1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nguyên nhân suy thoái và công tác bảo tồn đa dạng sinh học

14 178 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 491,21 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NGUYÊN NHÂN SUY THOÁI VÀ CÔNG TÁC BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC Bài làm Phần I: Mở đầu Phần II: Thân bài Phân tích những nguyên nhân gây suy thoái ĐDSH ở Việt Nam: Theo những tác giả khác nha

Trang 1

BÀI TIẾU LUẬN ĐA DẠNG SINH

HỌC

Họ và tên: ĐỎ THỊ THANH LOAN

Lớp: MTA

Mã sinh viên: 532248

Đề tài:

Phân tích những nguyên nhân gây suy thoái ĐDSH ở Việt Nam Công tác bảo tồn ĐDSH

ớ Việt Nam diễn ra nhu thế nào? Liên hệ bản thân nhằm hạn chế sự suy giảm ĐDSH?

Theo em công tác bảo tồn ĐDSH ớ Việt Nam đã họp lí chưa và em có những đề xuất gì

cho công tác bảo tồn ĐDSH ở Việt Nam hiện nay?

NGUYÊN NHÂN SUY THOÁI VÀ CÔNG TÁC BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC

Bài làm

Phần I: Mở đầu

Phần II: Thân bài

Phân tích những nguyên nhân gây suy thoái ĐDSH ở Việt Nam:

Theo những tác giả khác nhau thì có những nguyên nhân gây suy thoái ĐDSH ớ Việt

Nam khác nhau tuy nhiên, theo quan điếm cá nhân tôi, tôi có thế tạm chia nguyên nhân

gây suy thoái ĐDSH ở Việt Nam theo những mục sau (trên cơ sở phân tích những yếu tố

tác động đến sự suy giảm ĐDSH)

1 nguyên nhân trục tiếp

Sự suy giảm ĐDSH hiện nay có cả các nguyên nhân như: Sự phá vờ và mất nơi

cư trú, sự

ô nhiễm, sự biến đối khí hậu toàn cầu và các hoạt động nông nghiệp, công

nghiệp, lâm

nghiệp, sự gia tăng dân số loài người, sự mở rộng nơi cư trú sinh thái của con người và sử

dụng ngày càng nhiều năng suất sinh học của trái đất, khai thác quá mức các nguồn tài

nguyên thiên nhiên, hệ thống kinh tế thiếu sự định giá thích họp cho môi trường, các cấu

trúc xã hội không họp lý và những yếu kém trong hệ thống pháp lý và nhà nước

Có 2

loại nguyên nhân suy giảm ĐDSH:

Mât và phả hủy nơi cư trú bởi các vận động của tự nhiên: Việc phát sinh mới hay

hoạt

động trở lại của các núi lửa, sóng thần, sạt lở đất, động đất, sa mạc hóa, cháy rừng cũng

là những nguyên nhân quan trọng làm mất hoặc hủy hoại nơi cư trú và góp phần vào việc

làm giảm sự ĐDSH

2.1.2. Sự thay đôi trong thành phân HST:

Chẳng hạn như mất hoặc suy giảm của một loài có thể dẫn đến sự suy giảm ĐDSH Ví

dụ, nỗ lực loại trừ chó sói châu Mỹ ở miền nam Calitòrnia dẫn đến việc giảm sút các

quần thê chim hót trong vùng Khi quần thê chó sói châu Mỳ giảm sút, quần thê con mồi

của chúng, gấu trúc Mỹ, sẽ tăng lên Do gấu trúc Mỳ ăn trứng chim, nên khi số lượng chó

sói ít hơn thì sổ lượng gấu trúc ăn trứng chim lại nhiều lên, kết quả là sổ lượng chim hót

sẽ ít đi

2.1.3. Gia tăng dân sổ:

Đe dọa lớn nhất đối với ĐDSH là số lượng và tốc độ gia tăng dân số của loài người Việc

phá huỷ các quần xã sinh học xảy ra nhiều nhất trong vòng 150 năm trở lại đây, trong

thời gian này dân số loài người tăng từ 1 tỷ người vào năm 1850 đến 2 tỷ vào năm 1930,

và đến 5,9 tỷ vào năm 1995, dự kiến dân số sẽ tăng 6,5 tỷ vào năm 2010 (nguồn Tong

cục thống kê, 2000)

Con người sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên như gồ, củi, các loài thực vật, thịt

động vật hoang dã, Con người cũng khai phá, chuyển đổi rất nhiều diện tích đất đai vốn

là những nơi cư trú tự nhiên của sinh vật hoang dã thành đất đai sử dụng cho nông nghiệp

và làm nhà ở, xây dựng thành phố, khu công nghiệp cùng cơ sở hạ tầng

o nhiêm môi trường sông.

Cho dù nơi sinh sống không bị ảnh hưởng một cách trực tiếp do việc phá huỷ hay chia

cắt, nhưng các quần xã và các sinh vật sống trong đó có thể bị ảnh hưởng sâu sắc

do các

hoạt động khác của con người Dạng nguy hiềm nhất của phá huỷ môi trường là

sự ô

nhiễm Có thê liệt kê một số nguyên nhân sau:

Trang 2

Các trầm tích có nguồn gốc do xói mòn từ các vùng đất trống đồi núi trọc cũng có thế gây

hại cho HST thuỷ vục Các chất trầm tích có lẫn mùn lá cây, bùn, các chất rắn lơ lửng và

cả các chất độc hại làm tăng độ đục của nước, làm giảm độ chiếu sáng trong nước nên

đã làm giảm khả năng quang họp của các loài tảo Sự gia tăng lớp trầm tích đáy

đã gây

hại cho nhiều loại san hô - những loài đòi hỏi một môi trường sống tuyệt đối trong sạch

- Ỏ nhiêm không khí và mưa axít:

Các hoạt động công nghiệp xả thải vào khí quyển, đốt rừng làm nương rẫy, làm thay

đôi và làm ô nhiễm bầu khí quyên của trái đất Các nền công nghiệp như luyện thép, các

nhà máy nhiệt điện sử dụng nhiên liệu là than dầu đã thải ra một lượng lớn nitrat, sulphat

vào không khí, các khí này khi gặp hơi nước trong khí quyền sè tạo ra axit nitric và

sunphuric Các axit này liên kết với nhừng đám mây và khí tạo thành mưa đã làm giảm

độ pH của nước mưa xuống thấp và tăng khả năng hấp thụ các kim loại nặng độc hại

+ Mưa axít sẽ làm giảm độ pH của đất và của nước trong các hồ, ao, sông suối trên lục

địa Mưa axít đã tiêu diệt nhiều loài động và thực vật

+ Do độ axít của các hồ, ao tăng lên vì mưa axít, nhiều cá con của nhiều loài cá

và cả

những con cá trưởng thành cũng bị chết ngay lập tức Độ axít tăng và nước bị ô nhiễm là

hai nguyên nhân chính dẫn đến sự suy giảm đáng kể các quần thể lường cư trên thế giới

Đối với phần lớn các loài lường cư, ít nhất một phần trong chu kỳ sống của chúng phụ

thuộc vào môi trường nước, độ pH của nước giảm làm cho tỷ lệ trứng và ấu trùng

bị chết

tăng lên cao (BeeBee, 1990; Blaustein and Wake, 1995)

+ Độ axít cũng hạn chế khả năng phân huỷ, làm chậm tốc độ của quá trình

khả năng sản xuất của HST

- Sư sản sinh ôzôn, các kim loại độc hại và lang đọng khí ni tơ.

+ Xe ô tô, các nhà máy nhiệt điện và các hoạt động công nghiệp thải ra

các khí

Trang 3

0,2 đến 1,5 m Mức nước biên dâng cao sê làm ngập lụt những vùng đất thấp những khu

ĐNN ven bờ biển và nhiều thành phố lớn Ngoài ra, mức nước biển dâng sẽ có khả năng

gây hại đến nhiều loại san hô, nhất là những loại chỉ tồn tại ở một độ sâu nhất định nơi có

ánh sáng và dòng chảy phù họp

Sự biến đôi khí hậu và nồng độ khí cacbonic trong khí quyên gia tăng sẽ có khả năng làm

thay đổi triệt để cấu trúc của các quần xã sinh học và sẽ chỉ còn một số loài có khả năng

phát triển thích ứng với điều kiện sống mới (Bazzaz và Fajer, 1992)

2.1.6 Sự bất lực của chỉnh quyển và những chiến lược phát triên không họp lý:

Nguyên nhân này có vai trò tương đối lớn, nhất là đối với các loài có nguy cơ tuyệt

chủng và ở các nước nghèo Hệ thống các văn bản pháp luật chưa hoàn thiện và không

được những người có trách nhiệm thực hiện nghiêm túc Do cuộc sống khó khăn nên

những người dân bản địa đã tiến hành khai thác bất họp pháp các loài động thực vật cung

cấp cho thị trường, song các cấp chính quyền dường như không làm được nhiều

đế hạn

chế tình trạng trên, thậm chí do nguồn lợi kinh tế rất lớn nên một số nhà chức trách còn

tiếp tay cho các hoạt động phi pháp Bên cạnh đó chính sách di dân đã làm cho rất nhiều

diện tích rừng bị mất đi nhanh chóng Các chính sách kinh tế sai lầm đã làm giá

cả gia

tăng nhanh và đẩy một bộ phận người dân thuộc vùng sâu, vùng xa, những vùng

có mức

độ ĐDSH cao nhất, ngày càng trở nên khốn khó, đe tự nuôi sống mình và gia đình họ đã

khai thác triệt để nguồn lợi sinh học tại địa phương

2 2 Nguyên nhân trực tiếp:

Khai thác quả mức và sử dụng không bền vừng tài nguyên sinh học.

Nhằm thỏa mãn nhu cầu của cuộc sống, con người đã thường xuyên săn bắn, hái lượm

thực phẩm và khai thác các nguồn tài nguyên khác

+ Khi dân số loài người vẫn còn ít và phương pháp thu hái còn thô sơ, con người

đã thu

hái và săn bắt một cách bồn vừng mà không làm cho các loài trở nên tuyệt chủng + Khi dân số loài người tăng lên, nhu cầu sử dụng cũng tăng theo và họ đã sử

Trang 4

định cư mới Ngày nay, khi thị trường buôn bán phát triến, nhiều loài động thực vật được

vận chuyên qua nhiều nước khác nhau

về cơ bản, những loài du nhập thường không phát triển được ở những nơi mà chúng

được mang đến do điều kiện sống không phù họp Tuy nhiên, một tỉ lệ các loài nhất định

có biên độ sinh thái rộng, chúng phát triên rât nhanh, vượt lên trên cả các loài bản địa,

thậm chí chúng còn thay cả các loài bản địa Các loài bản địa có thể bị tuyệt chủng do bị

các loài du nhập chiếm hết không gian dinh dường hoặc bị ăn thịt Ví dụ có khoảng 4600

loài thực vật đã được du nhập vào quần đảo Hawai, nhiều gấp 3 lần các loài thực vật bản

địa (SUohn, 1973)

Lý do chính để các loài du nhập phát triển mạnh là chưa có thiên địch (ví dụ Thở nhập

vào Châu Úc đã ăn hết cả các loài cỏ bản địa) và sau nừa là con người đã tạo nhừng điều

kiện thuận lợi cho các loài du nhập phát triên

Sự lẩy lan của các dịch bệnh.

Sự lây nhiễm các sinh vật gây bệnh là điều thường xảy ra đổi với động vật nuôi hay động

vật hoang dã Các tác nhân gây nhiễm có thể là các vật ký sinh nhu virus, vi khuẩn, nấm,

các động vật đơn bào hay các ký sinh trùng kích cỡ lớn hơn như giun, sán Các loại dịch

bệnh có thể là nguy cơ đe dọa đối với một số loài quý hiếm Vào năm 1987, quần thể cuối

cùng của loài chồn chân đen (Mustela nigrepes) trong tự nhiên đã bị tiêu diệt bởi

virut

gây bệnh sốt ho của chó nhà và một số gia súc khác (Thorne and Wiliam, 1988).

Có 3 nguyên tắc về dịch bệnh học được ứng dụng rộng rãi trong việc nuôi dưỡng

và quản

lý các loài thú quý hiếm

Thứ nhất, các loài được con người nuôi và động vật sổng trong tự nhiên khi sống trong

quần thể với mật độ cao sê có nguy cơ dễ mắc bệnh dịch hay bị nhiễm ký sinh trùng

Thứ hai, tác hại gián tiếp do nơi cư trú bị phá huỷ là làm cho loài trở nên dễ mắc các bệnh

dịch hơn Khi các quần thể vật chủ sống tập trung trong một khu vục nhở hơn do

Trang 5

1995) Sau khi kết thúc chiến tranh diện tích rừng cả nước chỉ còn lại khoảng 9,5 triệu ha

- với 10% rừng nguyên sinh, chiếm khoảng 28% diện tích cả nước

Chiến tranh đã gây biến động lớn về phân bố dân cư giừa các vùng, đồng thời một diện

tích lớn đất rừng bị khai phá đê trồng cây lương thực bảo đảm hậu cần tại chỗ cho quân

và dân Không những thế các loài động vật hoang dã còn bị đe dọa bởi các loại vũ khí do

chiến tranh để lại sau đó

Khai thác quá mức.

Khai thác go:

Các phương thức khai thác gồ (hợp pháp hay bất hợp pháp) không bền vững từ trước đến

nay đều được coi là mối đe dọa lớn đối với ĐDSH Nó không nhừng làm nghèo kiệt tài

nguyên gỗ tự nhiên mà còn làm giảm sút nghiêm trọng chất lượng rừng và gây ảnh hưởng

lớn đối với vùng cư trú của các loài động vật hoang dã

Trong giai đoạn từ năm 1986 - 1991, bình quân lượng gồ bị khai thác là 3,5 triệu m3/năm

Hình 3.1 Khai thác quả mức tài nguyên rừng

- Khai thác củi làm nhiên liệu:

Khai thác củi làm nhiên liệu có quy mô lớn và kho kiêm soát, đây cùng là mối đe

dọa rất lớn đối với ĐDSH Nhu cầu năng lượng từ củi chiếm tới 75% tổng nhu cầu năng

lượng của đất nước, ước tính hàng năm có 22-23 triệu tấn nhiên liệu được khai thác từ

rùng tự nhiên (RWEDP - Nghiên cứu tông quan về nhiên liệu gỗ củi)

Trước năm 1995, có khoảng 21 triệu tấn củi được khai thác hàng năm, bên cạnh

đó còn có nạn đốt than Khai thác củi và đốt than để bán còn là nghề kiếm sống khó thay

Trang 6

Đặc biệt khu hệ động vật hoang dã có khoảng 70 loài thuộc các lớp chim, thú, bò

sát bị khai thác thuờng xuyên để sử dụng cho các mục đích khác nhau Các hoạt động này

đã gây ra nguy cơ tuyệt chủng nhiều loài nhu Bò Xám, Hổ, Tê giác, Voọc mũi hếch,

Voọc đầu trắng

Việc kinh doanh các loài hoang dã, nhất là rắn, rùa, ba ba, tắc kè, tê tê đê làm

các món ăn đặc sản, làm thuốc và xuất khẩu bất hợp pháp ngày càng tăng và diễn

ra trên

địa bàn cả nước khó kiểm soát Tuy nhiên, việc kinh doanh các loài hoang dã nói trên

phần lớn còn đê xuất khấu sang các nước láng giềng như Trung Quốc, Thái Lan và

Singapo

Khai thác lâm sản vốn là nguồn sống lâu đời của một bộ phận khá lớn những

người dân sống ở vùng núi, đây cũng là địa bàn hoạt động của lâm tặc và nhừng người

buôn lậu, đồng thời lâm sản ngoại gồ còn là nguồn không thê thiếu của một số ngành thủ

Hình 3.2 Khai thác bừa bãi nguôn lợi thủy sản

- Khai thác trái phép tài nguyên các rạn san hô.

Bảo tồn rạn san hô ít được chú ý trực tiếp Cho đến mãi gần đây, tỉnh Khánh Hòa

mới thành lập Khu bảo tồn biền Hon Mun, cùng với những nỗ lực nhằm bảo vệ các rạn

san hô ở cùng biển Côn Đảo và Phú Quốc Rạn san hô ở Việt Nam nói chung đang trong

tình trạng xấu và có nhiều bằng chứng cho thấy đây là những khu vực bị đe dọa cực kỳ

Trang 7

cả những phương pháp đánh bắt cá không chọn lọc đõ sẽ giết chết hoặc làm tất cả các

loài hoảng sợ

Mở rộng đất làm nông nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản.

Mớ rộng đất canh tác nông, nghư nghiệp lấn vào đất rừng là một trong những nguyên

nhân quan trọng nhất làm suy thoái ĐDSH ơ vùng núi phía Bắc, khai thác rừng chủ yếu

đề lấy đất làm nông nghiệp, ở Tây Nguyên và Đông Nam Bộ phá rừng để trồng cây công

nghiệp như cà phê, cao su, điều, , ở ven biển phá rừng ngập mặn để nuôi trồng thuỷ sản

Việc mớ rộng đất trồng trọt và nuôi trồng thuỷ sản là đê đáp ứng nhu cầu về lương thực,

thực phâm do dân số ngày càng tăng, đồng thời góp phần phát triên kinh tế đất nước, tăng

thêm nguồn nông sản và hải sản xuất khẩu có giá trị

Hiện tượng lấn chiếm đất sản xuất và nuôi trồng thuỷ sản thường xảy ra đối với người

nghèo và các hộ di cư tự do Các khu rừng ngập mặn tại các tỉnh Cà Mau, Kiên Giang và

nhiều tỉnh ven biến khác cũng là đối tượng khai phá làm đầm nuôi tôm của người dân địa

phương Tuy nhiên, có không ít khu vực đầm nuôi tôm đã bị hoang hoá do

phương thức

nuôi trồng không bền vừng

Xây dựng cơ sở hạ tầng.

Cùng với tiến trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước, việc xây dựng cơ sở hạ tầng

bao gồm đường giao thông, cầu phà, bến cảng, mạng lưới điện, hệ thống cấp thoát

nước là một tất yếu

Việc xây dựng các cơ sở hạ tầng nói trên một cách thiếu quy hoạch, thiếu cơ sở khoa học

có ảnh hưởng mạnh đối với ĐDSH Chẳng hạn như việc xây dựng các tuyến đường giao

thông xuyên qua các vùng rừng rộng lớn như đường Trường Sơn, các tuyến đường bộ đi

qua vùng Đồng Tháp Mười, nổi Hà Tiên với Cà Mau, đường dây điện 500kv , ít nhiều

đã làm mất đi tính liên tục của vùng phân bố các loài, gây nhiễu loạn và làm suy thoái

môi trường tự nhiên, chỉ tính riêng các hồ chứa nước được xây dựng hàng năm đã làm

Trang 8

trước khi bị cháy rừng đã thống kê được 32 loài thú Sau khi bị cháy, ít nhất có 25 loài

thú (78,2%) bị ảnh hưởng với các mức độ khác nhau Một số loài có nguy cơ không gặp

lại ở HST độc đáo này: Dơi ngựa lớn Pteropus vampyrus; Sóc lửa Callosciurus finlaysoni; Rái cá lông mũi Lutra sumatrana; Rái cá vuốt bé Aonyx cinerea; Mèo cá

Drionailurus viverrinus; Tê tê Manis javanica; cầy giông đốm lớn Viverra

megaspila;

Cầy vòi hương Paradoxurus hermaphroditus; Dơi ngựa Thái Lan Pteropus lylei; Mèo

rừng Drionailurus bengalensis (nguồn Cục Kiềm lâm, 2005)

Di nhập và xăm lấn của các loài sinh vật lạ

Trong thời gian qua việc trao đôi, di nhập một số giống cây trồng, vật nuôi đã mang lại

hiệu quả kinh tế Trong cơ cấu cây trồng ở nhiều nơi số giống mới đã chiếm tới 70- 80%

và cho năng suất cao Tuy nhiên việc di nhập nhiều giống mới một cách tràn lan, thiếu

kiêm soát là nguy cơ tiềm tàng làm các giống bản địa bị mai một Các giống mới

có thê

có những điểm bất lợi và thường không bền vũng trước tác động của ngoại cảnh

và sâu

bệnh Tác hại ngay lập tức và có thể thấy là một sổ loài di nhập vào Việt Nam đã phát

triển thpnh dịch và gây hại nghiêm trọng Điều này còn liên quan đến sự thiếu hiểu biết

Ô nhiễm môi trường

Các hoạt động của con người như phát triển nông nghiệp, công nghiệp, khai khoáng; phát

triển các làng nghề, các khu đô thị, các thành phố; hóa chất và chất thải nông nghiệp,

công nghiệp và sinh hoạt; đã gây ra ô nhiễm môi trường (đất, nước, không khí) ở

nhiều nơi và gây hại trực tiếp đến sức khỏe con người

Trang 9

+ Nước thải công nghiệp, sử dụng thuốc trừ sâu là những nguyên nhân chính làm

ô nhiễm

các sông hồ nước ngọt của Việt Nam Các ngành công nghiệp Việt Nam tuy hiện nay đã

áp dụng một số biện pháp sử lý nước thải song chưa triệt để Nước thải của các nhà máy

hoá chất, xà phòng cùng với nước thải sinh hoạt đã gây ô nhiễm nặng cho các con sông

Trên đồng ruộng, việc lạm dụng các hoá chất diệt côn trùng, chất diệt cỏ đã gây ô nhiễm

môi trường đồng mộng

+ Môi trường sống ở các HST nông nghiệp cũng bị ô nhiễm do việc sử dụng tuỳ

chất diệt côn trùng Các sông hồ bị ô nhiễm do các chất thải công nghiệp, nước

hoạt

Theo thống kê của Cục Bảo vệ môi trường, 2005 Tổng lượng hoá chất bảo vệ thực vật

tồn đọng hiện nay là 57.476,9 kg dạng bột; 29.196,3 lít dạng lỏng và khoảng 1.437.183,2

bao bì chứa hoá chất bảo vệ thực vật

Ô nhiễm biển được coi là hiểm hoạ lớn nhất đối với tính ĐDSH biển Giao thông vận tải

biên và thăm dò dầu khí là hai nguyên nhân quan trọng gây nên sự ô nhiễm biên Nguyên

nhân này bắt đầu từ các tầu thuyền đánh cá dùng động cơ, các tàu chở hàng, chở dầu Các

cảng biến Hải Phòng, Quảng Ninh., Cửa Lò, Đà Nằng, VũngTàu đều có một lớp váng

dầu trên bề mặt nước Mức dầu trong nước biền ở cảng Hải Phòng, Quảng Ninh

là 0,4-1

mg/1 nước

Thăm dò và khai thác khí dầu ở Việt Nam mới bắt đầu từ năm 1986, do không được theo

dõi nên không có số liệu nhung đây là những hoạt động gây nhiều ảnh hưởng nghiêm

trọng đến môi trường sống cuả sinh vật biển

Ngoài hai nguyên nhân nêu trên, vấn đề lắng đọng bùn ở các cửa sông, trong

hoạt động nạo hút bùn cũng đã gây ảnh hưởng đến tính đa dạng sinh học biển

vét đế khai thông cửa sông, hải cảng đã khuấy dục nước, trong bùn lắng đọng

Trang 10

Việt Nam được xếp loại là một trong những nước nghèo trên thế giới với gần 80% dân số

sống ở nông thôn, hoạt động kinh tế chủ yếu là nông - lâm - ngư nghiệp, đời sống kinh tế

còn nhiều khó khăn Theo thống kê vào năm 2001, tỷ lệ hộ đói nghèo chiếm 17% tổng số

dân, trong đó phần lớn số hộ này sống ở nông thôn, miền núi, vùng sâu và biên giới

Trong khu rừng bảo tồn được nghiên cún, 90% dân địa phương sống dựa vào nông

nghiệp và khai thác rừng

Những người nghèo thường không có mộng đất, phải sổng dựa vào đất bạc màu,

đất dốc, đất có độ phì kém, lại thiếu vốn đầu tư lâu dài cho sản xuất, buộc họ phải khai

thác nhanh mộng đất của mình hoặc phá rừng lấy đất canh tác

Mối quan hệ giừa xóa đói giảm nghèo với bảo vệ môi trường và phát triển

xã hội là mối quan hệ nhân quả Vì vậy, xoá đói giảm nghèo là một trong những

của phát triển, là điêu kiện đê bảo vệ môi trường

Chính sách kinh tế.

Chính sách kinh tế ở tầm vĩ mô có ảnh hưởng sâu sắc ở quy mô lớn đến ĐDSH,

đối tài nguyên và chất lượng môi tmờng Nen kinh tế nước ta có sự khác biệt rõ

giai đoạn trước đối mới và giai đoạn đôi mới

Cho tới năm 1975 các chính sách kinh tế ở nước ta về cơ bản phù họp với nền

kinh tế thời chiến Các nhu cầu cấp thiết của chiến tranh nhất thiết phải được đáp ứng, kể

cả việc khai thác các tài nguyên thiên nhiên, trong đó có tài nguyên sinh vật - đặc biệt là

tài nguyên rừng Sau năm 1975, đất nước đã được thống nhất, nhưng nền kinh tế vẫn còn

gặp vô vàn khó khăn Trong giai đoạn này gỗ được khai thác mạnh cho xây dựng

và xuất

khẩu tạo nguồn vốn cho phát triển kinh tế

Những chính sách trong thời kỳ đổi mới (từ năm 1986) một mặt đã góp phần tạo

ra bước tiến mạnh mẽ cho nền kinh tế, mặt khác đã gây ảnh hưởng tiêu cực đến

Ngày đăng: 05/01/2016, 17:21

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 3.1. Khai thác quả mức tài nguyên rừng - Nguyên nhân suy thoái và công tác bảo tồn đa dạng sinh học
Hình 3.1. Khai thác quả mức tài nguyên rừng (Trang 5)
Hình 3.2. Khai thác bừa bãi nguôn lợi thủy sản - Nguyên nhân suy thoái và công tác bảo tồn đa dạng sinh học
Hình 3.2. Khai thác bừa bãi nguôn lợi thủy sản (Trang 6)
Hình 3.4. Việc vi phạm pháp luật vẫn diễn ra thường - Nguyên nhân suy thoái và công tác bảo tồn đa dạng sinh học
Hình 3.4. Việc vi phạm pháp luật vẫn diễn ra thường (Trang 11)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w