“NGHIÊN cứu MỘT số PHƯƠNG PHÁP BẢO QUẢNPHỤ PHẨM VỎ ĐẦU TÔM VÀ HIỆU QỦA CỦA NÓ TRONG CHĂN NUÔI VỊT ĐẺ” Cơ QUAN CHỦ QUẢN: SỞ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ MÔI TRƯỜNG Cơ QUAN CHỦ TRÌ: SỞ NÔNG NGHIỆP
Trang 1“NGHIÊN cứu MỘT số PHƯƠNG PHÁP BẢO QUẢN
PHỤ PHẨM VỎ ĐẦU TÔM VÀ HIỆU QỦA CỦA NÓ
TRONG CHĂN NUÔI VỊT ĐẺ”
Cơ QUAN CHỦ QUẢN: SỞ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ MÔI TRƯỜNG
Cơ QUAN CHỦ TRÌ: SỞ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG
Trang 2ĐỂ TÀI NGHIÊN cứu KHOA HỌC
TÓM TẮT
Vỏ đầu tôm thường được sử dụng để nuôi vịt đẻ, nhưng nguồn cung cấpkhông được liên tục, ảnh hưởng bởi hai lượt thu hoạch và chế biến tôm trongtháng Để đảm bảo có vỏ đầu tôm thường xuyên sử dụng nuôi vịt đẻ, chúng tôitiến hành 2 thí nghiệm
Thí nghiệm 1 nhằm xác định phương pháp ủ chua phù hợp để bảo quản vỏđầu tôm thí nghiệm được bố trí theo thể thức thừa số gồm 2 nhân tố, mỗi nhân tố
có 3 mức độ: (1) mật đường (M) và (2) bột khoai mì (B) gồm 9 tổ hợp nghiệmthức và lặp lại 3 lần
Phương pháp ủ chua sử dụng 25% mật đường, không bổ sung bột khoai mì(nghiệm thức MI BO), với 3% muối, 25% nước so với trọng lượng nguyên vỏ đầutôm tươi có chủng vi khuẩn lactic là tốt nhất Điều kiện ủ không đòi hỏi phải xaynghiền nguyên liệu như một số tác giả đã thực hiện, và quá trình ủ được tiến hànhtrong điều kiện nhiệt độ thường 29 - 32° c pH sau khi ủ 3 ngày là 4,33; sau khi ủ
6 ngày và 9 ngày là 4,22 và 4,21; đạt điều kiện bảo quản Giá trị dinh dưỡng vỏđầu của nghiệm thức MI BO sau 6 ngày ủ có Protein thô là 20%, năng lượng traođổi 2874 kcal/ kg, calci 3,75%, phospho 0,80% tính trên vật chất khô Phươngtiện ủ rất đơn giản, phù hợp với hộ chăn nuôi gia đình Sản phẩm ủ 6 ngày có thể
sử dụng được và có thể tồn trữ khoảng một tháng mà không có biến đổi lớn vềgiá trị dinh dưỡng ảnh hưởng đến việc bổ sung vào khẩu phần nuôi vịt đẻ
Thí nghiệm 2 được bố trí theo khối hoàn toàn ngẫu nhiên để xác điịnh tỉ lệthích hợp vỏ đầu tôm ủ chua thay thế vỏ đầ tôm tươi trong khẩu phần nuôi vịt đẻgồm 4 nghiệm thức, 4 lần lập lại
Thay thế 20% vỏ đầu tôm tươi bằng vỏ đầu tôm ủ chua nuôi vịt đẻ cho kếtquả tốt Tỷ lệ đẻ có giảm chút ít 3%, nhưng chi phí thức ăn hơn 24đ/ trứng có khảnăng tăng thêm thu nhập cho người nuôi Các chỉ tiêu về chất lượng trứng thìkhác biệt không ý nghĩa so với đối chứng
Triển vọng của việc sử dụng vỏ đầu tôm ủ chua không chỉ ở hiệu quả kinh
tế mà còn mở ra khả năng giải quyết phế phẩm vỏ đầu tôm một cách hiệu quả,
2
NGUYỄN THI THU VÂN
Trang 3ĐỂ TÀI NGHIÊN cứu KHOA HỌC
vừa tránh ô nhiễm môi trường trong những lúc ối thừa, vừa giúp ổn định nguồnthức ăn bổ sung đạm khoáng cho ngành nuôi vịt đẻ trong nhân dân
Chương IĐẶT VÂN ĐỂ
Cà Mau là một trong những tỉnh thuộc khu vực đồng bằng sông Cửu Long
có thế mạnh là tỉnh nuôi trồng, đánh bắt tôm và chế biến tôm xuất khẩu cao nhất.Tổng diện tích nuôi tôm năm 1996 là 106.000 ha Sản lượng trên 35.000 tấn/ nămtrong đó chủ yếu là tôm bạc, tôm đất, chiếm 80% tổng sản lượng Trong tỉnh có
11 cơ sở chế biến tôm đông lạnh, vỏ và đầu tôm là sản phẩm phụ của công đoạnbóc vỏ sơ chế, nó chiếm 30 - 40% sản phẩm tôm đông Cà mau hàng năm có đến20.000 tấn phụ phẩm này
Vỏ và đầu tôm có chứa một lượng protein nhất định, có thể sử dụng làmnguồn thức ăn bổ sung đạm thay thế một phần bột cá Đặc biệt sử dụng vỏ đầutôm tươi hoặc hấp chín, vỏ đầu tôm phơi khô nuôi vịt đẻ thì chi phí thức ăn thấphơn sử dụng bột cá vì đây là nguồn phụ phẩm lý tưởng cho thủy cầm đẻ, khôngtranh chấp nguồn thức ăn đạm trong việc nuôi heo, nên có giá thấp Đồng thời,khai thác nguồn phụ phẩm vỏ đầu tôm để chăn nuôi vịt đã góp phần giải quyếtlàm giảm thấp mức độ gây ô nhiễm môi trường, tạo điều kiện phát triển đàn vịt
đẻ cung cấp số lượng trứng đáng kể, đáp ứng cho nhu cầu tiêu thụ trong vùng
Tuy nhiên, mặt hạn chế khi sử dụng đầu tôm để nuôi vịt là còn phụ thuộcvào thời vụ thu hoạch tôm Hàng tháng có hai kỳ thu hoạch vào các thời điểmtriều cường gồm kỳ thứ nhất vào ngày 12 đến 17 và kỳ thứ hai vào ngày 28 đếnngày 4, tổng số khoảng 10 đến 13 ngày thu hoạch tôm trong tháng Do đó khinuôi vịt bằng vỏ đầu tôm, có tình trạng lúc thừa mồi - vào những ngày thu hoạchtôm, lúc thiếu mồi - vào những ngày không đúng chu kỳ thu hoạch Người nuôivịt thường cho vịt ăn đầu tôm tươi trong ngày và phơi dự trữ cho những ngàykhông có vỏ đầu tôm nhưng biện pháp phơi vỏ đầu tôm còn phụ thuộc vào yếu tốthời tiết, sân bãi và đặc biệt là không đảm bảo mặt vệ sinh môi trường
3
NGUYỄN THI THU VÂN
Trang 4ĐỂ TÀI NGHIÊN cứu KHOA HỌC
Ngoài ra, vỏ đầu tôm cũng đã được sử dụng trong chăn nuôi heo với tỷ lệthích hợp thay thế một phần bột cá, mang lại hiệu quả tốt
Xuất phát từ thực tiễn sản xuất trên, chúng tôi nghiên cứu phương phápbảo quản thích hợp để giữ đầu vỏ tôm không hư trong quá trình tồn trữ và sửdụng tới đợt thu hoạch sau, hầu giúp cho người chăn nuôi giải quyết nhu cầu thức
ăn bổ sung đạm liên tục cho đàn gia súc Việc bảo quản được vỏ đầu tôm cũnggiúp hạn chế chi phĩ vận chuyển, thời gian đi lại đối với những hộ chăn nuôi ở xacác nhà máy chế biến
Biện pháp ủ chua đã được nhiều tác giả nghiên cứu để bảo quản cá, phụphẩm chế biến cua, tôm với nhiều phương pháp sử dụng acid, mạch nha, mật
đường, có bổ sung hoặc không bổ sung carbohydrate và vi khuẩn, ủ chua có lợiđiểm là bảo quản được phụ phẩm bằng quá trình lên men lactic nhanh làm giảm
pH, ức chế các vi khuẩn có hại cà có thể áp dụng dễ dàng đặc biệt ở quy mô nhỏvới những trang thiết bị dễ tìm Do đó, cần xác định biện pháp ủ chua thích hợp,đơn giản dễ áp dụng trong nhân dân để bảo quản phụ phẩm vỏ đầu tôm nhằm sửdụng lâu dài, thuận lợi trong chăn nuôi
Mục tiêu của đề tài là:
- Nghiên cứu tỷ lệ mật đường thích hợp trong việc bảo quản đầu tôm bằngphương pháp ủ chua
- Thử nghiệm đầu tôm ủ chua trong khẩu phần nuôi vịt đẻ
4
NGUYỄN THI THU VÂN
Trang 5ĐỂ TÀI NGHIÊN cứu KHOA HỌC
Chương IILƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
2.1- TÌNH HÌNH NGHIÊN cứu VỎ ĐẨU TÔM VÀ LÚA LÀM THỨC ĂN
GIA SÚC
Vỏ đầu tôm, phụ phẩm trong ngành chế biến thủy hải sản, đã được nhiềutác giả nghiên cứu và sử dụng làm thức ăn gia súc Có nhiều công trình nghiêncứu về thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng của đầu và vỏ tôm
Theo Vũ Duy Giảng và ctv (1955), bột đầu tôm được chế biến từ đầu,càng, vỏ tôm là nguồn protein động vật tốt cho gia súc Giá trị dinh dưỡng củabột đầu tôm thấp hơn bột cá và bột máu Bột đầu tôm có 33 - 34% protein, trongprotein có 4-5% lýsin và 2,7% methionin Theo s.w Yeong (1985), bột tôm cóprotein thô từ 33-42% tùy thuộc thành phần chất lượng đầu vỏ tôm
Devendra và Gohĩ (1970) cho biết bột tôm chứa 48,9% protein thô, giàucholine và bột đầu tôm chứa nhiều chất chitin Chitin là một loại protein khó tiêu,trong 10% protein thô bột đầu tôm được phân tích có thể 50% chất đạm là chitin
Theo Dương Xuân Tuyển và ctv (1992), vỏ đầu tôm tươi đem đun cáchthủy (hấp) có chứa vật chất khô 26,40% và protein thô khoảng 11,38%, trong khiprotein thô trong vỏ đầu tôm ủ chua 11,2% (Lê Văn Liễn, R.Sansouya và N.Thiện 1993)
Chất sơ trong vỏ đầu tôm khá cao và biến động tùy theo thành phần vỏ đầutôm, hàm lượng thay đổi từ 3,3 - 6,0%
Caici, phospho là thành phần khá quan trọng trong vỏ đầu tôm
Vỏ đầu tôm tươi đem hấp chứa 3,68% và phospho 0,22%, tro và vỏ đầu tôm ủchua có hàm lượng calci 2,15% và phospho 0,44% Bột đầu tôm sấy khô chứa 5,2
% calci và 0,9% phospho (Dương Xuân Tuyển, Lê văn Liễn và Vũ Duy Giảng)
2.1.1- Sử dụng vỏ đầu tôm trong chăn nuôi gia súc gia cầm
5
NGUYỄN THI THU VÂN
Trang 6ĐỂ TÀI NGHIÊN cứu KHOA HỌC
Vỏ đầu tôm tươi ít được sử dụng nuôi heo nhưng được sử dụng khá phổbiến như nguồn bổ sung thức ăn đạm trong chăn nuôi vịt đẻ đã được S.W.Yeong(1985) sử dụng 10% trong khẩu phần vịt đẻ Tỷ lệ đẻ thu được là 76,4% và tiêutốn thức ăn trên khối lượng trứng là 2,86 so với khẩu phần sử dụng bột cá là72,1% và 3,05
Vỏ đầu tôm cung được sử dụng dưới dạng tươi đem hấp đã được DươngXuân Tuyển (1992) sử dụng đến 46% và lúa làm nguồn thức ăn năng lượng chínhnuôi vịt đẻ cv super M tại trại Vigova cho năng suất trứng 160 quả/ năm so vớitiêu chuẩn của Anh về năng suất trứng đối với giống vịt bố mẹ 170 quả/ năm
Một vài tác giả cũng sử dụng vỏ đầu tôm ủ chua nuôi heo thịt Lê VănLiễn, Nguyễn Thiện (1993), dùng 5% vỏ đầu ủ chua thay thế bột cá trong khẩuphần thức ăn nuôi heo thịt cho kết quả tăng trọng và tiêu tốn thức ăn tương đươngkhẩu phần có 105 bột cá
2.1.2- Sử dụng lúa trong chăn nuôi.
Lúa là cây lương thực chính ở vùng đồng bằng sông Cửu Long Ngòai ralúa còn được sử dụng một phần làm thức ăn năng lượng chủ lực cho gia súc giacầm Lúa có hàm lượng protein trung bình là 7,8- 8,7%, năng lượng 2630- 2860Kcaĩ/ kg và xơ tương đối cao 10-12% (Nguyễn Văn Thưởng và ctv, 1992)
Một kết quả nghiên cứu khác của Hoàng Đức Nhi (1988) cho biết lúa cóhàm lượng protein thô 14,3%, xơ thô 6,3% và chất béo 18,1%
Ó nông thôn, nông dân có tập quán sử dụng lúa nguyên hạt để nuôi gà vịttheo phương thức chăn thả gia đình Lúa là thức ăn chủ yếu cho vịt đàn, ngoàiviệc tận thu lúa rụng sau thu hoạch ngoài đồng, một lượng lớn lúa hạt được bổsung cho vụt vào buổi chiều sau khi chăn thả về
2.2- TÍNH CHẤT VỎ ĐẦU TÔM TRONG QUÁ TRÌNH TổN TRỮ Tự NHIÊN
Tôm tép sau khi thu hoạch được bảo quản bằng cách ướp nước đá và vậnchuyển đến nhà máy Đầu vỏ tôm là sản phẩm phụ của quá trình sơ chế của tômbóc vỏ, do vậy đầu vỏ tôm chí giữ được trạng thái tươi trong vai giờ, sau đó nóbiến thành màu đỏ Phần vỏ tôm ở trạng thái khô và đầu tôm sẽ có mùi hôi nếukhông được bảo quản Mùi hôi của vỏ đầu tôm do quá trình xâm nhập phân hủycủa vi khuẩn gây thối gồm vi khuẩn háo khí và yếm khí Chúng tiết ra men phângiải chất đạm và NH3 cũng được sản sinh trong quá trình phân giải protid Một số
6
NGUYỄN THI THU VÂN
Trang 7ĐỂ TÀI NGHIÊN cứu KHOA HỌC
chất khác cũng được tạo ra như acid carbonic, a sunfydric, a formic, a acetic, a.succinic và một số độc tố (Nguyễn Vĩnh Phước, 1980)
Để khống chế quá trình phân giải đạm trong thời gian tồn trữ, đối vớinguồn đạm động vật như thịt, cá, tôm tép, người ta đã áp dụng một số phươngpháp bảo quản đơn giản bao gồm phơi, sấy, muối mặn, muối chua
2.3- CÁC PHƯƠNG PHÁP BẢO QUẢN VỎ ĐÂU TÔM
2.3.1- Phơi
Là cách sử dụng nhiệt độ do bức xạ mặt trời để làm khô các nguyên liệucần được bảo quản như hạt nông sản (lúa, đậu, bắp) và sản phẩm động vật gồm
cá, tôm Cùng với sự lưu thông không khí tự nhiên, do kết quả của nhiệt độ cao
và ẩm độ thấp của không khí so với nguyên liệu, sẽ có quá trình bốc hơi nước từsản phẩm cần được phơi khô
2.3.2- Sấy
Sử dụng nhiệt từ sự đốt cháy nguyên liệu như than, củi, dầu, trấu hoặcdòng điện qua điện trở phát nhiệt làm nóng không khí và không khí nóng đượcthổi trực tiép vào buông sấy
2.3.3- ủ chua
ủ chua để dự trữ thức ăn ở trạng thái tươi là phương pháp bảo quản thức ănrất kinh điển, có từ lâu và được cải tiến nhiều về kỹ thuật Phương pháp ủ chuađược ứng dụng rộng rãi với quy mô lớn ở Châu Au từ sau đại chiến thế giới thứ I.Nước ta đã sử dụng thức ăn ủ chua cây và phụ phẩm có nguồn gốc thực vật đểnuôi trâu, bò từ nhiều năm qua, nhưng số lượng còn ít Ngoài việc ủ chua thức ăn
có nguồn gốc thực vật, một số tác giả đã nghiên cứu thành công ủ chua các loạithức ăn và phụ phẩm có nguồn gốc động vật bằng hai phương pháp ủ lên men và
ủ bằng acid Phương pháp ủ lên men sinh học được ứng dụng rộng rãi ở Cuba, sửdụng cá ủ tươi để chăn nuôi đặc biệt là nuôi bò
Nguyên tắc ủ cá hoặc phụ phẩm động vật cũng giông như những thức ănkhác, tạo điều kiện yếm khí và quá trình lên men nhanh để nguyên liệu ủ không
Trang 8ĐỂ TÀI NGHIÊN cứu KHOA HỌC
Chất giúp quá trình lên men nhanh thường được dùng là mật đường hoặctinh bột có từ cám, lúa mì, khoai tây, khoai mì, bắp ý nghĩ tất cả phế phẩm cá
có thể được bảo quản trực tiếp bằng mật đường đầu tiên được nêu ra trong hộithảo của FAO năm 1986 Và chỉ sử dụng để nuôi ngỗng
Theo Lê Văn Liễn và CTV (1992), ủ hỗn hợp đầu tôm, máu tươi và mậtđường theo tỷ lệ 5: 3 : 2, thời kỳ lên men là 10 ngày, pH = 4,3 - 4,5; sản phẩm cómàu hơi hồng, mùi dễ chịu
c Devendra, B.o Gold (1970) giới thiệu nhiều công thức ủ gồm: 50%cá,20% bột lúa mì và 10% mật đường, hoặc 58% cá, 40% bột lúa mì và 2% mạchnha Trong thành phần ủ chua, đảm bảo nguyên liệu cá chiếm 60% và nguồncarbohydrat khô chiếm 40%
D.T Evé và D.T Carrol (1996) đã sử dụng mật đường khô từ 0, 10, 15,25% để ủ chua vỏ đầu tôm
Domunguez (1988) đề nghị sử dụng bột các loại khoai như nguồncarbohydrat để ủ cá với tỷ lệ sau: 30 - 50% bột khoai củ, 10% mật đường và 40 -60% phụ phẩm cá
Ớ Morocco, trộn (50 : 50 trọng lượng) mật dượng và cá khô nghiền, khôngđậy kín và khuấy trộn hàng ngày, sau 10 ngày cho sản phẩm có độ pH ổn định4,5
Nguyễn Xuân Thâm (1988) thực hiện muối tôm chua với tỷ lệ đườngchiếm 17,5% và nước mắm (có độ muối khoảng 6,6%) để chế biến và tồn trữ tômtrong công nghệ muối tôm chua
Bổ sung vi khuẩn trong quá trình ủ.
D.T Evers và D.T Carrol (1996) đã sử dụng vi khuẩn để chủng với liềudùng là 1,0 X 108 vi khuẩn/ gr vỏ đầu tôm (0,01%)
Nguyễn Xuân Thâm (1988) đã sử dụng vi khuẩn đông khô của Hungary(Lactobacillus bulgaricus, Streptococcus thermophilus, Streptococcus lactis,Streeptococcus cremoris) để muối tôm chua
R Perz (1995), Bettos và ctv (1981) đã sử dụng 5% Lactobacillus, 5% mậtđường và 30% bắp nghiền để ủ chất thải cá
_8
NGUYỄN THI THU VÂN
Trang 9ĐỂ TÀI NGHIÊN cứu KHOA HỌC
2.3.3.1 Các yếu tô ảnh hưởng quá trình ủ chua
Nguyên lý của phương pháp ủ chua là quá trình lên men yếm khí với sựtham gia của vi khuẩn lên men lactic không điển hình Streptococcus,Lactobacillus, Leuconostoc Các vi khuẩn này khi lên men đường thì tạo ra acidĩactic, khi lượng acid lactic sản sinh nhiều thì đạt pH 4 - 4,5; ở môi trường pHthấp, các vi khuẩn lên men thối sẽ bị khống chế, do đó có thể bảo quản được lâu
Khi pH giảm đến 4,5 thì vi khuẩn E.coli bị ức chế Những loại vi khuẩnbutyvic, nấm mốc vẫn chịu được môi trường pH thấp, nhưng không chịu đượcmôi trường yếm khí; do đó chỉ phát triển trên bề mặt thức ăn ủ nơi tiếp giápkhông khí
Khi pH thức ăn ủ xanh càng thấp thì lượng acid lactic càng nhiều, do đóphải cho lượng acid này tăng cao trong thức ăn ủ mới có tác dụng giữ thức ănđược lâu
a Ánh hưởng nhiệt độ
Theo kết quả nghiên cứu của Mehring (1955) thì nhiệt đô mẻ ủ làm thayđổi kiểu lên men vi sinh vật, nhiệt độ 25 - 30° c thích hợp cho cầu khuẩn lacticlên men, nhiệt độ 35 - 40° c tạo điều kiện cho vi khuẩn bytyric hoạt động Nhưvậy, có hai loại lên men ủ chua thức ăn gồm loại lên men nóng nhiệt độ hố ủ từ
40 -50° c, loại lên men lạnh nhiệt độ hố ủ từ 15 - 35° c.
Phương pháp ủ lạnh yêu cầu nhiệt độ khối thức ăn không vượt quá 30 - 35°
c, tạo điều kiện yếm khí tốt Khi nhiệt độ thức ăn ủ lên đến 30° c, cao hơn nhiệt
độ môi trường từ 2 - 5°c thì rất có lợi cho vi khuẩn lactic lên men lạnh phát triển
b Ánh hưởng hàm lượng nước
Theo Dương Thanh Liêm và ctv (1982), hàm lượng nước của thức ăn quáthấp thì khó nén chặt được khối thức ăn, không khí còn sót lại trong mẻ ủ tạođiều kiện tăng nhiệt độ gây bất lợi cho kết quả ủ lạnh Để khắc phục tình trạngtrên, đối với thức ăn khô cứng người ta thêm nước; ngược lại, thức ăn thừa nướccũng gây tác hại thúc đẩy sự lên men sinh acid acetic làm thức ăn quá chua, thúkhông thích ăn
c Mật đường
9
NGUYỄN THI THU VÂN
Trang 10ĐỂ TÀI NGHIÊN cứu KHOA HỌC
Để đạt được lượng acid lactic cần thiết trong hố ủ thì thức ăn khi ủ phải có
đủ lượng đường hoặc nguồn carbohydrat thích hợp, có thể bổ sung hoặc thay thếbằng tinh bột (Dương Hữu Thời, 1982)
Sử dụng mật đường hoặc carbohydrat để ủ thức ăn xanh có lượng đạm caonhư cây họ đậu, dây khoai lang, lá khoai mì Tùy theo loại cây họ đậu mà tỷ lệmật đường cần bổ sung từ 3 - 7%
Đối với thức ăn đạm động vật, cần thêm tỷ lệ đường cao hơn, vi khuẩnĩactic sẽ sử dụng nguồn đường lên men sing ra acid làm giảm nhanh độ pH tạomùi thơm chua (Bohl, B.0.1970)
ATP
Triose-3P+Acetyl-P
ADPATP
(Ethanol)
Phân giải đường Chuỗi phản ứng Biỷìdus Chuỗi phản ứng Gluconate
6P-Các chuồi phản ứng phosphoketolase
(Lên men đồng lactic) (Lên men dị lactic)
Hình 1 Các chuỗi phản ứng lên men hexose ở vi khuẩn lactic (Kandler, 1983)
2.4- GIỐNG VỊT ĐẺ VÀ CÂU TẠO TRỨNG VỊT
10NGUYỄN THI THU VÂN
Trang 11ĐỂ TÀI NGHIÊN cứu KHOA HỌC
Trong nghề nuôi vịt đẻ ở DDBSCL và sông Hồng, người dân thường sửdụng giống vịt Tàu hoặc Khaki Campell để sản xuất (Trương Văn Đa, 1978;Nguyễn Thiện và ctv,1983) Theo truyền thống chăn nuôi lâu đời, vịt trong giaiđoạn đẻ thường được chăn thả tận dụng lúa rơi vãi và các nguồn đạm tự nhiênnhư ốc, cua, trùng, dế, v.v trong ruộng sau thu hoạch (Lâm Sài Sến, 1982) đểthỏa mãn nhu cầu năng lượng và đạm cho sản xuất Điều này hạn chế sự hiểu biết
về nhu cầu đạm của vịt ở giai đoạn đẻ trong thực tế chăn nuôi nhân dân
2.4.1- Giống vịt chuyên trứng
24.1.1 Vịt Tàu
Vịt Tàu ở dDDBSCL là giống vịt chuyên sản xuất trứng được gọi nhiều tênkhác nhau tùy theo màu sắc lông như là: vịt Tàu Cò, Tàu 0, Tàu Phèn, Tàu Rằn,Tàu Khoang, v.v Chúng có khả năng chịu đựng cao với điều kiện khí hậu nước
ta và kiếm ăn ngoài đồng rất giỏi Vịt mái có trọng lượng trưởng thành trung bình
là 1,3- 1.5 kg vịt trống là 1,5- 1,8 kg Trong điều kiện nuôi tốt vịt đẻ 170 - 190trứng/ con/ năm theo Trương Văn Đa (1978)
Nguyễn Thiện (1993) báo cáo vịt Tàu được nuôi ở hầu hết các địa phương
ở nước ta, lai tạp và phân ly, tập tính đàn cao, di chuyển nhanh, kiếm mồi giỏi,trung bình trọng lượng trứng là 60 - 70 gam, và sản lượng trứng trung bình là 160
- 180 trứng/ con/ năm Trọng lượng vịt bắt đầu đẻ là 1,2 - 1,4 kg
2.4.1.2- Vịt Khaki Campeỉỉ
Vịt Khaki Campeĩl được tạo ra ở nước Anh vào đầu thế kỷ 19 Đây là kếtquả lai tạo giữa vịt chạy đồng An Độ (Coureur Indien) với giống vịt Rouen -Clair Ở nhũng thế hệ sau được bổ sung thêm máu vịt trời (Colvert) do tính chịuđựng với tự nhiên tốt và thịt có hương vị thơm ngon Vịt Kha ki Campell có sức
đẻ trứng tốt, du nhập vào miền Nam Việt Nam từ năm 1958 Trứng có trọnglượng 60 -70g, trọng lượng vịt mái trưởng thành là 1,3-1,5 kg Kết quả theo dõi ởThanh Hóa cho thấy vịt trưởng thành đạt trọng lượng 1,8- 2,5 kg, năng suất trứng240-289 quả / năm / con (Nguyễn Song Hoan và ctv, 1993)
Trang 12ĐỂ TÀI NGHIÊN cứu KHOA HỌC
phễu 4,8 cm, thân ống dẫn trứng 24,4 cm, eo ống dẫn trứng 10,6 cm; tuyến vỏ 7,3
cm và thời gian cần cho thành lập hoàn tất một trứng trong ống dẫn trứng của vịtkhoảng24,4 giờ sau khi trứng đi vào ống dẫn trứng đi ống dẫn trứng
Trứng vịt gồm các phần với các chức năng sau:
- Vỏ trứng, được cấu tạo bởi lốp vôi có tác dụng ngăn chặn sự xâm nhậpcủa vi trùng
- Màng vỏ trứng, có hai màng dính vào nhau và ở đầu lớn của quả trứngtách ra tạo thành buồng khí
- Buồng khí bình thường nằm ở đầu to, trứng mới đẻ buồng khí nhỏ vàtròn Tác dụng buồng khí là làm chất độn cho các bộ phận bên trong của trứngkhông bị sáo trộn
- Lòng trắng trứng, bao trùm lòng đỏ trứng dùng để nuôi thai và gồm 3lớp: lóp ngoài loãng, lổp giữa đặc và một lóp bao quanh lòng đỏ
- Lòng đỏ được bao bởi noãn hoàng Nếu trứng có phôi thì đĩa phôi to hơn
và có quầng trắng đục
2.5- DINH DƯỠNG VÀ THỨC ĂN CHO VỊT ĐẺ
2.5.1- Prtein và năng lượng.
Protein và năng lượng là thành phần chủ yếu của khẩu phần Những nhucầu quan trọng này cần phải được nêu lên đầu tiên
Theo Nguyễn Chí Bảo và Đào Đức Long (1980), vịt đẻ chạy đồng có nhucầu 16-17% CP và 2400- 2700 Kcal ME/ kg thức ăn Trương Văn Đa (1978) chorằng tỷ lệ ME/ CP là 158-165 và năng lượng là 2500-2700Kcal ME/ kg thức ăn.Trần Ngọc Chi (1977) cho rằng nhu cầu vịt đẻ là 19% CP và 2850 Kcal ME/ kgthức ăn Hoàng Văn Tiêu và Lương Tất Nhợ (1993) đề nghị tiêu chuẩn ăn cho vịt
đẻ Khaki Campell là 17% CP và 2800 Kcal ME/kg thức ăn, bên cạnh đó các nhucầu khác là lysine 8,5 g, methionin 6,0g, Ca 27g và p 6,5g cho Ikg thức ăn
Kết quả nghiên cứu tại tính Minh Hải cho thấy vịt đẻ được nuôi tại Xínghiệp Vịt biển với khẩu phần 18% CP và năng lượng là 2500 Kcal ME/ kg chokết quả về sản lượng và chất lượng trứng tốt hơn so với các khẩu phần 14 và16%CP với cùng mức năng lượng (Lâm Lài Sến, 1982)
Pan và ctv (1981) đã báo cáo kết quả thí nghiệm trên vịt đẻ (bảng 21, 22).Trong thí nghiệm này, vịt đẻ được nuôi bằng khẩu phần bắp và đậu nành có mức
12
NGUYỄN THI THU VÂN
Trang 13Bảng 2.2- ảnh hưởng của protein thô (CP) và năng lượng trao đổi (ME) trên
năng suất và trọng lượng trứng của vịt đẻ Tsaiya trắng.
Trang 14* Những giá trị mang chữ số sai khác nhau có ý nghĩa ở mức độ 1%
** Ảnh hưởng chính năng lượng khẩu phần
Theo tiêu chuân ISI An Độ (1988), nhu câu chất dinh dưỡng trong thức ănhỗn hợp cho gia cầm đẻ trứng 20- 80 tuần cuối cần 2900 Kcal ME, 18% CP,8%CF^ 2,7% Ca và 0,5% p dễ hấp thu
Theo tiêu chuẩn Mỹ NRC (1984), năng lượng trao đổi (ME) cần cho vịt đẻ
là 11,1 MJ, CP 160g, Ca 35g cho lkg thức ăn
2.5.2- Calci (Ca) và phospho (P).
Vịt đẻ có yêu cầu cao về Ca và p Cần phải cung cấp Ca và p cân bằng đểcho năng suất trứng tối đa Có một vài thử nghiệm về nhu cầu Ca và p được thựchiện trên vịt nhà, tuy nhiên tỷ lệ Ca/P chưa được xác định rõ
Theo Nguyễn Chí Bảo (1978) tỷ lệ Ca/P là 4 và theo Trương Văn Đa(1978) tỷ lệ này là 3
Wu, c L (1978) làm một thí nghiệm về nhu cầu Ca và giải thích mức Catối hảo là 2,5-3,0% trong khẩu phần vịt đẻ
Pan và ctv Làm thí nghiệm về mức độ phospho trong khẩu phần được giữ
ở một hằng số 0,7% (phospho hữu dụng 0,47%) và thay đổi các mức độ Ca Chấtlượng vỏ trứng tốt nhất ở mức Ca là 2,52% Năng suất trứng sai khác không có ýnghĩa giữa các nghiệm thức, trừ nhóm cho ăn khẩu phần chứa 1,5% calci chonăng suất trứng thấp hơn các thí nghiệm khác 5%
Chen và ctv (1983) thực hiện một thí nghiệm về nhu cầu Ca của vịt Tsaiyatrắng Kết quả được trình bày ở bảng 2.7 và 2.8
14
NGUYỄN THI THU VÂN
Trang 15Calci Năng suất trứng Độ bền TB + SD
để làm tối thiểu sự giảm cân, dường như mức calci dưới 2,4% hoặc trên3% là nguyên nhân của vấn đề tăng tỷ lệ chết và giảm cân nhiều
Dean và Hayden (1981) thử nghiệm trên giống vịt trắng Bắc Kinh nuôikhẩu phần bắp-đậu nành cung cấp 2,25; 3,2 và 3,7% calci suốt chu kỳ đẻ trứngđầu tiên thì hiệu quả tiêu tốn thức ăn, tỷ lệ có phôi, tỷ lệ ấp nở, độ dày vỏ trứng
và số trứng nứt sai khác có ý nghĩa Tuy nhiên, thí nghiệm cho thấy có sự tăngnăng suất trứng một ít khi calci tăng lên 3,2% Thí nghiệm khác giảm calci còn1,25%, cho thấy sản lượng trứng, độ dày vỏ trứng và tiêu tốn thức ăn thì thấp hơnrất đáng kể trong nhóm nhận 1,25% khi so sánh với nhóm 1,7%; 2,25% và 2,75%calci
15
NGUYỄN THI THU VÂN
Trang 16Mức đô Calci
(%)
Năng suất trứng(%)
Thay đổi thể trong
Số liệu trong bảng 2.5 cho thấy năng suất trứng, hiệu quả sử dụng thức ăn
và độ bền vỏ trứng, tất cả đều có ảnh hưởng bởi hàm lượng phospho trong khẩuphần Các tác giả đề nghị phospho tổng số tối thiểu để duy trì chất lượng vỏ trứng
tối đa trong khẩu phần là 0,75% (0,47% phospho hữu dụng) và phospho tổng số
và phospho hữu dụng tối thiểu của khẩu phần cho năng suất trứng và chuyển hóa
thức ăn tối đa tương ứng là 0,81 và 0,54%.
Bảng 2.5- ảnh hưởng của các mức độ phospho * trên vịt đẻ
Trang 17bắp-Theo Đào Đức Long (1980), nhu cầu muối cho vịt là 0,5-1% khẩu phần.
17
NGUYỄN THI THU VÂN
Trang 18ĐỂ TÀI NGHIÊN cứu KHOA HỌC
Chương III VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM
Đề tài gồm 2 thí nghiệm và được chia ra làm 2 giai đoạn tiến hành từ tháng
01 năm 1996 đến tháng 05 năm 1997 tại khoa nông nghiệp, Viện nghiên cứu vàphát triển Công nghệ Sinh học trường DDH Cần Thơ và hộ chăn nuôi vịt ở ấpCây Trâm, xã Định Bình, thị xã Cà Mau
3.1- VẬT LIỆU NGHIÊN CÚƯ
3.1.1- Vỏ đầu tôm.
Phụ phẩm vỏ đầu tôm gồm đầu, vỏ và chân tôm được thu từ nhà máy chếbiến Hải sán tại thị xã Cà Mau vào buổi sáng mỗi ngày
Đầu vỏ tôm được chọn đồng nhất về chủng loại tôm giang có vỏ cứng màu
đỏ và giữ được độ lạnh trong vài giờ
Trang 19ĐỂ TÀI NGHIÊN cứu KHOA HỌC
Chọn hộ gia đình đang nuôi vịt đẻ sau giai đoạn chạy đồng Thời gianthiếu đồng, người chăn nuôi vịt cho ăn lúa và vỏ đầu tôm hoặc chuyển vịt đếncánh đồng có thu hoạch lúa hè thu
Vịt chọn bố trí thí nghiệm lấy từ đàn vịt có quy mô 800 con, giống vịt tàu,
72 tuần tuổi
3.1.5- Chuồng vịt.
Chuồng vịt sử dụng tre và lưới để ngăn lô, có kích thước ngang 2m, dọc8m cho mỗi lô thí nghiệm Chuồng được bố trí dọc theo mặt ao đảm bảo điềukiện cho vịt ăn, nghỉ và bơi lội
3.1.6- Trang thiết bị và dụng cụ thí nghiệm.
Sử dụng trang thiết bị kỹ thuật của Phòng Phân tích Dinh dưỡng Thức ănGia súc Khoa Nông nghiệp ĐH Cần Thơ, máy đo pH của Trung tâm Khuyếnnông tỉnh Minh Hải Các dụng cụ khác gồm sô mủ và túi nylon để ủ vỏ đầu tôm
3.2- PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM.
3.2.1- Thí nghiệm 1.
Xác định mức độ mật đường và bột khoai mì thích hợp để ủ chua vỏ đầu tôm.
Phương pháp thí nghiệm thừa số gồm 2 nhân tố:
- Nhân tố 1 (1) mật đường có 3 mức độ 25%, 35%, 45% ký hiệu Mị, M2,
M3
- Nhân tố 2 (B) bột khoai mì với 3 mức độ 0%, 10%, 15%, ký hiệu B(), Bị,
B2
Ngoài nguyên liệu chính là mật đường, có bổ sung 3% muối ăn, 25% nước
và vi khuẩn (Antibio) với số lượng 6,6 X 106 tế bào/ kg nguyên liệu ủ
Các thí nghiệm được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên với 3 lần lập lại (bảng 1)
19
NGUYỄN THI THU VÂN
Trang 20Nuôi vịt thử nghiệm.
Từ kết quả thử nghiệm 1, vỏ đầu tôm ủ chua được sử dụng nuôi vịt đẻtrong thí nghiệm 2 (bảng 3.2) Thí nghiệm bố trí theo thể thức hoàn toàn ngẫunhiên gồm 4 nghiệm thức Mỗi nghiệm thức 20 vịt đẻ và 4 lần lập lại
Bảng 3.2 - Sơ đồ bô trí thí nghiệm 2.
Sử dụng vỏ đầu tôm ủ chua nuôi vịt đẻ 72 tuần tuổi
20
NGUYỄN THI THU VÂN
Trang 21Nghiệm thức
Trong giai đoạn thử nghiệm, vịt đẻ được nuôi dựa trên co sở thực tế tậpquán chăn nuôi của địa phương, sử dụng thức ăn năng lượng chủ yếu là lúa, bổsung đạm bằng vỏ đầu tôm tươi làm đối chứng Thử nghiệm thay thế vỏ đầu tômtươi bằng vỏ đầu tôm ủ chua trong các nghiệm thức I, II, III với các tỷ lệ tươngứng 20%, 30%, 50%
3.3- PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN
3.3.1 - Thí nghiệm 1: ủ chua vỏ đầu tôm
Kinh nghiệm dân gian đã sử dụng đường, gạo nếp trong việc chế biến mắmchua bằng cách rang gạo nếp xay nhuyễn và đường trộn với cá muối Sau đó đemnén chặt vào chum, vại và trên cùng đổ một lớp nước muối hoặc nước mắm hoặc
sử dụng đường và nước mắm để muối tôm chua Sản phẩm muối chua có thể kéothời gian tồn trữ và tăng mùi vị thơm ngon
Riêng đối với phụ phẩm vỏ đầu tôm và cua cũng được một số tác giảnghiên cứu quy trình bảo quản bằng cách xay nhỏ phụ phẩm vỏ đầu tôm, cua trộnvới mật đường và muối để sử dụng nuôi heo và trâu bò
Trên cơ sở tiếp thu những kinh nghiệm trên, chúng tôi thử nghiệm ủ vỏ đầutôm giữ nguyên trạng thái (không nghiền) và thêm vi khuẩn Lactobacillus giúpquá trình lên men nhanh hơn
Chuẩn bị thí nghiệm này chúng tôi tiến hành các thử nghiệm thăm dò về tỷ
lệ đường và các yếu tố nước, muối có ảnh hưởng quá trình lên men
Chọn vỏ đầu tôm tươi, sạch sau đó tiến hành mẻ ủ gồm các bước sau:
(1) Cân các nguyên liệu mật đường, bột, nước, vỏ đầu tôm theo tỷ lệ của
mẻ ủ 20kgĩ
21
NGUYỄN THI THU VÂN
Trang 22Giá trị DD N lương V Chất Đam thô Calci PhosphoThực liệu
(ME)(Kcal/kg)
Khô(VĐK%)
(VCK %) (VCK %) (VCK %)
Trang 23Lúa 2.425 86 7,33 0,25 0,21
NRC
Thực liệu, %
Bảng 3.4- Công thức và thành phần dinh dưỡng
Các loại thức ăn trong thí nghiệm 2
T h ú y
Trước khi vào thí nghiệm, vịt đã được tiêm phòng dịch tả Trong quá trìnhnuôi, vịt được tiêm phòng bệnh bằng Teramycin bột trong nước uống, mỗi thángmột lần trong hai ngày, liều 25g/ 320 con/ ngày
Mỗi sáng sớm khi nhặt trứng lúc 6 giờ và chiều tối, kiểm tra tình trạng sứckhoẻ
3.3.2- Các chỉ tiêu theo dõi
3.3.3.1 - Đôi vói thí nghiệm 1.
(1) Đo độ pH môi trường ủ vào các ngày 0, 3, 6, 9, 12, 21
23
NGUYỄN THI THU VÂN
Trang 24ĐỂ TÀI NGHIÊN cứu KHOA HỌC
(2) Xác định hàm lượng acid tổng số và acid lactic vào các thời điểm 0, 3,
6, 9 ngày ủ
(3) Phân tích các thành phần dưỡng chất và giá trị dinh dưỡng vỏ đầu tômtrước và sau khi ủ vào các thời điểm ngày 6, ngày 14 và ngày 21 gồmcác chỉ tiêu:
- Các chí tiêu phụ: tro (A%), chiết chất không đạm (NFE%)
Xác định thành phần hoá học và dinh dưỡng qua các giai đoạn ủ
(4) Số lượng vi khuẩn Salmoneỉla trong vỏ đầu tôm ủ chua.
3.3.3.2- Đối với thí nghiệm 2.
(1) Tính lượng thức ăn ăn vào/ ngày
(2) Năng suất trứng
(3) Tiêu tốn thức ăn/ 10 quả trứng
(4) Tiêu tốn thức ăn/ ĩ quả trứng
Bằng tổng số lượng thức ăn trong 4 tháng chia cho sản lượng trứng trênmỗi nghiệm thức
3.3.3- Phương pháp lấy mẫu và phân tích.
3.3.4.1- Phương pháp lấy mẫu.
a Vỏ đầu tôm ủ chua:
Lấy 300 gram cho mỗi mẫu, phương pháp lấy mẫu gần lớp mặt, lớp giữa
và bên dưới với tỷ lệ 2 phần vỏ đầu tôm và 1 phần nước có khối lượng lOOOgram,trộn đều sau đó lấy 300gram
24
NGUYỄN THI THU VÂN
Trang 25ĐỂ TÀI NGHIÊN cứu KHOA HỌC
Mẫu được bảo quản trong túi nilon,chuyển về điểm phân tích trong ngày
b Trứng:
Chọn mỗi tháng, mỗi nghiệm thức 12 trứng ngẫu nhiên (3 trứng X 4 lần lậplại), 4 nghiệm thức thành 48 trứng/ tháng Số mẫu trứng chọn đánh giátrong 4 tháng là 192 mẫu Cơ sở chọn mỗi lần lập lại 3 trứng là lấy 30% sốlượng trứng đẻ bình quân/ ngày
33.4.2- Phương pháp phân tích
a Các chỉ tiêu ẩm độ, Protein thô, béo thô, xơ thô, tro, chiếc chất khôngđạm, được phân tích theo quy trình Weende
Phospho: phân tích theo phương pháp so màu
Năng lượng trao đổi (ME): được tínhtheo công thức
7Mep = 37 X % CP +81,8 EE + 35,5% NFE
b Phương pháp xác định acid toàn phần
Hút 5 ml dung dịch mẫu (lọc qua giấy lọc) thật chính xác bằng pipette.Cho vào bình đựng mức 100 ml Pha nước cất đến vạch và lắc đều
Lấy 10 mĩ dung dịch đã pha loãng cho vào cốc có dung tích lOOmĩ và chovào 20 ml nước cất, lắc đều rồi nhỏ 2-3 giọt phenol phtalein (1%) Đemchuẩn độ bằng dung dịch NaOH 0,1 N đến khi vừa xuất hiện màu hồngnhạt (pH=8,2%)
Hàm lượng acid lactic được tính bởi công thức:
V 0,009 1000
x = ~ — - g/1 =»/«,
aNếu tính % thì số liệu nhỏ hơn 10 lần
- V: thề tích NaOH 0,1 N tiêu hao (ml)
- 0,009: đương lượng của acid lactic tương ứng với 1 ml NaOH 0,1 N
25
NGUYỄN THI THU VÂN