Việc tìm hiểu, nghiên cứu về sự phát triển giáo dục, đào tạo của tỉnh Phú Thọ nhằm khẳng định vai trò của Đảng bộ tỉnh đối với việc lãnh đạo sự nghiệp giáo dục và đào tạo đồng thời đánh
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA LỊCH SỬ -
TRẦN THỊ YẾN
ĐẢNG BỘ TỈNH PHÚ THỌ
LÃNH ĐẠO GIÁO DỤC - ĐÀO TẠO
TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2010
TÓM TẮT KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học:
TS TRẦN THỊ VUI
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 ĐẢNG BỘ TỈNH PHÚ THỌ LÃNH ĐẠO GIÁO DỤC- ĐÀO TẠO TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2005 7
1.1 Cơ sở để Đảng bộ tỉnh Phú Thọ lãnh đạo giáo dục – đào tạo từ năm 1997 đến năm 2005 7
1.2 Đảng bộ tỉnh Phú Thọ lãnh đạo giáo dục – đào tạo từ năm 1997 đến năm 2005 19
Chương 2 ĐẢNG BỘ TỈNH PHÚ THỌ LÃNH ĐẠO GIÁO DỤC – ĐÀO TẠO TỪ NĂM 2006 ĐẾN NĂM 2010 39
2.1 Chủ trương của Đảng về giáo dục – đào tạo từ năm 2006 đến năm 2010 39
2.2 Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Phú Thọ về giáo dục – đào tạo 43
2.3 Đảng bộ tỉnh Phú Thọ lãnh đạo thực hiện giáo dục – đào tạo 45
Chương 3 NHẬN XÉT VÀ MỘT SỐ KINH NGHIỆM 59
3.1 Nhận xét 59
3.2 Một số kinh nghiệm 65
KẾT LUẬN 69
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 71
Trang 3DANH MỤC NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT TRONG KHÓA LUẬN
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành Khóa luận tốt nghiệp này, tác giả xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu, Ban chủ nhiệm khoa, quý Thầy, cô giáo khoa Lịch sử trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 và quý thầy cô giáo trực tiếp giảng dạy đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập
Tác giả xin chân thành cảm ơn: Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Phú Thọ, Cục thống kê tỉnh Phú Thọ, Ban Tuyên giáo tỉnh Phú Thọ, Thư viện tỉnh Phú Thọ, UBND các xã trong tỉnh đã tạo điều kiện thuận lợi trong suốt thời gian thực hiện Khóa luận tốt nghiệp
Đặc biệt, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô hướng dẫn: TS Trần Thị Vui, cô đã luôn tận tình hướng dẫn, chỉ bảo trong suốt thời gian
nghiên cứu và hoàn thành Khóa luận
Tác giả cảm ơn tập thể lớp K37A - CN Lịch Sử, trường ĐHSP Hà Nội
2 đã đóng góp ý kiến trong quá trình học tập và thực hiện Khóa luận
Do hạn chế về nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu nên khóa luận không tránh khỏi thiếu xót Rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến từ các thầy cô và các bạn để khóa luận được hoàn chỉnh hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 12 tháng 05 năm 2015
Tác giả
Trần Thị Yến
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu, kết quả nêu trong luận văn này là trung thực và chưa từng được ai công
bố trong bất kỳ công trình nào khác
Hà Nội, Ngày 12 tháng 05 năm 2015
Tác giả
Trần Thị Yến
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Ngày nay khi mà trí tuệ đã trở thành yếu tố hàng đầu thể hiện quyền lực
và sức mạnh của một quốc gia thì các nước trên thế giới đều ý thức được rằng giáo dục - đào tạo thực sự là đòn bẩy quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội Giáo dục - đào tạo luôn giữ vai trò đặc biệt quan trọng góp phần vào lưu giữ những truyền thống tốt đẹp của dân tộc, đồng thời phát triển nền kinh tế tri thức Trước bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ và tin học thì giáo dục - đào tạo có vai trò quan trọng quyết định vị thế của mỗi quốc gia, dân tộc trên trường quốc tế Chính vì vậy, tất các nước trên thế giới đều coi trọng sự phát triển của giáo dục và đào tạo
Chủ tịch Hồ Chí Minh quan niệm rằng “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu” Người cho rằng sự dốt nát cũng là một kẻ địch mà ta cần phải chống Vì vậy người chủ trương phải phát triển nền giáo dục thì mới xây dựng được chủ nghĩa xã hội, mới tiến kịp được sự phát triển chung của nhân loại Với mục tiêu của chiến lược “trồng người” là “dạy dỗ con em của nhân dân thành người công dân tốt, người lao động tốt, người chiến sĩ tốt, người cán bộ tốt của nước nhà”, theo Người phải xây dựng một nền giáo dục toàn diện để đào tạo những con người có đức có tài
Tháng 12/1986, với đường lối đổi mới của Đảng, một luồng gió đầy sinh khí đã đưa đất nước chuyển mình sang một thời kỳ mới Hoàn cảnh khách quan và chủ quan đã đặt ra nhiều thời cơ và thách thức đòi hỏi nền giáo dục Việt Nam phải phát triển với tốc độ cao, đạt tới trình độ phù hợp, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
Đại hội VII (1991), Đại hội VIII (1996) và trong chiến lược phát triển giáo dục 2000-2010, Đảng ta đã khẳng định: Khoa học và công nghệ cùng với giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu để phát triển nguồn lực nhằm đưa
Trang 7đất nước ta thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu, vươn lên trình độ tiên tiến thế giới Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 của Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII đã khẳng định: “Nhận thức sâu sắc giáo dục và đào tạo cùng với khoa học công nghệ là nhân tố quyết định tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội, đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển”
Nhận thức rõ tầm quan trọng của giáo dục và đào tạo đối với sự phát triển của kinh tế - xã hội và căn cứ vào những chủ trương chung của Đảng về giáo dục và đào tạo, Phú Thọ cũng như nhiều địa phương khác trên cả nước
đã và đang nỗ lực phấn đấu hết mình đưa sự nghiệp giáo dục và đào tạo của tỉnh đi lên khẳng định vị trí, vai trò đối với sự phát triển kinh tế - xã hội Bên cạnh những thành tích đạt được giáo dục - đào tạo Phú Thọ vẫn còn nhiều hạn chế: Chất lượng giáo dục còn nhiều vấn đề cần quan tâm, qui mô phát triển giáo dục chưa đáp ứng nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực cho tỉnh, cơ sở vật chất, hạ tầng còn thiếu thốn, đội ngũ giáo viên còn thiếu nhiều
Việc tìm hiểu, nghiên cứu về sự phát triển giáo dục, đào tạo của tỉnh Phú Thọ nhằm khẳng định vai trò của Đảng bộ tỉnh đối với việc lãnh đạo sự nghiệp giáo dục và đào tạo đồng thời đánh giá khách quan những thành tựu cũng như hạn chế từ đó rút ra được một số kinh nghiệm có ý nghĩa lý luận và thực tiễn, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của
địa phương Với ý nghĩa đó tôi chọn đề tài “Đảng bộ tỉnh Phú Thọ lãnh đạo giáo dục - đào tạo từ năm 1997 đến năm 2010” làm đề tài khóa luận tốt
nghiệp đại học chuyên nghành lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Vấn đề giáo dục và đào tạo có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển toàn diện của đất nước nên luôn được Đảng, Nhà nước và toàn xã hội quan tâm Các nhà khoa học, đầu tư nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau
Thứ nhất, các công trình nghiên cứu đề cập đến giáo dục – đào tạo nói
Trang 8Trần Hồng Quân, Nxb Khoa học Xã Hội, Hà Nội năm 1996; GS Phạm Minh
Hạc, Giáo dục Việt Nam trước ngưỡng cửa thế kỷ XXI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 1999; PGS,TS Nghiêm Đình Vỳ, Giáo dục Việt Nam từ sau Cách mạng Tháng Tám đến nay, NXb Đại học Sư phạm, Hà Nội, 2002; Giáo dục Việt Nam trong bối cảnh là thành viên của WTO – cơ hội và thách thức,
in trong kỷ yếu hội thảo khoa học, Hà Nội, năm 2007;… Những công trình nghiên cứu trên đã khẳng định những thành tựu, chỉ ra những hạn chế và bước đầu đề xuất một số phương hướng, giải pháp nhằm thúc đấy sự nghiệp giáo dục – đào tạo của đất nước trong những năm tiếp theo Đó là nguồn tài liệu quý giá để tôi kế thừa trong quá trình viết khóa luận của mình
Thứ hai, những bài viết, các công trình nghiên cứu đề cập đến vấn đề
giáo dục tỉnh Phú Thọ như Lịch sử Đảng bộ tỉnh Phú Thọ, NXB Chính trị quốc gia năm 2002; Giáo dục – Đào tạo Phú Thọ: Sự nghiệp “trồng người” trên mảnh đất cội nguồn của Thu Hà, Việt Cường, Tạp Chí Đông Nam Á, số
11 năm 2004; phát huy truyền thống dạy và học trên vùng đất tổ của tác giả Phan Văn Lân, Tạp chí Thương mại số 13 năm 2005; Luận văn Đảng bộ tỉnh Phú Thọ lãnh đạo phát triển giáo dục phổ thông từ năm 1997 đến năm 2010
của Luyện Thị Thu Hưng trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn… Các
đề tài và bài viết trên đã phản ánh một số thực trạng và đưa một số giải pháp nhằm tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong sự nghiệp giáo dục và đào tạo ở giai đoạn hiện nay Tuy nhiên, trên thực tế tỉnh Phú Thọ có những nét đặc trưng riêng khác với các địa phương khác và nền giáo dục đang trong những giai đoạn đổi mới về mọi mặt Nghiên cứu đề tài này có ý nghĩa lý luận và thực tiễn thông qua đó rút ra được những bài học kinh nghiệm và tìm ra những giải pháp tốt nhất nhằm tăng cường sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Phú Thọ đối với công tác giáo dục - đào tạo
Như vậy, đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về giáo dục và đào tạo nói chung và một số công trình khoa học nghiên cứu về giáo dục ở
Trang 9Phú Thọ nói riêng Tuy nhiên, cho đến nay chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống về quá trình Đảng bộ tỉnh Phú Thọ lãnh đạo phát triển Giáo dục và Đào tạo từ năm 1997 đến năm 2010
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Khái quát đường lối, chủ trương của Đảng về giáo dục – đào tạo từ năm 1997 đến năm 2010
- Làm rõ quá trình Đảng bộ tỉnh Phú Thọ chỉ đạo sự nghiệp giáo dục - đào tạo Khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Phú Thọ trong việc phát triển giáo dục và đào tạo từ năm 1997 đến năm 2010
- Rút ra được một số kinh nghiệm từ hoạt động thực tiễn của Đảng bộ trong quá trình lãnh đạo công tác giáo dục và đào tạo
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Khóa luận nghiên cứu quan điểm của Đảng về giáo dục và đào tạo và
sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Phú Thọ đối với công tác phát triển giáo dục và đào tạo trên địa bàn tỉnh
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Thời gian: Khóa luận nghiên cứu những quan điểm, chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Phú Thọ về giáo dục và đào tạo trên địa bàn tỉnh từ năm 1997 đến năm 2010
Trang 10Không gian: Trên địa bàn tỉnh Phú Thọ
5 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu
5.1 Nguồn tài liệu
Trong khi thực hiện đề tài khóa luận sử dụng chủ yếu các nguồn tài liệu thành văn như các văn kiện của Đảng và Nhà nước, các báo cáo tổng kết, các
số liệu thống kê của sở giáo dục, Chỉ thị, nghị quyết của Đảng bộ tỉnh Phú Thọ, Ủy ban nhân dân tỉnh Phú Thọ Ngoài ra còn tham khảo những tài liệu
có liên quan tại thư viện tỉnh Phú Thọ và các sách của Nhà xuất bản Chính trị quốc gia…
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Khóa luận được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận là quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và những quan điểm của Đảng ta
về phát triển giáo dục trong thời kỳ đi lên chủ nghĩa xã hội
Phương pháp nghiên cứu đề tài là kết hợp sử dụng các phương pháp lịch sử và phương pháp logic, phương pháp điều tra so sánh, đối chiếu, tổng hợp để làm rõ vấn đề
6 Đóng góp của đề tài
Tập hợp, sắp xếp một cách có hệ thống những tư liệu, sự kiện về sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Phú Thọ đối với giáo dục - đào tạo ở địa phương từ năm 1997 đến năm 2010 Phân tích được những thành tựu, hạn chế đồng thời rút ra được những bài học kinh nghiệm từ lý luận và thực tiễn Khóa luận có thể làm tư liệu tham khảo trong việc nghiên cứu về lịch sử địa phương
7 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo khóa luận được kết cấu có 3 chương:
Chương 1: Đảng bộ tỉnh Phú Thọ lãnh đạo giáo dục - đào tạo từ năm
1997 đến năm 2005
Trang 11Chương 2: Đảng bộ tỉnh Phú Thọ lãnh đạo giáo dục - đào tạo từ năm
2006 đến năm 2010
Chương 3: Nhận xét và một số kinh nghiệm
Trang 121.1.1 Khái quát chung về tỉnh Phú Thọ
1.1.1.1 Điều kiện tự nhiên và dân cư
Vị trí địa lý, Phú Thọ là tỉnh thuộc khu vực miền núi trung du phía Bắc, nằm trong khu vực giao lưu giữa vùng Đông Bắc, đồng bằng sông Hồng và Tây Bắc (vị trí địa lý mang ý nghĩa trung tâm của tiểu vùng Tây - Đông - Bắc)
Phía Đông giáp Hà Nội, phía Đông Bắc giáp Vĩnh Phúc, phía Tây giáp Sơn La, phía Tây Bắc giáp Yên Bái, phía Nam giáp Hoà Bình, phía Bắc giáp Tuyên Quang Phú Thọ nằm ở cửa ngõ phía Tây của Thủ đô Hà Nội, Phú Thọ cách Hà Nội 80 km, cách sân bay Nội Bài 60 km, cách cửa khẩu Hà Khẩu (Lào Cai), cửa khẩu Thanh Thuỷ (Hà Giang) hơn 200 km, cách Hải Phòng
170 km và cảng Cái Lân (Quảng Ninh) 200 km
Nằm ở trung tâm các hệ thống giao thông đường bộ, đường sắt và đường sông từ các tỉnh thuộc Tây - Đông - Bắc đi Hà Nội, Hải Phòng và các nơi khác, Phú Thọ là cầu nối giao lưu kinh tế - văn hoá - khoa học kỹ thuật giữa các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ với các tỉnh miền núi Tây Bắc Tỉnh nằm trên trục Quốc lộ 2 đi Tuyên Quang, Hà Giang sang Vân Nam (Trung Quốc), quốc
lộ 70 đi Yên Bái, Lào Cai sang Vân Nam (Trung Quốc), quốc lộ 32 đi Yên Bái, Sơn La
Trang 13Thời Hùng Vương, địa bàn Phú Thọ nằm trong bộ Văn Lang, trung tâm của nước Văn Lang Thời Thục An Dương Vương với Nhà nước Âu Lạc, Phú Thọ nằm trong huyện Mê Linh
Tại đây có đền thờ các vua Hùng và hệ thống di tích, lịch sử, lễ hội dày đặc, mỗi lễ hội có một sắc thái riêng đặc sắc và độc đáo, là tiềm năng rất lớn
để phát triển du lịch, dịch vụ
Ngày 26 tháng 1 năm 1968 thực hiện nghị quyết số 504/NQ – TVQH của Ủy ban thường vụ Quốc hội, tỉnh Vĩnh Phúc hợp nhất với tỉnh Phú Thọ thành tỉnh Vĩnh Phú Từ đầu những năm 90, sau gần 30 năm thực hiện việc hợp nhất tỉnh, trước những thay đổi to lớn về mọi mặt của đất nước nói chung
và của các tỉnh thành nói riêng, Quốc hội đã có Nghị quyết tách một số tỉnh thành trong cả nước thành các đơn vị hành chính mới
Thực hiện Nghị quyết của Quốc hội khóa IX ( kỳ họp thứ 10), chỉ thị số 03/CT- TW của Bộ chính trị ngày 12/11/1990 và chỉ thị số 85/CT- TTg của thủ tướng Chính phủ ngày 15/ 11/1996, tỉnh Vĩnh Phú được tách thành hai tỉnh là Vĩnh Phúc và Phú Thọ Tỉnh Phú Thọ chính thức đi vào hoạt động ngày 1 tháng 1 năm 1997
Tỉnh Phú Thọ sau khi tái lập (1997) có diện tích tự nhiên 3.465km2, dân số 1.261.900 người Toàn tỉnh có 12 huyện, thành thị (thành phố Việt Trì, Thị xã Phú Thọ), 10 huyện: Thanh Sơn, Yên Lập, Sông Thao, Tam Nông, Thanh Thủy, Hạ Hòa, Thanh Ba, Đoan Hùng, Lâm Thao, Phù Ninh), 270 xã, phường, thị trấn
Phú Thọ là tỉnh miền núi, trung du nên địa hình bị chia cắt, được chia thành các tiểu vùng Tiểu vùng núi cao phía Tây và phía Nam của Phú Thọ, tuy gặp một số khó khăn về việc đi lại, giao lưu song ở vùng này lại có nhiều tiềm năng phát triển lâm nghiệp, khai thác khoáng sản và phát triển kinh tế trang trại Tiểu vùng gò, đồi thấp bị chia cắt nhiều, xen kẽ là đồng ruộng và
Trang 14dải đồng bằng ven sông Hồng, hữu Lô, tả Đáy Vùng này thuận lợi cho việc trồng các loại cây công nghiệp, phát triển cây lương thực và chăn nuôi Khí hậu của Phú Thọ thuận lợi cho việc phát triển cây trồng, vật nuôi đa dạng
Phú Thọ có nhiều tiềm năng phát triển công nghiệp chế biến nông - lâm sản, vì có nguồn nguyên liệu, lực lượng lao động tại chỗ Bên cạnh đó đã hình thành và phát triển khai thác và chế biến khoáng sản, sản xuất vật liệu xây dựng, công nghiệp dệt, may, đã xây dựng được một số khu công nghiệp, cụm công nghiệp và đầu tư với tốc độ nhanh
Tính chất địa hình và cấu tạo địa chất trên đã tạo cho Phú Thọ phát triển kinh tế nông nghiệp toàn diện, vững chắc với nhiều sản phẩm phong phú
1.1.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
Địa hình và điều kiện tự nhiên của tỉnh Phú Thọ đã sớm hình thành nền nông - công - lâm nghiệp đa dạng với các khu công nghiệp lớn ra đời ở Việt Trì gồm nhiều xí nghiệp và công nghiệp hóa chất Lâm Thao, giấy Bãi Bằng một số xí nghiệp chế biến chè, sản xuất giấy, xi măng ở Phía Bắc Đây là điều kiện giúp cho Tỉnh Phát triển nhanh về kinh tế và xã hội Ngoài tác động của công nghiệp với một hệ thống sông ngòi, đầm hồ cũng góp phần thúc đẩy
nông nghiệp của tỉnh phát triển
Thời điểm khi tách tỉnh năm 1997, dân số Phú Thọ là 1.261.900 người với 21 dân tộc anh em sinh sống khác nhau như: Kinh, Mường, Dao, Cao Lan, … trong đó người kinh chiếm đa số gần 1,1 triệu người Các dân tộc sống hòa nhập thống nhất dưới sự lãnh đạo của Đảng, đồng thời vẫn bảo tồn những nét riêng về văn hóa của các tộc người nhằm phát huy sự phong phú và tính đa dạng trong sự thống nhất
Phú Thọ là một trong những cái nôi của loài người Thời tiền sử, trên các bậc thềm phù sa cổ sông Hồng, sông Lô, sông Đà đã có các thị tộc, bộ lạc người nguyên thủy sinh sống Những chứng tích còn lại là dấu vết hóa thạch ở
Trang 15hang Ngựa (Thu Cúc – Thanh Sơn); và rất nhiều công cụ bằng đá được phát hiện khai quật từ năm 1965 ở hàng trăm địa điểm khảo cổ, nằm rải rác hầu hết
ở các địa bàn trong tỉnh thuộc nền văn hóa Sơn Vi (xã Sơn Vi huyện Lâm Thao), giai đoạn hậu kỳ đá cũ có niên đại cách đây 11 đến 18 ngàn năm Phú Thọ là nơi lưu giữ nhiều di tích văn hóa- lịch sử ngoài đền Hùng là di tích lịch
sử của cả nước, trong tỉnh còn trên một nghìn di tích khác là các đền, miếu thờ những người có công với nước với địa phương như: Đền thờ Quốc mẫu
Âu Cơ ở xã Hiền Lương (Hạ Hòa) Đền thờ Thiều Hoa công chúa ở Hiền Quan, đền thờ Xuân Nương công chúa ở Hương Nộn (Tam Nông), đình Hùng
Lô ở Phù Ninh…, ngoài ra còn các loại hình văn hóa dân gian như các điệu múa, các làn điệu dân ca hát xoan, hát ghẹo, các dao tục ngữ…
Trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc, đất và người Phú Thọ đã góp phần làm lên những mốc son lịch sử vẻ vang trong lịch sử dựng nước và giữ nước với các nhân vật lịch sử vẻ vang trong sự nghiệp dựng nước Không những thế Phú thọ còn là vùng đất hiếu học đã sản sinh ra một số danh nho tiêu biểu như Trạng nguyên Vũ Duệ, Bảng nhãn Nguyễn Mẫn Đốc…Từ thời Trần đến thời Lê Trung Hưng Phú Thọ có 26 vị đỗ đại khoa tức là từ hàng tiến sĩ trở lên, trong đó
có một trạng nguyên, 2 bảng nhãn, 6 hoàng giáp và 17 tiến sĩ [1, tr 41]
Những người con Phú Thọ đang từng ngày nỗ lực kế thừa phát huy truyền thống của cha ông xây dựng cuộc sống mới
1.1.2 Tình hình giáo dục – đào tạo ở tỉnh Phú Thọ trước năm 1997
Từ năm 1968 đến năm 1997, hai tỉnh Vĩnh Phúc và Phú Thọ đã hợp nhất thành Tỉnh Vĩnh Phú Nối tiếp những truyền thống đã đạt được trong giai đoạn trước, Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phú tiếp tục lãnh đạo sự nghiệp giáo dục
Sau ngày 30/4/1975 miền Nam hoàn toàn được giải phóng, đất nước thống nhất nhân dân cả nước phấn khởi bước vào thời kỳ xây dựng đất nước
đi lên chủ nghĩa xã hội Mặc dù mới ra khỏi cuộc chiến tranh giải phóng dân
Trang 16tộc kéo dài 20 năm, đời sống kinh tế, xã hội còn nhiều khó khăn nhưng với sự quan tâm chỉ đạo về mọi mặt của Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh công tác văn hóa xã hội đã có những chuyển biến quan trọng Phong trào bình dân học vụ tiếp tục được duy trì và đạt kết quả tốt Phong trào “hai tốt” vẫn tiếp tục phát triển, thời gian này học sinh phổ thông cấp I, II, III không ngừng tăng năm 1969- 1970 số học sinh phổ thông tăng 8,8 % so với năm học trước và tăng
124 % so với năm học 1960 – 1961[1, tr.43]
Ngày 11 tháng 1 năm 1979, Bộ chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng đã ra nghị quyết thực hiện cải cách giáo dục, tiến hành trong toàn quốc Nội dung cải cách giáo dục lần này bao gồm cả ba mặt: cải cách cơ cấu hệ thống giáo dục, cải cách nội dung và phương pháp giáo dục Đây thực sự là thách thức mới đối với sự nghiệp giáo dục và đào tạo cả nước nói chung và giáo dục Phú Thọ nói riêng
Sau hai năm thực hiện Nghị Quyết của bộ chính trị về cải cách giáo dục trong cả nước, đã đạt được những thành tựu đáng kể Tháng 3 năm 1981, Hội đồng Chính Phủ ra quyết định về đổi mới hệ thống giáo dục phổ thông, từ hệ thống 9 năm sang hệ thống trường phổ thông 12 năm.Thực hiện chủ trương trên của Đảng và Nhà nước, Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh đã chỉ đạo nghiêm túc về thực hiện cải cách giáo dục trong phạm vi toàn tỉnh, phối hợp với các lực lượng ngoài nhà trường (gia đình và xã hội) Chính vì vậy, trong thời gian ngắn ngành giáo dục Vĩnh Phú đã có được những kết quả đáng khích lệ
Mạng lưới trường học trong toàn tỉnh cho trẻ em và người lớn, các cơ
sở đào tạo bồi dưỡng giáo viên được mở rộng Hệ thống trường lớp, cơ sở vật chất thiết bị phục vụ cho dạy học ngày càng hoàn thiện đáp ứng nhu cầu học tập của các cấp(cấp I, cấp II) Các trường cấp ba được mở rộng phù hợp với tình hình của từng địa phương Tất cả các huyện, thành, thị trong toàn tỉnh có
ít nhất một trường trung học, có huyện có hai trường, huyện Thanh Sơn có 3
Trang 17trường So với số dân toàn tỉnh cứ 4 người có một người đi học.Tính đến năm học 1984 - 1985 toàn tỉnh đã mở được 250 trường Mẫu giáo với trên 2 ngàn lớp thu nhận hơn 50 ngàn cháu trong độ tuổi đi học, đạt tỷ lệ 45,3% Công tác đào tạo đội ngũ cán bộ, giáo viên phục vụ cho công tác giáo dục ngày càng được chú ý quan tâm [29, tr.19]
Tháng 12 năm 1986, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng họp tại Hà Nội Đại hội đã kịp thời đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước Đại hội VII (tháng 6 năm 1991) và lần thứ VIII (tháng 6 năm 1996) của Đảng tiếp tục phát triển đường lối đổi mới của Đảng đề ra từ Đại hội VI
Dưới sự chỉ đạo của Tỉnh ủy, Sở giáo dục Tỉnh Vĩnh Phú đã chỉ đạo ngành giáo dục từng bước triển khai cải cách giáo dục, tiếp tục phát triển ngành giáo dục một cách đồng đều, cân đối, vững chắc theo từng bước đi phù hợp với nhịp độ phát triển kinh tế của địa phương, góp phần đẩy mạnh công cuộc công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước nhằm mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội
Để tăng cường công tác quản lý và chỉ đạo ngành giáo dục một cách thống nhất, tháng 6 năm 1988, Ủy ban nhân dân tỉnh ra Quyết định số 146/QĐ, trong đó qui định sát nhập Ban Giáo dục chuyên nghiệp vào sở giáo dục thành Sở Giáo dục và Đào tạo
Từ năm học 1988- 1989 trở đi chất lượng dạy và học ở các trường được nâng lên, hoạt động giáo dục hướng nghiệp bước đầu gắn với phát triển kinh
tế - xã hội của địa phương Công tác xóa nạn mù chữ được đẩy mạnh.Tháng 4 năm 1990 trong tổng số 250 xã thì huyện Thanh Hòa và thành phố Việt Trì đã hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học và xóa nạn mù chữ Giáo dục phổ thông ngày càng được mở rộng, đa dạng hóa các loại hình trường lớp Đến năm
1990 toàn tỉnh đã có 2.132 lớp mẫu giáo với 2.124 giáo viên và 60.583 cháu;
Trang 18492 trường phổ thông cơ sở với 10.237 lớp và 357.925 học sinh; 36 trường phổ thông trung học với 461 lớp và 16.684 học sinh [29, tr.20]
Trên cơ sở Nghị quyết đại hội Đảng lần thứ VII và nghj quyết hội nghị Trung ương lần thứ tư (khóa VII) đã xác định giáo dục - đào tạo là quốc sách hàng đầu, Ban thường vụ Tỉnh ủy ra Nghị quyết số 12- NQ/TƯ về phát triển sự nghiệp giáo dục của tỉnh đến năm 2000 Sau quá trình triển khai thực hiện ngành giáo dục - đào tạo của tỉnh có bước phát triển mới các ngành học, các cấp học từ mầm non, phổ thông, giáo dục chuyên nghiệp, giáo dục thường xuyên đều tăng so với năm trước Từ năm 1991 các trường phổ thông cơ sở tách thành các trường tiểu học và trung học Ngành học phổ thông được tỉnh quyết định thành lập thêm 4 trường, duy trì và mở thêm các lớp hệ B, bán công
Công tác xóa nạn mù chữ và phổ cập giáo dục Tiểu học tiếp tục được duy trì Năm 1992 Tỉnh Vĩnh Phú được công nhận là tỉnh thứ 6 của cả nước hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học - chống mù chữ Quy mô giáo dục không ngừng được phát triển, được mở rộng theo hướng đa dạng hóa các loại hình trường lớp Riêng học sinh phổ thông bình quân trong 5 năm (1991-1995) tăng 6,9% Tỷ lệ học sinh bỏ học giảm xuống còn 4,1%; Đến năm
1995 tiểu học có 9688 lớp, phổ thông cơ sở có 3 796 lớp, phổ thông trung học có 503 lớp Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp tiểu học đạt 95,8%, Trung học cơ sở
là 98,2%, phổ thông trung học là 98,6% Việc xã hội hóa giáo dục đã được
mở rộng thu hút nhiều lực lượng xã hội tham gia [29, tr.21]
Trước năm 1997, bên cạnh những thành tựu nổi bật, ngành giáo dục Vĩnh Phú vẫn còn một số vấn đề cần được khắc phục như: Cơ sở vật chất đã được quan tâm nhưng vẫn chưa được đồng bộ, chưa đáp ứng được nhu cầu của giáo dục trong thời kỳ đổi mới, vẫn còn nhiều lớp học tạm, lớp học 3 ca, thiếu lớp học Đó là những khó khăn, thử thách đặt ra cho Đảng bộ tỉnh cần được chú trọng và giải quyết trong thời gian tiếp theo
Trang 191.1.3 Chủ trương của Đảng về giáo dục - đào tạo từ năm 1997 đến năm 2005
Muốn tiến hành công nghiệp hóa - hiện đại hóa thắng lợi phải phát triển mạnh giáo dục, phát huy nguồn lực con người, yếu tố cơ bản của sự phát triển nhanh và bền vững Để thực hiện Nghị quyết của Đại hội VIII, Hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành Trung ương quyết định định hướng chiến lược phát triển giáo dục thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và nhiệm vụ đến năm
2000
Hội nghị khẳng định những thành tựu chỉ ra những yếu kém về giáo dục - đào tạo; nêu rõ nguyên nhân của những thành tựu, hạn chế Qua đó nêu lên những định hướng chiến lược về phát triển giáo dục và đào tạo trong thời
kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa
Hội nghị đã nhận định bước sang thế kỷ XXI, thế kỷ của nền kinh tế tri thức và sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, con người và nguồn nhân lực là yếu tố quyết định cho sự phát triển đất nước trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa.Vì vậy cần tạo chuyển biến cơ bản, toàn diện về giáo dục và đào tạo Bồi dưỡng thế hệ trẻ tinh thần yêu nước, yêu quê hương gia đình và tự tôn dân tộc, lý tưởng Xã hội chủ nghĩa, lòng nhân ái, ý thức tôn trọng pháp luật, tinh thần hiếu học, chí tiến thủ lập nghiệp
Trang 20Hội nghị xác định: Trong những năm đầu và những năm tiếp theo của thế kỷ XXI, chúng ta phải phát triển giáo dục và đào tạo, tạo ra nguồn lực có chất lượng cao, đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, vì đây chính là động lực thúc đẩy đất nước phát triển nhanh và bền vững
Giai đoạn 2000 đến 2005
Tiếp tục những quan điểm trên, Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX (năm 2001) nêu ra những vấn đề cơ bản cho phát triển giáo dục - đào tạo Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Khóa VIII xác định rõ mục tiêu của Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm (2001- 2010) và khẳng định “Để đáp ứng yêu cầu về con người và nguồn nhân lực là nhân tố quyết định cho sự phát triển đất nước trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, cần tạo chuyển biến cơ bản, toàn diện về giáo dục
Thực hiện thắng lợi mục tiêu đó, sẽ tạo điều kiện để đất nước vững bước trên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa, trên cơ sở kết hợp linh hoạt và hợp lý những bước đi tuần tự với những bước nhảy vọt, nhanh chóng đạt tới trình độ tiên tiến về khoa học công nghệ, đặc biệt chú trọng những ngành mũi nhọn, bao gồm các ngành công nghệ cao như: công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới, công nghệ năng lượng… Ứng
Trang 21dụng ngày càng nhiều những tri thức mới để công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chủ động đi nhanh vào kinh tế trí thức ở những ngành, những lĩnh vực mà đất nước ta có điều kiện Song nếu không có nguồn nhân lực tương xứng thì ngay
cả những kỹ thuật hoàn thiện nhất cũng trở nên vô dụng Do vậy văn kiện Đại hội lần thứ IX và một số văn kiện khác của Đảng đã khẳng định:
Phát triển giáo dục đào tạo được coi là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người - yếu tố cơ bản để phát triển xã hội tăng trưởng kinh
tế nhanh và bền vững… [4, tr.108- 112]
Triển khai thực hiện mục tiêu Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đặt ra cho giáo dục và đào tạo, ngày 28/12/200 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định Số 201/ 2001/ QĐ - TTg “Về chiến lược phát triển giáo dục 2001- 2010” trong đó bao gồm 6 điểm lớn: Tình hình giáo dục Việt Nam hiện nay; Bối cảnh và thời cơ, thách thức đối với giáo dục nước ta trong vài thập kỷ tới; Các quan điểm chỉ dạo phát triển giáo dục; Mục tiêu phát triển giáo dục đến năm 2010; Các giải pháp phát triển giáo dục; Tổ chức thực hiện chiến lược
Mục tiêu chung mà chiến lược đặt ra là tạo bước chuyển biến cơ bản về chất lượng giáo dục theo hướng tiếp cận với trình độ tiên tiến của thế giới, phù hợp với thực tiễn của Việt Nam, phục vụ thiết thực cho sự phát triển kinh
tế - xã hội của đất nước; của từng vùng từng địa phương; hướng tới một xã hội học tập Phấn đấu đưa nền giáo dục nước ta thoát khỏi tình trạng tụt hậu trên một số lĩnh vực so với các nước phát triển trong khu vực
Đổi mới mục tiêu, nội dung, phương pháp, chương trình giáo dục các cấp học và trình độ đào tạo; phát triển đội ngũ giáo viên đáp ứng yêu cầu dạy học; đổi mới quản lý giáo dục tạo cơ sở pháp lý và phát huy nội lực phát triển giáo dục
Trang 22Nhằm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong thời kỳ cách mạng mới, tại hội nghị lần thứ VI Ban Chấp hành Trung ương khóa IX (năm 2002), Đảng ban hành Kết luận tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII về giáo dục - đào tạo Hội nghị xác đinh phương hướng và những giải pháp cụ thể đối với giáo dục - đào tạo đến năm 2005 và đến năm 2010 với những nội dung cơ bản:
Về phương hướng: Tiếp tục quán triệt các quan điểm tư tưởng chỉ đạo giáo dục của Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII, nỗ lực phấn đấu toàn diện làm cho giáo dục thực sự là quốc sách hàng đầu [2, tr.19]
Về nhiệm vụ: Tiếp tục thực hiện các nhiệm vụ mà Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII và Đại hội IX đề ra cho giáo dục, đặc biệt tập chung vào các nhiệm vụ sau: Nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục và đào tạo nhân tài; phát triển hợp lý quy mô giáo dục; thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục
Hội nghị đề ra giải pháp tổng quát: Đổi mới mạnh mẽ quản lý giáo dục; xây dựng và triển khai chương trình “Xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục một cách toàn diện” hoàn chỉnh cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân và sắp xếp, củng cố phát triển mạng lưới trường lớp, cơ sở giáo dục; tăng cường đầu tư cho giáo dục – đào tạo đúng với yêu cầu là quốc sách hàng đầu [2, tr.45]
Phương hướng, nhiệm vụ và những giải pháp trên đã một lần nữa khẳng định quan điểm coi giáo dục - đào tạo là quốc sách hàng đầu của Đảng
và Nhà nước; đồng thời nâng cao nhận thức trong xã hội và trong ngành về vai trò và nhiệm vụ của giáo dục, đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển,
ưu tiên các nguồn lực cần thiết cho giáo dục Kịp thời định hướng những giá trị phù hợp với thời kỳ đổi mới, mở cửa hội nhập quốc tế theo quan điểm của Đảng Kết hợp chặt chẽ giáo dục nhà trường với giáo dục gia đình và giáo dục
xã hội, xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh
Trang 23Để cụ thể hóa những nội dung của kết luận Hội nghị Trung ương sáu (khóa IX) chỉ thị số 40- CT/TW “Về việc xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục” Chỉ thị đề ra mục tiêu: Xây dựng đội nhũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục được chuẩn hóa, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đặc biệt nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất, lối sống, lương tâm, tay nghề của nhà giáo; thông qua việc quản lý, phát triển đúng định hướng và có hiệu quả sự nghiệp giáo dục để nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực, đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Năm 2005, Quốc hội khóa XI đã thông qua luật giáo dục sửa đổi để xác định rõ hơn hành lang pháp lý cho tổ chức và hoạt động giáo dục và sự phối hợp đồng bộ giữa các cá nhân tham gia hoạt động giáo dục
Các quan điểm trên cho thấy Đảng đã nhận thức rõ hơn về vị trí, vai trò quyết định của giáo dục - đào tạo đối với sự phát triển kinh tế - xã hội.Trong
đó việc xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục giữ vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Các quan điểm này đã định hướng cho việc xây dựng hệ thống giáo dục quốc dân đồng thời từng bước hình thành xã hội học tập Nhờ vậy, sự nghiệp giáo dục - đào tạo có điều kiện thuận lợi để phát triển đúng hướng, tạo ra sự chủ động nhiều hơn cho địa phương, các trường và tầng lớp nhân dân trong xã hội hiểu đúng
và thực hiện tốt chủ trương xã hội hóa giáo dục và chính sách khuyến khích
xã hội hóa giáo dục của Đảng và Nhà nước
Trang 241.2 ĐẢNG BỘ PHÚ THỌ LÃNH ĐẠO GIÁO DỤC - ĐÀO TẠO TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2005
1.2.1 Chủ trương của Đảng bộ Tỉnh Phú Thọ về giáo dục - đào tạo
Tỉnh Phú Thọ được thành lập vào năm 1891 dưới thời Pháp thuộc Sau gần 8 thập kỷ ra đời và phát triển, đầu năm 1968 tỉnh Phú Thọ hợp nhất với tỉnh Vĩnh Phúc thành tỉnh Vĩnh Phú Sau 29 năm hợp nhất, Tỉnh Phú Thọ được tái lập từ ngày 1/1/1997 theo Nghị quyết kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa
IX, khi đất nước đang bước vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa Việc hợp nhất Phú Thọ với tỉnh Vĩnh Phúc, cũng như việc tái lập tỉnh cũ là do yêu cầu khách quan của lịch sử và chủ trương của Đảng và Chính Phủ trong phạm
vi toàn quốc [1, tr.284]
Sau khi tái lập, Phú Thọ có những thuận lợi cơ bản về điều kiện kinh tế
- xã hội, tuy nhiên tỉnh cũng gặp phải không ít những khó khăn, thử thách đan xen Đồng thời với việc tái lập tỉnh, Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng ra Quyết định số 117-QĐNS/TW ngày 12/12/1996 thành lập Đảng bộ Phú Thọ và chỉ định Ban chấp hành lâm thời của Đảng bộ Quán triệt tinh thần Nghị quyết Đại hội lần thứ VIII của Đảng và các Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ hai, thứ ba (khóa VIII) khẳng định và cụ thể hóa đường lối đổi mới đúng đắn của Đảng Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Phú Thọ lần thứ XIV đã tổ chức Trên cơ sở nhận định những thuận lợi và khó khăn mới nảy sinh, Đại hội lần thứ XIV đã xác định phương hướng, mục tiêu nhiệm vụ và những biện pháp lớn cho ba năm còn lại của thế kỷ XX (1997 - 2000) Phương hướng chung của Đảng bộ là xây dựng Phú Thọ trở thành tỉnh có nền kinh tế phát triển với tốc độ khá và ổn định, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; có nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc
và truyền thống quê hương đất nước Đại hội cũng đề ra mục tiêu tổng quát là cải thiện, nâng cao đời sống vật chất, văn hóa, giáo dục và môi trường sống cho nhân dân
Trang 25Theo quyết định số 02/1998-TTg của Hội đồng Bộ trưởng ngày 6 tháng
1 năm 1998, Về việc phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng Đông Bắc giai đoạn từ năm 1997-2010, trong đó đề ra các mục tiêu về phát triển kinh tế xã hội của các tỉnh thuộc vùng Đông Bắc trong đó có tỉnh Phú Thọ Trên lĩnh vực giáo dục quyết định nêu rõ: Ưu tiên phát triển giáo dục ở vùng cao, vùng sâu, vùng biên giới, hải đảo Đa dạng hóa các loại hình giáo dục nhằm thu hút ngày càng nhiều trẻ em đến tuổi đi học đến trường, lớp Quán triệt đường lối giáo dục toàn diện của Đảng theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 2 (khóa VIII) về giáo dục đào tạo.Tỉnh đã xây dựng trường lớp và mở rộng quy mô hợp lý theo phương châm đa dạng hóa các loại hình đào tạo
Quán triệt các nghị quyết Trung ương về công tác giáo dục – đào tạo, Tỉnh ủy Phú Thọ luôn coi “giáo dục - đào tạo là quôc sách hàng đầu”, là một trong những động lực quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội, đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho sự phát triển Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Sở giáo dục và đào tạo đã tiến hành nhiều biện pháp chăm lo, phát triển sự nghiệp giáo dục - đào tạo Nhờ vậy công tác giáo dục - đào tạo Phú Thọ đã đạt được nhiều thành tựu hơn trước Tuy nhiên vẫn còn nhiều bất cập như: Chất lượng dạy và học của cấp trường phổ thông, dạy nghề chưa cao; công tác quản lý giáo dục - đào tạo thực hiện xã hội hóa giáo dục ở một số nơi còn hạn chế…
Trước tình hình đó Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Phú Thọ lần thứ XV, nhiệm kỳ 2000- 2005 đã đánh giá nghiêm túc kết quả thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV những năm từ 1997 đến năm 2000 và cả những khó khăn, những hạn chế, yếu kém, từ đó đưa ra định hướng, nhiệm vụ cho thời kỳ 2001 - 2005: Phát huy nội lực, đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế -
xã hội với nhịp độ cao và bền vững Chuyển dịch nhanh cơ cấu kinh tế, cơ cấu
Trang 26lao động theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa; nâng cao chất lượng sức cạnh tranh của sản phẩm và hiệu quả của phát triển kinh tế Tạo chuyển biến mạnh về phát huy nhân tố con người, giáo dục đào tạo, khoa học và công nghệ, chăm sóc sức khỏe cộng đồng; giải quyết tốt các vấn đề bức xúc về việc làm, xóa vững chắc hộ đói và giảm nhanh hộ nghèo, ngăn chặn và đẩy lùi các tệ nạn
xã hội; ổn định và cả thiên đời sống nhân dân [1, tr.347]
Về lĩnh vực giáo dục - đào tạo, Đại hội nêu rõ: Quán triệt quan điểm phát triển đổi mới giáo dục toàn diện, thực hiện phổ cập giáo dục trung học cơ
sở, ổn định quy mô giáo dục phổ thông, tạo điều kiện tốt nhất cho mọi trẻ em trong độ tuổi đi học đều được đến trường Thực hiện tốt giáo dục hướng nghiệp, phân luồng học sinh sau khi học trung học cơ sở, trung học phổ thông Xây dựng ngũ cán bộ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục đủ về số lượng, nâng cao về chất lượng Tiếp tục tăng cường cơ sở vật chất cho hệ thống trường lớp Đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục, đổi mới công tác giáo dục, ngăn chặn và đẩy lùi những hiện tượng tiêu cực trong học tập và thi cử Tạo
ra sự chuyển biến cơ bản, toàn diện trong phát triển giáo dục đào tạo, góp phần tạo nên một nguồn nhân lực có chất lượng cao [29, tr.70 - 71]
Để đẩy nhanh tốc độ phổ cập giáo dục trung học cơ sở, thực hiện chủ trương Nghị quyết số 40/2002/QH10 của Quốc hội về đổi mới chương trình giáo dục phổ thông Đảng bộ tỉnh Phú Thọ đã ra Nghị quyết số 33/2002/ NQ-HĐND-KXV, kỳ họp thứ II khóa XV từ ngày 1 đến 3/7/2002, Về tăng cường
cơ sở sở vật chất trường học giai đoạn 2002- 2010 Mục tiêu của Nghị quyết tăng cường cơ sở vật chất trường học giai đoạn 2002 - 2010:
- Xóa bỏ phòng học tạm, nâng cấp phòng học đã xuống cấp, tăng tỷ lệ phòng học kiên cố và bán kiên cố, đảm bảo mỗi lớp học có ít nhất 1 phòng học, mỗi nhà trường có đủ cơ số phòng học bộ môn, nhà điều hành để tổ chức dạy học và các hoạt động giáo dục đáp ứng với yêu cầu mới
Trang 27- Đổi mới, tăng cường thiết bị dạy học phù hợp với chương trình, sách giáo khoa mới, đảm bảo các trường phổ thông có đủ thiết bị dạy học để triển khai đại trà chương trình, sách giáo khoa mới từ lớp 1 và lớp 6 năm học 2002-2003; bắt đầu ở lớp 10 năm học 2004 - 2005 và cở các lớp cuối cấp vào năm học 2006 - 2007
- Củng cố, tăng cường hệ thống thư viện trường học, bảo đảm các trường phổ thông đều có thư viện, tăng cường đầu sách, đáp ứng yêu cầu của chương trình sách giáo khoa mới
- Quản lý, khai thác, sử dụng hiệu quả các nguồn lực đảm bảo phát triển toàn diện, vững chắc về quy mô, chất lượng, hiệu quả của giáo dục phổ thông nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Cùng với việc đưa ra nhiệm vụ, mục tiêu, Nghị quyết đã đưa ra giải pháp, quy trình thực hiện cụ thể, cũng như vai trò của các cấp ủy Đảng, chính quyền, các cơ quan, ban ngành, đưa ra kế hoạch huy động nguồn vốn để thực hiện Nghị quyết
Ở Phú Thọ, việc triệt để huy động các nguồn lực xã hội là một đột phá
có tính quyết định để phát triển giáo dục Trong khi ngân sách của địa phương còn hạn hẹp, chưa đủ chi cho các hoạt động giáo dục, thì nguồn lực trong dân
là một yếu tố rất quan trọng Vấn đề là phải có quyết tâm và phương thức huy động nhân dân phù hợp Tỉnh ủy, UBND tỉnh Phú Thọ đã thực hiện nhiều phương thức huy động nguồn lực của nhân dân rất linh hoạt, huy động đóng góp của cán bộ, công chức, nhân dân nơi sở tại xây dựng trường, lớp, giáo viên các cấp học đóng góp công sức dạy học Thông qua quyết định của hội đồng nhân dân tỉnh Phú Thọ kỳ họp thứ VII (từ ngày 1/7 đến ngày 3/7 năm 2002) về việc thành lập quỹ phổ cập giáo dục trung học cơ sở giai đoạn 2002-
2005, nghị quyết số 34/2002/ NQ - HĐND - KXV
Trang 28Để thực hiện Chỉ thị số 40-CT/TW ngày 15/6/2004 của Ban Bí thư Trung ương Đảng, về xây dựng, nâng cao, chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán
bộ quản lý giáo dục, dựa vào tình hình thực tế ngành giáo dục của tỉnh mà Đảng bộ tỉnh đã đưa kế hoạch nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục của tỉnh theo chỉ thị của Trung ương Đảng: tăng cường đầu
tư, nâng cao năng lực đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ và cán bộ quản lý giáo dục; tiến hành rà soát, sắp xếp lại đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục, tăng cường đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ cho đội ngũ công chức, viên chức trong ngành giáo dục, giải quyết cho nghỉ trước tuổi đối với những giáo viên, cán
bộ quản lý không đáp ứng được công việc của mình.Tiếp tục sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các quy định của tỉnh về việc thực hiện các chính sách ưu đãi đối với giáo viên, các cán bộ quản lý, đặc biệt là những chính sách ưu tiên đối với giáo viên ở các huyện miền núi, vùng cao, cùng sâu Tăng cường công tác chính trị, công tác Đảng và các đoàn thể trong đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục của tỉnh Có quy định rõ ràng minh bạch về việc biên chế đối với giáo viên, cán bộ quản lý, Nghị quyết số 2784/2002/QĐ-UB ngày 30/8/2002 của Đảng bộ tỉnh ủy Về việc giao chỉ tiêu biên chế sự nghiệp giáo dục - đào tạo năm học 2002-2003 và ra quy định về mức chi bồi dưỡng cho cán bộ coi thi như Quyết định số 2205/2002/QĐ-UB, Về việc quy định mức chi bồi dưỡng công tác ra đề thi, tổ chức các kỳ thi học sinh giỏi, giáo viên giỏi và thi tốt nghiệp trên địa bàn tỉnh Phú Thọ để có những chế độ bồi dưỡng thỏa đáng đối với các cán bộ ra đề thi, cán bộ coi thi, chấm thi trong các kỳ thi của tỉnh
Đối với Sở Giáo dục: chỉ đạo các đơn vị giáo dục trên địa bàn thực hiện đầy đủ chương trình các môn học, đảm bảo kết hoạch và biên chế năm học của Bộ Giáo dục và Đào tạo; tổ chức tốt việc ôn tập cho học sinh các lớp cuối cấp và chuẩn bị chu đáo các điều kiện phục vụ công tác thi, giúp học sinh
Trang 29tham gia đạt kết quả Phổ biến rộng rãi quy chế thi tốt nghiệp và quy chế thi tuyển sinh đến cán bộ, giáo viên, học sinh và phụ huynh học sinh Chú ý nhấn mạnh đến những điểm mới trong quy chế thi tốt nghiệp và quy chế tuyển sinh, đảm bảo quyền được dự thi tốt nghiệp cho các đối tượng theo hướng dẫn của
Bộ Giáo dục và Đào tạo Đẩy mạnh công tác tuyên truyền về các kỳ thi trên các phương tiện thông tin đại chúng, tạo dư luận về việc tổ chức các kỳ thi nghiêm túc, trung thực Tổ chức tập huấn cho các cán bộ quản lý, giáo viên các đơn vị giáo dục nắm bắt chắc quy chế thi, chú trọng bồi dưỡng nghiệp vụ cho người làm công tác coi thi và chấm thi; xây dựng phương án tổ chức hợp lý; chỉ đạo việc coi thi, chấm thi theo quy định và yêu cầu của Bộ giáo dục và Đào tạo Tổ chức việc thanh tra các kỳ thi, phát hiện, uốn nắn, xử lý kịp thời những thiếu sót trong thi cử
Đối với ủy ban nhân dân các huyện, thị, thành phố tổ chức chỉ đạo các
kỳ thi tốt nghiệp, tuyển sinh trên địa bàn theo phân cấp quản lý, Quy chế thi
và các văn bản hướng dẫn của Bộ và Sở Giáo dục và Đào tạo; xây dựng phương án cụ thể đảm bảo các kỳ thi trên địa bàn tỉnh diễn ra bình thường, an toàn trong mọi tình huống Chỉ đạo các cơ quan chức năng của địa phương, ủy ban nhân dân các phường xã, thị trấn phối hợp chặt chẽ với phòng Giáo dục
và Đào tạo và các đơn vị giáo dục trên địa bàn giữ gìn trật tự trị an, đảm bảo
an toàn cho các kỳ thi tốt nghiệp và công tác tuyển sinh tại địa phương
Sự nghiệp giáo dục - đào tạo của tỉnh từng bước được xã hội hóa và có nhiều tiến bộ Đảng bộ tỉnh đã quán triệt tinh thần Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII về phát triển giáo dục toàn diện và Kết luận của Nghị quyết Trung ương 6 khóa IX về đổi mới giáo dục và phổ cập giáo dục trung học cơ sở của Đảng Đảng bộ tỉnh Phú Thọ đã quán triệt và vận dụng sáng tạo dựa trên điều kiện thực tế của tỉnh mình để có những chủ trương đúng đắn, kịp thời về phát triển giáo dục đào tạo nói chung và giáo dục phổ thông nói riêng, nhanh
Trang 30chóng được triển khai, đi vào đời sống thực tiễn của các ban ngành, đoàn thể,
tổ chức, cá nhân tham gia phát triển giáo dục phổ thông trong toàn tỉnh
Nhờ có những chủ trương đúng đắn mà giáo dục - đào tạo của tỉnh từ năm 1997 đến năm 2005 đã đạt được nhiều thành tựu Mạng lưới trường lớp được mở rộng quy mô hợp lý theo hướng đa dạng hóa các loại hình đào tạo nhằm đáp ứng mọi nhu cầu học tập của con em trong toàn tỉnh Mỗi huyện có
ít nhất 2 trường phổ thông công lập, thành lập trường đào tạo nghề của tỉnh Chất lượng các bậc học từng bước được nâng cao Chương trình xây dựng trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia, phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi được duy trì và phát triển Đến tháng 12/2000 toàn tỉnh có 134/270 xã, phường, thị trấn, thành phố Việt Trì và thị xã Phú Thọ đạt tiêu chuẩn phổ cập tiểu học đúng độ tuổi; 120 xã phường, thị trấn, thành phố Việt Trì và thị xã Phú Thọ đạt phổ cập trung học cơ sở Đội ngũ giáo viên trong tỉnh đạt trình
độ chuẩn hóa trên 95% Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp phổ thông hàng năm trên 97% và trên 70% số học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở vào được lớp 10 Số học sinh đỗ đại học, đạt giải học sinh giỏi cấp tỉnh, cấp quốc gia đều tăng lên hàng năm, nhiều năm liền đều có học sinh đạt giải quốc tế và khu vực Phú Thọ là một trong những tỉnh có sự nghiệp giáo dục - đạo tạo phát triển Tuy vậy, Phú Thọ vẫn là tỉnh nghèo có điểm xuất phát thấp về kinh tế - xã hội điều này cũng ảnh hưởng không nhỏ đến giáo dục - đào tạo
Xuất phát từ yêu cầu của sự nghiệp phát triển giáo dục và đào tạo, thực trạng của công tác quản lý giáo dục, xu thế hội nhập quốc tế, đặc biệt từ yêu cầu đổi mới tư duy trong phát triển giáo dục mà Đảng, Quốc hội, Chính phủ
đã có những Chỉ thị, Nghị quyết và các Quyết định quan trọng chỉ đạo các ban ngành, đoàn thể, các địa phương trong đó có tỉnh Phú Thọ đã làm tốt vai trò, nhiệm vụ của mình phù hợp với nhu cầu và tình hình thực tiễn
Trang 311.2.2 Quá trình thực hiện Giáo dục - Đào tạo của Đảng bộ tỉnh Phú Thọ
Trên cơ sở những mục tiêu nhiệm vụ của Nghị quyết Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh và Hội đồng nhân dân tỉnh đề ra, Đảng bộ tỉnh Phú Thọ tăng cường chỉ đạo, triển khai thực hiện ở các cấp học một cách có hiệu quả
1.2.2.1 Phát triển giáo dục mầm non
Ủy ban nhân đã chỉ đạo Sở Giáo dục và Đào tạo Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã triển khai thực hiện kế hoạch phát triển giáo dục mầm non, mở rộng hệ thống trường lớp mẫu giáo trên địa bàn các dân cư Chú trọng việc tách các nhóm, lớp mẫu giáo gắn với trường phổ thông thành trường mầm non độc lập theo mô hình bán trú mỗi xã có ít nhất một trường mầm non bao gồm một khu trung tâm và các khu lẻ Ở các địa bàn khó khăn, chưa đủ điều kiện tách trường, tiếp tục duy trì các lớp mầm non gắn với trường phổ thông
Thực hiện nghiêm túc các chương trình chăm sóc giáo dục trẻ do Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định, tỉnh đã chỉ đạo cơ sở thực hiện việc nâng cao chế độ dinh dưỡng, vệ sinh an toàn thực phẩm, đảm bảo an toàn tuyệt đối cho trẻ Tạo điều kiện tốt để trẻ được ăn tại nhà trẻ đồng thời tổ chức tuyên truyền cho những gia đình có con dưới 6 tuổi kiến thức nuôi dạy con theo khoa học
và hoạt động chăm sóc giáo dục trẻ
Việc phát triển giáo dục mầm non ở vùng sâu, vùng xa đã được tỉnh quan tâm chú trọng Đồng thời tiếp tục thực hiện việc hỗ trợ mua bảo hiểm đối với giáo viên mầm non ngoài công lập
1.2.2.2 Phát triển giáo dục phổ thông
Đối với giáo dục tiểu học
Với mục tiêu “giữ vững, phát huy thành quả phổ cập giáo dục phổ cập giáo dục tiểu học và chống mù chữ, hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi” Như Nghị quyết số 07- NQ/TƯ của Tỉnh ủy ngày 12- 10 -2001
đã nêu, Đảng bộ tỉnh Phú Thọ đã chỉ đạo các cấp, các ngành tổ chức thực hiện
Trang 32Tích cực huy động trẻ 6 tuổi vào lớp 1, trẻ 6 tuổi đến 11 tuổi đi học tiểu học Tiếp tục duy trì mạng lưới các điểm trường, tạo điều kiện thuận lợi cho trẻ đến trường Tổ chức thực hiện các lớp tiểu học 2 buổi/ ngày Thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện nhằm đảm bảo chất lượng của cấp tiểu học, đáp ứng nhu cầu về chăm sóc, giáo dục trẻ em của gia đình và xã hội, giải quyết vấn đề về quá tải về dạy thêm, học thêm, đồng thời tạo cho trẻ môi trường học tập và vui chơi lành mạnh Ủy ban nhân dân tỉnh đã chỉ đạo cho ngành Giáo dục nâng dần số học sinh được học 2 buổi/ ngày [29, tr.365]
Giáo dục trung học cơ sở
Ủy ban nhân dân tỉnh đã chỉ đạo Sở Giáo dục và Đào tạo, UBND huyện, thị xã, xây dựng đề án củng cố vững chắc kết quả phổ cập giáo dục trung học cơ sở Tiến hành triển khai đầy đủ các văn bản chỉ đạo thực hiện đổi mới chương trình sách giáo khoa từ lớp 6 đến lớp 9 Tổ chức tập huấn thay sách ở tất cả các cơ sở giáo dục trong toàn tỉnh Chất lượng giáo dục học sinh THCS được nâng lên
Giáo dục trung học phổ thông
Để đẩy mạnh phát triển giáo dục trung học phổ thông, thực hiện phổ cập bậc trung học.Tỉnh đã chủ động xây dựng đề án qui hoạch mạng lưới trường lớp; quan tâm đến việc qui hoạch và xây dựng hệ thống trường lớp cho các vùng khó khăn phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế của địa phương Hằng năm tỉnh huy động hầu hết số học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở vào THPT và bổ túc THPT
1.2.2.3 Phát triển giáo dục chuyên nghiệp
Năm 1997, tỉnh Phú Thọ được tái lập khi đó hệ thống các trường chuyên nghiệp trên địa bàn tỉnh có12; trong đó có 02 trường Cao đẳng, 5 trường trung học chuyên nghiệp và 5 trường đào tạo công nhân
Nhằm mục đích đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, đào tạo nghề cho học sinh tốt nghiệp bậc trung học, các trường trung cấp chuyên nghiệp, trường dạy
Trang 33nghề của tỉnh thường xuyên tổ chức các đợt tập huấn để bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn cho cán bộ, giáo viên Xây dựng, đổi mới, cải tiến nội dung chương trình, phương pháp giảng dạy đáp ứng thời tình hình phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Hàng năm, Sở giáo dục tỉnh tổ chức thi giáo viên dạy giỏi, thợ giỏi cấp trường Qua các đợt thi, các trường đã lựa chọn được những giáo viên giỏi, những thợ có tay nghề bậc cao làm nòng cốt của trường Từng bước nâng cao chất lượng dạy và học, học đi đôi với hành, lý luận gắn liền với thực tiễn chủ động liên kết với các trường ngoài tỉnh để đào tạo công nhân lành nghề, công nhân có tay nghề bậc cao phục vụ các ngành công nghiệp, đáp ứng sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa ở địa phương
Việc đào tạo bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ xã, phường, thị trấn, được chỉ đạo, triển khai tích cực Đặc biệt, từ khi có Nghị quyết số 07- NQ/TƯ, từ năm 2001 đến năm 2006 trường chính trị tỉnh đã chú trọng xây dựng kế hoạch đào tạo trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, trình độ lý luận chính trị cho đối tượng cán bộ xã, phường, thị trấn góp phần từng bước nâng cao năng lực chính trị, trình độ quản lý, chỉ đạo điều hành phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương
1.2.2.4 Nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý
Đội ngũ giáo viên luôn là một trong những yếu tố tạo nên sự chuyển biến chất lượng giáo dục Ý thức được công tác quản lý, ngay sau khi tái lập tỉnh, ngành giáo dục và đào tạo Phú Thọ đã có nhiều cố gắng trong xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên bằng nhiều biện pháp tích cực nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển của tình hình kinh tế
Nhìn chung số lượng giáo viên bậc tiểu học và trung học cơ sở về cơ bản không có nhiều thay đổi lớn, bởi chủ yếu là các trường hệ công lập Bậc trung học phổ thông với chủ trương mở rộng hệ thống các trường ngoài công lập nhằm tạo điều kiện cho con em nhân dân dược học tập, vì vậy đã có sự gia tăng về số trường, lớp, số học sinh Số lượng giáo viên cũng tăng và ngày
Trang 34càng được trẻ hóa Tuy nhiên đến trước năm 2000, một số môn vẫn thiếu giáo viên Để tạo ra một đội ngũ cán bộ có năng lực, trình độ quản lý năm 2000 ngành giáo dục đã xây dựng đề án bồi dưỡng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý, có trình độ cử nhân, thạc sỹ, nhằm từng bước chuẩn hóa đội ngũ Sở giáo dục chỉ đạo tốt công tác bồi dưỡng thường xuyên, chu kỳ cho cán bộ giáo viên Hàng năm tỉnh thực hiện rà soát, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục thực hiện theo đúng quy định của Tỉnh ủy
1.2.2.5 Xây dựng cơ sở vật chất phục vụ dạy và học
Cơ sở vật chất dạy và học là một trong những vấn đề không thể thiếu được trong công tác giảng dạy trong các nhà trường Ý thức được điều đó, sở giáo dục và đào tạo đã tham mưu với Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh tạo điều kiện về kinh phí để các trường mua sắm, trang bị cơ sở vật chất phục vụ cho dạy và học Nhờ sự cố gắng nỗ lực của toàn ngành giáo dục và nhân dân, thực hiện chủ trương “Nhà nước và nhân dân cùng làm”đến năm học 1997-1998, tỉnh Phú Thọ đã chấm dứt tình trạng học ba ca Thực hiện chương trình kiên
cố hóa trường lớp, lớp học, tính đến năm học 2004 - 2005, đã có 1.144 phòng học hoàn thành xây mới và đưa vào sử dụng, 114 phòng đang thi công, 300 phòng học đang làm thủ tục đầu tư để tiếp tục khởi công xây dựng Tổng số vốn huy động cho chương trình là 88.308 triệu đồng Công tác phát hành sách giáo khoa (SGK), thiết bị thư viện phục vụ cho dạy và học đạt kết quả tốt Trong 3 năm (2002-2004) các nguồn kinh phí đã đầu tư 32000 triệu đồng mua 2.619 bộ thiết bị dạy học cho các lớp 1,2,3,4,5,6,7,8,9,10 Đến cuối năm học 2003-2004 đã có 571/577 trường phổ thông có thư viện (đạt tỷ lệ 98,9%) trong đó có 286 trường có thư viện đạt chuẩn quốc giatheo quyết định số 01/QĐ- BGD&ĐT(đạt tỷ lệ 47,66%) [29, tr.26]
Có được những kết quả nói trên, trước tiên do có sự quan tâm của các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương, các tổ chức đoàn thể, các bậc phụ
Trang 35huynh học sinh, đã làm tốt công tác xã hội hóa giáo dục Bên cạnh đó là sự nỗ lực, linh hoạt của các trường trong toàn tỉnh Nhờ vậy, khắc phục được khó khăn để từng bước xây dựng, quy hoạch trường, lớp theo chuẩn quốc gia, góp phần quan trọng tạo ra sự chuyển biến về chất lượng dạy và học
1.2.3 Kết quả thực hiện giáo dục - đào tạo
Sau những nỗ lực phấn đấu của toàn Đảng bộ, chính quyền, ngành giáo dục và các tầng lớp nhân dân trong tỉnh, sự nghiệp giáo dục và đào tạo Phú Thọ tiếp tục được củng cố và phát triển, ở mọi cấp học và ngành học đã đạt được những kết quả tốt đẹp cả về số lượng và chất lượng
1.2.3.1 Về Quy mô giáo dục ở các cấp học
Giáo dục mầm non: Với sự quan tâm chỉ đạo của Tỉnh ủy, ủy ban nhân dân tỉnh và Sở giáo dục và đào tạo, ngành mầm non đã có sự phát triển một bước về số lượng, chuyển biến theo hướng tích cực Năm học 1966- 1967 giáo dục mầm non có 251 trường mẫu giáo trong đó có 33 trường công lập,
218 trường dân lập, huy động 44.625 cháu ra lớp, đạt tỷ lệ 85,35% Đến năm
2004 - 2005 giáo dục mầm non tiếp tục duy trì cả 4 loại hình công lập, bán công và tư thục Toàn tỉnh có 295 trường trong đó có 28 trường công lập (chiếm tỷ lệ 9,5%) 256 trường bán côn (chiếm tỷ lệ 86,77%); 5 trường tư thục (chiếm tỷ lệ 1,7%), có một trường cấp tỉnh, 15 trường trọng điểm cấp huyện;
có 1360 nhóm trẻ với 8589 cháu; riêng trẻ 5 tuổi ra lớp mẫu giáo đạt tỷ lệ 98,5% [29, tr.8]
Giáo dục phổ thông: Ở cả ba cấp số lượng học sinh, giáo viên, cơ sở trường lớp đều tăng Tất cả các xã, phường của Tỉnh đều có trường tiểu học, trung học cơ sở hoặc phổ thông cơ sở, tạo điều kiện thuận lợi cho các cháu nhỏ đến trường học Các trung tâm, cụm, xã của các huyện, thị xã đều có trường THPT để thu hút học sinh đã tốt nghiệp THCS đi học THPT hoặc bổ túc trung học phổ thông Hệ thống trường lớp đã được ổn định, củng cố và
Trang 36phát triển, hầu hết các trường đã được tỉnh đầu tư xây dựng kiên cố hóa trường lớp, đảm bảo những điều kiện thuận lợi nhất về cơ sở vật chất trường học cho con em nhân dân đến lớp
Giáo dục thường xuyên: Các lớp bổ túc văn hóa tiếp tục được mở rộng, đáp ứng nhu cầu đào tạo cán bộ, công nhân viên chức của tỉnh và nhu cầu học tập của nhân dân nhằm nâng cao dân trí, đồng thời góp phần thực hiện mục tiêu phổ cập giáo dục các bậc học Tỉnh đã xây dựng được hệ thống cơ sở giáo dục thường xuyên phủ kín từ tỉnh đến huyện và xã trên địa bàn toàn tỉnh bao gồm: 13 trung tâm giáo dục thường xuyên trong đó có một trung tâm cấp tỉnh được thành lập năm 1993, 12 trung tâm cấp huyện, 1 trung tâm Ngoại ngữ - Tin học được thành lập năm 1996
Trung tâm giáo dục thường xuyên đã phối hợp với Hội khuyến học mở được 263 trung tâm học tập cộng đồng, tổ chức 2.097 lớp chuyên đề cho 215.682 lượt người tham dự [29, tr.2]
Giáo dục chuyên nghiệp: Nhờ có sự quan tâm, đầu tư của các cấp ủy Đảng, giáo dục chuyên nghiệp trong tỉnh ngày càng được củng cố và phát triển đáp ứng nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế xã hội Đến năm học 2004-2005 trên địa bàn tỉnh có 11 trường chuyên nghiệp Trong
đó khối trực thuộc địa phương có 7 trường (2 trường cao đẳng và 4 trường trung học chuyên nghiệp, 1 trường nghiệp vụ); Khối trực thuộc trung ương có
5 trường Tỉnh tiếp tục trình lên chính Phủ đề án thành lập trường đại học dân lập Cơ cấu ngành nghề tăng thêm một số ngành mới: Cao đẳng điện tử viễn thông, tin học, trung học thủy sản, trung học thư viện, trung học kế toán doanh nghiệp, xây dựng dân dụng và một số chuyên ngành thể thao… Công tác tuyển sinh được thực hiện nghiêm túc, đúng quy chế và hoàn thành chỉ tiêu được giao [23, tr.4]
Trang 371.2.3.2 Về Chất lượng giáo dục - đào tạo
Được sự quan tâm chỉ đạo của Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh, với sự
nỗ lực của các cấp, các ngành, công tác giáo dục của Phú Thọ Trong những năm 1997- 2005 đạt được những thành tựu quan trọng Cùng với việc phát triển về số lượng, chất lượng giáo dục - đào tạo các cấp, các ngành học cũng từng bước nâng lên
Đối với hệ giáo dục mầm non: Tỉnh ủy đã duy trì và thực hiện tốt việc nâng chất lượng giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm.100% nhóm lớp thực hiện nghiêm túc chương trình chăm sóc giáo dục trẻ ở các độ tuổi theo quy định của bộ, các trường huyện, thành phố tổ chức hội thi “Bé khỏe, bé nhanh trí”, “Bé tập làm nội trợ”, “liên hoan gia đình và trẻ thơ” thu hút đông đảo giáo viên, phụ huynh học sinh và học sinh tham gia , góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc nuôi dạy trẻ Các chuyên đề “bé làm quen với văn học, chữ viết”, “bé làm quen với toán” … được thực hiện tốt Các trường đặc biệt chú ý đến các biện pháp bảo đảm an toàn, phòng chống tai nạn, thương tích cho trẻ trong các nhà trường, an toàn vệ sinh thực phẩm 100% các nhà trường thực hiện mua bán thực phẩm có hợp đồng Công tác tuyên truyền, phổ biến kiến thức nuôi dạy trẻ trong cho các bậc cha mẹ và cộng đồng được chú ý thực hiện Công tác phối hợp với cơ sở y tế tổ chức theo dõi, khám sức khỏe định kỳ cho các cháu được thực hiện tốt 100% các cháu được tiêm chủng mở rộng và khám sức khỏe định kỳ Tỷ lệ suy dinh dưỡng giảm nhiều so với trước năm học 2004- 2005 tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng ở nhà trẻ là 16,7% (giảm 2,5% so với đầu năm học), mẫu giáo là 17,2% (giảm 3,5% so với đầu năm học [29, tr.7]
Đối với giáo dục phổ thông: Nhờ công tác giáo dục đạo đức, tư tưởng được chú trọng học sinh đã chăm, ngoan hơn, chất lượng học sinh ở ba cấp học có sự chuyển biến rõ rệt
Trang 38Về chất lượng học sinh đại trà: Chất lượng văn hóa của học sinh các bậc học ngày càng được nâng cao, học sinh nhanh nhanh nhạy hơn và hiểu biết nhiều hơn do chất lượng giáo viên tốt hơn Năm học 2004-2005 tỷ lệ học sinh tốt nghiệp các cấp đều đạt trên 90%, đạo đức kỷ luật của đại bộ phận học sinh là tốt Thể lực của học sinh cũng phát triển hơn do mức sống của học sinh được nâng lên, việc rèn luyện, học tập thể thao trong nhà trường và xã hội ngày càng phát triển
Về chất lượng học sinh mũi nhọn: Học sinh trường chuyên và các lớp chọn của trường trung học phổ thông có chất lượng tốt hơn nhiều so với học sinh đại trà thhất lượng văn hóa và đạo đức Số học sinh trúng tuyển vào các trường Đại học, Cao đẳng, trung học chuyên nghiệp hàng năm đạt tỷ lệ cao, Phú Thọ được xếp vào trong 10 tỉnh dẫn đầu cả nước
Đa số giải học sinh giỏi cấp tỉnh, học sinh giỏi quốc gia đề là học sinh mũi nhọn: Năm 2002-2003 tỉnh Phú Thọ có 39/80 em đạt giải trong đó có một
em được vào đội tuyển Việt Nam dự thi OLIMPIC quốc tế môn Vật lý huy chương Bạc với số điểm cao nhất đoàn Việt Nam; năm 2004- 2005 toàn tỉnh
có 4706 giải học sinh giỏi cấp tỉnh, 47 giải học sinh giỏi quốc gia trong đó có
8 giải nhì, 15 giải ba,24 giải khuyến khích Kỳ thi giải toán trên máy tính CASIO các tỉnh phía Bắc, đoàn Phú Thọ đạt giải nhất toàn đoàn với 12/15 em đoạt giải [29, tr.26]
Chất lượng giáo viên ngày càng được nâng cao, phẩm chất đạo đức, ý thức nghề nghiệp, nề nếp, kỷ cương luôn được giữ vững, ý thức tự học, tự bồi dưỡng cùng với phong trào vươn lên đạt giáo viên giỏi diễn ra sôi nổi Do những chủ trương chuẩn hóa giáo viên được thực hiện tích cực với nhiều biện pháp khác nhau nên tỷ lệ giáo viên đạt chuẩn của toàn tỉnh ngày càng được nâng cao Năm 2005 tỷ lệ giáo viên các cấp đạt chuẩn là:
Trang 39Giáo viên mầm non tỷ lệ đạt chuẩn và trên chuẩn là 51,3% trong đó trên chuẩn là 7,8%
Giáo viên tiểu học tỷ lệ đạt chuẩn và trên chuẩn là 97% trong đó trên chuẩn là 24,2%
Giáo viên trung học cơ sở tỷ lệ đạt chuẩn và trên chuẩn là 96,6% Trong đó trên chuẩn là 34,4%
Giáo viên trung học phổ thông tỷ lệ đạt chuẩn và trên chuẩn là 97,8% Trong đó trên chuẩn là 2,2% [22, tr.5]
Đảng bộ tỉnh luôn động viên, quan tâm đến đời sống của giáo viên, thực hiện nghiêm túc việc biên chế, tuyển dụng giáo viên tạo công bằng trong
xã hội Có chế độ khen thưởng với những giáo viên dạy giỏi, có chế độ với giáo viên ra đề thi, chấm thi, coi thi làm công tác tuyển sinh, thi tốt nghiệp… Hàng năm tỉnh luôn tổ chức các kỳ thi giáo viên dạy giỏi cấp tỉnh Thông qua những cuộc thi này, chất lượng của giáo viên được nâng lên rõ rệt [22, tr.8]
Cơ sở vật chất, trường học, lớp học được quy hoạch và xây dựng theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa Những năm 1997- 2005 tỉnh đã đầu tư xây dựng mới và nâng cấp hàng nghìn phòng học Nhờ vậy trường không còn phải học 3
ca Nhiều trường được kiên cố hóa tất cả các trường lớp thực hiện thay sách đều được trang bị đủ bộ thiết bị đúng theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo Năm học 2004 - 2005, 100% các trường đã có phòng thiết bị dạy học
Giáo dục thường xuyên: Các trung tâm giáo dục thường xuyên có nhiều
cố gắng và những giải pháp tích cực trong việc thực hiện các nhiệm vụ được giao Thực hiện tốt công tác xóa mù chữ và sau xóa mù Năm 2005 tỷ lệ xóa mù
là 100% Chất lượng giáo dục trung học cơ sở, bổ túc trung học phổ thông tiếp tục được nâng cao Hầu hết các trung tâm đều tích cực tổ chức các hoạt động hội học, hội giảng, sinh hoạt chuyên đề, tăng cường chỉ đạo, đổi mới phương pháp dạy và học, kiểm tra việc thực hiện quy chế chuyên môn [22, tr 8]