Trong những năm qua, sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước ta đối với việc thực hiện công bằng xã hội đã được thể hiện rõ và khẳng định, đạt được những thành quả đáng ghi nhận.. Tác phẩm đã trì
Trang 1Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội là mối quan
hệ biện chứng, tác động qua lại lẫn nhau Quá chú trọng phát triển kinh tế mà
bỏ qua công bằng xã hội sẽ dẫn đến nhiều hậu quả nghiêm trọng trong sự phát triển xã hội của một đất nước
Ngược lại, chỉ chú trọng tới vấn đề công bằng xã hội mà không quan tâm đến tăng trưởng kinh tế sẽ làm triệt tiêu các động lực phát triển đất nước
mà suy cho cùng đó cũng là sự bất công bằng xã hội ở một mức độ nhất định
Do vậy tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với công bằng xã hội trong từng bước đi và trong suốt quá trình phát triển đất nước
Nhận thức được mối quan hệ chặt chẽ giữa tăng trưởng kinh tế và đảm bảo công bằng xã hội, ngay từ khi bước vào công cuộc đổi mới Đảng Cộng sản Việt Nam đã chú trọng thực hiện cả hai mục tiêu trong điều kiện nền kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Đại hội VIII của Đảng (1996) đã khẳng định đường lối phát triển đất
nước trong thời kỳ công nghiệp hóa – hiện đại hóa là “phát triển kinh tế phải gắn với tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và trong toàn bộ quá trình phát triển Công bằng xã hội phải thể hiện ở cả hai khâu phân phối kết quả sản xuất; ở việc tạo điều kiện cho mọi người có cơ hội phát triển và
Trang 2sử dụng tốt năng lực của mình” Tư tưởng đó tiếp tục được khẳng định tại các
kỳ Đại hội IX, X, XI của Đảng
Ở nước ta hiện nay, công bằng xã hội là nhu cầu, nguyện vọng chính đáng của nhân dân và là mục tiêu, động lực của công cuộc đổi mới Sự lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Đảng và dân tộc ta càng khẳng định vai trò to lớn của công bằng xã hội đối với sự nghiệp phát triển đất nước
Để thúc đẩy kinh tế phát triển, đảm bảo lợi ích dân tộc, thực hiện tiến
bộ và công bằng xã hội đòi hỏi phải có sự phối kết hợp giữa các tổ chức kinh
tế, xã hội, đồng thời phát huy vai trò của nhân tố chủ quan đó là Nhà nước Trong những năm qua, sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước ta đối với việc thực hiện công bằng xã hội đã được thể hiện rõ và khẳng định, đạt được những thành quả đáng ghi nhận
Trải qua những năm đầu của công cuộc đổi mới, bộ mặt đất nước có nhiều thay đổi, kinh tế tăng trưởng đều, các vấn đề công bằng xã hội được đảm bảo, đời sống nhân dân được nâng cao rõ rệt
Tuy nhiên dưới tác động của nền kinh tế thị trường, bên cạnh những mặt đã đạt được, xã hội cũng tồn tại nhiều vấn đề: tham nhũng, tệ nạn xã hội
có xu hướng gia tăng…đã gây cản trở không nhỏ đến sự phát triển chung của đất nước và công cuộc đổi mới toàn diện đất nước
Đứng trước yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội đất nước trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội Đặc biệt, bước sang thế kỷ XXI, đất nước ta đang trong thời kỳ đẩy mạnh “công nghiệp hóa, hiện đại hóa”; phấn đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp phát triển Việc giải quyết mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và đảm bảo công bằng xã hội là một vấn đề quan trọng và càng trở nên cấp thiết Giải quyết tốt mối quan hệ trên sẽ tạo động lực cho sự phát triển nhanh và bền vững mọi mặt kinh tế - xã hội
Trang 3Chính vì những lý do trên, tôi chọn đề tài: “Quan hệ giữa phát triển kinh tế và công bằng xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng từ năm 2001 đến 2011” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Vấn đề “công bằng xã hội” đã được các nhà nghiên cứu quan tâm và
đã có nhiều công trình nghiên cứu, nhiều bài viết, luận văn, luận án về vấn đề
này Trước hết phải kể đến: “Kết hợp tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta” do GS TS Trịnh Quốc
Tuấn làm chủ nhiệm, Kỷ yếu khoa học (Đề tài cấp bộ 1999-2000), Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Các tác giả đã bàn đến nhiều nội dung, nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội ở nước ta Và trên cơ sở phân tích tình hình kinh tế – chính trị - xã hội cụ thể ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, tác giả đề xuất những giải pháp nhằm kết hợp tốt hơn tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội trong giai đoạn hiện nay
Báo cáo “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn xung quanh việc thực hiện công bằng xã hội ở Việt Nam hiện nay”, GS TS Lê Hữu Tầng đã phân tích sự
gần gũi giữa hai khái niệm công bằng xã hội và bình đẳng xã hội Và chỉ ra hai khái niệm này rất dễ bị đồng nhất Đối với nước ta, tác giả đề xuất nhiều nguyên tắc để thực hiện công bằng xã hội đầy đủ hơn về phân phối theo lao động, theo cống hiến…cho xã hội nói chung chứ không phải chỉ cho sản xuất
Bài “Công bằng xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay” của tác giả Lương Việt Hải (Tạp chí Triết học số 4/2004) đã phân
tích khái niệm công bằng xã hội và chỉ ra rằng: trong giới hạn của kinh tế thị trường đã bao hàm cả việc thực hiện công bằng xã hội, tuy nhiên nó không thể rộng khắp và toàn diện
Trang 4Trong những cuốn sách đã xuất bản, có cuốn sách “Công bằng xã hội trong tiến bộ xã hội”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009 của Nguyễn
Minh Hoàn là tiêu biểu nhất, cuốn sách đã đề cập đến 2 khái niệm cơ bản:
“công bằng xã hội” và “tiến bộ xã hội” một cách cụ thể, sinh động nhất Hai khái niệm này được khảo sát trong lịch sử nhân loại dưới nhiều góc nhìn khác nhau từ cổ đại đến nay Tác giả đã chỉ ra vị trí, vai trò của công bằng xã hội trong tiến bộ xã hội Trên cơ sở lý luận đó, tác giả đã chỉ ra những chủ trương lớn của Đảng nhằm thực hiện công bằng xã hội Đáng chú ý, tác giả đã nêu lên một số vấn đề đặt ra trong việc thực hiện công bằng xã hội ở nước ta hiện nay như: thái độ ứng xử của chúng ta trước thực trạng gia tăng phân hóa giàu nghèo, vấn đề công bằng về cơ hội, vấn đề thực hiện công bằng xã hội trong phân phối tư liệu sản xuất, về vấn đề công bằng trong y tế, chăm sóc sức khỏe nhân dân; vấn đề công bằng xã hội trong giáo dục và đào tạo [28, tr.196-230]
Cũng trong năm 2009, cuốn sách “Những vấn đề lý luận cơ bản về công bằng xã hội trong điều kiện nước ta hiện nay” của Phan Thị Ngọc Trầm
(chủ biên), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Tác phẩm đã trình bày các khái niệm khác nhau về công bằng xã hội của các tác giả trong và ngoài nước; từ
cổ đến cận, hiện đại và phân tích một số việc thực hiện công bằng xã hội ở một số nước như: Trung Quốc, các nước Đông Nam Á, Thụy Điển…
Các tác giả khẳng định công bằng xã hội là một vấn đề đã được đặt ra
và quan tâm từ rất sớm trong lịch sử xã hội; tuy nhiên đến nay nó vẫn là một vấn đề mang tính thời sự Xem xét công bằng xã hội trên bình diện thực tiễn cũng như lý luận ở Việt Nam, từ đó các tác giả đưa ra các nội dung cơ bản của công bằng xã hội như: quan niệm, nguyên tắc phân phối công bằng, các điều kiện, tiền đề cần thiết để thực hiện công bằng xã hội…và đề xuất một số giải pháp thực hiện công bằng xã hội ở Việt Nam
Ngoài ra có nhiều công trình nghiên cứu về vai trò của Nhà nước đối với việc thực hiện công bằng xã hội:
Trang 5+ “Vai trò của Nhà nước đối với việc thực hiện công bằng xã hội trong tiến trình hiện đại hóa” của tác giả Nguyễn Đình Hòa (Tạp chí Triết học, số
12, (139)/2002) Tác giả tập trung phân tích, chỉ ra vai trò của Nhà nước đối với việc thực hiện công bằng xã hội trong tiến trình hiện đại hóa, đề xuất một
số việc làm cụ thể để Nhà nước thực hiện tốt vai trò đó; và tác giả kết luận: công bằng xã hội vừa là mục tiêu, vừa là động lực của tiến trình hiện đại hóa
xã hội ở nước ta hiện nay
+ “Vai trò của Nhà nước đối với việc thực hiện công bằng xã hội trong điều kiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay”, luận văn thạc sỹ Triết học của Hoàng Thị Kim Oanh – Hà Nội, 2000
Với góc nhìn triết học, tác giả cho rằng: “công bằng xã hội là một khái niệm mang tính lịch sử - xã hội, là sự bình đẳng giữa người với người trong quan
hệ giữa cống hiến và hưởng thụ, giữa nghĩa vụ và quyền lợi Công bằng xã hội gắn với tăng trưởng kinh tế và tiến bộ xã hội, nó vừa là mục đích, vừa là động lực của sự phát triển xã hội” Từ đó tác giả phân tích vai trò của Nhà nước đối với việc thực hiện công bằng xã hội, thực trạng thực hiện công bằng trong các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội ở nước ta trên cơ sở đó
đề xuất những phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao vai trò của Nhà nước đối với việc thực hiện công bằng xã hội ở nước ta hiện nay
Trong luận án Tiến sỹ Chính trị học: “Nhà nước với việc thực hiện công bằng xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay” năm 2011, tác giả Võ Thị Hoa đã có nghiên cứu
khá sâu sắc về vai trò của Nhà nước đối với việc thực hiện công bằng xã hội ở nước ta hiện nay như nguyên tắc dân chủ, công khai, minh bạch, tự do, chủ động đối với các nội dung là Nhà nước xây dựng và thực hiện công bằng xã hội; Nhà nước xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách phát triển kinh tế –
xã hội, bảo đảm thực hiện công bằng xã hội; Nhà nước điều tiết thu nhập và thực hiện các chính sách xã hội đảm bảo công bằng cho người dân
Trang 6Cùng với đó là các công trình bàn về các giải pháp, các công cụ thực hiện và trợ giúp việc thực hiện công bằng xã hội nói chung và thực hiện công bằng xã hội trong một số lĩnh vực cụ thể hiện nay như: giáo dục và đào tạo, chính sách sức khỏe y tế, xóa đói giảm nghèo…gồm có:
+ “Vai trò của Nhà nước trong điều tiết phân phối thu nhập” của Tô
Chí Bảo (Tạp chí Thông tin công tác tư tưởng, số 7/2007)
Và nhiều công trình nghiên cứu, bài viết khác
Như vậy đã có không ít những công trình nghiên cứu về công bằng xã hội và vai trò của Nhà nước với việc thực hiện công bằng xã hội trong giai đoạn hiện nay với nội dung phong phú, nhiều cách tiếp cận khác nhau
Nhiều công trình đã làm rõ được nội dung của tăng trưởng kinh tế, công bằng xã hội và kinh nghiệm để giải quyết tốt mối quan hệ giữa hai yếu
tố này Trên các góc độ tiếp cận khác nhau đó, các công trình đã trình bày công bằng xã hội và vai trò của Nhà nước trong việc thực hiện công bằng xã hội ở nước ta hiện nay Tuy nhiên vẫn còn nhiều vấn đề về lý luận và thực tiễn xung quanh chủ đề này cần được tiếp tục đi sâu nghiên cứu
3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu:
Nghiên cứu và trình bày một cách có hệ thống quá trình lãnh đạo đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam về giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội từ năm 2001 đến năm 2011
Trang 7- Nhiệm vụ nghiên cứu:
Đánh giá khách quan những thành tựu và hạn chế trong quá trình lãnh đạo giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội ở nước ta hiện nay Từ đó đưa ra một số biện pháp cơ bản nhằm nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng trong việc giải quyết mối quan hệ tăng trưởng kinh tế
và công bằng xã hội, thực hiện tốt hơn nữa các chủ trương, chính sách của Đảng trong một số lĩnh vực cụ thể nhằm phát triển kinh tế - xã hội bền vững
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Về thời gian: Đề tài tập trung nghiên cứu quá trình giải quyết mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và đảm bảo công bằng xã hội từ năm 2001 đến năm 2011
+ Về không gian: Đề tài nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng trong việc thực hiện đảm bảo công bằng xã hội; các chính sách, chủ trương cụ thể về các lính vực xóa đói giảm nghèo, chăm sóc sức khỏe, y tế, giáo dục và nâng cao đời sống của tầng lớp nhân dân trên phạm vi chung cả nước
4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
- Nguồn tư liệu:
Các văn kiện Đại hội Đảng lần thứ VI, VII, VIII, IX, X, XI; các chủ trương, chính sách của Đảng về phát triển kinh tế - xã hội
Các văn bản, nghị quyết các kỳ Đại hội Đảng toàn quốc; các báo cáo tổng kết, niên giám thống kê các năm, các thời kỳ từ năm 2001 đến 2011
Các tạp chí, sách báo có liên quan đến vấn đề công bằng xã hội và mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội đã xuất bản trong những năm gần đây như: Tạp chí Giáo dục, tạp chí Xã hội học, tạp chí Cộng sản, tạp chí Lịch sử Đảng…
- Phương pháp nghiên cứu
Khóa luận kết hợp giữa phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic, trong đó phương pháp lịch sử là chủ yếu
Trang 8Ngoài ra khóa luận còn sử dụng phương pháp: tổng hợp, phân tích, đối chiếu, so sánh để làm rõ sự phát triển và tiến bộ về các mặt kinh tế - xã hội
5 Đóng góp của khóa luận
Nghiên cứu quá trình giải quyết mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và công bằng xã hội về mặt lý luận và thực tiễn trong những năm 2001 – 2011
Đồng thời nêu bật được những chủ trương, chính sách cơ bản của Đảng trong một số lĩnh vực cụ thể của vấn đề công bằng xã hội như: xóa đói giảm nghèo, phát triển giáo dục, y tế, chăm sóc sức khỏe…trong những năm 2001 -
2011
Khóa luận cũng đánh giá một cách khách quan những thành tựu, hạn chế trong quá trình Đảng lãnh đạo giải quyết mối quan hệ phát triển kinh tế và công bằng xã hội Từ đó rút ra bài học kinh nghiệm và một số biện pháp cơ bản trong việc giải quyết tốt mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và công bằng
xã hội của Đảng và Nhà nước ta
6 Bố cục của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và danh mục chữ viết tắt, nội dung khóa luận gồm 2 chương và 4 tiết
Trang 9NỘI DUNG
Chương 1 NHỮNG CƠ SỞ ĐẢM BẢO CÔNG BẰNG XÃ HỘI VÀ CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG TRONG LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN CÔNG
BẰNG XÃ HỘI TỪ NĂM 2001 ĐẾN 2006
1.1 NHỮNG CƠ SỞ ĐẢM BẢO CÔNG BẰNG XÃ HỘI VÀ THỰC HIỆN CÔNG BẰNG XÃ HỘI TRƯỚC NĂM 2001
1.1.1 Hệ thống lý luận về công bằng xã hội
1.1.1.1 Khái niệm công bằng xã hội
Trong lịch sử, có nhiều quan niệm khác nhau về công bằng xã hội, những quan điểm đó được bàn và đề cập đến những khía cạnh khác nhau
“Công bằng xã hội” thường được hiểu đồng nhất với nhiều khái niệm, nên chúng ta phải đi tìm hiểu và chỉ ra một khái niệm chính xác, rõ ràng và thỏa đáng nhất
Trên thế giới cũng như ở nhiều quốc gia, mục tiêu của sự phát triển bao giờ cũng là tiến bộ xã hội, công bằng xã hội Hai vấn đề trên trở thành mục tiêu cơ bản Trong lịch sử tư tưởng nhân loại đã từng có nhiều học giả lớn ở
cả phương Đông và phương Tây quan tâm đến vấn đề này Họ cũng đã nhận thức được một cách cơ bản, song lại chưa thể phân biệt rõ hai khái niệm trên Vậy “tiến bộ xã hội” và “công bằng xã hội” có những điểm giống và khác nhau như thế nào? Chúng ta cần đi tìm hiểu nội hàm của hai khái niệm này
Chúng ta biết rằng, “tiến bộ xã hội” là một giá trị gắn chặt với các yếu
tố tinh thần và chịu sự tác động của các yếu tố của thượng tầng kiến trúc xã hội, vì vậy nó bị chi phối bởi các yếu tố đó Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin xem “tiến bộ xã hội”, ở nghĩa tổng quát nhất, là sự vận động của
Trang 10xã hội loài người từ hình thái kinh tế xã hội này lên hình thái kinh tế xã hội khác, có nhiều điểm tiến bộ hơn Theo đó, hình thái kinh tế - xã hội cao hơn, tiến bộ hơn là sự kế thừa và phát huy những giá trị vật chất và tinh thần đã được con người sáng tạo ra trong một quá trình lâu dài Việc thay thế một chế
độ xã hội đã lỗi thời bằng một chế độ tiến bộ hơn là một quá trình tất yếu của lịch sử loài người Sự thay thế đó cũng nhằm mục đích phục vụ cho cuộc sống con người, làm cho con người phát triển hơn về mọi mặt Đây là cách tiếp cận
“tiến bộ xã hội” theo nghĩa rộng
Theo quan điểm của các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác – Lênin, dưới
chủ nghĩa xã hội, “công bằng xã hội là sự ngang bằng nhau giữa người và người trong xã hội chủ yếu về phương diện phân phối sản phẩm xã hội theo nguyên tắc cống hiến lao động ngang nhau thì hưởng thụ ngang nhau” [30,
tr.428]
Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng có quan điểm về “tiến bộ xã hội”, theo nghĩa rộng, Người cho rằng: sau khi đánh đổ đế quốc thực dân, phong kiến, Việt Nam nhất định phải tiến lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua giai đoạn phát triển
tư bản chủ nghĩa nhằm làm cho: “xã hội ngày càng tiến bộ, vật chất ngày càng tăng, tinh thần ngày càng tốt” Như vậy tiến bộ xã hội đã được hiểu một
cách cụ thể nhất
“Công bằng xã hội” là một khái niệm mang tính lịch sử vậy nên trong các chế độ xã hội khác nhau, khái niệm này cũng có nội hàm khác nhau
Từ điển Bách khoa Triết học định nghĩa:
Công bằng là khái niệm đạo đức – pháp quyền, đồng thời là khái niệm chính trị - xã hội Khái niệm công bằng bao hàm trong nó yêu cầu
về sự phối hợp giữa vai trò thực tiễn của cá nhân (nhóm xã hội) với địa
vị của họ trong đời sống xã hội, giữa những quyền và nghĩa vụ của họ, giữa làm và hưởng, giữa lao động và sự trả công, giữa tội phạm và sự
Trang 11trừng phạt, giữa công lao và sự thừa nhận của xã hội Sự không phối hợp trong mối quan hệ đó được đánh giá là sự bất công [46, tr.630] Trong một nghiên cứu khác, các tác giả đã khái quát:
Công bằng xã hội là một phạm trù xã hội dùng để chỉ trình độ phát triển về phương diện xã hội của con người (cá nhân và cộng đồng), được thực hiện và thể hiện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống
xã hội như: kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, tinh thần, mà trước hết là lĩnh vực xã hội Nó phản ánh mối quan hệ về nghĩa vụ và quyền lợi giữa xã hội và cá nhân, nhằm đảm bảo sự phát triển hài hòa của con người, của xã hội phù hợp với xu thế và tiến bộ xã hội Công bằng xã hội vừa là khát vọng của con người, vừa là động lực, là mục tiêu của sự phát triển xã hội, của cách mạng xã hội chủ nghĩa, của sự nghiệp đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa của nước ta [7, tr.37]
Đến đầu những năm 1990, các chuyên gia hàng đầu của Chương trình phát triển của Liên hợp quốc lại nhấn mạnh nội hàm cốt lõi của công bằng xã hội là công bằng về cơ hội phát triển, thể hiện ở sự công bằng về cơ hội tiếp cận các nguồn lực phát triển đối với mỗi cá nhân hay mỗi chủ thể trong cộng đồng, quốc gia
Công bằng xã hội là khái niệm có nội dung phức tạp hơn so với khái niệm tăng trưởng kinh tế Công bằng xã hội, hiểu theo nghĩa chung nhất, là sự ngang bằng nhau trong mối quan hệ giữa người với người, dựa trên nguyên tắc thống nhất giữa nghĩa vụ và quyền lợi, giữa cống hiến và hưởng thụ Từng thành viên trong xã hội gắn bó với cộng đồng xã hội trên mọi lĩnh vực: chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội thông qua sự cống hiến theo khả năng trí tuệ, sức lực của mình cho sự phát triển xã hội và được xã hội bù đắp, chăm sóc trở lại một cách tương xứng, không có sự tương xứng ấy là bất công Với cách hiểu công bằng xã hội như vậy, việc định lượng mức độ thực hiện công bằng xã hội chỉ mang tính tương đối, nó không những phản ánh trình độ phát triển về
Trang 12kinh tế, chính trị, lịch sử, văn hóa của từng nước, mà còn thể hiện quan điểm, cách nhìn của các nhóm chủ thể
Như vậy ta thấy, công bằng xã hội là khái niệm mang tính tương đối phụ thuộc vào quan niệm khác nhau của mỗi giai cấp, mỗi quốc gia
Do nội hàm của công bằng xã hội phức tạp nên việc định lượng mức độ thực hiện công bằng xã hội là rất khó khăn Nhận thức và hiểu rõ nội hàm khái niệm công bằng xã hội sẽ giúp cho mỗi quốc gia sẽ có được những chính sách, chiến lược cụ thể để phát triển kinh tế - xã hội và đảm bảo công bằng xã hội, đáp ứng nhu cầu đời sống cho mọi tầng lớp nhân dân
1.1.1.2 Quan niệm của các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin về công bằng xã hội
Đứng trên lập trường bảo vệ lợi ích của giai cấp vô sản, C.Mác đi đến xây dựng quan điểm về công bằng xã hội mà nội dung chủ yếu của nó là nguyên tắc phân phối
Theo C.Mác trong nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, quan hệ trao đổi ngang giá khi mua và bán sức lao động được nhà tư bản gọi là quan hệ công bằng Nhưng trên thực tế, hàng hóa sức lao động lại có đặc điểm là khi đưa vào sử dụng còn tạo ra một số lượng giá trị lớn hơn nó trước khi sử dụng, cho nên việc người công nhân chỉ nhận “tiền công lao động”, còn phần giá trị gia tăng do sức lao động tạo ra không được trả công và chuyển thành lợi nhuận của nhà tư bản đã làm cho quan hệ trao đổi ngang giá đó không thể gọi là công bằng Đó chính là bản chất bất công của chế độ phân phối tư bản chủ nghĩa
C.Mác và Ăngghen đã phê phán quan điểm thực hiện công bằng xã hội theo nguyên tắc “trao đổi ngang giá” của các nhà kinh tế Tư sản
Theo 2 ông, bao giờ “sự công bằng hình như đòi hỏi cả hai bên ngay từ đầu đã phải đặt vào những điều kiện như nhau” [4, tr.367] Vì vậy để xây
dựng được một xã hội công bằng thực sự thì phải xóa bỏ sự bất bình đẳng về
Trang 13những điều kiện ban đầu ấy Muốn thế phải làm cho mọi người được bình đẳng trong quan hệ sở hữu, tức là phải làm cho mọi người phải ngang bằng nhau về địa vị trong quan hệ đối với tư liệu sản xuất Đó chính là xuất phát điểm bình đẳng làm cơ sở để thực hiện công bằng thực sự trong xã hội
Quan niệm về một nguyên tắc phân phối đảm bảo công bằng xã hội ấy
đã được C.Mác trình bày khá đầy đủ trong tác phẩm “Phê phán Cương lĩnh Gôta”
C.Mác cho rằng một sự phân phối thực sự công bằng chỉ có thể là phân phối theo lao động Trước hết, việc thực hiện công bằng xã hội không phải chỉ phụ thuộc riêng vào lĩnh vực phân phối, mà nó còn bị chi phối bởi toàn bộ tính chất của phương thức sản xuất
“Theo quan điểm trên công bằng xã hội chỉ thực sự có được trong chủ nghĩa xã hội, bởi vì, chỉ khi có chế độ tư hữu mới bị thủ tiêu, chế độ công hữu mới được thiết lập và do đó mới có xuất phát điểm bình đẳng trong quan hệ phân phối đảm bảo công bằng xã hội” [28]
Chính nhờ có chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, việc phân phối mới trở nên công bằng, và việc phân phối sản phẩm của lao động mới có thể được tiến hành chỉ theo lao động Như vậy ta thấy rằng nguyên tắc phân phối theo lao động trong chủ nghĩa xã hội là một nguyên tắc phân phối công bằng
1.1.1.3 Tư tưởng của Hồ Chí Minh về công bằng xã hội
Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc
về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng
và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác- Lênin vào điều kiện cụ thể của cách mạng nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại Tư tưởng Hồ Chí Minh là kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng ta
Tiếp thu quan điểm của C.Mác và Ăngghen về công bằng và bình đẳng
xã hội, đồng thời bằng việc trực tiếp chứng kiến tất cả những gì xảy ra trong
Trang 14đời sống kinh tế - xã hội các nước trên thế giới cũng như ở Việt Nam trong những năm tháng biến động nhất; Hồ Chí Minh đã khẳng định rằng, trong chế
độ xã hội thực dân, phong kiến hoàn toàn không có công bằng và bình đẳng
Rằng trong xã hội đó, “nhân dân chỉ có nghĩa vụ như nộp sưu đóng thuế, đi lính đi phu mà không có quyền lợi” [21, tr.219]
Theo quan điểm của Người, công bằng và bình đẳng xã hội chỉ thực sự
có được trong chế độ xã hội mới; rằng, dưới chế độ dân chủ cộng hòa, “nhân dân có nghĩa vụ, đồng thời có quyền lợi” Sự công bằng và bình đẳng đó còn
được đảm bảo bởi một cơ sở vững chắc
Tư tưởng về công bằng và bình đẳng xã hội được Hồ Chí Minh thể hiện một cách sinh động, linh hoạt trong từng hoàn cảnh và tình huống cụ thể trong quá trình xây dựng đất nước
Khi nói đến công bằng xã hội, Hồ Chí Minh thường gắn với bình đẳng
xã hội, mà ở đây chính là mối quan hệ giữa quyền lợi và nghĩa vụ Nói cách khác, Hồ Chí Minh đã coi công bằng xã hội là bình đẳng về nghĩa vụ và quyền lợi Với quan niệm như vậy, Người đòi hỏi tất cả những người lao động ngày nay đều phải nhận rõ mình là người chủ nước nhà và đã có quyền hạn làm chủ, thì phải làm trọn nghĩa vụ của một người chủ - đó là cần kiệm xây dựng nước nhà, xây dựng chủ nghĩa xã hội, nhằm mục đích không ngừng nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân, trước hết là nhân dân lao động
Như vậy, trong quan niệm của Hồ Chí Minh, bình đẳng trước tiên là bình đẳng về nghĩa vụ và quyền lợi, đồng thời việc thực hiện bình đẳng giữa người với người trong mối quan hệ giữa thực hiện nghĩa vụ và hưởng thụ quyền lợi ấy chính là thực hiện công bằng xã hội
Chúng ta thấy rằng, trong quan niệm của Hồ Chí Minh, thực hiện một chế độ phân phối công bằng là thực hiện nguyên tắc phân phối trong đó phần hưởng thụ tương ứng với mức độ đóng góp, cống hiến của từng cá nhân
Trang 15Người khẳng định: “Chủ nghĩa xã hội là công bằng hợp lý: làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít, không làm thì không được hưởng”
Trong tư tưởng của Người, công bằng xã hội không chỉ biểu hiện như
là một mục tiêu của chủ nghĩa xã hội mà còn là một động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội đất nước, một biện pháp căn bản để hiện thực hóa những giá trị, lý tưởng cao cả của chủ nghĩa xã hội Với Người, việc thực hiện công bằng xã hội là một yêu cầu bức thiết, và yêu cầu đó lại càng bức thiết hơn khi cuộc sống còn nhiều khó khăn
Hồ Chí Minh căn dặn: “Trong công tác lưu thông, phân phối, có hai điều quan trọng:
“ Không sợ thiếu, chỉ sợ không công bằng;
Không sợ nghèo, chỉ sợ long dân không yên”
Với quan niệm coi công bằng xã hội thể hiện sự bình đẳng về nghĩa vụ
và quyền lợi, một lần nữa Người nhấn mạnh: “Ai làm nhiều thì ăn nhiều, ai làm ít thì ăn ít, ai không làm thì không ăn, tất nhiên là trừ những người già
cả, đau yếu và trẻ con”
Trong hoàn cảnh đất nước còn nhiều khó khăn, đời sống nhân dân còn nhiều thiếu thốn, Người kêu gọi tinh thần đùm bọc, tương thân tương ái, đồng cam cộng khổ, đoàn kết, hợp tác vì mục tiêu chung là cuộc sống ấm no, hạnh phúc Nhưng, Người kiên quyết chống lại sự đồng nhất tinh thần đồng cam
cộng khổ với chủ nghĩa bình quân, “Đồng cam cộng khổ là một tinh thần cần phải có, nhưng nếu bình quân chủ nghĩa thì lại không đúng Bình quân chủ nghĩa là gì? Là ai cũng như ai, bằng hết…Bình quân chủ nghĩa là trái với chủ nghĩa xã hội, thế là không đúng” [21, tr.386]
Xuất phát từ việc phân biệt rõ ràng giữa công bằng xã hội và bình đẳng
xã hội, Hồ Chí Minh còn nhấn mạnh đến việc phải phân biệt rõ lợi ích cá nhân và chủ nghĩa cá nhân Người nhấn mạnh, sự thống nhất giữa lợi ích cá
nhân với lợi ích chung của cả xã hội và cho rằng: “lợi ích cá nhân là nằm
Trang 16trong lợi ích tập thể Lợi ích của tập thể được đảm bảo thì lợi ích riêng của cá nhân mới có điều kiện để được thỏa mãn” [21, tr.291]
Một điểm đáng chú ý, Hồ Chí Minh không chỉ nhìn nhận nguyên tắc hành động “mình vì mọi người, mọi người vì mình” là một giá trị văn hóa sâu sắc mà còn thể hiện sự công bằng trong xã hội, công bằng giữa lợi ích cá nhân với tập thể, cá nhân với cá nhân
Đồng thời, Hồ Chí Minh đã đánh giá rất cao vai trò của công bằng xã hội trong việc làm yên lòng dân, và nhờ vào việc làm yên lòng dân mới có điều kiện để phát triển kinh tế - xã hội Thực hiện công bằng xã hội là động lực thúc đẩy sự phát triển đất nước, việc thực hiện công bằng xã hội nhằm kích thích mọi người, tùy theo khả năng, sức lực của mình, cùng tham gia vào xây dựng một cuộc sống mới, từng bước vươn tới xã hội cộng sản – một xã
hội trong đó “Mọi người làm hết khả năng; ai cần dùng gì có nấy”
Như vậy dưới quan điểm của Hồ Chí Minh, công bằng xã hội được nhìn nhận dưới nhiều góc độ Có lúc là mục tiêu để hướng tới xã hội công bằng, có khi là động lực cơ bản để con người phấn đấu vươn tới xây dựng một xã hội tốt đẹp, ở đó không còn áp bức, bất công, mọi người được hưởng quyền lợi đúng với năng lực của mình
Nắm bắt và hiểu sâu sắc quan điểm của các nhà kinh điển, Người đã có bước sáng tạo trong quan niệm về công bằng và bình đẳng xã hội, góp phần
bổ sung vào hệ thống lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin
Đồng thời, cùng với các hệ tư tưởng khác, tư tưởng Hồ Chí Minh trở thành hệ thống lý luận để Đảng ta lấy đó làm cơ sở cho mọi hành động của mình, đặc biệt trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội, trong thời kỳ đổi mới đất nước, phát triển kinh tế - xã hội
Trang 171.1.1.4 Quan niệm ngoài Mácxít về công bằng xã hội
Trong lịch sử nhân loại, tư tưởng về công bằng xã hội đã được bàn đến
từ thời cổ đại
Ở các nước phương Đông, sự phát triển xã hội theo khuynh hướng đặc thù, chịu sự quy định của phương thức sản xuất mà C.Mác gọi là “Phương thức sản xuất châu Á” nên quan niệm về công bằng, bình đẳng rất ít xuất hiện trên phương diện chính trị - xã hội
Tiêu biểu cho hệ tư tưởng phương Đông là Khổng Tử (551-479 TCN) Khổng Tử rất quan tâm đến việc xây dựng một xã hội tốt đẹp với nhiều tiêu chí Ông mơ ước xây dựng một xã hội đại đồng, đó là một xã hội mà con người không có sự phân biệt trên dưới, “thân sơ, quý tiện”, thuận hòa, bình đẳng với nhau và công lí được thi hành triệt để
Có thể nói, tư tưởng của Khổng Tử là một tư tưởng tiến bộ, ông đã có quan niệm khá sâu sắc về một xã hội bình đẳng nhưng do hạn chế lịch sử, và
do giai cấp thống trị đương thời tìm mọi cách ngăn cản vì vậy những quan điểm đó không thể trở thành công cụ cải tạo chế độ chính trị - xã hội đương thời được
Ở phương Tây thời cổ - trung đại xuất hiện nhiều quan niệm về công bằng xã hội, những quan điểm đó sâu sắc và gắn với thực tế hơn
Platon (427-347 tr.CN) là một trong những nhà triết học, nhà tư tưởng kiệt xuất thời cổ đại đã có những quan niệm sơ khai về công bằng và bình đẳng xã hội
Trong hai tác phẩm “Nhà nước” và “Luật lệ”, Platon đã khẳng định rằng không thể có sự bình đẳng giữa những tầng lớp người khác nhau trong
xã hội, bởi vì, theo ông bản thân nhà nước xuất hiện từ chính sự đa dạng của con người Do có sự đa dạng ấy về nhu cầu nên xã hội cần phải duy trì các hạng người khác nhau thực hiện các dạng phân công lao động khác nhau thỏa mãn nhu cầu của xã hội và do đó không thể có sự hoàn toàn bình đẳng
Trang 18Như vậy, theo Platon, trong xã hội đương thời hoàn toàn không có sự bình đẳng Vì thế ông cho rằng:
“Sự bình đẳng giữa những người không bình đẳng là tệ xấu nhất của nền dân chủ”, và: “Đối với những người không hoàn toàn bình đẳng, sự bình đẳng sẽ trở thành không bình đẳng Sự bình đẳng chân chính là ở tính cân đối – người này được nhiều hơn, người khác được ít hơn, căn cứ theo bản chất của mỗi người Đôi khi phải sử dụng nguyên tắc toán học có lợi cho quần chúng, nhưng chỉ nên làm việc đó ít chừng nào hay chừng đó…” [27, tr.192]
Platon coi việc người nô lệ mà được đối xử như với người tự do là điều vượt ra ngoài lẽ thông thường Tuy nhiên, Platon lại cho rằng dù xã hội không
có sự bình đẳng nhưng lại có công bằng, bởi lẽ công bằng là ở chỗ, mỗi hạng người dù ở địa vị nào cũng phải làm hết trách nhiệm của mình, biết sống đúng với tầng lớp của mình và phải biết được thân phận của mình
Như vậy, theo quan niệm của ông về công bằng xã hội, cái được nhấn mạnh không phải là sự ngang bằng nhau giữa người với người trong mối quan
hệ giữa cống hiến và hưởng thụ, mà là sự phân định về đẳng cấp
Những tư tưởng của Platon về công bằng và bình đẳng đã có ảnh hưởng nhất định đến những quan điểm về công bằng xã hội và bình đẳng xã hội trong những xã hội sau này
Arixtốt (384-322 tr.CN) là một nhà triết học vĩ đại thời kỳ cổ đại Hy Lạp, cũng đã có những tư tưởng sâu sắc về công bằng xã hội và bình đẳng xã hội So với Platon, Arixtốt có điểm phân biệt rõ ràng hơn mối quan hệ giữa công bằng và bình đẳng xã hội
Đầu tiên ông đưa ra những quan điểm về vai trò của nhà nước đối với việc thực hiện công bằng xã hội Theo đó, nhà nước là kết quả của sự phát triển xã hội loài người từ đời sống tự nhiên sang đời sống chính trị Theo Arixtốt, chính vì con người là động vật chính trị sống cố kết trong một cộng
Trang 19đồng xã hội nhất định, cho nên con người cần luôn được đảm bảo không chỉ
về mặt vật chất, mà còn phải được đảm bảo bằng cả sự công bằng [27, 208]
tr.207-Nhưng do đứng trên lập trường của giai cấp chủ nô, ông đã cho rằng công bằng là sự bình đẳng giữa những người có cùng địa vị xã hội Còn sự bất bình đẳng giữa những người không có cùng địa vị xã hội thì cũng được ông cho rằng là công bằng Nói cách khác, trong quan niệm này không chỉ có sự bình đẳng giữa những người có cùng địa vị xã hội thì mới có công bằng, mà ngay cả sự bất bình đẳng giữa các đẳng cấp trong xã hội cũng chính là công bằng Đây là cách mà Arixtốt bảo vệ địa vị thống trị của giai cấp quý tộc chủ
nô
Như vậy ta thấy rằng trong quan niệm của ông dù công bằng giữa những người có cùng địa vị xã hội hay là bất bình đẳng giữa những người không cùng địa vị đều là thước đo của sự công bằng
Điều tiến bộ và đáng ghi nhận của Arixtốt đó là, ông trở thành người đầu tiên đã phát hiện ra “thước đo của sự công bằng” nằm trong cơ sở kinh tế Theo ông, cơ sở của sự công bằng xã hội là sự công bằng trong trao đổi vật
phẩm Ông nói: “Sự trao đổi không thể có được nếu không có sự bằng nhau, nhưng sự bằng nhau lại không thể có nếu như không thể đo chung được” [4,
tr.97] Mà thước đo của sự trao đổi hàng hóa, theo ông chính là biểu hiện của giá trị
Tuy nhiên, quan niệm của ông vẫn có điểm hạn chế đó là chỉ nêu lên biểu hiện của giá trị hàng hóa bằng hình thái tiền tệ mà không thấy được chính lao động mới là thước đo chung của công bằng hay bình đẳng trong mối quan hệ trao đổi hàng hóa
Mặc dù vậy, những đóng góp của Arixtốt đã được C.Mác đánh giá rất
cao: “Thiên tài Arixtốt chính là ở chỗ, trong biểu hiện giá trị của hàng hóa, ông đã tìm ra được một quan hệ bình đẳng Chỉ có những giới hạn lịch sử xã
Trang 20hội mà ông đang sống mới ngăn cản không cho ông thấy được “trong thực tế”, mối quan hệ bình đẳng đó là cái gì” [4, tr.97-98]
Môrenly (thế kỷ XVIII) là một nhà cộng sản chủ nghĩa không tưởng lớn người Pháp Ông cũng đã có những quan niệm về công bằng và bình đẳng
Đầu tiên, theo ông do chế độ tư hữu ngày càng lan rộng đã làm tiêu tan những luật lệ tự nhiên, những quan hệ bình đẳng tự nhiên
Trong tác phẩm “Bộ luật tự nhiên”, tư tưởng nổi bật là xóa bỏ chế độ
tư hữu Tuy vậy, Môrenly đã không đưa ra được nguyên tắc phân phối công bằng xã hội nào khác ngoài quan điểm cho rằng, việc cải tạo xã hội chỉ cần làm cho kẻ cầm quyền biết điều và có học thức, có đạo đức, để thay đổi được những luật lệ mới tốt hơn như luật phân phối, luật ruộng đất, luật giáo dục, luật cai trị Những hạn chế trên đây đã làm cho Môrenly không đưa ra được phương án thực tế cho việc xóa bỏ chế độ bất công và bất bình đẳng xã hội
Cũng đi theo quan điểm của Môrenly, Gabrien Bonnô de Mably – một nhà tư tưởng người Pháp đã đề ra một mô hình xã hội và gọi nó là “hệ thống cộng đồng tài sản và sự bình đẳng” Tuy nhiên, xã hội mà ông đề chỉ là một
xã hội không tưởng, một xã hội nông thôn với chế độ phân phối bình quân để đáp ứng những nhu cầu cho cuộc sống tối thiểu
Những quan điểm của Mably, mặc dù mang tính chất không tưởng như
đã nói nhưng nó cũng có tác dụng nhất định phục vụ cho cuộc đấu tranh vì mục tiêu xây dựng một xã hội nhân đạo hơn, vì hạnh phúc con người, vì tương lai của một xã hội công bằng và bình đẳng
Đi theo quan điểm công bằng xã hội vì lợi ích của những người lao động, Xanh Ximông (1760-1825), một nhà xã hội chủ nghĩa không tưởng đã
có những đóng góp quan trọng
Công lao của ông là sự thừa nhận sự phát triển của xã hội loài người là một quá trình không ngừng, nó phát triển từ thấp đến cao Xanh Ximông đặt
Trang 21niềm tin vào sự tiến bộ được đánh dấu bằng một xã hội ngày càng công bằng hơn Đứng trước một xã hội đầy rẫy những bất công và bất bình đẳng xã hội bắt nguồn từ chế độ tư hữu, ông ước mơ xây dựng một xã hội tốt đẹp nhằm đáp ứng những nhu cầu về vật chất và tinh thần cho mọi người dân
Tuy nhiên, hạn chế của ông cũng giống như các nhà tư tưởng đi trước, Ximông vẫn chưa đưa ra được phương án căn bản để xóa bỏ sự bất công và bất bình đẳng ấy
Khác với Ximông, Rôbớt Ôoen (1771-1858) là người đã đưa ra được phương án hết sức cụ thể cho việc thực hiện lý tưởng công bằng xã hội, đó là làm sao cho những người lao động được sống xứng đáng với nhân phẩm của mình bằng việc thực hiện một chế độ phân phối đồng đều cho người lao động những kết quả của chính họ Những tư tưởng của Ôoen thực sự là sự phản kháng mạnh mẽ đối với thực tế xã hội tư sản hết sức bất công
Cùng với Xanh Ximông, 2 ông đã trở thành đại diện tiêu biểu của chủ nghĩa xã hội không tưởng thế kỷ XIX với những tư tưởng nhân đạo sâu sắc
Và những quan điểm về công bằng và bình đẳng xã hội đã được tiếp tục
kế thừa và phát triển trong các thế kỷ XIX, XX bởi những đại diện xuất sắc là: C.Mác, Ăngghen, Lênin – các nhà tư tưởng của chủ nghĩa xã hội khoa học Đồng thời với đó, các nhà tư tưởng phương Tây, trong đó đáng kể nhất là J.Rawls (1921-2002), người đã đưa ra một lý thuyết về công bằng xã hội Lý thuyết này được coi là sự tiếp nối, kế thừa tư tưởng truyền thống về công bằng xã hội trong lịch sử, đặc biệt là tư tưởng khế ước xã hội của Rútxô
Trong tác phẩm “A theory of justice” vấn đề công bằng và bình đẳng
đã được J.Rawls nghiên cứu một cách hệ thống mang tính lý thuyết thuần túy,
mà đối tượng của công bằng đã được ông xác định: đó chính là thể chế xã hội nói chung, cái quyết định cho sự lựa chọn nguyên tắc phân chia quyền lợi và nghĩa vụ cơ bản, hay đó là phương thức phân phối lợi ích có được từ hoạt động hợp tác xã hội của mỗi cá nhân
Trang 22Ông quan niệm công lý với tính cách là công bằng, công lý chính là chuẩn mực của trạng thái xã hội lý tưởng mà ở đó mỗi cá nhân khi tham dự vào hợp tác xã hội hoàn toàn dựa vào sự tự nguyện, và ngày càng đạt lợi ích tối đa của mình Theo ông, công bằng chỉ có được khi con người tự nguyện cùng ,tham dự vào hợp tác xã hội để làm cho mỗi cá nhân đạt được lợi ích cao hơn khi họ sống đơn lẻ
Nguyên tắc phân chia quyền lợi và nghĩa vụ trong trạng thái xã hội lý tưởng là công lý, thì trong xã hội cụ thể đó là công bằng Từ đó, J.Rawls đưa đến sự phân chia hai nguyên tắc khác biệt của công lý với tính cách là công bằng:
Thứ nhất: giả định được thực hiện trong trạng thái xã hội lý tưởng nên
yêu cầu phân chia bình đẳng quyền lợi và nghĩa vụ
Thứ hai: thực hiện trong trạng thái xã hội cụ thể và vì ở trạng thái này
tồn tại sự bất bình đẳng về tài sản và năng lực của mỗi con người, cho nên nguyên tắc thứ hai này chỉ công lý khi nó thực hiện sự bù đắp cho những thành viên xã hội ở vị thế bất lợi
Xuất phát từ luận điểm công lý với tính cách là công bằng, trong đó công lý theo nghĩa là chuẩn mực của một xã hội lý tưởng, còn công bằng được hiểu là chuẩn mực của một xã hội cụ thể nói trên, và cả hai đều dựa trên nguyên tắc tự nguyện Trong một thể chế xã hội, công bằng sẽ ngày càng đạt đến giá trị công lý, nếu chuẩn mực của công bằng đảm bảo được sự phân chia ngày càng bình đẳng hơn nữa giữa quyền lợi và nghĩa vụ, hay ngày càng phải hạn chế được sự khác biệt về xuất phát điểm của mỗi cá nhân khi bước vào tham dự hoạt động hợp tác xã hội
Như vậy, những quan điểm về công bằng xã hội của các nhà tư tưởng ngoài Mácxít ở cả phương Đông và phương Tây từ thời xưa đến nay đã góp phần làm phong phú thêm hệ thống lý luận về công bằng xã hội Thấy được
Trang 23những hạn chế, thiếu xót của các hệ tư tưởng trước, từ đó nhận thức rõ ràng hơn nội hàm, bản chất công bằng xã hội
1.2 BỐI CẢNH LỊCH SỬ
1.2.1 Bối cảnh thế giới tác động đến Việt Nam
Trong những thập niên cuối thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI, bối cảnh thế giới đã có những biến đổi to lớn và sâu sắc, ảnh hưởng toàn diện và mạnh mẽ đến mọi mặt đời sống xã hội của các quốc gia, trong đó có Việt Nam, nổi bật là:
- Cuộc cách mạng khoa học công nghệ diễn ra ngày càng mạnh mẽ; đặc biệt là công nghệ thông tin và công nghệ sinh học tiếp tục có những bước nhảy vọt, ngày càng trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, thúc đẩy sự phát triển kinh tế, làm chuyển dịch nhanh cơ cấu kinh tế và biến đổi sâu sắc các lĩnh vực của đời sống xã hội
- Tri thức và sở hữu trí tuệ có vai trò ngày càng quan trọng Kinh tế tri thức phát triển mạnh, do đó con người và tri thức càng trở thành nhân tố quyết định sự phát triển của mỗi quốc gia
- Quá trình quốc tế hoá sản xuất và phân công lao động diễn ra ngày càng sâu rộng; toàn cầu hóa kinh tế, với vai trò ngày càng lớn của các công ty quốc tế xuyên quốc gia ngày càng lớn, tiếp tục phát triển về quy mô, mức độ
và hình thức biểu hiện với nhữmg tác động tích cực và tiêu cực, cơ hội và thách thức đan xen rất phức tạp Việc tham gia vào mạng sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu đã trở thành yêu cầu đối với các nền kinh tế
- Chủ nghĩa tư bản còn tiềm năng phát triển, kinh tế thị trường ngày càng hiện đại, nhưng vẫn tiếp tục tồn tại các mẫu thuẫn; khủng hoảng chu kỳ vẫn là một hiện tượng gắn liền với sự tồn tại và phát triển của chủ nghĩa tư bản
- Trong quan hệ quốc tế, toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế là một xu thế khách quan; vừa là quá trình hợp tác để phát triển, vừa là quá trình
Trang 24đấu tranh của các nước để bảo vệ lợi ích quốc gia Cục diện đa cực với sự chi phối của các nước lớn ngày càng thể hiện rõ thay thế cho cục diện hai cực trước đây; quan hệ quốc gia, dân tộc và giữa các bộ phận, các nhóm dân cư có nhiều điểm mới Hòa bình, hợp tác và phát triển tiếp tục là xu thế lớn, bên cạnh đó vẫn tiếp tục diễn ra xung đột sắc tộc, tôn giáo, tranh giành tài nguyên, lãnh thổ Nổi lên nhiều vấn đề toàn cầu mới đòi hỏi sự tham gia giải quyết của tất cả các quốc gia như thảm họa thiên nhiên, biến đổi khí hậu, dịch bệnh, tội phạm, khủng bố, bùng nổ dân số, đói nghèo
Trong thời đại ngày nay, khi mà cuộc cách mạng tin học đang tạo ra những thay đổi lớn lao cả trong tư duy lẫn hành động của con người, thì những ý tưởng mới hữu ích, lôi cuốn được sự tham gia của đông đảo các quốc gia lại là thước đo quan trọng về sự đóng góp của một nước hay của một tập thể các nước vào tiến bộ của loài người Có lẽ trong tương lai không xa, người ta sẽ đánh giá sức mạnh các quốc gia không chỉ bằng tổng số sắt, thép,
xi măng sản xuất được hoặc GDP tính theo đầu người, mà còn đánh giá qua
sự công bằng xã hội và nền văn minh tinh thần mà nhân dân nước đó được hưởng
Các vấn đề quốc tế và khu vực sẽ ngày càng có sự tham gia tích cực hơn của các quốc gia vừa và nhỏ; mạng lưới song phương, đa phương, khu vực và toàn cầu trong các lĩnh vực kinh tế, an ninh, xã hội sẽ ngày càng phát triển; Vị trí của các tổ chức quốc tế, nhất là Liên Hợp Quốc, các NGO, các tổ chức đoàn thể cũng sẽ được đề cao, nhất là trong giao lưu văn hoá, xã hội giữa các nước và cả trong việc giải quyết các vấn đề toàn cầu như môi trường, sinh thái, dân số
Về bối cảnh khu vực
Trong những thập niên qua, khu vực châu Á - Thái Bình Dương có những biến đổi sâu sắc do tác động của quá trình quốc tế hóa và khu vực hóa
Trang 25Là khu vực phát triển năng động và đang hình thành nhiều hình thức liên kết, hợp tác đa dạng hơn, nhưng còn tiềm ẩn những nhân tố gây mất ổn định, nhất là tranh giành ảnh hưởng, tranh chấp chủ quyền biển, đảo, tài nguyên
Ngày 8/8/1967 ASEAN ra đời từ Tuyên bố Bangkok, kể từ khi thành lập ASEAN được đánh giá là một trong những tổ chức khu vực thành công nhất vì đã có những đóng góp tích cực cho việc duy trì hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở Đông Nam Á cũng như châu Á – Thái Bình Dương
Không thể phủ nhận vị trí và vai trò vô cùng to lớn của ASEAN trong khu vực cũng như trong cộng đồng chung toàn thế giới Nhiều ý kiến cho rằng, cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ nghiêm trọng hiện nay đã làm mất
đi hoặc chí ít là giảm hẳn tầm quan trọng của ASEAN trong chiến lược các nước lớn Nếu nhìn về bề ngoài thì tưởng như ý kiến trên là đúng Tuy nhiên, nếu phân tích kỹ một chút thì có thể thấy ngay là các nhân tố tạo nên vị trí chiến lược của ASEAN vẫn không bị mất đi do cuộc khủng hoảng: không một nước lớn nào có thể bỏ qua trong tính toán chiến lược của mình một khối kinh
tế, chính trị, an ninh với khoảng 500 triệu dân như ASEAN
Và cũng không một nước nào bỏ qua được tầm quan trọng chiến lược
về địa - chính trị của ASEAN ở Biển Đông - con đường giao thông, buôn bán huyết mạch từ Mỹ, châu Âu sang châu Á Tuy hiện nay ASEAN đang gặp nhiều khó khăn, nhưng dấu hiệu phục hồi đã rõ và những nhân tố tạo nên sự thần kỳ thực sự về kinh tế vẫn còn ( đội ngũ lao động cần cù, có học thức, có tay nghề, tỷ lệ tiết kiệm vẫn cao, qua khủng hoảng lại càng có thêm kinh nghiệm trong điều chỉnh kinh tế vĩ mô ) Từ đó có thể thấy, ASEAN vẫn là một nhân tố mà tất cả các nước lớn đều phải tranh thủ, coi trọng và trên thực
tế các nước trên vẫn đang làm như vậy cả trước, trong và sau cuộc khủng hoảng ở Đông Á
Trang 26Hiến chương ASEAN chính thức có hiệu lực ngày 15/12/2008, xác định mục tiêu phát triển trong giai đoạn mới là xây dựng một cộng đồng ASEAN trên 3 trụ cột là chính trị - an ninh, kinh tế, và văn hoá - xã hội vào năm 2015 Hiến chương ASEAN là văn kiện pháp lý tổng thể tạo khung pháp
lý và khuôn khổ thể chế nhằm thúc đẩy các hoạt động hợp tác, liên kết khu vực và xây dựng Cộng đồng ASEAN Hiến chương ASEAN sẽ tạo ra một khuôn khổ cho phép tổ chức này đối phó hiệu quả hơn với các thách thức hiện nay, đồng thời gánh vác trách nhiệm tăng cường hoà bình, an ninh, ổn định, cũng như tăng trưởng kinh tế, thúc đẩy các nguyên tắc dân chủ, pháp quyền trong khu vực
Cũng vì vậy mà vị thế của châu Á trong nền kinh tế thế giới tăng lên, bên cạnh một Trung Quốc ngày càng lớn mạnh về mọi mặt
Những xu hướng này vẫn tiếp tục diễn ra trong 10 năm tới; đồng thời, các nước ASEAN bước vào thời kỳ hợp tác mới theo Hiến chương ASEAN
và xây dựng Cộng đồng dựa trên ba trụ cột: chính trị - an ninh, kinh tế, văn hóa - xã hội; hợp tác với các đối tác tiếp tục phát triển và đi vào chiều sâu
Việt Nam đang hội nhập ngày càng sâu vào nền kinh tế thế giới, có thể nói rằng, Việt Nam là nền kinh tế hướng ngoại lớn và ngày càng tăng độ mở cửa của nền kinh tế ở mức cao, nhất là trong lĩnh vực thương mại và đầu tư, tỷ
lệ xuất – nhập khẩu đạt 150 – 160% GDP, vốn FDI chiếm hơn 30% tổng số vốn xã hội Đặc biệt, năm 2007, Việt Nam ra nhập tổ chức Thương mại thế giới (WTO), Việt Nam sẽ ngày càng chịu sự ảnh hưởng và tác động mạnh mẽ của những biến động thế giới
Như vậy, tình hình thế giới và bối cảnh khu vực trên tạo cho nước ta vị thế mới với những thuận lợi và cơ hội to lớn cùng những khó khăn và thách thức gay gắt trong việc thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ trong thời kỳ chiến lược tới
Trang 271.2.2 Quá trình nhận thức và chủ trương thực hiện công bằng xã hội của Đảng trước Đại hội IX (2001)
Trước đổi mới, nước ta thực hiện một nền kinh tế quản lý kế hoạch hóa tập trung với hai hình thức sở hữu cơ bản: sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể
về tư liệu sản xuất Dù có một số thành tựu song nền kinh tế ấy bộc lộ nhiều hạn chế như: kìm hãm sức sản xuất, giảm năng xuất, chất lượng và hiệu quả, gây rối loạn trong phân phối và gây ra nhiều hiện tượng tiêu cực trong xã hội
Bước vào thời kỳ đổi mới, nền kinh tế bao cấp tập trung quan liêu bị xóa bỏ, Đảng ta đã thừa nhận sai lầm và thiếu xót, trên tinh thần “nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật” của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (12/1986) Đảng và Nhà nước đã kịp thời lãnh đạo nhân dân sửa sai, khắc phục khó khăn, thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện đất nước
Trong những năm qua, đường lối của Đảng cũng như chính sách của Nhà nước đã thể hiện quan điểm mới, sâu sắc và toàn diện trong việc giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội
Điều này được phản ánh một cách nhất quán trong các văn kiện lớn của Đảng và trong chính sách phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong suốt thời kỳ đổi mới
Trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ Nếu Đại hội VI mới chỉ đặt vấn đề gắn kế hoạch phát triển giáo dục và khoa học, kỹ thuật với kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, thì đến Đại hội VII của Đảng lần
đầu tiên đã nêu lên một quan điểm chỉ đạo có tầm nhìn xa: “Đẩy mạnh hơn nữa sự nghiệp giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, coi đó là quốc sách hàng đầu để phát huy nhân tố con người, động lực trực tiếp của sự phát triển” [12, tr.121]
Trong khi thường xuyên nêu cao nhiệm vụ phát triển giáo dục và đào tạo, một trong những tiêu chí cơ bản của tiến bộ xã hội Đảng ta đã nhiều lần nhắc tới chủ trương thực hiện công bằng trong giáo dục:
Trang 28Nghị quyết Trung ương 4 khóa VII (1/1993) về “Tiếp tục đổi mới sự nghiệp giáo dục và đào tạo” ghi rõ: “Thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục…Nhà nước có chính sách bảo đảm cho người nghèo và các đối tượng chính sách đều được đi học” [9, tr.62]
Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII lại khẳng định: “Thực hiện công bằng trong giáo duc – đào tạo Tạo điều kiện để ai cũng được học hành Người nghèo được Nhà nước và cộng đồng giúp đỡ để học tập Bảo đảm điều kiện cho những người học giỏi phát triển tài năng” [10, tr.30]
Những vấn đề lớn trong lĩnh vực xóa đói giảm nghèo, phát triển nông thôn cũng được cụ thể hóa trong một số văn kiện lớn của Đảng, như Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa VII (6-1993) về phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn đã đề ra chủ trương xóa đói giảm nghèo trong chiến lược phát triển nông thôn, nông nghiệp và nông dân cũng như trong chiến lược phát triển chung của xã hội và đã trở thành một chủ trương chiến lược, nhất quán, liên tục được bổ sung, hoàn thiện qua các kỳ Đại hội của Đảng
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 khóa VII (7-1994) về công nghiệp hóa, hiện đại hóa khẳng định lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững; động viên toàn dân cần, kiệm để xây dựng đất nước, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế gắn với cải thiện đời sống nhân dân; phát huy văn hóa, giáo dục; thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; bảo vệ môi trường…
Đại hội VIII của Đảng đánh dấu bước phát triển mới trong chỉ đạo về vấn đề này Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII khẳng định:
Tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ xã hội và công bằng
xã hội ngay trong từng bước và trong suốt quá trình phát triển Công bằng xã hội phải thể hiện ở cả khâu phân phối hợp lý tư liệu sản xuất lẫn ở khâu phân phối kết quả sản xuất, ở việc tạo điều kiện cho mọi
Trang 29người đều có cơ hội phát triển và sử dụng tốt năng lực của mình [8, tr.113]
Trong lĩnh vực phân phối, văn kiện Đại hội VIII viết:
Thực hiện nhiều hình thức phân phối, lấy phân phối theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế là chủ yếu, đồng thời phân phối dựa trên mức đóng góp các nguồn lực khác vào kết quả sản xuất kinh doanh và phân phối thông qua phúc lợi xã hội, đi đôi với chính sách điều tiết hợp
lý, bảo hộ quyền lợi của người lao động [8, tr.113-114]
Đại hội lần thứ VIII của Đảng một lần nữa nhấn mạnh tầm quan trọng đặc biệt của công tác xóa đói giảm nghèo, xác định phải nhanh chóng đưa các
hộ nghèo thoát ra khỏi hoàn cảnh túng thiếu và sớm hòa nhập với sự phát triển chung của đất nước; đề ra Chương trình quốc gia về xóa đói giảm nghèo trong 5 năm 1996 – 2000 cùng với 10 Chương trình kinh tế - xã hội khác
Đến Hội nghị Trung ương 4 khóa VIII, Đảng ta nhấn mạnh rằng, phát triển kinh tế phải đi đôi với thực hiện công bằng xã hội, thu hẹp khoảng cách giữa thành thị và nông thôn, giữa nông thôn với nông thôn, giữa thành thị với thành thị, giữa các tầng lớp xã hội
Thực hiện chủ trương của Đảng, đầu năm 1998, Chính phủ chính thức phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia về xóa đói giảm nghèo (Chương trình 133) cho giai đoạn 1998-2000 Tháng 7/1998, Thủ tướng Chính phủ tiếp tục bổ sung Chương trình 135 - Chương trình hỗ trợ phát triển cơ sở hạ tầng thiết yếu các xã miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn Mục tiêu chính của chương trình này là hỗ trợ xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng như: hệ thống điện, đường giao thông, trường học, trạm y tế tại 1715 xã nghèo trên phạm vi cả nước
Bằng việc thực hiện những chủ trương, chính sách cụ thể về các lĩnh vực xã hội, trong những năm đầu của sự nghiệp đổi mới, đất nước ta đạt được nhiều kết quả quan trọng như:
Trang 30Đến năm 2000 tỷ lệ nghèo của cả nước còn 10% theo chuẩn cũ Tuy nhiên, chúng ta cũng nhận thấy, không thể chỉ theo đuổi mục tiêu giảm nhanh
tỷ lệ hộ nghèo mà cần giữ vững kết quả giảm nghèo đã đạt được, tăng khả năng bền vững, hiệu quả của công tác giảm nghèo, đặc biệt trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường
Sự nghiệp giáo dục có bước phát triển về quy mô, đa dạng hóa về loại hình trường lớp từ mầm non, tiểu học, đến cao đẳng, đại học Đến năm 2000,
cả nước đã đạt chuẩn quốc gia về xóa mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học
Công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân có tiến bộ Các chỉ số sức khỏe cộng đồng được nâng lên, đặc biệt là nhân dân ở các vùng khó khăn, đồng bào dân tộc thiểu số So với 1995, đến nay các bệnh sốt rét, bướu cổ ở đồng bào các dân tộc thiểu số miền núi đã giảm 60 – 70% so với trước
Nhìn chung lại, với kết quả đã đạt được trong những năm đầu đổi mới, mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ công bằng xã hội đã được chú trọng ở mức độ nhất định Các vấn đề xã hội được quan tâm, đời sống nhân dân được nâng lên đáng kể, phát triển văn hóa cũng được giải quyết một cách khá hiệu quả
Với nhận thức bước đầu về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội, và kết quả to lớn đã đạt được đã tạo tiền đề mạnh mẽ cho những bước phát triển nhận thức về sau, để kết quả đạt được về các lĩnh vực
xã hội ngày càng to lớn, góp phần phát triển kinh tế bền vững, xây dựng một
xã hội công bằng, văn minh, Đảng cần chú trọng hơn nữa về các chính sách phát triển mọi mặt kinh tế - xã hội
Trang 311.3 CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG TRONG LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN GIẢI QUYẾT MỐI QUAN HỆ GIỮA PHÁT TRIỂN KINH TẾ VÀ CÔNG BẰNG XÃ HỘI TỪ NĂM 2001 ĐẾN 2006
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng căn dặn: “Chính sách của Đảng và Chính phủ phải hết sức chăm nom đến đời sống nhân dân Nếu dân đói Đảng
và Chính phủ có lỗi; nếu dân rét là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân dốt là Đảng và Chính phủ có lỗi” và “Dân đủ ăn, đủ mặc thì những chính sách của Đảng và Chính phủ sẽ dễ dàng thực hiện; Nếu dân đói, rét, dốt, bệnh thì chính sách của ta dù có hay mấy thì cũng không thực hiện được” Tư tưởng
của Người đã được thấm nhuần và quán triệt trong suốt những năm qua
Đảng ta đã nhận thức được mục tiêu của chính sách phát triển kinh tế thống nhất với mục tiêu phát triển xã hội, đều nhằm phát huy sức mạnh của nhân tố con người và vì con người Kết hợp hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, xã hội; giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội; giữa đời sống vật chất và đời sống tinh thần của nhân dân Coi phát triển kinh
tế là tiền đề để thực hiện những chính sách xã hội, thực hiện tốt chính sách xã hội là động lực thúc đẩy kinh tế Hai phương diện tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội có mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại, thúc đẩy nhau cùng phát triển
Ngay từ khi đổi mới, Đảng ta đã chú trọng giải quyết mối quan hệ trên Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Đảng ta tiếp tục khẳng định mục tiêu đẩy mạnh sự nghiệp CNH – HĐH đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội Mục tiêu ấy vừa hàm chứa nội dung tăng trưởng kinh tế, vừa có tiến bộ
và công bằng xã hội
Sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước cùng với quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã mở ra những khả năng
Trang 32mới cho sự kết hợp hài hòa mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội
Công bằng xã hội bao hàm nhiều nội dung ngoài kinh tế, đó là thực hiện công bằng xã hội trong việc phân phối các thành quả của phát triển xã hội về các phương diện như văn hóa, giáo dục, y tế, hạ tầng cơ sở…
Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ IX, trong kế hoạch phát triển kinh tế -
xã hội 5 năm 2001 -2005 cũng đã chỉ rõ: “Tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững; ổn định và cải thiện đời sống nhân dân…Tạo chuyển biến mạnh mẽ về giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, phát huy nhân tố con người Tạo việc làm; cơ bản xóa đói, giảm số hộ nghèo; đẩy lùi các tệ nạn xã hội” [16,
- Vấn đề công bằng xã hội trong chế độ phân phối tư liệu sản xuất:
“Thực hiện tốt các chính sách xã hội hướng vào phát triển và lành mạnh hóa xã hội; thực hiện công bằng trong phân phối…” [16, tr.474]
Với yêu cầu thực hiện công bằng trong phân phối kết quả sản xuất, cần phải tạo cơ hội cho mọi người đều được cống hiến và được hưởng thành quả của sự phát triển đã được nêu ra ở Đại hội VII
Nhưng vấn đề đặt ra là công bằng trong phân phối tư liệu sản xuất như thế nào? Việc phân phối tư liệu sản xuất phải được thực hiện công bằng, đồng thời là hợp lý Việc phân phối hợp lý dựa vào hiệu quả kinh tế của việc sử dụng tư liệu sản xuất đã kéo theo sự hợp lý trong việc chuyển đổi cơ cấu của nền kinh tế Việc phân phối một cách hợp lý nguồn lực theo nghĩa như trên đã hạn chế được sức ép của tình trạng thiếu hụt việc làm và nạn thất nghiệp Nói
Trang 33khác đi đây cũng chính là kết quả mở rộng việc tiếp cận cơ hội bình đẳng – có việc làm cho người lao động
Để việc phân phối tư liệu sản xuất hợp lý cần căn cứ vào hiệu quả sử dụng chúng, Đảng và Nhà nước cũng đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để tất cả các chủ thể đều có quyền ngang nhau Và để đảm bảo quyền ngang nhau ấy, Đại hội IX đã nhấn mạnh đến yêu cầu phải thúc đẩy việc hình thành, phát triển và từng bước hoàn thiện các loại thị trường…Đây chính là điều kiện quan trọng để thực hiện phân phối tư liệu sản xuất ngày càng hợp lý và công bằng
Thứ nhất, vấn đề xóa đói giảm nghèo, nâng cao đời sống các tầng lớp
nhân dân:
Nói đến đói nghèo là nói đến vấn đề con người, liên quan đến sự phát triển con người Đói nghèo có nghĩa là không có cơ hội phát triển, không được bảo vệ trong cuộc sống và không có vị thế trong xã hội Trên thế giới, đói nghèo trở thành một căn bệnh kinh niên, nó tác động và ảnh hưởng qua lại bởi tình hình phát triển kinh tế của mỗi quốc gia
Việt Nam còn là một nước nghèo và đang phát triển, có điểm xuất phát thấp do bị chiến tranh tàn phá và do hậu quả để lại của một thời kỳ bao cấp sai lầm, nên vấn đề xóa đói giảm nghèo càng trở nên cấp thiết và là một nhiệm
vụ chiến lược để phát triển bền vững đất nước
Thực tế cho thấy tình trạng chênh lệch giàu nghèo giữa các vùng còn khá lớn Gần hai thập kỷ qua, Nhà nước đã quan tâm nhiều đến việc xây dựng
cơ sở hạ tầng kinh tế, xã hội để thu hẹp sự cách biệt giữa các vùng, miền Tuy nhiên, ở các vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số hệ thống giao thông, liên lạc, giáo dục, y tế…vẫn chưa được bảo đảm
Vấn đề xóa đói giảm đã được Đảng ta nhận thức và thực hiện từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, và tiếp tục được phát triển qua các kỳ Đại hội Đảng VII, VIII
Trang 34Đến Đại hội IX, nhận thức của Đảng về xóa đói giảm nghèo được nâng lên tầm cao mới, đặt xóa đói giảm nghèo trong chiến lược phát triển kinh tế -
xã hội, quan điểm giảm nghèo bền vững đã được đề cập và thể hiện trong Nghị quyết Đại hội IX của Đảng là:
Tiếp tục thực hiện có hiệu quả chương trình xóa đói giảm nghèo Quan tâm xây dựng kết cấu hạ tầng cho các vùng nghèo, xã nghèo; đồng thời nâng cấp, cải tạo các tuyến trục giao thông nối vùng nghèo, xã nghèo với nơi khác, tạo điều kiện thuận lợi cho vùng nghèo, vùng khó khăn phát triển Đi đôi với việc xây dựng kết cấu hạ tầng, phải rất coi trọng việc tạo nguồn lực cần thiết
để dân cư ở các vùng nghèo, xã nghèo đẩy mạnh sản xuất, phát triển ngành nghề, tăng nhanh thu nhập…Nâng dần mức sống của các hộ đã thoát nghèo, tránh tình trạng tái nghèo
Bằng nhiều chương trình hỗ trợ khác nhau của Đảng và Nhà nước, của các tổ chức quốc tế, công tác xóa đói giảm nghèo cần được quan tâm hơn nữa
Có thể nói rằng, chủ trương, quan điểm của Đảng ta về xóa đói giảm nghèo thể hiện rất rõ quan điểm có tính chất chiến lược, xuyên suốt và nhất quán là tăng trưởng kinh tế gắn với bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội trong từng bước phát triển, góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân
dân; thực hiện mục tiêu: “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”
Thứ hai, chủ trương phát triển và đổi mới sự nghiệp giáo dục:
Nhân loại bước vào thế kỷ XXI, thế kỷ của nền văn minh tri thức, từ một nền kinh tế chủ yếu dựa vào tài nguyên thiên nhiên sang nền kinh tế dựa vào con người Khoa học và công nghệ trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp làm thay đổi sâu sắc bộ mặt thế giới Những thành tựu của khoa học công nghệ thể hiện trên nhiều lĩnh vực khác nhau Internet, vật liệu mới, công nghệ sinh học, công nghệ vũ trụ…đã đặt những yêu cầu mới đối với giáo dục và đào tạo ở nước ta
Trang 35Trước đây, các quan điểm của Đảng và Nhà nước đều coi trọng sự nghiệp GD & ĐT, song thực tế nhiều khi GD & ĐT chỉ được xem là phúc lợi
xã hội, là lĩnh vực phi sản xuất, là gánh nặng cho nền kinh tế Nhưng từ Đại hội VII (1991) đến nay, Đảng ta đã xác định rõ GD & ĐT là một động lực trực tiếp của sự phát triển, phải được xem là quốc sách hàng đầu phát huy nguồn lực con người – mục tiêu, chiến lược phát triển đất nước
Thực hiện chủ trương của Đảng, giáo dục và đào tạo nước nhà có nhiều bước chuyển biến, góp phần to lớn vào sự nghiệp CNH, HĐH đất nước Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng Cộng sản Việt Nam đã nêu bật những quan điểm sau: Phát triển giáo dục toàn diện; xây dựng nền giáo dục
theo hướng “chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa” [14, tr.109]; thực hiện công
bằng xã hội trong giáo dục, phát triển giáo dục đào tạo gắn với nhu cầu phát
triển kinh tế – xã hội; thực hiện phương châm “học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn liền với đời sống xã hội” [14,
tr.109]; coi trọng hướng nghiệp dạy nghề, tập trung vào mục tiêu nhân lực
Đảng đã nhận thức và xác định xây dựng mô hình xã hội học tập, tạo điều kiện cho mọi người đều có cơ hội đi học, và học tập suốt đời
Nghị quyết Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 7 (khóa IX), viết: “Toàn dân xây dựng một phong trào để cả nước trở thành một xã hội học tập, học tập suốt đời”
Hội nghị Trung ương lần thứ 9 cùng khóa cũng đã khẳng định: “Đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục, xây dựng xã hội học tập”
Vậy là ở Việt Nam thuật ngữ “xã hội học tập” đã được chính thức đưa
vào các văn bản của Đảng và Nhà nước Nhưng việc thể hiện bản chất khái niệm này và việc xây dựng nó ra sao lại là một vấn đề phức tạp và khó khăn
Nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, phải tiến hành đổi mới đồng bộ và toàn diện cả nội dung và phương pháp dạy và học, hệ thống
Trang 36trường lớp và hệ thống quản lý giáo dục; thực hiện chuẩn hóa, hiện đại hóa,
xã hội hóa Phát huy tinh thần độc lập suy nghĩ và sáng tạo của học sinh
Tăng ngân sách nhà nước cho giáo dục và đào tạo theo nhịp độ tăng trưởng kinh tế, thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục, tạo điều kiện cho người nghèo có cơ hội học tập
Như vậy, Đảng ta đã có nhận thức đúng đắn và sâu sắc về vai trò quan trọng của phát triển giáo dục và đào tạo, nhằm đào tạo đội ngũ xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội đất nước
Thứ ba, vấn đề chăm sóc sức khỏe, phát triển y tế:
Vấn đề công bằng xã hội thường được nói nhiều trong vấn đề chăm sóc sức khỏe nhân dân và trong lĩnh vực y tế, đây được xem là hai vấn đề mà cả
xã hội quan tâm Hơn nữa, việc đảm bảo công bằng trong lĩnh vực y tế đã phản ánh rõ nét toàn bộ những nội dung cơ bản của những tiêu chí thực hiện công bằng xã hội ở nước ta hiện nay Để xây dựng thành công một mạng lưới
y tế cộng đồng là vấn đề không chỉ của riêng ngành y tế mà còn là của Đảng
và Nhà nước ta
Đến Đại hội Đảng lần thứ IX, vấn đề công bằng trong y tế đã được
nâng lên, văn kiện Đại hội IX chỉ rõ: “Thực hiện công bằng xã hội trong chăm sóc sức khỏe; đổi mới cơ chế và chính sách viện phí; có chính sách và trợ cấp, bảo hiểm y tế cho người nghèo, tiến tới bảo hiểm y tế toàn dân”
Trên cơ sở những chủ trương đó về thực hiện công bằng xã hội trong y
tế, chăm sóc sức khỏe nhân dân; Đảng và Nhà nước ta quan tâm xây dựng một hệ thống an sinh đảm bảo mọi người đều được đảm bảo về quyền lợi được chăm sóc sức khỏe, kể cả người nghèo
Việc phấn đấu xây dựng một nền y tế theo hướng “công bằng, hiệu quả
và phát triển” để mọi người dân đều được chăm sóc và nâng cao sức khỏe
không chỉ góp phần phát triển nguồn lực con người, phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước, sớm đưa nước ta cơ bản trở thành
Trang 37một nước công nghiệp vào năm 2020, mà còn thể hiện bản chất nhân đạo xã hội chủ nghĩa ở nước ta
Như vậy công bằng xã hội là mục tiêu đã được xác định từ những ngày đầu bước vào công cuộc đổi mới, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta Việc thực hiện công bằng xã hội trong các lĩnh vực phân phối tư liệu sản xuất, xóa đói giảm nghèo được Đảng ta đặc biệt quan tâm, trong lĩnh vực y tế, giáo dục – đào tạo – những lĩnh vực nhạy cảm hiện nay – đang là mối quan tâm của toàn xã hội vì nó đụng chạm đến lợi ích thiết than của mỗi con người, mỗi gia đình, mỗi cộng đồng
Đồng thời để đảm bảo định hướng nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa, trong quá trình thực hiện công bằng xã hội phải được kết hợp chặt chẽ với việc thực hiện từng bước bình đẳng xã hội để vừa tạo ra động lực cho sự phát triển xã hội, vừa kiềm chế được sự gia tăng của bất bình đẳng xã hội Những chủ trương, chính sách trong các lĩnh vực này ngày càng phải hợp lý hơn, phù hợp hơn với thực tiễn nước nhà, đòi hỏi Đảng ta không ngừng phát triển nhận thức và giữ vững vai trò lãnh đạo sáng suốt của mình
Trang 38Chương 2
QUÁ TRÌNH ĐẢNG LÃNH ĐẠO GIẢI QUYẾT MỐI QUAN
HỆ GIỮA PHÁT TRIỂN KINH TẾ VÀ CÔNG BẰNG XÃ HỘI
10 năm 2001 - 2010 tăng trưởng 7,26%/năm, đạt mục tiêu chiến lược đã đề ra
Như vậy, Việt Nam là một trong những nước có tốc độ tăng trưởng
kinh tế nhanh so với các nước trong khu vực và trên thế giới Việt Nam đã ra
khỏi tình trạng nước nghèo, kém phát triển; bước vào nhóm nước đang phát triển có thu nhập trung bình
Cùng với sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế, các vấn đề về an sinh xã hội, giáo dục, y tế và xóa đói giảm nghèo cũng được Đảng, Nhà nước quan tâm và xem như là một chiến lược trong phát triển kinh tế - xã hội đất nước, là động lực để phát triển bền vững