1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo thực hiện quyền bình đẳng của phụ nữ thời kỳ đổi mới (1986 đến 2006

65 238 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 65
Dung lượng 621,7 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tình hình trên đã đặt ra yêu cầu cấp thiết phải đẩy mạnh hơn nữa công tác nghiên cứu lý luận về bình đẳng giới, góp phần tìm ra những giải pháp chủ yếu nhằm thực hiện quyền bình đẳng của

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trường ĐHSP Hà Nội 2, các thầy cô trong khoa Lịch sử đã giúp đỡ em trong quá trình học tập tại trường và tạo điều kiện cho em thực hiện khóa luận tốt nghiệp này Đặc biệt

em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Khuất Thị Hoa – người đã trực tiếp tận tình hướng dẫn và giúp đỡ em hoàn thành khóa luận của mình

Trong khuôn khổ có hạn của một khóa luận, do điều kiện thời gian, do trình độ có hạn và cũng là lần đầu tiên nghiên cứu khoa học cho nên không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót nhất định Vì vậy em kính mong nhận được những góp ý của các thầy cô và các bạn

Em xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 17 tháng 5 năm 2013

Sinh viên

Vũ Thị Hân

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Khóa luận này là kết quả của bản thân em trong quá trình học tập và nghiên cứu.Đặc biệt là sự hướng dẫn tận tình của TS Khuất Thị Hoa

Em xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng em.Những số liệu và kết quả trong khoá luận là hoàn toàn trung thực.Đề tài chưa được công

bố trong bất cứ một công trình khoa học nào khác

Hà Nội, ngày 17 tháng 5 năm 2013

Sinh viên

Vũ Thị Hân

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu 4

4 Nguồn tư liệu vàphương pháp nghiên cứu 4

5 Đóng góp của khóa luận 5

6 Bố cục khóa luận 5

NỘI DUNG 6

Chương 1: CƠ SỞ HÌNH THÀNH ĐƯỜNG LỐI LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN QUYỀN BÌNH ĐẲNG GIỚI CỦA ĐẢNG 6

1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 6

1.1.1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin 6

1.1.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền bình đẳng của phụ nữ 8

1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN 22

1.2.1 Vị trí và vai trò của phụ nữ trong lịch sử dân tộc 22

1.2.2 Đảng lãnh đạo thực hiện quyền bình đẳng của phụ nữ trước năm 1986 25

Chương 2: ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN QUYỀN BÌNH ĐẲNG CỦA PHỤ NỮ THỜI KỲ ĐỔI MỚI (1986-2006) 29

2.1 CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM 29

2.2 NHỮNG THÀNH TỰU VÀ HẠN CHẾ 36

2.2.1 Thành tựu 36

2.2.2 Hạn chế 44

2.2.3 Những giải pháp chủ yếu nhằm phát huy quyền bình đẳng của phụ nữ 49

KẾT LUẬN 58

TÀI LIỆU THAM KHẢO 60

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Quyền bình đẳng nam nữ là một bộ phận cấu thành quyền con người

Xã hội không thể có tiến bộ và công bằng nếu như một bộ phận của xã hội còn bị hạn chế hay bị loại ra khỏi những hoạt động chính của xã hội Thế nhưng từ khi xã hội phân chia giai cấp, xuất hiện áp bức bóc lột, nô dịch và bất công thì sự bất bình đẳng giữa nam và nữ bắt đầu xuất hiện Hậu quả của

sự áp bức đó không chỉ làm hạn chế sự phát triển của phụ nữ, mà còn cản trở tiến trình phát triển của nhân loại Tồn tại và kéo dài hàng mấy thế kỷ, sự bất bình đẳng đã trở thành một trong những mục tiêu tiến công quan trọng của các cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa

Trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, phụ nữ luôn giữ vị trí quan trọng và có cống hiến to lớn, góp phần xây dựng truyền thống vẻ vang của dân tộc

Hồ Chí Minh là người nhận thức rõ vai trò và tầm quan trọng của phụ

nữ ngay từ buổi đầu hoạt động cách mạng Người xem vấn đề quyền của phụ

nữ là bộ phận cấu thành quyền con người trong tổng thể các quyền cơ bản của dân tộc và sớm có quan điểm về quyền bình đẳng giới

Kếthừa, vận dụng, phát triển quan điểm của Hồ Chí Minh, ĐảngCSVN

có nhiều chủ trương, chính sách nhằm đảm bảo việc thực hiện quyền bình đẳng của phụ nữ từ khi ra đời Kể từ đó đến nay, hướng tới thực hiện quyền bình đẳng nam nữ là một nội dung trong đường lối chiến lược cách mạng của Đảng với những thành tựu đáng kể, địa vị của phụ nữ Việt Nam ngày càng được khẳng định và đề cao

Tuy nhiên, do chưa nhận thức đầy đủ sự khác biệt về giới, chưa vận dụng, tiếp thu đúng mức lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, đặc biệt chưa vận

Trang 5

dụng một cách triệt để, chưa tuyên truyền rộng rãi tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề giải phóng phụ nữ, nên sự nghiệp bình đẳng giới vẫn còn một số hạn chế nhất định Tư tưởng “trọng nam khinh nữ”, nạn ngược đãi với phụ nữ, tác phong gia trưởng chuyên quyền, độc đoán, sự thiếu bình đẳng vẫn tồn tại ở nhiều gia đình, nhiều nơi trog xã hội.Mặt khác, xã hội và gia đình chưa quan tâm, chia sẻ đúng mức, chưa chú ý bồi dưỡng, nâng cao trình độ mọi mặt, tạo điều kiện cho phụ nữ phát triển.Điều này đã làm chậm quá trình thực hiện mục tiêu bình đẳng giới ở nước ta hiện nay

Tình hình trên đã đặt ra yêu cầu cấp thiết phải đẩy mạnh hơn nữa công tác nghiên cứu lý luận về bình đẳng giới, góp phần tìm ra những giải pháp chủ yếu nhằm thực hiện quyền bình đẳng của phụ nữ.Đó là nhiệm vụ vừa cơ bản, lâu dài, vừa có ý nghĩa thời sự cấp bách.Chính thực tế trên thôi thúc em chọn

đề tài “Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo thực hiện quyền bình đẳng của phụ nữ thời kì đổi mới(1986-2006)” làm khóa luận tốt nghiệpcủa mình

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Nghiên cứu về vấn đề phụ nữ trong tư tưởng Hồ Chí Minh đến nay có

một số ấn phẩm của Nhà xuất bản phụ nữ: “HồChí Minh với vấn đề giải phóng phụ nữ” (1970); “Bác Hồ với phong trào phụ nữ Việt Nam” (1982); “

Hồ ChíMinh với sự nghiệp giải phóng phụ nữ” (1990) Một số luận án thạc sĩ

Lịch sử Đảng, Triết học, Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề giải

phóng phụ nữ: “Hồ Chí Minh với vấn đề giải phóng phụ nữ trong cách mạng Việt Nam” của Đặng Thị Lương (1993); “Tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng nữ” của Lê Minh Hà (1995) Một số luận văn cử nhân cao cấp đề cập đến phụ nữ trong tư tưởng Hồ Chí Minh như : “Tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng phụ nữ” của Vũ Văn Vinh(2000); “Tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng phụ nữ” của Vũ Thị Thúy Nhơn(2000) “Chủ tịch Hồ Chí Minh với vấn

đề giải phóng phụ nữ” của Đào Tố Uyên (2003); “Vận dụng tư tưởng Hồ Chí

Trang 6

Minh về giải phóng phụ nữ vào hoạt động thực tiễn của Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam trong thời kì đổi mới” của Trương Thị Thu Thủy(2006), v.v…Tất cả

các luận án, luận văn trên mới chỉ khai thác ở góc độ tư tưởng Hồ Chí Minh

về giải phóng phụ nữ nói chung chứ chưa nghiên cứu sâu về quyền bình đẳng

của phụ nữ trong tư tưởng của Người Một số bài viết đăng trên tạp chí: “Chủ tịch Hồ Chí Minh với công tác đào tạo, bồi dưỡng về đề bạt cán bộ nữ” của Hoàng Thị Nữ, Tạp chí Lịch sử Đảng, số 6/1989; “Tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng phụ nữ và xây dựng đội ngũ cán bộ”của Nguyễn Thị Mão, Tạp chí Xây dựng Đảng, số 10/1996; “Những quan điểm cơ bản về giải phóng phụ nữ trong Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh” của PGS.TS Nguyễn Khánh Bật, Tạp chí Lý luận chính trị, số 3/2000; “Chủ tịch Hồ Chí Minh với việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ nữ” của TS Nguyễn Thị Kim Dung, Tạp chí Lịch

sử Đảng, số 11/2001…đã bước đầu đề cập đến quyền bình đẳng của phụ nữ trong tư tưởng Hồ Chí Minh

Còn viết về phụ nữ, về bình đẳng giới nói chung trong xã hội đến nay

đã có nhiều công trình nghiên cứu: “Phụ nữ giới và bình đẳng giới trong đổi mới ở Việt Nam” (1998) của GS Lê Thi; “Luận cứ về khoa học cho việc đổi mới chính sách xã hội đối với phụ nữ và gia đình” do PGS Trần Thị Vân Anh làm chủ nhiệm Một số bài viết trên tạp chí: “Quyền bình đẳng của phụ nữ trong sự nghiệp và cuộc sống gia đình” của Nguyễn Thị Báo, Tạp chí Lý luận

chính trị số 10/2003…

Những công trình trên đã bước đầu đặt cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu phụ nữ nói chung và quyền bình đẳng của phụ nữ nói riêng, nêu kiến nghị thay đổi, bổ sung những chính sách xã hội đối với phụ nữ để họ có điều kiện phát triển, phát huy hết vai trò của mình trong sự nghiệp đổi mới.Kết quả của những công trình đó là tài liệu quý giá để em hoàn thành khóa luận của mình

Trang 7

3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu

+ Mục đích

Nghiên cứu quá trình Đảng lãnh đạo việc thực hiện quyền bình đẳng của phụ nữ trong thời kỳ đổi mới từ việc định hướng ra đường lối chủ trương, các giải pháp đến trực tiếp chỉ đạo thực hiện

+ Phạm vi nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu Đảng lãnh đao việc thực hiện quyền bình đẳng của phụ nữ trong thời kỳ đổi mới giai đoạn từ 1986 đến 2006 trên phương diện thực tiễn

4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu

Nguồn tư liệu

Nguồn tư liệu được sử dụng chủ yếu trong khóa luận bao gồm:

- Các văn kiện của Đảng, Nghị quyết hội nghị BCH TƯ, các Nghị quyết, Chỉ thị, Báo cáo của Trung ương Đảng

- Các văn kiện Nhà nước như Hiến pháp, Pháp lệnh, Chỉ thị, Quyết định của Chính phủ

- Một số sách, báo, tạp chí viết về phụ nữ

- Các công trình khoa học nghiên cứu về vấn đề này

Phương pháp nghiên cứu

Dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề quyền bình đẳng của phụ nữ, trong quá trình nghiên cứu em

Trang 8

có sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu: logic và lịch sử, phân tích

và tổng hợp các tư liệu thực tế để giải quyết nhiệm vụ đặt ra

5 Đóng góp của khóa luận

- Làm rõ vấn đề quyền bình đẳng của phụ nữ trong tư tưởng Hồ Chí Minh

- Thấy được thực trạng về bình đẳng giới trong xã hội hiện nay, những thành tựu, hạn chế của việc thực hiện quyền bình đẳng của phụ nữ, từ đó đưa

Trang 9

Chương 1

CƠ SỞ HÌNH THÀNH ĐƯỜNG LỐI LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN

QUYỀN BÌNH ĐẲNG GIỚI CỦA ĐẢNG

1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1.1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác -Lênin

Trong lịch sử nhân loại đã có nhiều nhà tư tưởng bàn đến vị trí, vai trò của phụ nữ Nhưng chỉ từ khi chủ nghĩa Mác ra đời, vị trí, vai trò của phụ nữ mới được nhận thức khoa học, đầy đủ, Mác đã chỉ rõ: “Trong lịch sử nhân loại, không có một phong trào to lớn nào của những người bị áp bức mà lại không có phụ nữ lao động tham gia, phụ nữ lao động là những người bị áp bức nhất trong tất cả những người bị áp bức” [21, tr.60] Theo đó ông khẳng định, trong mỗi bước tiến của nhân loại đều có sự đóng góp quan trọng của phụ nữ.Từ nhận thức khoa học đó, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin coi việc thực hiện quyền bình đẳng cho phụ nữ là một nội dung của cách mạng xã hội Đi sâu nghiên cứu nguyên nhân của sự bất bình đẳng, các ông chỉ ra rằng chế độ tư hữu đã tạo ra sự phân chia giai cấp làm nảy sinh tình trạng áp bức, bóc lột giai cấplà cội nguồn bất bình đẳng giữa nam và nữ trong gia đình và xã hội.Người phụ nữ bị mất dần những quyền lợi về kinh tế và chính trị, bị cô lập với xã hội, hoạt động của họ bị giới hạn trong công việc nội trợ gia đình Từ đó, các con đường tiến tới bình đẳng được chỉ ra:

Thứ nhất, cần xóa bỏ chế độ tư hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, xây dựng chế độ công hữu.Việc làm này sẽ thủ tiêu sự lệ thuộc về kinh tế của phụ

nữ, tạo cơ sở xây dựng quyền bình đẳng của phụ nữ

Thứ hai, không thể cột chặt người phụ nữ vào công việc gia đình, phải đưa họ tham gia vào nền sản xuất của xã hội

Trang 10

Thứ ba, phải xây dựng quan hệ hôn nhân và gia đình tiến bộ, hôn nhân

tự nguyện chứ không bị lợi ích kinh tế chi phối

Quan điểm của các ông đã được V.I.Lênin kế thừa phát triển và hiện thực hóa ở Nga.Lênin coi vấn đề giải phóng phụ nữ vừa là mục tiêu, vừa là động lực của cách mạng Lênin cho rằng: “Chừng nào mà phụ nữ không những chưa được quyền tự do tham gia đời sống chính trị nói chung, mà cũng chưa được quyền gánh vác một công vụ thường xuyên và chung cho hết thảy mọi người, thì chừng ấy không những chưa có thể nói ngay đến chủ nghĩa xã hội được mà cũng chưa thể nói đến ngay cả một chế độ dân chủ đầy đủ và bền vững được [22, tr.201]

Sau khi cách mạng tháng Mười Nga thành công, Lênin đã hiện thực hóa

lý tưởng nam nữ bình đẳng bằng các chính sách cụ thể và thiết thực như: Thứ nhất, luật pháp hóa quyền bình đẳng nam nữ.Hủy bỏ hoàn toàn pháp luật tư sản, ban hành pháp luật mới tôn trọng quyền bình đẳng nam nữ Thứ hai, không chỉ giải phóng phụ nữ bằng luật pháp, để phụ nữ thực

sự được bình đẳng, có quyền tham gia quyết định vận mệnh đất nước của mình mà còn phải đưa phụ nữ trực tiếp tham gia quản lý Nhà nước

Thứ ba, không chỉ giải phóng phụ nữ ngoài xã hội mà phải giải phóng

họ ngay trong gia đình, vì chính nơi đây công việc đang đè nặng lên vai họ, làm cho họ không thể phát triển như nam giới.Để giảm bớt gánh nặng này, Lênin yêu cầu các cơ quan, các cơ sở sản xuất phải lập ra “một số cơ quan kiểu mẫu như nhà ăn, nhà giữ trẻ, để giúp cho phụ nữ thoát khỏi công việc gia đình” [23, tr.231]

Lênin quan niệm người phụ nữ phải được bình đẳng với nam giới về mọi phương diện trong gia đình cũng như ngoài xã hội.Lênin đặc biệt quan tâm tới gia đình, nơi phát sinh và duy trì sự bất bình đẳng hàng ngàn năm, nên đã đưa

ra một chính sách cụ thể, thiết thực giúp phụ nữ vươn lên bình đẳng cùng nam

Trang 11

giới.Có thể nói, cách mạng tháng Mười Nga không chỉ mở ra kỷ nguyên giành độc lập cho các dân tộc bị áp bức mà còn mở đầu cho cuộc đấu tranh giành quyền bình đẳng nam nữ Tiếp theo nước Nga, một loạt các nước XHCN ra đời và từng bước biến điều “không thể” (Bình đẳng nam nữ) thành điều “có thể” và thành hiện thực, trong đó có Việt Nam

1.1.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền bình đẳng của phụ nữ

Trong quá trình bôn ba tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh đã đến với chủ nghĩa Mác - Lênin và lĩnh hội đầy đủ những nguyên lý mà Mác - Lênin

đề ra, trong đó có tư tưởng giải phóng phụ nữ, thực hiện bình đẳng cho phụ

nữ

Kế thừa những quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về vai trò của phụ

nữ và quyền bình đẳng của phụ nữ; từ thực tiễn vai trò của phụ nữ thế giới; của phụ nữ Việt Nam trong lịch sử và hiện tại, Hồ Chí Minh đặt trọn niềm tin của mình vào lực lượng phụ nữ Việt Nam: “An Nam cách mệnh cũng cần phải có nữ giới mới thành công” [28, tr.289] Và cũng từ đó, Hồ Chí Minh đã hình thành quan điểm về giải phóng và thực hiện quyền bình đẳng cho phụ nữ bao gồm các nội dung:

*Giải phóng và thực hiện quyền bình đẳng cho phụ nữ là mục tiêu của sự nghiệp cách mạng vô sản; là sự nghiệp cách mạng lâu dài

Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhà tư tưởng đầu tiên trong lịch sử Việt Nam đặt vị thế, vai trò của phụ nữ ngang với nam giới và Người cũng là một trong những lãnh tụ tiêu biểu của thế giới đề cao sự nghiệp giải phóng phụ nữ, thực hiện quyền bình đẳng nam nữ

Trong quá trình bôn ba tìm đường cứu nước, đến đâu Nguyễn Ái Quốc cũng thấy cảnh phụ nữ bị đối xử bất công, bị bóc lột, chà đạp nhân phẩm một cách tàn nhẫn như phụ nữ Việt Nam Vì thế, suốt cuộc đời hoạt động của

Trang 12

mình, Hồ Chí Minh luôn đấu tranh cho quyền lợi của phụ nữ và xem đó như

là một mục quan trọng của cách mạng Việt Nam

Hầu hết các tác phẩm, bài báo, bài phát biểu của mình, Hồ Chí Minh luôn lưu ý đến vấn đề nữ giới Trong tác phẩm nổi tiếng “Bản án chế độ thực dân Pháp” viết năm 1925, Nguyễn Ái Quốc đã dành cả một chương để trình bày cho toàn thế giới biết thân phận cũng như nỗi khổ nhục mà những phụ nữ bản xứ phải gánh chịu, đó là:

- Người phụ nữ trở thành dâm bạo của thực dân

- Người phụ nữ trở thành trọng điểm của “chính sách” bóc lột sức lao động và cướp đoạt ruộng đất Trong bài: “ Văn minh tư bản chủ nghĩa và phụ

nữ ở các nước thuộc địa” Nguyễn Ái Quốc đã mô tả:

Trong các nước bị chiếm đó, không có luật hay sự hạn chế nào để kiềm chế bớt bọn bóc lột.Những người thợ bản xứ bị coi như súc vật.Người ta chỉ cho họ những gì vừa đủ để khỏi chết đói.Người ta dùng roi để thúc họ đi Không có bảo hộ lao động không có bồi thường tai nạn Người ta thấy lại trong các thuộc địa đó tất cả hệ thống phong kiến trung cổ và dã man của chủ nghĩa tư bản [29, tr.134]

Bằng những tư liệu cụ thể, Hồ Chí Minh đã phản ánh một cách tường minh sự bóc lột tàn bạo của chủ nghĩa thực dân không chỉ đối với phụ nữ Việt Nam mà cả nhiều thuộc địa khác Trong tác phẩm “Bản án chế độ thực dân Pháp” nổi tiếng

+ Phụ nữ Việt Nam là nạn nhân của chính sách nô dịch văn hóa và ngu dân

Đại bộ phận nhân dân ta bị thất học, và phụ nữ là người thiệt thòi nhất.Trong 90% dân số nước ta thời Pháp thuộc bị mù chữ thì có tới 98% phụ

nữ là ở trong tình trạng tối tăm đó.Ở nông thôn, hầu hết phụ nữ không biết

Trang 13

chữ.Bọn thực dân muốn biến phụ nữ thành lớp người u mê, đần độn để dễ bề sai khiến và tự do bóc lột áp bức hà hiếp họ

Cùng với việc phơi bày những khổ nhục của phụ nữ, Hồ Chí Minh đã chỉ ra cho nhân dân thế giới biết: mọi áp bức, nô dịch đối với phụ nữ và trẻ

em ở các nước thuộc địa chủ yếu là do chế độ áp bức dân tộc và bóc lột giai cấp của chủ nghĩa thực dân.Vì vậy quyền lợi của người phụ nữ phải gắn liền với quyền lợi của cả dân tộc Do đó, muốn quyền lợi của phụ nữ được đảm bảo thì trước tiên phải giành lại quyền lợi cho dân tộc, cho giai cấp

Phân tích tình hình kinh tế, chính trị, xã hội Việt Nam đầu thế kỷ XX,

Hồ Chí Minh khẳng định: “Muốn cứu nước giải phóng dân tộc không còn con đường nào khác con đường cách mạng vô sản” [33, tr.314] Đồng thời người cũng xác định mục tiêu trước mắt và lâu dài là làm cách mạng giải phóng dân tộc đem lại tự do cho dân tộc đồng thời với giải phóng phụ nữ đem lại quyền bình đẳng cho phụ nữ, vì chỉ khi đánh đổ đế quốc, giành lại quyền tự quyết cho dân tộc thì phụ nữ mới được bình đẳng

Theo Hồ Chí Minh là một nước thuộc địa, phụ nữ muốn thoát khỏi áp bức bóc lột và nô dịch của chủ nghĩa đế quốc, thì phải cùng với toàn dân tộc đứng lên làm cách mạng

Trong tư tưởng giải phóng dân tộc của Hồ Chí Minh luôn có tư tưởng

về giải phóng phụ nữ, thực hiện quyền bình đẳng cho phụ nữ, Người từng nói:

“Chúng ta làm cách mạng là để tranh lấy quyền bình đẳng trai gái đều ngang quyền như nhau” [35, tr.195] Trong một bài báo viết năm 1925, Hồ Chí Minh

đã viết: “Vì quyền lợi của đàn bà con gái An Nam mà chúng ta làm cách mạng” [29, tr.443] và phân tích: “Đàn bà con gái cũng nằm trong nhân dân Nếu cả dân tộc được tự do, đương nhiên họ cũng được tự do Ngược lại nếu dân tộc còn trong cảnh nô lệ thì họ và con cái họ cũng sống trong cảnh nô lệ

mà thôi” [29, tr.443]

Trang 14

Với quan điểm nhất quán đó, Hồ Chí Minh luôn coi trọng việc tập hợp, đoàn kết rộng rãi mọi tầng lớp phụ nữ.Người luôn dùng gương xưa để cổ vũ chị em phụ nữ Trong bài Bà Trưng Trắc đăng trên báo Thanh niên số 73 ngày 12/12/1926 Người viết: “Như buổi ấy là buổi phong kiến mà đàn bà con gái còn biết kách mệnh Huống chi bây giờ hai chữ “nữ quyền” đã rầm rầm khắp thế giới chị em ta lại gặp cảnh nước suy vi, nỡ lòng nào ngồi yên được! Chị

em ơi! Mau mau đoàn kết lại” [29, tr.457]

Năm 1930, trong Chính cương vắn tắt và lời kêu gọi nhân dịp thành lập Đảng: “Thực hiện nam nữ bình quyền” Sau Cách mạng Tháng Tám năm

1945, với tư cách là Trưởng ban soạn thảo Hiến pháp, Hồ Chí Minh đề nghị đưa vấn đề bình đẳng nam nữ vào Hiến pháp Hiến pháp 1946 ghi rõ: “Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện” Tuy nhiên thực tế việc thực hiện sự ngang quyền giữa đàn bà và đàn ông là một việc vô cùng phức tạp

Theo đó Người khẳng định: Thực hiện bình đẳng cho phụ nữ là một cuộc cách mạng lâu dài và khó khăn, đòi hỏi sự quan tâm của toàn xã hội

Trước hết, cần có sự tiến bộ mạnh mẽ của nền kinh tế đất nước, cần

phát triển nhiều ngành nghề và áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật để giảm bớt các khâu lao động nặng nhọc từ đó cải thiện điều kiện lao động sinh sống của phụ nữ

Thứ hai, cần có sự tiến bộ về chính trị Sự tiến bộ về mặt chính trị gắn

liền với quá trình thực hiện dân chủ hóa đời sống xã hội, lành mạnh hóa các mối quan hệ giữa phụ nữ và các thành viên khác Có như vậy quyền bình đẳng, tự do của chị em mới được đảm bảo

Thứ ba, cần có sự tiến bộ về pháp luật Sự tiến bộ của pháp luật thể

hiện một cách rõ ràng, cụ thể, chính xác quyền lợi và nghĩa vụ của phụ nữ

Thứ tư, cần có sự tiến bộ về văn hóa tư tưởng Sự tiến bộ của văn hóa

tư tưởng nhằm xóa bỏ những trở ngại tinh thần và xã hội đang cố duy trì sự

Trang 15

bất bình đẳng giữa nam và nữ.Chỉ có sự phát triển giáo dục mới giúp phụ nữ nâng cao trình độ học vấn, tạo điều kiện phát triển toàn diện và tham gia vào các lĩnh vực hoạt động xã hội bình đẳng với nam giới

Để đảm bảo quyền tự do dân chủ của chị em dưới chính quyền cách mạng, Hồ Chí Minh chú ý đến cục diện mới của việc đấu tranh giành quyền bình đẳng cho phụ nữ khi họ đã trở thành chủ nhân của đất nước Người khẳng định chính quyền cách mạng phải là công cụ đắc lực phục vụ cho sự nghiệp giải phóng phụ nữ thực hiện quyền bình đẳng cho phụ nữ

Dưới sự chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh chính quyền cách mạng đã ban hành Hiến pháp và hàng loạt các luật bảo vệ quyền lợi của phụ nữ Nhưng muốn biến nó thành hiện thực thì phải đòi hỏi sự nỗ lực to lớn của toàn dân, của tất cả các chị em phụ nữ, hay nói cách khác là của toàn xã hội Đây quả thật là một cuộc cách mạng đầy khó khăn “phải cách mạng từng người, từng gia đình đến toàn dân”

* Quyền bình đẳng của phụ nữ phải toàn diện trên các lĩnh vực của đời sống xã hội

Với cương vị là người đứng đầu đất nước, ngay trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ (3/9/1945) Hồ Chí Minh đã đề ra 6 nhiệm vụ cấp bách,

Trang 16

trong đó có Tổng Tuyển cử, xây dựng Hiến pháp Và phụ nữ Việt Nam lần đầu tiên phụ nữ Việt Nam được thực hiện quyền công dân của mình trong cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội ngày 6 - 1 - 1946 Sau đó, Hiến pháp năm

1946 đã được Quốc hội khóa I thông qua tại kỳ họp thứ 2 Quốc hội khóa I

Hồ Chí Minh vui mừng công bố: Hiến pháp đó đã tuyên bố với thế giới Phụ

nữ Việt Nam đã được đứng ngang hàng với đàn ông để được hưởng chung mọi quyền tự do của công dân [31, tr.440]

Về quyền bình đẳng chính trị của phụ nữ, điều 18 Hiến pháp 1946 ghi rõ: “Tất cả công dân Việt Nam, từ 18 tuổi trở lên không phân biệt gái, trai, đều có quyền bầu cử trừ những người mất trí và những người mất công dân” [18, tr.11]

Đây là lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam quyền bình đẳng của phụ nữ được pháp luật của nhà nước công nhận Người phụ nữ có cơ sở pháp lý để đảm bảo tự do trong cuộc sống của mình Nguyên tắc hiến định đó tiếp tục được mở rộng, phát triển trong Hiến pháp sửa đổi năm 1959 Tại điều 24 chương III Hiến pháp ghi rõ: “Phụ nữ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa có quyền bình đẳng với nam giới về các mặt sinh hoạt chính trị, kinh tế, văn hóa, gia đình [18, tr.38] Ngoài ra Hiến pháp còn quy định “Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật” (Điều 55) và “Công dân có quyền tham gia quản lý công việc của Nhà nước và hội” (Điều 56)

Những nguyên tắc trên được Hồ Chí Minh chỉ đạo hiện thực hóa trong quá trình lãnh đạo cách mạng Người nhiều lần nhắc nhở các sở ban ngành phải chú ý chăm lo bồi dưỡng phát triển cán bộ nữ Khi đến thăm lớp bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo cấp huyện, quan sát chỉ vài cán bộ nữ, Bác phê bình:

“Cán bộ nữ ít như vậy là một thiếu sót Các đồng chí phụ trách lớp học chưa quan tâm tới việc bồi dưỡng cán bộ nữ Đây cũng là thiếu sót chung của Đảng” [35, tr.208] Thực hiện quyền bình đẳng về chính trị, nhiều phụ nữ đã

Trang 17

có cơ hội tham gia công tác quản lý, kể cả phụ nữ miền núi như: các chị Nguyễn Thị Khoa ở Hòa Bình, Vi Thị Hóa ở Nghĩa Lộ là làm Tỉnh ủy viên, chị Bùi Thị Na là chủ nhiệm Hợp tác xã…

Dưới sự quan tâm của Hồ Chí Minh, có thể nói, phụ nữ đã được bình đẳng với nam giới trong đời sống chính trị Hầu hết phụ nữ đến tuổi trưởng thành đều được tham gia sinh hoạt chính trị: được quyền bầu cử, ứng cử, được tham gia sinh hoạt ở các đoàn thể, nhiều phụ nữ đã được tham gia vào bộ máy Nhà nước Số phụ nữ tham gia chính trị ngày càng tăng lên Đó là kết quả của quá trình nhận thức và tổ chức thực hiện tư tưởng bình đẳng nam nữ về chính trị của Hồ Chí Minh

Ngay sau khi miền Bắc được hoàn toàn giải phóng (1954), Hồ Chí Minh đã chủ trương tiến hành cải cách ruộng đất, xác định quyền bình đẳng

về sở hữu ruộng đất của phụ nữ Người đã chỉ ra rằng: “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội phải làm gì? Nhất định phải tăng gia cho sản xuất thật nhiều Muốn có nhiều sức lao động thì phải giải phóng sức lao động của phụ nữ” [33, tr.523]

Để giải phóng sức lao động của phụ nữ, trước hết là đưa phụ nữ tham gia vào nhiều ngành nghề mới phát triển như công thương nghiệp, văn hóa, giáo dục, y tế, khoa học… Đồng thời gạt bỏ các trở ngại đang hạn chế việc

Trang 18

phát huy sức mạnh tiềm tàng về năng lực, trí tuệ, về phẩm chất đạo đức tốt đẹp của người phụ nữ

Trước hết, cần nói đến quyền phụ nữ có việc làm bình đẳng như nam giới Đó là quyền cơ bản đầu tiên của con người Người công dân bất cứ nam hay nữ đều được quyền xin vào làm việc ở bất cứ ngành nghề nào nếu họ đủ trình độ và khả năng cần thiết và đáp ứng yêu cầu nhân lực của ngành nghề

đó Hiến pháp sửa đổi năm 1959 quy định: “Công dân nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có quyền làm việc” (Điều 30), đồng thời Hiến pháp còn quy định “Cùng việc làm như nhau, phụ nữ được hưởng lương ngang với nam giới” (Điều 24) [18, tr.39]

Tuy nhiên do tồn tại những tư tưởng coi thường khả năng làm việc của phụ nữ, và sự hạn chế về trình độ văn hóa, trình độ nghề nghiệp của chị em nên khó tránh khỏi sự phân biệt đối xử trong tuyển chọn lao động Để khắc phục tệ phân biệt đối xử đó, Hồ Chí Minh nhắc nhở các cấp lãnh đạo quan tâm, tạo điều kiện giúp đỡ chị em phụ nữ nâng cao trình độ kiến thức, chuyên môn kỹ thuật Người yêu cầu phải lập nhà trẻ, vườn trẻ, nhà ăn để phụ nữ yên tâm công tác, yên tâm lao động Mặt khác Hồ Chí Minh đề nghị ban hành những chế độ chính sách cần thiết để thúc đẩy sự phân bổ, sử dụng lao động

nữ một cách hợp lý Nghị quyết 31- CP ban hành ngày 8 - 3 - 1967 về “Tăng cường lực lượng lao động nữ trong các cơ quan xí nghiệp” đã đáp ứng yêu cầu của Hồ Chí Minh Nghị quyết nêu rõ:

“Các ngành công nghiệp nặng, giao thông, kiến trúc, thủy lợi, quốc phòng cũng tăng thêm phụ nữ vào công việc thích hợp Những công việc như văn thư, đánh máy, điện thoại, kế toán , thống kê… thì kiên quyết để phụ nữ đảm nhiệm”

Chính sách trên đã tạo nên bước chuyển biến mới mẻ trong việc sử dụng lao động nữ Nhiều phụ nữ từ khu kinh tế nông nghiệp đã chuyển sang

Trang 19

làm việc ở nhiều ngành nghề sản xuất khác, xóa bỏ dần sự phân biệt đối xử nam nữ trong việc tuyển chọn, sắp xếp lao động vào cơ quan Nhà nước

Có thể nói, dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự quan tâm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, quyền bình đẳng của phụ nữ trong lĩnh vực kinh tế đã được xác lập Tỷ lệ lao động là phụ nữ ngày càng tăng lên trong các ngành nghề Nhận xét về khả năng làm kinh tế của phụ nữ, Hồ Chí Minh khẳng định: Phụ nữ là lực lượng lao động quan trọng trong xã hội, là đội quân chủ lực tạo ra của cải vật chất làm giàu cho đất nước

- Về văn hóa:

Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu” [31, tr.28] Ngay từ đầu cách mạng, Người đã nhìn thấy rõ chỉ có tri thức mới giải phóng con người, đưa con người tới mọi quyền bình đẳng.Để phụ nữ bình đẳng với nam giới, chỉ có con đường là phụ nữ phải học tập, nâng cao nhận thức và hiểu biết về mọi mặt để tham gia vào các hoạt động xã hội, khẳng định vị trí của mình Cho nên, ngay sau Cách mạng Tháng Tám 1945 thành công, Hồ Chí Minh hết sức chú trọng đến việc phát động chiến dịch diệt “giặc dốt” để xóa dần tình trạng dốt nát của nhân dân ta do chính sách ngu dân của Pháp để lại

Trong chiến dịch đó, Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến nữ giới.Người đã không ngừng khuyến khích chị em chịu khó học tập nâng cao hiểu biết để có khả năng làm chủ đất nước, ngang hàng với nam giới Người

đã nói:

“Mọi người Việt Nam phải hiểu biết về quyền lợi của mình, bổn phận của mình, phải có kiến thức để có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà.Phụ nữ lại càng cần phải học, đã lâu chị em bị kìm hãm.Đây là lúc các chị

em phải cố gắng để kịp nam giới, để xứng đáng mình là phần tử trong nước” [30, tr.37]

Trang 20

Theo Hồ Chí Minh, học tập để nâng cao trình độ văn hóa sẽ giúp chị

em nhận thức đúng đắn, vươn lên làm chủ về mọi mặt một cách vững chắc, thoát khỏi sự phụ thuộc bất công mà chế độ phong kiến và thực dân dùng để trói buộc họ Có văn hóa phụ nữ sẽ phát huy được tài năng, trí tuệ cho phép

họ có những cống hiến to lớn cho đất nước và nhân loại

Mặt khác, chủ trương Hồ Chí Minh nâng cao trình độ văn hóa cho phụ

nữ cũng nhằm giải thoát phụ nữ khỏi ảnh hưởng của thần quyền, của những thành kiến sai lầm, những phong tục tập quán hủ lậu mà các thế lực thống trị

đã lợi dụng để trói buộc và đè nén phụ nữ, khiến họ phải an phận, sống trong cảnh tối tăm và bất công Chính sự dốt nát đã làm cho người phụ nữ lâm vào bước đường cùng khổ, và đó cũng chính là nguồn gốc sâu xa dẫn đến sự tồn tại kéo dài của những thiên kiến sai lầm và những tín điều duy tâm.Chỉ khi nào trình độ văn hóa của phụ nữ được nâng cao thì họ mới trút bỏ được những

tư tưởng lạc hậu và nhận thức sai lầm đó

Với quan điểm trên, Hồ Chí Minh đã đề nghị đưa vào Hiến pháp vấn đề bình đẳng nam nữ trong lĩnh vực văn hóa để bảo vệ quyền lợi của phụ nữ trong lĩnh vực này Điều 6, Hiến pháp nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm

1946 quy định: “Tất cả công dân Việt Nam đều ngang quyền về mọi phương diện: chính trị, kinh tế, văn hóa” [18, tr.9] Vấn đề này được Hiến pháp năm

1959 bổ sung rõ hơn: “Phụ nữ nước Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa có quyền bình đẳng với nam giới về sinh hoạt văn hóa” (Điều 24) [18, tr.38 - 39], “có quyền học tập” (Điều 33);

“Quyền tự do nghiên cứu khoa học, sáng tác văn học, nghệ thuật và tiến hành các hoạt động văn hóa khác” (Điều 23) [18, tr.41]

Không chỉ quan tâm tạo cơ sở pháp lý bảo vệ quyền học tập nâng cao trình độ của phụ nữ mà cả trong thực tế Hồ Chí Minh luôn quan tâm theo dõi việc đào tạo, bồi dưỡng phụ nữ Người rất bất bình với tình trạng bất bình

Trang 21

đẳng về địa vị giữa nam và nữ trong xã hội, mà nguyên nhân của nó là do trình độ của phụ nữ thấp kém hơn nam giới Người đã hết sức tuyên truyền giác ngộ để mọi người nhận thức rõ hơn vai trò của phụ nữ và vận động mọi người cùng nhau giúp đỡ để phụ nữ vươn lên khẳng định địa vị của mình Bác thường nhắc nhở cán bộ lãnh đạo các cấp rằng: Từ nay các cấp Đảng, chính quyền địa phương khi giao công việc cho phụ nữ phải căn cứ vào trình độ của từng người và cần phải tích cực giúp đỡ họ nhiều hơn nữa [34, tr.184]

Dưới sự quan tâm của Bác, của Đảng, phụ nữ Việt Nam đã thoát khỏi kiếp sống tối tăm, u mê.Trẻ em trai cũng như gái đều được cắp sách đến trường Phụ nữ không phải chỉ biết trau dồi “công, dung, ngôn, hạnh”, mà họ được học tập nâng cao hiểu biết, phát triển tài năng trí tuệ của mình, vươn lên làm chủ đời mình, làm chủ đất nước ngang hàng với nam giới

Để bảo vệ quyền bình đẳng của phụ nữ trong gia đình, Hồ Chí Minh yêu cầu ban hành Luật hôn nhân và gia đình Việc ban hành và thực hiện luật hôn nhân gia đình là một cuộc cách mạng thật sự, bởi lẽ đạo luật này sẽ tham

Trang 22

gia xóa bỏ sự phân biệt giữa nam và nữ trong hôn nhân và gia đình Người yêu cầu các đoàn thể có trách nhiệm tuyên truyền cho từng gia đình và toàn thể cộng đồng trong xã hội, đồng thời kêu gọi chị em phụ nữ phải tìm hiểu nắm chắc luật để làm cơ sở đấu tranh bảo vệ quyền bình đẳng trong gia đình của mình

Được sự quan tâm của Hồ Chí Minh và sự điều tiết của pháp luật, những tệ nạn cũ (gia trưởng: đánh vợ, chửi vợ, ép duyên…) dần được xóa bỏ Hầu hết các gia đình thực hiện nếp sống mới, công việc trong gia đình được các thành viên quan tâm chia sẻ, không còn tình trạng trút hết lên đầu phụ nữ

Hồ Chí Minh quan niệm vai trò của phụ nữ trong gia đình và ngoài xã hội không hạn chế, triệt tiêu nhau, mà thống nhất bổ sung cho nhau Vai trò của phụ nữ trong xã hội được thể hiện chính từ vai trò của họ trong gia đình.Bởi lẽ gia đình là hạt nhân của xã hội.Gia đình càng tốt thì xã hội mới tốt.Mối quan hệ giữa gia đình và xã hội là mối quan hệ hữu cơ gắn bó chặt chẽ.Được bình đẳng về mặt xã hội là điều kiện để phụ nữ xây dựng gia đình

Vì vậy, để thực hiện quyền bình đẳng của phụ nữ trong gia đình phải gắn liền với thực hiện bình đẳng của họ trong xã hội và nâng cao vị thế của phụ nữ trong xã hội và ngược lại được bình đẳng trong gia đình sẽ tạo điều kiện cho phụ nữ tham gia nhiều hơn công việc xã hội

Quan tâm đến quyền bình đẳng của phụ nữ trong gia đình và xã hội, Hồ Chí Minh còn rất quan tâm đến việc đề ra chính sách ưu đãi đối với phụ nữ để phụ nữ có điều kiện tham gia hoạt động bình đẳng như nam giới Hiến pháp năm 1959 quy định rõ: “Nhà nước bảo đảm cho phụ nữ công nhân và phụ nữ viên chức được nghỉ trước và sau khi đẻ mà vẫn hưởng nguyên lương Nhà nước bảo hộ quyền lợi này của người mẹ và trẻ em, bảo đảm phát triển các nhà đỡ đẻ, nhà giữ trẻ và vườn trẻ” [18, tr.39]

Trang 23

Như vậy, dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh và Đảng cộng sản Việt Nam, vấn đề thực hiện bình đẳng nam nữ đã được đề ra và thực hiện nghiêm túc trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Tuy nhiên, trong những bước đầu thực hiện sự nghiệp ấy đã gặp không ít khó khăn bởi những phong tục, tập quán cổ hủ từ hàng ngàn năm nay Theo Hồ Chí Minh, muốn xóa bỏ đòi hỏi phải có thời gian và biện pháp cụ thể

*Biện pháp thực hiện

Là nhà chính trị lỗi lạc, Hồ Chí Minh còn là nhà khoa học với tư duy biện chứng, luôn gắn lý luận với thực tiễn Để thực hiện nhiệm vụ cao cả nhưng vô cùng khó khăn đó, cần phải có quyết tâm, đặc biệt phải có biện pháp cụ thể Theo Người, có những biện pháp sau:

+ Thực hiện bình đẳng cho phụ nữ phải gắn với chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của nhà nước

Xuất phát từ nhận thức đúng đắn về vai trò của phụ nữ trong xã hội và tầm quan trọng của lực lượng phụ nữ trong thực tiễn cách mạng Việt Nam,

Hồ Chí Minh đã xác định trách nhiệm của Đảng, Nhà nước và các tổ chức xã hội với sự nghiệp thực hiện bình đẳng nam nữ

Theo Người, Đảng và Nhà nước phải quan tâm giúp đỡ phụ nữ, giải thoát phụ nữ khỏi những bất công của xã hội bằng cách đề ra chủ trương chính sách cụ thể để giáo dục toàn dân thực hiện Trên cơ sở các nguyên tắc Hiến pháp đã định, Hồ Chí Minh yêu cầu Đảng và Nhà nước phải có kế hoạch

cụ thể hóa các nguyên tắc đó

Tuy nhiên để quyền bình đẳng của phụ nữ được thực hiện không phải chỉ đề ra chủ trương chính sách là đủ mà còn phải tạo điều kiện thuận lợi cho phụ nữ tham gia lao động sản xuất, bảo hộ sức khỏe, giảm nhẹ gánh nặng gia đình, có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng để phụ nữ thể hiện hết khả năng của mình Người nói: “Đảng và Chính phủ cần phải có kế hoạch thiết thực để bồi

Trang 24

dưỡng cất nhắc và giúp đỡ để ngày thêm nhiều phụ nữ phụ trách mọi công việc kể cả công việc lãnh đạo” [35, tr.504]

Không chỉ quan tâm đến nâng cao vai trò, địa vị của phụ nữ mà Hồ Chí Minh còn yêu cầu các cấp lãnh đạo phải có chủ trương, biện pháp bảo vệ sức khỏe cho phụ nữ Người thường nhắc nhở: “Phải đặc biệt chú ý đến sức khỏe lao động phụ nữ Phụ nữ là đội quân lao động rất đông phải giữ gìn sức khỏe cho phụ nữ để chị em tham gia sản xuất được tốt” [35, tr.194] Người đặc biệt lưu ý các cấp lãnh đạo trong việc phân phối hợp lý công tác cho phụ nữ

Hồ Chí Minh thường xuyên nhắc nhở các cấp lãnh đạo phải triển khai chủ trương, đường lối và thực hiện chính sách một cách cụ thể, thiết thực, nói

đi đôi với làm, không được xa rời quần chúng phải bám sát các hoạt động của phụ nữ, hướng dẫn, giúp đỡ họ tháo gỡ khó khăn Người nói: “Các cấp lãnh đạo đi sát hơn, thiết thực hơn thì phong trào phụ nữ chắc rộng hơn mạnh hơn nữa” [32, tr.432]

Để phong trào phụ nữ mạnh hơn, rộng hơn, Hồ Chí Minh đặc biệt nhấn mạnh vai trò của Hội Liên hiệp Phụ nữ Theo Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ phải là cầu nối giữa Đảng với các tầng lớp phụ nữ thông qua việc tuyên truyền các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, Chính phủ, đặc biệt là các chủ trương, chính sách có liên quan đến phụ nữ

+ Thực hiện bình đẳng cho phụ nữ là sự nghiệp của bản thân phụ nữ

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, thực hiện bình đẳng nam nữ là trách nhiệm của Đảng và Nhà nước và toàn xã hội, nhưng để thực hiện thành công nhanh chóng sự nghiệp đó thì trước hết bản thân nữ giới phải tự vươn lên Đây là một yếu tố mang tính quyết định Chính vì vậy phụ nữ không nên trông chờ vào việc thực thi các chủ trương, chính sách của Đảng, luật pháp của Nhà nước, mà phải tự đấu tranh để khẳng định vị trí của mình

Trang 25

Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến cuộc đấu tranh giúp phụ nữ vượt khỏi

tư tưởng an phận với cuộc sống gia đình, với hạnh phúc chật hẹp, động viên

họ mang những khả năng của mình tham gia và đóng góp cho các công việc

xã hội, phấn đấu học tập, xóa bỏ những mặc cảm tự ti

Người luôn khơi dậy tính tự trọng, khả năng nỗ lực tự vươn lên của phụ

nữ, khuyến khích phụ nữ đấu tranh để bảo vệ quyền lợi của mình

Như vậy, cùng với việc khẳng định vai trò của Đảng và Nhà nước trong công cuộc thực hiện bình đẳng nam nữ Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh ý thức trách nhiệm của phụ nữ trong công cuộc đó, tức phụ nữ phải tự ý thức về quyền lợi và nghĩa vụ của mình (phải đem sức ta tự giải phóng cho ta), “phụ

nữ ta phải xóa bỏ cái tâm lý tự ti và ỷ lại, bảo thủ, phủ nhận, thủ tiêu đấu tranh làm nhụt ý chí chiến đấu

Theo Hồ Chí Minh để thực hiện cuộc cách mạng nam nữ bình quyền thành công triệt để, đòi hỏi phải có sự quan tâm giúp đỡ của Đảng và Nhà nước, sự kiên quyết đấu tranh để vươn lên khẳng định vị trí của mình của bản thân phụ nữ và sự tham gia hưởng ứng của toàn xã hội

Tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền bình đẳng của phụ nữ là một cống hiến to lớn của Người đối với sự phát triển của phụ nữ Tư tưởng đó bắt nguồn từ thực tiễn cuộc sống Vì vậy, những quan điểm, tư tưởng đó đã được cuộc sống đón nhận, phụ nữ Việt Nam đã có quyền bình đẳng một cách căn bản, nguyện vọng của chị em phụ nữ đã được thỏa mãn một phần đáng kể 1.2.CƠ SỞ THỰC TIỄN

1.2.1.Vị trí và vai trò của phụ nữ Việt Nam trong lịch sử dân tộc

Để tồn tại và phát triển, dân tộc Việt Nam phảigồng mình lên chống lại

2 loại giặc: tự nhiên và xã hội, trong đó chống xâm lược bảo vệ độc lập, tự do

là nhiệm vụ thường trực và là điều kiện tiên quyết để dân tộc tồn tại và phát triển Từ đó hình thành nên quy luật “Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh” Vậy

Trang 26

nên, những người đầu tiên phất cờ khởi nghĩa giành độc lập là phụ nữ “Từ đầu thế kỷ thứ nhất, Hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa đánh giặc cứu nước, cứu dân”[35, tr.148], đánh dấu cho sự mở đầu truyền thống tự giải phóng của phụ nữ Việt Nam.Kể từ đó đến thời đại Hồ Chí Minh, lịch sử khắc sâu một chân lý: phụ nữ Việt Nam không chỉ lo việc nhà mà còn lo việc nước

Góp phần vào truyền thống đánh giặc của phụ nữ Việt Nam xưa, 200 năm sau cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng là cuộc khởi nghĩa của Triệu Thị Trinh, một nữ nông dân ở Thanh Hóa đứng lên chống xâm lược Đông Ngô Câu nói nổi tiếng của Bà Triệu còn lưu truyền mãi: “Tôi chỉ muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp bằng sóng giữ, chém cá kình ở biển Đông, đánh đuổi quân Ngô, giành lại giang sơn, cởi ách nô lệ, chứ tôi không chịu khom lưng làm tỳ thiếp người ta” [24, tr.245].Cuộc khởi nghĩa một lần nữa khẳng định ý chí tự chủ, tinh thần độc lập dân tộc và khí phách của người phụ nữ Việt Nam Truyền thống đánh giặc của Bà Trưng, Bà Triệu đã được phụ nữ Việt Nam kế thừa từ thế hệ này qua thế hệ khác Không chỉ có một Trưng Vương, một Triệu Thị Trinh mà còn có hàng vạn Trưng Vương, hàng vạn Triệu Thị Trinh khác như đô đốc Bùi Thị Xuân, Bà Ba Cai Vàng… và các phụ nữ vô danh khác đã góp phần xương máu của mình tô thắm truyền thống đánh giặc giữ nước quý báu của dân tộc

Không chỉ góp công sức đánh giặc giữ nước mà người phụ nữ còn đảm nhiệm cả những công việc xã hội, tổ chức và quản lý xã hội Tiêu biểu là hình ảnh của Nguyên Phi Ỷ Lan, Thái Hậu Dương Vân Nga, là những phụ nữ tài

ba đã thay chồng lãnh đạo đất nước và còn vô số những người phụ nữ khác thay chồng và con trai quản lý xóm làng những lúc giặc tràn xâm lược Trên diễn đàn văn hóa nghệ thuật, nhiều phụ nữ đã để lại những áng văn thơ nổi tiếng như: Nhàn Khanh, Lý Ngọc Kiều, Đoàn Thị Điểm, Lê ngọc Hân, bà chúa thơ nôm Hồ Xuân Hương; Bà Huyện Thanh Quan…

Trang 27

Phát huy truyền thống tốt đẹp đó, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, phụ nữ Việt Nam lại cùng chồng con đồng hành cùng dân tộc trong

sự nghiệp đấu tranh giành chính quyền (1930-1945); trong 2 cuộc chiến tranh giữ nước và xây dựng CNXH (1945-1975) Nhận thức sâu sắc vai trò của phụ

nữ Việt Nam, Hồ Chí Minh đã nhiều lần viết thư tỏ lòng biết ơn phụ nữvới tình cảm kính trọng thiêng liêng Không chỉ vậy, Hồ Chí Minh còn nhiều lần nhấn mạnh “có hòa bình vì đã có bao nhiêu gương đấu tranh, hy sinh anh dũng của toàn dân ta, toàn Đảng ta, trong đó có phụ nữ ta” [34, tr.88]

Và Người không quên nêu những tấm gương sáng để phụ nữ Việt Nam noi theo “Gương anh dũng của đồng chí Nguyễn Thị Minh Khai, của Võ Thị Sáu luôn luôn sáng ngời để phụ nữ ta học tập” [35, tr.148] Hồ Chí Minh đã tuyên dương phụ nữ miền Nam: “Miền Nam có anh hùng có đội quân đấu tranh chính trị gồm hàng vạn chiến sĩ toàn là phụ nữ Phó tư lệnh quân giải phóng là cô Nguyễn Thị Định Cả thế giới chỉ nước ta có vị tướng quân gái như vậy” [35, tr.149]

Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ đánh giá cao vai trò của phụ nữ trực tiếp tham gia kháng chiến mà còn đánh giá cao vai trò to lớn của các bà mẹ, các cháu gái đã không quản ngại hy sinh gian khổ cống hiến cho sự nghiệp giải phóng dân tộc Người đã trân trọng kết luận: “Như thế là từ xưa đến nay,

từ Nam đến Bắc, từ trẻ đến già, phụ nữ Việt Nam thật là anh hùng” [35, tr.150] “Mỗi khi nước nhà gặp nguy nan, thì phụ nữ ta đều hăng hái đứng lên góp phần xứng đáng của mình vào sự nghiệp giải phóng dân tộc” [35, tr.148]

và nhận xét sau đây của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định một cách tường minh nhất vai trò của phụ nữ Việt Nam trong lịch sử : “Non sông gấm vóc Việt Nam do phụ nữ, trẻ cũng như già ra sức dệt thêu mà thêm tốt đẹp rực rỡ” [32, tr.432] Đây là tổng kết mang tính lịch sử, đồng thời mang tính dự báo chính xác của Người

Trang 28

1.2.2 Đảng lãnh đạo thực hiện quyền bình đẳng của phụ nữ trước năm

1986

Khi quyền nam nữ bình đẳng được công bố và thừa nhận, có người lầm tưởng rằng việc giải phóng phụ nữ như vậy đã được giải quyết, do đó thi hành luật pháp có thể là dễ dàng, thuận lợi Hồ chủ tịch đã sáng suốt chỉ ra rằng, con đường đấu tranh để thực hiện quyền bình đẳng thật sự cho phụ nữ khó khăn và lâu dài

Trước đây, dưới sự lãnh đạo của Đảng, phụ nữ đã cùng toàn dân đứng lên lật đổ chính quyền đế quốc và phong kiến tay sai, giành lại độc lập, tự do và thiết lập chính quyền dân chủ nhân dân Chính quyền mới do nhân dân lập ra, bảo đảm quyền tự do, dân chủ cho người lao động và bảo vệ quyền bình đẳng cho phụ nữ

Quá trình phụ nữ nước ta tham gia tích cực vào ba phong trào diệt giặc đói, giặc dốt, giặc xâm lăng sau khi giành được độc lập cũng là quá trình chị em đứng lên làm chủ đất nước, làm chủ bản thân mình, phụ nữ ngày càng khẳng định rõ vai trò, khả năng của mình

Cùng với sự phát triển của công cuộc kháng chiến và kiến quốc, quyền bình đẳng của phụ nữ trên nhiều mặt được dần dần thực hiện Trong cải cách ruộng đất, phụ nữ nông dân đã được chia ruộng đất như nam giới; trong các xí nghiệp, cơ quan Nhà nước, phụ nữ làm việc ngày càng đông và được hưởng quyền lợi ngang hàng nam giới; trong các ngành y tế, văn hóa, giáo dục, khoa học phụ nữ được học tập, đào tạo bồi dưỡng rộng rãi, không có sự hạn chế nào ngăn cản việc phát triển tài năng của chị em Nhưng cũng phải thấy rằng phụ nữ còn gặp nhiều khó khăn trong việc thực hiện quyền bình đẳng của chị em do trình độ phát triển chung của cách mạng Việt Nam

Nhưng muốn biến quyền bình đẳng giữa nam nữ, từ một luật lệ trở thành hiện thực sinh động trong cuộc sống, biến ý thức tôn trọng phụ nữ thành nếp sống đạo đức của mọi người thì đòi hỏi sự nỗ lực hết sức to lớn của toàn dân, của

Trang 29

tất cả phụ nữ để xây dựng một xã hội mới, một kiểu người mới xã hội chủ nghĩa

Hồ Chủ tịch nêu rõ: Muốn thực hiện tốt quyền bình đẳng của phụ nữ phải có sự tiến bộ về kinh tế, chính trị, văn hóa, pháp luật của nước ta Phụ nữ phải hi sinh

xương máu, lao động gian khổ, góp phần đẩy mạnh sự phát triển công nghiệp và nông nghiệp, giáo dục và y tế, xây dựng một đất nước giàu mạnh, phồn vinh, một nền văn hóa, khoa học tiên tiến

Thực hiện tư tưởng của Người và những lời căn dặn trong bản Di chúc, trong những năm (1969-1985), Đảng đã luôn quan tâm và đề ra nhiệm vụ về công tác vận động phụ nữ Đó là “phải đấu tranh xoá bỏ những quan điểm phong kiến và tư sản trong việc đánh giá lực lượng và khả năng của phụ nữ, trong việc đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng lao động nữ, cán bộ nữ, trong việc giải quyết những vấn đề cụ thể về đời sống của phụ nữ và trẻ em” và Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam phải ra sức giáo dục, động viên phụ nữ phát huy quyền làm chủ tập thể, cống hiến nhiều hơn nữa cho Tổ quốc; tiếp tục đấu tranh cho

sự nghiệp giải phóng phụ nữ và xây dựng người phụ nữ mới XHCN

Xuyên suốt từ Cương lĩnh chính trị năm 1930 đến Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959, thực hiện Di chúc thiêng liêng của Người, vấn đề quyền bình đẳng của phụ nữ tiếp tục được thể chế hoá trong nhiều văn bản Nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước Đặc biệt Đảng và Nhà nước ta đã ban hành một số văn bản quan trọng về bình đẳng nam nữ và công tác phụ nữ Năm 1979, Việt Nam là một trong những nước đầu tiên ký tham gia Công ước CEDAW của Liên hiệp quốc về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối

xử với phụ nữ

Năm 1981, Việt Nam đã phê chuẩn Công ước của Liên hợp quốc về xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW)và CEDAW có hiệu lực ở Việt Nam từ ngày 19-3-1982.Với việc phê chuẩn này, Việt Nam trở thành quốc gia thành viên của CEDAW và có nghĩa vụ thực hiện

Trang 30

CEDAW Ngày 12/7/1993, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 04/NQ –

TW về “Đổi mới và tăng cường công tác vận động phụ nữ trong tình hình mới” Tiếp tục phát triển các quan điểm của Đảng và Bác Hồ, Nghị quyết xác định phụ nữ là “người thầy đầu tiên” của mỗi đời người; phụ nữ có “những đặc điểm riêng ”; để phát huy vai trò của phụ nữ, Đảng ta đã xác định những nhiệm vụ cơ bản: “phát huy trí tuệ phụ nữ”, “tránh khắt khe, hẹp hòi”, cần

“thông cảm, giúp đỡ phụ nữ”, “nâng cao tỷ lệ cán bộ nữ là thật sự thực hiện quyền bình đẳng và nâng cao địa vị xã hội của phụ nữ” Về phần mình: “phụ

nữ cần kết hợp hài hoà công việc gia đình với công tác xã hội”…

Tuy nhiên, những chủ trương đúng đắn của Đảng nói trên đã không được thực hiện một cách đầy đủ.Nhiều cấp uỷ Đảng, và lãnh đạo các ngành còn buông lỏng việc chỉ đạo thực hiện, đối xử thiếu công bằng với phụ nữ trong việc sử dụng đào tạo, đề bạt, kỷ luật.Mặt khác, một số phụ nữ thiếu ý thức vươn lên, bị cản trở bởi những định kiến xã hội và gánh nặng gia đình Chưa thể vượt lên những cản trở, chưa thể tự mình khẳng định, việc tham gia công tác quản lý của phụ nữ bị hạn chế [ tỷ lệ nữ tham gia Quốc hội (khoá 1971- 1976) là 32%, giảm xuống còn 27% (khoá 1976 – 1981) và 22% (khoá 1981- 1987)

Trước thực tế trên, Ban Bí thư ra Chỉ thị 44/CT-TW ngày 7/6/1984 về một số vấn đề cấp bách trong công tác cán bộ nữ Nhằm cụ thể hoá Chỉ thị của Ban Bí thư, ngày 24-12-1984, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã

ra Nghị quyết số 176A - HĐBT về việc phát huy vai trò và năng lực của phụ

nữ trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN Nghị quyết khẳng định vai trò to lớn của phụ nữ trong sự nghiệp xây dựng đất nước và đề ra các chủ trương, biện pháp khá toàn diện về chủ trương, chính sách, biện pháp của Nhà nước đối với phụ nữ Kết quả là, sau bốn năm (1984-1988), thực hiện Chỉ thị của Ban Bí thư và Nghị quyết của HĐCP, trong số 25/40 tỉnh, 24/90

Trang 31

bộ, ngành Trung ương (những đơn vị có báo cáo) đã có hàng ngàn cán bộ nữ được bố trí, sắp xếp vào cương vị lãnh đạo, quản lý từ Trung ương đến cơ sở Năm 1985, hưởng ứng Thập kỷ phụ nữ do Liên hợp quốc phát động, Chính phủ thành lập Ủy ban quốc gia về Thập kỷ của phụ nữ Việt Nam và sau đổi tên thành Ủy ban quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam; sau khi Quốc hội ban hành Luật Bình đẳng giới, năm 2008 cơ quan quản lý nhà nước

về bình đẳng giới được hình thành từ T.Ư đến địa phương

Ngày nay, công cuộc đổi mới đất nước đang phát triển mạnh mẽ, sự hội nhập đang diễn ra trên toàn cầu Để mọi người đều có quyền tham gia lựa chọn cơ hội, định hướng tương lai phát triển tài năng trí tuệ của mình; để nam

và nữ đều được quyền lựa chọn cơ hội như nhau hơn lúc nào hết cần vận dụng triệt để tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền bình đẳng của phụ nữ vào cuộc sống

Trang 32

Chương 2 ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN QUYỀN BÌNH ĐẲNG CỦA PHỤ NỮ

THỜI KỲ ĐỔI MỚI (1986-2006)

2.1 CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

Trong suốt chiều dài của lịch sử dân tộc, phụ nữ Việt Nam đóng vai trò rất quan trọng Với đặc điểm vừa dũng cảm, cần cù vừa thông minh sáng tạo trong lao động sản xuất, vừa kiên cường bất khuất trong chống giặc ngoại xâm, phụ nữ Việt Nam đã lập nên những kì tích lớn lao, góp phần to lớn trong quá trình dựng nước, giữ nước, giải phóng dân tộc, xây dựng và phát triển đất nước

Trong công cuộc đổi mới, phụ nữ Việt Nam được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đã phát huy tốt những đặc điểm nổi trội của mình: Dũng cảm, cần cù, chịu thương chịu khó, thông minh, sáng tạo trong lao động, học tập đã nhanh chóng bắt nhịp vào khí thế chung của cả nước tiến hành sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa Chị em đã mạnh dạn bứt ra khỏi sự gò

bó của gia đình và xã hội trước đây, tham gia nhiều hơn trong các hoạt động

xã hội và nhanh chóng xác lập vị thế của mình

Nhưng bên cạnh những ưu điểm nổi trội đó, phụ nữ Việt Nam vẫn còn những hạn chế nhất định do ảnh hưởng của chế độ phong kiến xưa để lại, đó là: tự ti, nhút nhát… nhiều phụ nữ chưa vượt khỏi khuôn phép gia đình, không dám mạnh dạn đấu tranh tham gia công tác xã hội, cho nên cuộc cách mạng bình đẳng nam nữ vẫn chưa được thực hiện nhiều

Trong công cuộc đổi mới để tạo điều kiện cho phụ nữ tham gia hoạt động trong tất cả các lĩnh vực một cách bình đẳng như nam giới nhằm phát huy hết tiềm năng của họ Đảng và Nhà nước đã vận dụng một cách triệt để tư

Ngày đăng: 06/01/2016, 13:35

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Tú Anh, Nguyễn Thu Thủy (1999), “Cơ hội và thách thức đối với phụ nữ trong thợi kỳ đổi mới”, Nghiên cứu lý luận (3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ hội và thách thức đối với phụ nữ trong thợi kỳ đổi mới
Tác giả: Nguyễn Tú Anh, Nguyễn Thu Thủy
Nhà XB: Nghiên cứu lý luận
Năm: 1999
2. Ba cuộc cách mạng với vấn đề giải phóng phụ nữ(1976), Nxb Phụ nữ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ba cuộc cách mạng với vấn đề giải phóng phụ nữ
Tác giả: Ba cuộc cách mạng với vấn đề giải phóng phụ nữ
Nhà XB: Nxb Phụ nữ
Năm: 1976
3. Bác Hồ với sự nghiệp giải phóng phụ nữ (1990), Nxb Phụ nữ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bác Hồ với sự nghiệp giải phóng phụ nữ
Tác giả: Bác Hồ với sự nghiệp giải phóng phụ nữ
Nhà XB: Nxb Phụ nữ
Năm: 1990
4. Bác Hồ với phong trào phụ nữ Việt Nam (1982), Nxb Phụ nữ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bác Hồ với phong trào phụ nữ Việt Nam
Tác giả: Bác Hồ với phong trào phụ nữ Việt Nam
Nhà XB: Nxb Phụ nữ
Năm: 1982
5. Nguyễn Thị Báo (2003), “Quyền bình đẳng của phụ nữ trong sự nghiệp và cuộc sống gia đình”, Lý luận chính trị (10) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyền bình đẳng của phụ nữ trong sự nghiệp và cuộc sống gia đình
Tác giả: Nguyễn Thị Báo
Nhà XB: Lý luận chính trị
Năm: 2003
8. Nguyễn Khánh Bật (2000), “Những quan điểm cơ bản về giải phóng phụ nữ trong Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh”, Lý luận chính trị (3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những quan điểm cơ bản về giải phóng phụ nữ trong Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Tác giả: Nguyễn Khánh Bật
Nhà XB: Lý luận chính trị
Năm: 2000
9. Đỗ Thị Bình, Lê Ngọc Lân (1996), Phụ nữ nghèo nông thôn trong điều kiện kinh tế thị trường, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phụ nữ nghèo nông thôn trong điều kiện kinh tế thị trường
Tác giả: Đỗ Thị Bình, Lê Ngọc Lân
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1996
10. Đảng Cộng sản Việt Nam (1987), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1987
11. Đảng Cộng sản Việt Nam (1993), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1993
12. Đảng Cộng sản Việt Nam (1993), Nghị quyết số 04-NQ/TW ngày 12/7/1993 của Bộ Chính trị về “đổi mới và tăng cường công tác vận động phụ nữ trong tình hình mới” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 04-NQ/TW ngày 12/7/1993 của Bộ Chính trị về “đổi mới và tăng cường công tác vận động phụ nữ trong tình hình mới”
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 1993
13. Đảng Cộng sản Việt Nam (1994), Chỉ thị số 37/CT/TW ngày 16/5/1994 của Ban Bí thư “ Về một số vấn đề công tác cán bộ nữ trong tình hình mới” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng Cộng sản Việt Nam (1994), "Chỉ thị số 37/CT/TW ngày 16/5/1994 của Ban Bí thư “ Về một số vấn đề công tác cán bộ nữ trong tình hình mới
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 1994
14. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu lần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội
Năm: 1996
15. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), "Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
16. Đảng Cộng sản Việt Nam (2004), Các nghị quyết của Trung ương Đảng 2001 – 2004, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các nghị quyết của Trung ương Đảng 2001 – 2004
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2004
17. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), "Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
19. Hội Liên hiệp nữ Việt Nam (1996), Hai mươi năm, một chặng đường phát triển của phụ nữ Việt Nam (1975 – 1995) (1996), Nxb Phụ nữ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội Liên hiệp nữ Việt Nam (1996"), Hai mươi năm, một chặng đường phát triển của phụ nữ Việt Nam (1975 – 1995)
Tác giả: Hội Liên hiệp nữ Việt Nam (1996), Hai mươi năm, một chặng đường phát triển của phụ nữ Việt Nam (1975 – 1995)
Nhà XB: Nxb Phụ nữ
Năm: 1996
20. Hà Thị Khiết (2006), “Quan tâm hơn nữa việc thực hiện bình đẳng giới, tạo điều kiện cho phụ nữ tham gia các hoạt động quản lý Nhà nước, xã hội”, Xây dựng Đảng (5) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hà Thị Khiết (2006), “Quan tâm hơn nữa việc thực hiện bình đẳng giới, tạo điều kiện cho phụ nữ tham gia các hoạt động quản lý Nhà nước, xã hội”, "Xây dựng Đảng
Tác giả: Hà Thị Khiết
Năm: 2006
22. Lênin (1981), Toàn tập, Tập 31, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lênin (1981), "Toàn tập
Tác giả: Lênin
Nhà XB: Nxb Tiến bộ
Năm: 1981
23. Lênin (1977), Toàn tập, Tập 40, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: Lênin
Nhà XB: Nxb Tiến bộ
Năm: 1977
24. Lịch sử Việt Nam (1985), Tập 1, Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Việt Nam
Nhà XB: Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp
Năm: 1985

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w