1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đảng lãnh đạo phong trào thi đua yêu nước ở miền Bắc trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước từ năm 1961 đến 1975

114 893 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 114
Dung lượng 0,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa vừa mới được xác lập, chưa được củng cố, trình độ kỹ thuật còn lạc hậu; nền kinh tế miền Bắc vẫn chỉ là nền kinh tế nông nghiệp sản xuất nhỏ, thủ công,

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Khi nghiên cứu xã hội tư bản, đặc biệt là sự hoạt động của người lao động trong xã hội, C.Mác và Ph.Ăngghen đã chỉ ra rằng, thi đua là một hiện tượng khách quan nảy sinh do

sự tiếp xúc xã hội trong quá trình lao động sản xuất C.Mác viết “…ngay sự tiếp xúc xã hội

cũng đã đẻ ra thi đua” [38, tr.474]

Trong một số tác phẩm của mình, V.I Lê nin đã đề cập đến thi đua, coi thi đua là một tất yếu và là một nguồn tiềm năng to lớn của chủ nghĩa xã hội Ngay từ năm 1918,

V.I Lênin nhấn mạnh: chủ nghĩa xã hội “đã tạo ra khả năng áp dụng thi đua một cách

thực sự rộng rãi, với một quy mô thực sự to lớn, tạo ra khả năng thu hút thực sự đa số nhân dân lao động vào vũ đài hoạt động khiến họ có thể tỏ rõ bản lĩnh, dốc hết năng lực của mình, phát hiện những tài năng mà nhân dân sẵn có cả một nguồn vô tận” [35,

tr.234-235]

Vận dụng quan điểm của V.I.Lênin: “một trong những nhiệm vụ của đảng cộng

sản cầm quyền là phải tổ chức thi đua” [35, tr.234-235], lúc sinh thời Chủ tịch Hồ Chí

Minh luôn quan tâm đến vận động thi đua yêu nước cả về lý luận và thực tiễn Người coi đây là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng của mọi thời kỳ cách mạng, là nền tảng, là động lực của sự phát triển, là nhân tố quyết định thắng lợi của sự nghiệp cách mạng, bảo đảm cho

sự phát triển bền vững của quốc gia dân tộc Xuất phát từ quan điểm coi nhân dân là người làm nên lịch sử, cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, nên ngay từ đầu, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kêu gọi toàn dân tham gia việc nước, việc dân Tháng 8 năm 1945, trong tình thế vận nước ngàn cân treo sợi tóc bởi “giặc đói”, “giặc dốt” và nạn thù trong, giặc ngoài, Chủ tịch Hồ Chí Minh phát động ngay chiến dịch tăng gia sản xuất, chống

nạn thất học và sau đó tổ chức phong trào “Tuần lễ vàng”, “Hũ gạo tiết kiệm” Ngày 26

tháng 01 năm 1946, để phục vụ kháng chiến thắng lợi, kiến quốc thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lệnh ban hành 10 điều thưởng và 10 điều phạt, văn bản có ý nghĩa pháp lý đầu tiên về chính sách khen thưởng của nhà nước ta Ngày 27.3.1948, theo sáng kiến của

Chủ tịch Hồ Chí Minh, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra Chỉ thị phát động “Phong

trào thi đua ái quốc” để động viên mọi lực lượng làm cho kháng chiến mau thắng lợi,

Trang 3

kiến quốc mau thành công Ngày 11.6.1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết Lời kêu gọi thi

đua ái quốc Lời kêu gọi mang sức mạnh của một mệnh lệnh, được phát đi như một lời

hịch cứu nước đã lôi cuốn toàn quân, toàn dân ta tích cực tham gia Lời kêu gọi thực sự là chất keo kết dính muôn triệu tấm lòng yêu nước tạo nền tảng vững chắc để từ đó phong trào thi đua yêu nước được dấy lên khắp nơi, thực sự trở thành nơi hội tụ của trí tuệ, tinh thần và nhân phẩm Việt Nam

Đúng như lời nhà thơ Dương Hương Ly đã viết:

“Nơi hầm tối là nơi sáng nhất,

Nơi con nhận ra sức mạnh Việt Nam”, thế kỷ XX đối với nước ta là thế kỷ của

những biến đổi to lớn, thế kỷ đấu tranh oanh liệt giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội Trong đó, thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là thiên anh hùng ca bất hủ của chiến tranh nhân dân Việt Nam trong thời đại

Hồ Chí Minh Đây là sự kiện của những chấn động, ngạc nhiên, bất ngờ và thú vị Qua cuộc thử thách đầy cam go ấy, những phẩm chất cao đẹp của người Việt được thăng hoa

và tỏa sáng Điều mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng khẳng định: Nước Việt Nam là một,

dân tộc Việt Nam là một, sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý đó không bao giờ thay đổi, một lần nữa được minh chứng hùng hồn

Trong muôn vàn sức mạnh làm nên đại thắng mùa xuân năm 1975 thì vai trò của miền Bắc là không thể thay thế Trong suốt chiều dài của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, miền Bắc đã hoàn thành xuất sắc vai trò của hậu phương lớn đối với tiền tuyến lớn Những đóng góp to lớn ấy được phản ánh qua thực tiễn sinh động của hàng loạt các

phong trào thi đua yêu nước Tinh thần và sức mạnh của phong trào thi đua yêu nước từ

kháng chiến chống Pháp được phát huy trong điều kiện lịch sử mới đã góp phần quan trọng vào tiến trình thực hiện mục tiêu chiến lược của cách mạng Việt Nam thời kỳ này

Chọn vấn đề “Đảng lãnh đạo phong trào thi đua yêu nước ở miền Bắc trong

kháng chiến chống Mỹ, cứu nước từ năm 1961 đến 1975” làm đề tài luận văn Thạc sĩ

khoa học Lịch sử - Chuyên ngành Lịch sử Đảng, chúng tôi muốn góp phần nghiên cứu vai trò của phong trào thi đua yêu nước trong quá trình miền Bắc thực hiện nhiệm vụ là hậu phương chiến lược, đặc biệt là sự vận dụng sáng tạo quan điểm của Hồ Chí Minh về thi đua yêu nước của Đảng Lao động Việt Nam trong suốt tiến trình phát triển và đi đến

Trang 4

thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước Làm rõ bước phát triển và những đóng góp cụ thể của phong trào thi đua yêu nước là cơ sở đánh giá những hy sinh cao cả cũng như đóng góp vô giá mà nhân dân miền Bắc đã dành cho đồng bào miền Nam trong

sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc và thống nhất đất nước Tìm minh chứng thuyết phục để khẳng định một sự thật rằng: thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước mà đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử là thắng lợi chung của nhân dân Việt Nam Đồng thời nghiên cứu những kinh nghiệm của Đảng trong quá trình lãnh đạo phong trào thi đua yêu nước ở một thời kỳ lịch sử hào hùng và oanh liệt như trong kháng chiến chống Mỹ sẽ góp phần thiết thực vào việc thực hiện thắng lợi các phong trào thi đua, các cuộc vận động lớn của Đảng trong sự nghiệp đổi mới

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Là thực tiễn sôi động của những ngày nhân dân miền Bắc thực hiện nhiệm vụ tạo dựng tiền đề đầu tiên cho chủ nghĩa xã hội, đặc biệt là thực hiện nhiệm vụ thiêng liêng của hậu phương lớn cùng nhân dân miền Nam đánh bại âm mưu xâm lược của đế quốc

Mỹ, phong trào thi đua yêu nước phản ánh khá trung thực quá trình Đảng cũng như chính quyền cách mạng hiện thực hóa nhiệm vụ chiến lược mà Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ

III (9-1960) đề ra Xét trên tất cả các mặt, “Đảng lãnh đạo phong trào thi đua yêu nước ở

miền Bắc trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước từ năm 1961 đến 1975” là một đề tài

rộng, thu hút sự quan tâm của rất nhiều nhà nghiên cứu, đặc biệt là các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước và các đồng chí trực tiếp tham gia hoạt động trong lĩnh vực thi đua khen thưởng Thực tế, phong trào thi đua yêu nước đã được quan tâm nghiên cứu trên nhiều giác độ khác nhau:

- Quan điểm của Đảng, đặc biệt là những sáng tạo độc đáo trong tư tưởng Hồ Chí Minh về phong trào thi đua yêu nước

- Vai trò, tác dụng của phong trào thi đua yêu nước trong cả nước nói chung, ở miền Bắc nói riêng trong kháng chiến chống Mỹ

- Diễn biến của một số phong trào thi đua yêu nước cụ thể cũng như đóng góp thiết thực của nó trong quá trình miền Bắc hiện thực hóa những mục tiêu, nhiệm vụ chiến lược trong kháng chiến chống Mỹ

Trang 5

Ở địa phương vấn đề trên thường được viết lồng trong lịch sử Đảng bộ thời kỳ

1954 - 1975 Song nhìn chung còn nhiều nội dung cần được tiếp tục nghiên cứu như: nội dung, mục đích, nguyên tắc, phương pháp… phong trào thi đua yêu nước, kinh nghiệm của Đảng trong lãnh đạo, tổ chức phong trào thi đua yêu nước

Phong trào thi đua yêu nước không những là cao trào cách mạng quần chúng, mang hơi thở cuộc sống, mà qua từng giai đoạn cách mạng còn có sự kế thừa, phát triển

và được nâng lên tầm cao mới phù hợp với điều kiện của đất nước và dòng chảy của thời đại Việc nghiên cứu và tổ chức thực hiện phong trào thi đua yêu nước là hoạt động được tiến hành thường xuyên, liên tục, luôn được Đảng ta coi trọng Ở vào những thời điểm có tính bước ngoặt của đất nước, Đảng đã có những nghị quyết quan trọng về phong trào thi đua yêu nước Xung quanh các nghị quyết này có nhiều cuộc hội thảo với nhiều bài viết, bài phát biểu góp phần làm rõ vị trí, vai trò, nhiệm vụ, nội dung, phương pháp thực hiện phong trào thi đua yêu nước Nhiều bài viết của các đồng chí trực tiếp lãnh đạo phong trào thi đua yêu nước với các chuyên đề khác nhau đã được in thành những công trình có giá trị khoa học Theo nguồn tài liệu khảo sát được có thể kể đến một số công trình như:

“Tất cả vì sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước

tiến lên giành những thắng lợi mới” của Tác giả Lê Thanh Nghị, (Nxb Sự thật, Hà

Nội.1962); “Bước tiến mới của phong trào thi đua yêu nước trong sự nghiệp xây dựng

chủ nghĩa xã hội” (Nxb Sự thật, Hà Nội.1962), “Phát triển mạnh mẽ và sâu rộng phong trào thi đua yêu nước, phấn đấu trở thành tổ và đội lao động xã hội chủ nghĩa, hoàn thành thắng lợi kế hoạch 5 năm lần thứ nhất” (Nxb Lao động, Hà Nội.1963), “Hồ Chí Minh với phong trào thi đua yêu nước” (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2000) của Lê

Văn Yên, Nguyễn Văn Cát, “Hồ Chí Minh: Về phong trào thi đua yêu nước” (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2004), “Đảng, Bác Hồ với thi đua yêu nước và công tác thi đua

khen thưởng” (Nhà xuất bản Lý luận chính trị, Hà Nội.2008) (Ban thi đua- Khen thưởng

Trung ương, Tạp chí Thi đua - Khen thưởng), “Chủ tịch Hồ Chí Minh với phong trào thi

đua yêu nước” (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2008) Nhìn chung các công trình trên

đã góp phần làm rõ quan điểm chung của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh về thi đua yêu nước, đồng thời đi vào luận chứng vai trò cũng như sự chủ động, sáng tạo trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng đối với phong trào thi đua qua từng giai đoạn cách mạng Ý

Trang 6

nghĩa lý luận của các công trình này là rất lớn Tuy nhiên, việc đánh giá một cách hệ thống, toàn diện về phong trào thi đua yêu nước cũng như tất cả những vấn đề có liên quan là điều mà các công trình kể trên chưa đạt được

Một số công trình đi sâu nghiên cứu thi đua yêu nước ở góc độ từng phong trào cụ

thể như: “Lịch sử phong trào phụ nữ Việt Nam” (Nxb Phụ nữ, Hà Nội, 1980) của tác giả Nguyễn Thị Thập, “Phong trào phụ nữ Ba đảm đang trong cuộc kháng chiến chống Mỹ,

cứu nước” (Nhà xuất bản Lao động - Xã hội, Hà Nội 2003) của tác giả Lê Chân Phương,

“Phong trào nữ công nhân lao động và hoạt động nữ công công đoàn Việt Nam (1930-

1993)” (Nxb Lao động, Hà Nội.1995), “Lịch sử Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh

và phong trào thanh niên Việt Nam” (Nxb Thanh niên, Hà Nội.2001) do Văn Tùng (Chủ

biên)…Các công trình này góp phần phát họa bức tranh sinh động về phong trào thi đua yêu nước trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước Song, vì nghiên cứu phong trào của từng giới, từng ngành, từng đối tượng cụ thể mà các công trình này hầu như mang giá trị lịch sử hơn là giá trị lý luận

Một trong những đóng góp quan trọng khác góp phần làm sinh động và sáng rõ lý luận về thi đua yêu nước cũng như thành tựu của phong trào thi đua yêu nước ở các cấp, ngành, địa phương là một số công trình được đăng tải rải rác trên các tạp chí, đặc biệt là các bài viết nhân kỷ niệm ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh phát động Lời kêu gọi thi đua ái

quốc Có thể kể đến một số bài viết có giá trị như: Trần Ngọc Tuệ (2005): Tính ưu việt và

sức mạnh của miền Bắc xã hội chủ nghĩa trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước,

Tạp chí Cộng sản, Số 8, 4 – 2005; Phan Diễn, Bài phát biểu tại cuộc gặp mặt phụ nữ tiêu

biểu trong phong trào “Ba đảm đang”, ngày 1 – 3 – 2005 Báo Nhân dân, ngày 2 – 3 –

2005; Đinh Xuân Hướng (2008): Về phong trào yêu nước tỉnh Thanh Hóa, Tạp chí Xưa

và nay, số 299-300, 1 – 2008; Nguyễn Thị Doan (2008): Đẩy mạnh phong trào thi đua và

công tác thi đua - khen thưởng theo tư tưởng Hồ Chí Minh, Tạp chí cộng sản, Số 788, 6

– 2008; PGS – TS Bùi Đình Phong (2008): Chủ tịch Hồ Chí Minh với phong trào thi đua

yêu nước, Tạp chí Lịch sử Đảng, Số 4 – 2008 PGS - TS, Nguyễn Mạnh Hưởng, Viện

khoa học xã học nhân văn quân sự, Bộ Quốc Phòng: Bản chất, động lực thi đua yêu nước

trong tư tưởng Hồ Chí Minh, Tạp chí Thi đua yêu nước, Số 11(155) năm 2008; Đỗ Xuân

Thăng, Phó trưởng ban Thường trực, Ban Thi đua - Khen thưởng (2008): Thi đua ái quốc

Trang 7

thúc đẩy phong trào cách mạng trong thời kỳ mới; Phạm Thị Lai (2008):Thi đua yêu nước theo tưởng Hồ Chí Minh – Ý nghĩa lịch sử và bài học kinh nghiệm; Tạp chí

Tuyên giáo số 6, 18 – 7 – 2008: Thi đua yêu nước theo những chỉ dẫn của Chủ tịch

Hồ Chí Minh PGS - NGND – Lê Mậu Hãn – Th.s Văn Thị Thanh Mai; Đinh Văn Tư

– Phó chủ tịch Thường trực Hội người cao tuổi VN: Hồ Chí Minh nói về thi đua ái

quốc của người cao tuổi VN, Đăng ngày 18 – 7 – 2008 (Tạp chí Tuyên giáo); T.S Trần

Viết Hoàn: Nhớ lời Bác dạy – Thi đua ái quốc, Tạp chí Tuyên giáo số 7 – 2008 Ngoài

ra còn có nhiều bài viết đăng trên Báo điện tử của các báo địa phương có liên quan đến phong trào thi đua yêu nước Sự chân thực, sinh động của quá trình hiện thực hóa các cuộc vận động thi đua từ Trung ương đến các địa phương là điều mà những bài viết này đã phản ánh được

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu được công bố khá đa dạng và phong phú,

đã cung cấp một bức tranh khá tổng thể, rõ ràng về phong trào thi đua yêu nước trong thời kỳ từ 1961 – 1975 dưới sự lãnh đạo của Đảng Ý nghĩa định hướng cho phong trào thi đua yêu nước, đặc biệt là sự gợi mở về các hướng nghiên cứu mới liên quan đến đề tài

là đóng góp lớn không thể phủ nhận Tuy nhiên, những khám phá mới trong cái nhìn hệ thống của các tác phẩm, bài viết, bài phát biểu đã kể trên là chưa nhiều, chưa có công trình nào nghiên cứu phong trào thi đua yêu nước từ 1961 – 1975 dưới giác độ một chuyên đề lịch sử Vì vậy tìm hiểu sâu sắc và hệ thống hơn về phong trào thi đua yêu nước ở miền Bắc từ năm 1961 đến 1975 dưới sự lãnh đạo của Đảng vẫn là đề tài mới mẻ

mà tác giả tâm huyết

3 Mục đích, nhiệm vụ của luận văn

3.1 Mục đích của luận văn

Luận văn hệ thống hóa các quan điểm, chủ trương của Chủ tịch Hồ Chí Minh về phong trào thi đua yêu nước ở miền Bắc từ 1961- 1975, từ đó:

- Làm sáng tỏ chủ trương của Đảng đối với phong trào thi đua yêu nước ở miền Bắc trong giai đoạn 1961 - 1975 Khẳng định đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc từ 1961 đến 1975 là hoàn toàn đúng đắn

Trang 8

- Thông qua các phong trào thi đua yêu nước ở miền Bắc, khẳng định vai trò của hậu phương miền Bắc đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của đồng bào miền Nam

- Từ thực tiễn lãnh đạo phong trào thi đua yêu nước ở miền Bắc trong những năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, luận văn nêu lên kinh nghiệm của Đảng trong lãnh đạo phong trào thi đua yêu nước ở miền Bắc những năm 1961 – 1975 và vận dụng vào công cuộc đổi mới hiện nay

3.2 Nhiệm vụ của luận văn

- Luận văn trình bày yêu cầu khách quan để Đảng phát động phong trào thi đua yêu nước ở miền Bắc trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, nhất là từ năm 1961 đến

xã hội trên cả nước cũng như lãnh đạo công cuộc đổi mới hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng của luận văn

- Luận văn tập trung nghiên cứu đường lối, chủ trương và sự chỉ đạo thực hiện của Đảng đối với các phong trào thi đua yêu nước ở miền Bắc trong kháng chiến chống Mỹ

Trang 9

nghĩa xã hội ở miền Bắc

- Dựa trên cơ sở nghiên cứu các báo cáo tổng kết phong trào thi đua yêu nước của các ngành nông nghiệp, công nghiệp, giáo dục, quân đội…ở miền Bắc trong kháng chiến

chống Mỹ thời kỳ từ năm 1961 – 1975

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Để hoàn thành mục đích, nhiệm vụ của Luận văn, tác giả của luận văn sử dụng phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic là chủ yếu, ngoài ra vận dụng các phương pháp phân tích, chứng minh, so sánh, khảo sát để giải quyết các yêu cầu đặt của đề tài ra

6 Đóng góp của luận văn

- Khẳng định sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng đối với cách mạng xã hội chủ nghĩa

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn được chia làm 2 chương, 5 tiết

Trang 10

Chương 1 PHONG TRÀO THI ĐUA YÊU NƯỚC Ở MIỀN BẮC TỪ NĂM 1961 ĐẾN 1965

DƯỚI SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG

1.1 SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG ĐỐI VỚI PHONG TRÀO THI ĐUA YÊU NƯỚC

Nhân tố quyết định làm nên tầm vóc vĩ đại của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước chính là sự lãnh đạo của Đảng Và một trong những vấn đề mang ý nghĩa chiến lược là Đảng đã giải quyết tốt quan hệ giữa hai chiến lược cách mạng XHCN ở miền Bắc

và CMDTDCND ở miền Nam Đặc biệt là Đảng có đường lối CMXHCN nhằm xây dựng miền Bắc vững mạnh làm căn cứ địa cách mạng cả nước, đóng vai trò hậu phương đối với tiền tuyến lớn miền Nam Nhận thức rõ tình hình của đất nước nói chung, của miền Bắc nói riêng cũng như nhiệm vụ cách mạng mới đang đặt ra trở thành yêu cầu cấp bách,

có ý nghĩa quyết định đối với quá trình Đảng lãnh đạo, tổ chức phong trào thi đua yêu nước ở miền Bắc trong những năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước

Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp kết thúc thắng lợi với việc ký kết Hiệp định Giơnevơ (21-7-1954), cách mạng nước ta bước vào thời kỳ mới với đặc điểm lớn nhất là đất nước tạm thời chia làm hai miền Miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, tiến hành khắc phục hậu quả chiến tranh, khôi phục kinh tế và bước vào thời kỳ quá độ lên CNXH Ở miền Nam, đế quốc Mỹ từng bước gạt Pháp, độc chiếm miền Nam, biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới, thành căn cứ quân sự, âm mưu chia cắt lâu dài đất nước

ta Nhân dân miền Nam phải tiếp tục tiến hành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhằm giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc

Miền Bắc bắt tay vào khôi phục kinh tế với những thuận lợi cơ bản là miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, có hòa bình, nhân dân cần cù, sáng tạo, lực lượng lao động dồi dào, lại có các nước xã hội chủ nghĩa giúp đỡ về kinh nghiệm, vật chất Tuy nhiên, quá trình đó lại diễn ra trong điều kiện khó khăn về nhiều mặt của một xã hội vốn là thuộc địa nửa phong kiến, vừa trải qua hai cuộc chiến tranh, bị tàn phá nặng nề và đang chuyển sang giai đoạn cách mạng mới

Sau ngày hòa bình mới lập lại, bức tranh kinh tế miền Bắc tiêu điều Công nghiệp giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân nhưng sản xuất mới được khôi phục, máy

Trang 11

móc cũ kỹ, hư hỏng; thủ công nghiệp nghèo nàn, phân tán, lực lượng kỹ thuật hầu như không có gì Đến năm 1954, giá trị tổng sản lượng công nghiệp chỉ chiếm 1,5% giá trị giá trị tổng sản lượng công nông nghiệp Kinh tế nông nghiệp giữ vai trò chủ yếu nhưng sản xuất nông nghiệp cũng gặp không ít khó khăn “1/7 ruộng đất bị bỏ hoang, 1/3 ruộng đất không có nước tưới để cày cấy, các công trình thủy lợi đều bị phá hoại, 1/4 số trâu bò bị giặc bắn giết” [27, tr.92], “Máy móc, nông cụ vô cùng thiếu thốn Thiếu sức kéo, phân bón, kỹ thuật canh tác lạc hậu Đê điều hư hại nhiều, 8 công trình đại thủy nông và nhiều công trình thủy nông vừa và nhỏ bị phá hủy Nông thôn xơ xác tiêu điều vì địch càn qué đốt phá” [65, tr.55] Phần lớn ruộng đất cày cấy một vụ, năng suất kém Thiên tai liên tiếp Kỹ thuật sản xuất thủ công thô sơ Năm 1954, cả miền Bắc chưa có một máy kéo Nông thôn xơ xác tiêu điều vì bị càn quét, đốt phá Hàng trăm nghìn gia đình không có nhà ở Gần một triệu đồng bào công giáo bị địch dụ dỗ, cưỡng ép di cư vào Nam bỏ lại hàng chục nghìn héc ta ruộng đất hoang Nạn đói lan rộng Tháng 10 năm 1954, miền Bắc có gần nửa triệu người bị đói

Trước khi rút khỏi miền Bắc, thực dân Pháp đã cướp đi nhiều máy móc, phá hủy bến cảng, cầu cống, đường sắt và các phương tiện giao thông vận tải Gần 50% kho tàng công sở bị phá hoại, 1.153 km đường sắt bị phá hủy hoàn toàn, 3.500 cầu lớn nhỏ bị đánh sập, hầu hết các cảng biển không đủ điều kiện có thể cho phép tàu lớn ra vào Tất cả các

nhà máy xí nghiệp then chốt bị tê liệt không có khả năng hoạt động [65, tr.55] “Không

một cân thép, không một cân hóa chất, điện lực chỉ đủ thắp sáng cho một số thành phố,

cơ khí chỉ là những xưởng sửa chữa nhỏ” [54, tr.204-205] Khoa học kỹ thuật vô cùng lạc

hậu Cả khu mỏ Hòn Gai chỉ có 2 cán bộ khoa học kỹ thuật Nhà máy dệt Nam Định với hàng nghìn công nhân mà không có một kỹ sư nào Hơn 15 vạn người bị thất nghiệp ở thành thị và nông thôn Kinh tế quốc dân miền Bắc mất cân đối nghiêm trọng

Các tệ nạn xã hội, các hủ tục lạc hậu tàn dư của chế độ cũ chưa được xóa bỏ Trình

độ học vấn của của nhân dân rất thấp, nhiều người chưa biết đọc, biết viết, nhất là ở vùng các dân tộc ít người Đội ngũ lao động có trình độ văn hóa và kỹ thuật để xây dựng xã hội mới thiếu trầm trọng Đến năm 1955, cả miền Bắc chỉ có 30 kỹ sư và cán bộ kỹ thuật

Trang 12

Hệ thống y tế nhỏ yếu, lạc hậu Năm 1955 hơn 13 triệu dân miền Bắc mới chỉ có

78 cơ sở điều trị với 115 bác sĩ, 3.796 y sỹ và y tá [65, tr.56] Nhiều bệnh xã hội như lao phổi, sốt rét, hoa liễu, đau mắt hột chưa có khả năng loại bỏ

Tất cả những khó khăn trên là trở ngại lớn đối với miền Bắc khi thực hiện nhiệm

vụ cách mạng trong giai đoạn mới

Ở miền Nam, dưới sự chỉ huy của đế quốc Mỹ, Ngô Đình Diệm cùng bè lũ tay sai

ra sức phá hoại Hiệp định Giơnevơ Chúng tổ chức “trưng cầu dân ý” giả hiệu, bày trò

“phế truất Bảo Đại”, tổ chức tuyển cử riêng rẽ và gian lận, bầu ra quốc hội, âm mưu biến miền Nam thành một quốc gia riêng biệt Đi đôi với xây dựng ngụy quyền, Mỹ - Diệm ra sức tăng cường ngụy quân Xây dựng “quân đội quốc gia”, thực chất là một đội quân đánh thuê, do Mỹ tổ chức, chỉ huy, trang bị, huấn luyện và trả lương

Mỹ đã đưa vào miền Nam một khối lượng lớn vũ khí và phương tiện chiến tranh Gấp rút xây dựng một hệ thống căn cứ và công trình quân sự bao gồm các sân bay, bến cảng, hệ thống thông tin liên lạc và kho tàng Trong khi nhân dân miền Nam nghiêm chỉnh thi hành Hiệp định Giơnevơ, thì Mỹ và chính quyền tay sai đã tiến hành một cuộc chiến tranh thực dân mới phá hoại hòa bình Với đầy rẫy nhà tù, dây thép gai và đồn bốt, cùng quốc sách “tố cộng, diệt cộng” của chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm nhân dân miền Nam phải sống trong bầu không khí căng thẳng, ngột ngạt Cách mạng miền Nam đứng trước những thử thách nặng nề

Trên thực tế, sức mạnh của miền Bắc không chỉ do chủ nghĩa xã hội mang lại, mà

đó còn là sức mạnh của ý chí giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước thôi thúc Còn miền Nam đánh Mỹ với sức mạnh tổng hợp của cả độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội Miền Nam chiến đấu không phải chỉ để giải phóng miền Nam mà còn để bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa, thực hiện thống nhất nước nhà, đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội Xuất phát từ nhận thức đặc điểm của cách mạng mỗi miền trước tình hình mới, mối quan hệ khăng khít không tách rời giữa cách mạng hai miền, đặc biệt là vai trò, vị trí của cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc đối với sự nghiệp đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước đã được Đảng Lao động Việt Nam nhận thức từ rất sớm

Tại Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa II (mở rộng), từ ngày 3 đến ngày 12 – 3 – 1955, Đảng đề ra nhiệm vụ: củng cố miền Bắc về mọi mặt; giữ vững

Trang 13

và đẩy mạnh cuộc đấu tranh chính trị của nhân dân miền Nam Trong đó, “củng cố miền

Bắc về mọi mặt cũng là một nhiệm vụ quan trọng, vì miền Bắc có được củng cố ta mới có

đủ lực lượng để củng cố hòa bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập dân chủ trong

toàn quốc Có củng cố miền Bắc mới chiếu cố được miền Nam” [21, tr.209] Tiếp đó, tại

Hội nghị Trung ương 8 (8 – 1955), một lần nữa Đảng nhấn mạnh: “Muốn thống nhất

nước nhà, điều cốt yếu là phải ra sức củng cố miền Bắc, đồng thời giữ vững và đẩy mạnh

cuộc đấu tranh của nhân dân miền Nam

Củng cố miền Bắc tức là bồi dưỡng lực lượng cơ bản của ta, xây dựng chỗ dựa

vững chắc cho nhân dân toàn quốc giành thắng lợi trong cuộc đấu tranh củng cố hòa

bình, thực hiện thống nhất” [21, tr.576] Nghị quyết cũng xác định: “củng cố miền Bắc

phải luôn chiếu cố miền Nam Củng cố miền Bắc và chiếu cố miền Nam không thể tách

rời nhau” [21, tr.576-577]

Đứng trước âm mưu chia cắt lâu dài đất nước ta của đế quốc Mỹ, ngày 6 – 7 –

1956, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư kêu gọi đồng bào cả nước đồng tâm hiệp lực đấu tranh đòi thi hành Hiệp định Giơnevơ Trong thư Người viết:

Đường lối đấu tranh của chúng ta hiện nay là: toàn dân từ Nam chí Bắc đoàn kết rộng rãi và chặt chẽ trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, ra sức củng cố miền Bắc thành nền tảng vững mạnh cho cuộc đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà…chúng ta hoạt động không ngừng cho Nam – Bắc gần gũi nhau, chúng ta kiên quyết đấu tranh củng cố hòa bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập và dân chủ trong cả nước [22, tr.276]

Đến Hội nghị Trung ương 10 (từ 25-8 đến 5-10-1956), Đảng chủ trương: “Ra sức khôi phục và phát triển quan hệ Bắc – Nam” vì “Đấu tranh khôi phục và phát triển quan

hệ Bắc – Nam có một tác dụng lớn trong cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà Quan hệ

Bắc – Nam được thực hiện sẽ có ảnh hưởng tốt và có tác dụng quan trọng đối với đấu tranh thực hiện thống nhất đó là công tác thiết thực để làm cho hai miền gần gũi nhau,

để dần dần đi đến hiệp thương bàn việc thực hiện thống nhất nước nhà” [22, tr.591]

Trước sự vi phạm nghiêm trọng những điều khoản được quy định trong Hiệp định Giơnevơ của đế quốc Mỹ và bọn tay sai, tại Hội nghị Trung ương 13 (12 – 1957), Đảng

đã khẳng định lại nhiệm vụ cách mạng của toàn Đảng, toàn dân ta hiện nay là: củng cố

Trang 14

“Miền Bắc là căn cứ địa cách mạng to lớn chung cho cả nước”, “miền Bắc có được củng

cố và tiến dần lên chủ nghĩa xã hội thì đời sống nhân dân miền Bắc càng ngày càng được cải thiện Điều đó cổ vũ cán bộ, đảng viên và đồng bào ở miền Nam đấu tranh mạnh mẽ

để mau thống nhất với miền Bắc và được hưởng tự do, hạnh phúc như nhân dân miền

Bắc”, “nhiệm vụ củng cố miền Bắc, đưa miền Bắc tiến dần lên chủ nghĩa xã hội có tính

chất quyết định cho toàn bộ thắng lợi của cách mạng trong giai đoạn mới” [23,

tr.772-773]

Thực hiện chủ trương xây dựng và củng cố miền Bắc của Trung ương Đảng, quân

và dân miền Bắc đã tích cực triển khai và giải quyết thành công nhiều việc cấp bách như: tiếp quản vùng địch tạm chiếm; hoàn thành việc chuyển giao quân tập kết; tiến hành cải cách ruộng đất, sữa chữa sai lầm trong cải cách ruộng đất và chỉnh đốn tổ chức Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân miền Bắc đã vượt qua nhiều khó khăn, thử thách, từng bước khắc phục hậu quả của cuộc chiến tranh chống thực dân Pháp, ổn định vững chắc tình hình chính trị, giữ vững trật tự an ninh, xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng, đạt thành tựu bước đầu về cải tạo và xây dựng chủ nghĩa xã hội Hội nghị Trung ương 15 (từ ngày 12 đến ngày 22 – 1 – 1959) xác định rõ mối quan hệ giữa hai chiến lược cách mạng

ở hai miền Hội nghị nhận định: hiện nay, “cách mạng Việt Nam do Đảng ta lãnh đạo bao gồm hai nhiệm vụ chiến lược: cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam Hai nhiệm vụ chiến lược đó tuy có tính chất khác

nhau, nhưng quan hệ hữu cơ với nhau, song song tiến hành, ảnh hưởng sâu sắc lẫn nhau,

trợ lực mạnh mẽ cho nhau, nhằm phương hướng chung là giữ vững hòa bình, thực hiện

thống nhất nước nhà, tạo điều kiện thuận lợi để đưa cả nước Việt Nam tiến lên chủ nghĩa

xã hội” [24, tr.62] Vì vậy, tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc là củng cố

và phát huy thắng lợi đã giành được, là xây dựng cơ sở vững chắc để thực hiện thống nhất nước nhà” [24, tr.63], “phong trào yêu nước của nhân dân miền Nam càng được giữ vững và phát triển thì một mặt càng tăng cường lực lượng cách mạng để đánh bại chính

Trang 15

sách nô dịch, gây chiến và chia cắt của Mỹ - Diệm…Mặt khác, đó cũng chính là thiết thực bảo vệ miền Bắc, tạo điều kiện cho cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc được tiến hành thuận lợi” [24, tr.65] Nghị quyết Hội nghị Trung ương 15 có một ý nghĩa lịch sử

to lớn, là hội nghị hoàn chỉnh đường lối cách mạng miền Nam, mở đường cho cách mạng miền Nam tiến lên, làm xoay chuyển tình thế cách mạng Hội nghị còn đồng thời mở ra một giai đoạn mới cho mối quan hệ giữa chiến lược cách mạng hai miền Nam – Bắc

Bước vào năm 1960, thực tiễn cách mạng Việt Nam đã có những chuyển biến nhanh chóng Miền Bắc đã hoàn thành công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa với những thành tựu bước đầu, làm cho bộ mặt kinh tế, xã hội thay đổi theo chiều hướng tích cực Với những thành tựu đạt được trong đối nội và đối ngoại dưới sự lãnh đạo của Đảng, miền Bắc đã thực sự được củng cố và trở thành hậu phương ổn định, có khả năng đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp cách mạng miền Nam Ở miền Nam, dưới ánh sáng Nghị quyết Trung ương 15 (1959), nhân dân miền Nam đã tiến hành cuộc Đồng khởi vĩ đại, đánh dấu bước nhảy vọt đầu tiên chuyển cách mạng miền Nam sang thế tiến công Để kịp thời đáp ứng những đòi hỏi của tình hình mới, nhằm đề ra đường lối chiến lược và kiện toàn sự lãnh đạo của Đảng về mọi mặt, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng được triệu tập tại thủ đô Hà Nội từ ngày 5 đến 10 – 9 – 1960 Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ

rõ: “Đại hội lần này là Đại hội xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh hòa

bình thống nhất nước nhà” [25, tr.186]

Đại hội đã phân tích một cách sâu sắc tình hình ở hai miền Nam, Bắc với hai chế

độ chính trị, hai chiến lược cách mạng khác nhau, từ đó xác định nhiệm vụ cụ thể của cách mạng mỗi miền Có thể nói, đường lối chính trị được đề ra tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng có nội dung cơ bản là kết hợp chặt chẽ hai nhiệm vụ chiến lược cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam và cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền

Bắc Trong đó, nhiệm vụ tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc là “nhiệm vụ

quyết định nhất đối với sự phát triển của toàn bộ cách mạng nước ta, đối với sự nghiệp thống nhất nước nhà của nhân dân ta” [25, tr.510] Miền Bắc là căn cứ địa chung của

cách mạng cả nước Cách mạng miền Nam “có tác dụng quyết định trực tiếp đối với sự

nghiệp giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai, thực hiện hòa bình thống nhất nước nhà, hoàn thành nhiệm vụ cách mạng dân tộc dân chủ

Trang 16

nhân dân trong cả nước” [25, tr.511] Tuy là hai chiến lược khác nhau, mỗi nhiệm vụ

chiến lược nhằm giải quyết yêu cầu cụ thể của mỗi miền, nhưng cả hai nhiệm vụ chiến lược ấy đều nhằm giải quyết mâu thuẫn chung của cả nước, đều nhằm mục tiêu chung là hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ, thống nhất đất nước

Mối quan hệ giữa hai chiến lược cách mạng ở hai miền Nam, Bắc được hình thành trong quá trình Đảng ta khảo nghiệm, tìm tòi, xác định đường lối đấu tranh cách mạng trong thời kỳ đầu của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước về cơ bản đã được khẳng định rõ tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (9 – 1960) Quan điểm của

Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Miền Bắc là nền tảng, là gốc rễ của lực lượng đấu tranh của nhân

dân ta Nền có vững, nhà mới chắc Gốc có mạnh, cây mới tốt Chúng ta phải ra sức củng cố miền Bắc về mọi mặt, phải làm cho miền Bắc vững mạnh và tiến lên mãi” [41, tr.67] trở

thành nhận thức chung và xuyên suốt được phản ánh trong các văn kiện của Đảng ta thời kỳ này Đây chính là cơ sở định hướng quan trọng để Đảng ta đề ra sự lãnh đạo, chỉ đạo đối với phong trào thi đua yêu nước ở hậu phương miền Bắc trong giai đoạn triển khai thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất

Mục tiêu của kế hoạch 5 năm lần thứ nhất là “Phấn đấu xây dựng bước đầu cơ sở

vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, thực hiện một bước công nghiệp hóa xã hộichủ nghĩa và hoàn thành công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa, tiếp tục đưa miền Bắc tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội” [63, tr.209] Việc tăng cường sự

lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng đối với phong trào thi đua yêu nước nhằm hiện thực hóa mục tiêu này là hết cần thiết Nhưng yêu cầu đặt ra đối với Đảng trong quá trình đó trước hết

là phải bám sát nhiệm vụ chính trị của miền Bắc trong thời kỳ cách mạng mới, đặc biệt phải xuất phát từ chính thực tế tình hình miền Bắc sau giai đoạn khôi phục kinh tế (1954

– 1960)

Công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa đã bước đầu mang lại cho miền Bắc một diện mạo mới Tuy nhiên, khi miền Bắc bắt tay vào thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, những khó khăn do điểm xuất phát thấp vẫn chưa được khắc phục triệt để Trình độ nhận thức của cán bộ, nhân dân còn thấp Kinh nghiệm tổ chức thực hiện xây dựng một xã hội mới từ một đất nước nghèo nàn, lạc hậu do đế quốc và phong kiến cai trị, nhân dân bị bóc lột và bị kìm hãm về mọi mặt còn nhiều hạn chế Những lề thói canh tác cũ, những

Trang 17

phong tục, tập quán lạc hậu, lối làm ăn cá thể manh mún, nền sản xuất tiểu nông chưa thể xóa bỏ một sớm một chiều Quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa vừa mới được xác lập, chưa được củng cố, trình độ kỹ thuật còn lạc hậu; nền kinh tế miền Bắc vẫn chỉ là nền kinh tế nông nghiệp sản xuất nhỏ, thủ công, năng suất thấp và bấp bênh; công nghiệp nặng còn nhỏ bé, chưa đáp ứng được những yêu cầu về tư liệu sản xuất chủ yếu; các ngành sản xuất vật chất khác cũng ở trong tình trạng tương tự; đội ngũ cán bộ khoa học

kỹ thuật và công nhân lành nghề còn rất ít ỏi và không đồng bộ… Sự chi phối của tất cả những khó khăn này đối với quá trình nhân dân miền Bắc thực hiện nhiệm vụ cách mạng

mà Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III (9-1960) đề ra, cũng như với phong trào thi đua yêu nước là rất lớn Thực tế cho thấy, đến thời điểm này, trên cơ sở thắng lợi của các cuộc vận động cải tạo xã hội chủ nghĩa, của cuộc vận động cải tiến quản lý xí nghiệp quốc doanh, của đợt chỉnh huấn chính trị cho cán bộ và chiến sĩ trong quân đội, của các đợt giáo dục về hai con đường ở nông thôn…phong trào thi đua yêu nước đã phát triển mạnh mẽ từ thành thị tới nông thôn, trong khắp các xí nghiệp, công trường, nông trường, đơn vị bộ đội, hợp tác xã, cơ quan, bệnh viện, trường học Trong quá trình phát triển của phong trào thi đua, trình độ giác ngộ chính trị, ý thức thi đua tập thể, phát huy sáng kiến, hợp lý hóa sản xuất, cải tiến kỹ thuật, cải tiến công tác và tinh thần học tập văn hóa, kỹ thuật, nghiệp vụ của các tầng lớp nhân dân đã có những tiến bộ rõ rệt Kết quả của phong trào thi đua yêu nước đã đem lại những thành tích to lớn trên mọi mặt công tác, góp phần quan trọng vào việc hoàn thành thắng lợi kế hoạch nhà nước ba năm cải tạo và phát triển kinh tế, phát triển văn hóa Tuy nhiên, phong trào thi đua yêu nước vẫn còn nhiều nhược điểm Đó là tình trạng phong trào phát triển chưa đều, nội dung thi đua chưa toàn diện, chưa nhằm vào khâu quan trọng nhất hoặc khâu đương còn yếu nhất của từng ngành; trong sản xuất mới chỉ chú ý đến số lượng, chưa quan tâm đầy đủ đến chất lượng và giá thành; chưa chú ý đúng mức tới an toàn lao động và bồi dưỡng sức lao động; tư tưởng bảo thủ, ngại khó, tự ti, các hành động tự do chủ nghĩa, kém kỷ luật lao động và hiện tượng lãng phí, tham ô còn khá phổ biến, có nơi còn nghiêm trọng; về lãnh đạo thi đua thì chưa kết hợp chặt chẽ giữa các ngành, các cấp, có khi ngày cả trong nội bộ từng đơn vị sản xuất; những khó khăn về nguyên liệu, tiêu thụ trong sản xuất chưa được giải quyết tốt; nhiều kinh nghiệm của quần chúng chưa được xác minh và phổ biến kịp thời; nhiều

Trang 18

chính sách, chế độ về quản lý sản xuất, quản lý kỹ thuật và chế độ khen thưởng chưa được nghiên cứu, bổ sung v,v…Những nhược điểm này đã hạn chế phần nào kết quả của phong trào thi đua yêu nước đang trên đà phát triển

Năm 1961 là năm đầu tiên miền Bắc kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961 – 1965)

Sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta đã bước vào một thời kỳ phát triển mới, đặt ra cho toàn Đảng, toàn dân những yêu cầu mới, to lớn hơn trước Đó là những yêu cầu của việc xây dựng các cơ sở vật chất và kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, của việc củng cố và phát triển quan hệ sản xuất mới, và hoàn thành công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa, của việc cải thiện đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân, của việc tăng cường lực lượng miền Bắc về mọi mặt: kinh tế, chính trị, quốc phòng, làm cơ sở vững chắc cho cuộc đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà Nhờ những phân tích chính xác tại Đại hội toàn quốc lần thứ III (9.1960), cũng như nắm bắt đầy đủ thực trạng phong trào thi đua yêu nước, Đảng

đã nhanh chóng có những định hướng mới Sau Đại hội, Đảng kịp thời chỉ đạo nhằm chuyển hướng, phát triển phong trào thi đua yêu nước đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp cách mạng cả nước Sự lãnh đạo của Đảng được phản ánh khá rõ trong các chỉ thị, nghị quyết của Ban Bí thư, Bộ Chính trị Trong phạm vi có hạn, Luận văn chỉ trình bày và phân tích một số chỉ đạo mang tầm chiến lược, có ý nghĩa quyết định mục đích, nội dung, phương thức…của phong trào thi đua yêu nước của nhân dân miền Bắc từ năm 1961-

1965

Nhận thức đầy đủ thực trạng phong trào thi đua yêu nước cũng như những yêu cầu của sự nghiệp cách mạng trong giai đoạn mới, ngày 26 tháng 1 năm 1961, Ban Bí thư

ra Nghị quyết Về việc đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước đảm bảo hoàn thành toàn

diện và vượt mức kế hoạch nhà nước năm 1961 và kế hoạch 5 năm lần thứ nhất Để đảm

bảo hoàn thành thắng lợi những nhiệm vụ chính trị to lớn và những nhiệm vụ của kế hoạch 5 năm lần thứ nhất mà Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III (9/1960) đề ra, cũng như

để thực hiện vượt mức kế hoạch Nhà nước năm 1961 do Hội nghị lần thứ ba của Ban Chấp hành Trung ương đã quyết định, Ban Bí thư chủ trương: bắt đầu từ năm 1961 phải động viên mọi lực lượng tinh thần và vật chất của toàn dân, đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước phát triển sâu rộng trong mọi ngành sản xuất và công tác, trong mọi tầng lớp nhân dân, nhằm phát huy mọi khả năng và thuận lợi, khắc phục mọi khó khăn để không

Trang 19

ngừng tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ giá thành, quyết tâm thực hiện vượt mức và toàn diện kế hoạch nhà nước năm 1961 và kế hoạch 5 năm lần thứ nhất

theo phương châm: “nhiều, nhanh, tốt, rẻ” Về lãnh đạo phong trào thi đua, Nghị quyết đề ra

yêu cầu phải chú ý đầy đủ các mặt nhưng phải đặc biệt coi trọng sản xuất, hướng mọi hoạt động của phong trào thi đua yêu nước vào mục đích đẩy mạnh sản xuất phát triển theo phương hướng tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ giá thành và đảm bảo an toàn lao động Ngoài ra phải phát huy tinh thần thi đua tập thể, học tập giúp đỡ lẫn nhau, làm cho mọi đơn vị, cá nhân trở thành tiên tiến để cùng nhau tiến bộ không ngừng

Căn cứ vào những nội dung chủ yếu của Chỉ thị số 168 - CT/TW ngày

28-10-1959, nhằm thực hiện chủ trương phát động phong trào thi đua sâu rộng trong các cấp, các ngành, trong mọi tầng lớp nhân dân tiến tới cao trào thi đua yêu nước, Ban Bí thư đã

bổ sung một số vấn đề nhằm phát triển phong trào thi đua trong giai đoạn mới:

Đối với các ngành công nghiệp (sản xuất, xây dựng cơ bản, giao thông vận tải), để

đảm bảo hoàn thành toàn diện và vượt mức kế hoạch nhà nước, phong trào thi đua phải hướng vào các mục tiêu chính là đảm bảo không ngừng tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm và hạ giá thành Hết sức coi trọng việc học tập để nắm vững kỹ thuật, nghiệp vụ Đẩy mạnh cuộc vận động phát huy sáng kiến, hợp lý hóa sản xuất, cải tiến kỹ thuật, làm động lực đảm bảo hoàn thành và vượt mức kế hoạch Nhà nước Đẩy

mạnh phong trào “tiên tiến” thành một phong trào quần chúng sôi nổi, lấy phát huy sáng

kiến, hợp lý hóa sản xuất, cải tiến kỹ thuật làm trọng tâm Xây dựng các tổ hoặc đội lao

động xã hội chủ nghĩa, như Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ III (9-1960) đã đề ra

Đối với ngành nông nghiệp, cần phát huy thắng lợi của phong trào hợp tác hóa

nông nghiệp, phát động rộng rãi phong trào “bốn tốt” (đoàn kết tốt, sản xuất tốt, quản lý

tốt, chấp hành chính sách tốt), trong khắp các hợp tác xã sản xuất nông nghiệp nhằm tăng thu nhập cho xã viên, tăng tích lũy cho hợp tác xã và cho Nhà nước, thực hiện đúng chủ trương củng cố và phát triển hợp tác xã sản xuất nông nghiệp như Nghị quyết Bộ Chính trị đề ra

Đối với ngành giáo dục, thi đua cải tiến phương pháp giảng dạy, kết hợp lý thuyết

với thực hành, kết hợp học tập với lao động và các hoạt động xã hội, xây dựng nhà trường xã hội chủ nghĩa Thầy giáo thi đua tu dưỡng đạo đức, nâng cao trình độ giảng

Trang 20

dạy Học sinh thi đua học tập tiến bộ, rèn luyện thân thể, bồi dưỡng tinh thần và đạo đức

xã hội chủ nghĩa

Đối với quân đội, đẩy mạnh phong trào rèn luyện và cải tiến kỹ thuật, dưới hình

thức phong trào thi đua “ba nhất”.v.v…

Đề cập đến điều kiện để phong trào thi đua yêu nước đạt kết quả mong muốn, Nghị quyết chỉ rõ: Cần kiên quyết khắc phục những tư tưởng không đúng đang trở ngại cho phong trào thi đua như: thái độ thờ ơ lạnh nhạt, thái độ cầu toàn đối với phong trào quần chúng, coi thường hoặc ít quý trọng sáng kiến, kinh nghiệm của quần chúng; cần kiên quyết chống các biểu hiện tư tưởng không tin, không dám phát động quần chúng thi đua; đồng thời cũng đề phòng xu hướng nóng vội, đi đến mệnh lệnh thúc ép quần chúng cải tiến lung tung, gây ảnh hưởng không tốt đến việc quản lý kinh tế, quản lý kỹ thuật Phải hết sức coi trọng công tác giáo dục tư tưởng cho quần chúng, nhằm khắc phục những tư tưởng bảo thủ, tự ti, tự do chủ nghĩa, kém kỷ luật lao động, thiếu tinh thần trách nhiệm, lãng phí, tham ô [26, tr.170-179]

Sau khi ra đời, Nghị quyết của Ban Bí thư đã được các cấp, các ngành thảo luận và tích cực chuẩn bị kế hoạch cho phong trào thi đua nhằm mang lại sự chuyển biến mới với khí thế mạnh mẽ hơn, đảm bảo hoàn thành toàn diện và trước kế hoạch Nhà nước năm

1961 và kế hoạch 5 năm lần thứ nhất

Tiếp tục và phát huy hơn nữa tinh thần chỉ đạo phong trào thi đua yêu nước theo Nghị quyết của Ban Bí thư ra ngày 26 tháng 1 năm 1961, ngày 19 tháng 2 năm 1962 Bộ

Chính tri ra Nghị quyết Về việc thống nhất lãnh đạo và đẩy mạnh phong trào thi đua yêu

nước Nghị quyết này đã đánh giá phong trào thi đua yêu nước năm 1961, đặc biệt chỉ rõ

những thiếu sót và nhược điểm còn tồn tại như: quần chúng lao động thi đua sôi nổi, nhưng nói chung, cán bộ lãnh đạo chuyển biến tư tưởng chậm, chưa nhận thức đầy đủ ý nghĩa to lớn của thi đua đối với việc phát triển kinh tế, còn coi nhẹ công tác lãnh đạo và

tổ chức thi đua Sự phân công trách nhiệm đối với phong trào thi đua giữa cơ quan nhà nước, tổ chức công đoàn, thanh niên dưới sự lãnh đạo thống nhất của Đảng ở nhiều nơi còn lúng túng Sự phân công giữa Ban công tác nông thôn và Bộ Nông nghiệp chưa được

ấn định cụ thể Tổ chức công đoàn đã có nhiều tiến bộ mới trong công tác vận động tổ chức thi đua, song có nhiều nơi cán bộ chưa kết hợp chặt chẽ phong trào tiên tiến với

Trang 21

cuộc vận động hợp lý hóa sản xuất, cải tiến kỹ thuật Phong trào xung phong tình nguyện của thanh niên đã có tác dụng giáo dục động viên thanh niên giữ vững vai trò đầu tàu trong phong trào thi đua chung nhưng ở một số nơi có lúc tổ chức thanh niên và tổ chức công đoàn thiếu sự phối hợp chặt chẽ trong khi tổ chức thi đua

Từ nhận thức đầy đủ thực trạng phong trào thi đua yêu nước cũng như diễn biến mới của tình hình, Nghị quyết đề ra nhiệm vụ và phương châm chung của phong trào thi đua yêu nước như sau:

Tiếp tục thực hiện một bước công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh việc xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, nhằm phát triển nhanh chóng kinh tế

và văn hóa, cải thiện đời sống của nhân dân Toàn Đảng, toàn dân ta, phải phát huy cao

độ tinh thần tự lực cánh sinh, khai thác mọi khả năng tiềm tàng, quyết tâm hoàn thành vượt mức toàn bộ chỉ tiêu kế hoạch nhà nước năm 1962 Để đảm bảo hoàn thành thắng lợi kế hoạch Nhà nước, việc đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước có ý nghĩa và tác dụng rất to lớn

Trên cơ sở phân tích, đánh giá đặc điểm, tình hình của phong trào thi đua năm

1961, Nghị quyết Số 46- NQ/TW của Bộ Chính trị, ngày 19 tháng 2 năm 1962 đã xác

định nhiệm vụ chung của phong trào thi đua yêu nước Nghị quyết chỉ rõ: nhiệm vụ cách

mạng của nhân dân ta ở miền Bắc hiện nay là phấn đấu thực hiện công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, làm cơ sở cho cuộc đấu tranh thực hiện hòa bình thống nhất nước nhà Nhiệm vụ của phong trào thi đua yêu nước phải gắn liền với nhiệm vụ cách mạng của nhân dân ta Do đó, nhiệm vụ của phong trào thi đua

yêu nước phải là “không ngừng nâng cao năng suất lao động, đẩy mạnh sản xuất phát

triển, bảo đảm hoàn thành vượt mức toàn bộ chỉ tiêu kế hoạch nhà nước”, nhằm mục

đích “làm cho dân giàu, nước mạnh, đời sống của nhân dân ngày thêm ấm no, hạnh

phúc” [3, tr.156] Phương châm xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc nước ta là “tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc” Phương châm phát triển sản xuất vẫn là “nhiều, nhanh, tốt, rẻ”

Ở Nghị quyết này tính chất thi đua tập thể được đặc biệt chú trọng Trong khi đẩy mạnh thi đua, cần phải kết hợp chặt chẽ việc phát triển sản xuất với việc xây dựng con

người lao động xã hội chủ nghĩa Thi đua của ta phải là thi đua tập thể Đề cao thi đua

Trang 22

tập thể, phát huy mạnh mẽ trí tuệ tập thể, đồng thời cần động viên tính tích cực sáng tạo của cá nhân người lao động, kết hợp đúng đắn lợi ích tập thể với lợi ích cá nhân; kết hợp việc nâng cao giác ngộ xã hội chủ nghĩa với sự quan tâm đến lợi ích vật chất của quần chúng lao động được xem như một yêu cầu mà Nghị quyết đặt ra cho phong trào thi đua

yêu nước

Phương hướng và nội dung thi đua trong năm 1962 trên các lĩnh vực công nghiệp,

thủ công nghiệp vẫn là sự tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động “hợp lý hóa sản xuất, cải tiến

kỹ thuật” nhằm không ngừng đẩy mạnh sản xuất Nội dung cải tiến kỹ thuật được xác

định bao gồm: cải tiến kỹ thuật, áp dụng kỹ thuật tiên tiến, cải tiến và sáng chế công cụ, thiết bị, máy móc, thực hiện cơ giới hóa và cơ giới hóa sản xuất Đi đôi với cuộc vận động thi đua hợp lý hóa sản xuất, cải tiến kỹ thuật, cần phải tích cực vận động thi đua tiết kiệm và đẩy mạnh sản xuất nguyên liệu, vật liệu, tận dụng nguyên liệu, vật liệu vụn sản phẩm phụ

Trong công nghiệp tiếp tục đẩy mạnh phong trào thi đua với Duyên Hải Trong thủ

công nghiệp tiếp tục đẩy mạnh phong trào thi đua với hợp tác xã Thành Công Trong hợp tác xã nông nghiệp, tiếp tục đẩy mạnh phong trào thi đua với Đại Phong Trong nông trường quốc doanh, tiếp tục đẩy mạnh phong trào thi đua với Đông Hiếu Nội dung chủ yếu của phong trào thi đua trong nông nghiệp là “cải tiến quản lý, cải tiến kỹ thuật, đẩy

mạnh sản xuất” Cải tiến quản lý hợp tác xã bao gồm: cải tiến quản lý sản xuất, quản lý

lao động, quản lý tài vụ Cải tiến kỹ thuật bao gồm: cải tiến kỹ thuật trồng trọt, chăn nuôi, làm phân bón, cải tiến và sáng chế công cụ sản xuất Nói rộng ra, nội dung thi đua trong nông nghiệp là “tăng năng suất cây trồng, tăng vụ và khai hoang, phát triển nhiều nghề, cải tiến công tác quản lý, tăng cường công tác chính trị và tư tưởng” Nội dung thi đua

của ngành giáo dục là “giảng dạy tốt, học tập tốt” nhằm không ngừng nâng cao chất

lượng giảng dạy và học tập, thực hiện phương châm kết hợp học tập với lao động sản

xuất, kết hợp học tập với thực hành Nội dung của phong trào thi đua trong quân đội là:

“rèn luyện và cải tiến kỹ thuật, chấp hành điều lệ, điều lệnh, chế độ, tiêu chuẩn và rèn luyện tác phong; lao động sản xuất và thực hành tiết kiệm, phòng gian, giữ bí mật” nhằm

thực hiện cuộc vận động xây dựng quân đội tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên

chính quy và hiện đại

Trang 23

Nghị quyết còn đồng thời xác định nội dung thi đua cho các ngành khác như: thương nghiệp, văn hóa và nghệ thuật, ngành khoa học, các cơ quan xí nghiệp, hành chính… Nghị quyết cũng đặt ra yêu cầu là khi chỉ đạo phong trào phải căn cứ vào tình hình cụ thể của từng ngành, từng địa phương, từng đơn vị mà đề ra những yêu cầu cụ thể, thiết thực thích hợp với từng lúc, từng nơi

Về hình thức tổ chức thi đua, Nghị quyết yêu cầu: các ngành cần phải đẩy mạnh

phong trào thi đua tập thể, nhằm bồi dưỡng cho công nhân viên chức, xã viên, cán bộ ý thức thi đua tập thể, tinh thần hợp tác xã hội chủ nghĩa Trong ngành công nghiệp, thông qua cuộc vận động hợp lý hóa sản xuất, cải tiến kỹ thuật, và trên cơ sở phát triển tổ, đội lao động tiên tiến mà đẩy mạnh phong trào phấn đấu trở thành tổ đội lao động xã hội chủ

nghĩa Trong đó, hình thức tổ, đội lao động xã hội chủ nghĩa là sự phát triển của hình

thức tổ, đội lao động tiên tiến, với những tiêu chuẩn cao và toàn diện hơn Trong ngành thủ công nghiệp, cần đẩy mạnh phong trào thi đua đạt danh hiệu tổ, đội lao động tiên tiến, hợp tác xã tiên tiến, tiến tới xây dựng tổ, đội lao động xã hội chủ nghĩa Trong ngành nông nghiệp, thông qua cuộc vận động cải tiến quản lý, cải tiến kỹ thuật, phát triển sản xuất mà xây dựng đội sản xuất tiên tiến, hợp tác xã tiên tiến, tiến tới xây dựng các đội lao động xã hội chủ nghĩa

Về công tác lãnh đạo thi đua, theo Nghị quyết: công tác vận động, tổ chức thi đua

phải đặt dưới sự lãnh đạo thống nhất của Đảng từ Trung ương đến cơ sở Các cấp Đảng phải thường xuyên lãnh đạo phong trào thi đua Các đồng chí phụ trách các ngành, các cơ quan chính quyền, xí nghiệp, công trường, chủ nhiệm hợp tác xã…phải cùng Công đoàn, đoàn Thanh niên vận động tổ chức thi đua, tổng kết phong trào thi đua Tổ chức công đoàn phải thực hiện tốt chức năng của mình đối với phong trào thi đua

Để chuẩn bị cho Đại hội liên hoan anh hùng chiến sĩ thi đua toàn quốc lần thứ III, Chỉ thị số 39- CT/TW, ngày 17 tháng 3 năm 1962 của Ban Bí thư đã xác định rõ mục đích, yêu cầu và nội dung tuyên truyền giáo dục về Đại hội, đồng thời chỉ rõ các bước tiến hành ở từng thời gian: trước, trong và sau Đại hội này Với việc xác định 4 nội dung và các bước tiến hành công tác tuyên truyền, giáo dục về Đại hội liên hoan, đóng góp của Chỉ thị này không chỉ góp phần vào thành công của Đại hội, mà quan trọng hơn nó còn tiếp tục phản ánh nhận thức nhất quán của Đảng ta trong lãnh đạo phong trào thi đua yêu nước

Trang 24

Đến năm 1964, trước nhiều sự kiện và ngày kỷ niệm lớn, đặc biệt là trước yêu cầu cần tập trung lực lượng giải quyết những vấn đề cấp bách đang đặt ra, Ban Bí thư đã ra Chỉ thị về

việc phát động cao trào thi đua “Mỗi người làm việc bằng hai, ra sức xây dựng và bảo vệ miền

Bắc, tích cực ủng hộ cách mạng giải phóng miền Nam” Nội dung của Chỉ thị tập trung trên 4

vấn đề cơ bản: mục đích; yêu cầu, nội dung của đợt phát động; biện pháp tiến hành; và công

tác lãnh đạo

Chỉ thị nêu rõ mục đích của đợt phát động này là: làm cho toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta nhận thức một cách có hệ thống và nhất trí sâu sắc hơn về đường lối cách mạng của Đảng, từ đó mà nâng cao giác ngộ xã hội chủ nghĩa và lòng yêu nước, bồi dưỡng chí khí phấn đấu, tinh thần triệt để cách mạng, truyền thống quyết chiến, quyết thắng, không sợ khó khăn gian khổ, phát huy ý thức làm chủ tập thể, tự lực cánh sinh, dám nghĩ, dám làm, dũng cảm vươn lên, làm tròn năm nhiệm vụ mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra:

Một là, toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta đã đoàn kết cần đoàn kết hơn nữa mọi

người hãy nêu cao chí khí phấn đấu, tinh thần cách mạng, không sợ gian khổ khó khăn, phát huy ý thức làm chủ tập thể, dám nghĩ, dám làm, hăng hái vươn lên làm tròn năm nhiệm vụ, hoàn thành thắng lợi kế hoạch nhà nước năm nay và kế hoạch năm năm lần thứ nhất

Hai là, phải làm tốt cuộc vận động “Cải tiến quản lý, cải tiến kỹ thuật, đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp”, cuộc vận động “ba xây, ba chống” trong công nghiệp và các

ngành kinh tế quốc dân Phải đẩy mạnh phong trào đồng bào miền xuôi lên tham gia phát triển kinh tế và văn hóa miền núi Phải ra sức thi đua yêu nước, phát triển tốt các tổ đội lao động xã hội chủ nghĩa và các hợp tác xã nông nghiệp tiên tiến

Ba là, tăng cường không ngừng chính quyền nhân dân Nghiêm chỉnh thực hiện

dân chủ với nhân dân, chuyên chính với kẻ địch Triệt để chấp hành mọi chế độ và pháp luật của nhà nước Cần tiến hành tốt cuộc bầu cử đại biểu quốc hội khóa III sắp tới Phải củng cố lực lượng quốc phòng, giữ gìn trật tự trị an, luôn luôn cảnh giác, sẵn sàng đạp tan mọi hoạt động khiêu khích và phá hoại của đế quốc Mỹ và bọn tay sai của chúng

Bốn là, hết lòng ủng hộ cuộc đấu tranh yêu nước của đồng bào miền Nam Mỗi

người phải hăng hái lao động và công tác, góp phần thiết thực vào công cuộc xây dựng

Trang 25

chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và sự nghiệp đấu tranh thực hiện hòa bình thống nhất nước nhà

Năm là, phải nêu cao tinh thần quốc tế vô sản, giữ gìn và phát triển tình hữu nghị

với các nước xã hội chủ nghĩa anh em; hết lòng ủng hộ phong trào giải phóng dân tộc; đoàn kết với giai cấp công nhân và nhân dân toàn thế giới trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc do đế quốc Mỹ cầm đầu, đấu tranh cho hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội

Tìm hiểu nội dung sự lãnh đạo của Đảng đối với phong trào thi đua yêu nước ở miền Bắc từ năm 1961 đến 1965 qua các Chỉ thị, Nghị quyết, chúng ta nhận thấy, sự ra đời của mỗi văn kiện đáp ứng yêu cầu phát triển của phong trào thi đua yêu nước ở từng thời điểm phát triển khác nhau Dấu ấn của từng văn kiện là khác biệt Song nhìn chung, quan điểm chỉ đạo của Đảng được phản ánh xuyên suốt các văn kiện là nhất quán, có sự

kế thừa, phát triển, phù hợp với nhiệm vụ chính trị của cách mạng nói chung và của phong trào thi đua yêu nước nói riêng Đóng góp của các văn kiện này cho sự tồn tại, phát triển cũng như diện mạo của phong trào thi đua yêu nước ở miền Bắc trong thời gian

từ 1961-1965 là một thực tế không thể phủ nhận

1.2 ĐẢNG TỔ CHỨC CHỈ ĐẠO PHONG TRÀO THI ĐUA YÊU NƯỚC

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nhắc nhở “Trong công cuộc xây dựng chủ

nghĩa xã hội ở miền Bắc cũng như cuộc chiến tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, toàn quân, toàn dân ta cùng nhau đẩy mạnh thi đua yêu nước, thì khó khăn gì cũng khắc phục được, nhiệm vụ gì cũng hoàn thành tốt” [42, tr.271]

Sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III (9-1960), Đảng đặt trọng tâm vào lãnh đạo xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc Ngày 26-1-1961, Nghị quyết Số 07 – NQ/TW của Ban Bí thư nêu rõ:

Bắt đầu từ năm 1961 phải động viên mọi lực lượng tinh thần và vật chất của toàn dân, đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước phát triển sâu rộng trong mọi ngành sản xuất và công tác, trong mọi tầng lớp nhân dân, nhằm phát huy mọi khả năng và thuận lợi, khắc phục mọi khó khăn để không ngừng tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ giá thành, quyết tâm thực hiện

Trang 26

vượt mức và toàn diện kế hoạch nhà nước năm 1961 và kế hoạch 5 năm lần thứ

nhất theo phương châm: “nhiều, nhanh, tốt, rẻ” [3, tr.149]

Thực hiện chủ trương này, từ đầu năm 1961, phong trào thi đua yêu nước của quân dân miền Bắc đã có nhiều chuyển biến mới và đã trở thành phong trào có tính chất quần chúng rộng rãi, phát triển mạnh mẽ trong các xí nghiệp, công trường, nông trường, hợp tác xã nông nghiệp, thủ công nghiệp, trong quân đội, trong các trường học, bệnh viện

cơ quan hành chính, sự nghiệp Các phong trào thi đua sôi nổi được dấy lên trên toàn miền Bắc đã lôi cuốn mọi tầng lớp nhân dân hăng hái lao động, học tập, xây dựng và bảo vệ Tổ

quốc “Phong trào Duyên Hải, Đại Phong, Ba Nhất, Thành Công, Bắc Lý như những mũi dùi

của các đội quân công, nông, binh đang tiến công ồ ạt vào nghèo nàn và lạc hậu, quyết giành lấy thắng lợi hoàn toàn và vĩnh viễn cho chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, làm cơ sở cho cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà” [12, tr 61] Thực tiễn phong phú đó đã chứng tỏ phong trào thi

đua yêu nước là đòn xeo thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ toàn bộ hoạt động kinh tế, văn hóa của nước ta, đảm bảo thực hiện thắng lợi kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961-1965)

Có thể nói, sự phát triển của phong trào thi đua yêu nước trong phạm vi từng ngành dù mang màu sắc riêng, mục tiêu riêng, nhưng tất cả đều nhằm vào việc thực hiện mục tiêu chung của cách mạng cả nước là giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc

1.2.1 Phong trào thi đua trong nông nghiệp

Được xác định là một trong hai chân của nền kinh tế, sự phát triển của nông nghiệp đảm bảo việc cung cấp lương thực cho nhân dân, cung cấp nguyên liệu cho nhà máy, cung cấp nông sản để xuất khẩu đổi lấy máy móc Trong một nền kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp như nước ta thì nông nghiệp thực sự đóng vai trò đặc biệt quan

trọng “Nông suy thì bách nghệ bại”, từ xưa, nhân dân ta đã nhận thức rõ điều đó Trong

điều kiện đất nước có chiến tranh, nông nghiệp càng có tầm quan trọng đặc biệt Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi có được từ điều kiện tự nhiên và con người, kinh tế nông nghiệp nước ta gặp không ít khó khăn, trở ngại Người nông dân Bắc Bộ vốn cần cù, chịu thương, chịu khó Song, sau ngày hòa bình lập lại, điều kiện vật chất - kỹ thuật phục vụ cho sản xuất nông nghiệp hết sức khó khăn Trong bối cảnh như vậy, đòi hỏi không chỉ ở các cấp lãnh đạo sự nhận thức đúng, quyết tâm cao, chủ trương và sự chỉ đạo thiết thực

mà còn là sự trưởng thành của người nông dân về tinh thần ham học hỏi, quyết tâm dám

Trang 27

Lời nhắn nhủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong Thư gửi nông dân thi đua canh tác

từ năm 1951 như vẫn còn thúc giục Đầu năm 1961, một loạt công cụ cày bừa, máy tuốt lúa, xe kéo tay, cày cải tiến 51, cào cỏ Nghệ An, quạt hòm, xe quệt đã được các hợp tác

xã nông nghiệp đưa vào sử dụng Tập quán không sử dụng phân, trồng chay ở một số tỉnh miền núi Việt Bắc, Tây Bắc được thay đổi Đồng bào các dân tộc đã tận dụng nguồn phân chuồng, phân xanh, phân bắc bón ruộng, đưa năng suất lên cao hơn hẳn các năm trước, xóa dần tập quán du canh, du cư, canh tác lạc hậu Đa số hệ thống thủy lợi nội đồng đã được cải tạo hoặc làm mới Các trạm bơm tưới tiêu hợp tác xã hoặc liên hợp tác xã tiếp tục được hoàn thiện Một số tỉnh ở Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ, Tây Bắc thuộc hệ thống thủy nông Bắc - Hưng - Hải, hệ thống thủy nông đập Bái Thượng (Thanh Hóa), hệ thống thủy nông Nậm Rốm - Điện Biên đã chủ động được tưới tiêu, hạn chế được một phần cảnh

“chiêm khê, mùa thối” Để tiếp tục xây dựng hợp tác xã cấp thấp và vận động xây dựng

hợp tác xã cấp cao, các cấp Đảng, chính quyền từ Trung ương đến địa phương đã tổ chức

học tập chủ trương, đường lối của Đảng trong nông nghiệp, nông thôn Nội dung: cải tạo

quan hệ sản xuất, cải tiến kỹ thuật, giáo dục tư tưởng và ba nguyên tắc: tự nguyện, cùng

có lợi và quản lý dân chủ thực sự được quán triệt

Phát huy thắng lợi của phong trào hợp tác hóa nông nghiệp, đặc biệt hưởng ứng

phong trào “bốn tốt” (đoàn kết tốt, sản xuất tốt, quản lý tốt, chấp hành chính sách tốt),

Trang 28

những người nông dân từng một lòng theo Đảng làm cách mạng dân tộc dân chủ, nay không ngần ngại, họ tự nguyện chung sức, chung lòng xây dựng nông thôn mới Được sự giúp đỡ của Đảng và Nhà nước, nông dân ở các tỉnh Thái Bình, Hưng Yên, Nam Định, Ninh Bình, Hà Tây, Nghệ An đã dấy lên phong trào làm ruộng cao sản 7 tấn, 10 tấn trên một hécta trên/ năm Ba huyện Đông Quan, Quỳnh Côi, Tiền Hải và 86 xã trong toàn tỉnh Thái Bình đạt năng suất, chỉ tiêu cấp trên giao [5, tr.67]

Tháng 7 năm 1961, giữa lúc phong trào thi đua yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, xây dựng hợp tác xã nông nghiệp phát triển mạnh mẽ khắp miền Bắc, Hội nghị Ban Chấp

hành Trung ương lần thứ V (khóa III) bàn về phương hướng và nhiệm vụ phát triển nông

nghiệp trong kế hoạch 5 năm lần thứ nhất đã thẳng thắn đánh giá những hạn chế trong

quá trình xây dựng cơ cấu nông nghiệp Hội nghị xác định nhiệm vụ và phương hướng chung phát triển nông nghiệp trong thời gian 1961-1965 là:

Tích cực củng cố Hợp tác xã nông nghiệp và nông trường quốc doanh làm cơ sở vững chắc để phát triển nông nghiệp Kết hợp hoàn thiện quan hệ sản xuất mới với việc phát triển sản xuất, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho nông nghiệp; kết hợp chặt chẽ việc phát triển hợp tác hóa với thủy lợi hóa và cải tiến công cụ, cải tiến kỹ thuật, tiến tới một bước cơ giới hóa, nhằm hướng mở rộng diện tích bằng tăng năng năng suất, theo phương châm toàn diện, mạnh mẽ, vững chắc, giải quyết tốt vấn đề lương thực là trọng tâm, đồng thời, hết sức coi trọng cây công nghiệp, đẩy mạnh chăn nuôi, mở mang thêm nghề rừng, nghề cá, nghề phụ; sử dụng tốt lao động tập thể là chính, đồng thời tận dụng sức lao động gia đình của xã viên Phát huy thuận lợi của của điều kiện nhiệt đới, kết hợp chặt chẽ việc phát triển nông nghiệp ở miền xuôi và miền núi, cải thiện đời sống nông dân, phấn đấu sau năm năm đưa mức sống của xã viên lên ngang với mức sống của trung nông lớp trên, thay đổi bộ mặt nông thôn, làm cho nông nghiệp trở thành cơ sở vững chắc

để phát triển công nghiệp [6, tr 68 - 69]

Đường lối phát triển nông nghiệp, nông thôn mới của Đảng, Nhà nước đã được giai cấp nông dân, tập thể các nông trường, trạm, trại sản xuất quốc doanh và quân đội sôi nổi học tập thực hiện Tính đến tháng 10 năm 1961, trên 9000 hợp tác xã (trong tổng số 41.400 hợp tác xã cấp thấp) đã lên cấp cao quy mô liên thôn Trong những vụ đầu, năm đầu, hầu hết các hợp tác xã bậc cao ở các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ đã phát

Trang 29

huy được sức mạnh vật chất, tinh thần, tập trung cải tạo các hệ thống thủy lợi nội đồng;

mở mang bờ vùng bờ thửa, chủ động được tưới tiêu, củng cố đê điều, phòng chống lũ lụt Hơn một nửa số hợp tác xã bậc cao trong năm 1962 đã hoàn thành vượt mức chỉ tiêu sản lượng, mức thu nhập của các hộ xã viên đủ ăn và tương đối ổn định Hơn 40 nông trường quốc doanh và quân đội phân bố trên những địa bàn trọng yếu biên giới, ven biển như các tỉnh Lai Châu, Sơn La, Nam Định, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Vĩnh Linh bước đầu kết hợp chặt chẽ nhiệm vụ xây dựng kinh tế và củng cố quốc phòng, góp phần xây dựng hậu phương ngày càng vững mạnh [4, tr 69- 70]

Cuộc vận động xây dựng hợp tác xã tốt do Trung ương Đảng và Chính phủ phát

động vào cuối năm 1961 đã được các tỉnh, thành trên toàn miền Bắc hưởng ứng Hàng ngàn hợp tác xã hăng hái đăng ký trở thành hợp tác xã tốt Các hợp tác xã Thái Bạ (Sơn Tây - Hà Tây), Yên Trường (Thanh Hóa), Thống Nhất (Hà Đông), Đức Cảnh (Thái Bình), Tống Vân Trân (Hải Phòng)…đã trở thành những điển hình của cuộc vận động

xây dựng hợp tác xã tốt Đặc biệt Hợp tác xã Đại Phong (Quảng Bình) đã trở thành ngọn

cờ đầu trong phong trào xây dựng hợp tác xã tốt toàn miền Bắc

Hợp tác xã Đại Phong thuộc xã Phong Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình, thành lập năm 1960 Do biết tổ chức làm ăn, có tinh thần tương thân tương ái, cần kiệm xây dựng hợp tác xã, đến cuối năm 1960, Đại Phong đã tiến lên hợp tác xã bậc cao với quy mô liên thôn Nắm vững phương châm lấy sản xuất nông nghiệp làm chính, hợp tác

xã Đại Phong tích cực cải tiến kỹ thuật, công cụ, xem kỹ thuật là khâu then chốt quyết định để tăng năng suất lao động

Năm 1961, hợp tác xã Đại Phong đã mở rộng quy mô hợp tác xã Về thủy lợi, bình quân đầu người đạt 25m3, phân bón đạt 12 tấn/ha, so với năm 1960 tăng 5 tấn; công cụ cải tiến tăng, chăn nuôi đạt và vượt chỉ tiêu Hợp tác xã đã phát động 28 đội sản xuất, với

800 hộ xã viên bỏ ra hàng ngàn ngày công nạo vét 6 km đường sông chính và hàng chục

km đường mương phụ, sữa chữa và đóng mới hơn 100 thuyền vận chuyển, 60 xe bò, xe cút kít, hàng trăm cày bừa cải tiến các loại Đặc biệt, đoàn thanh niên, lực lượng xung kích của hợp tác xã, còn tranh thủ nhặt sắt, gỗ đóng được 11 xe bò thuyền, 6 toa xe goòng; bắc một số đoạn đường ray từ bến bãi về kho và các sân phơi Bằng khai hoang, phục hóa, hợp tác xã liên tục tăng diện tích gieo trồng (2 sào 10 thước lên 7 sào 9 thước/

Trang 30

người); liên tục tăng ngày công lao động (100 ngày công/ năm lên 240 ngày công/ năm) Ngoài ra hợp tác xã còn kinh doanh 19 ngành nghề khác nhau, khuyến kích các hộ xã viên phát triển nghề phụ Sau hơn 2 năm (tính đến tháng 1 năm 1962) thi đua lao động sản xuất xây dựng hợp tác xã tốt, Đại Phong đã tiến những bước tiến dài, khai hoang phục hóa được gần 300 mẫu, đào đắp được 4 vạn mét khối thủy lợi và hàng chục công trình phúc lợi công cộng khác Đời sống của các hộ xã viên không ngừng được cải thiện, từ thu nhập 200 kg lương thực/ năm lên 800 kg lương thực người/ năm) [5, tr.71] Nhìn chung, trên các mặt công tác văn hóa - xã hội hợp tác xã đã đạt nhiều thành tích xuất sắc Quá trình đưa bà con nông dân đi vào con đường làm ăn tập thể từng bước được thực thi Ba nguyên

tắc xây dựng hợp tác xã là: tự nguyện, cùng có lợi, quản lý dân chủ được quán triệt Hợp tác

xã Đại Phong còn là điển hình của sự vận dụng sáng tạo nguyên tắc phân phối xã hội chủ nghĩa (làm theo năng lực, hưởng theo lao động), tránh được chủ nghĩa bình quân, đồng thời chú trọng đoàn kết tương trợ và các chính sách xã hội khác

Thành tích của hợp tác xã Đại Phong tỏ rõ sức mạnh to lớn của nông dân tập thể nước ta, tỏ rõ tính hơn hẳn của con đường làm ăn tập thể so với cá thể Nó cũng đồng thời cho thấy rằng dựa vào quan hệ sản xuất mới, nông dân ta có đủ khả năng vượt mọi khó khăn, thực hiện thắng lợi Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa III), tiến lên phát triển nông nghiệp toàn diện và mạnh mẽ, làm cơ sở vững chắc để phát triển công nghiệp Trên thực tế, phong trào Đại Phong đã thổi một luồng gió mới vào nông thôn nước ta, động viên đông đảo nông dân nâng cao nhiệt tình cách mạng,

hăng hái thi đua cải tiến quản lý (quản lý sản xuất, quản lý lao động, quản lý tài vụ), cải

tiến kỹ thuật (cải tiến kỹ thuật trồng trọt, chăn nuôi, làm phân bón, cải tiến và sáng chế công

cụ sản xuất), củng cố và phát triển hợp tác xã, đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp Cũng chính

vì thế mà phong trào thi đua với Đại Phong trở thành phong trào sôi nổi trên mặt trận sản xuất nông nghiệp

Sau khi hợp tác xã Đại Phong ra đời, hàng ngàn hợp tác xã nông nghiệp, nông trường, trạm trại của 24 tỉnh, thành đã phát động phong trào thi đua với Đại Phong Trong năm 1961 đã có hơn 1 vạn hợp tác xã nông nghiệp khắp nơi trên miền Bắc tham

gia phong trào thi đua “học tập, tiến kịp và vượt Đại Phong”[5, tr 72]

Trang 31

Hiện thực hóa năm mục tiêu của cuộc vận động thi đua với Đại Phong là: cải tiến

kỹ thuật, năng suất lao động, tăng vụ và vỡ hoang, phát triển nhiều ngành - nghề, cải tiến công tác quản lý, tăng cường công tác chính trị - tư tưởng, các khẩu hiệu: Phá xiềng ba sào, tích cực cải tiến kỹ thuật, thực hiện trên 200 ngày công trong năm, quyết tâm tiến kịp và vượt hợp tác xã Đại Phong…đã trở thành hành động ở khắp nơi

Năm 1961, thành tích nổi bật của nông nghiệp là hàng triệu nông dân xã viên phấn

đấu “phá xiềng ba sào” bằng cách tăng vụ, khai hoang, mở rộng diện tích gieo trồng

Diện tích khai hoang lên tới 87.000 héc ta Diện tích tăng vụ đạt hơn 30.000 héc ta, vụ

thu đang trở thành một vụ chính Thực hiện khẩu hiệu “bốn mùa trồng trọt, quanh năm

thu hoạch”, nhiều hợp tác xã đạt chỉ số sử dụng ruộng đất khá cao, như hợp tác xã Ninh

Tập (Hưng Yên) đạt 2,9 vụ, hợp tác xã Thống Nhất (Lạng Sơn) đạt 2,2 vụ [49, tr.14]

Phong trào thi đua làm thủy lợi cũng như phong trào làm phân bón đều phát triển

mạnh Trong năm 1961, nông dân đã đào và đắp được 161 triệu thước khối đất, đưa diện tích tưới nước tăng 6,7% so với năm 1960 Tỉnh Hưng Yên dẫn đầu phong trào làm thủy lợi, bình quân mỗi người đào và đắp 24 thước khối Tỉnh Vĩnh Phúc năm 1961 đã có 5.633 kiện tướng làm phân Hàng nghìn tổ sản xuất chuyên chế biến phân đã được thành lập Hợp tác xã Tân Khang dẫn đầu phong trào làm phân bón, đã bón 42 tạ phân các loại cho một héc ta [49, tr.14] Cơ sở gây bèo hoa dâu được phát triển thêm ở các tỉnh miền đồng bằng

Phong trào thi đua cải tiến nông cụ đặc biệt thu hút sự quan tâm của các hợp tác xã nông

nghiệp Một số tỉnh đã căn bản thanh toán cày chìa vôi Nhiều hợp tác xã đã thay thế hết các nông cụ cũ bằng nông cụ cải tiến và nửa cơ giới Hợp tác xã Đồng Tâm (Phú Thọ) đã dùng 100% cày bừa cải tiến và dùng toàn bộ xe bò, xe cút kít trong việc vận chuyển Một số hợp tác

xã đã thí nghiệm dùng cày 2 bánh, 2 lưỡi [49, tr.15] Không những giảm thiểu lao động nặng

nhọc, phong trào thi đua cải tiến nông cụ còn góp phần tích cực vào quá trình tăng năng suất

Phong trào chăn nuôi được đẩy mạnh, tổng số gia súc cuối năm 1961 lên tới 3.700.000 con Diện tích nuôi cá lên tới 96.700 héc ta, tăng 61% so với năm 1960 Ở hợp tác xã Hòa- Loan (Vĩnh phúc) mỗi hộ nuôi 4 con lợn, trong năm 1961, đã bán cho nhà nước 50 tấn thịt [ 49, tr 15]

Trang 32

Cuộc vận động “cải tiến quản lý, cải tiến kỹ thuật, phát triển sản xuất hướng tới

xây dựng đội sản xuất tiên tiến, hợp tác xã tiên tiến” [3, tr.158], tiến tới xây dựng các đội

lao động xã hội chủ nghĩa trở thành mục tiêu hướng đến của các hợp tác xã nông nghiệp

Phong trào thi đua tập thể phát triển trên cơ sở quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa đã được

xây dựng ở miền Bắc nước ta và trên cơ sở của lực lượng sản xuất mới, có sức sống rất mạnh mẽ Những nơi tổ chức được phong trào thi đua tập thể giữa các tổ, đội, giữa các hợp tác xã, đều gây được khí thế thi đua sôi nổi, thực hiện được nhiều biện pháp kỹ thuật,

đạt được năng suất cao Chính qua phong trào thi đua tập thể, quan hệ sản xuất mới trong

nông thôn có điều kiện được củng cố và phát triển Trong năm 1961, quy mô của hợp tác

xã nông nghiệp được mở rộng hơn trước Ở các tỉnh vùng đồng bằng và trung du, có 68,5% số thôn đã có hợp tác xã toàn thôn, bình quân một hợp tác xã có 140 hộ

Cuộc vận động thi đua “cải tiến quản lý, cải tiến kỹ thuật, đẩy mạnh sản xuất” với nội dung cụ thể: “tăng năng suất ruộng đất, tăng vụ và khai hoang, phát triển nhiều

ngành nghề, cải tiến công tác quản lý, tăng cường công tác chính trị và tưởng” [3, tr.157]

trên thực tế đã được triển khai có hiệu quả Nhiều hợp tác xã nông nghiệp tích cực áp dụng các biện pháp kỹ thuật liên hoàn như đủ nước, nhiều phân, giống tốt, cày sâu, cấy dày hợp lý, đúng thời vụ, phòng trừ sâu bệnh, cải tiến công cụ lao động, đã đạt năng suất khá cao Hợp tác xã Việt Trung (ngoại thành Hà Nội), hợp tác xã Hòa Loan (Vĩnh Phúc) đạt năng suất 31 tạ một hécta Đồng chí Phạm Duy Chúc ở hợp tác xã La Thiện (Phú Thọ) nghiên cứu, thí nghiệm việc cải tạo đất, áp dụng các biện pháp kỹ thuật liên hoàn,

Trang 33

đã đưa năng suất mỗi sào từ 30 kilô lên 115 kilô Trong phong trào thi đua, cán bộ khoa học kỹ thuật ngành nông nghiệp đã có những sáng kiến có giá trị Ngành nông nghiệp nghiên cứu gây tạo giống lúa nông nghiệp 1, năng suất cao hơn lúa nam-ninh từ 10% đến 40%; gây tạo giống lúa 813, năng suất cao hơn giống lúa mùa từ 10% đến 60%; lai tạo 3 giống rau muống, năng suất cao hơn gấp 2 lần giống rau muống thường; đã chọn lọc được 3 giống khoai lang, năng suất cao hơn giống khoai thường từ 60% đến 99%; nghiên cứu và phổ biến kỹ thuật làm phân ruộng, trồng lúa ngắn ngày, gieo thẳng lúa nước, kỹ thuật tăng

vụ, xen canh, gối vụ, v.v…[49, tr.17]

Phong trào học tập và thi đua với Đại Phong ngày càng được triển khai rộng khắp

Tính đến tháng 10 năm 1961, toàn miền Bắc đã lựa chọn được 45 hợp tác xã “Đại Phong” Một số huyện ở các tỉnh ở Phú Thọ, Hưng Yên, Thái Nguyên, Nam Định lựa

chọn được từ hai đến ba “hợp tác xã Đại Phong” của địa phương mình Trong năm 1961,

mặc dù hạn hán và nạn sâu bệnh, nông dân miền Bắc đã thu hoạch được 5 triệu 53 vạn tấn lương thực, tăng 18,2% so với năm 1960 Nhiều loại cây công nghiệp được trồng nhiều hơn trước, như: bông hạt tăng 35%, lạc tăng 27,8%, mía tăng 15,1%, thầu dầu tăng 36,8%, thuốc lá tăng 94,6% Nhờ phong trào thi đua phát triển mạnh, năng suất tăng lên, đời sống của nhân dân đã từng bước được cải thiện Trong nông thôn, số ngày công của

xã viên trên một năm đã tăng lên từ 130 ngày đến 150 ngày (năm 1960 có 103 ngày) Một

số hợp tác xã đã đạt thu nhập cả năm khá cao, bình quân mỗi đầu người từ 1.200 đến 1.400 kg thóc [49, tr.23]

Kết quả đưa lại từ quá trình thực hiện phong trào thi đua yêu nước trên mặt trận nông nghiệp thực sự là kết quả của sự đồng tâm, nhất trí, của chính ý thức vươn lên mà người nông dân là chủ thể Nhất quán thực hiện tinh thần chỉ đạo chung của Đảng mà cụ thể là tinh thần chỉ đạo của Đảng và các cấp về thi đua yêu nước, giai cấp nông dân miền Bắc đã hăng hái thi đua tăng năng suất, khai hoang, tăng vụ, cải tiến quản lý, cải tiến kỹ thuật, nhờ vậy mà nông nghiệp đã có những chuyển biến tốt: Tổng sản lượng lương thực năm 1961 đạt 5,8 triệu tấn so với năm 1960, khai hoang thêm 30 vạn héc ta Đến năm 1965 đã có 88,8% số hộ nông dân lao động vào hợp tác xã, trong đó 71,7% số hộ đã lên hợp tác xã bậc cao Năm 1960 có

4300 hợp tác xã thì đến năm 1965 có 18.600 hợp tác xã bậc cao Diện tích, năng suất, tổng sản lượng nông nghiệp tăng bình quân là 4,1%, trồng trọt, chăn nuôi đều phát triển khá Năm

Trang 34

1965 có 9 huyện và 125 hợp tác xã đạt năng suất bình quân cả năm tăng từ 5 tấn thóc/ 1 hécta trở lên Cơ sở vật chất kỹ thuật ở các hợp tác xã tăng nhanh Năm 1965 đã xây được 3.139 điểm cơ khí nhỏ, 7 trạm kéo và 32 đội máy kéo, 33 công trình thủy lợi lớn, 1500 công trình loại vừa và nhỏ, đảm bảo tưới tiêu cho 600.000 ha diện tích trồng trọt Nông nghiệp miền Bắc từ một nền nông nghiệp độc canh, lạc hậu, tự cấp, tự túc, dần dần trở thành nền nông nghiệp tương đối toàn diện, có tỉ suất hàng hóa ngày càng cao Nền nông nghiệp hợp tác hóa và giai cấp nông dân tập thể đã được hình thành và phát triển [63, tr.82] Thành tựu đạt được dù mới chỉ là khởi đầu nhưng đây chính là cơ sở quan trọng cho giai đoạn phát triển tiếp theo

1.2.2 Phong trào thi đua trong công nghiệp

Xuất phát từ nhận thức ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý trên

cơ sở phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ, Nhà nước đã đầu tư nhiều vốn và công

sức để phát triển công nghiệp Nhằm thực hiện nhiệm vụ: “trang bị cho lao động cả

nước, trước hết là lao động nông nghiệp và công nghiệp nhẹ có đủ các loại công cụ với trình độ kỹ thuật khác nhau, từ thô sơ đến hiện đại, tùy theo từng ngành và từng loại công việc, để gấp rút đưa năng suất lao động xã hội lên ít nhất gấp đôi, gấp ba năng suất lao động hiện nay” [18, tr.98], Nhà nước đã đầu tư xây dựng và mở rộng hàng loạt các

nhà máy điện, cơ khí, hóa chất…Ngành cơ khí trong thời gian này đã đi sâu nghiên cứu chế tạo các loại công cụ cày, bừa, cấy, gặt, các loại máy xúc, sàng liên hợp, khoan tiện, cắt xén…Nhiều loại máy móc của ngành công nghiệp nặng đã được ứng dụng, đem lại hiệu quả kinh tế cao, góp phần quan trọng vào việc hoàn thành các chỉ tiêu của kế hoạch Nhà nước

Sự phát triển của công nghiệp nặng có tác dụng kích thích công nghiệp nhẹ và công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng phát triển Việc khôi phục, mở rộng nhà máy Diêm Thống Nhất, thuốc lá Thăng Long, gỗ Cầu Đuống, cá hộp Hải Phòng, Nhà máy Dệt Nam Định cũng như việc khởi công xây dựng Nhà máy đường Vạn Điểm, Nhà máy giấy Việt Trì, Nhà máy dệt 8-3, Nhà máy nhựa Tiền Phong…đã góp phần đáp ứng được một phần những nhu cầu thiết yếu của nhân dân

Cuộc vận động “hợp lý hóa sản xuất, cải tiến kỹ thuật, nâng cao chất lượng, hạ

giá thành sản phẩm” đã được 12,5 vạn công nhân, viên chức trên toàn miền Bắc tích cực

tham gia Không khí sôi nổi, khẩn trương của nhiều phong trào thi đua yêu nước đã

Trang 35

mang lại cho miền Bắc xã hội chủ nghĩa nguồn sinh khí mới Nhà máy cơ khí Hà Nội đã

phát động phong trào “Đuổi và vượt năng suất cao”, phấn đấu trở thành con chim đầu đàn của ngành công nghiệp thủ đô Ngành vận tải quốc doanh đường thủy thi đua “Kéo

và vượt trọng lượng” Khu gang thép Thái Nguyên xây dựng mẫu hình “Đội kỵ binh vượt chỉ tiêu năng suất, chất lượng”,v.v Trong rừng hoa thi đua nở rộ muôn sắc trên mặt trận

công nghiệp, phong trào thi đua lao động sản xuất của Nhà máy cơ khí Duyên Hải (Hải Phòng) nổi lên bật nhất

Từ cuối năm 1960 về trước, Nhà máy cơ khí Duyên Hải với số lượng máy móc cũ

kỹ và chỉ tiêu sản xuất từ trên đưa xuống, công nhân chỉ làm việc cầm chừng, cốt sao chỉ hoàn thành kế hoạch trong năm, còn năng suất, chất lượng, hiệu quả là điều mà ít ai nghĩ đến Sau khi học tập quán triệt đường lối phát triển công nghiệp do Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III đề ra, tháng 10 năm 1960, đảng ủy Nhà máy đã phát động phong trào

“hiến kế” cải tiến kỹ thuật Qua hai tháng vận động, toàn nhà máy có 70 sáng kiến rút

ngắn công đoạn chế tạo bừa, xúc, sàng liên hợp, không khí thi đua trong nhà máy sôi động hẳn lên

Đầu năm 1961, để hoàn thành chỉ tiêu kế hoạch được Nhà nước giao, lãnh đạo nhà

máy đã mở hội thi đua “Thao diễn kỹ thuật mùa xuân” kêu gọi đảng viên, đoàn viên, công đoàn… “người người thao diễn, ngành ngành thao diễn, đứng máy nào thao diễn

máy ấy, dùng dụng cụ nào thao diễn dụng cụ ấy, sản xuất mặt hàng nào thao diễn mặt hàng ấy” nhằm phát huy quyền làm chủ, sáng tạo trong lao động, cải tiến rút ngắn các

công đoạn thao tác, hợp lý hóa sản xuất, đưa năng suất, chất lượng lên cao

Sau hai đợt thao diễn kỹ thuật, công nhân và cán bộ nhà máy cơ khí Duyên Hải đã đạt nhiều kết quả tốt: phát huy 250 sáng kiến; phân xưởng đúc có sáng kiến nấu gang một tuần được 6 lần tăng gấp 3 lần so với trước; vượt 623 chỉ tiêu và hầu hết được đưa vào sản xuất thường xuyên như tiện thân bơm trước 35 giờ nay chỉ còn 4 giờ 30 phút, đúc máy mài trước 21 giờ nay chỉ còn 8 giờ…; cải tạo 49 máy thô sơ, lạc hậu thành máy có công suất và

độ chính xác cao; tự sản xuất một số dây chuyền dùng để sản xuất hàng loạt mặt hàng mới như máy bơm, máy mài, máy cưa và sản xuất máy hơi nước 75 sức ngựa…Chính nhờ vậy

mà nhà máy đã không ngừng tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng, hạ giá thành sản phẩm Năm 1961, nhà máy đã hoàn thành toàn diện và vượt mức kế hoạch Nhà nước giao

Trang 36

trước thời hạn 3 tháng 20 ngày, tiếp đó hoàn thành kế hoạch bổ sung tăng 36% trước thời hạn 50 ngày So với năm 1960, giá trị tổng sản lượng của nhà máy năm 1961 tăng lên 331%, năng suất lao động tăng 263%, sản phẩm chủ yếu tăng 547%, thương phẩm tăng 288% Cùng với việc phấn đấu hoàn thành xuất sắc các chỉ tiêu kinh tế cấp trên giao, công tác phát triển đảng, đoàn của nhà máy cũng đã thu được nhiều kết quả Tính đến giữa tháng 11 năm

1961, nhà máy đã kết nạp được 33 đảng viên, 41 đoàn viên, 133 đoàn viên công đoàn, đào tạo được 100 thợ có tay nghề cao [5, tr 60] Nhà máy đã trở thành ngọn cờ đầu của phong trào thi đua trên mặt trận công nghiệp

Sáng kiến mở hội thao kỹ thuật của nhà máy cơ khí Duyên Hải được công nhân

khắp nơi hưởng ứng sôi nổi Hơn 500 xí nghiệp [5, tr.61], công trường, nhà máy ở Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, Việt Trì, Phú Thọ, Quảng Ninh, Thái Nguyên, Lào Cai, Cao

Bằng, Nghệ An…đã phát động phong trào “Học tập Duyên Hải, thi đua với Duyên Hải”

Xí nghiệp than Đèo Nai trước đây dùng xe ô tô và xe goòng chở than đi đường vòng, nay do hợp lý hóa dây chuyền vận tải, làm hệ thống máng đi đường thẳng, rút bớt được 190 công nhân, 10 ô tô, 200 xe gòng, 11.000 thước đường sắt, mỗi ngày vận chuyển thêm được 1.500 tấn than, hạ giá thành vận chuyển được 5.400 đồng Ở nhà máy Dệt Nam Định, một số chị em công nhân đã hợp lý hóa đường đi kiểm tra máy, giải quyết hợp lý và khẩn trương các trường hợp nhiều mày cùng bị đứt sợi, từ chỗ một người đứng

12 máy nay đứng được 14 máy Ở công trường 209, do sắp xếp tổ chức lao động, phân công hợp lý đã rút được 10 công nhân trong việc điều khiển máy trộn bê-tông 400 lít, sáng kiến này được áp dụng rộng rãi trong các công trường, giảm được hàng trăm công nhân Tổ đá nhỏ ca A (nhà máy xi măng) sử dụng hợp lý lao động, máy móc, xe ô tô và cải tiến máng chuyển đá, đã rút số công nhân từ 81 người xuống 12 người Xí nghiệp vận tải ô tô Hà Nội, do áp dụng vận trù học, đã tiết kiệm được 5 vạn 4 nghìn lít dầu xăng [49,

tr 9- 10]

Công nhân và cán bộ ở các xí nghiệp cơ khí đã gắng công nghiên cứu, sản xuất được nhiều loại máy mới máy phay, máy nổ, đi-ê-den, máy hơi nước, máy ga, máy bơm nước, máy phát điện, máy tiện nặng 6 tấn, quạt lò cao,v.v…là những máy từ trước ta chưa sản xuất bao giờ Không những các xí nghiệp chế tạo cơ khí sản xuất được máy móc mới mà các xưởng sửa chữa cơ khí cũng sản xuất được nhiều loại máy để trang bị cho xí

Trang 37

nghiệp mình như: máy cắt tôn, máy uốn lò so, máy sàng rửa than, máy làm vành bánh ô

tô, máy dập, máy cưa, máy dệt tự động, máy nghiền bột giấy, máy xeo giấy… Các nhà máy cơ khí tăng tốc độ cắt gọt và bước đầu chế tạo theo phương pháp gá lắp, đã tăng năng suất của nhiều máy công cụ từ 2 lần đến 3 lần Nhà máy phân lân Hàm Rồng áp dụng kỹ thuật tiên tiến, đã khử được gần hết chất độc trong khói phân lân, bảo vệ sức khỏe của công nhân trong khi sản xuất, không ảnh hưởng đến sức khỏe và hoa màu của nhân dân ở xung quanh nhà máy Ngành địa chất đã áp dụng phương pháp từ trọng và vật

lý trong việc thăm dò, đã phát hiện được nhiều hiện tượng cấu tạo địa chất và tìm ra một

số mỏ quý

Đi đôi với thi đua hợp lý hóa sản xuất, cải tiến kỹ thuật, các nhà máy, xí nghiệp còn tích cực tham gia cuộc vận động thi đua tiết kiệm và đẩy mạnh sản xuất nguyên vật

liệu, tận dụng nguyên liệu, vật liệu vụn Nhiều thiết bị, máy móc cũ, có thứ bỏ đi, đã được

cải tiến thành thiết bị máy móc tốt, có năng suất cao Nhà máy cơ khí Duyên Hải đã cải tiến 49 máy các loại, tăng năng suất từ 50% đến 200% Nhà máy xi măng Hải Phòng cải tiến năm lò nung vượt công suất thiết kế, mỗi ngày tăng từ 250 đến 300 tấn xi măng, mỗi năm tăng được hơn 7 vạn tấn xi măng Nhà máy giấy Hoàng Văn Thụ cải tiến máy xeo giấy cũ, đưa công suất từ 2040 mét giấy một giờ lên 2.840 mét giấy một giờ, đạt được năng suất cao của máy khi còn mới Một số thiết bị máy móc mới cũng được cải tiến: nhà máy cơ khí Hà Nội đã cải tiến lò luyện thép đưa sản lượng đúc thép mỗi mẻ từ 1.500 ki-

lô lên 2.300 ki-lô và làm tăng tuổi thọ của lò; Xưởng May 10 cải tiến 24 máy đính cúc, mỗi năm giảm được hơn 2 vạn công thợ Tổ sản xuất vành bánh ở xưởng ô tô Hòa Bình

đã liên tục cải tiến kỹ thuật, từ sản xuất thủ công tiến lên sản xuất toàn bằng máy móc, hạ thời gian lao động mỗi bộ vành bánh từ 220 giờ xuống 41 phút Nhiều xí nghiệp đã cố gắng tiết kiệm nguyên liệu, vật liệu, tìm nguyên liệu, vật liệu thay thế, tận dụng nguyên liệu, vật liệu vụn, cũ Công trường nhà máy thủy tinh Hải Phòng dùng đồ gỗ và tre trong việc làm cốp-pha bê-tông móng không phải dùng 1.623 mét khối gỗ mới Nhà máy rượu Hà-Nội nghiên cứu thành công việc nấu rượu bằng ngô, khoai, sắn, mỗi năm bớt được 7.400 tấn gạo Các nhà máy Sắt tráng men, Văn phòng phẩm Hồng Hà, pin Văn Điển, Xà phòng, Cao su Sao vàng, thuốc lá Thăng Long đã sử dụng hơn 50 loại nguyên liệu, vật liệu trong nước, không phải nhập hàng ngàn tấn của nước ngoài Các nhà máy điện nhờ

Trang 38

cải tiến ghi lò, dùng than cám xấu đốt lò, hàng năm giảm được 10 vạn tấn than don Cục vật liệu dùng ống nước bằng bê tông đúc thay ống gang, không phải dùng 1.620 tấn gang Nhà máy cá hộp Hạ Long đã lấy được 4.317 lít dầu cá ở gan cá, chất lượng tốt [49, tr.10 -12]

Công tác cải tiến quản lý sản xuất và xây dựng được chú trọng, đã mang lại nhiều tiến bộ Nhà máy cơ khí Duyên Hải đã lập chương trình, kế hoạch cụ thể về cải tiến kỹ thuật, phối hợp chặt chẽ công tác kế hoạch, kỹ thuật, cung tiêu và tài vụ, thi hành chế độ hạch toán kinh tế ở nhiều tổ sản xuất Bộ kiến trúc xây dựng được các chỉ tiêu kinh tế, kỹ thuật cụ thể, thực hiện chế độ quản lý kế hoạch, kỹ thuật, đưa việc quản lý thiết kế đi vào

kế hoạch, đã hạn chế tình trạng không ăn khớp giữa các bộ phận kiến trúc, điện nước Các cục quản lý thuộc Bộ công nghiệp nặng cải tiến lề lối làm việc, tinh giản bộ máy, đã rút được nhiều cán bộ bổ sung cho các xí nghiệp Bộ công nghiệp nhẹ thực hiện chế độ cán bộ tham gia lao động ở xí nghiệp, nhờ đó cán bộ nắm được tình hình sản xuất, giải quyết công việc tốt hơn trước

Phong trào thi đua với Duyên Hải như những làn sóng cách mạng mạnh mẽ, dâng lên đợt này qua đợt khác, động viên, cổ vũ công nhân, cả người có trình độ kỹ thuật khá lẫn người mới vào nghề, cả trẻ lẫn già, cả nam lẫn nữ, đều hăng hái thi đua phát huy sáng kiến hợp lý hóa sản xuất, cải tiến kỹ thuật, nhằm tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng, hạ giá thành của sản phẩm và công trình Phong trào thi đua với Duyên Hải đồng thời làm chuyển biến mạnh mẽ tư tưởng của công nhân, viên chức, nâng cao thêm tinh thần tập thể, tinh thần hợp tác xã hội chủ nghĩa Trong năm 1961, số sáng kiến là 75.000 Trong năm 1962 số sáng kiến lên tới hơn 9 vạn sáng kiến [50, tr 12] Sự ra đời của các sáng kiến như sự nở rộ của hoa mùa xuân Rất nhiều sáng kiến có giá trị về khoa học, kỹ thuật góp phần quan trọng vào việc tăng năng suất lao động, có những sáng kiến làm tăng năng suất lên đến 39 lần, vượt hơn 10 vạn chỉ tiêu kinh tế, kỹ thuật Thành tích của phong trào đã khẳng định vai trò tiên phong của giai cấp công nhân nước ta trong sự nghiệp công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa

Thực tế dễ nhận thấy là những đơn vị có phong trào thi đua tập thể cao đều phát

huy được nhiều sáng kiến cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất và hoàn thành vượt mức

kế hoạch sản xuất hoặc công tác Các tổ, đội lao động tiên tiến tình nguyện phấn đấu trở

Trang 39

thành tổ, đội lao động xã hội chủ nghĩa của ngành công nghiệp đều có từ 12 sáng kiến đến 38 sáng kiến, tổ nào cũng hoàn thành kế hoạch Nhà nước trước thời hạn từ 10 ngày đến 164 ngày Rất nhiều sáng kiến của tập thể ra đời Nhiều sáng kiến của cá nhân, lúc đầu thực hiện không thành công, khi biết kết hợp với trí tuệ của tập thể, đã thành sáng kiến lớn Ví dụ: tổ trạm 6.600 vôn ở nhà máy điện Hà Nội, năm 1961 có 30 sáng kiến, 70 kiến nghị hợp lý hóa, hầu hết là của tập thể; đặc biệt có sáng kiến làm máy thổi bụi trong trạm điện cao thế, trước đây đã có người nghĩ ra nhưng không thực hiện được, tổ mang ra thảo luận tập thể, kết quả là chế được máy thổi bụi rất tốt, tiết kiệm được nhân công, mỗi năm lợi được 72.000 đồng Đồng chí Hoàng Văn Tiến ở mỏ than Thống Nhất có sáng kiến cải tiến tổ chức lao động và bố trí quy trình khai thác hợp lý đã giảm bớt 25 lao động, đưa năng suất của lò mỗi ngày từ 50 tấn lên 135 tấn [50, tr 30]

Phong trào lao động xã hội chủ nghĩa thu hút nhiều nhà máy, xí nghiệp tham gia, thu

được nhiều kết quả Tính đến năm 1962, Nhà máy Xi măng Hải Phòng có 56 tổ đã ghi tên,

17 tổ được công nhận, Nhà máy Dệt Nam Định có 55 tổ ghi tên, 16 tổ được công nhận, Gang thép Thái Nguyên có 206 tổ ghi tên, 14 tổ được công nhận, Cơ khí Hà Nội có 21 tổ ghi tên, 9 tổ được công nhận…[50, tr 2]

Các phong trào thi đua yêu nước đã mang lại cho nền công nghiệp miền Bắc nhiều biến đổi Đã có những thay đổi sâu sắc về quan hệ sản xuất, về cơ cấu và sức sản xuất Tỷ trọng công nghiệp (kể cả thủ công nghiệp) trong tổng giá trị sản lượng công nghiệp, nông nghiệp đến năm 1961 đã lên đến 43% (năm 1955 là 16,9%) Vai trò chủ đạo của công nghiệp trong nền kinh tế quốc dân đã bắt đầu được phát huy Một số ngành công nghiệp nặng chủ yếu đã hình thành, công nghiệp nhẹ đã lớn lên nhanh chóng Trình độ quản lý công nghiệp đã được nâng lên một bước Nhiều xí nghiệp đã chủ động sản xuất, phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, tăng năng suất, bảo đảm chất lượng và hạ giá thành sản phẩm Giai cấp công nhân lớn mạnh về mọi mặt Liên minh giữa giai cấp công nhân và nông dân trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ngày càng chặt chẽ…

Giá trị tổng sản lượng công nghiệp tăng từ 1.248 triệu đồng năm 1960, lên 2.365 triệu đồng năm 1965 Nhịp độ tăng bình quân hàng năm là 13,6% Công nghiệp phục vụ nông nghiệp ngày càng hiệu quả, đặc biệt trong các ngành thủy lợi, trang bị máy móc, nông cụ, phân bón, thuốc trừ sâu…Khối lượng vật liệu phục vụ cho sản xuất nông nghiệp

Trang 40

tăng bình quân 25%, chiếm 1/4 tổng giá trị sản lượng công nghiệp nặng Năm 1965 so với năm 1960, thì số cày cải tiến tăng 3,7 lần, bơm thuốc trừ sâu tăng 4,5 lần, máy bơm tăng 10 lần, điện cung cấp tăng 10 lần, thuốc trừ sâu các loại tăng 8,1 lần Nhiều công trình thủy lợi, các cơ sở nghiên cứu công nghiệp, kỹ thuật nông nghiệp, trạm trại máy kéo, thí nghiệm đã được xây dựng ở nông thôn

Cuộc vận động phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất trên mặt trận công nghiệp không chỉ ở trong các nhà máy, hầm mỏ, xí nghiệp của Nhà nước mà còn lan tỏa tới các hợp tác xã thủ công nghiệp Khác với các cơ sở kinh tế công nghiệp quốc doanh

do Nhà nước đầu tư thiết bị sản xuất, bao tiêu phân phối sản phẩm do nhà máy làm ra, các hợp tác xã thủ công nghiệp địa phương thường chỉ là những tổ hợp nhỏ, máy móc cũ kỹ, tự sản tự tiêu là chính Từ nhận thức xây dựng chủ nghĩa xã hội, việc làm ăn lớn không còn có chỗ cho những suy nghĩ vụn vặt, chắp vá, đa số các hợp tác xã thủ công phải hợp lực với nhau nêu cao tinh thần tự lực cánh sinh, cần kiệm xây dựng hợp tác xã, đẩy mạnh sản xuất sao cho vừa có lãi, vừa tích lũy để tái sản xuất mở rộng

Thấm nhuần mục đích, ý nghĩa của phong trào thi đua, hầu hết các hợp tác xã thủ công nghiệp tự nguyện hợp tác với nhau mở rộng sản xuất Trong số hàng trăm hợp tác

xã hoàn thành vượt mức kế hoạch Nhà nước năm 1961, hợp tác xã Thành Công (Thanh Hóa) đã trở thành ngọn cờ đầu của ngành hợp tác xã thủ công nghiệp

Hợp tác xã Thành Công được thành lập đầu năm 1959 với số vốn 2.100 đồng, Nền tảng ban đầu là một gian nhà nhỏ, 16 xã viên, hầu hết là thợ sửa xe đạp và buôn bán nhỏ Với số vốn ít ỏi, để duy trì phát triển đi lên, ban quản trị hợp tác xã đề ra phương hướng

“lấy ngắn nuôi dài”, “lấy bộ phận sản xuất làm xung kích, bộ phận sửa chữa làm đội hỗ

trợ” Các xã viên ban ngày làm ở các tổ đội, tối về tranh thủ gánh đất lấp ao chuẩn bị nền

móng nhà xưởng Số xã viên tự nguyện vào hợp tác xã cũng theo đó tăng lên Song song với việc ra sức xây dựng cơ ngơi nhà xưởng, hợp tác xã còn phát động xã viên thu nhặt hàng chục tấn phế liệu kim loại; mua và chế tạo được 24 máy tiện, 2 máy dập, 3 máy đánh bóng, 6 động cơ điện cỡ nhỏ, 10 lò rèn chạy điện, 2 máy bơm xăng dầu Vụ Đông- Xuân 1960-1961, hợp tác xã làm được 600 bộ phụ tùng máy cấy, hàng trăm xe bò, xe cải tiến đạt chất lượng tốt, được khách hàng khen ngợi Đến cuối năm 1961 nhờ phát huy tinh thần tự lực cánh sinh, cần kiệm, phát huy sáng tiến cải tiến kỹ thuật, hợp tác xã đã đi

Ngày đăng: 06/01/2016, 13:37

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w