Trong công cuộc đổi mới, tư tưởng đối ngoại của Hồ Chí Minh đã cho Đảng Cộngsản Việt Nam những chỉ dẫn đúng đắn trong việc xác định mục tiêu, phương châm đốingoại, hoạch định đường lối,
Trang 1LUẬN VĂN:
Quan điểm của Hồ Chí Minh về mục tiêu, phương châm đối ngoại và sự vận dụng của
Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ đổi mới
Trang 2Mở đầu
1 Tính cấp thiết của đề tài
Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhà yêu nước vĩ đại, nhà hoạt động quốc tế xuất sắc, chiến
sĩ tiên phong của phong trào giải phóng dân tộc, sứ giả của hoà bình và hữu nghị Ngườivừa là nhà chính trị, nhà tư tưởng, nhà chiến lược quân sự, nhà ngoại giao, nhà văn, nhàthơ, nhà báo; là người sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam; kiến lập, giáo dục và rèn luyệnquân đội ta, đồng thời cũng là người sáng lập ra nền ngoại giao Việt Nam hiện đại Cuộcđời và sự nghiệp hoạt động cách mạng của Người đã để lại kho tàng lý luận, tư tưởng cáchmạng và khoa học vô giá cho dân tộc Việt Nam Nó là kim chỉ nam cho cách mạng ViệtNam nói chung và cho việc xây dựng nền ngoại giao nói riêng phát triển, từng bước đánhthắng kẻ thù xâm lược, khẳng định vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế, đồng thời nócòn có giá trị to lớn đối với công cuộc đổi mới, với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốctrong giai đoạn hiện nay
Trên những giá trị lý luận và thực tiễn mà tư tưởng Hồ Chí Minh mang lại, Đại hộiđại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng Cộng sản Việt Nam (1991) đã khẳng định: “cùngvới chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng và kim chỉ namcho hành động” Thực tiễn cho thấy, vận dụng tư tưởng của Người đã đưa cách mạng ViệtNam vượt qua những khó khăn, thử thách, đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, tạo nênnhững trang hào hùng của lịch sử dân tộc Việt Nam
Một trong những di sản trong hệ thống tư tưởng mà Chủ tịch Hồ Chí Minh để lạicho Đảng, dân tộc, nhân dân ta là tư tưởng đối ngoại Tư tưởng đối ngoại là bộ phận quantrọng trong hệ thống tư tưởng toàn diện sâu sắc của Người đặc biệt là quan điểm về mụctiêu, phương châm đối ngoại Trên cơ sở kế thừa những giá trị tốt đẹp của truyền thốngdân tộc, từ sự tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại đặc biệt là vận dụng sáng tạo chủ nghĩaMác - Lênin, thông qua quá trình khảo sát thực tiễn trong nước và thế giới để Người hìnhthành những quan điểm về đối ngoại Những quan điểm đó đã trở thành đường lối, chủtrương, chính sách đối ngoại của Đảng, được thực tiễn cách mạng Việt Nam chứng minh tínhđúng đắn của nó trong cách mạng giải phóng dân tộc và cả trong giai đoạn xây dựng chủnghĩa xã hội
Trang 3Trong công cuộc đổi mới, tư tưởng đối ngoại của Hồ Chí Minh đã cho Đảng Cộngsản Việt Nam những chỉ dẫn đúng đắn trong việc xác định mục tiêu, phương châm đốingoại, hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách đối ngoại phù hợp với xu thế quốc tế,đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam, đem lại những kết quả tốt đẹp mà
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng đánh giá: “Hoạt động đối ngoại được mở
rộng, góp phần giữ vững môi trường hoà bình, phục vụ tốt nhiệm vụ phát triển kinh tế - xãhội, nâng cao uy tín của Việt Nam trong khu vực và trên thế giới”[17, tr.59]
Thực hiện đường lối đối ngoại hoà bình, hợp tác cùng phát triển, chính sách đốingoại mở rộng, đa dạng hoá, đa phương hoá các quan hệ quốc tế, tích cực chủ động hộinhập kinh tế quốc tế, với phương châm Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của cácnước trên thế giới, tích cực tham gia vào tiến trình hợp tác khu vực và quốc tế Công tácđối ngoại của nước ta trong những năm qua đã và đang gặt hái được nhiều thành công tuynhiên bên cạnh đó cũng gặp không ít những khó khăn, thách thức: tình hình trong nước vàthế giới biến đổi, nhiều vấn đề mới nảy sinh, chúng ta đang trong tiến trình hội nhập sâu,toàn diện vào đời sống khu vực và quốc tế, kẻ thù tìm mọi cách thông qua hợp tác kinh tếquốc tế để can thiệp, chi phối, phá hoại chúng ta, chống phá quyết liệt vào nền tảng tưtưởng của xã hội ta, nếu không cảnh giác, không xác định đúng đắn mục tiêu, phươngchâm của đường lối đối ngoại sẽ có những hậu quả khó lường
Trước tình hình đó, việc nghiên cứu sâu sắc, toàn diện hơn tư tưởng đối ngoại HồChí Minh, đặc biệt là quan điểm của Người về mục tiêu, phương châm đối ngoại, khai thác
và vận dụng sáng tạo quan điểm đó của Người vào việc xây dựng mục tiêu, phương châmcủa đường lối đối ngoại đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam có một ý nghĩa lý luận và
thực tiễn sâu sắc Chính vì vậy, tôi chọn đề tài “Quan điểm của Hồ Chí Minh về mục
tiêu, phương châm đối ngoại và sự vận dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời
kỳ đổi mới” làm đề tài luận văn thạc sĩ, chuyên ngành Hồ Chí Minh học.
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trong hệ thống tư tưởng toàn diện sâu sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh về cách mạngViệt Nam, tư tưởng đối ngoại Hồ Chí Minh được nhiều nhà khoa học, nhiều học giả quantâm nghiên cứu Đến nay có nhiều công trình với nhiều khoa học, nhiều sách chuyên đề,
Trang 4bài viết có liên quan đến đề tài này Mỗi nhà nghiên cứu đều có cách tiếp cận, nhìn nhậnvấn đề riêng cụ thể như:
Đề tài:
- Chương trình khoa học và công nghệ cấp Nhà nước KX- 02, Nghiên cứu tư tưởng
Hồ Chí Minh, do Giáo sư Đặng Xuân Kỳ làm chủ nhiệm Chương trình này gồm 13 đề tài
cấp nhà nước, trong đó có đề tài Hồ Chí Minh với thế giới, mỗi đề tài nghiên cứu một cách
toàn diện và có hệ thống một khía cạnh trong tư tưởng của Người Chương trình cung cấpcho chúng ta một bức tranh tổng thể về quan điểm, lý luận chính trị toàn diện và sâu sắc vềnhững vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, về sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủnghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta
- Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ, Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh, Bộ ngoại
giao năm 2002 do Thứ trưởng Thường trực Nguyễn Đình Bin làm chủ nhiệm Đề tài gồmmột số đề tài nhánh Các tác giả đã phân tích các nội dung: bối cảnh ra đời, quá trình pháttriển, nguồn gốc, nội dung cơ bản của tư tưởng đối ngoại Hồ Chí Minh, phương pháp,phong cách và nghệ thuật ngoại giao Hồ Chí Minh
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ, Vận dụng sáng tạo tư tưởng ngoại giao Hồ Chí
Minh thời kỳ hội nhập, Ban nghiên cứu lịch sử ngoại giao, Bộ ngoại giao năm 2008 do
PGS,TS Vũ Dương Huân làm chủ nghiệm đã nghiên cứu những vấn đề cơ bản của tưtưởng đối ngoại, phương pháp, phong cách, nghệ thuật ngoại giao Hồ Chí Minh và sự vậndụng tư tưởng đó trong thời kỳ hội nhập Đó là nguồn tư liệu quý cho tác giả khi thực hiện
đề tài luận văn
Sách:
- Viện Quan hệ quốc tế, Vũ Khoan làm chủ biên, Tư tưởng Hồ Chí Minh về công
tác ngoại giao, Nxb Sự thật, Hà nội, 1999, đã phân tích một cách sâu sắc hoạt động đối
ngoại của Hồ Chí Minh từ năm 1941 - 1969, rút ra những bài học và kinh nghiệm quý báutrong hoạt động đối ngoại của Người Khái quát về tư tưởng đối ngoại; tư tưởng, phongcách ngoại giao của Bác
Trang 5- Tác giả Vũ Dương Huân, Tư tưởng Hồ Chí Minh về ngoại giao, Nxb Thanh niên, Hà Nội,
2005 đã đánh giá sâu sắc hoạt động ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh ( 1945 - 1969), đồngthời rút ra những quan điểm mang tính khái quát cao
- Nhà nghiên cứu Nguyễn Phúc Luân, Hồ Chí Minh: Trí tuệ lớn của nền ngoại giao
Việt Nam hiện đại, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999 đã làm rõ một số quan niệm của
Hồ Chí Minh về bạn thù, về sách lược tập hợp lực lượng, về chính sách đối ngoại, phương
pháp dự báo thời cuộc
- Nguyên Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Dy Niên, Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí
Minh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008, đã phân tích khá toàn diện tư tưởng cơ bản
về ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh, làm rõ nguồn gốc, nội dung tư tưởng, phương
pháp, phong cách ngoại giao Hồ Chí Minh
- PGS.TS Đinh Xuân Lý, Tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại và sự vận dụng của
Đảng trong thời kỳ đổi mới, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2007, cũng đã khái quát bối
cảnh ra đời, quá trình phát triển, nguồn gốc, nội dung cơ bản của tư tưởng đối ngoại Hồ
Chí Minh và sự vận dụng của tư tưởng của Người trong thời kỳ đổi mới
- GS Song Thành, Hồ Chí Minh nhà tư tưởng lỗi lạc, Nxb Lý luận chính trị, 2005
cũng nói đến tư tưởng và phong cách ngoại giao Hồ Chí Minh
- bộ ngoại giao, Ban nghiên cứu Lịch sử ngoại giao, Vận dụng tư tưởng đối ngoại Hồ
Chí Minh trong thời kỳ hội nhập quốc tế, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009 các tác giả đã
đề cập đến những vấn đề đặt ra cho ngoại giao Việt Nam và vận dụng tư tưởng đối ngoại HồChí Minh trong thời kỳ hội nhập
- Ngoài ra còn một số cuốn sách khác như: Năm mươi năm ngoại giao Việt Nam
(1945 - 1995) của Lưu Văn Lợi, Nxb Công an nhân dân, 1996; Phan Ngọc Liên (chủ biên):
“ Tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh với thời đại”( 2000); Hoạt động ngoại giao của Chủ tịch
Hồ Chí Minh 1954 - 1969 của Trần Minh Trưởng, Nxb Công an nhân dân, 2005; Tư tưởng
Hồ Chí Minh về ngoại giao của Vũ Dương Huân, 2005; Đỗ Đức Hinh: Tư tưởng Hồ Chí
Minh về đối ngoại - Một số nội dung cơ bản ( 2007)…
Luận văn, luận án:
Trang 6Nhiều luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ khoa học lịch sử, khoa học chính trị đượcthực hiện như:
- Luận án tiến sĩ: “Đảng lãnh đạo hoạt động đối ngoại thời kỳ từ tháng 9/1945 đến
tháng 12/1946” của Nguyễn Thị Kim Dung, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh;
“Hoạt động ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh giai đoạn 1945 - 1954”, LATS của Đặng Văn Thái, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh; ”Hoạt động ngoại giao của Chủ tịch Hồ
Chí Minh giai đoạn 1954 - 1969”, LATS của Trần Minh Trưởng, Học viện Chính trị Quốc gia
Hồ Chí Minh …
- Luận văn thạc sĩ (2008) “Vận dụng tư tưởng đối ngoại Hồ Chí Minh vào việc
hoạch định đường lối đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay” của Hoàng Thị
Hương Thu, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
Những luận án, luận văn đó đã góp một phần quan trọng vào việc làm rõ nhữngquan điểm của Hồ Chí Minh về đối ngoại, hoạt động ngoại giao và sự vận dụng của Đảng,đồng thời là tài liệu tốt để tác giả thực hiện luận văn
Báo, tạp chí:
Nhiều bài viết của các vị lãnh đạo Đảng và Nhà nước, các nhà khoa học về những
sự kiện ngoại giao, hoạt động đối ngoại, đã được đăng trên Tạp chí Lịch sử Đảng, Tạp chíLịch sử Quân sự, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử:
- Văn Tạo: “Công tác đối ngoại hiện nay trên cơ sở nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí
Minh”, Tạp chí Lịch sử Đảng, số 3 - 1993.
- Lê Mậu Hãn: “ Chiến lược đại đoàn kết hợp tác với các nước Đông Nam á của Hồ
Chí Minh, quan điểm lịch sử và triển vọng”, Tạp chí Lịch sử Đảng, số 3 - 1993.
- Vũ Dương Ninh: “Quan điểm quốc tế trong tư tưởng chiến lược đại đoàn kết Hồ
Trang 7- Vũ Khoan: “ Tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại vẫn còn nguyên giá trị”, Tạp
chí Lịch sử Đảng, số 6 - 1993.
- Trịnh Vương Hồng - Nguyễn Minh Đức: “ Hồ Chí Minh với quan hệ Việt - Mỹ”,
Tạp chí Lịch sử Đảng, số 6 - 1993.
- Nguyễn Trọng Phúc: “ Tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về ngoại giao từ sau hiệp
định Giơnevơ”, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 2 - 1995.
- Phạm Hồng Chương - Phùng Đức Thắng: “ Tìm hiểu tư tưởng ngoại giao Hồ Chí
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
- Mục đích:
Nghiên cứu và làm rõ hơn những nội dung cơ bản quan điểm của Hồ Chí Minh vềmục tiêu, phương châm đối ngoại; đồng thời, nghiên cứu sự vận dụng của Đảng Cộng sảnViệt Nam trong việc xác định mục tiêu, phương châm đối ngoại để xây dựng và thực hiệnđường lối đối ngoại trong thời kỳ đổi mới
Trang 8+ Bước đầu nêu ra một số kiến nghị nhằm nâng cao nhận thức và vận dụng đúng
đắn, hiệu quả quan điểm của Hồ Chí Minh về mục tiêu, phương châm đối ngoại trong giai
đoạn hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1 Đối tượng nghiên cứu
- Quan điểm cơ bản của Hồ Chí Minh về mục tiêu, phương châm đối ngoại
- Sự vận dụng quan điểm Hồ Chí Minh về mục tiêu, phương châm đối ngoại của
Đảng trong thời kỳ đổi mới, hội nhập khu vực và quốc tế
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Nghiên cứu quan điểm Hồ Chí Minh về mục tiêu, phương châm đối ngoại
- Nghiên cứu thực tiễn chỉ đạo của Hồ Chí Minh trong hoạt động thực hiện đường
lối đối ngoại của Nhà nước Việt Nam (1945 - 1969)
- Nghiên cứu sự vận dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ đổi mới
(1986 - 2008)
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
5.1 Cơ sở lý luận
Luận văn thực hiện trên cơ sở những quan điểm, nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa
Mác - Lênin về cách mạng, đấu tranh cách mạng, liên minh, thoả hiệp, đồng thời dựa vào
những quan điểm của Hồ Chí Minh về đối ngoại; những quan điểm của Đảng Cộng sản
Việt Nam; những quan điểm của các nhà khoa học trong nước và nước ngoài về mục tiêu,
phương châm đối ngoại
5.2 Phương pháp nghiên cứu
- Luận văn chủ yếu thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, đặcbiệt là phương pháp của CNDVBC và CNDVLS để làm rõ vấn đề
- Tuân thủ các nguyên tắc: khách quan, toàn diện, lịch sử cụ thể và phát triển
Ngoài ra, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu của khoa học xã hội
-nhân văn, chú trọng các phương pháp lịch sử và lôgic, phân tích - tổng hợp, phương pháp
hệ thống, so sánh, tổng kết thực tiễn… để làm rõ những nội dung chủ yếu của đề tài
6 Những đóng góp về mặt khoa học của luận văn
Trang 9- Luận văn góp phần tổng hợp, hệ thống và luận giải nội dung cơ bản và những giátrị đặc sắc trong quan điểm của Hồ Chí Minh về mục tiêu, phương châm đối ngoại.
Nghiên cứu sự vận dụng tư tưởng đó của Đảng ta Từ đó, đề xuất một số kiến nghị gópphần vận dụng tư tưởng của Người vào việc xây dựng đường lối đối ngoại của Đảng Cộngsản Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, hội nhập vào khu vực và quốc tế
- Trên cơ sở kế thừa những thành tựu của các nhà khoa học đi trước, luận văn kháiquát và làm rõ hơn một bước quan điểm của Hồ Chí Minh về mục tiêu, phương châm đốingoại và sự vận dụng của Đảng trong thời kỳ đổi mới, mong muốn góp một phần nhỏ bévào việc nghiên cứu di sản tư tưởng đối ngoại của Chủ tịch Hồ Chí Minh
7 ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn hy vọng có thể làm tài liệu tham khảo phục vụcông tác nghiên cứu, giảng dạy, học tập và tuyên truyền tư tưởng Hồ Chí Minh
8 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm
2 chương 6 tiết
Trang 10Chương 1 quan điểm của Hồ Chí Minh về mục tiêu,
phương châm đối ngoại
1.1 một số nhận thức chung về Quan điểm đối ngoại Hồ Chí Minh
1.1.1 Một số khái niệm về quan điểm đối ngoại Hồ Chí Minh
Quan điểm đối ngoại Hồ Chí Minh là một bộ phận hợp thành của tư tưởng Hồ ChíMinh về con đường cách mạng Việt Nam Vì vậy để hiểu được quan điểm đối ngoại Hồ
Chí Minh thì trước hết phải hiểu khái quát tư tưởng Hồ Chí Minh là gì?
Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội Đại biểu toàn quốc
lần thứ IX đã đưa ra khái niệm về tư tưởng Hồ Chí Minh như sau:
Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc vềnhững vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả sự vận dụng và phát triểnsáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và pháttriển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhânloại Đó là tư tưởng về giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng conngười; về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội…
Tư tưởng Hồ Chí Minh soi đường cho cuộc đấu tranh của nhân dân ta giànhthắng lợi, là tài sản tinh thần to lớn của Đảng và dân tộc ta [17, tr.83-84]
Như vậy, có thể hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện vàsâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, từ cách mạng dân tộc dân chủ nhândân đến cách mạng xã hội chủ nghĩa; là kết quả sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩaMác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, đồng thời là sự kết tinh của những tinh hoa vănhoá dân tộc và trí tuệ thời đại nhằm giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóngcon người
Quan điểm đối ngoại Hồ Chí Minh là một bộ phận trong nội hàm của khái niệm tưtưởng Hồ Chí Minh, giữ một vị trí quan trọng trong hệ thống các quan điểm của Hồ ChíMinh về cách mạng Việt Nam và cách mạng thế giới Các quan điểm của Chủ tịch Hồ ChíMinh về đối ngoại, về ngoại giao cũng đã được đề cập đến trong các văn kiện của Đảng và
Trang 11đã có một số hội thảo chuyên đề hay một số nội dung đã được kết hợp ở một số chuyên đềkhác của tư tưởng Hồ Chí Minh trong chương trình học tập lý luận tại Học viện Chính trị -Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh và một số chương trình khác.
Có nhiều nhận thức khác nhau về khái niệm tư tưởng đối ngoại, tư tưởng ngoạigiao Hồ Chí Minh Trong chuyên đề thứ 11 do Viện tư tưởng Hồ Chí Minh và các lãnh tụ
thuộc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh biên soạn và giới thiệu đề cập đến Tư
tưởng Hồ Chí Minh về hợp tác quốc tế và đưa ra một nhận xét có tính khái niệm là: “tư
tưởng Hồ Chí Minh về hợp tác quốc tế bao gồm nhiều vấn đề lớn từ nguồn gốc, quá trìnhhình thành, phát triển đến những nội dung và việc vận dụng tư tưởng đó vào sự nghiệpcách mạng Việt Nam” [30, tr.265] Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về hợp tác quốc tếgồm: Xác lập vị trí của Việt Nam trên trường quốc tế; nguyên tắc hợp tác quốc tế; hợptác với các nước láng giềng; hợp tác kinh tế quốc tế trong tư tưởng Hồ Chí Minh
Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng, anh cả của nền ngoại giao hiện đại Việt Nam trong
tác phẩm Hồ Chí Minh - Quá khứ, hiện tại và tương lai, đưa ra một khái niệm rất cơ bản:
Toàn bộ những tư tưởng Hồ Chí Minh về hoạt động ngoại giao như biếtđánh giá, dự báo tình hình, nắm bắt thời cơ, tổ chức lực lượng, nhận rõ bạn thù,tranh thủ đồng minh, cô lập kẻ thù chủ yếu, kiên định về nguyên tắc, linh hoạt
về sách lược, biết thắng trong bước để tiến tới thắng lợi hoàn toàn, độc lập tựchủ gắn liền với đoàn kết quốc tế [20, tr.155]
Đại tướng Võ Nguyên Giáp lại nêu lên một định nghĩa khái quát hơn Ông cho rằng
tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh là “một hệ thống quan điểm và đường lối chiến lược vàsách lược đối với các vấn đề quốc tế, chính sách đối ngoại và hoạt động ngoại giao củaĐảng và Nhà nước ta, là một bộ phận hữu cơ của tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạngViệt Nam” [26, tr.14] Đại tướng đã phân tích năm nội dung lớn của tư tưởng Chủ tịch HồChí Minh về ngoại giao: Độc lập tự chủ, tự cường; Hoà bình, chống chiến tranh phi nghĩatheo truyền thống nhân văn của dân tộc; Thêm bạn, bớt thù; Dĩ bất biến, ứng vạn biến;Ngoại giao là một mặt trận, là nhân tố tạo nên sức mạnh tổng hợp của cách mạng
Trang 12Trong cuốn sách “Chủ tịch Hồ Chí Minh với công tác ngoại giao”, Học viện Quan
hệ quốc tế thuộc Bộ ngoại giao đưa ra quan niệm: Tư tưởng đối ngoại Hồ Chí Minh là toàn
bộ luận điểm của Hồ Chí Minh về chiến lược, sách lược ngoại giao:
Phương pháp đánh giá, dự báo tình hình, nắm bắt thời cơ, tổ chức lựclượng, phân rõ bạn thù, củng cố đồng minh, phân hoá đối phương, tranh thủ
trung gian, cô lập kẻ thù chủ yếu và nguy hiểm nhất, quán triệt tư tưởng tiếncông, vững chắc về nguyên tắc, linh hoạt về sách lược, biết thắng từng bước điđến thắng lợi hoàn toàn, độc lập tự chủ, đoàn kết quốc tế [74, tr.132-142]
Nguyên Phó thủ tướng, kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm trong hội
thảo “50 năm ngoại giao Việt Nam” khái quát tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh như sau:
Không có gì quý hơn độc lập, tự do, độc lập tự chủ, tự lực tự cường, đemsức ta mà giải phóng cho ta, vạch ra chính sách và phương hướng ứng dụng biệnpháp của riêng mình, luôn giương cao ngọn cờ hoà bình và hữu nghị, “dĩ bấtbiến, ứng vạn biến”, kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại [24, tr 91].Nguyên Phó thủ tướng Vũ Khoan lại sử dụng tư tưởng đối ngoại, và cho rằng
những nhận thức của Hồ Chí Minh về tính chất thời đại, mục tiêu đối ngoại, sắp xếp lựclượng, chỉ đạo chiến lược (độc lập tự chủ, kiên trì nguyên tắc, linh hoạt sách lược, nắm bắtthời cơ, “dĩ bất biến, ứng vạn biến”… [32]
Nguyên Ngoại trưởng Nguyễn Dy Niên trình bày một khái niệm về ngoại giao khátoàn diện:
Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh bắt nguồn từ tư tưởng chính trị Hồ ChíMinh, là một bộ phận hữu cơ của tư tưởng của Người về cách mạng Việt Nam
Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh là một hệ thống những nguyên lý, quanđiểm, quan niệm về các vấn đề thế giới và thời đại, đường lối quốc tế, chiến lược,sách lược đối ngoại và ngoại giao Việt Nam thời kỳ hiện đại Tư tưởng này còn thểhiện trong hoạt động đối ngoại thực tiễn của Hồ Chí Minh và Đảng, Nhà nước ViệtNam [56, tr 89]
PGS,TS Vũ Dương Huân trong cuốn “Tư tưởng Hồ Chí Minh về ngoại giao” đã
nêu khái niệm: Tư tưởng Hồ Chí Minh về ngoại giao là một bộ phận hữu cơ tư tưởng Hồ
Trang 13Chí Minh về đường lối cách mạng Việt Nam, là hệ thống các quan điểm về khoa học quan hệquốc tế, đường lối đối ngoại, chính sách ngoại giao của Đảng và Nhà nước ta, kết quả sự vậndụng sáng tạo học thuyết Mác - Lênin và khoa học quan hệ quốc tế vào điều kiện Việt
Nam… [30, tr.27]
PGS,TS Đinh Xuân Lý trong cuốn “Tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại và sự vận
dụng của Đảng trong thời kỳ đổi mới” đã đưa ra khái niệm:
Tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại là hệ thống quan điểm về các vấn đềquốc tế; về chiến lược, sách lược cách mạng Việt Nam trong quan hệ với thếgiới Hệ thống quan điểm đó được thể hiện ở các nội dung: quan niệm của HồChí Minh về các vấn đề quốc tế; về mục tiêu đối ngoại; về tập hợp và mở rộnglực lượng đối ngoại; về phương châm đối ngoại, phương pháp và nghệ thuật đấutranh ngoại giao nhằm thắng lợi cho cách mạng Việt Nam [38, tr.57]
Tác giả Đỗ Đức Hinh trong cuốn Tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại - một số nội
dung cơ bản, sau khi nêu ra những khái niệm khác nhau về đối ngoại, ngoại giao lại khẳng
định: “tư tưởng đối ngoại Hồ Chí Minh là: Hệ thống các quan điểm về đấu tranh ngoạigiao, hoạt động đối ngoại và hợp tác phát triển bao gồm cả đường lối chiến lược, sách
lược, phương pháp, nghệ thuật và phong cách Hồ Chí Minh” [26, tr.16]
Chính sách đối ngoại và ngoại giao là hai khái niệm riêng biệt nhưng gắn bó rất
chặt chẽ với nhau, đồng thời lại có sự khác biệt nhất định Chính sách đối ngoại là tổng thể
mục tiêu, nhiệm vụ, phương hướng, nguyên tắc, phương châm, biện pháp mà quốc gia theođuổi trong quan hệ với các quốc gia khác hoặc chủ thể khác trong cộng đồng quốc tế nhằm
phục vụ cho lợi ích của quốc gia dân tộc trong giai đoạn lịch sử Ngoại giao là công cụ,
phương tiện quan trọng nhất, phương tiện hoà bình, thực hiện mục tiêu của chính sách đốingoại của quốc gia Chính sự gắn kết trong nội hàm của các khái niệm nên nhiều học giảđồng nhất nghĩa của khái niệm tư tưởng đối ngoại với nghĩa của tư tưởng ngoại giao trong
tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung
Mặc dù có trình bày khác nhau, song về cơ bản các khái niệm đều thống nhất tưtưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại hay ngoại giao là:
- Bộ phận hữu cơ tư tưởng Hồ Chí Minh về đường lối cách mạng Việt Nam
Trang 14- Hệ thống quan điểm, quan niệm về thế giới và quan hệ quốc tế, đường lối, chínhsách, chiến lược, sách lược đối ngoại Việt Nam thời kỳ hiện đại;
- Bao gồm cả phương pháp, phong cách, nghệ thuật ngoại giao
Tìm hiểu quan điểm đối ngoại Hồ Chí Minh, một mặt giúp cho chúng ta có nhữngđịnh hướng lý luận và xây dựng đường lối đối ngoại đúng đắn sáng tạo, mặt khác góp phầnthiết thực vào nhiệm vụ nghiên cứu và tuyên truyền tư tưởng Hồ Chí Minh và tư tưởng đốingoại Hồ Chí Minh nói riêng Từ những khái niệm của các nhà nghiên cứu đã đề cập ởtrên, theo tác giả có thể hiểu về tư tưởng đối ngoại Hồ Chí Minh như sau:
Quan điểm đối ngoại Hồ Chí Minh là một bộ phận hữu cơ của tư tưởng Hồ Chí Minh về đường lối cách mạng Việt Nam, là kết quả sự vận dụng sáng tạo học thuyết
Mác - Lênin vào điều kiện Việt Nam, kế thừa truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt
Nam, tinh hoa văn hoá của nhân loại về khoa học quan hệ quốc tế Đó là những quan điểm về mục tiêu đối ngoại; phương châm đối ngoại; lực lượng và thứ tự ưu tiên trong đối ngoại; nguyên tắc và phương pháp đối ngoại…
Những quan điểm trên đây là kim chỉ nam cho hoạt động quốc tế, đối ngoại vàngoại giao Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh và cả trong giai đoạn hiện nay khi đấtnước bước vào công cuộc công nghiệp hoá hiện đại hoá, hội nhập và phát triển
1.1.2 Vị trí của quan điểm đối ngoại Hồ Chí Minh trong hệ tư tưởng của Người
Tư tưởng Hồ Chí Minh vừa là khoa học, vừa là “một cẩm nang” cho hoạt động thựctiễn Việc nghiên cứu, tổng kết hệ thống những quan điểm trong tư tưởng Hồ Chí Minh đểvận dụng vào thực tiễn cách mạng nước ta phải là một quá trình, được tiếp cận từ nhiềuhướng khác nhau, được lý giải ở nhiều lĩnh vực khác nhau, và được đánh giá tổng kết ởnhiều cấp độ khác nhau Bởi vì, bản thân tư tưởng Hồ Chí Minh không giới hạn bởi mộtlĩnh vực, không nhằm giải thích riêng cho một vấn đề cụ thể nào, mà tư tưởng Hồ ChíMinh là một tổng thể, một hệ thống quan điểm các vấn đề bao trùm tất cả các hoạt độngcủa đời sống và xã hội
Để hiểu được vị trí của quan điểm đối ngoại Hồ Chí Minh trong hệ tư tưởng củaNgười trước hết ta tìm hiểu một số khái niệm có liên quan
Trang 15Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, đường lối là những nguyên tắc cơ bản về phương
hướng, nhiệm vụ, phương châm, lực lượng, phương thức tổ chức thực tiễn về chính trị, quân
sự, kinh tế, văn hoá - xã hội, tư tưởng, tổ chức…do một nhà nước, một chính đảng, một tổchức chính trị xã hội vạch ra nhằm thực hiện mục tiêu nhất định…Đường lối là cơ sở để hoạchđịnh chính sách, biện pháp thực hiện trên mọi lĩnh vực hoặc một lĩnh vực nhất định [70,
tr.915]
Chính sách là những nguyên tắc, cách thức cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ;
chính sách được thực hiện trong một thời gian nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể nào đó Bảnchất, nội dung và phương hướng của chính sách tuỳ thuộc tính chất của đường lối, nhiệm vụchính trị, kinh tế, văn hoá [70, tr.475]
Hai khái niệm này đã phân biệt đường lối và chính sách cũng như mối quan hệ giữachúng Tuy nhiên việc phân biệt giữa đường lối với chính sách là mang tính tương đối Sựphân biệt rạch ròi giữa hai khái niệm đó trong nhiều trường hợp là máy móc, không đúng
với thực tiễn chính trị đa dạng và phức tạp Ngay ở nước ta, khi nói đến đường lối thì
thường được hiểu là đường lối của Đảng, còn chính sách là của Nhà nước Đường lối của
Đảng là phương châm chỉ đạo có tính xuyên suốt, còn chính sách của Nhà nước là sự thể
chế hoá, cụ thể hoá đường lối của Đảng trong từng thời kỳ nhằm thực hiện thắng lợi đườnglối đó Đường lối của Đảng trong từng lĩnh vực cụ thể cũng chính là chính sách của Đảng
về lĩnh vực đó
Đường lối, hay chính sách của một quốc gia bao giờ cũng gồm hai mặt: đối nội vàđối ngoại nhằm phục vụ lợi ích tối cao của dân tộc Đường lối đó trước hết được xác địnhbởi tính chất của chế độ chính trị, kinh tế, xã hội của quốc gia V.I Lênin nói: “Những cội rễsâu xa nhất của chính sách đối nội lẫn đối ngoại của nhà nước chúng ta đều do những lợi íchkinh tế, địa vị kinh tế của giai cấp thống trị ở nước ta quyết định Những luận điểm đó vốn là cơ
sở toàn bộ thế giới quan của người mác-xít…đã được kinh nghiệm chứng thực” [37, 404]
tr.403-Hai mặt đó gắn bó chặt chẽ với nhau, tạo thành một thể thống nhất vì chính trị là
mối quan hệ giữa giai cấp và dân tộc trong lòng quốc gia và quan hệ giữa giai cấp, dân tộctrên trường quốc tế Song, trong quốc gia lại thi hành chính sách thống nhất để thực hiện
Trang 16những lợi ích chiến lược của giai cấp cầm quyền ở trong nước và tạo điều kiện tốt nhấtthực hiện lợi ích ấy trên trường quốc tế Chính sách đối ngoại thống nhất với chính sáchđối nội ở nội dung giai cấp, xuất xứ và phương hướng Nói cách khác, mối liên hệ giữachính sách đối nội và chính sách đối ngoại của một quốc gia là ở chỗ chúng đều nhằm giảiquyết một nhiệm vụ bảo vệ, duy trì hệ thống quan hệ kinh tế - xã hội hiện hành của quốcgia đó Như V.I.Lênin thường nhắc nhở: “Đem tách chính sách đối ngoại ra khỏi chính trịnói chung, hay hơn nữa, đem đối lập chính sách đối ngoại với chính sách đối nội, đó là tưtưởng hoàn toàn sai lầm, không Mácxít, không khoa học”[36, tr.121].
Mục đích và lợi ích của một quốc gia trong quan hệ quốc tế được thực hiện trướctiên thông qua quan hệ chính thức giữa các chính phủ, nhưng đồng thời cũng được thựchiện thông qua các quan hệ kinh tế và văn hoá, dưới sự bảo trợ của chính phủ cũng nhưcủa các công ty, đoàn thể quần chúng, các tổ chức phi chính phủ v.v… Cuối cùng đượcthực hiện thông qua việc sử dụng lực lượng vũ trang Lực lượng vũ trang này tuỳ thuộcvào tính chất giai cấp của Nhà nước và tính chất của chính sách đối ngoại mà mang tínhchất, mục đích xâm lược hay tự vệ Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng quan hệ thống nhấtgiữa đối nội và đối ngoại là quy luật tuyệt đối của quan hệ quốc tế [30, tr.17]
Chính sách đối ngoại (hay chính sách ngoại giao) của một quốc gia bao giờ cũnggắn kết chặt chẽ với chính sách đối nội của quốc gia đó, có nghĩa nó là sự nối tiếp củachính sách đối nội Vì thế có thể nói, chính sách đối ngoại là sự “kéo dài” của chính sáchđối nội
Đường lối chính sách đối ngoại luôn phục vụ cho mục tiêu của đường lối chính sáchđối nội, bị chi phối bởi đường lối, chính sách đối nội Giữa đường lối, chính sách đối ngoạivới đường lối, chính sách đối nội có mối quan hệ hữu cơ, gắn bó mật thiết với nhau, đườnglối, chính sách đối nội là tiền đề, là cơ sở của đường lối chính sách đối ngoại và đường lối,chính sách đối ngoại sẽ tạo điều kiện, tạo môi trường thuận lợi cho việc thực hiện đườnglối, chính sách đối nội
Đường lối, chính sách đối ngoại của một quốc gia nhằm mục đích thực hiện nhữnglợi ích của quốc gia, mở rộng quan hệ quốc tế ở nước ta, việc thành lập nước Việt NamDân chủ Cộng hoà (1945) do Đảng Cộng sản lãnh đạo, đã khởi đầu đường lối, chính sách
Trang 17đối ngoại mới của Đảng và Nhà nước Việt Nam Đảng lãnh đạo chủ yếu bằng đường lối,chủ trương, thông qua Nhà nước; Nhà nước thực hiện vai trò quản lý xã hội dưới sự lãnhđạo trực tiếp, toàn diện của Đảng Bởi vậy, đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng vàNhà nước có thể nói gộp lại là một Có thể gọi là đường lối đối ngoại, có thể nói là chínhsách đối ngoại Tuy nhiên, theo chức năng, Nhà nước thể chế hoá sự lãnh đạo của Đảng vềđối ngoại được thể hiện trong cương lĩnh, đường lối, chủ trương thành các chính sách vàpháp luật, theo đó hoạt động ngoại giao của Nhà nước được thực thi trong cuộc sống.
Đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam là sản phẩm củaCách mạng Việt Nam trước những biến đổi của tình hình chính trị thế giới Đó là hệ thốngnhững quan điểm lý luận với tính cách là những định hướng cơ bản về quan hệ đối ngoạicủa đất nước trong một giai đoạn nhất định và những chính sách được Nhà nước hoạchđịnh với tư cách là chủ thể đại diện cho chủ quyền quốc gia tham gia vào đời sống chínhtrị quốc tế
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, đường lối quốc tế và chính sách đối ngoại là những bộphận hợp thành của chiến lược cách mạng Điểm lại lịch sử cuộc đấu tranh vì độc lập tự docủa nhân dân ta từ nhiều thế kỷ trước đến nay, từ khi có Đảng, phong trào yêu nước vàcách mạng nước ta mới có được đường lối quốc tế rõ ràng, gắn được với xu thế phát triểncủa thế giới, chọn đúng vị thế cách mạng nước ta trong quan hệ toàn cầu Hơn nữa, cũng
từ đó cách mạng nước ta mới có sách lược nhất quán về quan hệ bạn - thù và sắp xếp lựclượng bên ngoài, đi đến hình thành một hệ thống chủ trương và biện pháp sách lược trongviệc xử lý những vấn đề quốc tế có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến lợi ích chiến lượccủa sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta
Đường lối quốc tế của cách mạng nước ta bắt nguồn từ “Đường Kách mệnh” (1927), “Chánh cương vắn tắt của Đảng” (1930), v.v do Nguyễn ái Quốc soạn thảo Nó
được thể hiện sinh động trong chiến lược đứng về phe dân chủ chống phát xít và tiến đếndân tộc giải phóng trong Chiến tranh thế giới thứ Hai Đặc biệt, nó được khẳng định thành
hệ thống bốn điểm cho chính sách ngoại giao trong chương trình của Việt Minh và đượcNgười khái quát thành nguyên tắc, được coi như cơ sở của đường lối đối ngoại của nước
Trang 18Việt Nam mới thể hiện trong Tuyên ngôn độc lập (2/9/1945) và trong “Thông cáo về chính
sách ngoại giao” của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (3/10/1945).
Như vậy, đường lối quốc tế và chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta được
Hồ Chí Minh vạch ra cùng việc hình thành đường lối giải phóng dân tộc, được thể hiệnsinh động trong cách mạng tháng Tám, được bổ sung, sửa đổi mỗi lúc cách mạng ViệtNam đứng trước khúc quanh của thời đại đòi hỏi phải điều chỉnh chiến lược nhằm phục vụtốt hơn cho mục tiêu cách mạng trong từng giai đoạn lịch sử
Vì sao Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm nhận thức tầm quan trọng của việc đưa đườnglối đối ngoại, xu thế vận động quốc tế vào thực hiện mục tiêu cách mạng Việt Nam nhưvậy?
Hồ Chí Minh nhận thức sâu sắc mối quan hệ biện chứng giữa chính sách đối nội vàchính sách đối ngoại, đánh giá cao vị trí, vai trò của đối ngoại, vai trò của nhân tố quan hệquốc tế, nhân tố bên ngoài trong cuộc đấu tranh giành độc lập bảo vệ và xây dựng Tổquốc Trong quá trình tìm đường cứu nước, tư tưởng của Người về đường lối cách mạngViệt Nam, bao gồm cả lĩnh vực đối nội và cả lĩnh vực đối ngoại đã dần dần được hìnhthành và phát triển
Nhận thức về vai trò của vũ khí đối ngoại, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: ngàynay, “ngoại giao ai thuận lợi hơn thì thắng” [46, tr.514] Quan điểm trên đây được cụ thểhoá trong việc đề ra và vận hành đường lối đối ngoại và xây dựng mạng lưới hoạt độngngoại giao, vận động quốc tế sau những chặng đường đấu tranh trong gần 80 năm qua, nó
đã khẳng định vị trí của đối ngoại trong hệ tư tưởng Hồ Chí Minh cũng như trong thựchiện đường lối, mục tiêu cách mạng
Theo quan điểm của Người, một nước nhỏ muốn đánh thắng đế quốc to, đường lốiđối ngoại và hoạt động ngoại giao có vai trò tích cực, mở ra khả năng liên kết với lựclượng đồng minh xa gần bên ngoài, làm suy yếu, phân hoá thế lực thù địch, góp phần quantrọng làm thay đổi cục diện đấu tranh và tương quan lực lượng có lợi cho nước nhỏ Lýgiải về “đánh bằng mưu” trong “Binh pháp Tôn Tử”, Người nhấn mạnh: “ dùng binh giỏinhất là đánh bằng mưu Thứ hai là đánh bằng ngoại giao Thứ ba mới đánh bằng binh Vây
Trang 19thành mà đánh là kém nhất…” (Như quân Đức vây thành Xtalingrát mà không lấy được, từ
đó bị thất bại đến cùng) [46, tr.518]
Đường lối, chính sách, chiến lược và sách lược ngoại giao và hoạt động đối ngoạicủa Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta luôn luôn hướng vào việc thực hiện có hiệu quả mụctiêu chung của cách mạng nước ta cũng như những mục tiêu cụ thể trong giai đoạn pháttriển của cách mạng Việt Nam
Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là quan điểm lớn, quan điểm trungtâm, xuyên suốt, có tính chất chi phối trong tư tưởng Hồ Chí Minh về đường lối cách mạngViệt Nam Đồng thời nó cũng là quan điểm chi phối, nói lên bản chất của đường lối quốc
tế, chính sách đối ngoại của Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh Chính sách đối ngoạicủa Việt Nam vừa mang đặc điểm dân tộc vừa có tính chất xã hội chủ nghĩa, hướng tớimục tiêu hoà bình, phát triển trên thế giới
Mối quan hệ giữa lợi ích dân tộc và lợi ích giai cấp là một vấn đề trung tâm củađường lối đối ngoại Việt Nam Theo quan điểm Hồ Chí Minh, nói đến độc lập dân tộc lànói đến lợi ích dân tộc Lợi ích cơ bản, lâu dài của Việt Nam là: “hoà bình, thống nhất, độclập, dân chủ, giàu mạnh” Vì vậy, chỉ có giải phóng được dân tộc mới giải phóng được giaicấp, giải phóng dân tộc bao hàm một phần giải phóng giai cấp và tạo điều kiện cho giảiphóng giai cấp, đó cũng là vấn đề mà đường lối đối ngoại của Đảng phải giải quyết Lợiích dân tộc là sợi chỉ đỏ trong việc hoạch định đường lối, chính sách đối ngoại Đó chính làcái “hồn”, cái “thần” trong tư tưởng đối ngoại Hồ Chí Minh
Tư tưởng đối ngoại Hồ Chí Minh là một bộ phận của tư tưởng Hồ Chí Minh Khôngthể nói nội dung nào, bộ phận nào, quan điểm nào trong tư tưởng Hồ Chí Minh là quantrọng hay không quan trọng, bởi tư tưởng của Người là một chỉnh thể, các nội dung, các bộphận, các quan điểm đều có mối quan hệ biện chứng với nhau, có sự chi phối, ảnh hưởng
và tác động lẫn nhau Vì vậy, tư tưởng đối ngoại của Người là một bộ phận không thểthiếu trong tư tưởng Hồ Chí Minh Những quan điểm đối ngoại Hồ Chí Minh sẽ giữ vai tròđịnh hướng cho việc hoạch định đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta; là cơ sở đểxây dựng các chính sách, các chương trình hoạt động của nền ngoại giao nước ta bao gồmhoạt động đối ngoại của Đảng, hoạt động ngoại giao của Nhà nước, ngoại giao Quốc hội,
Trang 20ngoại giao của các đoàn thể chính trị, của các tổ chức phi chính phủ, của nhân dân…trêntất cả các lĩnh vực với tất cả các đối tác phải quan hệ, có quan hệ và cần quan hệ Tư tưởngđối ngoại Hồ Chí Minh còn là cẩm nang trong xử lý tình thế, ứng xử quốc tế góp phần xâydựng nền nghệ thuật ngoại giao và phong cách ngoại giao Việt Nam.
1.1.3 Vị trí của mục tiêu, phương châm đối ngoại trong quan điểm đối ngoại
Hồ Chí Minh
Tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại là một vấn đề lớn, phong phú, bởi vì tư tưởng
Hồ Chí Minh về đối ngoại cũng bao gồm một hệ thống vấn đề (hay các quan điểm) về đốingoại trên các mặt hoạt động và qua các thời kỳ khác nhau Tư tưởng Hồ Chí Minh về đốingoại cũng được hình thành và phát triển trong một quá trình, theo một quy luật và logichình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh Luận văn đề cập đến những quan điểm của
Hồ Chí Minh về mục tiêu, phương châm đối ngoại góp phần lý giải về tư tưởng đối ngoại
Hồ Chí Minh nhưng bên cạnh đó cũng khẳng định vị trí của mục tiêu, phương châm trongquan điểm đối ngoại Hồ Chí Minh
Trong quan điểm đối ngoại Hồ Chí Minh thì mục tiêu, phương châm đối ngoại
chiếm một vị trí quan trọng Quan điểm đối ngoại phục vụ cho đường lối cách mạng, mụctiêu cách mạng thì mục tiêu đối ngoại cũng hướng tới điều đó, mục tiêu đối ngoại hướng
tới, phục vụ lợi ích của đất nước, nhân dân Mục tiêu đối ngoại là cơ sở để hoạch định
đường lối đối ngoại, hoạt động đối ngoại, nếu xác định mục tiêu đối ngoại không đúng đắn
sẽ mang đến những hậu quả khó lường
Đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” Độc lập, tự
do cho Việt Nam; độc lập, tự do cho mọi quốc gia - dân tộc Mục tiêu chung của cách mạngViệt Nam và cũng là mục tiêu suốt đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh là: Giải phóng dân tộc, giảiphóng xã hội, giải phóng con người; “xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độclập, dân chủ và giàu mạnh”[53, tr.647], thật sự đem lại cuộc sống ấm no, tự do, công bằng vàhạnh phúc cho toàn thể nhân dân; góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng chung củanhân loại vì một thế giới hoà bình, hữu nghị, hợp tác, phát triển, dân chủ và tiến bộ xã hội.Người phấn đấu vì độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội cho Việt Nam; hoà bình hữunghị, dân chủ và tiến bộ xã hội cho nhân loại
Trang 21Với mục tiêu xuyên suốt nói trên, qua cuộc đời hoạt động cách mạng phong phú của
Hồ Chí Minh, đặc biệt là quá trình Người lãnh đạo và trực tiếp chỉ đạo hoạt động đối ngoạicủa Đảng và Nhà nước ta từ năm 1945 đến năm 1969, đã thể hiện những quan điểm sâusắc của Người về đối ngoại
Phương châm đối ngoại linh hoạt, mềm dẻo, đúng đắn góp phần quan trọng để đạt
mục tiêu cách mạng, là cơ sở để đưa đến những thành công của tư tưởng đối ngoại Hồ ChíMinh Nếu không đề ra được những phương châm cụ thể, đúng đắn, phù hợp với tình hìnhcách mạng thì không thể mở rộng được quan hệ với các quốc gia, tranh thủ được sự giúp
đỡ của các nước, đạt được mục tiêu đối ngoại
Tóm lại, mục tiêu, phương châm đối ngoại không chỉ chiếm vị trí quan trọng trong
quan điểm đối ngoại Hồ Chí Minh mà nó còn là cơ sở để hoạch định đường lối, chính sáchđối ngoại của Đảng và Nhà nước ta, thực hiện mục tiêu cách mạng, góp phần quan trọnghàng đầu dẫn đến những thành công trong công tác đối ngoại Việt Nam
Tư tưởng chỉ đạo công tác đối ngoại của Chủ tịch Hồ Chí Minh không phải lànhững mệnh đề, phạm trù phức tạp và khó hiểu Đó là sự thấm nhuần phong cách, truyềnthống của nền ngoại giao cha ông kết hợp với nhận thức sâu sắc các đặc điểm chính trị xãhội của thời đại hiện nay Mục tiêu, phương châm đối ngoại mà Người đề ra là một trongnhững cội nguồn của mọi thắng lợi trong nền ngoại giao hiện đại của dân tộc ta, nền ngoạigiao Hồ Chí Minh
1.2 mục tiêu cơ bản trong quan điểm đối ngoại Hồ Chí Minh
Tư tưởng đối ngoại Hồ Chí Minh được hình thành và phát triển từ những năm thángNgười bôn ba hải ngoại, tìm đường cứu nước Người đã hấp thụ tinh hoa văn hoá của nhânloại; đã tiếp thu những thành tựu dân chủ và tiến bộ của các cuộc cách mạng tư sản tiêubiểu ở châu Âu, châu Mỹ, đặc biệt là tinh thần đấu tranh cho độc lập, tự do của cách mạngMỹ; lý tưởng tự do, bình đẳng, bác ái của cách mạng tư sản Pháp…
Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là nguyên lý cơ bản, luận điểm trungtâm của tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng Việt Nam Trong quá trình tìm đường cứunước, Nguyễn ái Quốc giác ngộ chủ nghĩa Mác - Lênin, nhận thức được chân lý: “Muốncứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô
Trang 22sản” [52, tr.314] Để đảm bảo cho sự nghiệp giải phóng dân tộc thắng lợi triệt để thì cuộccách mạng dân tộc dân chủ phải phát triển thành cách mạng xã hội chủ nghĩa, dưới sự lãnhđạo của Đảng Cộng sản Trong những năm tháng lãnh đạo cách mạng Việt Nam, chiến
lược và mục tiêu cách mạng cụ thể của mỗi thời kỳ có khác nhau, nhưng độc lập dân tộc
và chủ nghĩa xã hội là lý tưởng nhất quán của Người, mọi hoạt động đối ngoại cũng phảiphục vụ cho mục tiêu đó, đồng thời Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn khẳng định các quyền dân tộc
cơ bản và nhấn mạnh độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ, thống nhất đấtnước, vì hoà bình và phát triển là mục tiêu cách mạng và cũng là mục tiêu quan trọng của đốingoại
1.2.1 Đối ngoại nhằm đảm bảo các quyền cơ bản cho đất nước, đảm bảo lợi ích của quốc gia, dân tộc
Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn khẳng định các quyền dân tộc cơ bản, đảm bảo lợi íchcủa quốc gia, dân tộc là mục tiêu cách mạng và cũng là mục tiêu quan trọng của đối ngoại.Người nói: “muốn làm gì cũng cần phải vì lợi ích dân tộc mà làm” [57, tr.112] Suốt cuộc đờihoạt động cách mạng, Hồ Chí Minh đã đấu tranh không mệt mỏi, không khoan nhượng đểgiành lại các quyền dân tộc cơ bản cho đất nước, bảo đảm lợi ích quốc gia dân tộc Việt Nam.Năm 1919, dưới tên Nguyễn ái Quốc, thay mặt cho những người Việt Nam yêu nước,
Người gửi tới Hội nghị Vecxây bản Yêu sách 8 điểm, đòi các quyền tự do dân chủ cho
nhân dân Việt Nam Đây là hình thức thử nghiệm đầu tiên của Hồ Chí Minh về sử dụngpháp lý tư sản trong đấu tranh bằng phương pháp hoà bình Bản Yêu sách tập trung vào 2nội dung cơ bản:
Một là, đòi quyền bình đẳng về chế độ pháp lý cho người bản xứ Đông Dương như
đối với người châu Âu là phải xoá bỏ các toà án đặc biệt dùng làm công cụ khủng bố, đàn
áp bộ phận trung thực nhất trong nhân dân (tức những người yêu nước); phải xoá bỏ chế
độ cai trị bằng sắc lệnh (một cách độc tài) và thay thế bằng chế độ ra các đạo luật
Hai là, đòi các quyền tự do dân chủ tối thiểu cho nhân dân, đó là quyền tự do ngôn
luận, tự do báo chí, tự do lập hội, hội họp, tự do cư trú…
Trong điều kiện lịch sử lúc bấy giờ, một người Việt Nam chưa có tên tuổi, giữa sàohuyệt của kẻ thù, dám đưa yêu sách về “quyền của các dân tộc” là một hành động yêu
Trang 23nước, dũng cảm; biết đưa ra những đòi hỏi trong phạm vi cải cách dân chủ là một hành
động tài trí, khôn khéo Bản yêu sách tuy không được chấp nhận nhưng cũng gây một tiếngvang lớn đối với thế giới, thể hiện mục tiêu đấu tranh đòi những quyền cơ bản cho dân tộcViệt Nam
Trong Chánh cương vắn tắt của Đảng (2/1930), Người đã đặt mục tiêu cho cách
mạng Việt Nam là đánh đổ đế quốc, phong kiến làm cho Việt Nam độc lập và tự do cho
dân chúng Ngày 2/9/1945, ngay sau khi nước nhà vừa được giải phóng, Hồ Chí Minh đã
công bố trước quốc dân đồng bào và toàn thế giới bản: Tuyên ngôn độc lập Người mở đầu
bằng việc khẳng định những giá trị pháp lý và đạo lý mang tính phổ quát của nhân loại
thông qua “Tuyên ngôn độc lập” của nước Mỹ năm 1776:
"Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng Tạo hoá cho họ những quyền
không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do
và quyền mưu cầu hạnh phúc" [47, tr.1] Suy rộng ra câu ấy có nghĩa là: tất cả các dân tộc
trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng vàquyền tự do Cái tài là ở chỗ Người đã dùng “Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền ” củaCách mạng Pháp năm 1791 làm cơ sở cho luận điểm của mình Người khẳng định “Đó là
lẽ phải không ai có thể chối cãi được” [47, tr.1] Bản Tuyên ngôn độc lập khẳng định
quyền tự do, độc lập của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà "Chính phủ Lâm thời của nướcViệt Nam Dân chủ cộng hoà trịnh trọng tuyên bố với thế giới rằng:
Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độclập Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để
giữ vững quyền tự do độc lập ấy" [47, tr.4] Thông qua bản Tuyên ngôn độc lập, Chủ tịch Hồ
Chí Minh và Đảng ta đã khẳng định độc lập, chủ quyền của đất nước và định hướng đối
ngoại độc lập, tự chủ của dân tộc Việt Nam trong quan hệ chính trị quốc tế
Ngay sau Tuyên ngôn độc lập, trong phiên họp đầu tiên của Hội đồng chính phủ,
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra 6 nhiệm vụ cấp bách trong đó có nhiệm vụ phải khẩn
trương tổ chức cuộc Tổng tuyển cử theo chế độ phổ thông đầu phiếu bầu Quốc hội để
ban hành Hiến pháp của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Ngày 6/1/1946, cuộc Tổng
tuyển cử đầu tiên trong cả nước được tiến hành Ngày 9/11/1946, Bản Hiến pháp đầu
Trang 24tiên được Quốc hội thông qua Trong bối cảnh lúc bấy giờ, Việt Nam trở thành một
trong những dân tộc tiên phong trong hàng ngũ các nước thuộc địa và phụ thuộc tự
mình giải phóng khỏi ách thực dân và xác lập cơ sở pháp lý đối với các quyền dân tộc
cơ bản của mình cũng như các quyền cho nhân dân mình trong đó có quyền công dân
Kỳ họp đầu tiên của Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (2/3/1946) đã quyếtđịnh công nhận Chính phủ liên hiệp kháng chiến do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu Tuyênngôn của Quốc hội với quốc dân và thế giới:
Chủ quyền của nước Việt Nam độc lập thuộc về toàn thể nhân dân Việt Nam.Vận mệnh quốc gia việt Nam là ở trong tay Quốc hội Việt Nam, chính thể của nướcViệt Nam là chính thể dân chủ công hoà, có nhiệm vụ bảo vệ tự do và mưu đồ hạnhphúc cho mọi tầng lớp nhân dân …Quốc hội Việt Nam kiên quyết bảo vệ đến cùngnền độc lập và lãnh thổ quốc gia và quyền tự do của nhân dân Việt Nam [43, tr.106-107]
Hiệp định sơ bộ ( 6/ 3/1946 ) là văn bản đối ngoại mang tính pháp lý quốc tế đầu tiên
mà Việt Nam Dân chủ cộng hoà ký kết với nước ngoài Với Hiệp định này, Việt Nam đượccông nhận là "quốc gia tự do" nằm trong Liên bang Đông Dương và Liên hiệp Pháp; chấpnhận trưng cầu dân ý ở Nam Bộ về việc hợp nhất "ba kỳ" Chính phủ Pháp công nhận ViệtNam Dân chủ Cộng hoà có chính phủ, nghị viện, quân đội và tài chính riêng của mình
Đối với chủ quyền dân tộc của Việt Nam, thì những thoả thuận ấy là rất quan trọng
Nói chuyện với đồng bào trước khi sang Pháp giữa năm 1946, Hồ Chí Minh khẳngđịnh:
Cả cuộc đời tôi chỉ có một mục đích, là phấn đấu cho quyền lợi của Tổquốc, và hạnh phúc của quốc dân
Những khi tôi phải ẩn nấp nơi núi non, hoặc ra vào chốn tù tội, xông pha
sự hiểm nghèo - là vì mục đích đó
Đến lúc nhờ quốc dân đoàn kết, tranh được chính quyền, uỷ thác cho tôigánh việc Chính phủ, tôi lo lắng đêm ngày, nhẫn nhục cố gắng - cũng vì mụcđích đó
Trang 25Bất kỳ bao giờ, bất kỳ ở đâu, tôi cũng chỉ theo đuổi một mục đích, làm choích quốc lợi dân [47, tr.240].
Đó là mục tiêu phấn đấu cả cuộc đời của Người và cũng là mục tiêu của Đảng, Nhànước và nhân dân ta trong cách mạng và trong công tác đối ngoại
Đầu tháng 12 năm 1946, trước những hành động của thực dân Pháp ở Đông Dương,Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư cho Liên hợp quốc:
…Chính phủ chúng tôi trình bày với Hội đồng bảo an về cuộc xung độthiện nay, và đề nghị Hội đồng vui lòng chấp nhận những điều chúng tôi đã nói ởtrên để vãn hồi hoà bình trong một phần thế giới này, để cho Hiến chương ĐạiTây Dương được tôn trọng và để khôi phục lại những quyền cơ bản của Việt
Nam là được thừa nhận độc lập dân tộc và thống nhất lãnh thổ [47, tr.471]
Trả lời các nhà báo, ngày 2/1/1947, Hồ Chí Minh lại khẳng định: “tự do độc lập là
quyền trời cho của mỗi dân tộc” [48, tr.7] Quan điểm của Hồ Chí Minh rõ ràng, nhất
quán, kiên trì đấu tranh tới cùng để xác lập và bảo vệ các quyền dân tộc cơ bản của Việt
Nam
Là một người yêu nước và một nhà hoạt động quốc tế vô sản, khi hoạt động ở Quốc
tế cộng sản, Nguyễn ái Quốc ra sức giải thích, vận động để những người cách mạng quốc
tế hiểu được sự cần thiết phải hợp tác vì các quyền dân tộc tự quyết Trong thời kỳ khángchiến kiến quốc, những quyền cơ bản của dân tộc luôn được Người kiên quyết giữ vững
trong đường lối cách mạng cũng như hoạt động đối ngoại Tháng 11/1957, khi viết bài
“Cách mạng tháng Mười và sự giải phóng dân tộc phương Đông”, Người nêu rõ:
Cuộc cách mạng giải phóng trong các nước bị áp bức và cuộc cách mạng
vô sản trong nước đi áp bức phải ủng hộ lẫn nhau Trong các nước đi áp bức,
trọng tâm của việc giáo dục tinh thần quốc tế là làm cho các người lao động hiểu
rõ vấn đề để cho các dân tộc bị áp bức có quyền tự tách ra và lập thành những nướcđộc lập; còn trong các nước bị áp bức thì trọng tâm của việc giáo dục tinh thần quốc
tế phải là vấn đề liên minh tự nguyện giữ các dân tộc [51, tr.569]
Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn ủng hộ cuộc đấu tranh của các dân tộc vì các quyền dântộc cơ bản của họ, đồng thời khẳng định rằng cuộc đấu tranh vì các quyền dân tộc cơ bản
Trang 26của nhân dân Việt Nam đã đóng góp quan trọng vào phong trào giải phóng dân tộc trên thếgiới, đòi quyền cơ bản của các dân tộc.
Bước vào giai đoạn chống Mỹ cứu nước, Người khẳng định Việt Nam Dân chủ Cộnghoà, kiên trì đấu tranh bảo vệ các quyền dân tộc cơ bản, đòi Mỹ chấm dứt chiến tranh xâm lược
ở miền Nam và mọi hành động chiến tranh ở miền Bắc Việt Nam Tại hiệp định Pari về chấmdứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam (27/ 01 1973) và Định ước quốc tế về Việt Nam(2/3/1973), Hoa Kỳ và các nước cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnhthổ của Việt Nam như Hiệp định Giơnevơ 1954 đã công nhận Sau Đại thắng mùa Xuân 1975của quân và dân ta, Quốc hội nước Việt Nam thống nhất họp phiên đầu tiên (2/7/1976) tuyên bốthành lập nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam Cuộc đấu tranh để thực hiện các quyềndân tộc cơ bản của Việt Nam giành thắng lợi hoàn toàn, đảm bảo lợi ích của quốc gia, đảm bảoquyền dân tộc
Như vậy, quyền cơ bản của dân tộc không chỉ là mục tiêu của cách mạng mà còn là
mục tiêu hàng đầu của đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta, cũng là mục tiêu
quan trọng trong quan điểm đối ngoại Hồ Chí Minh Độc lập cho dân tộc, tự do hạnh phúccho nhân dân, những quyền của dân tộc luôn luôn được Người kiên trì trong suốt cuộc đờihoạt động cách mạng, chỉ đạo hoạt động đối ngoại của nước ta Đó là mục tiêu đầu tiên
của cách mạng Việt Nam và cũng là mục tiêu kiên định của đối ngoại
1.2.2 Đối ngoại nhằm đảm bảo chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, thống nhất đất
nước
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu đối ngoại bao giờ cũng được xác định một
cách rõ ràng, nhất quán là: chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ, thống nhất đất nước.
Chủ động khai phá và mở rộng quan hệ với các nước lớn đã được Hồ Chí Minh chú ý ngaysau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà mới thành lập Người đã gửi thư đến Tổng
thống Mỹ, đến Ngoại trưởng Mỹ, đến Liên hợp quốc và nhiều nước lớn khác để “đặt quan
hệ ngoại giao” mà trước hết là giao lưu văn hoá Lẽ dĩ nhiên mục tiêu của việc mở rộng
các quan hệ ấy không có gì khác là nền độc lập, thống nhất và thịnh vượng của Việt Nam,
là hoà bình, độc lập của các dân tộc trên thế giới Đó là mục tiêu đối ngoại mà Hồ Chí
Minh luôn kiên định
Trang 27Theo Hồ Chí Minh, nền độc lập thực sự là: các dân tộc phải có quyền quyết định vậnmệnh của dân tộc mình, có quyền quyết định về đường lối chính trị - xã hội, xu hướng pháttriển, quân sự, ngoại giao, kinh tế; nhân dân các dân tộc tự quyết định mọi vấn đề thuộcchủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ mà không có sự can thiệp, xâm phạm của bên ngoài,giá trị đích thực của nó là đem lại tự do, hạnh phúc cho nhân dân, mọi đường lối, chínhsách ngoại giao cũng đều nhằm mục đích trên.
Đối với Hồ Chí Minh, độc lập dân tộc không thể tách rời với thống nhất Tổ quốc.Trước đây, Người đã nhiều lần lên án chính sách chia để trị của thực dân Pháp đối với ViệtNam Nay để chống lại mưu đồ tách Nam bộ ra khỏi nước Việt Nam, Người đã khẳngđịnh: “Đồng bào Nam Bộ là dân nước Việt Nam Sông có thể cạn, núi có thể mòn, songchân lý đó không bao giờ thay đổi!” [47, tr.246] Hồ Chí Minh vặn hỏi: Người Baxcơ(Basques), Brơtôn (Breton) không nói tiếng Pháp mà vẫn là người Pháp Người Nam Kỳnói tiếng Việt Nam, tại sao lại còn nghĩ đến sự cản trở việc thống nhất nước Việt Nam [47,tr.272] Sau khi đi Pháp về, Người đã tuyên bố trước quốc dân: “Trung, Nam, Bắc đều làđất nước Việt Nam Chúng ta đều có chung một tổ tiên dòng họ, đều là ruột thịt anh em.Nước có Trung, Nam, Bắc cũng như một nhà có ba anh em Cũng như nước Pháp có vùngNoócmăngđi, Prôvăngxơ, Bôxơ Không ai có thể chia rẽ con một nhà, không ai có thể chia
rẽ nước Pháp, thì cũng không ai có thể chia rẽ nước Việt Nam ta”[47, tr.418-419] Ngườikhẳng định: “Một ngày mà Tổ quốc chưa thống nhất, đồng bào còn chịu khổ, là một ngàytôi ăn không ngon, ngủ không yên Tôi trân trọng hứa với đồng bào rằng: Với quyết tâmcủa đồng bào, với quyết tâm của toàn thể nhân dân, Nam Bộ nhất định trở lại cùng thân áichung trong lòng Tổ quốc”[47, tr.419] Lập trường kiên định, bất di bất dịch của Hồ ChíMinh là: độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam là vô cùngthiêng liêng, là lợi ích tối cao của dân tộc
Nếu như trước Cách mạng tháng Tám, Hồ Chí Minh tập trung nêu những lý lẽ vềcuộc đấu tranh giải phóng dân tộc là hợp pháp thì sau khi Việt Nam đã thành một nước cóđộc lập chủ quyền, Người liên tục đưa ra hàng loạt lý lẽ đanh thép không bác bỏ được đểlên án, buộc tội thực dân Pháp xâm lược; phá hoại độc lập, chủ quyền thống nhất của ViệtNam Lý lẽ của Người là: Nước Việt Nam sự thật đã thành một nước tự do, độc lập, có chế
Trang 28độ dân chủ, có Hiến pháp, Quốc hội, Chính phủ; về đối nội thì được dân tín nhiệm, ủng hộ;
về đối ngoại thì được nhân dân thế giới công nhận, ủng hộ, nên Pháp và các nước khác
phải tôn trọng độc lập chủ quyền, thống nhất của dân tộc Việt Nam
Ngày 16 tháng 7 năm 1947, khi trả lời một nhà báo nước ngoài, Hồ Chí Minh nói:
“Chính sách đối nội của Việt Nam là dân tộc độc lập, dân quyền tự do, dân sinh hạnh
phúc Chính sách đối ngoại là thân thiện với tất cả các nước láng giềng Trung Hoa, ấn Độ,Xiêm La, Cao Miên, Ai Lao, v.v., mà không gây thù gì với nước nào”[48, tr.169] Bởi độclập dân tộc là quyền thiêng liêng, bất khả xâm phạm của tất cả các dân tộc, vì vậy tất cả
các dân tộc phải đoàn kết, kiên quyết đấu tranh để giành lại và bảo vệ quyền độc lập tự docủa dân tộc mình, ngoại giao cũng nhằm mục đích đó
Trong Lời kêu gọi nhân ngày kỷ niệm độc lập (2/9/1948), Người khẳng định: “Chúng
ta quyết kháng chiến đến cùng, tranh cho kỳ được thống nhất và độc lập, thống nhất và độclập thực sự, chứ không phải cái thứ thống nhất và độc lập bánh vẽ mà thực dân vừa thí chobọn bù nhìn Thống nhất mà bị chia sẻ thành “nước Nam kỳ”, “nước Tây kỳ”, “Liên bangThái”, v.v…Độc lập mà không có quân đội riêng, ngoại giao riêng, kinh tế riêng Nhân dânViệt Nam quyết không thèm thứ thống nhất và độc lập giả hiệu ấy”[48, tr.486-487]
Trong “Thường thức chính trị” viết năm 1953, Người xác định: “kiên quyết giữ gìn quyền
độc lập, tự do và đất đai toàn vẹn của nước mình” [50, tr.227] Trong hoạt động đối ngoại phảiluôn luôn kiên trì mục tiêu đó
Độc lập dân tộc thực sự, hoàn toàn là mục tiêu bất biến, tuy nhiên, trong quá trình
phát triển của cách mạng, căn cứ vào tương quan lực lượng và tình hình quốc tế, mục tiêuchung đó thường được cụ thể hoá thành những mục tiêu cụ thể cho từng bước và có sự
điều chỉnh linh hoạt cho phù hợp với diễn biến của tình hình, điều quan trọng là mục tiêutừng bước phải tạo cơ sở vững chắc để tiến đến mục tiêu cuối cùng Quan điểm của Hồ
Chí Minh là: "Hiện nay, tình hình đã đổi mới, nhiệm vụ của ta do đó cũng có thay đổi,
chính sách và khẩu hiệu cũng phải thay đổi, cho phù hợp với tình hình mới"[50, tr.315].
Nhưng điều cốt lõi là “Không có gì quý hơn độc lập tự do”, “Chúng ta thà hy sinh tất cả,
chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”[47, tr.480], dù phải
hy sinh đến giọt máu cuối cùng để giữ gìn đất nước Nhân dân Việt Nam hoan nghênh sự
Trang 29giúp đỡ, ủng hộ Việt Nam đấu tranh vì độc lập tự do đồng thời kiên quyết từ chối, gạt bỏmọi sự can thiệp, áp đặt và xâm phạm chủ quyền quốc gia của dân tộc mình Người khẳngđịnh: “Chúng tôi trịnh trọng tuyên bố rằng nhân dân chúng tôi thành thật mong muốn hoàbình Nhưng nhân dân chúng tôi cũng kiên quyết chiến đấu đến cùng để bảo vệ những quyềnthiêng liêng nhất: toàn vẹn lãnh thổ cho Tổ quốc và độc lập cho đất nước”[47, tr.469] Mụctiêu và nhiệm vụ cụ thể đều nhằm tới mục đích thực hiện mục tiêu cơ bản là: Xây dựng mộtnước Việt Nam độc lập, thống nhất, dân chủ và giầu mạnh, góp phần xứng đáng vào sựnghiệp cách mạng thế giới
Đảm bảo chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, thống nhất đất nước là mục tiêu nhất quántrong quan điểm đối ngoại Hồ Chí Minh Dù điều chỉnh linh hoạt như thế nào về sách lượcthì điều đó cũng không thể nào thay đổi, đó là cái đích hướng tới của Chủ tịch Hồ ChíMinh, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta trong suốt quá trình cách mạng Việt Nam
1.2.3 Đối ngoại vì hoà bình và phát triển
Nước Việt Nam thời nào cũng lấy hoà hiếu để kết bạn, khoan dung để hướng tớitương lai Là một dân tộc yêu chuộng hoà bình, chung tình, hữu nghị và đó cũng là khátvọng ngàn đời của nhân dân Việt Nam Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiếp thu những tinh hoa
ấy và nâng nó lên ở tầm thời đại để hình thành mục tiêu cho hành động cách mạng củamình Tận mắt chứng kiến những tội ác mà thực dân Pháp gây ra cho nhân dân Việt Nam,trên hành trình đi tìm đường cứu nước, chứng kiến bao cảnh đau thương của nhân loại, từviệc những người nô lệ bị đối xử như những con vật đến những thanh niên vì miếng cơmphải đi bắn giết chính đồng bào mình phục vụ cho mưu đồ của bọn bóc lột, Người đã thấynhững tàn phá "khủng khiếp nhất trong lịch sử" của hai cuộc chiến tranh thế giới, nhữngtội ác và sự lầm than khổ cực mà các cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân, đế quốc gây
ra cho nhân dân nhiều nước trên thế giới, cũng như thấy được khả năng của các dân tộc,
Hồ Chí Minh hiểu rất rõ giá trị của hoà bình Hoà bình là khát vọng của toàn thể nhân dânlao động không phân biệt màu da, chế độ chính trị hay tôn giáo Ngược lại, chiến tranh chỉ
là tham vọng của bọn đế quốc, một thiểu số người vì những mục đích xâm lược, chiếmđoạt và nô dịch con người Do vậy, trong tư tưởng đối ngoại Hồ Chí Minh, chúng ta thấyrất rõ quan điểm hoà bình, hữu nghị và phát triển giữ vị trí nền tảng Điều đó phản ánh
Trang 30đúng quy luật khách quan, là kết tinh của truyền thống, xu thế của thời đại, và cũng là mụctiêu, khát vọng của nhân dân Việt Nam và nhân loại.
Đấu tranh cho hoà bình và cùng tồn tại hoà bình là mục tiêu xuyên suốt trong tưtưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại Lòng yêu hoà bình, độc lập tự do và sự nghiệp chínhnghĩa, các mục tiêu đấu tranh mà nhân dân Việt Nam phấn đấu thực hiện trong đấu tranhgiải phóng dân tộc cũng như xây dựng hoà bình là mẫu số chung để xây dựng quan hệquốc tế của Việt Nam và để tập hợp lực lượng quốc tế thông qua sự liên hệ và đoàn kếtgiữa nhân dân tại các quốc gia có chế độ chính trị xã hội khác nhau Nó phù hợp với ý thứcchống cường quyền, yêu chuộng hoà bình của nhân loại tiến bộ Đó còn là cơ sở để tranhthủ lòng người, thực hiện ngoại giao “tâm công” hợp với hoàn cảnh và đối tượng đa dạngcủa quan hệ quốc tế hiện đại
Tiếp nhận các quan điểm của Lênin về chiến tranh và hoà bình, Hồ Chí Minh thườngxuyên nhấn mạnh nguyện vọng của Người và của dân tộc Việt Nam là muốn có được mộtnền hoà bình công lý Người nói: "Nhân dân Việt Nam rất yêu chuộng hoà bình, hoà bìnhthật sự, hoà bình trong độc lập tự do, chứ không phải thứ hoà bình giả hiệu"[55, tr.109],hoà bình của một quốc gia phải trên cơ sở độc lập, tự do Do đó, cuộc đấu tranh cho độclập tự do của các quốc gia cũng chính là cuộc đấu tranh bảo vệ nền hoà bình của mình HồChí Minh cho rằng: "giữ gìn hoà bình thế giới tức là giữ gìn lợi ích của nước ta Vì lợi íchcủa nhân dân lao động khắp thế giới là nhất trí Tinh thần yêu nước và tinh thần quốc tếliên hệ khăng khít với nhau Vì lẽ đó, ta vừa ra sức kháng chiến, vừa tham gia phong tràoủng hộ hoà bình thế giới"[50, tr.228]
Các hành động chiến tranh tàn bạo mà đối phương gây ra không hề làm suy giảm tínhnhân văn, nhân đạo cao cả của Hồ Chí Minh Sửa lại cách viết của một nhà thơ, Người nóirằng: Không có trận đánh đẫm máu nào là “đẹp” cả cho dầu thắng lớn [57, tr.99] Nỗ lựcphấn đấu cho hoà bình ở Việt Nam, ngăn chặn chiến tranh xảy ra là tư tưởng nhất quán của
Hồ Chí Minh trong suốt 24 năm đứng đầu Nhà nước Việt Nam (1945-1969), lãnh đạo haicuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ vì độc lập và thống nhất Tổ quốc
Ngay những ngày đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, nhân dân ViệtNam đã phải đối mặt với nguy cơ của một cuộc chiến tranh tàn khốc Chỉ 20 ngày sau khi
Trang 31tuyên bố độc lập, khói lửa chiến tranh đã bùng lên ở Nam Bộ rồi lan dần ra cả nước Nhận
rõ dã tâm xâm lược của chủ nghĩa thực dân, chiến tranh là điều khó tránh khỏi, song HồChí Minh luôn tỏ rõ thiện chí hoà bình Chủ tịch Hồ Chí Minh đã làm hết sức mình choviệc bình thường hoá quan hệ Việt - Pháp, tránh cuộc đổ máu không cần thiết Người đãchủ động thương thuyết với Chính phủ Pháp, tìm cách tiếp cận với các chính khách Phápbằng mọi điều kiện Hồ Chí Minh đã làm tất cả những gì Pháp đòi hỏi trừ nền độc lập củadân tộc và toàn vẹn lãnh thổ là nguyên tắc không thay đổi Người tin tưởng vào những
người Pháp tiến bộ và nhân dân Pháp Vì thế hoạt động ngoại giao của Hồ Chí Minh ở thờiđiểm này rất rõ ràng là “cố gắng giữ gìn hoà bình”, “còn nước còn tát” Nhưng chiến tranhvẫn nổ ra, và thực sự đúng như Hồ Chí Minh đã nói: “Chúng ta muốn hoà bình, chúng taphải nhân nhượng Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì
chúng quyết tâm cướp nước ta một lần nữa!”[47, tr 480] Người trịnh trọng tuyên bố: “dânViệt Nam không muốn đổ máu, dân Việt Nam yêu chuộng hoà bình Nhưng nếu cần phải hysinh mấy triệu chiến sĩ, nếu cần phải kháng chiến bao nhiêu năm để giữ gìn độc lập của ViệtNam, để cho con cháu Việt Nam khỏi kiếp nô lệ, thì chúng ta vẫn kiên quyết hy sinh và khángchiến” [47, tr 91-92] Như vậy, nền hoà bình mà Việt Nam lựa chọn phải là hoà bình trong
sự tôn trọng độc lập và chủ quyền dân tộc Cuộc chiến tranh mà nhân dân Việt Nam phảichấp nhận cũng chính là nhằm đạt đến “một nền hoà bình chân chính xây dựng trên côngbình và lý tưởng dân chủ” [47, tr.66] Cho nên trước và sau khi cuộc kháng chiến bùng nổtrong cả nước, Người đã hoạt động không mệt mỏi trong các mối quan hệ quốc tế nhằmđạt được sự công nhận nền độc lập và tự do của nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà, nhằmduy trì hoà bình trên đất nước Nhiều lần Người gửi thông điệp cho các nhà lãnh đạo
Chính phủ Pháp, những đại diện Pháp tại Đông Dương cùng nhiều chính khách và nhân sĩtiến bộ trên thế giới bày tỏ nguyện vọng hoà bình và đề nghị những biện pháp hoà bình VàNgười nói với nhân dân Pháp rằng:
Chúng tôi yêu chuộng các bạn và muốn hợp tác thành thực với các bạntrong khối Liên hiệp Pháp, vì chúng ta có lý tưởng chung: tự do, bình đẳng vàđộc lập Chính bọn thực dân phản động Pháp đã làm ô danh nước Pháp, và tìmcách chia rẽ chúng ta bằng cách khiêu chiến Chừng nào nước Pháp hiểu rõ nền
Trang 32độc lập và thống nhất của chúng tôi, và gọi trở lại những kẻ thực dân hiếu chiếnPháp về, thì tình giao hảo và sự hợp tác giữa hai dân tộc Pháp - Việt sẽ trở lạingay [47, tr.483].
Ngay từ khi mới thành lập, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã tuyên bốchính sách đối ngoại vì mục tiêu giữ gìn hoà bình thế giới: “Đối với tất cả các nước trênthế giới, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tha thiết mong muốn duy trì tình hữu nghị vàthành thật hợp tác trên cơ sở bình đẳng và tương trợ, để xây dựng nền hoà bình thế giới lâudài” [52, tr.50]
Trong điện văn gửi Thủ tướng Pháp Lêông Blum ngày 23/12/1946, Chủ tịch Hồ ChíMinh đã khẳng định: “Chúng tôi cũng như Ngài, rất mong muốn giữ vững hoà bình và thihành thành thực những thoả thuận đã ký kết, như tôi đã từng nói rõ trong những lời kêu gọigửi tới Ngài”[47, tr.487] Tất cả những điều đó xuất phát từ tư tưởng hoà bình, một tìnhcảm mong muốn hoà bình thực sự, tư tưởng ấy, tình cảm ấy là chân thực, nhưng được đặttrong nguyên tắc bất di bất dịch là hoà bình trong độc lập thực sự, là toàn vẹn lãnh thổ.Quan điểm hoà bình mà Chủ tịch Hồ Chí Minh bày tỏ còn là nguyện vọng của dân tộc ViệtNam, cho nên những lời lẽ chân thành ấy không chỉ dành cho nhân dân Pháp, cho chínhkhách Pháp như Biđôn, Lêông Blum, Mute mà ngay cả cho những tên thực dân mưu đồgây trở lại cuộc chiến tranh ở Việt Nam như Đácgiăngliơ, Moocliê…Người luôn nêu caongọn cờ hoà bình: Hoà bình cho Việt Nam, hoà bình cho các dân tộc khác, rất kiên quyếtcho đấu tranh vì độc lập tự do, nhưng tận dụng mọi thời cơ để lập lại hoà bình Là ngườilãnh đạo cuộc chiến tranh nhân dân đã đem lại những kỳ tích anh hùng, không ngừng tìmmọi cách để giữ gìn hoà bình Chính tấm lòng yêu hoà bình, và tinh thần đấu tranh vì hoàbình đã thu hút sự đồng tình của loài người tiến bộ và trở thành một nội dung quan trọngcủa tư tưởng đoàn kết quốc tế Hồ Chí Minh
Vì lý tưởng hoà bình, Hồ Chí Minh quyết tâm chống lại chính sách chiến tranh xâmlược của đế quốc Mỹ Nhưng trong lúc chiến tranh diễn ra ác liệt thì Người vẫn sẵn sàngbắc chiếc cầu thương lượng hoà bình Hồ Chủ tịch khẳng định mong muốn hoà bình, sẵnsàng giải quyết vấn đề hoà bình về Việt Nam, sẵn sàng trải thảm đỏ và rắc hoa cho Mỹ rút
Trang 33Nhưng nếu Mỹ không rút thì nhân dân Việt Nam đành phải kiên quyết đánh đuổi Mỹ đi,giành độc lập cho Tổ quốc.
Đối ngoại vì hoà bình, hữu nghị và phát triển của Hồ Chí Minh không chỉ là định
hướng, là quan điểm chung cho hoạt động ngoại giao mà thực sự đi vào trong hành động,trong ứng xử cụ thể để giải quyết trong vấn đề, trong con người để khai thác những mặttích cực, giảm thiểu những mặt tiêu cực trong các mối quan hệ đối ngoại và ngoại giao ởtrong thời điểm cụ thể đảm bảo tính linh hoạt và tính tình thế rất rõ ràng Những quan
điểm, phẩm chất ấy đã thành biểu tượng của lương tri con người Chỉ có như vậy, mới lýgiải nổi tại sao Hồ Chí Minh lại đồng cảm với những bà mẹ Pháp, lại xót thương đến
những thanh niên Pháp phải lìa xa gia đình, rời quê hương đi bắn giết những người vô tội
mà không hề có oán thù gì đối với họ…Sự đau xót và cảm thông này chỉ có thể có được ởcon người mà tình yêu hoà bình, sự mong mỏi tình hữu nghị đã được tích tụ, được trải
nghiệm và đã biến thành máu thịt của chính mình, như trong lời tâm sự với những bà mẹPháp, Hồ Chí Minh đã nói:
Theo tinh thần bốn bể đều là anh em, tôi yêu mến thanh niên Pháp cũngnhư yêu mến thanh niên Việt Nam Đối với tôi, sinh mệnh của một người Pháphay sinh mệnh của một người Việt Nam đều đáng quý như nhau Tôi thành thựcmong muốn thanh niên Pháp và thanh niên Việt Nam hiểu biết lẫn nhau và yêuquý nhau như anh em [47, tr.303]
Người còn nói: “Chúng tôi muốn hoà bình ngay để máu người Pháp và Việt ngừng chảy.Những dòng máu đó chúng tôi đều quý như nhau” [48, tr.19]
Quan điểm đối ngoại hoà bình, hữu nghị còn được thể hiện khá đậm nét ở nhiều lĩnh vựckhác nhau như giữ vững sự ổn định xây dựng niềm tin để cùng phát triển kinh tế, như hướngtới một tương lai lâu dài về sự hợp tác bền vững trong một thế giới đầy biến động, như rất chútrọng đến xây đắp tình hữu nghị láng giềng tin cậy lẫn nhau vì mục đích chung của các bên và
vì lợi ích của mỗi quốc gia dân tộc; như sự cần thiết phải xây dựng một niềm tin về một tươnglai các dân tộc phải đoàn kết với nhau trong hoà bình để cùng tồn tại và phát triển…
Trong Thư gửi Chính phủ và nhân dân Pháp nhân dịp đầu năm mới, Chủ tịch Hồ Chí
Minh viết: “Tôi kêu gọi nhân dân Pháp để chấm dứt cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn
Trang 34và năm 1947 mang lại nền hoà bình và tình hữu ái giữa nước Pháp và nước Việt Nam”[48,tr.3] Người còn khẳng định mục tiêu đối ngoại vì hoà bình và phát triển trong thư gửiChính phủ và Quốc hội Pháp năm 1947: “Nhân dân Việt Nam chỉ muốn có hoà bình, mộtnền hoà bình thực sự, để kiến thiết quốc gia với sự cộng tác của những người bạn Phápchân chính”[48, tr.11]
Trong thời kỳ kháng chiến, “Luận cương cách mạng Việt Nam” trình bày tại Đại hội
II (1951), đã xác định việc đấu tranh bảo vệ hoà bình thế giới và chống đế quốc gây chiến
là một nhiệm vụ đối ngoại quan trọng của Đảng và Nhà nước Việt Nam Hồ Chí Minh nêucao chủ nghĩa quốc tế trong sáng và kiên trì giáo dục trong Đảng và nhân dân “lập trường
quốc tế cách mạng” Trong bài “Thường thức chính trị” viết năm 1953, Người xác định:
Tinh thần yêu nước là kiên quyết giữ gìn quyền độc lập tự do và đất đaitoàn vẹn của nước mình
Tinh thần quốc tế là đoàn kết với các nước bạn và nhân dân các nướckhác để giữ gìn hoà bình thế giới, chống chính sách xâm lược và chính sáchchiến tranh của đế quốc…
Tinh thần yêu nước và tinh thần quốc tế liên hệ khăng khít với nhau Vì
lẽ đó, ta vừa ra sức kháng chiến, vừa tham gia phong trào ủng hộ hoà bình thếgiới [50, tr 227-228]
Phấn đấu cho một nền hoà bình chân chính của dân tộc Việt Nam, Hồ Chí Minh luônluôn đặt nó trong mối quan hệ với nền hoà bình thế giới và khu vực Lập trường yêuchuộng hoà bình trong tư tưởng Hồ Chí Minh vừa rõ ràng nhất quán, vừa thể hiện mốiquan hệ biện chứng giữa ý chí quyết tâm bảo vệ hoà bình cho đất nước vừa góp phần giữgìn hoà bình cho các dân tộc khác Người nói: "Nhân dân Việt Nam vĩnh viễn không đểcho kẻ nào xâm lược nước mình, đồng thời cũng vĩnh viễn không xâm lược nước khác"[51, tr.4] Hồ Chí Minh còn khẳng định: “Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà sẵn sàng đặtmọi quan hệ thân thiện hợp tác với bất cứ một nước nào trên nguyên tắc: tôn trọng sự hoànchỉnh về chủ quyền lãnh thổ của nhau, không xâm phạm lẫn nhau, không can thiệp nội trịcủa nhau, bình đẳng cùng có lợi và chung sống hoà bình Chúng tôi tin chắc rằng sự hợp
Trang 35tác đó sẽ có lợi cho cả đôi bên và có lợi chung cho công cuộc hoà bình toàn thế giới” [51,tr.5]
Khi ta tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, trong dư luận quốc tế có ýkiến cho rằng cuộc chiến tranh ở miền Nam sẽ lan rộng và lo ngại “một đốm lửa nhỏ cóthể biến thành một đám cháy lớn”, nhưng Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định:
ta biết phát động cuộc chiến tranh cứu nước, thì cũng biết kết thúc cuộc chiến tranh đó mộtcách có lợi nhất cho sự nghiệp của nhân dân Việt Nam và sự nghiệp của hoà bình thế giới.Tháng 8/1953, trả lời câu hỏi “Mỹ có mạnh không?”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
chỉ ra: “Chính sách xâm lược của Mỹ trái với chính nghĩa Chẳng những nhân dân thế
giới chống mà nhân dân Mỹ cũng chống”; “Mỹ gặp một địch nhân ngày càng mạnh là
phong trào thế giới bảo vệ hoà bình”[50, tr.110-111] Đồng thời, Người khẳng định
thắng lợi tất yếu của phong trào đó, vì “Đôla, nguyên tử không ngăn nổi sức mạnh
hoà bình của thế gian”[49, tr.556]
Trong hoàn cảnh đất nước bị chia cắt, Việt Nam Dân chủ Cộng hoà kiên trì đấu tranh
để thực hiện thống nhất đất nước bằng phương pháp hoà bình Tại Hội nghị những người
ấn nghiên cứu các vấn đề quốc tế, năm 1958, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ chủ trương:
Để thống nhất đất nước Việt Nam bằng phương pháp hoà bình, mọi biệnpháp thực tế đều phải xuất phát từ nguyện vọng hoà bình, thống nhất, độc lập vàdân chủ của toàn dân; phải phù hợp với Hiệp định Giơnevơ, đồng thời chiếu cốđến sự tồn tại của hai chế độ khác nhau ở hai miền
…Về quan hệ quốc tế, chúng tôi luôn luôn trung thành với chính sách hoàbình và hợp tác giữa các nước trên cơ sở năm nguyên tắc chung sống hoà bình[52, tr.51-52]
Hoà bình chân chính là một nền hoà bình không thể tách rời với nền độc lập thực sự
Trả lời nhà báo Nước Đức mới (9/1965), Người nói: “Nhân dân Việt Nam rất yêu chuộng
hoà bình, nhưng hoà bình không thể tách rời độc lập dân tộc Nhân dân Việt Nam biết rằngmuốn có hoà bình thực sự thì phải có độc lập thật sự; và đấu tranh cho độc lập dân tộc tức
là đấu tranh bảo vệ hoà bình” [54, tr.500] Ra khỏi cuộc chiến tranh chống Pháp 9 năm,
Trang 36cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân Việt Nam được tiến hành chính lại là
để giữ vững nguyên tắc xây dựng một nền hoà bình chân chính
Quyết tâm xây dựng một nền hoà bình chân chính được thể hiện rõ ràng trong nội
dung bức thư của Hồ Chí Minh gửi các vị đứng đầu của một số nước ngày 24 tháng 1 năm1966:
Trải qua hơn hai mươi năm chiến tranh, hơn ai hết, nhân dân Việt Namrất thiết tha với hoà bình để xây dựng đời sống của mình Nhưng hoà bình thực
sự quyết không thể tách rời với độc lập thực sự Ngày nào còn quân xâm lược
Mỹ trên đất nước chúng tôi, thì nhân dân chúng tôi kiên quyết chiến đấu chốnglại chúng Nếu Chính phủ Mỹ thật muốn giải quyết hoà bình, thì họ phải côngnhận lập trường 4 điểm của Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà vàchứng tỏ điều đó bằng việc làm thực sự; phải chấm dứt vĩnh viễn và vô điều
kiện việc ném bom và mọi hành động chiến tranh khác chống lại nước Việt NamDân chủ Cộng hoà [55, tr.32-33]
Hồ Chí Minh phân biệt rõ: Nhân dân Mỹ với đế quốc Mỹ Người luôn đề cao sức
mạnh của tình đoàn kết giữa nhân dân Mỹ với nhân dân ta:
Nhân dân Mỹ đánh từ trong đánh ra, nhân dân ta đánh từ ngoài đánh vào Haibên giáp công mạnh mẽ thì đế quốc Mỹ nhất định sẽ thua, nhân dân Việt - Mỹ nhấtđịnh sẽ thắng Đó sẽ là thắng lợi vẻ vang của Mặt trận thống nhất nhân dân hainước; mà cũng là thắng lợi chung của loài người yêu chuộng chính nghĩa và hoàbình [54, tr.524]
Đó là cách mà Hồ Chí Minh xây dựng tình đoàn kết giữa nhân dân Việt Nam với
nhân dân Mỹ, tranh thủ sự giúp đỡ của lực lượng yêu chuộng hoà bình trên thế giới để đạtmục tiêu của cách mạng Việt Nam
Trong khi ra sức phấn đấu thực hiện tốt mục tiêu đối ngoại của dân tộc, Hồ Chí Minhrất tôn trọng lợi ích chính đáng của các quốc gia dân tộc khác theo quan điểm "Mình chớlàm cho người những điều không muốn người làm cho mình"[47, tr.354] Phát biểu nhândịp Quốc khánh lần thứ 10 của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (2/9/1955), Hồ Chí
Minh tuyên bố:
Trang 37Trong quan hệ đối với các nước khác, chính sách của nước Việt NamDân chủ Cộng hoà là rõ ràng và trong sáng: đó là một chính sách hoà bình và
quan hệ tốt Chính sách đó dựa trên năm nguyên tắc vĩ đại nêu trong các bản
tuyên bố chung Trung - ấn và Trung - Miến, tức là: tôn trọng toàn vẹn lãnh thổ
và chủ quyền của nhau, không xâm phạm, không can thiệp vào công việc nội bộ,bình đẳng và hai bên cùng có lợi, chung sống hoà bình [51, tr.58]
Mục tiêu của chính sách đối ngoại và hoạt động ngoại giao Hồ Chí Minh, không
những nhằm nâng cao vị trí quốc tế của công cuộc cách mạng mà còn nhằm hướng tới gópphần tích cực vào việc cải thiện tương quan lực lượng có lợi nhất cho cách mạng nước ta
trong từng thời kỳ nhất định Cách mạng tháng Tám và “Hoà để tiến” là một ví dụ Tổng
kết nguyên nhân thắng lợi của cách mạng tháng Tám, Người chỉ rõ:
Chúng ta có hai kẻ thù trực tiếp là đế quốc Nhật và thực dân Pháp và một
kẻ thù gián tiếp là phản động Quốc dân Đảng Trung Quốc Nghĩa là sức địch rất
to lớn…chúng ta chưa có chính quyền, chưa có quân đội chính quy, Mặt trận dân tộccòn nhỏ hẹp và bí mật Nghĩa là sức ta rất thiếu thốn Nhưng vì ta khéo lợi dụng điềukiện quốc tế ở bên ngoài, vì ta khéo đoàn kết và khéo tổng động viên trong nước, chonên đã đổi thế yếu thành thế mạnh, đánh thắng ba kẻ địch, đã đưa cách mạng đếnthắng lợi, độc lập đến thành công [49, tr.80]
Quan điểm đối ngoại lấy bảo vệ hoà bình và xây dựng tình hữu nghị giữa các dân tộc
là nền tảng, càng làm sáng tỏ hơn nữa tính nhất quán trong tư tưởng và hành động không
chỉ của Hồ Chủ tịch, mà là của cả dân tộc Việt Nam Biết trước “Đế quốc Mỹ đã sa lầy tạimiền Nam Việt Nam” nếu chúng mở rộng chiến tranh xâm lược ra miền Bắc thì nhất định
“sẽ chuốc lấy đại bại”, nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn tha thiết nói với nhân dân Mỹ
Trang 38vãn danh dự của nước Mỹ và xây dựng tình hữu nghị giữa nhân dân hai nướcchúng ta [54, tr.229-230].
Khi phân tích về những hành động ngông cuồng của Giônxơn và bè lũ hiếu chiến
Mỹ, Người đã chỉ ra rằng: “Chính sách xâm lược của các ông là trái với chính nghĩa, tráivới nhân đạo, trái với Hiến pháp của nước Hoa Kỳ Ông hãy trả lời câu hỏi đó trước nhândân Việt Nam, nhân dân Mỹ và nhân dân thế giới” [54, tr.281-282]
Phát biểu tại Hội nghị quốc tế đoàn kết với nhân dân Việt Nam chống đế quốc Mỹ vàbảo vệ hoà bình, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định rất rõ ràng là:
Cuộc đấu tranh thiêng liêng để thực hiện hoà bình thống nhất nước nhà củanhân dân Việt Nam chúng tôi nhất định sẽ thắng lợi hoàn toàn Nhân đây, tôi xinngỏ vài lời với cùng nhân dân Mỹ: Nhân dân Việt Nam rất yêu chuộng hoà bình,nhưng quyết không làm nô lệ Đế quốc Mỹ hiếu chiến và xâm lược là kẻ thù củanước chúng tôi, cũng là kẻ thù của các bạn và toàn thể loài người [54, tr.344].Đến khi đế quốc Mỹ đưa quân viễn chinh vào Việt Nam, cuộc chiến tranh lan ra cảnước và ngày càng ác liệt, vào thời điểm đó Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn kiên trì kêu gọi hãychấm dứt chiến tranh, đế quốc Mỹ không thể thắng nổi nhân dân Việt Nam yêu chuộnghoà bình và công lý quyết tâm bảo vệ độc lập của mình Cuộc kháng chiến chống Mỹ củanhân dân ta được cả thế giới biết đến và ủng hộ bởi quan điểm đối ngoại hoà bình hữu nghịcủa Chủ tịch Hồ Chí Minh được quán triệt sâu sắc Nhờ đó mà tạo niềm tin của thế giớiđối với Việt Nam, thu hút được sự ủng hộ của loài người tiến bộ kể cả nhân dân Mỹ
Chính chiếc cầu đối ngoại hoà bình, hữu nghị, hợp tác cùng phát triển đã đưa Việt Namvào trong vòng tay của bạn bè trên thế giới
Quan điểm hoà bình, hữu nghị, hợp tác cùng phát triển giữ một vị trí nền tảng trong
tư tưởng đối ngoại Hồ Chí Minh còn được thể hiện ở tầm nhìn chiến lược của vấn đề, đókhông chỉ là nhìn thấy sự ủng hộ, sự cổ vũ của thế giới đối với sự nghiệp bảo vệ nền độclập của Tổ quốc mình, mà còn khẳng định rằng: “đường lối này đảm bảo sự ổn định lâudài” Đây là yếu tố quan trọng cho sự hợp tác phát triển kinh tế, đảm bảo “làm ăn lâu dài”
và “Việt Nam sẵn sàng chia sẻ với các nước đến Việt Nam để xây dựng và phát triển kinhtế” Đó còn là tầm nhìn để giải quyết vấn đề người Việt Nam ở nước ngoài theo truyền
Trang 39thống và thông lệ quốc tế Coi đồng bào Việt Nam ở nước ngoài vừa là nguồn lực xâydựng đất nước lại vừa là cầu nối cho sự hợp tác phát triển giữa Việt Nam và các nước, đặcbiệt trong xu thế hội nhập và toàn cầu hoá ngày càng diễn ra sâu sắc và quyết liệt Quanđiểm đó đã trở thành định hướng, những nguyên tắc cho chúng ta giải quyết thành côngcác vấn đề đối ngoại và các hoạt động ngoại giao cũng như củng cố được sự hợp tác pháttriển cả trong xây dựng đất nước, đấu tranh bảo vệ Tổ quốc, giữ gìn độc lập và xây dựngđất nước ngày càng phát triển.
Trong quan điểm đối ngoại của mình, Hồ Chí Minh luôn xác định đúng mục tiêu đốingoại phải đảm bảo được các quyền cơ bản cho đất nước, vì lợi ích của quốc gia, dân tộc,đảm bảo chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, thống nhất đất nước, đề cao chính nghĩa, đạo lý vìhoà bình và cuộc sống độc lập, tự do, hạnh phúc của nhân dân của tất cả các dân tộc trênthế giới kể cả nhân dân Pháp, nhân dân Mỹ Trong hoạt động ngoại giao, Người luôn kiêntrì mục tiêu, chú ý tìm ra những điểm đồng, nêu cao nhân nghĩa và đạo lý trong quan hệquốc tế để thuyết phục, tranh thủ sự ủng hộ của nhân dân thế giới, đấu tranh với đối
phương Từ việc xác định rõ mục tiêu đối ngoại Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cùng Đảng vàNhà nước ta xây dựng nội dung, hình thức, phương châm, phương pháp đối ngoại phù hợplàm nên thành công trong hoạt động đối ngoại góp phần to lớn tạo nên thắng lợi của cáchmạng Việt Nam
1.3 quan điểm Hồ Chí Minh về phương châm đối ngoại
Tư tưởng “Không có gì quý hơn độc lập tự do” của Hồ Chí Minh trong thực tiễn đã
trở thành mục tiêu lâu bền đồng thời là động lực, là ngọn cờ tập hợp lực lượng đầy thuyếtphục thôi thúc việc bồi đắp thế và lực, mở rộng quan hệ quốc tế, phá vây quốc tế và kịpthời hội nhập với xu thế tất yếu của thế giới bên ngoài trong thời chiến cũng như trong thờibình Mục tiêu đối ngoại để thực hiện đường lối cách mạng, cũng là cơ sở để xây dựngphương châm đối ngoại đúng đắn, thực hiện mục tiêu đã định
Trong Thư gửi Liên hợp quốc cuối năm 1946, Người tuyên bố rằng: “trong chính
sách đối ngoại của mình, nhân dân Việt Nam sẽ tuân thủ các nguyên tắc dưới đây:
Trang 401 Đối với Lào và Miên, nước Việt Nam tôn trọng nền độc lập của hai nước
đó và bày tỏ lòng mong muốn hợp tác trên có sở bình đẳng tuyệt đối giữa cácnước có chủ quyền
2 Đối với các nước dân chủ, nước Việt Nam sẵn sàng thực thi chính sách
mở cửa và hợp tác trong mọi lĩnh vực:
a, Nước Việt Nam dành sự tiếp nhận thuận lợi cho đầu tư của các nhà tưbản, nhà kỹ thuật nước ngoài trong tất cả các ngành kỹ nghệ của mình
b, Nước Việt Nam sẵn sàng mở rộng các cảng, sân bay và đường sá giaothông cho việc buôn bán và quá cảnh quốc tế
c, Nước Việt Nam chấp thuận tham gia mọi tổ chức hợp tác kinh tế quốc tếdưới sự lãnh đạo của Liên hợp quốc
d, Nước Việt Nam sẵn sàng ký kết với các lực lượng hải quân, lục quântrong khuôn khổ của Liên hợp quốc những hiệp định an ninh đặc biệt và nhữnghiệp ước liên quan đến việc sử dụng một vài căn cứ hải quân và không quân [47,tr.469-470]
Tháng 7/1947, trả lời nhà báo Mỹ Êli Mâysi, Hồ Chí Minh đã tuyên bố đại cươngchính sách đối ngoại của Việt Nam là: “Làm bạn với tất cả mọi nước dân chủ và khônggây thù oán với một ai” [48, tr.220]
Những điều đó đã định hướng cho phương châm đối ngoại Hồ Chí Minh
1.3.1 Độc lập, tự chủ trong đối ngoại
Có thể nói, độc lập tự chủ, dựa vào sức mình là chính, là hệ quả của một quá trình tiếpthu những truyền thống quý báu của dân tộc, biết lựa chọn những tinh hoa của thế giới và biếtvận dụng sáng tạo những nguyên lý, nguyên tắc mácxít trong việc giải quyết các vấn đề quốc
tế, các hoạt động đối ngoại và hoạt động ngoại giao Đây là một thành công của Chủ tịch HồChí Minh trong quá trình lãnh đạo và chỉ đạo công tác đối ngoại, hoạt động ngoại giao củaĐảng, Nhà nước và nhân dân ra Bài học độc lập tự chủ, dựa vào sức mình không chỉ là nộidung quan trọng trong tư tưởng đối ngoại Hồ Chí Minh mà còn là nội dung then chốt của tưtưởng kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, và nhiều nội dung khác trong việc giảiquyết các vấn đề quốc tế