mà gia đình là chủ thể, bao gồm: 1/ quan hệ

về bình đẳng giới trong gia đình; 2/ quan hệ về phòng, chống bạo lực gia đình; 3/ quan hệ về trách nhiệm của gia đình trong ngăn chặn tệ nạn xã hội xâm nhập vào gia đình; 4/ quan hệ dịch vụ gia đình; 5/ quan hệ hỗ trợ các gia đình có hoàn cảnh

Trang 9

khó khăn; 6/ quan hệ phát triển kinh tế gia đình; 7/ quan hệ phát sinh trong quá trình quản lý nhà nước đối với gia đình;

Trong các quan hệ xã hội nói trên, luận án chỉ đi sâu nghiên cứu 4 nhóm pháp luật điều chỉnh các nhóm quan hệ 1, 2, 3, 7 bởi vì việc hoàn thiện các nhóm quy phạm pháp luật này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, trực tiếp góp phần hoàn thành mục tiêu hàng đầu được nêu trong Chiến lược phát triển gia đình Việt

Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030, đó là: “Nâng cao nhận thức về vai trò, vị trí,

trách nhiệm của gia đình và cộng đồng trong việc thực hiện tốt chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật về hôn nhân và gia đình, bình đẳng giới, phòng, chống bạo lực gia đình, ngăn chặn các tệ nạn xã hội xâm nhập vào gia đình”

Về không gian và thời gian: Luận án nghiên cứu pháp luật về gia đình ở Việt Nam từ năm 1945 nhưng tập trung vào giai đoạn hiện nay

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

- Đề tài luận án được nghiên cứu trên cơ sở lý luận khoa học của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về nhà nước và pháp luật nói chung, về gia đình và pháp luật về gia đình nói riêng Bên cạnh đó, đề tài chú trọng những quan điểm, tri thức khoa học có tính phổ biến ở trong nước và nước ngoài về gia đình và pháp luật về gia đình để tham khảo và phục vụ cho việc tiếp cận và giải quyết các vấn đề thuộc phạm vi nghiên cứu của luận án

Trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng, phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật lịch sử của triết học Mác - Lênin, tác giả luận án sử dụng những phương pháp nghiên cứu cụ thể sau đây:

- Phương pháp phân tích và tổng hợp được sử dụng trong chương 2, 3, 4 để làm rõ cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng và đề xuất quan điểm, giải pháp hoàn thiện pháp luật về gia đình

- Phương pháp tiếp cận hệ thống được sử dụng trong các chương 2,3,4 để làm rõ nội dung, vai trò, các tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện của pháp luật về gia đình, các yếu tố ảnh hưởng và các điều kiện bảo đảm hoàn thiện pháp luật về gia đình ở Việt Nam

Trang 10

- Phương pháp kết hợp lý luận với thực tiễn, phương pháp lô gíc được sử dụng ở chương 2, 3, 4: Luận án nghiên cứu từng vấn đề trong mối quan hệ chặt chẽ giữa lý luận với thực tiễn, giữa quan điểm, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước với thực tiễn thực hiện pháp luật về gia đình Ba chương của luận án được nghiên cứu trong mối quan hệ lôgíc xuyên suốt từ cơ sở lý luận đến thực trạng và quan điểm, giải pháp hoàn thiện pháp luật về gia đình

- Phương pháp thống kê và xã hội học pháp luật được sử dụng trong chương

3 khi đánh giá thực trạng pháp luật về gia đình

- Phương pháp so sánh được sử dụng trong chương 1 để làm rõ tình hình nghiên cứu, chỉ ra những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu Phương pháp này cũng được sử dụng ở chương 2 để so sánh các pháp luật về gia đình của một số nước

5 Những đóng góp mới về mặt khoa học của đề tài

Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách có hệ thống và toàn diện

về hoàn thiện pháp luật về gia đình ở Việt Nam hiện nay Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ có những đóng góp mới về mặt khoa học như sau:

- Trên cơ sở phân tích một cách toàn diện các quan điểm, quan niệm về pháp luật về gia đình, luận án đã xây dựng khái niệm khoa học pháp luật về gia đình, chỉ ra vai trò, đặc điểm của pháp luật về gia đình, với nội dung bao gồm các nhóm quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội trong quản lý nhà nước

về gia đình, phòng chống bạo lực gia đình, bình đẳng giới trong gia đình, phòng chống tệ nạn xã hội xâm nhập vào gia đình; đồng thời, xây dựng các tiêu chí về nội dung và hình thức để xác định mức độ hoàn thiện của pháp luật về gia đình; phân tích làm rõ các yếu tố ảnh hưởng đến việc hoàn thiện pháp luật về gia đình ở Việt Nam hiện nay

- Chỉ rõ quá trình phát triển của pháp luật về gia đình ở Việt Nam; phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật về gia đình ở Việt Nam, khẳng định những bước phát triển, những ưu điểm cần phát huy, đồng thời chỉ ra những hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế đó Từ đó, luận án đề xuất 4 quan điểm và 6 nhóm giải pháp hoàn thiện pháp luật về gia đình ở Việt Nam hiện nay

Trang 11

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần bổ sung và làm giàu thêm những kiến thức lý luận về gia đình và pháp luật về gia đình; xây dựng cơ sở khoa học cho việc phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật về gia đình; xây dựng và hoàn thiện pháp luật về gia đình và tổ chức thực hiện có hiệu quả pháp luật về gia đình trong thực tiễn

Luận án là tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu, giảng dạy luật học và văn hóa pháp lý chuyên sâu về gia đình và pháp luật về gia đình Luận án cũng là tài liệu tham khảo hữu ích cho các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền và trách nhiệm xã hội trong quá trình xây dựng và hoàn thiện các chính sách, pháp luật về gia đình; xây dựng và thực hiện các chương trình, đề án, kế hoạch cụ thể tổ chức thực hiện có hiệu quả pháp luật về gia đình ở Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng gia đình hạnh phúc, tiến bộ

7 Bố cục của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục công trình của tác giả đã công bố liên quan đến đề tài luận án, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án gồm 4 chương, 11 tiết

Trang 12

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ GIA ĐÌNH,

PHÁP LUẬT VỀ GIA ĐÌNH, HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ GIA ĐÌNH VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU

1.1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC

1.1.1 Nhóm công trình nghiên cứu về gia đình

- Đề tài “Nghiên cứu căn cứ khoa học để xây dựng ngành gia đình học ở Việt

Nam”, của Nguyễn Văn Cương [47] Tác giả đã hệ thống hóa những vấn đề lý luận

chung về gia đình, văn hóa gia đình và việc nghiên cứu về gia đình của các ngành khoa học, khu biệt rõ các nội dung nghiên cứu, làm cơ sở cho việc xác định những vấn đề cần khảo sát và đánh giá

Tác giả và nhóm tác giả đã khảo sát, đánh giá những nét cơ bản trong đặc trưng của gia đình truyền thống và những biến đổi của nó trong xã hội hiện nay; khẳng định sự cần thiết phải xây dựng ngành Gia đình học để tăng cường và củng

cố nguồn nhân lực làm công tác nghiên cứu về gia đình Đặc biệt, công trình này đã đưa ra những định hướng giá trị tạo điều kiện cho gia đình Việt Nam phát triển theo hướng vừa giữ được các giá trị văn hóa truyền thống, vừa tiếp thu được sự tiến bộ trong văn minh nhân loại, hội nhập và phát triển

Công trình còn khảo sát, đánh giá thực tế đội ngũ cán bộ làm công tác quản

lý nhà nước về gia đình ở cơ sở cũng như thực tế đào tạo kiến thức về gia đình ở trong và ngoài nước hiện nay

Trong các văn bản của Đảng và Nhà nước luôn đề cao vai trò của gia đình và các hoạt động nhằm hỗ trợ sự phát triển toàn diện của gia đình Có thể kể đến như: Hiến pháp (1992), Bộ luật Dân sự (1995), Bộ luật Hình sự (1999), Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em (2004), Luật Bình đẳng giới (2006), Luật Phòng chống bạo lực gia đình có hiệu lực tháng 7 năm 2008… Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ban hành Chỉ thị số 49-CT/TƯ ngày 21-2-2005 về xây dựng gia đình Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước Chỉ thị số 16/2008/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc tổ chức triển khai thi hành Luật phòng chống bạo

Trang 13

lực gia đình; Quyết định số 629/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển gia đình Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030

- “Thực trạng và những vấn đề đặt ra đối với gia đình Việt Nam hiện nay”,

của Uỷ ban dân số, Gia đình và trẻ em [183] Cuốn sách này đã làm rõ khái niệm quy mô gia đình; số người, số thế hệ trong gia đình; khái niệm về hôn nhân, tình trạng kết hôn và ly hôn ở Việt Nam; thực trạng và những biến đổi của mối quan hệ

vợ chồng trong gia đình trên các phương diện: vai trò của chủ hộ, vai trò của vợ chồng trong sản xuất, đóng góp thu nhập…; mối quan hệ giữa các thế hệ trong gia đình; mối quan hệ họ hàng thân tộc… Có thể nói cuốn sách đã nêu khá chi tiết các khái niệm, các mối quan hệ, chức năng của gia đình đồng thời cũng dự báo được xu thế biến đổi của gia đình Việt Nam, những vấn đề đặt ra đối với gia đình Việt Nam trong xu thế hội nhập quốc tế…

- “Gia đình Việt Nam trong bối cảnh đất nước đổi mới”, của Lê Thi [148],

đã đề cập đến sự biến đổi của gia đình Việt Nam trong bối cảnh đất nước đổi mới chuyển sang thế kỷ 21 Ở chương 1 tác giả đề cập tới những biến đổi chung, sau đó

đi sâu vào nghiên cứu biến đổi của hôn nhân, vấn đề xã hội hoá trẻ em và việc thực hiện mục tiêu nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX Chương 2, tác giả đi từ góc độ giới để nghiên cứu các vấn đề gia đình cụ thể như mối quan hệ trong gia đình nhìn

từ cách tiếp cận giới; bất bình đẳng trong việc thực hiện chiến lược dân số và phát triển bền vững ở Việt Nam; bạo lực gia đình, phân biệt đối xử giữa con trai và con gái, ly hôn, tâm trạng phụ nữ đơn thân Cuốn sách cũng đề cập tới vấn đề xây dựng văn hóa gia đình và gia đình văn hóa

- “Xây dựng gia đình văn hóa trong sự nghiệp đổi mới”, của Trần Hữu Tòng, Trương Thìn [161] Sách gồm 04 phần: Phần I: Một số quan điểm của Đảng

và Nhà nước về xây dựng gia đình văn hóa trong thời kỳ đổi mới; Phần II: Vấn đề gia đình và gia đình văn hóa; Phần III: Những kinh nghiệm và định hướng cuộc vận

động xây dựng gia đình văn hóa

- “Đạo đức gia đình trong nền kinh tế thị trường”, của Nguyễn Thị Khoa

[93] đề cập tới vấn đề nền kinh tế thị trường có tác động mạnh mẽ đến đạo đức gia đình, làm thay đổi nhận thức ở một số người về các chuẩn mực giá trị: quan niệm về

Trang 14

đạo đức trong hôn nhân bị lệch lạc, xu hướng ly hôn tăng; Đạo đức tình dục bị vi phạm; Mối quan hệ giữa các thế hệ trong gia đình bị lỏng lẻo; Hiện tượng coi thường giáo dục gia đình đang xảy ra ngày càng nhiều Nguyên nhân của các hiện tượng này là do việc tuyên truyền, giáo dục luật pháp chưa được thực hiện tốt, chưa coi trọng giáo dục về gia đình cho lớp trẻ, do tác động của nền kinh tế Vì vậy nhà nước, cộng đồng, gia đình và mỗi cá nhân phải có ý thức xây dựng đạo đức gia đình tiến bộ, lành mạnh

- “Gia đình ở đô thị trong thời kỳ công nghiệp hoá - hiện đại hoá”, của Đỗ

Thị Bình [14] Nội dung của sách đề cập tới vấn đề trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá gia đình ở các đô thị Việt Nam đang có sự chuyển tiếp từ truyền thống sang hiện đại trên các bình diện hôn nhân, cơ cấu gia đình và các mối quan hệ trong gia đình Biến đổi trong lĩnh vực hôn nhân thể hiện ở vai trò quyết định của các thành viên trong gia đình đối với công việc hệ trọng này, độ tuổi kết hôn cũng như quan niệm về hôn nhân, cách tổ chức lễ cưới Cơ cấu của gia đình đô thị chiếm đa

số là loại hình hai thế hệ và vai trò người phụ nữ được nâng cao Về các mối quan

hệ trong gia đình đô thị Việt Nam hiện nay bao hàm nhiều nhân tố mới, tích cực, bình đẳng trong quan hệ vợ chồng và các thành viên khác trong gia đình

- “Gia đình và vấn đề giáo dục gia đình”, của Viện Nghiên cứu Gia đình và

giới [188] Nội dung của cuốn sách được chia làm hai phần: Phần I - Gia đình Việt Nam và việc thực hiện các chức năng của gia đình, phần này tập trung vào một số vấn đề chủ yếu trong nghiên cứu về gia đình Việt Nam; những vấn đề lý luận, phương pháp luận; quá trình biến đổi của gia đình Việt Nam từ truyền thống sang hiện đại; Việc thực hiện các chức năng của gia đình Việt Nam hiện nay; Những vấn

đề kiến nghị về chính sách đối với gia đình và phụ nữ Phần 2- Vai trò của giáo dục trong sự hình thành và phát triển nhân cách con người Việt Nam Tác giả tập trung

đi sâu phân tích chức năng cụ thể của gia đình: chức năng giáo dục (xã hội hoá) Trong đó vấn đề chủ yếu được nêu lên là vai trò của gia đình, các thành viên trong gia đình với việc giáo dục thế hệ trẻ; Những nội dung, phương pháp giáo dục trong gia đình hiện nay; Sự ảnh hưởng của các tôn giáo, thời đại và các môi trường giáo dục khác đến giáo dục gia đình

Trang 15

- “Nghiên cứu gia đình và giới thời kỳ đổi mới”, của Nguyễn Hữu Minh, Trần Thị Vân Anh [110] Sách đề cập nhiều vấn đề như: Thành tựu nghiên cứu của

Viện Gia đình và Giới và một số vấn đề đặt ra; Nghiên cứu phụ nữ, gia đình và giới:

Từ kết quả đến định hướng; Những chiều cạnh cơ bản của phát triển thanh niên trong thời kỳ đổi mới; Giảng dạy và nghiên cứu về giới ở trường đại học; Đi tìm những đặc trưng của gia đình Việt Nam truyền thống; Giới và các vấn đề giới ở Việt Nam; Nghiên cứu về quyền phụ nữ; Phụ nữ Việt Nam và việc tham gia chính trị… Đây là công trình rất công phu, giải quyết được nhiều vấn đề đặt ra trong cuộc sống Tuy nhiên, vấn đề lý luận về gia đình và công tác gia đình còn hạn chế, các tác giả chưa đi sâu phân tích nội hàm của công tác gia đình, quản lý nhà nước về gia đình và công tác gia đình đề cập còn rất khiêm tốn Vấn đề hành lang pháp lý cho công tác gia đình ít được nhóm tác giả đề cập

- “Diễn đàn gia đình cấp Bộ trưởng khu vực Đông Á lần thứ nhất”, của Uỷ

ban Dân số, Gia đình và trẻ em [171] Kỷ yếu đã tập hợp trên 12 bài phát biểu, tham luận của các đoàn đại biểu đến từ 12 nước: Úc, Brunei, Campuchia, Indonexia, Malaixia, Mianmar, Lào, Philippines, Singapore, Thái Lan, Trung Quốc và Việt Nam về lĩnh vực gia đình

Có thể nói các phát biểu tham luận của các đại biểu đều khẳng định vai trò quan trọng của gia đình và đưa ra các cam kết giải quyết các vấn đề về gia đình như: cải thiện các điều kiện và các chương trình hỗ trợ nhằm nâng cao năng lực cho các gia đình thuộc diện cực nghèo, tạo điều kiện để gia đình hoàn thành sứ mệnh là đơn vị phòng vệ đầu tiên trước những tác động tiêu cực của hiện đại hóa, tiếp tục duy trì và thúc đẩy tính năng động và sáng tạo của xã hội đối với vấn đề gia đình…

- “Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng, Chương trình hành động của Chính phủ,

của Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch về Văn hóa, Thể thao, Du lịch và Gia đình”,

của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch [21] Sách đã tập hợp và giới thiệu được các

Quyết định và Chỉ thị của Trung ương giúp định hướng quá trình nghiên cứu của nghiên cứu sinh như: Quyết định số 106/2005/QĐ-TTg ngày 16/5/2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược xây dựng gia đình Việt Nam giai đoạn 2005 - 2010; Chỉ thị số 49-CT/TW ngày 21/02/2005 của Ban Bí thư về xây

Trang 16

dựng gia đình thời kỳ CNH-HĐH đất nước; Chỉ thị số 16/CT-TTg ngày 30/5/2008 của Thủ tướng Chính phủ về tổ chức triển khai thi hành Luật Phòng, chống bạo lực gia đình

- “Các kiến thức chung về gia đình”, của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch

[20] Tài liệu đã hệ thống được các khái niệm và thuật ngữ liên quan đến lĩnh vực gia đình: Gia đình, hôn nhân, hộ, hộ gia đình, huyết thống, nuôi dưỡng… các chức năng cơ bản của gia đình: Chức năng sinh sản, tái sản xuất con người, chức năng kinh tế, chức năng giáo dục, xã hội hóa cá nhân; Vai trò của gia đình đối với các thành viên, đối với cộng đồng và xã hội; Các mối quan hệ trong gia đình: quan hệ

vợ chồng, quan hệ cha, mẹ và con gái, quan hệ cha, mẹ và con trai…; Các văn bản pháp luật, chính sách về hôn nhân gia đình; Chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách của Nhà nước về gia đình

1.1.2 Nhóm công trình nghiên cứu chính sách, pháp luật về gia đình

- “Báo cáo Đánh giá hệ thống chính sách và pháp luật Việt Nam hiện hành liên quan đến gia đình - khuyến nghị hướng hoàn thiện”, của Vụ Pháp luật Hình sự

- Hành chính, Bộ Tư pháp [192] Báo cáo gồm 07 phần, được sắp xếp theo một bố cục hợp lý, dễ theo dõi Nhóm chuyên gia pháp luật khi xây dựng Báo cáo tổng thể

đã thống nhất tiến hành việc xem xét, đánh giá theo 05 chủ đề mà các Tiểu báo cáo

đã đi sâu đánh giá cụ thể Tuy nhiên, những chủ đề này được đề cập trong Báo cáo Tổng thể với sự đánh giá khái quát mang tính tổng hợp hơn trong mối liên hệ biện chứng giữa các chủ đề nhằm tạo nên một bức tranh chung về thực trạng hệ thống pháp luật Việt Nam hiện hành về gia đình cùng những nhận định đánh giá trên cơ

sở các tiêu chí và căn cứ đặt ra Bên cạnh những khuyến nghị đề xuất cụ thể theo từng chủ đề, Báo cáo Tổng thể đưa ra những khuyến nghị chung mang tính tiêu biểu, dưới góc độ tổng thể nhằm từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật về gia đình Việt Nam trong thời kỳ tới và trong tương lai

Báo cáo tiến hành xem xét, đánh giá chỉ đối với những văn kiện, nghị quyết của Đảng và các văn bản quy phạm pháp luật, các quy định pháp luật trực tiếp đề cập, điều chỉnh đến vấn đề gia đình, đến các quan hệ pháp luật mà gia đình là chủ thể Việc giới hạn phạm vi của Báo cáo nhằm mục đích tập trung phân tích, đánh

Trang 17

giá sâu, đúng trọng tâm phục vụ mục tiêu mà Báo cáo hướng tới Vì vậy, đối với những văn bản, những quy định pháp luật điều chỉnh chung, liên quan đến nhiều chủ đề khác nhau, không trực tiếp quy định đến các vấn đề về gia đình thuộc 05 chủ

đề sau đây thì không thuộc phạm vi xem xét, đánh giá của báo cáo này: Quan điểm chỉ đạo và vấn đề quản lý nhà nước về gia đình - vị trí vai trò của gia đình; Phát triển kinh tế gia đình; Dịch vụ gia đình; Hỗ trợ các gia đình có hoàn cảnh khó khăn; Vai trò và trách nhiệm của gia đình trong đấu tranh phòng chống tội phạm, tệ nạn

ma túy, mại dâm, HIV/AIDS và bạo lực trong gia đình

- “Một số luận cứ xây dựng và hoàn thiện chính sách xã hội đối với Phụ nữ

và Gia đình trong giai đoạn hiện nay”, của Trần Thị Vân Anh [2] Đây là kết quả

nghiên cứu của công trình khoa học cấp Nhà nước KX.04 gồm 17 đề tài tập trung vào các vấn đề: các mặt đánh giá thực trạng, phân tích nguyên nhân, dự báo chiều hướng phát triển, hình thành nhận thức mới và hệ quan điểm tương đối với từng đối tượng được nghiên cứu, qua đó bước đầu đề xuất một số kiến nghị về việc tiếp tục đổi mới, bổ sung, hoàn thiện các chính sách xã hội của Đảng và Nhà nước về gia đình ở Việt Nam

1.1.3 Nhóm công trình liên quan đến quản lý nhà nước về gia đình

- “Cơ sở lý luận và thực tiễn quản lý nhà nước về gia đình”, của Lê Trung

Trấn [162] Đề tài phân tích những vấn đề chung về gia đình: định nghĩa, phân loại, chức năng, vị trí, vai trò, các mối tương quan của gia đình trong quá trình phát triển Quan điểm gia đình là đối tượng quản lý của Nhà nước; Nội dung quản lý Nhà nước đối với gia đình; Thực trạng và những thách thức của quản lý Nhà nước về gia đình ở Việt Nam và kiến nghị nhằm tăng cường quản lý nhà nước về gia đình

- “Quản lý nhà nước về gia đình - lý luận và thực tiễn”, của Lê Thị Quý

[131] Sách đã đề cập tới một số vấn đề như: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn nghiên cứu gia đình Việt Nam hiện nay; Những đặc trưng cơ bản của quản lý gia đình trong quản lý xã hội phát triển; Sự tôn trọng gia đình và tôn trọng các mối quan hệ gia đình của người Việt; Vấn đề giáo dục các giá trị truyền thống trong gia đình qua một số khảo sát xã hội học; Sự thay đổi vai trò của người chồng, người cha

Trang 18

trong gia đình từ truyền thống đến hiện đại; Chủ hộ gia đình ở Việt Nam; Dịch vụ y

tế cho gia đình miền núi…

Một phần quan trọng của cuốn sách là những bài viết tập trung phân tích các mô hình được xây dựng và thực hiện ở một số địa phương Việt Nam về lĩnh

vực quản lý nhà nước về gia đình Dịch vụ y tế cho gia đình miền núi (Đinh Văn Chuyển), Về mô hình can thiệp phòng, chống bạo lực gia đình tại Thái Bình (Nguyễn Thị Tuyết Nga, Nguyễn Trung Hiếu, Đỗ Thị Quyên), Mô hình “Địa chỉ tin cậy” phòng, chống bạo lực gia đình tại Thái Bình (Triệu Thị Phượng), Vấn đề quản lý gia đình ở huyện Kiến Thụy, Hải Phòng (Bùi Đức Thảo, Vũ Thị Nguyệt,

Nguyễn Đức Thảnh, Ngô Đăng Đán)… Đây là những nghiên cứu công phu của các tác giả khi tiến hành khảo cứu các mô hình về lĩnh vực đó Tuy chỉ giới hạn ở một số địa phương trong nước, nhưng nó cũng cung cấp cho những nhà nghiên cứu sau này những tài liệu thực địa quan trọng khi nghiên cứu vấn đề quản lý nhà nước về gia đình

Mặc dù cuốn sách đã đi sâu phân tích làm sáng tỏ một số vấn đề liên quan tới công tác quản lý nhà nước về gia đình, nhưng chưa đi sâu phân tích và làm rõ vấn

đề hoàn thiện pháp luật về gia đình ở nước ta hiện nay như một đòi hỏi tất yếu

- “Văn bản quản lý nhà nước về gia đình và công tác gia đình ở Việt Nam

hiện nay” của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch [25] Đây là cuốn sách tập hợp các

văn bản của Đảng và văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động quản lý nhà nước về gia đình và công tác gia đình ở Việt Nam Cuốn sách này cung cấp tài liệu quan trọng cho việc nghiên cứu đánh giá cơ sở pháp lý của hoạt động quản lý nhà nước về gia đình ở Việt Nam hiện nay

1.1.4 Nhóm tài liệu nghiên cứu về phòng, chống bạo lực gia đình

- “Báo cáo điều tra thực trạng bạo lực gia đình, đề xuất giải pháp có tính đột

phá nhằm giảm thiểu bạo lực gia đình trong năm 2012 và giai đoạn 2012 - 2016”,

của Vụ Gia đình Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch [191] Báo cáo tập trung điều tra một số nội dung sau:

+ Thống kê trên toàn quốc năm 2009, 2010, 2011 và 6 tháng đầu năm 2012

về số vụ bạo lực gia đình đã được các tổ chức, các đoàn thể, cá nhân phát hiện và

Trang 19

đánh giá công tác phòng, chống bạo lực gia đình, nguyên nhân, hậu quả của bạo lực gia đình ở các địa phương;

+ Nhận thức, thái độ, hành vi của người dân, cộng đồng và chính quyền về bạo lực gia đình, nguyên nhân của bạo lực gia đình, trong đó tập trung vào 2 nhóm bạo lực gia đình: bạo lực của chồng đối với vợ; bạo lực của con với bố mẹ là người cao tuổi;

+ Tìm hiểu về hiệu quả của các hình thức truyền thông và các cơ quan truyền thông do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã, đang và dự kiến phối hợp thực hiện truyền thông trong lĩnh vực gia đình và phòng, chống bạo lực gia đình;

+ Những ứng phó của người dân, của cộng đồng với bạo lực gia đình;

+ Tìm hiểu về biện pháp xử lý của chính quyền, đoàn thể đối với những vụ việc bạo lực gia đình và những vi phạm hành chính trong lĩnh vực bạo lực gia đình

Việc tiến hành điều tra thực trạng bạo lực gia đình, đề xuất giải pháp nhằm ngăn chặn, làm giảm số vụ bạo lực gia đình trong năm 2012 và giai đoạn 2012-

2016 là nhiệm vụ quan trọng và hết sức cần thiết nhằm giúp cơ quan quản lý nhà nước về phòng, chống bạo lực gia đình, trước hết là Bộ văn hóa, Thể thao và Du lịch có được những giải pháp trong công tác phòng, chống bạo lực gia đình ở các địa phương

Cuộc điều tra này không nhằm phác họa lại bức tranh thực trạng tình hình bạo lực gia đình ở Việt Nam mà chỉ nhằm mục đích tìm hiểu mô hình hành vi bạo lực gia đình cũng như nhận thức và các nguyên nhân, hậu quả của bạo lực gia đình

ở một số địa phương, qua đó đánh giá công tác phòng, chống bạo lực gia đình trong thời gian vừa qua, từ đó đề xuất giải pháp có tính đột phá nhằm giảm thiểu bạo lực gia đình trong năm 2012 và giai đoạn 2012 - 2016

- “Bạo lực gia đình - một sự sai lệnh giá trị”, của Lê Thị Quý, Đặng Vũ

Cảnh Linh [130] Sách đã đề cập tới các vấn đề mang tính thời sự hiện nay: Vấn đề bạo lực giới trong gia đình - những vấn đề lý luận và phương pháp luận về bạo lực gia đình và bạo lực chống phụ nữ trong gia đình, một nghiên cứu can thiệp trong thực tiễn; Vấn đề công tác phòng chống bạo lực gia đình - những bài học kinh nghiệm của Việt Nam…

Trang 20

Đây là tài liệu mang tính khái quát cao, rất có giá trị, giúp thí sinh có kiến thức sâu hơn khi nghiên cứu vấn đề hoàn thiện pháp luật về gia đình ở Việt Nam hiện nay

- “Văn bản hướng dẫn phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn

hoá”, của Ban Chỉ đạo phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá

tỉnh Tiền Giang [8] Sách là nguồn tư liệu có giá trị tham khảo rất cao vì đã tập hợp được một hệ thống các văn bản hướng dẫn của Trung ương và của tỉnh Tiền Giang: Các Nghị quyết, Kết luận, Thông tư, Quy chế, Chương trình…

Đây là nguồn tài liệu có tính định hướng cho thí sinh trong quá trình nghiên cứu và hoạt động thực tiễn

- “Luật phòng, chống bạo lực gia đình của một số nước trên thế giới”, của

Uỷ ban các vấn đề xã hội của Quốc hội XI [175] đã tập hợp và giới thiệu về những

vấn đề sau: Luật mẫu về bạo lực gia đình của Uỷ ban về nhân quyền của Liên hợp quốc, Luật bảo vệ chống bạo lực gia đình của Bungari, Luật phòng ngừa bạo lực gia đình và bảo vệ nạn nhân của Vương quốc Campuchia, Luật chống bạo lực gia đình của Đông Ti Mo, Luật đặc biệt về trừng phạt hành vi bạo lực trong gia đình của Hàn Quốc, Luật về xóa bỏ bạo hành trong gia đình của Cộng hòa Indonexia, Luật Chống bạo hành gia đình của Mông Cổ, Luật phòng ngừa bạo lực hôn nhân và bảo

vệ nạn nhân của Nhật Bản, Luật chống bạo hành phụ nữ và trẻ em năm 2004 của Cộng hoà Philippines, Quy tắc 9 Uỷ ban liên ngành về bạo lực đối với phụ nữ và trẻ

em của Cộng hòa Philippines, Dự thảo Luật phòng ngừa và hiệu chỉnh bạo lực gia đình B.E của Thái Lan, các chuẩn mực quốc tế của Luật phòng, chống bạo lực trong gia đình…

- “Bạo lực gia đình: Sự thay đổi ở Việt Nam kết quả và khuyến nghị từ một

dự án của UNFPA/SDC”, của UNFPA [168] Nội dung sách nhằm tuyên truyền

nâng cao nhận thức về phòng, chống bạo lực gia đình ở Việt Nam, tài liệu giới thiệu được phương pháp tiếp cận theo vòng đời đối với bạo lực trên cơ sở giới, trong đó tập trung vào hình thức bạo lực gia đình phổ biến nhất bạo hành do chồng gây ra đối với vợ hay giữa những người bạn tình

Trang 21

- “Luật phòng, chống bạo lực gia đình năm 2007 và Nghị định hướng dẫn thi

hành”, của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam [126], giới thiệu

về Luật phòng, chống bạo lực gia đình đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 21/11/2007 và một số Nghị định của Chính phủ có nội dung liên quan đến thi hành Luật

- “Hỏi đáp về Luật phòng, chống bạo lực gia đình” Của Tấn Tuấn [166],

nội dung chủ yếu là phổ biến, tuyên truyền pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình

- “Nghị quyết của Bộ Chính trị về đổi mới và tăng cường công tác vận động

phụ nữ trong tình hình mới”, của Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam [82] giới thiệu

các Chỉ thị của Ban Bí thư Trung ương Đảng về thực hiện Nghị quyết của Bộ Chính trị về đổi mới và tăng cường công tác vận động phụ nữ trong tình hình mới

- “Chiến lược xây dựng gia đình Việt Nam giai đoạn 2005 - 2010”, của Thủ

tướng Chính phủ [153], giới thiệu Quyết định về việc phê duyệt Chiến lược xây dựng gia đình Việt Nam giai đoạn 2005 - 2010

1.1.5 Nhóm tài liệu nghiên cứu về bình đẳng giới trong gia đình

- “Luật bình đẳng giới”, của Quỹ phát triển phụ nữ Liên hợp quốc

(UNIFEM) và Cơ quan phát triển quốc tế Canada (CIDA) [137] là tài liệu giới thiệu

về Luật Bình đẳng giới của Việt Nam được kỳ họp thứ 10 Quốc hội khoá XI Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 29/11/2006 Luật gồm có 6 chương với 44 điều khoản thi hành

Tài liệu cũng giới thiệu các Chỉ thị và Nghị định của Chính phủ về quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật bình đẳng giới Đây là nguồn tư liệu thiết thực giúp nghiên cứu sinh có thêm phương pháp tiếp cận trong quá trình nghiên cứu và hoàn thiện đề tài của mình

- “Nghiên cứu Gia đình và giới”, của Viện Gia đình và giới thuộc Viện Khoa

học xã hội Việt Nam [186] Tài liệu này tập hợp các bài nghiên cứu về công tác gia đình và giới trên các lĩnh vực: Hôn nhân - gia đình; Giới - phụ nữ; Nghiên cứu giới

- các vấn đề xã hội; Vị thành niên - thanh niên; Lao động - việc làm…

Trang 22

- “Thực hiện pháp luật về bình đẳng giới ở Việt Nam”, của Trần Thị Quốc

Khánh [88] Luận án đã xây dựng cơ sở lý luận về thực hiện pháp luật về bình đẳng giới: Phân tích làm rõ các khái niệm về “Giới”, “Bình đẳng giới”, “Pháp luật về bình đẳng giới”, “Thực hiện pháp luật về bình đẳng giới”; phân tích đặc điểm của thực hiện pháp luật về bình đẳng giới ở Việt Nam và các yếu tố ảnh hưởng; các yêu cầu thực hiện pháp luật về bình đẳng giới ở Việt Nam hiện nay Đồng thời, luận án cũng nghiên cứu pháp luật và thực hiện pháp luật về bình đẳng giới ở một số nước, qua đó rút ra những kinh nghiệm mà Việt Nam có thể tham khảo và tiếp thu Luận

án cũng đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật về bình đẳng giới ở Việt Nam thời gian qua, chủ yếu từ năm 1992 đến 2012; làm rõ những kết quả, hạn chế và nguyên nhân Từ đó làm cơ sở thực tiễn cho việc hoàn thiện cơ chế thực hiện pháp luật về bình đẳng giới ở Việt Nam Luận án đề xuất và luận chứng các quan điểm và giải pháp thực hiện pháp luật về bình đẳng giới ở Việt Nam

1.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU NGOÀI NƯỚC

1.2.1 Nhóm công trình liên quan đến pháp luật gia đình ở nước ngoài

- “The reform of family law in Europe” (dịch là “Cải cách luật gia đình ở

Châu Âu”), của More Buying Choices [197] Cuốn sách tập hợp các tham luận

xung quanh các chủ đề sự bình đẳng của vợ chồng, ly hôn và tình trạng pháp lý của trẻ em ngoài giá thú tại Hội thảo quốc tế được tổ chức tại Luxembourg Cuốn sách cho thấy quan điểm của các quốc gia về nguyên tắc bình đẳng giữa vợ chồng trong luật gia đình châu Âu

- “Family Law in the Twentieth Century: A History” (Luật gia đình trong thế

kỷ XX: Một lịch sử), của Stephen Cretney [198] Cuốn sách này là một nghiên cứu

về những thay đổi của pháp luật về gia đình trong thế kỷ XX Cuốn sách nghiên cứu pháp luật điều chỉnh các mối quan hệ gia đình, việc quản lý nhà nước về gia đình trong các văn bản pháp luật Cuốn sách sử dụng nhiều tài liệu lưu trữ và các kết quả nghiên cứu thực nghiệm và phân tích quá trình làm luật về gia đình

- “Family Law in the World Community: Cases, Materials, and Problems

in Comparative and International Family Law” (dịch là Luật gia đình trong

Trang 23

cộng đồng thế giới: Các án lệ, văn bản và các vấn đề Luật Quốc tế so sánh về gia đình), của Marianne D Blair, Merle H Weiner, Barbara Stark, Solangel Maldonado [196] Cuốn sách này bao gồm một loạt các vấn đề tư pháp quốc tế, bao gồm bắt cóc trẻ em, nuôi con, nuôi con nuôi, thực thi pháp hỗ trợ trẻ em, và công nhận kết hôn và ly hôn Cuốn sách cũng khám phá tác động của công pháp quốc tế trên cả quy định trong nước và quốc tế của các gia đình, sử dụng các chủ

đề như bạo lực gia đình và các quyền của trẻ em Các tác giả so sánh pháp luật gia đình của một số nước để làm rõ pháp luật về gia đình truyền thống, chẳng hạn như các quy định về hôn nhân, quyền của các cặp vợ chồng đồng tính, nhận con nuôi, tự do sinh sản

- “International family law” (Pháp luật gia đình quốc tế) của Barbara Stark

[195] Cuốn sách này phân tích lý do tại sao cần phải nghiên cứu pháp luật gia đình quốc tế, phân tích các nội dung của pháp luật gia đình quốc tế trong mối tương quan

so sánh với pháp luật gia đình trong nước

- “Islamic Family Law in A Changing World”, của Abdullahi A An-Na'im

[194] Tác giả làm rõ phạm vi và cách thức thực tế áp dụng Luật Gia đình Hồi giáo trên toàn thế giới, phân tích các ứng dụng thực tế của nguyên tắc Shari thường được biến đổi bởi sự khác biệt về phong tục tập quán của quốc gia, chính sách và pháp luật của nhà nước

1.2.2 Nhóm công trình nước ngoài nghiên cứu các nội dung pháp luật

về gia đình của Việt Nam

- “CEDAW và pháp luật” [141] Nghiên cứu rà soát văn bản pháp luật Việt

Nam trên cơ sở quyền và giới qua lăng kính CEDAW (A Gendered and Based Review of Vietnamese Leagal Documents thought the Lens of CEDAW) Tác giả cuốn sách là bà Rea Abada Chingson - luật gia, thành viên của Khoa Luật trường đại học Ateneo de Manila (philiplin) Rea được công nhận là chuyên gia về bình đẳng giới, quyền con người và luật quốc tế Bà là một trong những chuyên gia hàng đầu về Công ước Xóa bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối sử chống lại phụ

Right-nữ (CEDAW), những chuẩn mực quốc tế khác về quyền con người và áp dụng

Trang 24

chuẩn mực này ở cấp quốc gia Rea đã hỗ trợ kỹ thuật, tập huấn và có những hoạt động xây dựng năng lực cho chính phủ, các chuyên gia, các tổ chức phi chính phủ

và những người tuyên truyền vận động về bình đẳng giới và quyền con người ở một

số nước

Trong cuốn sách này, tác giả đề cập các vấn đề như: Bối cảnh Việt Nam, khuôn khổ chính trị và pháp luật ở Việt Nam, công ước xóa bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối sử chống lại phụ nữ (CEDAW), những thực tế ban đầu về CEDAW

và Việt Nam, đánh giá văn bản pháp luật và việc tuân thủ CEDAW Trong đánh giá văn bản pháp luật và việc tuân thủ CEDAW, tác giả đã đề cập đến những vấn đề như: Những công việc chính để xóa bỏ phân biệt đối xử đảm bảo bình đẳng (Các điều 1-3 CEDAW), các biện pháp đặc biệt tạm thời và các biện pháp ưu tiên cho bà

mẹ (Điều 4 của CEDAW), những mẫu hình xã hội và văn hóa của hành vi (Điều 5 của CEDAW), buôn bán người và bóc lột mại dâm (Điều 6 của CEDAW), quốc tịch (Điều 9 của CEDAW), giáo dục (Điều 10 của CEDAW), việc làm (Điều 11 của CEDAW), sức khỏe (Điều 12 của CEDAW), đời sống kinh tế và xã hội (Điều 13 của CEDAW), phụ nữ nông thôn (Điều 14 của CEDAW), bình đẳng trước pháp luật (Điều 15 của CEDAW), hôn nhân và gia đình (Điều 16 của CEDAW)

- “Cuốn Nghiên cứu rà soát văn bản pháp luật Việt Nam trên cơ sở quyền và

giới qua lăng kính CEDAW”, của Quỹ phát triển phụ nữ Liên hợp quốc UNIFEM

[135] Sách là một nguồn tư liệu hữu ích giúp nghiên cứu sinh trong quá trình nghiên cứu và tiếp cận phương pháp mới nhằm hoàn thiện pháp luật về gia đình ở Việt Nam thời kỳ hội nhập quốc tế

- Cuốn “15 năm thực hiện cương lĩnh hành động Bắc Kinh và kết quả của

phiên họp đặc biệt lần thứ 23 Đại hội đồng Liên hợp quốc tại Việt Nam”, của Quỹ

phát triển Phụ nữ tại Việt Nam (UNIFEM) [138] Sách đã giới thiệu chính sách, pháp luật về bình đẳng giới để phụ nữ tham gia ngày càng nhiều hơn, chủ động hơn, đóng góp ngày càng lớn hơn cho sự phát triển của gia đình, cộng đồng, đất nước và thực hiện bình đẳng giới… Tuy nhiên sách lại chưa đề cập tới hệ thống luật pháp về gia đình và bình đẳng giới

Trang 25

- Cuốn “25 năm thực hiện Công ước về xoá bỏ tất cả các hình thức phân

biệt đối xử chống lại phụ nữ (CEDAW) thực tiễn tại Việt Nam” của CEDAW

[45] Sách là một tập hợp các bài viết của các chuyên gia về công tác phụ nữ, công tác gia đình Đây là nguồn tư liệu quý để nghiên cứu sinh tham khảo trong quá trình nghiên cứu

- “Tuyển chọn các khuyến nghị chung CEDAW”, của Quỹ phát triển phụ nữ Liên hợp quốc UNIFEM [136] Nội dung sách đề cập tới các khuyến nghị chung

nhằm hướng dẫn các quốc gia thành viên thực hiện các quyền con nguời của phụ nữ

và bình đẳng giới

- “Các nhận xét và kết luận về Việt Nam của Uỷ ban xóa bỏ phân biệt đối xử

chống lại phụ nữ”, của Quỹ phát triển phụ nữ Liên hợp quốc UNIFEM [134] Sách

đưa ra những nhận xét, đánh giá và khuyến nghị cho Việt Nam về thực hiện bình đẳng giới

- “CEDAW - Vì sự bình đẳng phụ nữ”, của Quỹ phát triển phụ nữ Liên hợp

quốc UNIFEM [139] Nội dung sách giới thiệu Công ước về xóa bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ; Nghị định thư không bắt buộc của Công ước về xóa bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ

- “Phòng, chống bạo lực trên cơ sở giới ở Việt Nam”, của UNFPA [169],

giới thiệu về bạo lực trên cơ sở giới, các hình thức bạo lực trên cơ sở giới, định nghĩa bạo lực gia đình hoặc bạo lực bạn tình, hậu quả của bạo lực trên cơ sở giới, các hậu quả về mặt sức khỏe…

- “Bảng kiểm sử dụng Công ước về xoá bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối

xử chống lại phụ nữ (CEDAW) trong hoạt động của Tòa án nhân dân” của

CEDAW [44] Sách giới thiệu những yêu cầu của CEDAW trong xóa bỏ phân biệt

đối xử về giới; Những nguyên tắc cơ bản của CEDAW về bình đẳng giới; Các yêu cầu của CEDAW bảo đảm quyền của phụ nữ được thực thi có hiệu quả…

1.3 NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU

Để hoàn thành mục tiêu của đề tài, luận án còn phải tiếp tục nghiên cứu những vấn đề mà các công trình nghiên cứu khoa học nói trên chưa có điều kiện làm rõ sau đây:

Trang 26

1.3.1 Về mặt lý luận

- Xây dựng khái niệm pháp luật về gia đình; phân tích nội dung và những đặc điểm của pháp luật về gia đình Việt Nam; làm rõ vai trò của pháp luật về gia đình ở Việt Nam

- Xây dựng hệ thống tiêu chí làm cơ sở để xác định mức độ hoàn thiện của pháp luật về gia đình ở Việt Nam

- Phân tích làm rõ các yếu tố ảnh hưởng đến việc hoàn thiện pháp luật về gia đình ở Việt Nam

- Nghiên cứu pháp luật về gia đình ở một số nước trên thế giới, rút ra một số giá trị có thể tham khảo cho việc hoàn thiện pháp luật về gia đình ở Việt Nam

- Luận chứng các quan điểm và đề xuất giải pháp cụ thể, toàn diện nhằm hoàn thiện pháp luật về gia đình ở Việt Nam hiện nay

Tiểu kết chương 1

Qua việc nghiên cứu tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến vấn đề hoàn thiện pháp luật về gia đình ở Việt Nam hiện nay cho thấy, đã có nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu về gia đình, về một số nội dung của pháp luật về gia đình như quản lý nhà nước về gia đình, pháp luật về bình đẳng giới và phòng chống bạo lực gia đình Ở mức độ nhất định, một số công trình trong nước đã phân tích cơ sở lý luận và thực trạng pháp luật về bình đẳng giới, về phòng chống bạo lực gia đình Một số đề tài đã làm rõ cơ sở lý luận và thực trạng quản lý nhà nước về gia đình giai đoạn từ khi bắt đầu công cuộc đổi mới ở Việt Nam

Trang 27

Nghiên cứu các công trình ở nước ngoài cho thấy một số nội dung pháp luật

về gia đình ở một số nước trên thế giới, sự thay đổi của pháp luật về gia đình trong thế giới đương đại Một số công trình nước ngoài cũng đã làm rõ pháp luật trên thế giới về gia đình thông qua các công ước quốc tế về gia đình, về bình đẳng giới, phòng chống bạo lực gia đình Có một số tác giả nước ngoài đã nghiên cứu làm rõ những bước phát triển của pháp luật Việt Nam về bình đẳng giới, pháp luật về phòng chống bạo lực gia đình Tuy nhiên, cho đến nay, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện dưới góc độ chuyên ngành lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật về việc hoàn thiện pháp luật về gia đình Nghiên cứu pháp luật về gia đình còn chưa đầy đủ và toàn diện, chưa làm rõ khái niệm, đặc điểm, nội dung của pháp luật về gia đình ở Việt Nam Đến nay, chưa có công trình nào đưa ra các tiêu chí hoàn thiện pháp luật về gia đình, chưa đánh giá toàn diện thực trạng pháp luật về gia đình và đưa ra hệ thống quan điểm, giải pháp hoàn thiện pháp luật về gia đình ở Việt Nam Nghiên cứu tổng quan về gia đình, pháp luật về gia đình giúp cho nghiên cứu sinh có thể kế thừa những kết quả nghiên cứu, tiếp tục triển khai, phát triển trong luận án những vấn đề còn bỏ ngỏ Thông qua đó giúp nghiên cứu sinh hoàn thành các nhiệm vụ mà luận án đã đặt ra, góp phần tiếp tục hoàn thiện pháp luật về gia đình trong bối cảnh đất nước đang đổi mới mạnh mẽ và hội nhập quốc tế hiện nay

Trang 28

Chương 2

CƠ SỞ LÝ LUẬN HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT

VỀ GIA ĐÌNH Ở VIỆT NAM 2.1 KHÁI NIỆM PHÁP LUẬT VỀ GIA ĐÌNH, ĐẶC ĐIỂM, NỘI DUNG VÀ VAI TRÒ CỦA PHÁP LUẬT VỀ GIA ĐÌNH Ở VIỆT NAM

2.1.1 Khái niệm gia đình và đặc trưng của gia đình Việt Nam

2.1.1.1 Khái niệm gia đình

Gia đình là một hiện tượng xã hội đặc biệt, xuất hiện, tồn tại và phát triển một cách khách quan cùng với sự phát triển của xã hội loài người Lịch sử phát triển của gia đình là một quá trình lâu dài, đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển khác nhau với những biến đổi sâu sắc về quy mô, cách thức tổ chức, tính chất phức tạp,

sự phong phú, đa dạng của các mối quan hệ về gia đình và cơ chế điều chỉnh các mối quan hệ về gia đình

Theo Ph.Ănghen, lịch sử phát triển của gia đình đã trải qua 4 giai đoạn cơ bản: Gia đình huyết tộc, gia đình pu-na-lu-an, gia đình đối ngẫu và gia đình một vợ một chồng

- Gia đình huyết tộc là giai đoạn đầu tiên của quá trình phát triển các hình thái hôn nhân và gia đình, trong đó quan hệ hôn nhân được xây dựng theo thế hệ, mỗi thế hệ tạo thành những nhóm hôn nhân nhất định Ở hình thái gia đình huyết tộc, các anh chị em đồng thời là vợ, là chồng của nhau, nhưng những người có quan hệ dòng máu trực hệ, giữa cha mẹ và các con bị cấm không được có quan hệ

hộ nhân

- Gia đình Pu-na-lu-an là giai đoạn thứ hai, có sự tiến bộ hơn so với gia đình huyết tộc Trong hình thái gia đình này, quan hệ tính giao tiếp tục bị hạn chế, thu hẹp: cấm thế hệ cha mẹ kết hôn với thế hệ các con và cấm anh em trai kết hôn với các chị em gái trong cùng một gia đình

- Gia đình đối ngẫu là giai đoạn phát triển tiếp theo của gia đình Đây là giai đoạn mà phạm vi những người có quan hệ hôn nhân ngày càng bị thu hẹp nhiều hơn: việc cấm những người cùng huyết tộc kết hôn với nhau ngày càng trở nên phổ biến và hình thức quần hôn không còn tồn tại nữa Gia đình đối ngẫu được đặc

Trang 29

trưng bằng cách thức kết hôn theo từng cặp, nhưng chế độ đa thê, người đàn ông có nhiều vợ vẫn còn phổ biến

- Gia đình cá thể (gia đình một vợ một chồng) là giai đoạn thứ tư, được nảy sinh từ gia đình đối ngẫu, là một trong những dấu hiệu cho biết thời văn minh đã bắt đầu Gia đình ấy dựa trên sự thống trị của đàn ông, với chủ đích rõ ràng là con cái phải có cha đẻ xác thực và những đứa con ấy sau này sẽ nhận được tài sản của cha, với tư cách người thừa kế đương nhiên Trong gia đình một vợ một chồng, quan hệ

vợ chồng đã chặt chẽ hơn rất nhiều, hai bên không thể tùy ý bỏ nhau được nữa

Gia đình một vợ một chồng cũng có quá trình phát triển từ thấp đến cao và luôn chịu sự tác động mạnh mẽ của các yếu tố kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội Cùng với sự phát triển của văn minh, dân chủ và tiến bộ xã hội, quan hệ gia đình có

sự biến đổi về chất, mà biểu hiện rõ nét nhất và trước hết là ở sự biến đổi trong quan niệm về sự bình đẳng giữa nam và nữ, giữa đàn ông và đàn bà, giữa vợ và chồng;

về tình yêu và hôn nhân Hôn nhân trở thành tiêu điểm, là biểu tượng của tình yêu

và văn hóa gia đình, là điểm khởi đầu quan trọng và có thiêng liêng không những đối với đời sống vợ chồng, mà còn được gia đình, cộng đồng, nhà nước thừa nhận

và đề cao như một giá trị của con người, gia đình và xã hội

Với ý nghĩa và tầm quan trọng đó, trong lĩnh vực pháp luật về gia đình, những mối quan hệ về hôn nhân là một trong những nhóm quan hệ pháp luật quan trọng, có những đặc điểm riêng và có tính độc lập tương đối, được tượng điều chỉnh bởi các quy định pháp luật về hôn nhân trong hệ thống các quy định pháp luật về gia đình và hình thành chế định hôn nhân trong pháp luật hôn nhân và gia đình Xét theo quan điểm hệ thống, thì hôn nhân là một yếu tố để hình thành nên gia đình trong xã hội hiện đại và các mối quan hệ về hôn nhân là một bộ phận hợp thành của

hệ thống các quan hệ gia đình Tuy nhiên, quan hệ hôn nhân chỉ là một nhóm trong

số rất nhiều nhóm quan hệ thuộc đối tượng điều chỉnh của pháp luật về gia đình

Do tính chất đặc biệt của mình, từ khi xuất hiện đến nay, gia đình luôn là đối tượng nghiên cứu của rất nhiều bộ môn khoa học khác nhau, trong đó có triết học,

xã hội học, văn hóa học và luật học Tùy thuộc vào mục đích và nội dung nghiên cứu cụ thể, mỗi bộ môn khoa học có cách tiếp cận riêng và sử dụng các phương

Trang 30

pháp, công cụ nghiên cứu phù hợp để phân tích, giải thích về gia đình và những vấn

đề cụ thể của gia đình hoặc có liên quan đến gia đình

Theo đó, khái niệm gia đình cũng có cách tiếp cận và định nghĩa khác nhau

Có quan điểm cho rằng, gia đình “là một nhóm người, có quan hệ bởi quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc quan hệ nghĩa dưỡng, có đặc trưng giới tính qua quan hệ hôn nhân, cùng chung sống, có ngân sách chung” [184, tr.27-31] Theo Từ điển triết học thì “Gia đình là một hình thức có tính chất lịch sử của tổ chức đời sống chung của loài người, giữa nam giới và nữ giới ” [119, tr.354] Theo Từ điển giải thích thuật ngữ luật học thì: “Gia đình là tập hợp những người cùng chung sống, gắn bó với nhau bằng quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng, có quyền, nghĩa vụ tương ứng với nhau” [51, tr.146] Trong Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2014 đưa ra khái niệm như sau: “Gia đình là tập hợp những người gắn

bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ nuôi dưỡng, làm phát

sinh các quyền và nghĩa vụ giữa họ với nhau theo quy định của Luật này” [128, Khoản 2 Điều 3]

Theo chúng tôi, cần quan niệm gia đình là một phạm trù có tính lịch sử, là một khái niệm phức hợp bao gồm các yếu tố sinh học, tâm lý, kinh tế, văn hóa, xã hội và nhân văn; gia đình là một thiết chế đặc biệt, bao gồm một cộng đồng người

có quan hệ mật thiết với nhau, có quan hệ mật thiết với nhau bởi hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng; có sự gắn kết với nhau trên cơ sở đạo đức và niềm tin; có các quyền, nghĩa vụ tương ứng về nhân thân và tài sản

Theo đó: Gia đình được hiểu là một thiết chế xã hội đặc thù, bao gồm một

cộng đồng người có quan hệ mật thiết với nhau bởi hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ nuôi dưỡng, có sự gắn kết với nhau để cùng chung sống, quan tâm, chia sẻ và giúp đỡ lẫn nhau trên cơ sở của đạo đức, niềm tin và thực hiện các quyền, nghĩa vụ về nhân thân và về tài sản, nhằm thỏa mãn những ước muốn, lợi ích về vật chất và tinh thần của mỗi cá nhân và của cả gia đình

Theo định nghĩa này, khái niệm gia đình có nội hàm rộng, phản ánh những nội dung cơ bản bao gồm:

Trang 31

Thứ nhất, gia đình là một thiết chế xã hội đặc biệt, một đơn vị (tế bào) xã

hội, một hình thức tổ chức quan trọng nhất của sinh hoạt cá nhân

Thứ hai, gia đình là những người gắn bó với nhau bởi:

- Hôn nhân (vợ chồng): Hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi kết hôn, trong đó sự kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau theo quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn

- Mối quan hệ huyết thống: Phạm vi của mối quan hệ này khá rộng tùy thuộc vào hoàn cảnh, điều kiện cụ thể để xác định, trong một gia đình có nhiều (hai, ba hoặc bốn) thế hệ cùng sinh sống

- Mối quan hệ nuôi dưỡng: Ngoài quan hệ hôn nhân và quan hệ huyết thống còn có những người có quan hệ nuôi dưỡng như: con nuôi, bố mẹ nuôi…

Thứ ba, các thành viên trong gia đình có sự gắn kết với nhau để cùng chung

sống, quan tâm, chia sẻ và giúp đỡ lẫn nhau trên cơ sở của đạo đức và niềm tin Đây

là một trong những dấu hiệu hết sức đặc sắc của gia đình, có ý nghĩa và có tác động lớn tới các yếu tố khác, đòi hỏi khi xây dựng và thực thi pháp luật về gia đình cần phải được chú trọng

Thứ tư, các thành viên trong gia đình có các quyền và nghĩa vụ về nhân

thân và tài sản; việc thực hiện các quyền, nghĩa vụ về nhân thân và tài sản, nhằm thỏa mãn những ước muốn, lợi ích về vật chất và tinh thần của mỗi cá nhân và của

Với phạm vi thành viên gia đình đó, các mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình cũng như giữa gia đình với nhà nước và xã hội cũng hết sức phức

Trang 32

tạp, phong phú và đa dạng Nói cách khác, đối tượng điều chỉnh của pháp luật về gia đình cũng rất rộng, phức tạp, phong phú, đa dạng, tinh tế và nhạy cảm

Xét về qui mô, gia đình có thể phân loại thành:

Gia đình hai thế hệ (hay Gia đình hạt nhân): là Gia đình bao gồm cha mẹ

Trong xã hội hiện nay, về quy mô và loại hình gia đình đang có nhiều chuyển biến mạnh mẽ Hiện nay, số gia đình có từ ba đến bốn người chiếm tỷ lệ đa

số Nhìn chung, gia đình ở thành thị có số người ít hơn gia đình nông thôn, gia đình

ở miền đồng bằng ít người hơn gia đình ở miền núi, gia đình trẻ có số người ít hơn gia đình tuổi cao Trong thông điệp nhân năm quốc tế gia đình 1994, Liên hợp quốc

đã nhấn mạnh rằng: Trên thực tế đặc điểm của các thể chế gia đình hiện nay là tính

đa dạng của nó Gia đình là một thể chế có tính toàn cầu, thể chế đó lại có hình thái

khác nhau và thực hiện các chức năng của nó một cách khác nhau Do đó, không

thể có một quan niệm duy nhất về gia đình và không thể đưa ra một định nghĩa có thể áp dụng cho toàn cầu

2.1.1.2 Một số đặc điểm của gia đình Việt Nam hiện nay

Gia đình ở Việt Nam trải qua các giai đoạn phát triển tùy thuộc vào nền văn minh của loài người và ở mỗi giai đoạn khác nhau, gia đình có đặc trưng khác nhau

Trong nền văn minh nông nghiệp, gia đình là đơn vị tổ chức sản xuất tự chủ nhưng gia đình lại là giường cột của xã hội Ở giai đoạn này, hôn nhân nam nữ do cha mẹ áp đặt, lợi ích cá nhân phải phục tùng lợi ích gia đình, gia tộc Vai trò người con trai rất được coi trọng, nhất là người con trai trưởng có quyền hành và quyền

Trang 33

lợi Gia đình sống nhiều thế hệ với chế độ đa thê Việc ly dị gặp nhiều khó khăn Quy mô gia đình giai đoạn này thường lớn hầu hết là những Gia đình tam đại đồng đường và tứ đại đồng đường

Trong nền văn minh công nghiệp, gia đình không còn là đơn vị sản xuất tự chủ mà gồm những người làm thuê, những người chủ xã hội, các nhà quản lý, kinh doanh, các viên chức làm công ăn lương Hôn nhân gia đình trở thành sự tự do lựa chọn của nam nữ, không còn là sự áp đặt của cha mẹ, họ hàng Vì vậy, lợi ích cá nhân, hạnh phúc cá nhân ngày càng được chú trọng Cơ cấu gia đình hai thế hệ là phổ biến Quy mô gia đình nhỏ đi rất nhiều

Trong nền văn minh hậu công nghiệp, gánh nặng công việc gia đình được giảm nhẹ, con người (đặc biệt là phụ nữ) được giải phóng bớt các khâu lao động chân tay, mệt nhọc, năng suất thấp Họ sẽ có nhiều thời gian nghỉ ngơi, học tập, giải trí, vui chơi với gia đình

Có thể nói, gia đình Việt Nam trong quá trình phát triển đã, đang và sẽ chịu ảnh hưởng đồng thời của nền văn minh, của văn hóa phương Đông, văn hóa khu vực Đông Nam Á cùng với nhiều tôn giáo vốn đã tồn tại lâu đời như Đạo phật, Thiên chúa giáo, đạo Hồi

Gia đình ở Việt Nam hiện nay đang phải đương đầu với một loạt thử thách lớn khi chuyển từ mô hình gia đình truyền thống sang gia đình hiện đại Để tồn tại

và phát triển, mỗi gia đình phải tìm cách thích ứng với những điều kiện mới, từng thành viên trong gia đình phải tự điều chỉnh các mối quan hệ trong gia đình Thực tế cho thấy, sự tăng trưởng kinh tế nhanh chóng cùng với những trào lưu tiến bộ về khoa học công nghệ có phần không tương xứng với sự phát triển văn hóa, xã hội đã làm đổ vỡ, mờ nhạt một số giá trị tinh thần, đạo đức ở nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam

Gia đình Việt Nam có các đặc trưng cơ bản: Gia đình phải sống chung một mái nhà; Trong một gia đình phải có giới tính (nam, nữ); Quan hệ trong gia đình phải là quan hệ ruột thịt, huyết thống nghĩa là có quan hệ tái sản xuất con người; Các thành viên trong gia đình phải gắn bó với nhau về đặc điểm tâm sinh lý; Gia

Trang 34

đình phải có ngân sách chung Do đó gia đình phải là một nhóm xã hội ít nhất có từ

là "tam, tứ, ngũ đại đồng đường" Kiểu gia đình này khá phổ biến và tập trung nhiều nhất ở nông thôn Bắc Bộ

Gia đình truyền thống thường biểu hiện các mặt sau đây:

- Gia đình không chỉ là đơn vị cuối cùng của xã hội mà còn là mẫu hình để tổ chức xã hội và nhà nước

- Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của dân tộc ta được nâng lên thành đạo hiếu - đạo tổ tiên và gia đình cũng là nơi quan trọng nhất để duy trì đạo đức trung hiếu, được coi là giá trị nền tảng của xã hội truyền thống

- Người đứng đầu gia đình (gia trưởng) chịu trách nhiệm trước về mọi hành

vi của những người trong nhà

- Gia đình là đơn vị kiểm soát cá nhân; từng cá nhân trong một gia đình bị ràng buộc và kiểm soát bằng luân lý, phong tục, lễ nghi và pháp luật

- Về hôn nhân và quan hệ vợ chồng: Cha mẹ quyết định, con cái nghe theo; người chồng phải giữ nghĩa với vợ, người vợ phải thủ tiết với chồng

- Nước xét xử theo pháp luật thì nhà - gia đình thực hiện nhiệm vụ của nó, thực sự trở thành nơi sàng lọc và răn dạy các thành viên về đạo lý, quốc pháp

- Gia đình là một thiết chế gia trưởng Trong một gia đình cha ra cha, con ra con, anh ra anh, em ra em, chồng ra chồng và vợ ra vợ Các mối quan hệ này được điều chỉnh bằng luân lý tam cương, ngũ thường và nó được cụ thể hoá thành gia quy

Nền kinh tế tiểu nông là cơ sở phát sinh và tồn tại của loại hình gia đình truyền thống Về mặt tâm lý, người Việt Nam luôn có xu hướng quần tụ con cái xung quanh mình Vì thế, các đại gia đình cùng sống dưới một mái nhà hoặc vài nhà cạnh nhau cũng là hình thức tổ chức gia đình phổ biến ở đô thị

Trang 35

Gia đình truyền thống có các ưu điểm: Có sự gắn bó cao về tình cảm theo huyết thống; Bảo lưu được các truyền thống văn hóa, tập tục, nghi lễ, phát huy tốt các gia phong, gia lễ, gia đạo; Các thành viên trong gia đình có điều kiện giúp đỡ nhau về vật chất và tinh thần, chăm sóc người già và giáo dưỡng thế hệ trẻ Đó là những giá trị rất căn bản của văn hóa gia đình mà chúng ta cần kế thừa và phát huy

Tuy nhiên, nhược điểm của loại gia đình này là ở chỗ trong khi giữ gìn các truyền thống tốt đẹp thì cũng duy trì luôn cả những tập tục, tập quán lạc hậu, lỗi thời Bên cạnh đó, sự khác biệt về tuổi tác, lối sống, thói quen cũng đưa đến một hệ quả khó tránh khỏi là mâu thuẫn giữa các thế hệ: giữa ông bà - các cháu, giữa mẹ chồng - nàng dâu… Bên cạnh việc duy trì được tinh thần cộng đồng, gia đình truyền thống phần nào cũng hạn chế sự phát triển tự do quá mức của mỗi cá nhân

Trái với đặc trưng của gia đình truyền thống, gia đình Việt Nam hiện nay phần lớn là gia đình hạt nhân trong đó chỉ có một cặp vợ chồng (bố mẹ) và con cái

mà họ sinh ra Hầu hết các gia đình trí thức, viên chức nhà nước, công nhân công nghiệp, gia đình quân đội, công an đều là gia đình hạt nhân Xu hướng phát triển gia đình hạt nhân ở Việt Nam đang có chiều hướng gia tăng vì nhiều ưu điểm và lợi thế của nó Trước hết gia đình hạt nhân tồn tại như một đơn vị độc lập, gọn nhẹ, linh hoạt và có khả năng thích ứng nhanh với các biến đổi xã hội Gia đình hạt nhân có

sự độc lập về quan hệ kinh tế Kiểu gia đình này tạo cho mỗi thành viên trong gia đình khoảng không gian tự do tương đối lớn để phát triển tự do cá nhân Cá nhân tính được đề cao Trong xã hội hiện đại, mức độ độc lập cá nhân được coi là một yếu tố biểu hiện chất lượng cuộc sống gia đình Tính độc lập cá nhân được gia đình tạo điều kiện nuôi dưỡng, phát triển sẽ tạo ra phong cách sống, tính cách, năng lực sáng tạo riêng khiến cho mỗi người đều có bản sắc

Mô hình gia đình hạt nhân cũng có những điểm yếu sau đây:

- Quy mô trung bình của gia đình Việt Nam giảm từ 4,4 người/hộ (2006) xuống còn 3,7 người/hộ (2013)

- Tỉ lệ ly hôn, ly thân trong các gia đình hạt nhân ngày càng gia tăng

- Dưới sự tác động của của các yếu tố kinh tế, văn hóa trong nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, không ít những giá trị truyền thống tốt đẹp trong gia

Trang 36

đình Việt Nam đang có xu hướng bị coi nhẹ; mức độ liên kết giữa các thành viên trong gia đình cũng có nhiều thay đổi; các thành viên trong gia đình có sự bình đẳng

và tôn trọng các phẩm chất cá nhân của nhau nhiều hơn

- Gia đình nhiều thế hệ về cơ bản đã được thay thế bằng mô hình gia đình hạt nhân - gia đình quy mô nhỏ, chỉ có vợ chồng (bố, mẹ) và con cái

Trong xã hội hiện đại, sự tác động của các yếu tố khách quan như nền kinh tế thị trường, quá trình giao lưu hợp tác quốc tế, sự thâm nhập của những giá trị mới, cùng với việc bản thân giá trị truyền thống trong gia đình Việt Nam chưa có những

cơ chế vững chắc để có thể tự bảo lưu, tiếp tục phát triển là những nguyên nhân dẫn đến sự biến đổi của gia đình truyền thống Sự bảo lưu phải vừa tích cực, giữ lại được những tinh hoa của giá trị gia đình truyền thống, vừa phải biết bổ sung thêm những giá trị tích cực của thời đại mới

Tóm lại, đặc trưng của gia đình Việt Nam có quy luật phát triển mang tính chất và đặc thù riêng với tư cách là một thể thống nhất, một tế bào hoàn chỉnh và là một đơn vị cơ sở của một xã hội cụ thể

2.1.2 Khái niệm, đặc điểm của pháp luật về gia đình ở Việt Nam

2.1.2.1 Khái niệm pháp luật về gia đình

Trong khoa học Lý luận về nhà nước và pháp luật, khái niệm pháp luật có thể được hiểu theo nghĩa rộng và hẹp tuỳ thuộc yêu cầu tiếp cận và giải quyết các vấn đề cụ thể của hệ thống pháp luật Theo nghĩa hẹp, pháp luật là tổng thể các quy tắc xử sự, do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành và bảo đảm thực hiện, thể hiện ý chí của nhà nước và phản ánh những nhu cầu xã hội khách quan, điển hình, phổ biến để điều chỉnh các quan hệ trên các lĩnh vực của đời sống xã hội Như vậy, theo nghĩa hẹp, pháp luật chỉ bao gồm hệ thống quy phạm pháp luật thực định, nên còn gọi là pháp luật thực định Theo nghĩa rộng, pháp luật là tổng thể các quy tắc xử sự và các nguyên tắc, định hướng, mục đích pháp luật, do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành và bảo đảm thực hiện, thể hiện ý chí của nhà nước và phản ánh những nhu cầu xã hội khách quan, điển hình, phổ biến để điều chỉnh các quan hệ trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Nghĩa là, khái niệm pháp luật hiểu theo nghĩa rộng bao gồm pháp luật thực định, hệ thống quy phạm pháp luật cụ

Trang 37

thể, hiện hành và những vấn đề có tính khái quát, trừu tượng hơn, thể hiện bản chất của pháp luật và có tính định hướng cho cả tương lai tồn tại và phát triển của pháp luật: Nguyên tắc, định hướng, mục đích

- Nguyên tắc pháp luật là những nguyên lý, những tư tưởng chỉ đạo cho việc xây dựng, thực hiện và áp dụng pháp luật Nguyên tắc pháp luật khác với các quy phạm pháp luật cụ thể ở tính khái quát, không quy định cho một trường hợp cụ thể

mà tạo ra nền tảng, cơ sở và có tính định hướng xuyên suốt trong quá trình xây dựng, thực hiện và áp dụng pháp luật Ví dụ, nguyên tắc dân chủ, nguyên tắc vì con người, nguyên tắc bình đẳng, công bằng, nhân đạo, nhân văn… tuy không được ghi nhận cụ thể dưới dạng một quy phạm pháp luật, nhưng nội dung của chúng được thể hiện ở nhiều mức độ khác nhau trong các quy phạm pháp luật và luôn là tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt của hệ thống pháp luật

- Các định hướng pháp luật cũng là một bộ phận quan trọng của pháp luật, thể hiện các quan điểm chính sách của nhà nước về những vấn đề quan trọng cho một thời gian tương đối dài Ví dụ, định hướng: xây dựng gia đình thực sự là nơi hình thành, nuôi dưỡng nhân cách văn hóa và giáo dục nếp sống cho con người Phát huy giá trị truyền thống tốt đẹp, xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc, văn minh Xây dựng và nhân rộng các mô hình gia đình văn hóa tiêu biểu, có nền nếp, ông bà, cha mẹ mẫu mực, con cháu hiếu thảo, vợ chồng hòa thuận, anh chị em đoàn kết, thương yêu nhau

- Các mục đích của pháp luật là các quy định của pháp luật phải hợp lý và có thể được áp dụng một cách hợp lý Bản chất của sự việc chỉ đưa ra được những giải pháp chung cho những trường hợp điển hình; các nguyên tắc và định hướng pháp luật đặt ra những “đường ray” và xác định hướng vận động cho “con tàu pháp luật”

Để pháp luật phát huy được vai trò thực sự của mình thì các mục đích pháp luật phải được xác định và phải được kiểm nghiệm trong đời sống pháp luật và đời sống

xã hội Mục đích chung của pháp luật là bảo đảm sự an toàn, công lý và lợi ích Mục đích cụ thể của pháp luật thì hết sức đa dạng và phức tạp vì suy cho cùng tất cả các hành vi của con người đều nhằm tới một mục tiêu nào đó và giá trị của nó sẽ phụ thuộc vào giá trị của các mục đích đề ra

Trang 38

Từ những phân tích trên, pháp luật về gia đình cần được hiểu theo nghĩa rộng, bởi vì gia đình là một thiết chế xã hội đặc thù, các mối quan hệ về gia đình rất phong phú, sinh động nhưng cũng rất phức tạp, tinh tế và nhạy cảm, được điều chỉnh không chỉ bằng pháp luật, mà còn bằng đạo đức và các quy phạm xã hội khác Việc kết hợp pháp luật với đạo đức và các quy phạm xã hội khác có ý nghĩa rất quan trọng và để thực hiện được điều đó thì những nguyên tắc, định hướng và mục đích của pháp luật luôn đòi hỏi phải được nhận thức đầy đủ và vận dụng một cách sáng tạo và phù hợp

Pháp luật về gia đình là một lĩnh vực pháp luật chuyên ngành, là một bộ phận hợp thành của hệ thống pháp luật nói chung và đến lượt mình pháp luật về gia đình cũng là một hệ thống bao gồm nhiều bộ phận hợp thành để điều chỉnh các quan hệ về gia đình

Xuất phát từ nhu cầu khách quan, Nhà nước ban hành các văn bản quy phạm pháp luật để điều chỉnh các quan hệ pháp luật trong lĩnh vực gia đình Các quy phạm pháp luật về gia đình là các quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung, là khuôn mẫu, thước đo để các chủ thể thực hiện các hành vi trong quan hệ về gia đình, đồng thời, các quy phạm pháp luật về gia đình cũng là tiêu chí để đánh giá tính hợp pháp hay không hợp pháp của các hành vi con người trong lĩnh vực gia đình

Các quy phạm pháp luật về gia đình thể chế hóa chủ trương, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng và phát triển gia đình Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ X (4/2006) đã đề ra định hướng phát triển gia đình Việt Nam trong giai đoạn mới:

Phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp của gia đình Việt Nam, thích ứng với những đòi hỏi của quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa Xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, thật sự là tổ ấm của mỗi người, là tế bào lành mạnh của xã hội, là môi trường quan trọng hình thành, nuôi dưỡng và giáo dục nhân cách con người, bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống tốt đẹp, tạo nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc [60]

Trang 39

Định hướng về xây dựng và phát triển gia đình Việt Nam nêu trên hoàn toàn phù hợp với ý chí, nguyện vọng của đông đảo các tầng lớp nhân dân Bởi lẽ bất cứ

ai cũng là thành viên của một gia đình nhất định; mỗi gia đình và thành viên gia đình đều mong muốn hướng tới một cuộc sống no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh

phúc Vì vậy, chủ trương, quan điểm của Đảng và ý chí, nguyện vọng của nhân dân

chính là cơ sở cho việc xây dựng, hoàn thiện và tổ chức thực thi có hiệu quả pháp luật về gia đình

Các quy phạm pháp luật về gia đình được chứa đựng trong các văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành theo hình thức, trình

tự, thủ tục nhất định và được áp dụng nhiều lần trong cuộc sống Các quy phạm pháp luật về gia đình được quy định chủ yếu trong Hiến pháp, Luật hôn nhân và Gia đình (2014), Luật Bình đẳng giới (2007); Luật Phòng, chống bạo lực gia đình (2008); các Nghị định của Chính phủ hướng dẫn thi hành, các Thông tư của bộ

Ngoài ra, để điều chỉnh một số quan hệ xã hội về gia đình, Nhà nước thừa nhận và cho phép sử dụng các tập quán tốt đẹp của các dân tộc Điều 7 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 quy định về áp dụng tập quán về hôn nhân và gia đình:

“Trong trường hợp pháp luật không quy định và các bên không có thỏa thuận thì tập quán tốt đẹp thể hiện bản sắc của mỗi dân tộc, không trái với nguyên tắc quy định tại Điều 2 và không vi phạm điều cấm của Luật này được áp dụng” Như vậy, bên cạnh hình thức chủ yếu là văn bản quy phạm pháp luật, các tập quán tốt đẹp của các dân tộc không trái với nguyên tắc của Luật Hôn nhân gia đình có thể được áp dụng

để điều chỉnh quan hệ xã hội về gia đình

Từ đó chúng tôi có thể đưa ra khái niệm: Pháp luật về gia đình là hệ thống

các nguyên tắc, quy phạm pháp luật chứa đựng trong các văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành theo hình thức, trình tự, thủ tục nhất định và các tập quán tốt đẹp được nhà nước thừa nhận, thể hiện bản sắc văn hóa của mỗi dân tộc, không trái với những nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình và các điều cấm của Hiến pháp và pháp luật, nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội về gia đình, hướng tới xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững

Trang 40

2.1.2.2 Đặc điểm của pháp luật về gia đình

Pháp luật về gia đình là một bộ phận hợp thành của hệ thống pháp luật, vì vậy nó mang những đặc trưng cơ bản của pháp luật nói chung như: Pháp luật về gia đình do nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện, thể hiện ý chí của nhà nước, có tính bắt buộc chung, tính quy phạm phổ biến và tính hệ thống, phản ánh những nhu cầu khách quan, điển hình, phổ biến và có tính công lý trong lĩnh vực gia đình, để điều chỉnh các mối quan hệ xã hội phát sinh, tồn tại và phát triển trong lĩnh vực gia đình Bên cạnh đó, pháp luật về gia đình là một lĩnh vực pháp luật chuyên ngành, vì vậy nó có những đặc điểm riêng cơ bản sau:

Thứ nhất, về tính chất: Pháp luật về gia đình cùng loại với pháp luật dân sự,

nhưng không đồng nhất với pháp luật dân sự Sự khác biệt đó thể hiện rõ nét ở đối tượng điều chỉnh và phương pháp điều chỉnh của pháp luật hôn nhân và gia đình

Đối tượng điều chỉnh của pháp luật về gia đình là các quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản giữa vợ và chồng, giữa cha mẹ và các con, giữa những người thân thích ruột thịt khác Quan hệ nhân thân là những quan hệ xã hội phát sinh giữa các thành viên trong gia đình như: quan hệ giữa vợ và chồng về sự thương yêu, chăm sóc, giúp đỡ nhau, về việc xác định chỗ ở chung, quan hệ giữa cha mẹ và các con về việc xác định chế độ pháp lý nhân thân của con chưa thành niên Quan hệ tài sản là những quan hệ xã hội phát sinh giữa các thành viên trong gia đình về những lợi ích tài sản như: quan hệ cấp dưỡng lẫn nhau giữa vợ chồng, giữa cha mẹ và các con, giữa các thành viên khác trong gia đình, quan hệ về sở hữu giữa vợ và chồng

Xét về mặt hình thức, đối tượng điều chỉnh của Luật hôn nhân và gia đình có nhiều điểm giống với đối tượng điều chỉnh của Luật dân sự Tuy nhiên, về nội dung, các quan hệ hôn nhân và gia đình có những điểm riêng đáng chú ý đó là:

Một là: nhóm quan hệ nhân thân là đối tượng điều chỉnh cơ bản và có ý nghĩa quyết định của pháp luật về gia đình Bởi vì, trong đời sống gia đình nói chung và trong từng nhóm, từng mối quan hệ gia đình cụ thể nói riêng, thì tình cảm,

sự tin tưởng, chân thành, sự gắn bó, yêu thương, chia sẻ giữa vợ và chồng, giữa cha

mẹ và con cái và giữa các thành viên khác trong gia đình luôn là yếu tố quan trọng, thiêng liêng và hiện thực nhất

Ngày đăng: 06/01/2016, 14:56

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Văn An (2002), N ữ Đại biểu Quốc hội Việt Nam- Truyền thống vẻ vang, công lao to lớn, tại trang http://www.na.gov.vn/NhomNNSVN/60namQHVN/1.htm,[truy cập ngày 12/8/2014] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nữ Đại biểu Quốc hội Việt Nam- Truyền thống vẻ vang, công lao to lớn
Tác giả: Nguyễn Văn An
Năm: 2002
2. Trần Thị Vân Anh (1994), Một số luận cứ xây dựng và hoàn thiện chính sách xã hội đối với Phụ nữ và Gia đình trong giai đoạn hiện nay, Đề tài khoa học cấp bộ, Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số luận cứ xây dựng và hoàn thiện chính sách xã hội đối với Phụ nữ và Gia đình trong giai đoạn hiện nay
Tác giả: Trần Thị Vân Anh
Năm: 1994
3. Lê Thị Tuyết Ba (1999), "Vấn đề bảo vệ các giá trị đạo đức trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam", Tạp chí Triết học, (1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề bảo vệ các giá trị đạo đức trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam
Tác giả: Lê Thị Tuyết Ba
Năm: 1999
4. Ban Bí thư (1994), Chỉ thị số 37-CT/TW ngày 16/5/1994 về một số vấn đề công tác cán bộ nữ trong tình hình mới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị số 37-CT/TW ngày 16/5/1994 về một số vấn đề công tác cán bộ nữ trong tình hình mới
Tác giả: Ban Bí thư
Năm: 1994
5. Ban Bí thư Trung ương Đảng (2005), Chỉ thị số 49/CT-TW ngày 21/12/2005 khóa IX về “Xây dựng gia đình thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại hóa”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị số 49/CT-TW ngày 21/12/2005 khóa IX về “Xây dựng gia đình thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại hóa”
Tác giả: Ban Bí thư Trung ương Đảng
Năm: 2005
6. Ban Chấp hành Trung ương Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam (2007), Báo cáo khóa IX trình Đại hội đại biểu phụ nữ toàn quốc lần thứ X, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo khóa IX trình Đại hội đại biểu phụ nữ toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Ban Chấp hành Trung ương Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam
Năm: 2007
7. Ban Chấp hành Trung ương (2014), Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 9/6/2014 của Ban Chấp hành Trung ương, khóa XI về xây dựng và phát triển văn hóa con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 9/6/2014 của Ban Chấp hành Trung ương, khóa XI về xây dựng và phát triển văn hóa con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước
Tác giả: Ban Chấp hành Trung ương
Năm: 2014
8. Ban Chỉ đạo phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá tỉnh Tiền Giang (2007), Văn bản hướng dẫn phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá, Tiền Giang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn bản hướng dẫn phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá
Tác giả: Ban Chỉ đạo phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá tỉnh Tiền Giang
Năm: 2007
9. Ban Luật pháp chính sách Trung ương Hội Phụ nữ Việt Nam (2007), Một số thuật ngữ về giới và bình đẳng giới, Nxb Phụ nữ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số thuật ngữ về giới và bình đẳng giới
Tác giả: Ban Luật pháp chính sách Trung ương Hội Phụ nữ Việt Nam
Nhà XB: Nxb Phụ nữ
Năm: 2007
10. Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam, Hoạt động của cơ quan Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động của cơ quan Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam
11. Mai Huy Bích (1993), Đặc điểm gia đình đồng bằng sông Hồng, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm gia đình đồng bằng sông Hồng
Tác giả: Mai Huy Bích
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin
Năm: 1993
12. Vũ Ngọc Binh (2012), Nhìn lại quá trình thực hiện Công ước CEDAW trong hơn ba thập kỷ qua trên thế giới và Việt Nam cùng với các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ và Cương lĩnh hành động Bắc Kinh, Chuyên gia nghiên cứu về quyền con người của Liên Hợp quốc, Cần Thơ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhìn lại quá trình thực hiện Công ước CEDAW trong hơn ba thập kỷ qua trên thế giới và Việt Nam cùng với các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ và Cương lĩnh hành động Bắc Kinh
Tác giả: Vũ Ngọc Binh
Năm: 2012
14. Đỗ Thị Bình (1997), Gia đình ở đô thị trong thời kỳ công nghiệp hoá - hiện đại hoá, Trung tâm Nghiên cứu khoa học về gia đình và phụ nữ ấn hành, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gia đình ở đô thị trong thời kỳ công nghiệp hoá - hiện đại hoá
Tác giả: Đỗ Thị Bình
Năm: 1997
15. Đỗ Thị Bình, Lê Ngọc Văn, Nguyễn Linh Khiếu (2002), Số liệu điều tra cơ bản về gia đình Việt Nam và người phụ nữ trong gia đình thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa (khu vực miền Bắc), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Số liệu điều tra cơ bản về gia đình Việt Nam và người phụ nữ trong gia đình thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa (khu vực miền Bắc)
Tác giả: Đỗ Thị Bình, Lê Ngọc Văn, Nguyễn Linh Khiếu
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2002
16. Bộ Chính trị (2007), Nghị quyết số 11-NQ/TW, ngày 27/4/2007 về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 11-NQ/TW, ngày 27/4/2007 về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2007
17. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2011), Báo cáo số 119/BGDĐT-TCCB ngày 10/01/2011 về chuẩn bị báo cáo việc thực hiện mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo số 119/BGDĐT-TCCB ngày 10/01/2011 về chuẩn bị báo cáo việc thực hiện mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2011
18. Bộ Lao Động, Thương binh và Xã hội (2010), Thông tư số 23/2010/TT- LĐTBXH quy định quy trình can thiệp, giúp trẻ em bị bạo lực, bị xâm hại tình dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 23/2010/TT-LĐTBXH quy định quy trình can thiệp, giúp trẻ em bị bạo lực, bị xâm hại tình dục
Tác giả: Bộ Lao Động, Thương binh và Xã hội
Năm: 2010
19. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch - UNICEF (2006), Kết quả điều tra Gia đình Việt Nam năm 2006, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả điều tra Gia đình Việt Nam năm 2006
Tác giả: Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch - UNICEF
Năm: 2006
20. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (2008), Các kiến thức chung về gia đình, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các kiến thức chung về gia đình
Tác giả: Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
Năm: 2008
21. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (2008), Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng, Chương trình hành động của Chính phủ, của Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch về Văn hóa, Thể thao, Du lịch và Gia đình, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng, Chương trình hành động của Chính phủ, của Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch về Văn hóa, Thể thao, Du lịch và Gia đình
Tác giả: Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
Năm: 2008

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w