Nguyên nhân thành công của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, do nhân dân ta được chuẩn bị lâu dài về mọi mặt, trong đó có sự ra đời, phát triển của lực lượng vũ trang nhân dân với cuộc chiến
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA LỊCH SỬ -
DƯƠNG THỊ LIÊN
PHONG TRÀO ĐẤU TRANH DU KÍCH TỈNH THÁI NGUYÊN
GIAI ĐOẠN 1940 - 1945
TÓM TẮT KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học
TH.S NGUYỄN VĂN NAM
HÀ NỘI - 2015
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy Nguyễn Văn Nam và các thầy
cô trong Khoa Lịch sử, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã tận tình hướng dẫn em nghiên cứu và thực hiện Khóa luận tốt nghiệp này
Xin chân thành cảm ơn tới Văn phòng Ban Tuyên giáo Tỉnh Uỷ tỉnh Thái Nguyên, Thư viện tỉnh Thái Nguyên, Sở Văn hoá Thể thao và Du lịch tỉnh Thái Nguyên đã giúp đỡ em trong quá trình sưu tầm tư liệu để hoàn thành được đề tài này Trong quá trình nghiên cứu đề tài này, do thời gian có hạn và bước đầu làm quen với phương pháp nghiên cứu khoa học nên không thể tránh khỏi những thiếu xót, em rất mong được sự đóng góp của các thầy cô và các bạn
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 5 năm 2015
Tác giả
Dương Thị Liên
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu
đã nêu trong Khóa luận có nguồn gốc rõ ràng, kết quả của Khóa luận là trung thực và chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Hà Nội, tháng 5 năm 2015
Tác giả
Dương Thị Liên
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3
3 Đối tượng, phạm vi, nhiệm vụ nghiên cứu 5
4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 6
5 Đóng góp đề tài 7
6 Kết cấu đề tài 7
Chương 1 ĐIỀU KIỆN HÌNH THÀNH PHONG TRÀO ĐẤU TRANH DU KÍCH TỈNH THÁI NGUYÊN GIAI ĐOẠN 1940 - 1945 8
1.1 Những quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và Hồ Chí Minh về phong trào đấu tranh du kích 8
1.2 Khái quát về tỉnh Thái Nguyên 16
1.2.1 Điều kiện tự nhiên và dân cư 16
1.2.2 Điều kiện lịch sử chính trị, kinh tế, xã hội 26
1.2.3 Truyền thống văn hóa, đấu tranh cách mạng 29
Tiểu kết chương 1 40
Chương 2 PHONG TRÀO ĐẤU TRANH DU KÍCH TỈNH THÁI NGUYÊN GIAI ĐOẠN 1940 - 1945 41
2.1 Khởi nghĩa Bắc Sơn và sự hình thành đội du kích Bắc Sơn 41
2.1.1 Khởi nghĩa Bắc Sơn (27/9/1940) bùng nổ 41
2.1.2 Trung đội Cứu quốc quân I ra đời và phong trào đấu tranh của Trung đội Cứu quốc quân I 50
2.2 Cứu quốc quân II và những hoạt động đấu tranh du kích trên căn cứ địa Bắc Sơn - Võ Nhai 56
2.2.1 Quá trình ra đời Trung đội Cứu quốc quân II 56
Trang 52.2.2 Hoạt động đấu tranh du kích trên căn cứ địa Bắc Sơn - Võ Nhai 65 2.3 Sự ra đời của Trung đội Cứu quốc quân III và hoạt động đấu tranh du
kích 73
2.3.1 Sự ra đời của Trung đội Cứu quốc III 73
2.3.2 Hoạt động đấu trang du kích của Trung đội Cứu quốc III 79
2.4 Đặc điểm và vai trò của phong trào đấu tranh du kích ở tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 1940 - 1945 87
2.4.1 Đặc điểm của phong trào đấu tranh du kích ở Thái Nguyên 87
2.4.2 Vai trò của phong trào đấu tranh du kích ở Thái Nguyên 96
Tiểu kết chương 2 114
KẾT LUẬN 115
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 118
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc, cha ông ta
đã lập nên rất nhiều chiến công hiển hách, đã đánh bại nhiều quân xâm lược mạnh hơn ta nhiều lần để giữ vững non sông gấm vóc, giành độc lập tự do cho dân tộc Năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, lịch sử Việt Nam bước sang một thời đại mới - thời đại có Đảng lãnh đạo, truyền thống yêu nước quật cường của dân tộc được phát huy cao độ và được nâng lên một tầm cao mới
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công đưa tới sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Thắng lợi này như một thiên anh hùng ca chói lọi nhất trong lịch sử ngàn năm đấu tranh xây dựng và bảo vệ đất nước Cánh mạng tháng Tám năm 1945 thắng lợi là kết quả của quá trình phát triển lâu dài qua các giai đoạn 1930 - 1931; 1936 - 1939; 1939 - 1945 và sự chuẩn bị
kỹ lưỡng về mọi mặt: lực lượng, căn cứ, hậu phương… Có được thành quả trên là do cách mạng Việt Nam có sự lãnh đạo hết sức tài tình, với những chủ chương, đường lối sáng suốt của Trung Ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh; Hơn thế nữa, cách mạnh nước ta còn có sự đồng lòng nhất trí, quyết tâm, anh dũng của lực lượng vũ trang nhân dân và toàn thể dân tộc ta Nguyên nhân thành công của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, do nhân dân ta được chuẩn bị lâu dài về mọi mặt, trong đó có sự ra đời, phát triển của lực lượng vũ trang nhân dân với cuộc chiến tranh du kích do các lực lượng đó tiến hành
Trong cuộc đấu tranh đầy khó khăn đó, sự ra đời và phát triển của lực lượng du kích tỉnh Thái Nguyên có vai trò và ảnh hưởng quan trọng Mặc dù trải qua nhiều khó khăn, thử thách; thế nhưng dưới sự lãnh đạo của Đảng, lực lượng du kích Thái Nguyên đã phát triển không ngừng đưa tới sự ra đời của các Trung đội Cứu quốc quân I, II, III Việc tiến hành những hoạt động du
Trang 7kích giành chính quyền từng phần ở các địa phương rồi tiến lên giành chính quyền trong toàn tỉnh là nhân tố quan trọng góp phần vào thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 ở Thái Nguyên Thời gian đã qua đi nhưng những hồi ức về cuộc đấu tranh đầy cam go, quyết liệt, hi sinh mất mát của quân và dân du kích vẫn còn sống mãi trong mỗi chúng ta Sự phát triển của các lượng Cứu quốc quân và những hoạt động đấu tranh du kích của lực lượng này trên địa bàn Thái Nguyên đã đặt nền móng cho sự hình thành lực lượng quân đội nhân dân Việt Nam sau này
Nghiên cứu về phong trào đấu tranh du kích ở tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 1940 – 1945 không chỉ tái hiện lại bức tranh sinh động về những năm tháng đấu tranh đầy hi sinh, gian khổ của quân và dân du kích mà còn thấy được sự nỗ lực, phát triển không ngừng của các lực lượng du kích Thái Nguyên trước yêu cầu của cách mạng Đặc biệt, qua quá trình đó chúng ta còn
thấy được vai trò lãnh đạo của Đảng trong việc chèo lái “con thuyền” cách
mạng Việt Nam đi tới bến bờ vinh quang
Phong trào đấu tranh du kích ở mỗi khu vực, địa phương có những đặc điểm khác nhau Trong những năm từ 1940 đến 1945, các đội du kích Thái Nguyên đã ra đời, các phong trào đấu tranh của du kích Thái Nguyên là những phong trào đấu tranh chống Pháp sớm nhất do Đảng trực tiếp lãnh đạo
và có vai trò quan trọng đến thắng lợi trong cuộc vận động giành chính quyền
ở nơi đây Nghiên cứu Phong trào đấu tranh du kích tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 1940 - 1945 không chỉ để tái hiện lại lịch sử hình thành, phát triển, phong trào hoạt động của các đội du kích mà qua đó góp phần nhận thức đầy
đủ hơn về vai trò, vị trí của đấu tranh du kích với cuộc vận động giành chính quyền ở Thái Nguyên và đối với thắng lợi chung của Cách mạng tháng Tám năm 1945 của dân tộc, khẳng định vai trò của Trung Ương Đảng và Chủ tịch
Hồ Chí Minh trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi tới bến bờ độc
Trang 8lập, tự do, ấm no, hạnh phúc
Xuất phát từ ý nghĩa lý luận và thực tiễn như trên, tôi quyết định chọn đề
tài “Phong trào đấu tranh du kích tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 1940 - 1945”
làm đề tài Khóa luận tốt nghiệp của mình
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Về lý luận, Lê Nin trong tác phẩm “Chiến tranh du kích”, Nhà xuất bản
Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1964 đã đưa ra những vấn đề lý luận về chiến tranh du kích, phân biệt chiến tranh du kích với các hoạt động giết người trả
thù, đồng thời khẳng định vai trò to lớn của đấu tranh du kích là: “các cuộc tập kích […] vào hậu phương của quân đội địch khi chiến trường chính đã im tiếng súng” Đó là cơ sở để Đảng và nhân dân ta nói chung, nhân dân Thái
Nguyên nói riêng vận dụng vào đấu tranh du kích giành chính quyền
Đấu tranh du kích là một vấn đề đã thu hút không ít những nhà khoa học, nhà nghiên cứu, các nhà lãnh đạo Đảng và Nhà nước quan tâm, tìm hiểu ở nhiều góc độ khác nhau Với những phương pháp và cách thức nghiên cứu khác nhau, các tác giả đó đã cho ra đời nhiều tác phẩm có giá trị, tiêu biểu là một số tác giả và tác phẩm sau:
Võ Nguyên Giáp với tác phẩm “Mấy vấn đề về đường lối quân sự của Đảng”, Nhà xuất bản Sự Thật, Hà Nội, 1970 đã phân tích về những kinh
nghiệm của Đảng ta trong việc lãnh đạo công cuộc khởi nghĩa vũ trang tiến tới giành thắng lợi trong Cách mạng tháng Tám năm 1945, đặc biệt có nhấn mạnh đến vai trò của lực lượng du kích và những hoạt động du kích đánh địch
Cuốn “Lịch sử Cứu quốc quân” của Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng Khu
tự trị Việt Bắc, Nhà xuất bản Việt Bắc, Bắc Thái, 1975, có đề cập cụ thể đến
sự ra đời, quá trình hoạt động, kết quả, thắng lợi của những hoạt động du kích trên căn cứ địa Bắc Sơn - Võ Nhai
Đồng chí Trường Chinh trong tác phẩm “Mấy vấn đề quân sự trong cách
Trang 9mạng Việt Nam”, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 1983 đã nhấn
mạnh yêu cầu phải phát triển các lực lượng đấu tranh du kích, phải trang bị vũ khí cho các đội du kích và xây dựng căn cứ để hoạt động
Cuốn “Lịch sử Cánh mạng Tháng Tám tỉnh Bắc Thái” đã đề cập đến
những hoạt động tích cực của du kích ở Bắc Thái tin theo Đảng, theo cách mạng đã xây dựng được nhiều cơ sở, căn cứ du kích để đấu tranh Tuy nhiên, tác phẩm chưa hệ thống đầy đủ được sự phát triển và những hoạt động đấu tranh du kích tỉnh Thái Nguyên, chưa chỉ ra những đặc điểm cuộc đấu tranh
du kích trong thời gian này
Tác giả Hoàng Ngọc La với tác phẩm “Căn cứ địa Việt Bắc (1940 -
1945)”, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995 đã đề cập tới quá trình hình thành và hoạt động của các Trung đội Cứu quốc quân I, II, III Ngay sau khi ra đời, Cứu quốc quân và các lực lượng du kích Thái Nguyên đã tiến hành xây dựng và mở rộng căn cứ địa cách mạng với các vùng lân cận trong giai đoạn 1940 - 1945
Ban Chỉ huy quân sự tỉnh Thái Nguyên đã xuất bản cuốn sách “Thái Nguyên - Lịch sử đấu tranh cách mạng và kháng chiến chống Pháp (1941 -
1945)”, Thái Nguyên, 1999, trình bày một cách sinh động những năm tháng đấu tranh của quân và dân tỉnh Thái Nguyên trong đó có đề cập tới hoạt động của các lực lượng du kích góp phần vào thành công của Cách mạng tháng Tám năm 1945 ở tỉnh Thái Nguyên
Tác giả Đinh Xuân Lâm (chủ biên) trong cuốn “Đại Cương lịch sử Việt Nam”, tập II, Nhà xuất bản Giáo Dục, Hà Nội, 2000 đã đề cập tới quá trình
hình thành, phát triển của lực lượng du kích đầu tiên, đặc biệt là của các Trung đội Cứu quốc quân, kể từ sau Khởi nghĩa Bắc Sơn (thánh 9 năm 1940) nhưng hết sức khái quát, sơ lược
Viện lịch sử Quân sự Việt Nam đã xuất bản cuốn sách “Lịch sử các đội
Trang 10quân tiền thân quân đội nhân dân Việt Nam”, Hà Nội, 2004 Cuốn sách này
đã phân tích và trình bày một cách cụ thể về sự hình thành và phát triển của các lượng du kích Thái Nguyên từ sau khởi nghĩa Bắc Sơn (1940) sau đó phát triển lên thành các Trung đội Cứu quốc quân I, II, III và sau này là đội Việt Nam Giải phóng quân – đây là các đội quân tiền thân của quân đội nhân dân Việt Nam
Ngoài ra nhiều bài báo khoa học, bài viết trên các tạp chí chuyên ngành, báo địa phương cũng đề cập khái lược về nguyên nhân, diễn biến, kết quả, ý nghĩa của những hoạt động đấu tranh du kích trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên Mặc dù những bài viết, những công trình nghiên cứu trên đều phân tích,
đề cập tới lực lượng du kích Thái Nguyên ở những khía cạnh khác nhau nhưng chưa có một công trình khoa học, bài viết nào nghiên cứu một cách hệ
thống, khoa học, chuyên sâu về “Phong trào đấu tranh du kích tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 1940 - 1945 Nhưng đó là những nguồn tài liệu tham khảo
quan trọng giúp tôi hoàn thành đề tài này
3 Đối tượng, phạm vi, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu về phong trào đấu tranh du kích tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 1940 - 1945
3 năm 1945
3.3 Nhiệm vụ của đề tài
Trang 114 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1 Nguồn tư liệu
Trong quá trình thực hiện đề tài này, tôi đã tham khảo các Văn kiện, Chỉ thị, Nghị quyết của Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam Những bài viết, bài phát biểu, các tác phẩm lý luận về chiến tranh du kích, đặc biệt là những tài liệu đề cập đến những hoạt động du kích trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên trước năm 1945
Đề tài cũng có sử dụng những nguồn tư liệu lịch sử địa phương như: Lịch sử Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên, Lịch sử Đảng bộ huyện Võ Nhai (1930 - 1954), Thái Nguyên - Lịch sử đấu tranh cách mạng và kháng chiến chống Pháp (1941 - 1954)
Ngoài ra, tôi còn sử dụng các kết quả nghiên cứu, các công trình nghiên cứu về vấn đề đấu tranh du kích của các tạp chí khoa học
Tác giả cũng tham khảo những tài liệu được lưu trữ tại Trung tâm lưu trữ tỉnh Thái Nguyên, Thư viện tỉnh Thái Nguyên, Ban Tuyên giáo, Văn Phòng Tỉnh uỷ tỉnh Thái Nguyên
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Về phương pháp luận: Trong quá trình thực hiện nghiên cứu tác giả luôn đứng trên quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin; quan điểm và đường lối của Đảng về đấu tranh du kích cách mạng
Trang 12Về phương pháp nghiên cứu: Sử dụng 2 phương pháp chủ đạo là phương pháp lịch sử và phương pháp logic, trong đó phương pháp lịch sử là chủ yếu Ngoài ra tôi còn sử dụng các phương pháp khác như: So sánh, thống kê
để làm nổi bật được nội dung của đề tài
5 Đóng góp đề tài
Đề tài cố gắng tái hiện một cách hệ thống, khoa học về quá trình hình thành, phát triển, quá trình hoạt động của các đội du kích ở Thái Nguyên trong quá trình vận động giành chính quyền ở nơi đây
Thông qua đó, đề tài góp thêm những luận cứ khoa học và thực tiễn để nhận thức đầy đủ hơn về vai trò, vị trí của đấu tranh du kích với cuộc vận động giành chính quyền ở nơi đây và đối với thắng lợi chung của Cách mạng Tháng Tám 1945 của dân tộc
Đề tài Phong trào đấu tranh du kích tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 1940 -
1945 góp phần bổ sung nguồn tư liệu cho nghiên cứu cuộc vận động giành chính quyền 1939 - 1945 trên cả nước, và là tư liệu để nghiên cứu lịch sử địa phương tỉnh Thái Nguyên
Trang 13Chương 1 ĐIỀU KIỆN HÌNH THÀNH PHONG TRÀO ĐẤU TRANH DU KÍCH TỈNH THÁI NGUYÊN GIAI ĐOẠN 1940 - 1945
1.1 NHỮNG QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN, VÀ CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VỀ PHONG TRÀO ĐẤU TRANH DU KÍCH
Chủ nghĩa Mác - Lênin đã đưa ra những vấn đề lý luận về chiến tranh du kích, phân biệt chiến tranh du kích với các hoạt động giết người trả thù, đồng
thời khẳng định vai trò to lớn của đấu tranh du kích là: “các cuộc tập kích […] vào hậu phương của quân đội địch khi chiến trường chính đã im tiếng súng” Bàn về chiến tranh du kích, F Engels - nhà chiến lược quân sự Marxist viết “ Một dân tộc muốn giành được độc lập cho mình thì không được giới hạn trong những phương thức tiến hành chiến tranh thông thường Khởi nghĩa quần chúng, chiến tranh cách mạng, các đội du kích khắp nơi, đó là phương thức duy nhất nhờ đó mà một dân tộc nhỏ có thể chiến thắng một dân tộc lớn, một đội quân nhỏ bé có thể chống lại một đội quân mạnh có tổ chức
tốt hơn” Đó là cơ sở để Đảng và nhân dân ta nói chung, nhân dân Thái
Nguyên nói riêng vận dụng vào đấu tranh du kích giành chính quyền
Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh - Người chiến sỹ cộng sản đầu tiên của Việt Nam, vị lãnh tụ kiệt xuất của cách mạng Việt Nam cũng đưa ra những
quan điểm về đấu tranh du kích, là “kim chỉ nam” cho mọi hoạt động quân sự của cuộc chiến tranh giải phóng ở Việt Nam Hồ Chí Minh đã từng nói: “Dân quân tự vệ và du kích là một lực lượng vô địch, là bức tường sắt của tổ Quốc,
vô luận kẻ thù hung bạo thế nào, hễ đụng đến lực lượng đó thì địch nào cũng phải tan rã” [37, tr.50] Hay “Du kích là cách đánh úp hay đánh lén, đánh lúc kẻ thù không ngờ, không phòng Du kích là cách đánh giặc của dân tộc bị
Trang 14áp bức chống đế quốc Đế quốc có khí giới tốt, có quân đội đàng hoàng; quân
du kích không có khí giới tốt, chưa thành quân đội đàng hoàng; nhưng quân
du kích được dân chúng ủng hộ, thuộc địa hình, địa thế, khéo lợi dụng đêm tối, mưa nắng, khéo xếp đặt kế hoạch, nên quân du kích vẫn có thể đánh được
đế quốc Chuyến này chúng ta khởi nghĩa vũ trang đánh Tây - Nhật, chính dùng lối du kích mà đánh Biết đánh du kích thế nào cũng thắng lợi” [37,
tr.169] Tác phẩm đầu tiên bàn về quân sự của Nguyễn Ái Quốc là tác phẩm
“Công tác quân sự trong nông dân”, là bài giảng của Người tại trường quân
sự của những người cộng sản Đức ở Matxcơva vào cuối năm 1927, được xuất bản ở Đức năm 1928 [34, tr.168] Tác phẩm chứa đựng nhiều tư tưởng quan trọng của Nguyễn Ái Quốc về vai trò của giai cấp nông dân trong cách mạng
Trong tác phẩm, Người đưa ra kết luận: “Lịch sử đấu tranh của nông dân trên khắp thế giới minh họa một cách phong phú con đường mà phong trào du kích dần dần tự chuyển thành một lực lượng nghiêm chỉnh, thành một lực lượng có khả năng cung cấp những người lãnh đạo thực sự, thực hiện những nhiệm vụ cách mạng có tầm quan trọng lớn lao… chìa khóa dẫn tới những thắng lợi vững chắc của các toán du kích là sự liên hệ mật thiết với quần chúng nông dân Hoạt động du kích là việc phi thường trong tình thế cách mạng, là sục sôi cách mạng trong quần chúng nông dân Cuộc đấu tranh du kích phải phản ánh được lợi ích của quảng đại quần chúng nông dân, và phải
có tình thế cách mạng trực tiếp thì mới có thể dành được thắng lợi” [23,
tr.421- 423] Tác phẩm còn đề cập đến nhiều vấn đề khác thuộc phạm trù chiến tranh du kích như: Nguyên tắc đánh du kích; huấn luyện tác chiến cho
đội du kích; các chiến thật đánh du kích… Tác phẩm này “…thực sự mới là tác phẩm đầu tiên của Nguyễn Ái Quốc đặt viên đá tảng về lý luận quân sự cho cách mạng chúng ta…” [51, tr.33]
Người nhấn mạnh để đánh du kích thành công trong cuộc chiến tranh giải phóng, cần dựa vào 4 điều:
Trang 151 Có đường lối chính trị đúng đắn
2 Phải dựa trên cơ sở quần chúng
3 Phải có tổ chức vững chắc và nghiêm mật
4 Phải có một lối đánh rất tài giỏi
Trong 4 yếu tố trên, Người nhấn mạnh yếu tố thứ hai, đó là yếu tố nói đến mối liên hệ giữa lực lượng du kích và quần chúng nhân dân Dân chúng vừa là người tham gia vừa là lực lượng giúp sức cho du kích Vì thế, du kích
phải dựa vào quần chúng nhân dân Người viết: “Du kích như cá, dân chúng như nước Cá không có nước thì cá chết, du kích không có dân thì du kích chết Quân du kích và dân chúng phải mật thiết liên lạc với nhau là vì quân
du kích đánh Tây - Nhật để bảo hộ dân chúng, vậy dân chúng phải hết sức ủng hộ quân du kích” [37, tr.469]
Sau khi nêu rõ mục đích chính trị, hướng dẫn các tổ chức, công trình dành cho cả 9 chương trong tổng số 13 chương (Từ chương III đến chương
XII) vào việc chỉ đạo nghệ thuật du kích chiến tranh Riêng về “Lối đánh tài giỏi” được người triển khai một cách hết sức cụ thể, sinh động cả chương III:
Đánh du kích vẫn cần chú ý đến bốn nguyên tắc chính này:
1 Giữ quyền chủ động
2 Hết sức nhanh chóng
3 Bao giờ cũng giữ thế công
4 Phải có kế hoạch thích hợp và chu đáo
Theo Người: “Giữ quyền chủ động là khôn khéo sử khiến quân thù, muốn đánh nó ở chỗ nào thì đưa nó đến đó mà đánh, muốn đưa nó vào bẫy của mình có thể đưa được…giữ quyền chủ động được thì thế nào cũng thắng” Người cũng phân tích trong đánh du kích mà không đánh nhanh thì
không phải là du kích, phải đánh thật nhanh chóng, rút cũng phải nhanh
chóng, mới là đánh du kích: “Phải nhanh chóng như mưa sa gió táp, chớp
Trang 16nhoáng đã đánh xong một trận, quân thù chưa tỉnh thì đã biến mất rồi” [37,
tr.473]
Giữ thế công cũng có nghĩa là không được phòng ngự, đánh du kích là phải luôn đánh trước, luôn giữ thế công, phòng nhự là chết Có được 3 yếu tố trên mà không có kế hoạch chu đáo, thích hợp thì cũng thất bại Có kế hoạch chu đáo và thích hợp sẽ khiến kẻ thù không bao giờ chống đỡ được, chỉ có thể chuốc lấy thất bại Bốn nguyên tắc trên là những nguyên tắc chính của cách đánh du kích do Nguyễn Ái Quốc nêu lên
Trong tác phẩm trên, Người còn đưa ra “4 mưu mẹo”
1 Tránh chỗ mạnh, đánh chỗ yếu, náo phía đông đánh phía Tây
2 Tránh trận gay go, không sống chết giữ đất
3 Hóa chỉnh vi tinh, hóa linh vi chỉnh (Phân tán, tập chung)
4 Mình yên đánh quân thù động, mình khỏe đánh quân thù mệt
Dựa vào 4 nguyên tắc cơ bản đó, du kích có thể có nhiều lối đánh khác nhau, tùy theo từng điều kiện và hoàn cảnh cụ thể mà đánh sao cho có hiệu quả nhất, có thể đem lại thắng lợi nhanh nhất, lớn nhất Đây chính là sự linh hoạt của lối đánh du kích, một lối đánh mà cha ông ta đã dùng nhiều trong lịch sử Các chương tiếp theo, từ chương IV đến chương XII, từng cách đánh
du kích được Người trình bày cụ thể trong từng chương: Cách tiến công, tập
kích, phục kích, cách phòng ngự, cách “Đánh đuổi giặc”, cách “Rút lui”, phá hoại…Người viết: “Du kích bao giờ cũng tiến công, một là tập kích, hai là phục kích” [37, tr.476] Muốn tập kích được thắng lợi phải chuẩn bị rất bí mật
và chu đáo, lúc tiến hành phải nhanh chóng và kiên quyết Để tập kích có kết quả cần làm tốt mấy điều đó là: Trinh thám, xếp kế hoạch, bắt đầu ra đi, lúc đến chỗ tập kích, xung phong, sau khi tập kích
Phục kích là ẩn nấp trong một chỗ trực quân giặc đi qua, thoạt ra đánh
úp Phục kích dễ thắng lợi hơn tập kích, vì vậy đội du kích cần chú ý nhiều
Trang 17đến cách phục kích nhất là đội du kích mới bắt đầu hoạt động, chưa có nhiều kinh nhiệm, chưa rèn luyện nhiều Muốn phục kích cần chú ý mấy điều: Trinh thám, chọn chỗ phục kích, thi hành phục kích, sau khi phục kích thắng lợi, phục kích lính lẻ của giặc, phục kích đội vận tải của giặc, phục kích lính kỵ
mã, xa hỏa của giặc
Về chiến thuật phòng ngự, Người đã khái quát rằng: “Phòng ngự nghĩa
là chống giữ Mình ở một chỗ, quân thù đến đánh, mình chống giữ gọi là phòng ngự Như trên đã nói du kích là tiến công, mình bao giờ cũng nhằm quân thù mà đánh trước Du kích mà để cho quân thù đến đánh, mình phải phòng ngự, là không tốt rồi, là phải vào ở thế khó rồi Tuy vậy nhiều khi đội
du kích vì tình thế buộc phải phòng ngự như lúc đội du kích hoạt động trong vùng quân thù, bất ngờ bị quân thù tập kích, hoặc sau khi đánh úp quân thù một trận, đội du kích phải dùng lối phòng ngự để bảo vệ cho chủ lực an toàn rút lui, hoặc lúc bảo vệ căn cứ địa của cách mạng, đội du kích cũng phải dùng lối phòng ngự Nhưng lối phòng ngự này là lối phòng ngự thế công chứ không phải rút vào một chỗ để cho quân thù tha hồ đánh phá” [37, tr.491]
Về chiến thật đánh đuổi giặc, quân giặc đã bị đánh thua thì đội du kích phải đuổi theo thừa lúc chúng bị khó khăn mà kế tiếp xung phong để tiêu diệt chúng Tuy vậy không nên đuổi theo quá xa vì sợ gặp quân cứu viện của chúng Lúc quân giặc bị đánh tan rồi thì đội du kích phải cắt ra một số đội viên xếp dọn chiến trường cứu kẻ bị thương và đưa đi nơi dưỡng bệnh, xử trí những đồ đạc lấy được, xử trí tù binh Còn đại đội phải đi ngay phòng khi tàu bay giặc đến ném bom Chỉ khi nào 10 phần chắc chắn là quân cứu viện giặc không đến được thì đại đội du kích mới nên ở lại hơi lâu để tiến hành công việc tuyên truyền cổ động dân chúng Nếu quân giặc bị đánh bại nơi gần căn
cứ địa của chúng ta thì chúng ta lại càng cần đuổi theo mà tiêu diệt Lúc này phải động viên dân chúng giúp vào Ngoài ra trong tác phẩm còn nêu lên
Trang 18nhiều chiến thuật du kích khác Trong mỗi chiến thuật đều có sự hướng dẫn sâu sắc, cụ thể, cho nên cuốn sách là cẩm nang cho các chỉ huy quân du kích
và cho từng du kích quân
Nhờ vậy, từ đầu năm 1941 trở đi, sau sự ra đời của các đội du kích Bắc Sơn, Nam Kỳ khởi nghĩa, là sự xuất hiện hàng trăm đội tự vệ chiến đấu và du
kích quân “Đánh Pháp, đuổi Nhật” xuất hiện trên khắp mọi miền đất nước Đó
cũng là điều kiện để xuất hiện nhiều căn cứ địa trên cả nước Không phải ngẫu nhiên mà chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành chương cuối cùng của công trình
“Cách đánh du kích” cho vấn đề “Căn cứ địa” Sự nhất quán trong tư tưởng quân sự của Người là: “Du kích chiến phải gắn liền với căn cứ địa” Chương
“Căn cứ địa” tuy ngắn gọn nhưng đã thể hiện rõ tư tưởng “Căn cứ địa” của
Người Sau khi hình thành hạt nhân chiến đấu là các đội tự vệ chiến đấu, các đội quân du kích…cần xây dựng căn cứ địa theo các nguyên tắc cơ bản
Với đường lối chính trị cứu nước, với phương châm “lấy nhỏ đánh lớn, lấy ít địch nhiều”, lại chưa có chủ quyền lãnh thổ, đất đai thì trước hết: “đội
du kích trong lúc hoạt động đánh quân thù, cần có một vài nơi dừng chân làm
cơ sở Tại nơi ấy, đội du kích trữ lương thực, thuốc đạn, lâu lâu về đó nghỉ ngơi luyện tập”
Nguyên tắc xây dựng căn phải gắn liền với nguyên tắc lựa chọn địa hình,
địa lợi, tức coi trọng yếu tố địa lý Trong đó, cùng với “địa thế, địa hình” cần quan tâm yếu tố “địa - chính trị”, tức sự ủng hộ, che chở của quần chúng cách mạng Tác phẩm “Cách đánh du kích” nêu rõ: “Nơi ấy phải có địa thế hiểm yếu che chở và quần chúng cảm tình ủng hộ”
Nguyên tắc thứ 3 là “phải tiến tới xây dựng chính quyền cách mạng cho căn cứ địa” Từ nhiều cơ sở được chọn làm căn cứ, phải lựa chọn được nơi
vững vàng nhất Ở đó, sau khi đánh đổ được chính quyền địch phải xây dựng
cho được chính quyền cách mạng: “Chưa thành lập được chính quyền địa
Trang 19phương thì căn cứ khó thành lập và không thể củng cố được”
Nguyên tắc thứ 4 là: Từ căn cứ địa, lực lượng du kích phát triển phải tiến
tới thành lập được các đội quân chính quy: “Có chính quyền cách mạng của địa phương, có căn cứ địa vững vàng, đội du kích nhờ đó mà phát triển lực lượng và hóa ra quân chính quy” Ngoài tác phẩm “Cách đánh du kích”, quan điểm quân sự Hồ Chí Minh về căn cứ địa và chiến tranh du kích còn được phổ biến trong thơ ca truyền miệng như diễn ca “Lịch sử nước ta”, bài
“Ca đội tự vệ”, “bài ca du kích”
Khi phong trào đấu tranh vũ trang phát triển, “Cách đánh du kích” thật
sự là “Người dẫn đường” cho những du kích quân Việt Nam và căn cứ địa
phát triển ở nhiều nơi trong toàn quốc Trong quá trình vận động cách mạng Tháng Tám, nhiều căn cứ địa cách mạng đã ra đời Hầu như bất cứ ở đâu, lực lượng quân sự ra đời và chiến tranh du kích phát triển những căn cứ địa lớn đều trở thành các chiến khu cách mạng Khi trải rộng ra nhiều căn cứ địa vừa
và nhỏ ở hầu khắp các địa phương trong toàn quốc còn gọi là các chiến khu, khu du kích Mỗi căn cứ đều có sáng tạo riêng về quy hoạch địa bàn, xây dựng lực lượng chính trị, tổ chức lực lượng vũ trang, chỉ huy tác chiến sao cho phù hợp với quá trình hình thành và phát triển của khu căn cứ Nhưng chung nhất, phổ biến nhất vẫn là mấy nguyên tắc cơ bản mà tư tưởng quân sự
Hồ Chí Minh đã nêu ra: Trước hết phải có hạt nhân chiến đấu là các đội tự vệ chiến đấu, các đội quân du kích Các chiến khu, khu căn cứ khác nhau cũng đều có lực lượng vũ trang đầu tiên đứng lên xây dựng Các lực lượng vũ trang hạt nhân đó xây dựng căn cứ địa theo 4 nguyên tắc
Để có nơi tương đối an toàn cho các chiến sỹ tập luyện, nghỉ ngơi, cất súng đạn, vũ khí, lực lượng vũ trang phải chọn được địa bàn tương đối thích hợp; vừa hiểm trở, bí mật để địch khó tìm, khó phát hiện lại vừa thuận lợi để
“tiến có thế công, thoái có thế thủ”…tức là có thế “địa quân sự”
Trang 20Địa bàn đó phải có lực lượng cách mạng quần chúng ủng hộ, bảo vệ Lực lượng quần chúng phải được giác ngộ và tổ chức từ thấp tới cao Trong cách mạng Tháng Tám ở những căn cứ địa mạnh, đại đa số quần chúng đều được
tổ chức vào Mặt trận Việt Minh như ở Cao Bằng - Bắc Kạn, đã có những “Xã hoàn toàn”, “châu hoàn toàn”, những nơi tất cả quần chúng ra nhập Việt
Minh - tức có ưu thế về địa - chính trị
Phải thành lập cho được chính quyền cách mạng ở khu căn cứ Chính quyền cách mạng không chỉ bảo đảm an ninh trật tự, phòng gian, trừ gian…cho khu căn cứ, mà còn có thể vận động quần chúng ủng hộ về kinh tế,
vũ khí và tổ chức đời sống có văn hóa cho khu căn cứ
Nhờ có chính quyền căn cứ địa ra đời mới phát huy được tính địa - kinh
tế, địa - văn hóa của khu căn cứ… Việc xây dựng chính quyền căn cứ địa là
vô cùng quan trọng, như đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã nhấn mạnh: “Chưa thành lập được chính quyền địa phương thì căn cứ địa khó thành lập và không thể củng cố được”
Phải liên tục phát triển lực lượng vũ trang từ nhỏ đến lớn, từ yếu đến mạnh, từ các đội tự vệ phải tiến lên xây dựng các đội tự vệ chiến đấu, các đội
du kích địa phương, rồi du kích thoát ly
Các nguyên tắc cơ bản trên đã biểu hiện rõ sự gắn bó chặt chẽ giữa chiến tranh cách mạng và căn cứ địa cách mạng: Căn cứ địa sinh ra từ nhu cầu của đấu tranh vũ trang mà lực lượng vũ trang là người sinh ra căn cứ địa Lực lượng vũ trang xây dựng và mở rộng căn cứ địa để căn cứ địa có thể góp phần vào việc phát triển nhanh chóng lực lượng vũ trang Tất cả nằm trong mối
quan hệ biện chứng “nhân quả” Nếu cuối cùng không phát triển được lực
lượng vũ trang và đấu tranh vũ trang thì căn cứ coi như chưa đạt được mục đích Trong cả nước, các căn cứ địa được củng cố và mở rộng cùng với sự phát triển nhanh chóng của lực lượng vũ trang và chiến tranh du kích, góp
Trang 21phần giành được thắng lợi trong cách mạng Tháng Tám
Có thể nói, những quan điểm quân sự của chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh về chiến tranh du kích và nghệ thuật đấu tranh du kích đã chính thức hình thành, từng bước đi vào thực tiễn cách mạng Việt Nam Ngay sau Hội nghị Trung Ương 8 (tháng 5 năm 1941), Nghị quyết Hội nghị và những quan điểm quân sự Hồ Chí Minh được tuyên truyền, phổ biến rộng rãi, đi sâu vào trong quần chúng cách mạng, đặc biệt là tới căn cứ địa Cao Bằng sau đó
là những lực lượng du kích (Trung đội Cứu quốc quân I, II) của Thái Nguyên Nhờ đó, lực lực lượng du kích, phong trào du kích phát triển nhanh, mạnh hơn
cả về số lượng lẫn hiệu quả công tác; căn cứ địa cách mạng liên tục được hình thành; phong trào cách mạng có những bước tiến vượt bậc trong thời kỳ mới - thời kỳ vận động, chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang, tiến tới giành chính quyền ở Thái Nguyên cũng như trong toàn quốc
1.2 KHÁI QUÁT VỀ TỈNH THÁI NGUYÊN
1.2.1 Điều kiện tự nhiên và dân cư
1.2.1.1 Điều kiện tự nhiên
Vị trí địa lí: Thái Nguyên là một tỉnh trung du và miền núi Bắc bộ
Địa bàn của tỉnh nằm giữa vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng và vùng rừng núi Việt Bắc, giữ vị trí trung tâm của vùng chiến lược phía Bắc sông Hồng Thái Nguyên có diện tích 3541,67 km2
, Phía Bắc giáp với tỉnh Bắc Kạn; phía Đông Nam giáp với tỉnh Bắc Giang; phía Đông Bắc giáp với tỉnh Lạng Sơn; phía Nam giáp với Hà Nội; phía Tây Nam giáp với tỉnh Vĩnh Phúc và phía Tây giáp với tỉnh Tuyên Quang, dân số 1.131,300 người Với
vị trí thuận lợi, tiếp giáp với nhiều tỉnh nên Thái Nguyên là điểm nối giữa đồng bằng châu thổ với khu vực trung du miền núi phía Bắc Việc thuận lợi trong giao thông, đi lại đã tạo nên sự gắn bó, đoàn kết với nhân dân các tỉnh để cùng nhau chống giặc ngoại xâm
Trang 22Thái Nguyên là miền đất nối giữa núi rừng Việt Bắc với đồng bằng châu thổ sông Hồng, là cửa ngõ bảo vệ Kinh đô Thăng Long, ở phía Bắc Đông Đô xưa và thủ đô Hà Nội ngày nay Từ thế kỷ XV, Nguyễn Trãi đã xác định vị trí
chiến lược của Thái Nguyên trong sách “Dư địa chí”: “Đấy (Thái Nguyên) là nơi phiên dậu thứ hai về phương Bắc vậy” [46, tr.238]
Lịch sử hành chính: Trong tiến trình lịch sử của dân tộc, Thái Nguyên
đã có nhiều sự thay đổi về sự phân chia hành chính khu vực Theo Sử cũ, thủa dựng nước, các vua Hùng chia đất đai làm 15 bộ thì tỉnh Thái Nguyên thời ấy
là đất thuộc bộ Vũ Định: “Thái Nguyên thuộc đất Vũ Định, Đông và Bắc giáp Cao Lạng; Tây và Nam giáp Kinh Bắc; có hai lộ phủ, 9 huyện, 2 châu và 336 làng xã Đây là nơi phên dậu thứ hai về phía Bắc” [46, tr.238]
Đến thời Lý - Trần, năm 1226, nhà Trần đổi Châu thành Lộ, vùng đất Thái Nguyên thuộc Như Nguyệt Giang lộ Năm 1397, nhà Trần đổi châu Thái Nguyên thành trấn Thái Nguyên Sang thời Thuộc Minh (1407 - 1427), thì trấn Thái Nguyên được đổi thành phủ Thái Nguyên
Dưới triều Lê, năm 1428 vua Lê Thái Tổ chia cả nước thành năm Đạo (Tây Đạo, Bắc Đạo, Đông Đạo, Nam Đạo và Hải Tây Đạo) thì vùng đất Thái Nguyên thuộc Bắc Đạo Đến thời nhà Nguyễn, năm 1831 - 1832, vua Minh Mạng chia cả nước thành 30 tỉnh và 1 phủ (phủ Thừa Tuyên), trấn Thái Nguyên được đổi thành tỉnh Thái Nguyên Đến thời Pháp thuộc, tỉnh Thái Nguyên lại bị chia cắt 1 lần nữa
Ngày 14/1/1890, Pháp chia cắt vùng đất thuộc Phủ Thông Hóa lập ra một tỉnh mới gọi là tỉnh Bắc Kạn Tỉnh Thái Nguyên chỉ còn lại phần đất của
2 phủ Phú Bình và Tòng Hóa
Trong thời Pháp thuộc, để dễ bề cai trị và đàn áp phong trào nổi dậy của nhân dân, thực dân Pháp đã tách huyện Bình Xuyên khỏi tỉnh Thái Nguyên để lập ra tỉnh Vĩnh Yên và thực thi chế độ Quân quản Địa bàn tỉnh Thái Nguyên
Trang 23sát nhập vào các tiểu Quân khu thuộc các đạo quan binh: Phủ Tòng Hóa, phủ Phú Bình sát nhập với một số địa hạt khác thuộc Lục Nam, Bắc Ninh lập thành Tiểu Quân khu Thái Nguyên (một trong ba Tiểu Quân khu thuộc Đạo Quan binh Phả Lại thành lập ngày 9/9/1891)
Như vậy, từ tháng 10/1890 đến tháng 9/1892, tỉnh Thái Nguyên bị xoá
bỏ, phân tán vào các địa bàn khác nhau, đặt dưới quyền quản lí của giới cầm quyền quân sự Pháp Theo nghị định của toàn quyền Đông Dương kí vào ngày 10 và 15/10/1892, các địa hạt trên (trừ Bình Xuyên) lại trở về tỉnh Thái Nguyên đặt dưới quyền một Công sứ
Ngày 11/4/1900, thực dân Pháp tách toàn bộ phủ Thông Hóa khỏi tỉnh Thái Nguyên để thành lập tỉnh Bắc Kạn Ngày 25/6/1901, chúng cắt tiếp tổng Yên Đĩnh khỏi huyện Phú Lương, phủ Tòng Hoá, tỉnh Thái Nguyên sáp nhập
về châu Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn Tiếp đó, năm 1913, chúng cắt tiếp tổng Nghĩa Tá khỏi châu Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên sáp nhập về huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn và cắt hai xã Phúc Lâm, Tự Lập khỏi tổng Định Biên Thượng, châu Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên sáp nhập về huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang
Đến trước Cách mạng tháng Tám 1945, Thái Nguyên là tỉnh nằm trong căn cứ địa cách mạng Việt Bắc, giữ vai trò quan trọng trong những năm khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân và kháng chiến chống quân xâm lược sau này
Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng hoà (nay là nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam) ra đời Năm
1956 Khu tự trị Việt Bắc được thành lập, tỉnh Thái Nguyên nằm trong Khu tự trị Việt Bắc, thị xã Thái Nguyên trở thành Thủ phủ của Khu tự trị Việt Bắc Đến nay, tỉnh Thái Nguyên được chia thành 9 đơn vị hành chính gồm: thành phố Thái Nguyên, thị xã Sông Công và các huyện: Phú Bình, Phổ Yên, Đại Từ, Đồng Hỷ, Định Hóa, Phú Lương, Võ Nhai với 180 xã, phường, thị
Trang 24trấn (trong đó có 122 xã, thị trấn thuộc khu vực miền núi, vùng cao) Như vậy, với vị trí trung tâm của vùng chiến lược phía Bắc sông Hồng, Thái Nguyên có vị trí rất cơ động - một điều kiện tiên quyết để hình thành phong trào du kích và phát triển các hoạt động du kích
Địa hình: Là một tỉnh trung du miền núi nên địa hình Thái Nguyên khá đa
dạng Với hai cánh cung: Ngân Sơn chạy dài 100 km từ phía Nam Cao Bằng xuống Phú Lương, có thể ví đó như nóc nhà của tỉnh; cánh cung Sông Gâm chạy từ Chợ Dã đến phía Tây Định Hóa sừng sững như một bức tường phía Tây của tỉnh Bên cạnh những dãy núi đá vôi cao là những đồi núi thấp, xen kẽ những dãy núi cao là những thung lũng nhỏ hẹp và tương đối bằng phẳng Nhìn chung, tỉnh Thái Nguyên hình thành nên 3 vùng: Vùng phía Tây và Tây Bắc tỉnh gồm các huyện Đại Từ, Định Hóa và các xã phía Tây huyện Phú Lương núi rừng bao la, trùng điệp, ngóc ngách, vừa hiểm trở, vừa tạo thành các khu ruộng nhỏ, phì nhiêu nằm sâu kín và rải rác khắp vùng Vùng núi phía Đông gồm hai huyện Đồng Hỷ và Võ Nhai, với độ cao trung bình từ 500m đến 600m, địa hình phức tạp, hiểm trở, với những khối núi đá vôi to lớn ở Thần Sa, Thượng Nung, Nghinh Tường, đặc biệt là khối núi đá vôi Phương Giao ở phía Đông Nam huyện Võ Nhai đồ sộ và hiểm trở có nhiều thung lũng hẹp và sâu Vùng trung du gồm các xã Nam huyện Phú Lương, Tây huyện Đồng Hỷ, thành phố Thái Nguyên, thị xã Sông Công và các huyện Phú Bình, Phổ Yên đồi núi thấp xen với đồng bằng sông Cầu, Sông Công Đặc điểm địa hình đó tạo nên những thuận lợi về quân sự: Trong chiến tranh đặc điểm đó cho phép tỉnh phát huy thế mạnh 3 vùng để hỗ trợ lẫn nhau, kết hợp tiến công và phòng ngự; trong thời bình, đặc điểm đó lại phát huy thế mạnh kinh tế 3 vùng
để xây dựng, phát huy tiềm lực kinh tế, quốc phòng địa phương vững mạnh Đặc biệt, Thái Nguyên còn có nhiều hang động mái đá như: hang Phượng Hoàng (Võ Nhai - Thái Nguyên), mái đá Ngườm ở Võ Nhai, hang
Trang 25Mỏ Gà…Những hang động mái đá này có vai trò quan trọng trong những năm kháng chiến, là nơi cất giữ lương thực, thực phẩm và là nơi ẩn náu quan trọng cho quân và dân Thái Nguyên trong cuộc chiến tranh du kích chống Pháp - Nhật
Sông ngòi: Nguồn nước của khu vực trong tỉnh cũng rất phong phú do
có nhiều sông, suối, ao, hồ Các sông chính như: Sông Cầu bắt nguồn từ Bằng Phúc (chợ Đồn - Bắc Kạn), với độ dài gần 300 km chảy xuống địa bàn Thái Nguyên suốt từ Bắc xuống Nam qua các huyện Phú Lương, Võ Nhai, Đồng
Hỷ, Thành Phố Thái Nguyên, Phú Bình, Phổ Yên và đây là sông chính lớn nhất của tỉnh Thái Nguyên Sông Công bắt nguồn từ vùng rừng núi Điềm Mạc (Định Hóa) chảy qua các huyện Đại Từ, Đồng Hỷ, Phổ Yên dài gần 70 km đây là chi lưu quan trọng nhất của sông Cầu Ngoài ra, tỉnh Thái Nguyên còn nhiều sông khác như: Sông Dong, sông chợ Chu, sông Khe Mo…Hơn nữa, hệ thống sông, suối ở Thái Nguyên phân bổ tương đối đều Thêm vào đó ở vùng núi phía Bắc của tỉnh với nhiều rừng cây bao phủ đã tạo ra khả năng lưu giữ nước ở bề mặt và tạo nguồn nước ngầm; dãy Tam Đảo chắn gió mùa Đông Bắc làm cho miền Tây của tỉnh có lượng mưa lớn tạo cho tỉnh Thái Nguyên
có nguồn tài nguyên nước dồi dào, rất thuận lợi cho việc canh tác trên các cánh đồng ruộng phân tán và đảm bảo cho đời sống sinh hoạt để xây dựng các khu căn cứ địa an toàn, bí mật trong chiến tranh Đó là tuyến giao thông đường thuỷ thuận lợi cho quân dân ta trong chiến tranh: Vận chuyển hàng hoá, vũ khí, đi lại…
Giao thông: Do núi, sông hiểm trở nên trong lịch sử việc phát triển giao
thông, vận tải ở tỉnh Thái Nguyên nhìn chung gặp nhều khó khăn Cho đến thế
kỷ XI để phục vụ cho nhu cầu quản trị đất nước việc mở mang các đường giao thông, liên lạc ở tỉnh ta mới được đặt ra Thời kỳ phong kiến, nhà Lý đã có nhiều biện pháp tích cực khai thông sông Cầu, làm một số đường nhựa và đặt
Trang 26các trạm ở các châu, huyện phía Bắc như Bạch Thông, Cảm Hóa,… nhờ đó,
“một dải sơn cước ở thái Nguyên dần dần có thể thông hành được” [45, tr.48]
Trước kháng chiến chống Pháp, Thái Nguyên chỉ có đường bộ và đường thủy Về đường thủy, từ thị xã Thái Nguyên theo sông Cầu có thể đi tới Đáp Cầu, từ Đáp Cầu đi tiếp xà lan tới phủ Lạng Thương, Phả Lại, Hải Phòng hoặc từ Đáp Cầu có thể đi ô tô, tàu hỏa về Hà Nội Mùa mưa, từ thị xã Thái Nguyên, tàu, thuyền có trọng tải dưới 60 tấn có thể đi lại dễ dàng về Đáp Cầu, Phả Lại, Hải Phòng và ngược lại Dưới thời Pháp thuộc, đây là con đường giao thông chính đảm bảo cho việc vận chuyển hàng hóa, lương thực, thực phẩm, quân trang, quân dụng và binh lính đáp ứng cho các nhu cầu về quân
xếp loại là “ đường thuộc địa số 3”
Qua đó chúng ta thấy rằng hệ thống giao thông của tỉnh Thái Nguyên từ trước cách mạng tháng 8 năm 1945 đã có ý nghĩa chiến lược rất quan trọng
Thái Nguyên có “sẵn đường giao thông với quốc tế, liền với trung tâm tam giác, tức là có cái thế uy hiếp Hà Nội Phía Đông có thể men theo rừng núi
mà tiến đến lân cận Hải Phòng và đi ra bể Phía Tây có thể men theo rừng núi mà tiến về Hà Đông hay liên lạc với Thanh - Nghệ” [30, tr.30]
Hệ thống giao thông của tỉnh Thái Nguyên đã góp phần quan trọng đảm bảo giao thông, vận tải đi lại trong thời kỳ vận động cách mạng Tháng Tám năm 1945 cũng như trong các cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc
Bên cạnh mặt thuận lợi là chủ yếu nhưng cũng có một số khó khăn, do
Trang 27địa hình tỉnh Thái Nguyên phức tạp, có nhiều sông, suối nên các tuyến giao thông phải đi qua nhiều cầu, cống, ngầm to, nhỏ khác nhau; trong khi đó chất lượng đường, cầu, cống cũng chưa thật cao nên về mùa mưa hoặc khi địch phá ác liệt thì việc đảm bảo giao thông có nhiều khó khăn Tuy nhiên, giao thông khó khăn cũng là đặc điểm gây nhiều trở ngại cho kẻ địch khi hành quân tiến đánh Thái Nguyên
Khí hậu: Cùng với đặc điểm về địa hình, những đặc điểm khí hậu cũng
ảnh hưởng không nhỏ tới đời sống và sinh hoạt của cư dân trong vùng Lượng mưa trung bình hàng năm ở Thái Nguyên từ 1800 - 2500mm Tuy nhiên khí hậu nơi đây cũng tương đối khắc nghiệt: Về mùa đông nhiệt độ xuống thấp và kéo dài có nhiều sương muối gây hại cho người và gia súc, mùa hạ mưa nhiều, tập trung và độ ẩm cao Đáng chú ý là khí hậu ở Thái Nguyên hình thành nên ba vùng khác biệt: Vùng phía Tây nóng và mưa nhiều, vùng phía Đông lạnh và ít mưa, vùng phía Nam có tính chất trung gian chuyển tiếp giữa phía Đông và phía Tây Nhưng bên cạnh đó, điều kiện nhiệt độ gió mùa lại là môi trường thuận lợi cho việc trồng các cây nhiệt đới góp phần ổn định và phát triển kinh tế Để tồn tại và phát triển nhân dân các dân tộc, thế hệ sau nối tiếp thế hệ trước đã không ngừng đấu tranh khai thác mặt tích cực, chế ngự
mặt tiêu cực của thiên nhiên: “Trong quá trình lịch sử, cuộc đấu tranh ấy kết tinh thành một trong những tài sản vô giá là truyền thống đấu tranh với thiên nhiên, nền tảng và cứu cánh của sự hình thành truyền thống kiên cường, bất khuất trong dựng nước, giữ nước và cải biến xã hội” [10, tr.15]
Đặc biệt, bên cạnh những điều kiện khí hậu thuận lợi cho phát triển kinh
tế trong tỉnh thì đặc điểm khí hậu đó còn gây nhiều khó khăn cho kẻ địch Quân địch đến từ những vùng đất có điều kiện thời tiết khác hẳn thì việc phải sống ở nơi có điều kiện khác thường như Thái Nguyên (nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm quanh năm) sẽ khiến việc tổ chức càn quét gặp khó khăn lớn Chúng
Trang 28dễ bị ốm và mắc các loại dịch bệnh (sốt rét) Đó là điều kiện thuận lợi cho quân ta Hơn nữa, hiện tượng thời tiết có sương mù tầm nhìn khuất, tạo điều kiện cho quân du kích ẩn nấp, tổ chức lực lượng và tiêu diệt địch thuận lợi
Tài nguyên, khoáng sản: Tài nguyên trong vùng cũng rất dồi dào và
phong phú đặc biệt là các loại lâm sản, khoáng sản Trong rừng có nhiều loại lâm sản như: gỗ đinh, lim, sến, táu… và nhiều loại động vật quý như: hổ, báo,
hươu, nai… Theo Đại Nam Nhất Thống Chí: “Vàng ở huyện Võ Nhai có mỏ Kim Hỷ, mỏ Thuần Mang, mỏ Bảo Nang Sắt có ở huyện Phổ Yên, Đồng Hỷ, Phú Lương Than có sẵn ở huyện Phú Lương Than gỗ có sẵn ở huyện Đồng
Hỷ Chè Nam có sẵn ở các huyện Phú Lương, Đồng Hỷ, Đại Từ, Phổ Yên, vị ngon hơn chè ở các nơi khác Nhựa thông, nhựa trám có sẵn ở huyện Tư Nông (nay là huyện Phú Bình) Nhung hươu, mật gấu, sáp ong… các huyện đều có Huyện Định Hoá có bạc, đồng, chì, vàng Huyện Đại Từ có trăn Huyện Phổ Yên có vượn trắng” [20, tr.21] Trong lòng đất có nhiều loại khoáng sản quý như: than, vàng, chì, sắt… Theo sử cũ: “Thời kì từ giữa thế kỉ XVIII riêng vùng châu Bạch Thông, huyện Cảm Hoá đã có đến hai ba vạn người Thiều Châu ở bên Trung Quốc đi lại làm mỏ” [10, tr.123] Rất nhiều
vùng mỏ đã được khai thác từ lâu đời như: vàng ở Võ Nhai; sắt ở Phổ Yên, Đồng Hỷ; than ở Đại Từ…
Ở tỉnh Thái Nguyên từ lâu đã là nguồn tài nguyên hấp dẫn đối với nhiều
nhà khai thác khoáng sản trong và ngoài nước “Chỉ tính riêng khoảng thời gian trị vì của 4 triều vua: Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, cả nước
có 4 mỏ chì được khai thác thì mở chì ở Quan Triều - Thái Nguyên là mỏ có trữ lượng lớn rất được chú trọng” [25, tr.17]
Những đặc điểm tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên phong phú đã ban tặng cho con người nơi đây đó là một cơ hội tốt để phát triển kinh tế trong vùng Nguồn tài nguyên dồi dào, phong phú đó đã góp phần nuôi sống con người
Trang 29Thái Nguyên Mặt khác, rừng cũng là nơi che trở cho du kích ta trong thời kỳ hoạt động, là nơi cung cấp nguồn sống sẵn có cho du kích quân trong cuộc chiến đấu với kẻ thù
Như vậy, bên cạnh những khó khăn nhất định của điều kiện tự nhiên, thì Thái Nguyên cũng có nhiều thuận lợi cho việc phát triển kinh tế trong vùng
Về mặt quân sự, Thái Nguyên có nhiều thế mạnh để phát huy các cuộc đấu tranh du kích dựa vào yếu tố như: Địa hình, sông, ngòi, hang động, núi đá…
để tổ chức các trận đánh giành được thắng lợi nhanh chóng Đồng thời đây cũng là địa bàn quan trọng để cho các lực lượng du kích hoạt động và phát triển nhanh chóng
1.2.1.2 Điều kiện dân cư
Thái Nguyên được coi là một trong những cái nôi sinh ra người thượng
cổ Trên thực tế, loài người đã cư trú ở đây từ rất sớm và cư trú cách đây từ 2
đến 3 vạn năm: “Khu di tích Thần Xa thuộc xã Thần Xa huyện Võ Nhai với di chỉ Phiêng Tụng, hang đá Ngườm, Thăm Chong, Nà Ngần đã chứng minh sự tồn tại của một nền văn hoá cổ ở Việt Nam và cả ở vùng Đông Nam Á nói chung - Văn hoá Thần Sa” [6, tr.23] Đặc biệt ở Võ Nhai còn có di chỉ thời kì
đồ đá: Văn hoá Hoà Bình, văn hoá Bắc Sơn Người Việt cổ sinh sống chủ yếu trong các hang động mái đá bằng nghề săn bắt, hái lượm và hình thành nên các bộ tộc người nguyên thuỷ Trải dài theo lịch sử nhiều tộc người từ những
nơi khác đã đến đây sinh sống: “Thời vua Hùng dựng nước, cư dân Thái Nguyên chủ yếu là người Việt cổ từ các bộ lạc đồng bằng di cư lên, sống xen
kẽ với tổ tiên người Cao Lan, Sán Chỉ, H’Mông, Nùng, Dao, Hoa, Tày từ phía
Bắc thiên di xuống, sống dọc theo các triền núi đá” [5, tr.18]
Về thành phần dân tộc: Tỉnh Thái Nguyên có 8 dân tộc anh em sinh
sống là: Kinh, Tày, Nùng, Dao, H’Mông, Sán Chí, Sán Dìu, Hoa Mỗi dân tộc lại có những tập tục, tập quán sinh sống riêng Trước Cách mạng tháng Tám ở
Trang 30Thái Nguyên, “dân tộc Kinh (hay còn gọi là Việt) có 90.481 người (chiếm 75,5%)” [5, tr.19] dân số toàn tỉnh Đây là dân tộc mang nguồn gốc bản địa,
chiếm số lượng đông nhất Dân tộc Kinh gồm nhiều bộ phận hợp thành: Dân bản địa, dân làm công trong các mỏ đồn điền, có bộ phận là người di cư từ các vùng đồng bằng lên Địa bàn cư trú của người Kinh rộng khắp từ vùng trung
du phía Nam đến các vùng núi rừng hẻo lánh phía Bắc, trong đó tập trung nhiều ở thành phố Người Kinh có kinh nghiệm sản xuất và khả năng tiếp thu nhanh các tiến bộ khoa học kỹ thuật Tổ chức xã hội của người Kinh cũng rất chặt chẽ, từ thành thị đến nông thôn mang nét đặc thù tiêu biểu của cơ cấu xã hội Việt Nam Xuất phát từ đặc điểm cư trú, người Kinh có truyền thống trồng lúa nước, làm nông nghiệp và các nghề thủ công
“Dân tộc có số người đông thứ hai ở tỉnh Thái Nguyên là người Tày có 15.325 người (chiếm 10,69%)” [5, tr.19] Người Tày ở Thái Nguyên có từ rất
lâu đời Tổ tiên của người Tày vốn là cư dân bản địa ở Bắc Việt Nam và miền giáp gianh biên giới Việt - Trung Nền văn hóa của họ gọi chung là nền văn hóa Tày - Thái Địa bàn cư trú của người Tày rộng khắp trong phạm vi toàn tỉnh, song chủ yếu ở những huyện miền núi, vùng cao: Định Hóa, Phú Lương, Đại Từ, Võ Nhai Người Tày có truyền thống về một số ngành thủ công như đan lát, dệt vải,…
“Dân tộc Nùng ở Thái Nguyên có 6.383 người (chiếm 5,13%)” [5, tr.20]
dân số toàn tỉnh Ở tất cả các huyện, thị trong tỉnh đều có người Nùng, xong tập trung đông nhất là ở Đồng Hỷ, Võ Nhai, Đại Từ
Ngoài ra, tỉnh Thái Nguyên còn có các dân tộc thiểu số như: Nùng, Sán Dìu, Cao Lan, Mường, Hoa… Mặc dù các dân tộc trong tỉnh có sự khác nhau
về tiếng nói, ngôn ngữ, phong tục, tập quán, tín ngưỡng tôn giáo nhưng lại có tinh thần đoàn kết yêu thương, giúp đỡ lẫn nhau để vượt qua mọi khó khăn trong cuộc sống Chính những điều kiện tự nhiên đầy khắc nghiệt đã sớm hun
Trang 31đúc tình yêu thương, truyền thống lá lành đùm lá rách, tạo nên một sức mạnh
có thể chống lại mọi thiên tai, địch hoạ Vì thế, tính cộng đồng, đoàn kết, gắn
bó giúp đỡ lẫn nhau được các dân tộc Thái Nguyên phát huy mạnh mẽ:
“Trước Cách mạng tháng Tám 1945, các dân tộc ở Thái Nguyên cũng như
bao dân tộc khác trong cả nước bị áp bức bóc lột rất nặng nề, đặc biệt là một
số dân tộc vùng núi chủ yếu còn sống du canh, du cư, đời sống kinh tế, văn
hoá nghèo nàn, lạc hậu Song vượt lên mọi khó khăn gian khổ, các dân tộc
Thái Nguyên đã đoàn kết chế ngự thiên nhiên, chống kẻ thù xâm lược, giải
phóng quê hương” [5, tr.18]
Ngoài truyền thống cần cù lao động, nhân dân các dân tộc Thái Nguyên
còn có truyền thống hiếu học Ở những thế kỉ trước, khi quê hương đất nước
còn triền miên trong cảnh tranh giành quyền lực của các triều đình phong
kiến, nạn ngoại xâm thường xuyên đe doạ, nhân dân phải sống trong đau khổ,
áp bức thì ở Thái Nguyên đã có hàng chục vị đại khoa, tiến sỹ (học vị cao
nhất dưới thời phong kiến), tiêu biểu:
“1 - Trình Hiển - thuộc xứ Thái Nguyên đỗ Tiến sỹ năm 1429
2 - Nguyễn Cầu, quê ở Phổ Yên, đỗ Tiến sĩ năm 1463
3 - Đỗ Cận, người xã Thống Thượng (nay xã Minh Đức - Phổ Yên), đỗ
Tiến sỹ năm 1478
4 - Phạm Nhĩ, quê Đồng Hỷ, đỗ Tiến sỹ năm 1493
5 - Đàm Chí, quê Túc Duyên - Đồng Hỷ, đỗ Tiến sỹ năm 1535
6 - Dương Ức, quê Hoá Trung - Đồng Hỷ, đỗ Tiến sỹ năm 1641
7 - Đồng Doãn Giai, quê Hùng Sơn - Đại Từ, đỗ Tiến sỹ năm 1763” [5, tr.22]
1.2.2 Điều kiện lịch sử chính trị, kinh tế, xã hội
Từ khi thực dân Pháp xâm lược, đời sống của các tầng lớp nhân dân vô
cùng cực khổ Năm 1884, thực dân Pháp mở rộng đánh chiếm lên Thái
Trang 32Nguyên Ngay sau đó, chúng thiết lập bộ máy cai trị: Về chính trị, chúng đã xây dựng hệ thống chính quyền từ tỉnh xuống tới địa phương gồm có 3 cấp: Tỉnh, tổng và xã (thôn) Đứng đầu tỉnh là viên Công sứ người Pháp thuộc ngạch quan cai trị hạng tư; tổng có Chánh tổng, Phó Tổng quản cai trị; xã (thôn) có Lý trưởng, Phó Lý trưởng và hội đồng Kì hào, Kì mục điều hành công việc Về quan lại người Việt do thực dân Pháp sử dụng để làm tay sai cho chúng gồm: Một Án sát phụ trách chung toàn tỉnh; một Thương tá làm phụ tá cho Án sát; bốn Tri phủ ở Phú Bình và Đại Từ, Tri huyện ở Phổ Yên, Phú Lương, Võ Nhai, Đồng Hỷ và một Tri châu ở Định Hoá; một mang hàm Tri phủ phụ trách trung tâm Phương Độ
Để củng cố bộ máy cai trị, thực dân Pháp đã ráo riết thiết lập hệ thống đồn bốt và cho xây dựng nhiều nhà tù Từ 1903, tại trung tâm thị xã Thái Nguyên, chúng đã cho xây dựng một nhà tù lớn do viên Công sứ trực tiếp chỉ huy Năm 1922, chúng cho xây dựng thêm nhà tù chợ Chu (Định Hoá), Căng
Bá Vân (Đồng Hỷ)… Ngoài ra, mạng lưới đồn bốt ngày càng mọc lên dày đặc
và rất nhiều trạm canh gác được đặt trên các tuyến đường giao thông Đặc biệt, biết rõ được vị trí chiến lược quan trọng của địa bàn Võ Nhai (Thái
Nguyên), chúng đã bố trí ở đây một lực lượng quân sự lớn: “Gần 60 đồn binh: Dác Kiết, Làng Hích, Bắc Lao, Cúc Đình (Cúc đường), Đình Cả, Tràng
Xá Mỗi đồn binh lẻ có từ 30 đến 50 lính những đồn binh lớn có từ 100 đến
200 lính Những đồn binh này thuộc quân đội Pháp, do người Pháp trực tiếp chỉ huy, gồm lính Lê Dương (người Âu Phi), lính khố đỏ (người Việt Nam) Nếu tính trung bình mỗi đồn là 50 lính thì trên địa bàn Võ Nhai có ít nhất 300 lính chính quy Ngoài ra, ở Võ Nhai còn có lính dõng do bọn quan Việt chỉ huy Bọn lính này được trang bị súng đạn để đóng ở châu lỵ Như vậy, tổng số quân lính vũ trang trên địa bàn Võ Nhai có trên dưới 400 tên, trải ra thành một mạng lưới đóng chốt ở những đầu mối quan trọng nhất chụp lãnh thổ Võ
Trang 33Nhai Theo tài liệu thống kê của Pháp, đầu những năm 20 của thế kỉ XX huyện Võ Nhai có khoảng 1500 hộ dân Trung bình từ 4 - 5 hộ dân ở Võ Nhai
có một họng súng của thực dân Pháp chĩa vào” [6, tr.10 - 11]
Về đời sống của nhân dân: thực dân, phong kiến ra sức vơ vét của cải của nhân dân dưới nhiều hình thức như: chiếm đoạt ruộng đất của nhân dân;
vơ vét thuế khoá… Đời sống của nhân dân đã khổ cực lại càng khổ cực hơn:
“Chỉ tính riêng đến năm 1918, chính quyền thực dân Pháp đã cướp của nông dân Thái Nguyên 80,756 ha đất để lập 24 đồn điền” [5, tr.38] Ngay từ đầu,
cùng với việc thiết lập bộ máy cai trị thực dân xâm lược, chúng đã đặt ra nhiều thứ thuế bóp nghẹt nhân dân ta: Thuế đinh (còn gọi là thuế thân) là thứ thuế vô nhân đạo, đánh vào nam giới từ 18 tuổi trở lên, sau thuế đinh là thuế điền đánh vào ruộng đất Ngoài ra, nhân dân ta còn phải nộp nhiều loại thứ thuế khác như: Môn bài, thuế trâu bò, thuế gà vịt cùng nhiều loại phu phen tạp dịch khác Điển hình như ở: Định Hoá, Võ Nhai, Đồng Hỷ (Thái Nguyên) thuế khóa là chính sách bóc lột chủ yếu đối với nhân dân, được bọn thực dân duy trì và tăng mức ngày càng cao Theo tài liệu của Pháp để lại thì năm
1931, ở Định Hoá có 1966 xuất đinh chúng đã thu được 8257,25 đồng tiền sưu, bình quân mỗi xuất sưu 2,8 đồng tương đương một tạ thóc, đến năm
1939 tăng lên 3,79 đồng Tất cả các loại thuế thường xuyên bị chúng điều chỉnh mà chỉ điều chỉnh tăng chứ không giảm Riêng từ năm 1921 - 1944, chúng đã điều chỉnh tới 5 lần, tăng lên 3,7 lần Dưới sự áp bức bóc lột đời
sống của nhân dân ngày càng điêu đứng: “Năm 1931, tỉnh Thái Nguyên chỉ có hơn 80000 dân, nhưng đã phải nộp cho thực dân Pháp tới 286413 đồng tiền thuế các loại” [5, tr.40] Chính sách vơ vét của thực dân xâm lược là mối đe
doạ, gánh nặng khủng khiếp đối với mọi gia đình, mọi người dân và nó dồn con người tới chân tường Đến khi phát xít Nhật nhảy vào thì nỗi khổ của
nhân dân lại tăng thêm nhiều lần “Một cổ hai tròng”
Trang 34Bên cạnh đó, chúng còn thực hiện rất nhiều chính sách thâm độc, gây nhiều tội ác đối với nhân dân Chúng đã khuyến khích duy trì những phong tục tập quán lạc hậu, mê tín dị đoan, phổ biến lối ăn chơi truỵ lạc (bắt nhân
dân ta phải uống “rượu ty” của chúng đưa về; làng bản nào không tiêu thụ hết
số rượu của chúng phải trả tiền và lại bị coi là phiến loạn) Dã man hơn, chúng còn dùng thuốc phiện để đầu độc nhân dân ta làm suy yếu giống nòi; nhiều tiệm hút, tiệm rượu được mở ra để thu hút lôi kéo nhân dân, làm điêu
đứng cuộc sống của nhân dân: “Năm 1910, nhân dân tỉnh Thái Nguyên phải tiêu thụ 43626 lít rượu cồn, 710kg thuốc phiện mang lại nguồn lãi lớn cho bọn thực dân phong kiến” [5, tr.42] Ngoài ra, chúng không chú ý gì đến vấn
đề y tế, văn hoá, đặc biệt là giáo dục nên đa số người dân bị mù chữ
Như vậy, dưới ách thống trị của bọn chủ nghĩa đế quốc thực dân, phong kiến đời sống của các tầng lớp nhân dân vô cùng cực khổ, chính sự áp bức bóc lột đầy bất công dồn con người đến đường cùng đã hun đúc nên một ý chí đầy căm thù trong lòng quần chúng lao động và trở thành nguồn động lực của các phong trào đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc thực dân sau này
1.2.3 Truyền thống văn hóa, đấu tranh cách mạng
Truyền thống văn hóa
Mỗi dân tộc đều có vốn văn hóa mang bản sắc phong phú và đa dạng Nhìn chung, trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 đời sống kinh tế, văn hóa của các dân tộc ở Thái Nguyên còn thấp Tuy vậy, họ sống chất phác, chân thành, phong tục tập quán thuần hậu Do mỗi dân tộc có một sắc thái văn hóa độc đáo riêng nên sự hội tụ của các nền văn hóa đó đã tạo nên một nền văn hoá tổng thể rất phong phú và đa dạng, đúng như Giáo sư Trần Quốc Vượng
đã viết: “Hội tụ và tiếp xúc là đặc điểm của Thái Nguyên” [43, tr.101]
Hầu hết con người nơi đây đều không theo một tôn giáo chính thống nào
mà chịu ảnh hưởng của cả Tam giáo (Đạo giáo, Nho giáo, Phật giáo) Nhân
Trang 35dân các dân tộc Thái Nguyên phần lớn là cư dân nông nghiệp, sống phụ thuộc
vào tự nhiên nên đồng bào tin vào thuyết “vạn vật hữu linh” Họ coi núi sông,
đất đá, những vì tinh tú, mặt trăng, mặt trời, cây cỏ đều mang tính linh thiêng,
có linh hồn trong đó Chính vì vậy, họ thờ trời, đất, thờ cả cây cỏ, đất đá…để mong mùa màng bội thu, cuộc sống no ấm Bên cạnh đó, các dân tộc nơi đây đều có tục thờ cúng tổ tiên trong gia đình Những gia đình cùng dòng họ thì
có chung miếu thờ thổ công, thổ địa Do nhu cầu của việc cúng bái, trong các
làng bản của đồng bào có một tầng lớp người gọi chung là: “Thầy” (Mo,
Then, Tào, Pụt) Họ cho rằng, các thầy này được thần linh, thượng đế ban cho
họ để thực hiện nhiệm vụ truyền chỉ và giúp dân giải quyết những khó khăn,
vướng mắc trong cuộc đời bằng các nghi lễ cúng bái Vì thế, những vị “Thầy”
này rất được kính nể, tin theo họ giữ một vị trí quan trọng trong đời sống tinh thần của dân chúng
Truyền thống đấu tranh cách mạng
Từ lịch sử ngàn đời xưa của dân tộc, nhân dân Thái Nguyên đã sớm tham gia vào phong trào đấu tranh chống giặc ngoại xâm bảo vệ và giữ vững
bờ cõi đất nước Nét nổi bật của nhân dân Việt Bắc nói chung và nhân dân Thái Nguyên nói riêng là có tính cộng đồng sâu sắc; họ tự nguyện và hăng hái tham gia vào các cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm Sinh tụ trên một địa bàn chiến lược quan trọng tiếp giáp với nhiều tỉnh nên nhân dân các dân tộc tỉnh Thái Nguyên đã sớm ý thức được vai trò của mình trong nhiệm vụ chống giặc ngoại xâm, bảo vệ biên cương Tổ quốc Điều đó trở thành truyền thống quý báu của nhân dân các dân tộc tỉnh Thái Nguyên
Theo Sử cũ, cuối thế kỉ II TCN, khi nhà Hán tiến đánh đất Nam Việt của Triệu Đà thì nhân dân tỉnh Thái Nguyên đã theo Tây Vu Vương nổi dậy nhằm khôi phục độc lập của dân tộc Năm 40, cùng với nhân dân cả nước nhân dân
tỉnh ta lại tập hợp dưới lá cờ: “Đền nợ nước, trả thù nhà” của hai vị anh hùng
Trang 36dân tộc là Trưng Trắc và Trưng Nhị Sang thời nhà Lý (Lý Nhân Tông), nhân dân tỉnh Thái Nguyên cũng đã góp sức chống quân Tống xâm lược, đặc biệt dưới sự lãnh đạo của vị anh hùng tù trưởng Dương Tự Minh (một võ quan của triều nhà Lý), đã lập được nhiều chiến công đánh tan quân Tống trên phòng tuyến sông Cầu Đầu thế kỷ thứ XIII, triều Lý sụp đổ, triều Trần được thành lập Trong thời gian này, nhân dân Thái Nguyên đã góp phần cùng với triều Trần ba lần kháng chiến chống quân Nguyên Mông thắng lợi
Đầu thế kỷ XV, đất nước ta bị giặc Minh đô hộ Không cam chịu kiếp sống nô lệ, cùng với nhân dân cả nước Đại Việt lúc bấy giờ, nhân dân Thái Nguyên đã thổi bùng lên phong trào nổi dậy chống quân xâm lược nhà Minh
Mở đầu cho phong trào này là cuộc khởi nghĩa nổ ra năm 1408, do Trần Nguyên Kháng và Nguyễn Đa Bí lãnh đạo Bên cạnh đó các nghĩa quân lợi dụng địa hình hiểm trở của núi rừng chặn đánh địch rất hiệu quả Điều này cho chúng ta thấy rằng cách đánh du kích cũng đã được nhân dân tỉnh Thái Nguyên vận dụng rất sớm và có hiệu quả Đến thời Lê Sơ, thế kỉ thứ XV, nhân dân Cao Bằng hưởng ứng Lê Lợi phất cờ khởi nghĩa giết chết tướng giặc
là Cao Sĩ Vân ở Quảng Nguyên Trong trận chiến này, Lưu Nhân Chú người Đại Từ (Thái Nguyên) đã thể hiện tài quân sự kiệt xuất; ông trở thành một trong những vị tướng tài giỏi của Lê Lợi
Trong các thế kỷ: XVI, XVII, XVIII, đất nước ta bước vào thời kỳ phân liệt kéo dài Chiến tranh liên miên giữa các thế lực phong kiến Lê - Trịnh - Mạc, rồi Trịnh - Nguyễn làm cho nhân dân ta điêu đứng Các cuộc khởi nghĩa của nhân dân chống lại triều đình nhà Nhà Nguyễn liên tiếp nổ ra Tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa của Nông Văn Vân (ở huyện Bảo Lạc - Cao Bằng), chống lại triều đình nhà Nguyễn (từ năm 1833 đến 1835), Thái Nguyên vừa là địa bàn hoạt động của nghĩa quân, vừa là lá chắn bảo vệ cho căn cứ của cuộc khởi nghĩa
Khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước ta năm 1858 và đặc biệt khi
Trang 37chúng tập trung đánh chiếm các tỉnh thượng du Bắc Kỳ trong đó có Thái Nguyên, (ngày 13/7/1884), chúng đã vấp phải sự kháng cự quyết liệt của quân
ta do Nguyễn Quang Khoáng chỉ huy Đến chiều ngày 19 tháng 3, Nguyễn Quang Khoáng tử trận quân ta buộc phải rút lui sau khi ra khỏi thành Thái Nguyên và sau đó lực lượng quân đội cùng với nhân dân Thái Nguyên tổ chức đánh du kích tiêu hao dần lực lượng quân đội Pháp Đây chính là cuộc đấu tranh du kích đầu tiên của nhân dân Thái Nguyên Mặc dù còn nhiều thiếu sót nhưng từ trong đấu tranh, nhân dân ta đã để lại nhiều kinh nghiệm quý báu cho phong trào du kích ở Thái Nguyên sau này
Đến ngày 10/5/1884, Pháp mở rộng đánh chiếm lên Thái Nguyên lần thứ
3 nhưng đã vấp phải sự kháng cự của đội quân do Phùng Bá Chỉ chỉ huy Cùng lúc đó, nghĩa quân Yên Thế do Hoàng Hoa Thám lãnh đạo từ Bắc Giang tràn qua Thái Nguyên Trước tình hình như vậy, nhân dân các huyện Phú Bình, Phổ Yên, Đại Từ, Phú Lương… đã hăng hái hưởng ứng tiếp tế lương thực, thực phẩm, dẫn đường cho nghĩa quân và gây cho địch nhiều thiệt
hại: “Theo báo cáo của địch trong cả tám tổng, ba mươi làng ở Võ Nhai đồng bào ta ở các làng bản chạy hết vào rừng theo nghĩa quân, nhiều trận đánh quyết liệt đã diễn ra ở Võ Nhai, Phổ Yên, Đại Từ, Tính riêng vùng Đại từ trong những ngày đầu từ năm 1896, dưới sự chỉ huy của Đề Nguyên quân và dân ta đánh địch tất cả mười sáu trận diệt hàng chục tên” [10, tr.25]
Đặc biệt ở các huyện phía Bắc, ngày 10/1/1897, nghĩa quân của Mã Mang đã tiến hành phục kích một đoàn vận tải từ thị xã Thái Nguyên ngược sông Cầu lên chợ Mới đánh thiệt hại nặng quân địch hộ tống, thu nhiều vũ khí
và hàng hoá Trong cuộc khởi nghĩa này, nhân dân Thái Nguyên đã phối hợp với nhân dân và đội quân Yên Thế tổ chức nhiều trận mai phục, phục kích Đây là hình thức tác chiến của nghĩa quân đánh du kích lấy ít đánh nhiều, lấy yếu đánh mạnh Nghĩa quân thường tổ chức những trận đánh nhỏ dựa vào địa
Trang 38hình hiểm trở và công sự để đánh gần, đánh nhanh rồi rút lui nhanh Cũng từ đây, hình thức đấu tranh du kích đã phát triển cao hơn và giành được nhiều thắng lợi quan trọng
Bước sang thế kỷ XX, hầu hết các cuộc khởi nghĩa chống Pháp của nhân dân cả nước đều thất bại, thực dân Pháp đẩy mạnh khai thác thuộc địa trên quy mô lớn nhất Trong bối cảnh đó, là một tỉnh có nhiều tài nguyên, khoáng sản quý và phong phú, Thái Nguyên đã trở thành một trong những miếng mồi của nhiều thế lực thực dân, địa chủ khác nhau Thực dân Pháp đã ráo riết xây dựng bộ máy cai trị và đàn áp ở Thái Nguyên Việc làm đó của thực dân Pháp
đã dẫn đến hậu quả là làm cho đời sống của các tầng lớp nhân dân vô cùng khổ cực, điêu đứng
Với chính sách thâm độc trên tất cả các lĩnh vực và bằng bộ máy cai trị, đàn áp vô cùng tàn bạo, thực dân Pháp đã đẩy các tầng lớp nhân dân tỉnh Thái Nguyên vào cuộc sống vô cùng đói rét, khổ cực Trước thực trạng đó, nhân dân tỉnh Thái Nguyên đã nổi dậy đấu tranh ở nhiều nơi Đó là cuộc đấu tranh chống cúp lương, chống đánh đập của hơn 3000 công nhân mỏ kẽm làng Hích tháng 11 năm 1913; tiếp đó là cuộc đấu tranh chống phạt vạ của công nhân
mỏ than Phấn Mễ Nhiều tên cai, xếp tay sai đắc lực của bọn chủ mỏ đã bị công nhân ta trừng trị đích đáng
Tiêu biểu nhất trong phong trào đấu tranh thời kỳ này là cuộc khởi nghĩa của binh lính người Việt trong quân đội Pháp và các tầng lớp nhân dân Thái Nguyên do Trịnh Văn Cấn và Lương Ngọc Quyến lãnh đạo Cuộc khởi nghĩa
nổ ra vào đêm 30 rạng sáng ngày 31 tháng 8 năm 1917 tại thị xã Thái Nguyên Trước khi nổ ra khởi nghĩa Thái Nguyên, Đội Cấn và các binh lính yêu
nước đã nhiều lần định nổi dậy khởi nghĩa: “Khi còn ở đồn Chợ Chu (Định Hóa), Đội Cấn định nổi dậy rồi kéo quân về đánh chiếm tỉnh lỵ Thái Nguyên Tháng 5 năm 1917, khi quan Giám binh Nôen đi áp tải thuế ở Hùng Sơn (Đại
Từ ), Đội Cấn định bất ngờ giết Nôen trên đường đi rồi bí mật về tuyên bố
Trang 39chiếm trại lính khố xanh Nhân quốc khánh Pháp (ngày 14 tháng 7), các binh lính yêu nước định lợi dụng lúc điểm binh bất ngờ nổ súng chiếm đồn, trại Nhưng tất cả các kế hoạch đó đều không thành” [13, tr.41]
Đến tháng 8 năm 1917, có tin lính khố xanh ở Thái Nguyên sắp bị chuyển đi các nơi, một số sẽ sang Châu Âu tham chiến Chính nguồn tin này
đã thôi thúc binh lính Thái Nguyên nhanh chóng hành động Trưa ngày Chủ nhật (ngày 29 tháng 8), dưới hình thức mời cơm thân mật, Đội Cấn đã họp Ban chỉ huy gồm: Đội Gia, Đội Trường, Cai Xuyên, Đội Năm, Đội Lự,…quyết định sẽ khởi nghĩa vào 23 giờ ngày 30 tháng 8 và phân công nhiệm vụ cho từng người Việc giết quan Giám binh Nôen (trực tiếp chỉ huy trại lính khố xanh) và Phó quản Lạp (tay sai đắc lực của Nôen) được coi là hành động mở đầu cho cuộc khởi nghĩa Ngay sau đó, Đội Cấn đã ra lệnh tập hợp toàn bộ binh lính khố xanh tuyên bố khởi nghĩa Trong số 175 binh lính khố xanh, 34 người sợ hãi bỏ trốn, 10 người già yếu xin nộp súng về quê, còn lại 131 người ở lại đã hoàn toàn làm chủ trại lính khố xanh Trước tình thế
thuận lợi cho cách mạng, “rạng sáng ngày 31 tháng 8 năm 1917, nghĩa quân tiếp tục đánh chiếm Sở Lục Lộ, Sở Điền bạ, Tòa án, Nhà Đoan, kho vũ khí Chiều ngày 31 tháng 8, Đội Năm chỉ huy 50 nghĩa binh đánh chiếm kho bạc Nghĩa quân đã hoàn toàn làm chủ tỉnh lỵ (trừ trại lính Tây), thu súng mút cơ tông, 75 súng trường, 197 súng các bin, 1 súng lục, 16 thanh kiếm, 92.175 viên đạn các loại và 72.501 đồng tiền Đông Dương Những vũ khí mà nghĩa quân thu được có ý nghĩa to lớn trong việc phòng thủ và chống trả quân địch trong thời gian sau” [13, tr.47]
Ngay sau khi nổi dậy khởi nghĩa làm chủ thị xã Thái Nguyên, Đội Cấn (Tư lệnh trưởng Quang phục quân Thái Nguyên) và Lương Ngọc Quyến (Quân sư) đã bàn tính việc quân cơ, viết các bố cáo khởi nghĩa Nghĩa quân
lấy lá cờ 5 ngôi sao lớn, đề 4 chữ “Nam Binh Phục Quốc” làm Quân kỳ, treo
ngoài cửa thành Thái Nguyên, phát hịch tuyên bố Thái Nguyên độc lập, đặt
Trang 40quốc hiệu là Đại Hùng Đêm 30, rạng sáng ngày 31 tháng 8, nhân dân Thái Nguyên lần đầu tiên được nghe bản tuyên ngôn và lời kêu gọi của nghĩa quân
được truyền đi bằng loa: “Chúng ta hãy mau chóng lợi dụng cơ hội ngàn năm
có một, cơ hội thật hiếm có này để rửa nhục, để trả thù … Quân lính của chúng tôi không làm điều gì xấu xa, không ăn cướp tài sản của dân Ở bất cứ nơi đâu, họ chỉ quan tâm tới việc dành lại đất đai của tổ tiên, tiêu diệt loài ngoại bang” [40, tr.278 - 279]
Ngày 31 tháng 8, Quang phục quân đại đô đốc Trịnh Văn Cấn ra lời kêu
gọi: “Hỡi đồng bào! Chúng ta phải cùng nhau gắng công, ra sức, phen này hẳn làm tròn sự nghiệp vĩ đại, lá cờ Ngũ tinh được phấp phới vẻ vang khắp cả năm châu, không phụ lòng trông mong, tin cậy của Tổ quốc Hỡi đồng bào! Một quốc gia tân tạo, bền vững thiên thu vạn tuế bắt đầu xây dựng từ ngày hôm nay Toàn thể đồng bào cùng có trách nhiệm tháo ách nô lệ đè đầu, cưỡi
cổ chúng ta bấy lâu” [39, tr.128]
Hưởng ứng lời kêu gọi của nghĩa quân, sáng ngày 31 tháng 8, có 312 người gồm các tầng lớp nhân dân Thái Nguyên đã tới tham gia nghĩa quân Tổng số nghĩa quân lên tới trên 600 người, được chia thành 8 đội, thành lập 8 phòng tuyến Nghĩa quân đào hầm, hào trên các ngả đường để chuẩn bị đánh giặc, cố thủ thành Thái Nguyên Về phía địch, ngay đêm 30 tháng 8, quyền Thống sứ Bắc Kỳ sau khi được tin báo binh lính Thái Nguyên nổi dậy làm binh biến đã quyết định tập trung toàn bộ lực lượng quân đội ở Bắc Kỳ nhanh chóng dập tắt cuộc khởi nghĩa, không cho cuộc khởi nghĩa lan tràn ra các nơi
khác Kẻ địch đã thừa nhận “cuộc chống cự của quân phiến loạn đã diễn ra
ác liệt ngay từ trận đụng độ đầu tiên” [1, tr.98] Trận chiến đấu quyết liệt tại
núi Pháo (Đại Từ) ngày 10 tháng 1 năm 1918, đã kết thúc cuộc khởi nghĩa Thái Nguyên do Đội Cấn và Lương Ngọc Quyến lãnh đạo
Đây là lần đầu tiên trong lịch sử cận đại Việt Nam, một cuộc khởi nghĩa