Tính cấp thiết của đề tài Hơn 80 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, giai cấp nông dân GCND Việt Nam thông qua tổ chức của mình với những tên gọi khác nhau Nông Hội đỏ, Hội Nông dân Việ
Trang 1
LUẬN VĂN:
Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo xây
dựng giai cấp nông dân trong giai đoạn
hiện nay
Trang 2
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hơn 80 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, giai cấp nông dân (GCND) Việt Nam thông qua tổ chức của mình với những tên gọi khác nhau (Nông Hội đỏ, Hội Nông dân Việt Nam) đã luôn luôn chứng tỏ là một lực lượng đông đảo, trung thành với Đảng, liên minh chặt chẽ với giai cấp công nhân, đấu tranh kiên cường, bất khuất, cống hiến to lớn và quan trọng cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, xây dựng chủ nghĩa xã hội (CNXH) và bảo vệ Tổ quốc Bộ Chính trị Khóa VI ban hành Quyết định số 42-QĐ/TW ngày 1 tháng 3 năm 1988 về đổi tên Hội liên hiệp Nông dân tập thể Việt Nam thành Hội Nông dân Việt Nam Đồng thời, nhằm đáp ứng nguyện vọng tha thiết của GCND Việt Nam, Bộ Chính trị đã quyết định lấy ngày 14-10-1930 làm ngày thành lập Hội Nông dân Việt Nam
Gần 25 năm thực hiện đường lối đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, GCND ngày càng khẳng định được vị trí, vai trò quan trọng của mình trong khối liên minh giữa giai cấp công nhân, nông dân và đội ngũ trí thức Nghị quyết Đại hội X của Đảng, khi đề ra nhiệm vụ phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, đã khẳng định: “Đối với giai cấp nông nhân, phát huy vai trò quan trọng trong sự nghiệp đổi mới và công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn”1 Để đạt điều đó phải xây dựng giai cấp nông nhân vững mạnh Điều này chỉ có thể đạt hiệu quả khi có sự lãnh đạo của Đảng
Đánh giá vị trí, tầm quan trọng của GCND, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 7 khoá X nhấn mạnh: Trong lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc cũng như trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá (CNH, HĐH) đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN), nông nghiệp, nông dân, nông thôn luôn có vị trí quan trọng, là cơ sở và lực lượng để phát triển kinh tế - xã hội (KTXH) bền vững, ổn định chính trị, đảm bảo an ninh, quốc phòng; giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc và bảo vệ môi trường sinh thái
Trong công cuộc đổi mới, GCND Việt Nam đã đóng góp quan trọng vào tăng trưởng kinh tế, xã hội, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội Những đóng góp
ấy đã khẳng định vị trí, vai trò và sức mạnh to lớn của GCND trong sự nghiệp đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo
Song trước yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn, trong điều kiện khoa học công nghệ ngày càng phát triển nhanh, GCND Việt Nam đang đứng trước những thách thức rất to lớn Tình trạng trạng thất nghiệp, lao động không ổn định, điều
1
Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb CTQG, Hà Nội, 2006, tr 118
Trang 3
kiện làm việc ít được cải thiện, tai nạn lao động gia tăng… Bên cạnh đó, điều kiện sinh hoạt tinh thần cũng rất thiếu thốn Nông dân lao động không có thời gian, điều kiện sinh hoạt, học tập nâng cao nhận thức chính trị và trình độ mọi mặt Do vậy, trình độ học vấn của một bộ phận nông dân còn thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn; ý thức chính trị, hiểu biết pháp luật còn rất hạn chế Có một
bộ phận nông dân sống thiếu lý tưởng, niềm tin, sa vào các tệ nạn xã hội, giảm lòng tin và
sự gắn bó với Đảng và Hội Nông dân
Tình hình trên có nhiều nguyên nhân, song một trong những nguyên nhân cơ bản là những năm qua, Đảng và Nhà nước chưa quan tâm thoả đáng đến xây dựng, phát huy vai trò GCND, đặc biệt, sự lãnh đạo của Đảng đối với vấn đề xây dựng GCND còn nhiều điểu cần được quan tâm hơn, từ nhận thức về vai trò, nội dung, phương thức lãnh đạo xây dựng GCND đến sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng trong tổ chức thực hiện; từ sự định hướng của Đảng về chủ trương, chính sách xây dựng GCND đến chiến lược về xây dựng và phát triển GCND hiện đại…
Để khắc phục những hạn chế nêu trên, đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới, đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, mà trước hết là CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn, Đảng phải coi trọng lãnh đạo xây dựng GCND Song việc nghiên cứu tìm giải pháp cho vấn đề này vãn còn là một khoảng trống khá lớn Vì thế, việc triển khai thực hiện đề tài cấp bộ
Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo xây dựng giai cấp nông dân trong giai đoạn hiện nay thực sự là vấn đề cần thiết và cấp bách
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Xây dựng và vận động GCND đáp ứng yêu cầu của cách mạng là một nhiệm vụ quan trọng có ý nghĩa chiến lược được Đảng coi trọng lãnh đạo trong mọi thời kỳ cách mạng, với những chủ trương, giải pháp phù hợp, đem lại kết quả to lớn Trong công cuộc đổi mới, nhất là những năm gần đây, vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn đã thu hút những cơ quan, nhà khoa học nghiên cứu, trong đó, nhiều công trình khoa học nghiên cứu vấn đề xây dựng GCND và Đảng lãnh đạo xây dựng GCND:
a Các văn kiện của Đảng, của Nhà nước và của Hội Nông dân Việt Nam
1.Nghị quyết số 05 - NQ/HNTW Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương
Đảng khoá VII tiếp tục đổi mới và phát triển KT-XH nông thôn, ngày 10 tháng 6 năm
1993
Trang 4
2.Chỉ thị 59-CT/TW, ngày 15-12-2000 của Bộ Chính trị khoá VIII “về tăng cường
sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của Hội Nông dân Việt Nam trong thời kỳ Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn”
3.Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 5 khóa IX Về đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn thời kỳ 2001 – 2010
4.Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 7 khóa IX Về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
5 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
6 Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ bảy khoá X về vấn đề
nông nghiệp, nông thôn, nông dân
7 Chỉ Thị Số 26 /2001/CT-TTg của Thủ tướng chính phủ, ngày 09 tháng 10 năm
2001 Về việc tạo điều kiện để Hội Nông dân các cấp tham gia giải quyết khiếu nại, tố cáo của nông dân
b Sách, Báo, Tạp chí
1.Ban Dân vận Trung ương, Một số vấn đề về công tác vận động nông dân ở nước
ta hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000
2.Vũ Oanh, Nông nghiệp và nông thôn trên con đường CNH, HĐH và hợp tác hóa, dân
chủ hóa, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998
3.Nguyễn Thanh Bạch, Chính sách và giải pháp cho nông dân, nông nghiệp và nông
thôn hiện nay, Tạp chí Nghiên cứu kinh tế, 1-1999
4.Phạm Xuân Dũng, Một số vấn đề về lao động và việc làm trong nông nghiệp, nông
thôn nước ta hiện nay, Tạp chí Quản lý nhà nước, số 6-2000
5 Nguyễn Sinh Cúc, Thực trạng và giải pháp xóa đói, giảm nghèo ở nông thôn hiện
nay, Tạp chí Cộng sản, số 25-2002
6 Vũ Ngọc Kỳ, GCND và Hội Nông dân Việt Nam tiếp tục góp phần thực hiện
thắng lợi sự nghiệp CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn, Tạp chí Cộng sản tháng 10/2005
7 Vũ Ngọc Kỳ, Giải quyết vấn đề nông nghiệp, nông thôn và nông dân, Tham luận tại Đại hội Đảng lần thứ X
8 Nguyễn Đức Triều, GCND là lực lượng hùng hậu trong sự nghiệp CNH, HĐH
nông nghiệp, nông thôn, Báo Nhân dân, ngày 9-10-2000
Trang 5
9 Nông Đức Mạnh, bài phát biểu bế mạc Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần
thứ bảy khóa X
c Đề tài nghiên cứu khoa học
Trung ương Hội Nông dân Việt Nam, Đề tài nghiên cứu khoa học KHBĐ 12: Công
tác vận động nông dân trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước,
Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, 1999
Cuốn sách là kết quả nghiên cứu của đề tài khoa học nêu trên, gồm các bài viết chọn lọc trong các cuộc hội thảo vừa mang tính khoa học vừa mang tính thực tiễn của nhiều đồng chí lãnh đạo, quản lí, cán bộ nghiên cứu khoa học và chỉ đạo thực tiễn của nhiều cơ quan trung ương và địa phương Trên cơ sở tổng kết thực tiễn, đề tài làm rõ thực trạng công tác vận động nông dân từ 1986 gắn với việc nghiên cứu một số vấn đề lí luận, làm rõ ưu điểm, khuyết điểm của các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, cũng như thực trạng GCND
Mặt khác, nội dung của đề tài cũng tập trung làm rõ yêu cầu cơ bản của công nghiệp hoá, hiện đại hoá đối với nông nghiệp, nông thôn, nông dân; dự báo những xu hướng phát triển trong 10 năm tiếp theo; đề xuất, kiến nghị một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác vận động nông dân trong tình hình gồm: làm rõ trách nhiệm của các cấp uỷ đảng, chính quyền và đoàn thể quần chúng các cấp trong việc chăm lo và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần đối với nông dân; tăng cường tuyên truyền, giáo dục nông dân về ý thức chính trị, nâng cao dân trí; phát huy vai trò của Hội Nông dân trong công tác vận động nông dân; quan tâm xây dựng cơ sở vật chất đối với nông nghiệp, nông thôn…
Các chuyên đề được quan tâm: Công nghiệp hoá nông nghiệp, nông thôn (PGS TS Nguyễn Sinh Cúc), Thực trạng tổ chức đảng ở cơ sở nông thôn, những giải pháp để lãnh đạo cuộc vận động nông dân thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước (PTS Lê Văn Yên), Xoá đói giảm nghèo ở nông thôn Việt Nam - thực trạng và giải pháp (PTS Đàm Văn Thọ), Công tác giáo dục – đào tạo đối với nông dân, những giải pháp để thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn (PGS, PTS Đặng Quốc Bảo), Những vấn đề cơ bản và cấp bách cần giải quyết về nông nghiệp, nông thôn ở tỉnh Ninh Thuận (Chamalea Điêu), Một số vấn đề vận động nông dân trong thời kỳ đổi mới ở tỉnh Trà Vinh (Trần Quang Thiện), Phối hợp với chính quyền và các ngành để nâng cao hiệu quả hoạt động của Hội và phong trào nông dân
Trang 6
d Luận văn, luận án:
1.Lê Kim Việt, Công tác vận động nông dân của Đảng trong thời kỳ đẩy mạnh
CNH, HĐH đất nước", Luận án tiến sĩ Lịch sử, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh,
Hà Nội, 2002
2.Đặng Trí Thủ, Công tác vận động nông dân của Đảng bộ tỉnh Cà Mau thời kỳ đẩy
mạnh CNH, HĐH đất nước, Luận văn thạc sĩ chính trị học, chuyên ngành Xây dựng Đảng
Cộng sản Việt Nam, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2005
3.Giang Văn Phục, Công tác vận động nông dân của Đảng bộ tỉnh Kiên Giang
trong giai đoạn hiện nay, Luận văn thạc sĩ khoa học Lịch sử, Học viện Chính trị quốc gia
Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2000
4.Phạm Đức Hóa, Nâng cao chất lượng công tác vận động nông dân của các Đảng
bộ xã ở tỉnh Thái Bình trong giai đoạn hiện nay", Luận văn thạc sĩ khoa học Lịch sử, Học
viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2003
Các luận văn, luận án trên đã làm rõ cơ sở lý luận, quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và của Đảng ta về vấn đề nông dân và công tác vận động nông dân; đánh giá đúng thực trạng nông dân và công tác vận động nông dân Đảng bộ một số tỉnh, tìm ra một số nguyên nhân của thực trạng ấy Đồng thời, đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao chất lượng công tác vận động nông dân của Đảng bộ tỉnh thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước
Tóm lại, các công trình khoa học nêu trên đã đề cập nhiều nội dung với các độc độ
khác nhau, có những đóng góp quan trọng đối với sự lãnh đạo về xây dựng GCND của Đảng Tuy nhiên, tùy theo mục đích, yêu cầu của từng công trình, nên các nhà khoa học chưa có điều kiện luận bàn sâu về các vấn đề cụ thể về Đảng lãnh đạo xây dựng GCND
Hầu hết các công trình nghiên cứu đề cập chưa trực tiếp đi sâu luận bàn về phương thức lãnh đạo của các cấp uỷ đảng đối với GCND, chưa chỉ rõ nội dung lãnh đạo gồm những vấn đề gì? trách nhiệm của các cấp uỷ đảng trong việc tổ chức thực hiện và kiểm tra, giám sát tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên và chỉ đạo các cơ quan chức năng kiểm tra, giám sát chính quyền, các tổ chức chính trị - xã hội triển khai chủ trương của Đảng và chính sách của Nhà nước đối với GCND Trong đó, lãnh đạo phát huy vai trò của hội nông dân các cấp và các loại hình hợp tác xã, tổ hợp tác trong việc góp phần xây dựng GCND vững mạnh chưa được cụ thể hoá, chưa coi trọng tổng kết thực tiễn
Trang 7
Còn ít các công trình nghiên cứu về GCND Việt Nam trước những thách thức mới, nhất là khi nước ta đã trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) Một vấn đề rất cần thiết với việc lãnh đạo xây dựng GCND là đặc điểm của GCND Việt Nam hiện nay chưa được làm rõ
Các công trình nghiên cứu còn nghiêng về nghiên cứu lý thuyết Nên việc áp dụng các giải pháp đó đối với các cấp ủy địa phương còn khó khăn, lúng túng
Việc ban hành các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về xây dựng GCND còn có điểm chưa thực sự chú ý đến các chính sách cụ thể đối với nông dân từng vùng, miền Chưa có được những dự báo có độ tin cậy cao về sự biến đổi trong GCND Việt Nam để làm cơ sở để hoạch định chủ trương, chính sách mới phù hợp với yêu cầu của
sự phát triển
Qua tổng quan các công trình nghiên cứu trên đây, đề tài sẽ kế thừa có chọn lọc kết quả nghiên cứu của các công trình nghiên cứu đó, phát triển và đưa ra những kết luận, cung cấp những luận cứ để đánh giá đúng thực trạng GCND, thực trạng sự lãnh đạo của Đảng đối với xây dựng GCND ở nước ta, chỉ rõ những ưu, khuyết điểm và nguyên nhân;
đề xuất những giải pháp cụ thể nhằm tăng cường sự lãnh đạo của Đảng về xây dựng GCND Việt Nam trong quá trình hội nhập nền kinh tế khu vực và toàn cầu
3.Mục tiêu của đề tài
Làm rõ cơ sở lý luận về Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo xây dựng GCND trong giai đoạn hiện nay; đánh giá đúng thực trạng Đảng lãnh đạo xây dựng GCND, chỉ ra nguyên nhân; đề xuất phương hướng và những giải pháp chủ yếu để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với việc xây dựng GCND Việt Nam hiện nay
4.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài: Đề tài khảo sát, nghiên cứu sự
lãnh đạo của Đảng về xây dựng GCND Việt Nam từ năm 1986 đến nay
5 Nhiệm vụ của đề tài
- Khái quát nông nghiệp, nông thôn từ 1986 đến nay
- Phân tích vai trò, đặc điểm của GCND Việt Nam
- Trên cơ sở quan niệm, nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng về xây dựng GCND, đánh giá thực trạng sự lãnh đạo của Đảng về xây dựng GCND từ 1986 đến nay
Trang 8
- Đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng
về xây dựng GCND Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
6 Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật
lịch sử, đề tài sử dụng tổng hợp các phương pháp sau: Phương pháp phân tích, tổng hợp, lịch sử - lôgic: Phương pháp này cho phép đi sâu phân tích sự biến đổi, phát triển của GCND trong những năm vừa qua, đánh giá, nhận xét được ưu, khuyết điểm của GCND hiện nay
+ Phương pháp điều tra, khảo sát và tổng kết thực tiễn về GCND; sự lãnh đạo xây dựng GCND của Đảng trong thời kỳ đổi mới
+ Phương pháp so sánh: So sánh với tính chất, quy mô, cơ cấu, bản chất và các giải pháp xây dựng GCND của các nước, các khu vực… Từ đó rút ra những đặc điểm chung, phổ biến và đặc thù, tìm kiếm những giá trị tham khảo cho nghiên cứu tăng cường sự lãnh đạo của đảng đối với việc xây dựng GCND ở Việt Nam
+ Phương pháp điều tra xã hội học: Điều tra thái độ của các nhóm xã hội đối với vị trí, vai trò và sự biến đổi của GCND Kết quả điều tra là căn cứ cho việc nhận diện vị trí, vai trò, bản chất của GCND Việt Nam hiện nay, nhận xét mặt tích cực và hạn chế của một
số chủ trương, chính sách hiện hành của Đảng và Nhà nước về GCND, đề ra các giải pháp mang tính cụ thể hơn
+ Phương pháp thống kê và một số phương pháp mang tính bổ trợ khác (khoa học kinh tế, khoa học pháp lý, khoa học quản lý,…)
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
+ Về mặt lý luận, đề tài góp phần làm rõ vai trò, đặc điểm của GCND hiện nay Đặc
biệt, đề tài nghiên cứu chuyên sâu về góc độ Đảng lãnh đạo xây dựng GCND, do đó khung
lý thuyết của đề tài sẽ tập trung định nghĩa và xác định nội dung, phương thức Đảng lãnh đạo xây dựng GCND, cụ thể hóa nội dung, phương thức lãnh đạo vấn đề này đối với từng đối tượng: Nhà nước, Hội Nông dân, các đoàn thể chính trị - xã hội, các trung tâm khuyến nông… Xác định trách nhiệm cụ thể của tổ chức đảng các cấp trong lãnh đạo xây dựng GCND
Trang 9
Vận dụng khung lý thuyết vào khảo sát, đánh giá thực trạng Đảng lãnh đạo xây dựng GCND, đề tài sẽ bổ sung một hệ tiêu chí nhận dạng, đánh giá việc Đảng lãnh đạo xây dựng GCND
Những đề xuất về quan điểm, giải pháp đổi mới sự Đảng lãnh đạo xây dựng GCND của Đảng trong giai đoạn hiện nay
+ Về thực tiễn, kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần cung cấp thêm cơ sở khoa
học cho hoạt động thực tiễn lãnh đạo xây dựng GCND của Đảng Khi được xã hội hóa, kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là tài liệu góp phần nâng cao nhận thức, kỹ năng lãnh đạo xây dựng và vận động GCND của cán bộ, đảng viên, cấp uỷ và tổ chức đảng các cấp
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là tài liệu tham khảo cho các hoạt động nghiên cứu, giảng dạy, học tập trong hệ thống Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh và trường chính trị các địa phương về Đảng lãnh đạo xây dựng GCND trong giai đoạn hiện nay
8 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, đề tài gồm 3 chương 7 tiết
Trang 10
Chương 1 ĐẢNG LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG GIAI CẤP NÔNG DÂN – MỘT SỐ VẤN
ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Khái quát về nông nghiệp, nông thôn nước ta từ 1986 đến nay
Trải qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, nông dân nước ta luôn luôn là lực lượng chủ lực xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Trong công cuộc đổi mới đất nước, Đảng và Nhà nước ta đã luôn luôn coi trọng giải quyết vấn đề nông nghiệp, nông thôn và nông
dân Với chủ trương "Nông nghiệp là mặt trận hàng đầu"; "lấy nông nghiệp làm khâu đột
phá", "lấy nông thôn là địa bàn trọng điểm", Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chính
sách về đổi mới nông nghiệp, nông thôn và phát huy cao vai trò làm chủ và sức sáng tạo của nông dân Chỉ tính riêng trong giai đoạn 2000 - 2007 đã có 34 nghị định và quyết định về chính sách đầu tư hỗ trợ cho nông nghiệp, nông dân, nông thôn được ban hành và thực hiện Những chủ trương, chính sách đó đã nhanh chóng đi vào đời sống nông dân, được nông dân rất hoan nghênh, hưởng ứng; tạo ra động lực thúc đẩy mạnh mẽ các phong trào thi đua yêu nước trong GCND, khơi dậy các tiềm năng thế mạnh của từng hộ gia đình, từng địa phương, từng vùng sinh thái; làm cho nông nghiệp, kinh tế và đời sống nông dân, nông thôn phát triển có tính đột phá
Thực hiện đường lối đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng, nông nghiệp, nông thôn liên tục phát triển góp phần quan trọng ổn định tình hình chính trị, KT-XH, xoá đói, giảm nghèo, nâng cao đời sống của nhân dân Nghị quyết Trung ương bảy khóa X đánh giá
“Sau hơn 20 năm thực hiện đường lối đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nông nghiệp, nông dân, nông thôn nước ta đã đạt được thành tựu khá toàn diện và to lớn Nông nghiệp tiếp tục phát triển với tốc độ khá cao theo hướng sản xuất hàng hoá, nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả; đảm bảo vững chắc an ninh lương thực quốc gia; một số mặt hàng xuất khẩu chiếm vị thế cao trên thị trường thế giới Kinh tế nông thôn chuyển dịch theo hướng tăng công nghiệp, dịch vụ, ngành nghề; các hình thức tổ chức sản xuất tiếp tục đổi mới Kết cấu hạ tầng KT-XH được tăng cường; bộ mặt nhiều vùng nông thôn thay đổi Đời sống vật chất và tinh thần của dân cư ở hầu hết các vùng nông thôn ngày càng được cải thiện Xóa đói, giảm nghèo đạt kết quả to lớn Hệ thống chính trị (HTCT) ở nông thôn được củng cố và tăng cường Dân chủ cơ sở được phát huy An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững”1
1
Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008, tr 121-122
Trang 11
Thành tựu về phát triển nông nghiệp, nông thôn, xoá đói, giảm nghèo là một trong những thành tựu kinh tế nổi bật của nước ta trong thời kỳ đổi mới Tuy vậy, hiện nay đang xuất hiện nhiều thách thức mới trong nông nghiệp, nông thôn và nông dân, ảnh hưởng tới
sự phát triển bền vững của quá trình cống nghiệp hoá đất nước Đặc biệt, sau khi Việt Nam
đã là thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới, tạo cơ hội, thời cơ cho sự phát triển của đất nước, song cũng là thách thức lớn đối với kinh tế nước ta nói chung, nông nghiệp, nông dân và nông thôn nói riêng trong quá trình phát triển và hội nhập kinh tế thế giới Điều này thể hiện khá rõ trong ba năm đầu gia nhập WTO (2006 - 2009) Để tận dụng thời
cơ, vượt qua khó khăn, thách thức, cần phải xem xét, đánh giá đúng tình hình nông nghiệp, nông thôn làm cơ sở để xây dựng chiến lược phát triển GCND đến năm 2020
1.1.1 Những thành tựu chủ yếu
Sau gần 25 năm đổi mới, việc chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế trong nông nghiệp
và nông thôn theo hướng chuyển từ sản xuất tự cung tự cấp là chính sang sản xuất hàng hoá gắn với thị trường thế giới và khu vực dựa trên cơ sở đơn vị sản xuất là kinh tế nông
hộ ở khu vực nông thôn đã đạt được những thành tự mới Nông nghiệp Việt Nam đã có nhiều thay đổi so với thời kỳ trước đổi mới Từ một nền nông nghiệp độc canh, tự cung tự cấp lương thực là chủ yếu, đã từng bước chuyển thành nền nông nghiệp đa canh, có tỷ suất hàng hoá ngày càng cao trong nền kinh tế quốc dân, gắn với thị trường trong nước và xuất khẩu Nông nghiệp nước ta đã bước đầu mang tính chất của một nền nông nghiệp hàng hoá từng bước đáp ứng các yêu cầu của thị trường trong nước với nhu cầu cao hơn và có lượng lớn nông sản, thuỷ sản xuất khẩu Những chuyển biến quan trọng đó thể hiện ở:
Thứ nhất, nông nghiệp tiếp tục phát triển với nhịp độ khá cao theo hướng nâng cao
năng suất, chất lượng và hiệu quả với cơ cấu ngày càng hợp lý và và coi trọng áp dụng thành tựu khoa học công nghệ
Cả nước đã hình thành các vùng sản xuất nông sản hàng hoá quy mô lớn, chuyên canh và thâm canh cao, như: cây chè ở miền núi phía Bắc, lúa gạo vùng đồng bằng sông Cửu Long và đồng bằng sông Hồng; cây ăn trái ở đồng bằng sông Cửu Long và Đông Nam Bộ; cây cà phê và cao su ở Tây Nguyên và Đông Nam Bộ, thuỷ sản ở Nam Trung Bộ
và đồng bằng sông Cửu Long Các vùng sản xuất hàng hoá lớn tập trung đó, đã cung cấp nông sản hàng hoá và xuất khẩu trong những năm qua và là biểu hiệu của sự hình thành phát triển nền nông nghiệp hàng hoá lớn, khác hẳn thời kỳ trước đổi mới Trong nhiều năm
Trang 12
liền tốc độ tăng trưởng nông, lâm, thuỷ sản được duy trì và phát triển với giá trị gia tăng
đạt bình quân 3,71%/năm, giá trị tổng sản lượng tăng bình quân 5,24%/năm
Theo số liệu thống kê, đến năm 2008, tổng sản lượng cây có hạt đạt 43,258 triệu tấn (tăng gần 10 triệu tấn so với năm 2000) Giá trị sản xuất nông nghiệp năm 2008 theo giá so với năm 1994 là 156 6819 tỉ đồng1 Bình quân lương thực đầu người đạt 470 kg, an ninh lương thực được đảm bảo; mỗi năm nước ta xuất khẩu trên 4 triệu tấn gạo, với kim ngạch
trên 1 tỉ USD, cao hơn giai đoạn 1996 - 2000 là 13,8% về lượng và 14,4% về giá trị Về
chăn nuôi: Chăn nuôi vẫn phát triển với tốc độ khá cao 7 – 8%/năm Sản lượng thịt hơi
năm 2007 đạt 4,6 triệu tấn, tăng 22% so với năm 2000 Sản xuất thức ăn công nghiệp tăng
mạnh, đến nay có 241 nhà máy, tổng công suất 7,8 triệu tấn, tăng hơn 38% so với năm
2001.Chăn nuôi công nghiệp theo mô hình gia trại, trang trại đang thay thế dần chăn nuôi nhỏ lẻ ở từng hộ gia đình Nhiều mặt hàng nông sản xuất khẩu của Việt Nam hiện đã đứng hàng nhất, nhì thế giới, trong đó hạt tiêu thứ nhất, gạo, cà phê thứ 2, hạt điều, cao su tự nhiên thứ 3, thuỷ sản đạt kim ngạch trên 3,363 tỷ USD năm 2006, nhiều loại nông sản xuất khẩu được các trường khó tính như Bắc Mỹ, EU, Nhật Bản, Singapore chấp nhận Năm
2006, lượng gạo thơm Việt Nam xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản đã tăng gấp hơn 2 lần năm 2005 Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản năm 2009 ước tăng 3% so với năm 2008; trong đó, nông nghiệp tăng 2,2%, lâm nghiệp tăng 3,8%, thủy sản tăng 5,4% Tổng sản lượng lương thực có hạt ước đạt 43,33 triệu tấn, tăng 24 nghìn tấn (0,1%) so với năm 2008; trong đó sản lượng lúa đạt 38,9 triệu tấn, vượt mức kỷ lục của năm 2008 là 0,4%; chủ yếu do tăng diện tích gần 40 nghìn ha Diện tích rừng trồng mới tập trung, năm
2009 ước đạt 212 nghìn ha, tăng 12 nghìn ha (5,9%) so với năm 20082
Ngành thuỷ sản tăng trưởng với tốc độ cao 8 - 12%/năm Năm 2008 diện tích nuôi
trồng thuỷ sản cả nước đạt 1052,6 nghìn ha, tăng 4113 nghìn ha so với năm 2000; bình quân mỗi năm mở thêm 74 nghìn ha Tổng sản lượng thủy sản năm 2009 tăng 5,3% so với năm 2008; trong đó đánh bắt tăng 6,6% và nuôi trồng tăng 4,2% Tốc độ tăng trưởng sản lượng thủy sản đánh bắt tăng nhanh so với các năm trước do thời tiết thuận lợi và thị trường tiêu thụ khá ổn định4 Giá trị sản xuất thuỷ sản tăng nhanh, năm 2008 đạt 115 527
tỷ đồng (tăng hơn 4 lần so với năm 2000),
Trang 13
Theo Tổng cục Thống kê, tổng diện tích có rừng đến 31/12/2008 là 13118,8 ngàn
ha, trong đó rừng tự nhiên chiếm 10348,6 ngàn ha, rừng trồng 2770,2 ngàn ha1 Dự án
trồng mới 5 triệu ha rừng tiếp tục được quan tâm thực hiện Bước đầu ngăn chặn được tình
trạng phá rừng trái phép Chất lượng rừng được nâng lên, tỉ lệ che phủ rừng năm 2006 đạt 38%, năm 2008 là 38,7% Cùng với việc giao rừng, khoán bảo vệ rừng, nhiều nơi đã khai thác kinh doanh tổng hợp (du lịch sinh thái), phát triển chế biến lâm sản, tạo nhiều việc làm mới và tăng thu nhập cho người làm rừng
Quan hệ sản xuất trong nông nghiệp đã chuyển mạnh theo hướng phát triển kinh tế
hộ và trang trại phù hợp với yêu cầu giải phóng sức sản xuất, thích ứng với cơ chế thị trường Năm 2006 cả nước có trên 113,7 nghìn trang trại hoạt động trong các lĩnh vực trồng trọt chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản, kinh doanh lâm nghiệp Các trang trại là đơn vị sản xuất nông sản hàng hoá lớn cung cấp cho thị trường trong nước và xuất khẩu Do đó,
cơ cấu nông nghiệp đã có sự chuyển dịch theo hướng phát triển các cây trồng, vật nuôi có thị trường, có năng suất, chất lượng và hiệu quả cao hơn Trong cơ cấu nông, lâm, thuỷ sản, giá trị gia tăng ngành trồng trọt giảm từ 69% năm 2000 xuống 63% năm 2007, tương ứng giá trị gia tăng chăn nuôi, thuỷ sản tăng từ 22% lên 25% Trong trồng trọt, tỉ lệ đóng góp của hoa màu, cây công nghiệp và cây ăn quả tăng lên
Việc áp dụng và chuyển giao khoa học công nghệ phục vụ sản xuất nông nghiệp có
tiến bộ đáng kể: Khoa học kỹ thuật phục vụ nông nghiệp đã đáp ứng khá đầy đủ các yêu
cầu của nền nông nghiệp hàng hoá gắn với xuất khẩu Công nghệ sinh học, tưới tiêu, làm đất, phân bón, bảo quản sau thu hoạch ngày càng tiến bộ và đã góp phần tích cực vào thâm canh tăng năng suất cây trồng, vật nuôi theo yêu cầu thị trường Năng suất lúa của Việt Nam những năm gần đây đã gấp 2 lần của Thái Lan, Philippines và vượt cả Indonesia nhờ ứng dụng công nghệ sinh học và phân bón Tỷ lệ đất nông nghiệp được tưới tiêu của Việt Nam cao hơn nhiều so với Thái Lan và Philippines2
Trong trồng trọt và chăn nuôi: việc áp dụng giống mới và các quy trình canh tác
tiên tiến, chương trình "3 giảm, 3 tăng", IPM, GAP được đẩy mạnh Bên cạnh đó, giống mới, thức ăn công nghiệp và phương pháp chăn nuôi kiểu công nghiệp, bán công nghiệp,
an toàn sinh học được phổ biến ngày càng rộng hơn Trong thuỷ sản, công nghệ sinh sản
nhân tạo một số loài thuỷ sản có giá trị kinh tế cao là những biểu hiện của cuộc cách mạng
Trang 14
thực sự trong nuôi trồng thuỷ sản Công nghệ mới được áp dụng trong các nghề khai thác như đánh bắt cá ngừ, câu cá mực, điều chỉnh kích thước mắt lưới trong khai thác để bảo vệ nguồn lợi; áp dụng công nghệ làm lạnh nước biển để bảo quản cá, tôm và các sản phẩm khai thác sau thu hoạch
Trong lâm nghiệp, nhiều tiến bộ khoa học kỹ thuật mới, nhất là trong tuyển chọn,
tạo giống mới, nhân nhanh giống bằng công nghệ mô, hom được đưa vào sản xuất, góp phần cải thiện năng suất, chất lượng rừng Hiện nay, nhiều diện tích rừng kinh tế được trồng bằng giống mới Tỉ lệ rừng trồng tăng từ 50% bình quân vào những năm 1990 lên trên 80%
Trong chế biến nông, lâm, thuỷ sản, ngoài việc chủ động đổi mới công nghệ, thiết
bị, đa dạng hoá sản phẩm, còn tăng cường việc kiểm tra, kiểm soát vệ sinh an toàn thực phẩm tại vùng nguyên liệu và các cơ sở sơ chế, bảo đảm chất lượng nguyên liệu và sản
phẩm, đáp ứng nhu cầu thị trường trong nước và xuất khẩu Trong thuỷ lợi, nhiều công nghệ mới được áp dụng trong xây dựng và quản lý, như công nghệ bê tông đầm lăn, kè bản
nhựa, van nhựa tổng hợp, đập xà lan di động, đập cao su, bơm di động trên ray, công nghệ
điều khiển từ xa trong quản lý, điều hành các công trình thuỷ lợi
Cơ khí hoá nông nghiệp có bước tiến bộ: Đến năm 2007, nhiều khâu trong sản xuất
nông nghiệp đạt tỉ lệ cơ giới hoá cao, như: làm đất đạt 70%, tưới tiêu nước 85%, tuốt lúa
83,6%; xay xát lúa gạo đạt 95%; phát triển mạnh máy gặt đập liên hợp phục vụ thu hoạch lúa ở đồng bằng sông Cửu Long (trong năm 2005, 2006 tăng trên 10%) Tổng công suất tàu, thuyền đánh bắt thuỷ sản năm 2006 đạt 5,8 triệu CV; công suất trung bình máy tàu tăng từ 17,5 CV/tàu (năm 1990) lên 60,6 CV/tàu (năm 2006)
Năng suất và giá trị sản xuất trong nông nghiệp tăng nhanh: Do được ứng dụng
khoa học kỹ thuật và công nghệ mới, trực tiếp là giống cây trồng, vật nuôi, nên hầu hết các cây trồng, vật nuôi đều đạt năng suất và chất lượng cao hơn các năm trước Giá trị sản xuất trên một đơn vị diện tích canh tác ngày càng tăng Nếu năm 2002 giá trị sản xuất theo giá thực tế đạt trên 17 triệu đồng/ha, năm 2007 đạt 29,2 triệu đồng/ha/năm (tăng gần gấp đôi); vùng đồng bằng sông Hồng đạt mức cao nhất (38,5 triệu đồng/ha, tăng 35%), thấp nhất là vùng Tây Bắc (đạt 10,6 triệu đồng/ha, tăng 19% so với năm 2002) Xuất hiện nhiều cánh đồng đạt 50 triệu đồng/ha/năm, một số huyện đạt trên 50 triệu đồng Ví dụ trồng cà rốt ở một số huyện của tỉnh Bắc Ninh trên 100 triệu/ha; một số tỉnh đạt bình quân trên 40 triệu đồng/ha như Hải Dương, An Giang
Trang 15
Tỉ suất hàng hoá và xuất khẩu tăng nhanh: Sự chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp đã
làm tăng nhanh tỉ trọng sản phẩm hàng hoá (gạo 20%, cà phê 95%, cao su 85%, chè 75%, hạt điều 90%, hồ tiêu 98%) Giá trị xuất khẩu các loại nông, lâm sản tăng nhanh, bình quân 16,85%/năm, một số có vị thế quan trọng trên thị trường thế giới như: gạo, cao su, cà phê,
hồ tiêu, hạt điều, sản phẩm đồ gỗ, thuỷ sản Riêng năm 2007, tổng kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thuỷ sản đạt 12,5 tỉ USD Đến nay đã có 5 mặt hàng xuất khẩu đạt mức trên 1 tỉ USD/năm là thuỷ sản, cà phê, gạo, cao su, đồ gỗ
Thị trường xuất khẩu mở rộng, tốc độ tăng trưởng xuất khẩu nông sản tăng cao cả
về lượng và giá Theo các cam kết của WTO về mở cửa thị trường, xuất khẩu nông sản theo hướng tăng chất lượng, đảm bảo an toàn thực phẩm đi đôi với xoá dần sự bảo hộ của Nhà nước về xuất khẩu các mặt hàng này đã được thực hiện khá tốt trên phạm vi toàn ngành từ sản xuất đến chế biến và tiêu thụ nông sản Nhiều mặt hàng nông sản xuất khẩu,
đã đứng vững trên thị trường cũ đồng thời mở rộng vào các thị trường mới để góp phần giải quyết đầu ra cho nông sản hàng hoá bằng đẩy mạnh xuất khẩu Các mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ lực không chỉ giữ vững vị trí hàng nhất, nhì thế giới về số lượng mà bước đầu vươn tới cả chất lượng, giá cả và vệ sinh an toàn thực phẩm
Thứ hai, hình thức tổ chức sản xuất ở nông nghiệp, nông thôn được đổi mới, từng bước
thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động trong nông thôn
Về tổ chức sản xuất: Kinh tế hộ tiếp tục phát triển theo hướng mở rộng quy mô sản
xuất Đến năm 2006 cả nước có 10,46 triệu hộ nông, lâm nghiệp và thuỷ sản (giảm 766
nghìn hộ, giảm 6,8% so với năm 2001) Về quy mô sử dụng đất, bình quân một hộ nông nghiệp sử dụng 0,63 ha đất sản xuất nông nghiệp (tăng 12% so với năm 2001); 1 hộ thuỷ sản sử dụng 0,66 ha đất nuôi trồng thuỷ sản (tăng 16% so với năm 2001) Thực hiện "dồn điền đổi thửa", số thửa bình quân/hộ giảm, nhiều nơi giảm còn 4 - 5 thửa Nhiều hộ có kinh nghiệm và sản xuất nông nghiệp có lãi đã thuê, mượn thêm đất sản xuất Năm 2007
có 19% hộ thuê, mượn đất so với 3,6% năm 2004
Kinh tế trang trại phát triển theo hướng đa dạng và hiệu quả hơn: Đến cuối năm
2008 cả nước có 120699 trang trại so với 57069 năm 20001; trong đó, đồng bằng sông Cửu Long chiếm 50%; hai vùng Tây Nguyên và Đông Nam Bộ chiếm 20,4% số trang trại cả
nước Xu hướng từ năm 2001 đến nay tăng mạnh trang trại chăn nuôi, thuỷ sản và sản xuất
kinh doanh tổng hợp Quy mô trang trại ngày càng mở rộng, góp phần tích cực vào chuyển đổi cơ cấu sản xuất; là mô hình sản xuất hàng hoá có hiệu quả, góp phần tạo việc làm và tăng thu nhập cho lao động nông thôn
1
http://www gso gov vn/default aspx?tabid=430
Trang 16
Kinh tế hợp tác có chuyển biến tích cực: Về tổ hợp tác, cả nước hiện có 837 500 tổ
hợp tác, đáp ứng một phần nhu cầu dịch vụ sản xuất và tiêu thụ sản phẩm cho nông dân Nhiều tổ hợp tác mới được thành lập ở các vùng, nhất là vùng đồng bằng sông Cửu Long Một số tổ hợp tác đã huy động được vốn của các thành viên tham gia xây dựng hạ tầng (nhất là thuỷ lợi), mua sắm máy móc, thiết bị làm dịch vụ sản xuất cho hộ thành viên và
nông dân trong vùng Hợp tác xã nông nghiệp, đã cơ bản chuyển đổi các hợp tác xã có
trước đây và phát triển một số hợp tác xã mới theo Luật Hợp tác xã Thống kê năm 2008,
cả nước 7592 hợp tác xã nông, lâm, ngư nghiệp Các hợp tác xã nông nghiệp đã chú trọng
đa dạng hoá các hoạt động dịch vụ cho kinh tế hộ và phát triển một số loại hình kinh doanh Hiệu quả sản xuất kinh doanh của nhiều hợp tác xã đã có tiến bộ rõ nét so với năm
2000 Năm 2005 có 88,77% số hợp tác xã nông nghiệp hoạt động có lãi (năm 2000 là
66,6%) Lợi nhuận thuần từ hoạt động dịch vụ sản xuất bình quân 1 hợp tác xã nông nghiệp đạt 41,4 triệu đồng, tăng 39,4% so với năm 2000
Những kết quả nêu trên, là kết quả của việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, lao động trong nông nghiệp theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 5 khoá IX về đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn Năm 2007 trong cơ cấu kinh tế chung của cả nước, công nghiệp và dịch vụ chiếm gần 80%, riêng ở khu vực nông thôn chiếm khoảng 60% Ở nhiều địa phương thuần nông trước đây, cơ cấu kinh tế đã có sự chuyển dịch khá nhanh theo hướng công nghiệp hoá, tỉ trọng khu vực công nghiệp, dịch vụ trong GDP ngày càng tăng Tỉ trọng giá trị sản xuất công nghiệp khu vực nông thôn tăng từ 17,34% năm 2001 lên 19,3% năm 2007 Số lượng các cơ sở sản xuất công nghiệp nông thôn tăng từ 4.574 cơ sở năm 2001 lên 11.238 cơ sở năm 2005 (tăng gấp 2,5 lần) Đã hình thành và phát triển nhiều khu công nghiệp, cụm công nghiệp, dịch vụ, cụm công nghiệp, làng nghề ở nông thôn
Chuyển dịch cơ cấu hộ nông thôn thời kỳ 2001 - 2006 nhanh và rõ hơn so với trước Tỉ
lệ hộ nông, lâm nghiệp, thuỷ sản giảm 9,87%, tỉ lệ hộ công nghiệp và dịch vụ tăng lên 8,78%;
trong đó, đồng bằng sông Hồng chuyển dịch nhanh nhất, tiếp đó là vùng Đông Nam Bộ Năm
2007, số hộ công nghiệp và dịch vụ trên địa bàn nông thôn có 3,46 triệu hộ, tăng 62% so với năm 2000 Tổng lao động đang làm việc ở khu vực nông thôn hiện chiếm 75% lao động cả nước, trong đó số đang làm việc trong các ngành nông, lâm, ngư, diêm nghiệp và thuỷ sản là 25,3 triệu người, chiếm 55,7% tổng lao động xã hội; hàng năm số lao động chuyển sang làm các ngành nghề phi nông nghiệp khoảng 22 - 25 vạn lao động
Thứ ba, kết cấu hạ tầng KT-XH nông thôn được tăng cường
Trang 17
Về thuỷ lợi: đã xây dựng được nhiều hồ chứa kết hợp thuỷ điện, nhất là vùng miền
Trung và Tây Nguyên Trong giai đoạn 2001 - 2005, năng lực tưới đã tăng thêm 575 ngàn
ha, năng lực tiêu tăng thêm 235 ngàn ha Đã kiên cố hoá trên 15 000 km kênh mương Thanh Hoá, Nghệ An, Tuyên Quang, Sơn La… là những địa phương thực hiện tốt chương trình kiên cố hoá kênh mương theo phương châm: “Trung ương, địa phương; nhà nước và
nhân dân cùng làm” Năng lực quản lý vận hành hệ thống thuỷ lợi được củng cố và tăng
cường Hệ thống thuỷ lợi cả nước được vận hành do 100 công ty thuỷ nông với tổng số 22.569 cán bộ, công nhân viên và 12.000 hợp tác xã, tổ hợp tác Vùng ven biển đã tăng cường xây dựng hệ thống các cống đập ngăn mặn, giữ ngọt, nhiều công trình đã đưa vào
sử dụng và phát huy tác dụng Vùng đồng bằng sông Cửu Long tập trung thực hiện chương trình kiểm soát lũ, phát triển thuỷ lợi, giao thông và dân cư Bước đầu thực hiện các công trình thuỷ lợi ven biển phục vụ nuôi trồng thuỷ sản, gắn ngọt hoá với việc nuôi trồng thuỷ sản nước mặn, nước lợ và tận dụng, khai thác thuỷ sản mùa lũ Về hệ thống đê, từ năm
2000 đến nay đã tập trung thực hiện tu bổ, củng cố đê biển, đê sông từ cấp III trở lên; cứng hoá mặt đê kết hợp giao thông và phòng chống lũ; trồng tre chắn sóng bảo vệ đê
Về giao thông nông thôn: Với phương châm "Nhà nước và nhân dân cùng làm",
giao thông nông thôn có bước phát triển cả về số lượng và chất lượng Ngoài việc phát triển hệ thống đường giao thông nông thôn, các địa phương đã tích cực huy động các nguồn lực tham gia xây dựng các cống qua đường, nâng cấp và xã hội hoá hệ thống đường nội bộ xã, liên thôn, xoá cầu khỉ ở đồng bằng sông Cửu Long Đến năm 2007 cả nước có
8790 xã có đường ô tô đến được trụ sở UBND xã, chiếm 96,9% tổng số xã (năm 1994 là 87,9% và năm 2001 là 94,2%); trong đó, có 8488 xã (chiếm 96,6%) có đường ô tô đi lại được quanh năm, và có 6356 xã (chiếm 70%)… góp phần thu hút các nhà đầu tư về nông thôn, tạo công ăn việc làm, xoá đói, giảm nghèo và giải quyết nhiều vấn đề kinh tế, xã hội khác
Điện nông thôn: Đến cuối năm 2006, mạng lưới quốc gia đã cấp điện cho 525/536
huyện, đạt 97,95%; 10 522 xã, phường đạt 96,8% và 93,34% số hộ, trong đó hầu hết các
xã có giá điện lưới thấp hơn 700 đồng/kwh Năm 2007 có tới 98,9% số xã, 92,4% số thôn
có điện (trong đó 87,8% số thôn có điện lưới quốc gia) và tỷ lệ hộ nông thôn sử dụng điện
Trang 18
Nhà ở nông thôn: Cùng với kinh tế phát triển, những năm qua nhà ở nông thôn đã
được đầu tư xây dựng mới một cách nhanh chóng Đến nay, đã có 16% hộ có nhà kiên cố, 57,6% nhà bán kiên cố; nhiều xã, thôn ở nông thôn vùng đồng bằng Bắc Bộ, vùng miền
Trung đã cơ bản hoàn thành việc "xoá" nhà tranh tre, nứa lá; vùng đồng bằng sông Cừu
Long cơ bản hoàn thành việc "xoá" nhà tạm, nhà dột nát nhiều huyện, xã ở miền Bắc và miền Trung đã cơ bản "ngói hoá" nhà ở Riêng vùng đồng bằng sông Cửu Long đến nay đã xây dựng trên 1.100 cụm, tuyến dân cư, bố trí được 108 ngàn hộ dân có nơi cư trú an toàn trong mùa lũ
Trường học, lớp học: Hệ thống trường học các cấp ở nông thôn tiếp tục được mở rộng
và phát triển, đến năm 2007 có 88,3% số xã có trường mẫu giáo/mầm non, 99,3% số xã có trường tiểu học, 90,8% số xã có trường trung học cơ sở (năm 1994 là 76,6%, năm 2001 là 84,4%), 10,8% số xã có trường trung học phổ thông (năm 1994 là 7%, năm 2001 là 8,5%) Điểm tiến bộ về giáo dục tiểu học là số trường bình quân 1 xã 1,44 trường Việc mở thêm các điểm trường ở các thôn, đã tạo điều kiện thuận lợi để học sinh không phải đi học xa, giảm được tình trạng học sinh bỏ học Các cơ sở nhà trẻ, mẫu giáo phát triển, mở rộng đến cấp thôn, đến nay có 54,5% số thôn có lớp mẫu giáo, 16,1% số thôn có nhà trẻ1
Trạm y tế: Đến năm 2007, có 9013 xã có trạm y tế, chiếm 99,3% tổng số xã và tăng
128 xã so với năm 2001.Bình quân 1 trạm y tế xã có 0,63 bác sỹ và 1 vạn dân có 1 bác sỹ (năm 2001 các con số tương ứng là 0,51 và 0,8) Khu vực nông thôn có 3964 trạm y tế xã, chiếm 44%, đó được xây dựng kiên cố2
Văn hoá, thể thao: Việc phát triển cơ sở hạ tầng văn hoá, thể thao đã được quan tâm
hơn Tới năm 2006, đã có 30,6% số xã có nhà văn hoá; 9,7% xã có thư viện; 43,8% thôn
có nhà sinh hoạt cộng đồng và 57,6% xã có trụ sở kiên cố Đồng thời 85,5% xã có điểm bưu điện văn hoá Nhiều xã đã bố trí đất làm sân vận động, nơi luyện tập thể thao cho thanh thiếu niên
Thông tin liên lạc: Ngành Bưu chính - Viễn thông đã phát triển được hơn 11.000
điểm phục vụ thông tin liên lạc; trong đó có 2.390 bưu cục đảm bảo 91% xã được chuyển phát báo chí đến trong ngày Đến năm 2007, khu vực nông thôn có 7757 xã, chiếm 85,5%
số xã có điểm bưu điện văn hoá (năm 2001 là 71,9%) Tỷ lệ xã có điểm bưu điện văn hoá được nối mạng internet đạt 20,7% Ngoài ra khu vực nông thôn còn có 2022 xã, chiếm 22,3%, có trạm bưu điện xã Cả hai loại hình điểm bưu điện văn hoá xã và trạm bưu điện
Trang 19
xã về cơ bản đã đáp ứng được nhu cầu thông tin liên lạc ở khu vực nông thôn Những năm gần đây trên địa bàn xã phát triển nhanh các điểm dịch vụ internet tư nhân phục vụ nhu cầu truy cập thông tin của nhân dân, đến năm 2007 đó có 2952 xã (chiếm 32,5%), với 7752 điểm internet tư nhân, bình quân 1 xã có 0,85 điểm Số hộ có máy điện thoại (cố định/di động) là 2,924 triệu hộ, chiếm 21,2% số hộ, tăng 15,9% so năm 2001; bình quân cứ 4,7 hộ thì có 1 hộ có máy điện thoại
Nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn: Đến năm 2007 có 70% dân cư nông
thôn có nước sinh hoạt hợp vệ sinh (trong đó khoảng 30% người dân được dùng nước đạt tiêu chuẩn 09 của Bộ Y tế); 12% số xã có hệ thống thoát nước thải chung; 28% xã có tổ chức thu gom rác thải và 51% người dân nông thôn sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh
Thứ tư, về thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở
Đến năm 2007, có 100% xã, thị trấn; 97% cơ quan hành chính và 88% doanh nghiệp nhà nước đã triển khai và thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở theo tinh thần các nghị quyết của Trung ương Chủ trương "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra" được tổ chức khá đa dạng, với nhiều hình thức phong phú, công khai, minh bạch ở nông thôn, trong đó tập trung trên một số mặt như: công tác quy hoạch, giải phóng mặt bằng, xây dựng cơ sở
hạ tầng; chuyển dịch cơ cấu sản xuất; huy động sự đóng góp của người dân; hỗ trợ nhân dân khi bị lũ lụt bão, tai nạn; phát triển văn hoá, tinh thần của người dân ở nông thôn Do
đó, đã bước đầu phát huy sức sáng tạo, động viên sức mạnh vật chất và tinh thần của nhân dân trong phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn, từng bước cải thiện đời sống, nâng cao dân trí, ổn định chính trị, tăng cường đoàn kết, xây dựng đảng bộ, chính quyền và các đoàn thể ở cơ sở trong sạch, vững mạnh; ngăn chặn và khắc phục tình trạng suy thoái, quan liêu, tham nhũng của một bộ phận cán bộ, đảng viên và các tệ nạn xã hội
Việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở ngày càng đi vào chất lượng, góp phần quan trọng làm chuyển biến phương thức lãnh đạo, công tác điều hành, quản1ý và lề lối làm việc của các cấp uỷ đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân; nâng cao thêm tinh thần trách nhiệm của cán bộ, đảng viên, công chức trên địa bàn; tạo dựng bầu không khí dân chủ, cởi mở và tăng cường sự đồng thuận trong xã hội
Thứ năm, về an ninh, trật tự ở nông thôn: Mặc dù tình hình chính trị trên thế giới và
khu vực có những diễn biến phức tạp; kinh tế nông nghiệp, nông thôn còn những khó khăn, xã hội có những bức xúc, nhưng nhìn chung tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn nông thôn vẫn được giữ vững Nông dân tham gia tích cực trong việc vừa đẩy mạnh phát triển kinh tế, vừa phối hợp với các lực lượng làm nhiệm vụ bảo vệ trật tự an ninh trên địa bàn, ngăn chặn và đấu tranh có hiệu quả các hành động phá hoại sản
Trang 20Thứ sáu, đời sống vật chất, tinh thần của người dân ở hầu hết các vùng nông thôn
ngày càng được cải thiện; xoá đói, giảm nghèo đạt thành tựu lớn
Do sản xuất phát triển, thu nhập tăng, đời sống nông dân ở đa số các vùng được cải thiện rõ rệt Từ năm 1996 đến nay, thu nhập bình quân đầu người ở nông thôn tăng lên hơn 2,7 lần (năm 2006, bình quân đạt 6,1 triệu đồng/người, theo giá hiện hành); thu nhập bình quân 1 hộ nông thôn đạt 26,1 triệu đồng, tăng 11,3 triệu đồng (tăng 75,8% so với năm 2002) Nhờ thu nhập của hộ nông dân tăng, nên vốn tích luỹ trong dân tăng khá; năm 2006 vốn tích luỹ bình quân 1 hộ nông thôn là 6,7 triệu đồng (tăng 3,5 triệu đồng, gấp 2,1 lần so với năm 2001)
Nông nghiệp vẫn là nguồn thu lớn nhất của hộ gia đình ở nông thôn; năm 2006 có đến 68% hộ ở nông thôn dựa chủ yếu vào sản xuất nông, lâm, thuỷ sản, tiếp đến là các hộ
làm dịch vụ và công nghiệp, xây dựng, tương ứng là 15% và 11% Nhờ thu nhập của người
dân tăng nên điều kiện sinh hoạt của hộ nông thôn ngày càng được cải thiện, nhất là về nhà
ở, mua sắm vật dụng lâu bền, phương tiện đi lại và các vật dụng đắt tiền
Chiến lược xoá đói, giảm nghèo được thực hiện từ những năm 2000, thông qua
nhiều chính sách và các chương trình cụ thể Đến nay, về cơ bản, nước ta đã xoá được đói
Công tác giảm nghèo được tập trung đẩy mạnh, hướng vào các đối tượng khó khăn, vùng sâu, vùng xa, đồng bào dân tộc thiểu số Tỉ lệ hộ nghèo ở khu vực nông thôn giảm nhanh,
từ 66,4% năm 1993, 45,5% năm 1998, 35,6% năm 2002, 27,5% năm 2004 xuống còn 18% năm 2007, mặc dù chuẩn nghèo đã tăng lên Xoá đói, giảm nghèo nhanh là thành tựu lớn của nước ta được cộng đồng quốc tế đánh giá cao Do đa số người nghèo sống ở nông thôn nên phát triển nông nghiệp có giai đoạn đã đóng góp tới 80% thu nhập tăng thêm giúp các
hộ thoát nghèo
Thực hiện chủ trương xã hội hoá, cùng với việc mở mang mạng lưới y tế công, hệ thống khám, chữa bệnh tư nhân được hình thành và phát triển, góp phần quan trọng vào chăm sóc sức khoẻ cộng đồng Hầu hết các xã có sổ khám bệnh cho người nghèo, nhiều bệnh dịch được phát hiện và khống chế kịp thời Năm 2006, tỉ lệ người được khám, chữa bệnh là 38,1% (cao gấp 2,07 lần năm 2002); có 51,6% cư dân nông thôn có bảo hiểm y tế
Trang 21
Nhà nước đã chú trọng đầu tư nâng cấp hệ thống trường học các cấp ở nông thôn và
đã đạt được những kết quả đáng khích lệ Số người 10 tuổi trở lên biết chữ tăng từ 90,9%
năm 2002 lên 92% năm 2006 Từ năm 2007 Nhà nước đã có chính sách cho con em các hộ nghèo, hộ chính sách được miễn giảm học phí, được vay vốn với lãi suất ưu đãi để học tập Các hoạt động văn hoá, văn nghệ, thông tin, thể dục, thể thao được tăng cường, nâng cao mức hưởng thụ về văn hoá cho nhân dân
Phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá" khơi dậy tinh thần đoàn kết ở cộng đồng dân cư, bước đầu đã có tác động hiệu quả đến xây dựng đời sống văn hoá
ở vùng nông thôn Gia đình văn hoá, làng văn hoá được công nhận đảm bảo chất lượng đã
có tác động tích cực đến việc xây dựng nông dân về tư tưởng, đạo đức, lối sống, nếp sống; tạo ra bộ mặt nông thôn mới, ổn định về chính trị, từng bước phát triển về kinh tế - văn hoá
- xã hội Nhiều hình thức văn hoá dân gian truyền thống được duy trì, phục dựng, góp phần bảo tồn và phát huy văn hoá truyền thống của các dân tộc ở cộng đồng nông thôn, miền núi, vùng đồng bào dân tộc Đến năm 2006, đã có trên 70% khu dân cư thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội
1.1.2 Những khuyết điểm, yếu kém
Bên cạnh những thành tựu nêu trên, nông nghiệp, nông thôn, nông dân vẫn còn những yếu kém, khuyết điểm Nghị quyết Trung ương bảy khóa X khẳng định: “những thành tựu đạt được chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế và chưa đồng đều giữa các vùng Nông nghiệp phát triển còn kém bền vững, tốc độ tăng trưởng có xu hướng giảm dần, sức cạnh tranh thấp, chưa phát huy tốt nguồn lực cho phát triển sản xuất; nghiên cứu, chuyển giao khoa học - công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực còn hạn chế Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế và đổi mới cách thức sản xuất trong nông nghiệp còn chậm, phổ biến vẫn là sản xuất nhỏ, phân tán; năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng nhiều mặt hàng thấp Công nghiệp, dịch vụ và ngành nghề phát triển chậm, chưa thúc đẩy mạnh mẽ chuyển dịch
cơ cấu kinh tế và lao động ở nông thôn Các hình thức tổ chức sản xuất chậm đổi mới, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển mạnh sản xuất hàng hoá Nông nghiệp và nông thôn phát triển thiếu quy hoạch, kết cấu hạ tầng KT-XH còn yếu kém, môi trường ngày càng ô nhiễm; năng lực thích ứng, đối phó với thiên tai còn nhiều hạn chế Đời sống vật chất và tinh thần của người dân nông thôn còn thấp, tỉ lệ hộ nghèo cao, nhất là vùng đồng bào dân tộc, vùng sâu, vùng xa; chênh lệch giàu, nghèo giữa nông thôn và thành thị, giữa các vùng còn lớn, phát sinh nhiều vấn đề xã hội bức xúc”1 Cụ thể:
1
Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008, tr 122-123
Trang 22
Thứ nhất, nông nghiệp phát triển kém bền vững, tốc độ tăng trưởng có xu hướng
giảm dần, sức cạnh tranh thấp, chưa phát huy tốt các tiềm năng và nguồn lực, chuyển dịch
cơ cấu và đổi mới cách thức sản xuất còn chậm, phổ biến vẫn là sản xuất nhỏ, phân tán; năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng nhiều loại nông sản thấp
Tốc độ tăng giá trị gia tăng bình quân nông, lâm, thuỷ sản giảm từ 4,42% (giai đoạn
1996 - 2000), 3,83% (giai đoạn 2001 - 2005) xuống còn 3,55% vào các năm 2006, 2007;
tương ứng tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất giảm từ 7,87%, 5,44% xuống còn 4,78% Nguyên nhân chính của tình trạng trên là do các nguồn lực chính để phát triển nông nghiệp
bị suy giảm, bao gồm đất đai, lao động và đầu tư, trong khi khoa học công nghệ chậm phát huy tác dụng cao để tăng năng suất lao động; thiên tai, dịch bệnh xảy ra nhiều và gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới sản xuất
Cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm, trong nông nghiệp, ngành trồng trọt vẫn chiếm tỉ
trọng lớn (chiếm trên 57% giá trị sản lượng); tỉ trọng của lâm nghiệp còn rất thấp, kể cả ở
các vùng trung du, miền núi; chăn nuôi, thuỷ sản phát triển kém ổn định Giá trị thu được trên đơn vị diện tích canh tác bình quân mới đạt 29,2 triệu đồng/ha, trong đó thấp nhất là vùng Tây Bắc chỉ đạt 10,9 triệu đồng/ha
Cách thức sản xuất trong nhiều lĩnh vực nông - lâm - ngư nghiệp chậm được đổi mới theo hướng hiện đại, phổ biến tình trạng sản xuất nhỏ, phân tán, nổi bật nhất là trong sản xuất rau, quả, chăn nuôi, đánh bắt và nuôi trồng thuỷ sản Việc xây dựng các vùng nguyên liệu lớn, tập trung cho chế biến công nghiệp tiến hành chậm Mô hình chăn nuôi công nghiệp phát triển chưa mạnh Do cách thức sản xuất lạc hậu, hệ thống phòng chống còn yếu, giao lưu kinh tế gia tăng nên trong những năm gần đây dịch bệnh xảy ra liên tiếp,
đe doạ nghiêm trọng sự phát triển nông nghiệp (năm 2003 - 2004 và năm 2007, dịch cúm gia cầm đã gây thiệt hại cho nền kinh tế khoảng 0,5% GDP; năm 2006, dịch rầy nâu và bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá làm mất đi gần 1 triệu tấn lúa ở đồng bằng sông Cửu Long )
Việc ứng dụng khoa học, công nghệ tuy đã có bước tiến bộ, nhưng đa số năng suất cây trồng, vật nuôi còn thấp, chậm được cải thiện về chất lượng nên khó cạnh tranh với các sản phẩm cùng loại của các nước Ở miền Bắc 85% giống lúa có nguồn gốc từ Trung Quốc Nhiều loại cây ăn quả của nước ta thua kém về chất lượng so với Thái Lan Phần lớn nông sản xuất khẩu ở dạng sơ chế, sản phẩm có giá trị gia tăng rất thấp; chưa có
thương hiệu, mẫu mã, bao bì chưa phù hợp Chỉ số cạnh tranh của các ngành hàng nông,
lâm, thuỷ sản chỉ ở mức trung bình hoặc dưới trung bình của thế giới (hồ tiêu 68,7; cao su
58,5; điều 51,9; chè 47,4; rau quả 47,1; lâm sản 44,6; cà phê 43,4; lương thực 42,9; chăn
nuôi 40)
Trang 23
Mặt khác, vệ sinh an toàn thực phẩm chưa được kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ, nạn bơm chích tạp chất vào nguyên liệu thuỷ sản chưa được ngăn chặn có hiệu quả; việc thực hiện các biện pháp để bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm ở nhiều địa phương chưa tốt, đang gây bức xúc cho người tiêu dùng và là thách thức lớn trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
Thứ hai, công nghiệp, dịch vụ nông thôn phát triển chậm, thiếu quy hoạch, quy mô
nhỏ, chưa thúc đẩy mạnh mẽ chuyển dịch cơ cấu kinh tế và lao động ở nông thôn
Nhìn chung các nhà máy, doanh nghiệp công nghiệp mới tập trung ở ven đô thị lớn
và các thị xã, thị trấn, sự phát triển của các doanh nghiệp trên địa bàn nông thôn còn ít và chủ yếu là quy mô nhỏ (trên 70% có vốn dưới 5 tỉ đồng), số doanh nghiệp tham gia chế biến nông, lâm, thuỷ sản còn ít Nhiều doanh nghiệp áp dụng công nghệ mới, hiện đại vào
sản xuất nhưng việc đào tạo lao động có tay nghề còn quá ít nên việc thu hút lao động vốn
là nông dân vào làm việc rất hạn chế (chủ yếu là nông dân bị thu hồi đất sản xuất có độ tuổi dưới 35 tuổi)
Nhiều khu công nghiệp xây dựng ở những vùng nông thôn đã lấy đất nông nghiệp, làm phá vỡ hệ thống thuỷ lợi, gây ô nhiễm nguồn nước và đất ở các khu vực nông nghiệp lân cận, nhưng chỉ có số ít nhà máy phục vụ trực tiếp sản xuất nông nghiệp trong vùng, đóng góp cho ngân sách của xã, huyện, thu hút lao động sở tại Trong khi đó phần lớn
phân bón, máy móc nông nghiệp, thuốc thú y bảo vệ thực vật lại không sản xuất mà vẫn
phải nhập khẩu (năm 2007 nhập khẩu khoảng 5,5 tỉ USD)
Tỉ trọng nông nghiệp trong cơ cấu kinh tế nông thôn còn chiếm hơn 40% so với 20% cơ cấu kinh tế chung của cả nước Nhiều vùng chủ yếu vẫn là sản xuất nông nghiệp
Cơ cấu lao động ở nông thôn chuyền dịch còn khá chậm Trong giai đoạn 2001 - 2006, tỉ lệ lao động nông nghiệp giảm được 10,4% (bình quân 1 năm mới chuyển được gần 2%), lao
động trong nông nghiệp đến năm 2006 vẫn chiếm 55,7% trong tổng số lao động của cả nước Chuyển dịch cơ cấu lao động của cả hai nhóm hộ công nghiệp, xây dựng và dịch vụ cũng không đồng đều giữa các vùng
Do đất đai bình quân thấp, manh mún, lại chưa tạo được nhiều việc làm tại chỗ trong nông thôn nên năng suất lao động và thu nhập của nông dân còn khá thấp, tăng chậm (4,8%/năm) So với các nước trong khu vực và trên thế giới thì năng suất lao động nông nghiệp nước ta còn thấp, chưa bằng 1/2 của Thái Lan, Inđônêxia và Philippin
Thứ ba, các hình thức tổ chức sản xuất đổi mới chậm, chưa đủ sức phát triển mạnh
sản xuất hàng hoá ở nông thôn
Trang 24
Mặc dù Đảng và Nhà nước đã đưa ra nhiều chủ trương và chính sách để thúc đẩy phát triển quan hệ sản xuất ở nông thôn, nhưng quá trình này vẫn diễn ra rất chậm
Kinh tế hộ nhỏ vẫn chiếm vai trò chủ đạo trong nông nghiệp nước ta Tới năm
2007, mặc dù đã bắt đầu giảm xuống, cả nước vẫn có tới 10,46 triệu hộ nông, lâm nghiệp
và thuỷ sản Mặc dù sản xuất hàng hoá trong nông nghiệp đã tăng lên nhanh, nhưng đa số nông hộ sản xuất quy mô nhỏ, 73% hộ có dưới 0,5 ha đất nông nghiệp Các hộ này chủ yếu
sản xuất tự cung, tự cấp, số nông sản hàng hoá bán ra rất ít Hơn nữa ruộng đất lại manh mún nên hiệu quả canh tác không cao Đồng thời, gần 60% hộ lâm nghiệp có dưới 3 ha;
51,3% hộ thuỷ sản có dưới 1 ha mặt nước; đa số gia súc, gia cầm chăn nuôi ở các hộ nên rất kém an toàn dịch bệnh (năm 2006 vẫn có tới 56% hộ nuôi dưới 3 con lợn/hộ)
Trang trại là hình thức sản xuất kinh tế hàng hoá có hiệu quả lớn hơn trong điều kiện hiện nay nhưng chưa được hỗ trợ thiết thực để phát triển (về đất đai, hạ tầng, xử lý dịch bệnh, đào tạo kiến thức ) Các chủ trang trại, gia trại chủ yếu tự mò mẫm sản xuất Kinh tế trang trại mới chỉ chiếm hơn 1% tổng số hộ nông, lâm, ngư nghiệp của cả nước, quy mô nhỏ bé
Trong khi đó, kinh tế tập thể, chủ yếu là các hợp tác xã, tổ hợp tác còn thiếu động lực và chưa có môi trường tốt để phát triển Do vốn ít, hoạt động kinh doanh của nhiều hợp
tác xã chỉ bảo đảm nguyên tắc "thu đủ bù chi" Nhiều hợp tác xã mang tính hình thức, trên
54% số hợp tác xã hoạt động ở mức trung bình và yếu Các mô hình kinh tế tập thể mới còn ít sức thuyết phục đối với nông dân Tổ hợp tác còn ít được quan tâm trong các chính sách, thiếu chặt chẽ trong tổ chức nên gặp nhiều khó khăn trong các giao dịch kinh tế
Đa số các doanh nghiệp nhà nước có quy mô nhỏ nên năng lực hoạt động thấp Hoạt động của nhiều doanh nghiệp kém hiệu quả, 27% làm ăn thua lỗ Các nông, lâm trường chưa có chuyến biến đáng kể Hiện cả nước có 355 lâm trường quốc doanh, quản lý 4,085 triệu ha đất với 20,3 nghìn lao động; 342 nông trường quốc doanh quản lý 526,5 nghìn ha, trong đó có 368,86 nghìn ha đất nông nghiệp với khoảng 227,8 nghìn lao động
Dự kiến sắp xếp lại thành 314 công ty nông nghiệp, 266 lâm trường hoặc công ty lâm nghiệp, 97 ban quản lý rừng, giải thể 29 nông, lâm trường, bàn giao lại cho địa phương
quản lý 757,3 nghìn ha, thực tế hết quý I-2008 mới bàn giao 24.461 ha Nhiều diện tích đất
quản lý thiếu chặt chẽ, sử dụng kém hiệu quả Riêng trong các lâm trường còn khoảng 785 nghìn ha đất quy hoạch phát triển tăng nhưng chưa có rừng
Trang 25
Đầu tư của tư nhân vào nông nghiệp, nông thôn còn rất thấp, chỉ có khoảng 16% đầu tư mới hàng năm của tư nhân trong nước, dưới 5% FDI đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn nên nguồn lực còn rất thiếu để phát triển mạnh mẽ kinh tế nông nghiệp, nông thôn
Thứ tư, nông thôn phát triển thiếu quy hoạch, kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội còn
yếu kém, môi trường ngày càng bị ô nhiễm, năng lực thích ứng, đối phó với thiên tai còn thấp
- Về công tác quy hoạch:
Công tác quy hoạch phát triển KT-XH và hạ tầng cơ sở ở các vùng nông thôn nhìn chung còn nhiều bất cập Nhiều nơi nông dân vẫn lúng túng trong việc lựa chọn cây trồng, vật nuôi, ngành nghề Việc hình thành các vùng sản xuất hàng hoá tập trung gắn với chế biến và xuất khẩu còn nhiều hạn chế
Quy hoạch phát triển công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn nhiều nơi còn thiếu thận trọng, đất trồng cây lương thực bị thu hẹp nhanh, có nguy cơ suy giảm nghiêm trọng Quy
hoạch xây dựng thiếu đồng bộ Tới năm 2007, mới chỉ có khoảng 20% xã có quy hoạch
xây dựng, nhưng nhiều quy hoạch chất lượng thấp, cảnh quan và văn hoá truyền thống bị phá vỡ
- Về kết cấu hạ tầng nông thôn:
Thủy lợi: Còn 17% diện tích lúa, khoảng 50% diện tích cà phê, 80% diện tích rau
màu chưa được tưới tiêu chủ động Nhiều hệ thống xuống cấp, không đồng bộ nên hiệu quả thấp, chỉ phát huy được 60 - 70% công suất thiết kế Mới có 19% kênh mương được kiên cố hoá, tình trạng thẩm thấu, lãng phí nước còn khá phổ biến Hệ thống đê điều đã được gia cố, nhưng nhiều nơi chưa đáp ứng được yêu cầu, có tới 500 km đê sông cần bồi trúc, gia cố thân đê; cần tu bổ 600 cống dưới đê; gia cố nâng cấp 2.800 khi đê biển và đê cửa sông, 100 cống trên đê biển để bảo vệ sản xuất và dân sinh trước mắt và về lâu dài phải đối phó với tình trạng nước biển dâng Nhiều vùng còn thiếu nước sinh hoạt gay gắt vào mùa khô, chủ yếu là các vùng cao và ven biển Chất lượng nước sinh hoạt ở đồng bằng sông Cừu Long chưa cao
Giao thông: Đến năm 2007, tỷ lệ xã chưa có đường ô tô đến được trụ sở UBND xã
ở một số tỉnh vẫn còn cao, như Cà Mau còn 74,1%, Sóc Trăng 26,4%, Bạc Liêu 29,2%, Kiên Giang 25%, thành phố Cần Thơ 30,3%, Tỷ lệ xã có đường liên thôn được nhựa,
bê tông hóa nhìn chung còn thấp, một số địa phương còn quá thấp (dưới 20%) như Cao Bằng, Lai Châu, Điện Biên, Yên Bái, Bắc Kạn, Tuyên Quang, Lạng Sơn, Lào Cai, Sơn
La Hiện chỉ còn 281 xã chưa có đường ô tô đến khu trung tâm, nhưng phần lớn đường
Trang 26
nông thôn chất lượng thấp (bề rộng mặt đường nhỏ, nền yếu), việc duy tu bảo dưỡng kém nên chóng hư hỏng Còn thiếu nhiều đường đến thôn Tình trạng thiếu đường giao thông hoặc chất lượng đường thấp đang là cản trở lớn nhất đối với phát triển nông nghiệp hàng hoá, công nghiệp, dịch vụ ở các vùng nông thôn, nhất là vùng cao, vùng xa
Thông tin liên lạc, thương mại, ngân hàng: Hệ thống thông tin liên lạc ở nhiều vùng
miền núi, vùng xa, hải đảo còn khó khăn Ở miền núi phía Bắc 14% xã có trạm bưu điện
xã Về thương mại, còn trên 40% xã chưa có chợ, kết cấu hạ tầng nhiều chợ hiện có thấp kém, tạm bợ Mới chỉ có 12,1% xã có ngân hàng trên địa bàn
Cơ sở hạ tầng nghề cá: Mới xây dựng được 73 cảng cá với tổng chiều dài 10 324
m, 46 bến cá với tổng chiều dài 4.024 m, năng lực thông qua khoảng 1 triệu tấn hải
sản/năm, mới đáp ứng 60% nhu cầu; các khu neo đậu được xây dựng mới đảm bảo trú
tránh bão an toàn cho khoảng 20% tàu thuyền Hệ thống thuỷ lợi phục vụ nuôi trồng thuỷ sản cũng còn rất ít
Dịch vụ nông nghiệp: Hiện có 7 139 xã (78,7% xã) có cán bộ khuyến nông (8 398
người) và 21.402 thôn (26,6% thôn) có cộng tác viên; 7 584 xã (83,6%) có 9 552 cán bộ
thú y, 25 222 thôn (31,3%) có cán bộ thú y thôn, trong đó 17 861 người hành nghề tư
nhân Chất lượng đội ngũ cán bộ còn thấp, điều kiện hoạt động rất hạn chế
Y tế: vẫn còn 60 xã thuộc 17 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chưa có trạm y
tế Cơ sở vật chất, trang thiết bị ở trạm y tế còn nghèo, còn 157 xã, chiếm 1,7%, trạm y tế
xã chưa được xây dựng kiên cố và bán kiên cố Số bác sỹ của trạm y tế xã bình quân 1 vạn dân của một số tỉnh còn thấp (Điện Biên có 0,05 bác sỹ, Lai Châu 0,07) và còn 3851 xã (chiếm 42,4%) chưa có bác sỹ
Giáo dục: Mặc dù đã được quan tâm đầu tư, nhưng tới năm 2006 vẫn còn 11,7% số
xã chưa có nhà trẻ, mẫu giáo; còn 304 trường học còn tạm bợ, chưa đồng bộ, nhất là ở vùng cao, điều kiện về nhà ở cho giáo viên, học sinh tạm trú còn rát thiếu thốn Tình trạng học sinh bỏ học ở nông thôn côn cao
Văn hoá - thể thao: Xây dựng thiết chế văn hoá, thể thao ở vùng nông thôn còn
chậm và chưa đồng bộ, phụ thuộc vào sự đầu tư của ngân sách nhà nước; việc thực hiện xã hội hoá, phát huy vai trò của các thiết chế văn hoá, thể thao ở nông thôn còn nhiều hạn chế Rất ít xã có sân vận động, nơi luyện tập thể dục, thể thao cho thanh thiếu niên ngoài nhà trường
Trang 27
Nhà ở: Nông thôn cả nước có tới 26,36% nhà khung gỗ, mái lá, nhà đơn sơ trong đó
đồng bằng sông Cửu Long 58%, Tây Bắc 41% Số hộ có nhà đơn sơ tương ứng ở hai vùng này là 29% và 21%
Môi trường nông thôn: Môi trường ở nhiều vùng nông thôn ngày càng bị ô nhiễm,
chủ yếu do chất thải sinh hoạt, chăn nuôi, nông dược Hầu hết các vùng ven đô thị, khu công nghiệp bị ảnh hưởng ngày càng trầm trọng Nhiều làng nghề bị ô nhiễm nghiêm
trọng; trong khi đó mới chỉ có 33% số hộ có nhà tiêu hợp vệ sinh, 74,7% hộ có nhà tắm,
12,2% xã có công trình thoát nước; 28,4% xã có tổ chức thu gom rác thải
Cùng với sự biến đổi khí hậu toàn cầu, thiên tai có xu hướng gia tăng cả về tần suất
và cường độ, đe doạ nghiêm trọng sự phát triển bền vững của mọi vùng trong cả nước
Trong 10 năm (1995 - 2005), bình quân mỗi năm nước ta phải chịu 7 cơn bão, 5 trận lũ,
làm mất tích và chết 800 người, thiệt hại vật chất 5 ngàn tỉ đồng Riêng năm 2007, mặc dù
đã có rất nhiều nỗ lực phòng chống, thiên tai trên diện rộng đã làm chết 462 người, thiệt hại 11.514 tỉ đồng, gần bằng 1% GDP Năng lực phòng chống còn rất hạn chế Hệ thống
cảnh báo còn nhiều yếu kém, nhất là với sóng thần, lũ quét sạt lở núi Hệ thống thông tin
chưa thông suốt, nhất là với ngư dân trên biển và người dân ở các vùng sâu, vùng xa Cơ
sở hạ tầng còn thấp kém, nhiều công trình xây dựng chưa đáp ứng yêu cầu kỹ thuật phòng chống gió bão, lũ Hầu hết các vùng thiếu phương tiện cứu hộ, cứu nạn trong bão lũ, nhất
là khí có thảm hoạ lớn
Đầu tư cho nông nghiệp nông thôn còn thấp so với quy định của WTO (10% giá trị
nông nghiệp) Năm 2007, vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước cho nghiệp, nông thôn mới chiếm 14% tổng vốn đầu tư, trong đó vốn đầu tư trực tiếp cho nông lâm thuỷ sản chiếm
khoảng 8%, Thấp hơn 10% giá trị nông nghiệp Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài không
đáng kể, chỉ chiếm khoảng 3% vốn FDI của cả nước, trong đó năm 2007 mới đạt 1,8% 8 tháng đầu năm 2008 chỉ có 200 triệu USD, chiếm 0,43% trong tổng số 46,3 tỷ USD vốn FDI đăng ký1 Vốn ODA dành cho nông nghiệp lại càng thấp Do đó, hậu quả là kết cấu hạ tầng nông thôn và cơ sở vật chất kỹ thuật trong nông nghiệp còn rất hạn chế, không đáp ứng được yêu cầu phát triển nông nghiệp hàng hoá chất lượng cao, giá thành hạ Cơ cấu đầu tư không hợp lý, tỷ trọng đầu tư cho khoa học công nghệ trong nông nghiệp mới đạt 0,13% GDP khu vực này, trong khi đó các nước khác là 4% Trong khi đó chính sách của Nhà nước về đầu tư nói chung, thu hút đầu tư nước ngoài nói riêng vẫn chưa phù hợp nhưng lại chậm đổi mới, kể cả khi Việt Nam vào WTO
1
http://www hids hochiminhcity gov vn/Hoithao/VNHOC/TB9/cuc pdf
Trang 28vai trò cực kỳ quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Trong tác phẩm Ba
mươi năm hoạt động của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu đã tổng kết “Từ ngày
Đảng ra ra đời, Chủ nghĩa Mác-Lênin đã giúp Đảng ta thấy rõ trong điều kiện một nước nông nghiệp lạc hậu như nước ta thì vấn đề dân tộc thực chất là vấn đề nông dân, cách mạng dân tộc thực chất là cách mạng nông dân do giai cấp công nhân lãnh đạo kinh nghiệm của Đảng ta trong quá trình cách mạng đã chỉ rõ nơi nào, lúc nào cán bộ ta giải quyết tốt lợi ích thiết thân của nông dân, nắm vững nguyên tắc liên minh công - nông, thì nơi đó, lúc đó cách mạng đều tiến mạnh”1
Nông dân nước ta là giai cấp đông đảo nhất, là lực lượng to lớn nhất đã xây đắp nên lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước Trong suốt quá trình cách mạng, dưới sự lãnh đạo của Đảng, GCND nước ta luôn một lòng son sắt theo Ðảng, nêu cao tinh thần yêu nước, truyền thống lao động cần cù, thông minh, sáng tạo vượt qua khó khăn thách thức, góp phần to lớn cùng toàn dân hoàn thành vẻ vang sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, giành độc lập, tự do, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước ta chuyển sang giai đoạn mới, giai đoạn xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa GCND Việt Nam với tinh thần cách mạng, tiếp nối truyền thống năm xưa đã khẳng định được vai trò to lớn của mình thể hiện ở việc chi phối và quyết định sự thành bại của cả quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn Vai trò của nông dân có thể được khái quát trên các mặt sau:
Một là, nông dân là lực lượng đông đảo nhất góp phần làm nên những chiến thắng
lịch sử của dân tộc, đặc biệt qua hai cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng trong thế kỷ XX
Với dân số chiếm hơn 70% số dân cả nước; với lòng yêu nước và nhiệt tình cách mạng, chịu đựng gian khổ, hy sinh, lao động cần cù, sáng tạo; nông dân Việt nam luôn là
1
Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, tập 10, tr 17-18
Trang 29
đội quân chủ lực của cách mạng Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: "Nông dân ta chí khí rất anh dũng, kinh nghiệm rất nhiều, lực lượng rất to Điều đó đã tỏ rõ trong thời kỳ cách mạng và kháng chiến Nếu lãnh đạo tốt, thì khó khăn gì họ cũng khắc phục được, việc gì to lớn mấy họ cũng làm được"1, "Nông dân lao động đã thành cột trụ của chính quyền ở nông thôn"2
Trong cách mạng giải phóng dân tộc, Đảng đã vận động, đoàn kết tập hợp đông đảo lực lượng đẩy mạnh sản xuất, huy động sức người, sức của, vật chất và tinh thần phục vụ kháng chiến Hàng chục triệu nông dân đã tham gia quân đội, du kích, thanh niên xung phong mở đường, tiếp lương tải đạn phục vụ các chiến trường Trong kháng chiến chống giặc ngoại xâm, với tinh thần vừa kháng chiến vừa kiến quốc, "Tất cả cho tiền tuyến, tất cả
để chiến thắng", "Một tấc không đi, một ly không rời", "Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người", nông dân hai miền Nam - Bắc đã đóng góp to lớn cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc Không chỉ tham gia sản xuất, phục vụ chiến dịch, nông dân Việt Nam còn hăng hái tham gia chiến đấu Phần lớn những người lính, những chiến sĩ ngoài mặt trận đều xuất thân từ nông dân, là nông dân Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, nông dân Việt Nam tiếp tục phát huy truyền thống yêu nước, đóng góp sức người sức của cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước Hàng ngàn lượt con em nông dân đã lên đường vào Nam chiến đấu, trong đó rất nhiều người đã hy sinh hoặc để lại một phần cơ thể ở chiến trường
Thắng lợi của hai cuộc kháng chiến nhằm giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc là thắng lợi của sức mạnh to lớn của toàn dân, trong đó đông đảo là GCND đã được phát huy một cách cao độ dưới sự lãnh đạo của Đảng
Trong công cuộc đổi mới hiện nay, tinh thần, ý chí, sức mạnh và truyền thống của nông dân Việt Nam, tiếp tục được phát huy mạnh mẽ Nông dân đang tích cực lao động, sản xuất, áp dụng những tiến bộ khoa học - kỹ thuật vào nông nghiệp giành hiệu quả cao, xây dựng nông thôn Việt Nam ngày càng giàu đẹp
Hai là, GCND Việt Nam là lực lượng đông đảo nhất có vai trò đặc biệt quan trọng
biến những chủ trương, Nghị quyết của Đảng về CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn thành hiện thực
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn là chủ trương lớn của Đảng
Để thực hiện thành công sự nghiệp này đòi hỏi phải phát huy tối đa sức mạnh của tất cả
Trang 30
các nguồn lực khác nhau Trong đó GCND Việt Nam là một lực lượng cơ bản trong liên minh công - nông - trí để thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH, HĐH nói chung và là lực lượng nòng cốt và chủ yếu trực tiếp tham gia vào quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn Họ đang hàng ngày, hàng giờ biến những chủ trương, Nghị quyết của Đảng về nông nghiệp, nông dân, nông thôn thành những việc làm cụ thể, sống động
Ngày nay, GCND Việt Nam với tinh thần cách mạng, với ý chí không cam chịu đói nghèo, ý chí vươn lên vượt khó là tiền đề cho việc triển khai có hiệu quả chủ trương, Nghị quyết của Đảng, nhất là phát huy mạnh mẽ sức mạnh của tất cả các nguồn lực khác trong suốt quá trình thực hiện sự nghiệp CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn Nói khác, tất cả các nguồn lực, tiềm năng, lợi thế từng địa phương có được khơi dậy, phát huy một cách tối
đa, triệt để hay không phải xuất phát từ chính bản thân nội tại của nó, mà phải qua hoạt động của nông dân với tư cách là chủ thể tham gia trực tiếp vào quá trình lao động sản xuất Bởi vậy, quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn ở nước ta hiện nay có thành công hay không, thành công ở mức độ nào, nhanh hay chậm, một phần rất quan trọng do chính GCND quyết định
Với một lực lượng đông đảo, nông dân là lực lượng nòng cốt trực tiếp tham gia lao động sản xuất trong lĩnh vực nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới, tạo ra khối lượng của cải vật chất to lớn cho xã hội và làm thay đổi diện mạo của nông thôn, đưa nông thôn phát triển ngày càng văn minh, tiến bộ Nếu bản thân nông dân không có ý chí vươn lên vượt khó để làm giàu cho chính mình, cho gia đình và cho xã hội, mà lại lười biếng trong lao động, thờ ơ với thời cuộc, ỷ lại trông chờ vào chính quyền và sự trợ cấp của xã hội, thì
dù Đảng có đường lối về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đúng đắn tới đâu, tiềm năng nguồn lực về đất đai, về khoa học công nghệ, về vốn, có mạnh đến mấy thì cũng khó trở thành hiện thực Đời sống của nông dân khó thoát khỏi nghèo đói và lạc hậu, kinh tế của địa phương vẫn mãi là nền nông nghiệp sản xuất nhỏ, khép kín và trì trệ Ngược lại, nếu nông dân nhận thức được các chủ trương, Nghị quyết của Đảng, thay đổi cách nghĩ, cách làm, đổi mới tư duy kinh tế trong nền kinh tế thị trường, năng động, sáng tạo thì nông dân
sẽ chủ động thoát ra khỏi đói nghèo và lạc hậu Với đường lối, chủ trương đúng đắn của Đảng, các tiềm năng nguồn lực to lớn sẵn có cùng với tinh thần cách mạng đầy nhiệt huyết của nông dân sẽ tạo nên sức mạnh tổng hợp phát triển nông nghiệp toàn diện và xây dựng nông thôn mới giành thắng lợi
Trang 31
Ba là, GCND Việt Nam có kinh nghiệm phong phú khai thác và sử dụng tài nguyên
đất đai, tài nguyên biển, rừng một cách hợp lý, hữu ích góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn
Trong tất cả các nguồn lực thì đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt được thể hiện trên hai mặt: đất đai là môi trường tự nhiên tạo ra hệ sinh thái cần thiết cho sự sống; đất đai là đối tượng lao động của nông dân, tại đó, bằng hoạt động lao động của mình, nông dân tác động vào đất đai, cải tạo đất đại để nuôi dưỡng cây trồng, vật nuôi tạo ra các sản phẩm cần thiết cho xã hội Từ thế kỷ XVII, Wiliam Petty, nhà kinh tế học người Anh đã từng nói: lao động là cha, đất là mẹ của mọi của cải Điều này đã cho thấy tầm quan trọng của đất đai Trong nông nghiệp cuộc sống của nông dân luôn gắn với đất đai Đất đai là nguồn sống của họ Có đất là có nguồn sống Vì vậy, đất đai vừa là người bạn đồng hành, vừa là tài sản quý giá của nông dân, từ đất sẽ vươn lên những mầm xanh trái ngọt qua bàn tay lao động cần mẫn của nông dân mà tạo ra của cải cho đời
Là người gắn bó lâu dài với đất đai nên nông dân có nhiều kinh nghiệm khai thác
và sử dụng tiềm năng của đất đai rất hợp lý và hữu ích Từ trong hoạt động thực tiễn đã giúp cho nông dân hiểu rõ từng loại đất, chất đất thích hợp với các loại cây trồng, vật nuôi Chẳng hạn: đối với các giồng đất, nông dân trồng nhiều khoai, sắn, rau, đậu và các loại cây công nghiệp ngắn ngày như bông vải, dâu tằm, thuốc lá, mía, Còn đối với các vùng đất thấp và ven các sông rạch thì người ta đào mương lên liếp để làm vườn Dưới mương nuôi cá, tôm đồng thời dẫn nước tưới tiêu; trên liếp trồng cau, trồng dừa, các loại cây ăn quả và rau màu
Toàn Đảng, toàn dân nước ta đang đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn, trong điều kiện đất chật người đông thì việc khai thác tiềm năng của đất đai một cách triệt
để nhưng vẫn đảm bảo tính ổn định và bền vững là điều mà GCND Việt Nam luôn trăn trở Thực tế cho thấy, trong những năm qua, GCND Việt Nam đã đóng một vai trò rất quan trọng trong việc phát huy tiềm năng của đất nông nghiệp Đối với những vùng đất bị nhiễm mặn không trồng trọt được và bị bỏ hoang hoá lãng phí trong nhiều năm trước đây đã được nông dân khai phá, cải tạo chuyển sang nuôi tôm công nghiệp đạt hiệu quả kinh tế rất cao, tạo ra nguồn nguyên liệu dồi dào cung ứng nguồn nguyên liệu đầu vào cho ngành công nghiệp chế biến tôm đông lạnh xuất khẩu Đối với các vùng cây ăn trái, vùng trồng lúa, nông dân đã áp dụng nhiều mô hình như thâm canh, xen canh tăng vụ, một vụ lúa một vụ tôm, trồng xen cây ca cao, cây măng cụt trong vườn dừa ở các tỉnh phía Nam; thực hiện
Trang 32
mô hình VAC, kết hợp trồng trọt với chăn nuôi ở những vùng trũng, vùng ngập mặn… hoặc xen canh, gối vụ ở những diện tích rừng sản xuất, kết hợp trồng cây để phủ xanh đất trống, đồi trọc với một số cây ngắn ngày như dứa, lạc, ngô… và chăn nuôi gia súc nhằm khai thác tối đa hiệu quả kinh tế trên một đơn vị diện tích canh tác, tránh lãng phí đất đai như những năm trước đây Trong những năm qua, nông dân nước ta đã khai thác khá hiệu quả tiềm năng đất đai nên đời sống của nông dân dần được cải thiện và góp phần to lớn đẩy nhanh tốc độ CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn
Với kinh nghiệm lâu đời của nông dân vùng ven biển, đã tích cực đầu tư phương tiện tàu thuyền hiện đại để đánh bắt hải sản xa bờ, không chỉ mang lại thu nhập ngày càng cao cho gia đình, cho đất nước mà còn góp phần bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản ven bờ, góp phần thực hiện chiến lược kinh tế biển của Đảng và bảo vệ chủ quyền vùng biển của Tổ quốc
Bốn là, giai cấp nông dân Việt Nam là lực lượng đông đảo góp phần xây dựng khối
liên minh công – nông – trí vững mạnh
Do địa vị KT-XH và bản chất giai cấp của mình, nông dân tự nguyện tìm đến với giai cấp công nhân Chính vì vậy, Hồ Chí Minh khẳng định “Nông dân là một lực lượng rất to lớn của dân tộc, một đồng minh rất trung thành của giai cấp công nhân”1 Nếu không liên kết với công nhân, trí thức thì họ sẽ bị các giai cấp bóc lột lợi dụng, lôi kéo trở lại cuộc sống nô lệ, bị áp bức, bóc lột Sự tiến bộ của nông dân đã ngày càng gắn bó hơn với công nhân và trí thức Để đẩy nhanh sản xuất nông sản hàng hoá, làm cho nông nghiệp phát triển bền vững, nông dân rất cần sự hỗ trợ của công nghiệp và những tri thức khoa học kỹ thuật Đây là nhu cầu thiết thực để nông dân tìm đến và gắn bó với các cơ quan nghiên cứu, các cơ sở dịch vụ kỹ thuật Công nghiệp và khoa học góp phần đắc lực vào quá trình giải phóng nông dân, giúp họ tiếp xúc với nền văn minh nhân loại hiện đại, đồng thời có dịp để phát huy các giá trị văn hoá được tích tụ trong quá trình lao động ở nông thôn
Trong xây dựng, củng cố cơ sở kinh tế của khối liên minh công – nông – trí: GCND
có vai trò rất lớn trong việc cung cấp nguyên vật liệu cho công nghiệp chế biến, đồng thời, nông thôn là thị trường rộng lớn tiêu thụ sản phẩm của ngành công nghiệp Bên cạnh đó, nông nghiệp, nông thôn với lực lượng lao động nông dân đã, đang nhận và hiện thực hóa
1
Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, tập 5, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr 710
Trang 33
việc ứng dụng khoa học công nghệ nói chung và công nghệ sinh học nói riêng – sản phẩm chủ yếu của đội ngũ trí thức vào sản xuất nông, lâm, thủy sản
Phát triển nông nghiệp và nông thôn theo hướng CNH, HĐH không thể không có
sự tham gia đóng góp tích cực của khoa học công nghệ Bởi Khoa học và công nghệ là nền tảng, là động lực tạo đà cho quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn phát triển nhanh
và bền vững Hoạt động nghiên cứu khoa học và công nghệ đã và đang có sự đóng góp đáng kể vào trong hoạt động sản xuất nông nghiệp Một số đề tài mang tính chất đột phá
có ý nghĩa thực tiễn cao trở thành cầu nối giữa hoạt động nghiên cứu khoa học công nghệ với thực tiễn sản xuất, giữa cán bộ khoa học công nghệ với nông thôn và nông dân Bằng hình thức vừa tập huấn, vừa cử cán bộ khoa học theo sát hướng dẫn kỹ thuật cho nông dân, giúp nông dân áp dụng thành công các tiến bộ khoa học - kỹ thuật vào điều kiện cụ thể của gia đình mình đem lại hiệu quả kinh tế cao Qua đó tạo thành các điểm trình diễn cho nhiều bà con khác trong khu vực tham quan học tập Khi nông dân thấy được tầm quan trọng và lợi ích thiết thực của khoa học - kỹ thuật và công nghệ, họ tự giác chủ động đến với khoa học kỹ thuật và công nghệ để học tập, trau dồi kinh nghiệm
Điều này cho thấy giữa hoạt động nghiên cứu khoa học công nghệ và nông dân trong quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn như một lẽ tự nhiên gắn kết với nhau rất chặt chẽ Thông qua hoạt động thực tiễn sản xuất của nông dân, các tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ nhất là công nghệ sinh học với nhiệm vụ lai tạo các giống cây, giống con với năng suất, chất lượng cao sẽ đồng thời là cơ hội để hoạt động nghiên cứu khoa học - công nghệ điều chỉnh, bổ sung những điểm mới Điều này sẽ giúp nông dân thoát khỏi tình trạng sản xuất theo kinh nghiệm, lối mòn và chuyển từ nền sản xuất với năng suất, chất lượng, hiệu quả thấp sang một nền sản xuất với năng suất, chất lượng, hiệu quả cao hơn nhờ áp dụng những thành tựu khoa học công nghệ mới
Vai trò của khoa học công nghệ và của các nhà khoa học là đặc biệt quan trọng nhưng khoa học công nghệ có phát huy được vai trò, tác dụng hay không còn phụ thuộc đáng kể vào
ý thức, nỗ lực và mức độ tiếp thu khoa học công nghệ của nông dân Điều này có thể sẽ xảy ra theo hai khả năng: hoặc trong trường hợp nông dân có trình độ dân trí thấp kém, cộng với thái
độ thờ ơ với việc tiếp thu, ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ vào sản xuất nông nghiệp, sẽ là một rào cản lớn cho việc triển khai các đề tài, dự án khoa học; hoặc là, trong trường hợp nông dân có trình độ học vấn khá cao, cùng với tính năng động, sáng tạo, nhạy bén, ham học hỏi thì hai yếu tố nêu trên tạo nên thuận lợi lớn cho việc triển khai ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất nông nghiệp Chính nông dân với việc tiếp thu, ứng dụng
Trang 34“phản biện”, thẩm định tính đúng đắn và hiệu quả thiết thực của các đề tài khoa học Như vậy, khoa học từ chỗ là lý thuyết trở thành hiện thực, được áp dụng trong thực tiễn sản xuất đem lại hiệu quả kinh tế cao là một quá trình Ở đó nếu không có nông dân với tư cách là cầu nối, là khâu trung gian nối liền giữa đầu vào là lý thuyết khoa học với đầu ra
là các sản phẩm đạt được do việc ứng dụng các lý thuyết khoa học đó, thì lý thuyết khoa học đó sẽ không có sức sống Rõ ràng quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn không thể thiếu sự đóng góp của khoa học và công nghệ, nhưng để khoa học - công nghệ đạt được nhiều thành tựu to lớn góp phần đưa nền nông nghiệp của địa phương phát triển theo hướng CNH, HĐH đòi hỏi phải thông qua hoạt động của nông dân Suy cho cùng trong mọi trường hợp nông dân vẫn là người giữ vai trò nòng cốt trong quá trình phát triển sản xuất nông nghiệp
Trong điều kiện hiện nay, Đảng ta xác định “từng bước phát triển kinh tế tri thức” trong quá trình hội nhập khu vực và quốc tế đã tạo điều kiện cho GCND ngày càng gắn bó với đội ngũ trí thức Trên cơ sở kinh tế, các nhu cầu kinh tế phát triển dưới nhiều hình thức hợp tác, liên kết, giao lưu,… trong cả sản xuất, lưu thông phân phối giữa công nhân, nông dân, trí thức; giữa các lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp, khoa học, giữa các địa bàn, vùng miền dân cư trong cả nước
Khi tổng kết kinh nghiệm của cách mạng Việt Nam, chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ:
“Nền tảng của vấn đề dân tộc là nông dân, vì nông dân là tối đa trong dân tộc”, vì thế phải
“thực hiện cho được liên minh công nông vì đó là sự bảo đảm chắc chắn nhất cho những thắng lợi của cách mạng Chỉ có khối liên minh công nông do giai cấp công nhân lãnh đạo mới có thể kiên quyết và triệt để đánh đổ các thế lực phản cách mạng, giành lấy chính quyền của nhân dân lao động, hoàn thành nhiệm vụ lịch sử của cách mạng dân tộc dân chủ
Trang 35
và tiến lên CNXH” Do đó khi đánh giá vai trò của GCND cần nhận rõ tính tất yếu của khối liên minh công – nông và cần khẳng định sự liên minh này là liên minh “đặc biệt”, trong đó giai cấp công nhân phải giữ vai trò lãnh đạo, sự liên minh ấy, chẳng những chỉ nhằm đánh đổ giai cấp bóc lột mà còn tạo ra những điều kiện cần thiết để xây dựng một chế độ xã hội mới văn minh hơn, tốt đẹp hơn
Năm là, giai cấp nông dân Việt Nam góp phần quan trọng xây dựng Đảng, chính
quyền, đoàn thể nhân trong sạch, vững mạnh
Trong điều kiện nước ta là nước nông nghiệp với hơn 70% dân số nông nghiệp sống ở nông thôn Do đó, GCND là lực lượng to lớn trong việc hiện thực hóa chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước Thông qua hoạt động thực tiễn phong phú của mình, nông dân trực tiếp góp ý với Đảng, chính quyền các cấp hoàn thiện đường lối, chính sách Thời gian gần đây, nhờ mở rộng dân chủ trong Đảng và trong xã hội, nông dân
có nhiều điều kiện để trực tiếp hoặc gián tiếp đóng góp xây dựng Đảng, chính quyền và đoàn thể các cấp từ Trung ương xuống cơ sở
Với số lượng đông đảo, nông dân là lực lượng quan trọng tham gia giám sát hoạt động của HTCT, hoạt động của đội ngũ cán bộ, đảng viên Qua giám sát, nông dân lựa chọn, giới thiệu những cán bộ, đảng viên có đức, có tài tham gia vào bộ máy của HTCT Đồng thời, góp ý phê bình để cán bộ, đảng viên sửa chữa sai lầm, khuyết điểm và tham gia đấu tranh chống tham nhũng và các biểu hiện tiêu cực khác của đội ngũ cán bộ, đảng viên, góp phần làm trong sạch bộ máy của HTCT các cấp
Bên cạnh đó, phần lớn nông dân tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, thực hiện tốt chủ trương, đường lối của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước, đây là môi trường chính trị ổn định, thuận lợi để Đảng kiên định chủ trương, đường lối đổi mới, lãnh đạo nhân dân Việt Nam tiếp tục giành được những thắng lợi mới, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
1.2.2 Đặc điểm: Giai cấp nông dân Việt Nam hiện nay có những đặc điểm chủ
yếu sau đây:
Một là, GCND Việt Nam có truyền thống yêu nước, tinh thần bất khuất, độc lập tự
chủ cao, không cam chịu làm nô lệ, không chịu để đồng hóa
Truyền thống này được hình thành, phát triển, lưu truyền suốt chiều dài lịch sử hàng ngìn năm dựng nước, giữ nước và đến ngày nay Điều này đã được đồng chí Đỗ Mười nhấn mạnh tại Đại hội lần thứ II Hội Nông dân Việt Nam: “Nông dân nước ta giàu
Trang 36
lòng yêu nước và nhiệt tình cách mạng, chịu đựng gian khổ, hy sinh” Truyền thống ấy, được Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo, đã phát triển lên một tầm cao mới trong suốt quá trình nông dân Việt Nam đi theo Đảng làm cách mạng Nhất là trong công cuộc đổi mới, thực hiện kinh tế thị trường, mở cửa, chủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, truyền thống ấy lại được Đảng phát huy mạnh mẽ, tạo điều kiện thuận lợi để nông dân phát triển, đóng góp to lớn vào thành tựu công cuộc đổi mới Truyền thống ấy là nhân tố đặc biệt quan trọng để Đảng huy động toàn bộ GCND vào công cuộc đổi mới, đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, nhất là đẩy nhanh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn Qua hàng ngàn năm Bắc thuộc và hàng trăm năm đô hộ của thực dân, đế quốc, nông dân nước ta vẫn thể hiện rõ và khẳng định ý chí kiên cường, bất khuất, không chịu để bị đồng hóa, giữ vững và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Đây cũng là một nhân tố rất quan trọng để Đảng lãnh đạo nông dân thực hiện đường lối đổi mới, mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế nhưng vẫn giữ vững bản sắc dân tộc
Hai là, GCND Việt Nam cần cù trong lao động, tiết kiệm, tôn trọng và yêu quý
thành quả lao động, thông minh, sáng tạo và nhẫn nại, không bó tay trước khó khăn, gian khổ, trước thách thức quyết liệt của cuộc sống
Đồng chí Đỗ Mười khẳng định: “Nông dân Việt Nam lao động cần cù và sáng tạo, là đội quân chủ lực trong lịch sử đấu tranh lâu dài dựng nước và giữ nước” Qua hàng nghìn năm chống lại sự khắc nghiệt của thiên nhiên để phát triển sản xuất, ổn định cuộc sống, đã hình thành ở người nông dân Việt nam đức tính cần cù trong lao động sản xuất, sự nhẫn nại, sáng tạo, không lùi bước trước khó khăn, gian khổ Đó là nhân tố đặc biệt quan trọng để nông dân nước ta nói riêng, dân tộc ta nói chung phát triển Được Đảng giáo dục, rèn luyện và lãnh đạo những đức tính tốt đẹp ấy được phát huy mạnh mẽ trong thời kỳ đổi mới Có thể nói rằng, công cuộc đổi mới bắt đầu từ nông dân, nông nghiệp và trên địa bàn nông thôn Sự đi đầu, sáng tạo của nông dân trong nông nghiệp từ nhiều năm trước đổi mới đã tạo nên cơ sở vững chắc để phát triển nông nghiệp, góp phần quyết định để đất nước vượt qua thách thức hiểm nghèo, ra khỏi khủng hoảng, bước vào đổi mới giành thắng lợi to lớn, tạo nền tảng để CNH, HĐH đất nước
Trong các cuộc đấu tranh chống lại sự khắc nghiệt của thiên nhiên trước đây và hiện nay, nông dân nước ta luôn thể hiện sự thông minh, sáng tạo, sự nhẫn nại, kiên trì từng bước vượt qua mọi khó khăn, thách thức Nhiều gương nông dân sản xuất giỏi, sáng tạo trong lao động sản xuất, góp phần rất lớn trong việc giải phóng sức lao động của nông
Trang 37Sự phát triển của nông dân thể hiện rất rõ trên tất cả các mặt: tư tưởng, chính trị, kinh tế, văn hóa, lối sống, năng lực sản xuất, kinh doanh… Về tư tưởng, từ người nong dân
có tư tưởng thụ động, ỷ lại, qua gần 25 năm đổi mới, họ đã trở thành người nông dân tự chủ, năng động, sáng tạo trong sản xuất, kinh doanh, đã nhận thức được trách nhiệm, nghĩa
vụ của mình, ra sức thực hiện trách nhiệm, nghĩa vụ ấy, song cũng đấu tranh kiên quyết với những tiêu cực vi phạm đến lợi ích quốc gia, dân tộc, vi phạm đến quyền và lợi ích của mình Ý thức chính trị của nông dân với Đảng, đất nước và dân tộc được nâng lên một bước Về kinh tế, từ người nông dân chỉ lao động sản xuất, phát triển kinh tế theo cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, người nông dân thời kỳ đổi mới có ý thức tự tổ chức, tự liên kết trong sản xuất kinh doanh theo các nhóm, hộ, theo ngành nghề, hợp tác xã kiểu mới; nhiều nông dân tích cực phát triển kinh tế hộ thành kinh tế trang trại, mở rộng quan hệ với các doanh nghiệp, trang trại của địa phương khác, thậm chí với có quan hệ kinh tế với tổ chức, cá nhân nước ngoài Từ đó, trình độ sản xuất, năng lực quản lý được nâng lên Từ người nông dân có nhu cầu ấm no đơn thuần với ý thức tự túc, tự cấp chuyển thành người nông dan có nhu cầu cuộc sống vật chất, tinh thần cao hơn để tiến kịp cuộc sống của người dân thành thị
Bốn là, qua gần 25 năm đổi mới, GCND nước ta có biến đổi lớn về số lượng và cơ
cấu
Số lượng nông dân đang giảm dần và có xu hướng giảm mạnh cùng với quá trình đẩy nhanh CNH, HĐH đất nước và sự chuyển dịch mạnh mẽ cơ cấu của nền kinh tế Nhiều vùng nông thôn, nhất là vùng ven thành phố, thị xã, những nơi có điều kiện thuận lợi về giao thông, thị trường đã trở thành các khu công nghiệp, khu chế xuất, nhiều nông dân đã trở thành công nhân trong các khu công nghiệp, khu chế xuất đó, thậm chí khá lớn nông dân ở những nơi khác cũng đến làm việc ở vùng này Một số doanh nghiệp, dự án đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn, làm cho nhiều nông dân trở thành công nhân nông nghiệp
Trang 38
Tình trạng một bộ phận nông dân rời khỏi đất canh tác, bỏ nghề truyền thống chuyển sang các ngành nghề phi nông nghiệp Một số người thành đạt, song không ít người chưa thành công trong việc chuyển đổi nghề nghiệp Nhiều nông dân bàn giao đất nông nghiệp cho Nhà nước và nhận tiền đền bù theo quy định… trở thành những người giàu có nhất thời Song, do trình độ thập, năng lực hoạt động trên các lĩnh vực, ngành nghề khác rất hạn chế nên nhiều người đã nhanh chóng lâm vào trình trạng đói, nghèo
Một bộ phận không nhỏ nông dân, nhất là ở Tây Nam bộ và Tây Nguyên…, do hoàn cảnh gia đình khó khăn và do một số nguyên nhân khác, đã bán, cầm cố đất canh tác
và dần dần trở thành những người không có ruộng để sản xuất, quay trại cảnh người đi làm thuê cho các hộ gia đình, các trang trại hoặc lên thành phố kiếm việc làm… Đây là vấn đề đáng quan tâm Cạnh đó, do giá cả nguyên liệu đầu vào của sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi ngày càng tăng, giá nông sản, thủy sản lại thấp, làm cho nông dân làm ăn không hiệu quả, nhiều nông dân ở đồng bằng Bắc Bộ đã trả lại ruộng cho chính quyền địa phương Phần lớn những nông dân này, buộc phải đi tìm việc ở các thành phố, thị xã để mưu sinh
Họ là lực lượng không nhỏ bổ sung vào nhóm những người lao động tự do ở các đô thị, đang làm phức tạp thêm cho sự quản lý của chính quyền các cấp ở đô thị
Qua gần 25 năm đổi mới, GCND nước ta không còn thuần nhất là người lao động sản xuất trên đồng ruộng, nương rẫy, thu nhập bảo đảm cuộc sống và phát triển bằng thu nhập từ nông nghiệp và họ gắn bó mật thiết với nông thôn Nhiều nông dân đã trở thành người vừa sản xuất, vừa kinh doanh dịch vụ phục vụ cho nông nghiệp và đời sống của dân
cư trên địa bàn Thu nhập của họ không chỉ từ nông nghiệp mà còn từ các hoạt động dịch
vụ khác Gia đình của nhiều nông dân cũng có sự biến đổi, trong đó một vài người đi làm
ăn xa, thỉnh thoảng trở về gia đình trong các dịp lễ, tết, thu nhập của gia đình nong dân chủ yếu từ những người đi làm xa đó
Thực hiện chủ trương đầu tư cho giáo dục, đào tạo là quốc sách hàng đầu, cùng với sự cố gắng của các hộ gia đình và con em nông dân, số lượng sinh viên là con em nông dân tốt nghiệp cao đẳng, đại học tăng nhanh Trong đó, một bộ phận không xin được việc
ở các cơ quan trong HTCT, một số tốt nghiệp các ngành trồng trọt, chăn nuôi… chủ động
về lao động sản xuất, lập nghiệp tại quê hương Đây là lực lượng trẻ, có trình độ chuyên môn tiếp tục nâng cao chất lượng GCND Tuy nhiên, số lượng này không nhiều
Như vậy, số lượng nông dân đang có xu hướng giảm, cơ cấu đa dạng, phong phú,
đa hình thành một bộ phận công nhân nông nghiệp, bộ phận nông dân làm dịch vụ, thương
Trang 39
nghiệp ở nông thôn ngày càng tăng Điều này làm cho tính thuần túy trong sản xuất nong nghiệp nông nghiệp của giai cấp nông dân giảm dần, tính chất nông dân – công nhân; nông dân – trí thức, nông dân – tiểu thương, nông dân – thợ thủ công, một số công chức, viên chức sống cùng gia đình ở nông thôn cũng tham gia sản xuất nông nghiệp…
Mặt khác, sự phân hóa giàu nghèo trong nông dân cũng ngày càng tăng lên, hình thành lực lượng nông dân làm thuê và nông dân là chủ trang trại Bộ phận nông dân liên doanh liên kết, hợp tác tự nguyện trong sản xuất kinh doanh được hình thành và đang có
xu hướng phát triển “Trung nông” mới sẽ là lực lượng trung tâm trong GCND và ở nông thôn
Năm là, mặc dù có nhiều biến đổi, phát triển nhưng nông dân Việt nam vẫn còn
chịu sự chi phối khá nặng nề của truyền thống làng xã, tư tưởng bình quân chủ nghĩa, quan
hệ huyết thống, cục bộ, tư duy lý luận, trình độ khoa học kỹ thuật còn hạn chế, phong cách làm việc thủ công, chuộng hình thức với cách ứng xử “phép vua thua lệ làng” và nặng về kinh nghiệm…
Truyền thống làng xã, quan hệ huyết thống có vai trò tích cực rất lớn, song tác động tiêu cực của nó cũng không nhỏ, nhất là đối với nông thôn miền Bắc, nó vẫn còn tác động khá lớn đến nông dân Điều này cộng với tư tưởng bình quân chủ nghĩa còn nặng nề trong phần lớn nông dân, đã hạn chế sự phấn đấu, vươn lên của họ, và dễ dẫn đến tư tưởng hẹp hòi, đố kỵ, thậm chí tìm cách níu kéo, cản trở sự phát triển tiến bộ của người khác, nhất là người lao động sản xuất tốt
Tư tưởng phong kiến, cục bộ, cách nghĩ, cách làm của người sản xuất nhỏ còn ảnh hưởng nặng nề trong phần lớn nông dân Bệnh gia trưởng, độc đoán của một số cán bộ làng, xã; phong cách làm việc thủ công, chuộng hình thức với cách ứng xử “phép vua thua
lệ làng” và nặng về kinh nghiệm… còn tồn tại dai dẳng trong nhiều nông dân Điều này cản trở không nhỏ quá trình Đảng lãnh đạo xây dựng giai cấp nông dân trong điều kiện hiện nay Nó thường dẫn đến sự tùy tiện trong công việc, chạy theo thành tích, coi thường
kỷ cương, phép nước của cán bộ cơ sở
1.3 Đảng lãnh đạo xây dựng giai cấp nông dân – Quan niệm, nội dung và phương thức
1.3.1 Quan niệm
Đến nay vẫn còn nhiều cách hiểu khác nhau về thuật ngữ “lãnh đạo” Khoa học quản lý hiện đại cho rằng “lãnh đạo” thuộc nội hàm của khái niệm “quản lý”, là một bộ
Trang 40
phận của quản lý Theo nghĩa đó, muốn quản lý tốt, người quản lý phải biết lãnh đạo con người trong tổ chức, bộ máy thật tốt Lãnh đạo trong trường hợp như vậy, được hiểu là hoạt động của chủ thể quản lý tác động vào đối tượng quản lý bằng giác ngộ, nâng cao nhận thức, tuyên truyền, thuyết phục, tổ chức, dẫn dắt, nêu gương để lôi cuốn đối tượng quản lý hành động theo chủ thể quản lý Nói cách khác, đây là một phương thức quản lý tác động chủ yếu bằng tư tưởng và tổ chức nhằm phát huy tính tự giác hành động của đối tượng quản lý
Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ do Nguyễn Hoàng Phê chủ biên xuất bản năm 1995, tiếp cận khái niệm lãnh đạo như sau: “lãnh đạo là đề ra chủ trương đường lối và
tổ chức động viên thực hiện”1 Theo cách giải thích khái niệm “lãnh đạo” trên đây thì lãnh đạo là một quá trình gồm hai khâu chính: Một là, xác định quan điểm, chủ trương, đường lối, nghĩa là xác định các nội dung, nhiệm vụ, yêu cầu và mục tiêu của việc cần làm trong một thời kỳ hay một giai đoạn cụ thể; xác định các nguyên tắc, biện pháp tiến hành để định hướng đối tượng lãnh đạo hành động theo quan điểm, đường lối đã xác định Hai là, tổ chức thực hiện và kiểm tra việc thực hiện chủ trương, đường lối đã xác định Đây là khâu
có tính quyết định hiệu lực và hiệu quả của sự lãnh đạo nhằm thực hiện mục tiêu đề ra Ở đây, chủ thể lãnh đạo có thể là một cá nhân hay một tổ chức, thực hiện việc lãnh đạo; khách thể(đối tượng bị lãnh đạo) cũng có thể là một người, một tập thể, một tổ chức (thậm chí một giai cấp hay một dân tộc), chịu sự chỉ đạo, dẫn dắt, định hướng của chủ thể lãnh đạo Trong một cơ cấu tổ chức, hay một hệ thống tổ chức nào đó, cá nhân và tập thể có thể vừa là chủ thể lãnh đạo trong mối quan hệ này, vừa là khách thể trong mối quan hệ khác
Từ những quan niệm trên đây, kết hợp với nghiên cứu thực tiễn, có thể hiểu: Bản
chất của lãnh đạo là một quá trình tác động có định hướng, có mục đích giữa cá nhân với
cá nhân; giữa cá nhân với tổ chức; giữa tổ chức với cá nhân và giữa tổ chức với tổ chức…
nhằm giác ngộ, nâng cao nhận thức, chỉ đường dẫn lối cho đối tượng lãnh đạo phát huy
hết khả năng sáng tạo của họ hướng tới mục tiêu đề ra
Với tư cách là chức năng hoạt động xã hội của con người nhằm đạt tới những mục tiêu cụ thể, đã định trước trong đời sống, trong sản xuất, trong đấu tranh giai cấp hay các hoạt động mang tính xã hội khác, hoạt động lãnh đạo nói chung luôn mang đậm dấu ấn cá nhân của người lãnh đạo như trình độ học vấn, văn hoá, kỹ năng, đạo đức Những nhân tố
cá nhân đó luôn tác động trực tiếp lên toàn bộ quá trình và kết quả lãnh đạo
1
Nguyễn Hoàng Phê (chủ biên) (1995), Từ điển tiếng Việt, Viện Ngôn ngữ xuất bản