THUẬT NGỮ VIẾT TẮT NAFTA : Hiệp định thương mại tự do Bắc Mỹ ANZERTA : Hiệp định mậu dịch tự do Ôxtrâylia – Niu Dilân ANZERTA APEC : Tổ chức hợp tác thuộc khu vực Châu Á – Thái Bình Dươn
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Mục đích, nhiệm vụ, giới hạn của đề tài 2
4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 3
5 Đóng góp của khóa luận 3
6 Bố cục 3
CHƯƠNG 1: MỐI QUAN HỆ GIỮA VIỆT NAM VỚI MỘT SỐ NƯỚC TRONG KHU VỰC- CHÂU Á- THÁI BÌNH DƯƠNG 4
1.1 VỊ TRÍ VÀ VAI TRÒ CỦA KHU VỰC CHÂU Á THÁI BÌNH DƯƠNG VỚI CỘNG ĐỒNG QUỐC TẾ 4
1.1.1 Khái quát khu vực Châu Á- Thái bình Dương 4
1.1.2 Vị trí và vai trò của khu vực Châu Á- Thái bình Dương với cộng đồng quốc tế 6
1.2 MỐI QUAN HỆ GIỮA VIỆT NAM VỚI MỘT SỐ NƯỚC TRONG KHU VỰC CHÂU Á - THÁI BÌNH DƯƠNG TRƯỚC NĂM 1986 8
1.2.1 Với Trung Quốc 8
1.2.2 Với Hoa Kỳ 9
1.2.3 Với Nhật Bản 10
1.2.4 Với các nước Đông Nam Á 12
1.2.5 Với Ôxtrâylia 15
Tiểu kết chương 1 16
CHƯƠNG 2 QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP CHÂU Á - THÁI BÌNH DƯƠNG THEO ĐƯỜNG LỐI CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM 17
2.1 ĐƯỜNG LỐI ĐỐI NGOẠI CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM 17
Trang 22.1.1 Bối cảnh lịch sử và xu thế toàn cầu hóa 17
2.1.2 Đường lối đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam (có với khu vực Châu Á- Thái bình Dương) 18
2.2 QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP KHU VỰC CHÂU Á - THÁI BÌNH DƯƠNG 25
2.2.1 Bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc 25
2.2.2 Bình thường hóa quan hệ với Hoa Kỳ 29
2.2.3 Khai thông, mở rộng quan hệ Việt Nam –Nhật Bản 35
2.2.4 Hội nhập ASEAN 39
2.2.5 Thiết lập quan hệ Việt Nam - APEC 44
2.3 Thành tựu, thách thức và kinh nghiệm 48
2.2.1 Thành tựu 48
2.3.2 Thách thức 50
2.3.3 Kinh nghiệm 53
Tiểu kết chương 2 57
KẾT LUẬN 58
TÀI LIỆU THAM KHẢO 60
Trang 3
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình nghiên cứu đề tài “Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo quá trình hội nhập châu Á - Thái Bình Dương thời kỳ đổi mới (1986 - 2002)” Em xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành nhất tới Tiến sĩ Khuất Thị Hoa - Người đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ em hoàn thành khóa luận này
Em xin bày tỏ lòng cảm ơn tới các thầy, cô trong trường Đại học sư phạm Hà Nội 2; đặc biệt là các thầy cô trong khoa Lịch sử đã giúp đỡ em trong suốt thời gian qua
Em cũng xin bày tỏ lời cảm ơn tới gia đình cũng như bạn bè đã tạo điều kiện và giúp đỡ em trong thời gian hoàn thành khóa luận
Trong quá trình nghiên cứu, với điều kiện hạn chế về thời gian cũng như kiến thức của bản thân nên khóa luận khó tránh khỏi những thiếu sót Kính mong sự chỉ bảo của các thầy cô cũng như các bạn sinh viên
Hà Nội, Tháng 5 năm 2013
Sinh viên
Trần Thị Ngân
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan với đề tài: “Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo quá trình hội nhập châu Á - Thái Bình Dương thời kỳ đổi mới (1986 - 2002)”
là kết quả nghiên cứu của riêng tôi dựa trên những kiến thức đã được học trong chuyên ngành Lịch sử Đảng và các tài liệu tham khảo, đặc biệt dưới sự giúp đỡ của Tiến sĩ Khuất Thị Hoa Kết quả này không trùng với kết quả của bất cứ tác giả nào khác Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà Nội, Tháng 5 năm 2013
Sinh viên Trần Thị Ngân
Trang 5THUẬT NGỮ VIẾT TẮT
NAFTA : Hiệp định thương mại tự do Bắc Mỹ
ANZERTA : Hiệp định mậu dịch tự do Ôxtrâylia – Niu Dilân (ANZERTA) APEC : Tổ chức hợp tác thuộc khu vực Châu Á – Thái Bình Dương AFTA : Khu vực mậu dịch tự do ASEAN
DCND : Dân Chủ Nhân Dân
DCCH : Dân Chủ Cộng Hòa
GNP : Tổng sản phẩm quốc dân
G7 : Các nước công nghiệp phát triển
HNBCHTW : Hội nghị Ban Chấp Hành trung ương
IMF : Quỹ tiền tệ quốc tế
NQTW : Nghị quyết trung ương
NIC : Nước công nghiệp mới
OSS : Cơ quan tình báo chiến lược Hoa Kỳ
SEATO : Hiệp ước quân sự Đông Nam Á
POW/MIA : Tù binh chiến tranh và người mất tích trong chiến tranh
EU : Liên minh Châu Âu
WTO : Tổ chức thương mại thế giới
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Vào cuối thế kỷ XX, trước sự biến động to lớn và toàn diện của thế giới, đặc biệt trong lĩnh vực quan hệ quốc tế, Đảng Cộng sản Việt Nam đã kịp thời điều chỉnh chiến lược đối ngoại, sáng suốt đề ra đường lối, chủ trương phù hợp với tình hình, phát triển mạnh mẽ quan hệ hữu nghị, hợp tác với các nước, tham gia tích cực đời sống quốc tế Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
IX của Đảng đã đánh giá cao hoạt động đối ngoại thời kỳ đổi mới là đã “phá được thế bị bao vây cấm vận, mở rộng được quan hệ đối ngoại và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế” Một thành công lớn của hoạt động đối ngoại thời
kỳ này là quá trình hội nhập khu vực Châu Á – Thái Bình Dương thông qua việc bình thường hóa và thiết lập quan hệ hữu nghị hợp tác với các nước, tham gia tổ chức ASEAN (7/1995), trở thành thành viên của tổ chức APEC ( tháng 11/1998), góp phần tạo môi trường khu vực hòa bình, thuận lợi và tranh thủ các nguồn lực bên ngoài, hiện đại hóa đất nước
Thành công của quá trình hội nhập khu vực đã khẳng định sự đúng đắn của đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng được đề ra từ đại hội Đảng lần thứ VI, đồng thời là những kinh nghiệm quý báu, cơ sở quan trọng cho việc hoạch định các chủ trương, chính sách đối ngoại của Đảng và nhà nước trong thời gian tới
Việc nghiên cứu quá trình Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế nói chung, hội nhập khu vực Châu Á – Thái Bình Dương nói riêng theo đường lối đổi mới của Đảng là rất cần thiết, vừa mang ý nghĩa khoa học, vừa có giá trị thực tiễn sâu sắc, nhất là trong thời điểm hiện nay, khi Việt Nam đang phấn đấu để tiếp tục hội nhập nền kinh tế quốc tế Đồng thời, từ thực tiễn quá trình
Trang 7trong thời gian tới Đề tài còn là nguồn tư liệu quý , bổ ích trong quá trình giảng dạy, học tập lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Vì những lý do trên tôi quyết định chọn vấn đề : “Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo quá trình hội nhập Châu Á – Thái Bình Dương thời kỳ đổi mới(1986 - 2002)”, làm đề tài khóa luận tốt nghiệp cử nhân ngành lịch sử của mình
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Liên quan đến vấn đề nghiên cứu có một số công trình như sau:
Nguyễn Hữu Cát, "Chính sách đối ngoại của Mỹ đối với các nước lướn trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương, tạp chí Cộng Sản, 1977, tr.56 - 59
Hồ Châu, Nguyễn Hoàng Giáp: “Cục diện mới ở Châu Á - Thái Bình Dương và sự lựa chọn - điều chỉnh chính sách kinh tế của một số nước lớn trong khu vực hiện nay”, tạp chí Nghiên cứu Quốc tế, số 5, tháng 3/1995, tr 16 - 22
Võ Hùng Dũng, "Ngoại thương Việt Nam từ 1991 - 2000 những thành tựu
và suy nghĩ", Tạp chí nghiên cứu kinh tế, tháng 10/2002
Lê Thu Hằng “APEC: một số vấn đề cơ bản”, Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương, số 3, tháng 9/1998, tr 55 - 61
Vũ Khoan: Châu Á Thái Bình Dương - một hướng lớn trong chính sách đối ngoại của nhà nước ta”, tạp chí Cộng sản, tháng 7/1993, tr 35 - 37…
Lê Văn Sang, "Việt Nam gia nhập APEC: Những lợi ích có thể dành được và những khó khăn phải vượt qua", tạp chí kinh tế châu Á - Thái Bình Dương, số 3, tháng 9/1998, tr.3 - 12
Chủ yếu các tác giả trên đề cập đến vấn đề kinh tế, việc hội nhập và phát triển trong quan hệ các nước châu Á - Thái Bình Dương trong giai đoạn hiện nay và một số định hướng trong việc đề ra quan hệ với các nước thuộc khu vực Các tác giả trên đề cập đến việc Việt Nam gia nhập Châu Á - Thái
Trang 8Bình Dương một cách chung chung, chưa có đề tài nào đề cập đến Việt Nam gia nhập Châu Á - Thái Bình Dương theo đường lối của Đảng
3 Mục đích, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu trong đề tài: Làm sáng rõ quá trình hội nhập châu
Á- Thái Bình Dương theo đường lối đối ngoại rộng mở của Đảng Cộng sản Việt Nam (1986-2002), từ đó rút ra một vài kinh nghiệm
Xác định nhiệm vụ của đề tài: Trình bày có hệ thống quan điểm, quá
trình lãnh đạo và hiệu quả chiến lược trên lĩnh vực đối ngoại với các nước trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương của Đảng giai đoạn 1986-2002, đối ngoại của Đảng Cộng Sản Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu: Thời kỳ đổi mới giai đoạn 1986-2002
4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
Nguồn tài liệu
Nguồn tư liệu được sử dụng chủ yếu trong khóa luận bao gồm:
- Các văn kiện của Đảng, Nghị quyết Hội nghị BCH TƯ, các nghị quyết, chỉ thị của Trung ương Đảng
- Các văn kiện của Nhà nước như Hiến Pháp, Pháp lệnh, các nghị quyết, chỉ thị, nghị định, quyết định của chính phủ Các tài liệu về tổ chức Châu Á - Thái Bình Dương có đề cập tới Việt Nam gia nhập tổ chức Những văn kiện của Đảng về chính sách, đường lối hội nhập khu vực Châu Á - Thái Bình Dương
- Một số sách, báo, tạp chí trong và ngoài nước đã xuất bản
- Các công trình khoa học nghiên cứu về châu Á - Thái Bình Dương
Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện nghiên cứu đề tài này, người viết đã sử dụng phương pháp luận sử học của chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, kết hợp
Trang 9phương pháp lịch sử và phương pháp logic Bên cạnh đó còn sử dụng các phương pháp khác như : so sánh, đối chiếu, thống kê, tổng hợp, phân tích
5 Đóng góp của khóa luận
Làm sáng rõ quá trình hội nhập châu Á- Thái Bình Dương theo đường lối đối ngoại rộng mở của Đảng Cộng sản Việt Nam (1986-2002), từ đó rút ra một vài kinh nghiệm Qua đó thấy được vai trò và tầm quan trọng của Đảng khi lãnh đạo Việt Nam hội nhập với các nước trong khu vực và trên thế giới, phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc Nó góp phần đưa Việt Nam hòa nhập vào nề kinh tế thế giới, sánh ngang với các nước trên trường quốc tế
Trang 101.1.1 Khái quát về khu vực Châu Á - Thái Bình Dương
Thuật ngữ Châu Á - Thái Bình Dương mới được sử dụng rộng rãi từ chiến tranh thế giới thứ hai, để chỉ một khu vực bao gồm các nước thuộc vành đai Thái Bình Dương
Trên thực tế, khái niệm Châu Á - Thái Bình Dương gắn liền với những biến động về kinh tế, chính trị, nên có phạm vi rộng, hẹp khác nhau tùy theo góc độ xem xét trên lĩnh vực địa - tự nhiên, địa - kinh tế hay địa - chính trị Theo đó chúng ta có thể hiểu khái niệm Châu Á - Thái Bình Dương bao gồm các quốc gia và vùng lãnh thổ thuộc vùng vành đai và vùng lòng chảo Thái Bình Dương là hợp lý Với cách hiểu như vậy, có thể xác định khu vực này bao gồm một số quốc gia và vùng lãnh thổ như : Đài Loan, Hàn Quốc, Hoa
Trang 11Kỳ, Nhật Bản, Trung Quốc, Thái Lan, Việt Nam, Xingapo, Oxtraylia, Liên Bang Nga, Niu Dilan, Indonexia
Về địa lý: Châu Á - Thái Bình Dương là khu vực rộng lớn với Thái Bình Dương có tiềm năng lớn về khoáng sản và hải sản, đặc biệt là về dầu mỏ
và khí đốt; có trên một nghìn loài cá, có các ngư trường nước nóng (chiếm một nửa ngư trường nước nóng thế giới) Đây là khu vực đa dạng về địa lý, diện tích dân số và các điều kiện tự nhiên khác
Về văn hóa: Châu Á - Thái Bình Dương có một số quốc gia thuộc khu vực Châu Á nằm trong vành đai Thái Bình Dương, thời cổ đại chịu sâu sắc của các nền văn minh lớn như: Trung Hoa, Ấn Độ…Nơi đây sớm có các tôn giáo lớn : Đạo Phật, Đạo Ấn Độ sau đó là đạo Hồi, Đạo Thiên Chúa và các tôn giáo đó đã trở thành quốc giáo ở một số nước như: Thái Lan(đạo Phật); Brulay (đạo Hồi); Philippin (đạo Thiên Chúa) Sự tác động của các tôn giáo
đã ghi dấu ấn sâu đậm trong đời sống dân cư , góp phần tạo nên sự thống nhất trong đa dạng về văn hóa khu vực
Về lịch sử: vào thời cận đại, phần lớn các quốc gia trong khu vực bị tư bản các nước Châu Âu xâm lược Sau chiến tranh thế giới thứ hai, phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc phát triển mạnh mẽ và nhiều quốc gia độc lập ra đời
Về thể chế chính trị: Trong khu vực có nhóm nước xã hội chủ nghĩa như: Việt Nam, Trung Quốc và nhóm nước tư bản chủ nghĩa như: Mỹ, Canada, Ôxtrâylia và nhóm các quốc gia độc lập…
Về kinh tế : trình độ phát triển kinh tế giữa các quốc gia khu vực châu
Á – Thái Bình Dương hết sức đa dạng Có những nước công nghiệp phát triển hàng đầu thế giới như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Canada; các nước và vùng lãnh thổ công nghiệp mới như: Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kông, Xingapo; những nước đang trong quá trình công nghiệp hóa như: Indonexia, Malaixia, Thái
Trang 12Lan, Philippin, Trung Quốc và những nước có trình độ phát triển thấp hơn như ba nước ở Đông Dương, Mianma bởi vậy GDP( tổng sản phẩm quốc nội) bình quân đầu người của các quốc gia là khác nhau
Trong thời kỳ chiến tranh lạnh, Châu Á - Thái Bình Dương là nơi hội tụ những mâu thuẫn lớn của thế giới, là khu vực nóng bỏng và xung đột vũ trang kéo dài Bước vào thập niên 80 của thế kỷ XX, khu vực châu Á - Thái Bình Dương đi dần vào trạng thái hòa bình, ổn định, được dư luận thế giới coi là khu vực yên tĩnh, có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, xu thế hợp tác trong khu vực ngày càng phát triển Trên cơ sở đó vai trò, vị trí của khu vực Châu Á - Thái Bình Dương ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế
Sự đa dạng về địa lý, dân tộc, tôn giáo, văn hóa, sự khác nhau về lịch
sử, chế độ chính trị, trình độ phát triển kinh tế giữa các quốc gia trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương là cơ sở để các nước hoạch định chính sách đối ngoại thích hợp nhằm bảo đảm hiệu quả cho tiến trình hợp tác kinh tế, giao lưu văn hóa, xã hội khu vực
1.1.2 Vị trí và vai trò của khu vực Châu Á - Thái Bình Dương với cộng đồng quốc tế
Châu Á - Thái Bình Dương là một thực thể đa dạng, bao gồm những nước phát triển; các nước trong khối NIC (nước công nghiệp mới) như Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc; có 2 trung tâm kinh tế thế giới Có các nền kinh tế ở Đông Á, Đông Nam Á phát triển năng động nhất thế giới Có Trung Quốc là nước đông dân nhất thế giới với tiềm lực kinh tế lớn và tốc độ tăng trưởng kinh tế liên tục cao trong nhiều năm Ngoài ra có ba cơ chế thương mại khu vực và tiểu khu vực là: hiệp định thương mại tự do Bắc Mỹ (NAFTA); khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) và Hiệp định mậu dịch
tự do Ôxtrâylia - Niu Dilân (ANZERTA)
Trang 13Tổ chức APEC (tổ chức hợp tác thuộc khu vực châu Á - Thái Bình Dương) chiếm 56% GDP và hơn 46% kim ngạch buôn bán hàng hóa thế giới Theo đánh giá của Tạp chí The Economist (Anh) tốc độ tăng trưởng kinh tế của các nước APEC năm 2000 trên 5,5 % Theo một số dự báo, đến năm 2020 các nước APEC sẽ chiếm khoảng 2/3 sản xuất thế giới…Trong APEC có ba nguồn đầu tư quan trọng nhất thế giới là Mỹ, Nhật, Trung Quốc
Lượng dự trữ đầu tư nước ngoài hướng nội của APEC năm 1980 là 193
tỷ USD, đến năm 1992 tăng lên 892 tỷ USD, chiếm khoảng 38% và 4,5 % lượng dự trữ toàn cầu Lượng dực trữ đầu tư trực tiếp nước ngoài của APEC vào các nước năm 1980 là 283,3 tỷ USD, tăng lên 911 tỷ USD năm 1992 Hoa
Kỳ là nước đầu tư nhiều nhất trong khối APEC và cũng là nước đầu tư lớn nhất trên thế giới
Một số thành viên của APEC như Hoa Kỳ, Nhật, ASEAN là những chủ đầu tư và là bạn hàng quan trọng của liên minh Châu Âu (EU) - một trung tâm thương mại lớn của thế giới
Trong khu vực có một số nước giữ vai trò trụ cột ở các tổ chức kinh tế quốc tế như Quỹ tiền tệ quốc tế - IMF ( Mỹ chiếm 18,38% cổ phiếu, sau đó đến Nhật; 5.7 %, do đó tiếng nói của Hoa Kỳ coi trọng lượng nhất) Bốn trong
số tám thành viên của tổ chức các nước công nghiệp phát triển G7, ba trong
số năm nước thường trực của Hội đồng bảo an Liên Hợp Quốc là các nước Châu Á - Thái Bình Dương
Mặt khác, châu Á - Thái Bình Dương là khu vực có tiềm lực quốc phòng và lực lượng vũ trang mạnh nhất thế giới Theo các nhà nghiên cứu thì sáu trong bảy cường quốc vũ trang lớn nhất ở khu vực là nước thuộc APEC như : Mỹ, Nga, Trung Quốc, Việt Nam, cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên, Hàn Quốc; “Nhật Bản là một trong những nước có ngân sách quốc
Trang 14phòng lớn nhất thế giới, với gần 1% tổng sản phẩm quốc dân (GNP) khổng lồ được chi cho quốc phòng
Vì những lý do trên mà ngay từ đầu thế kỷ XX đã có nhiều ý kiến dự báo cho rằng “Châu Á - Thái Bình Dương sẽ trở thành trung tâm thế giới” Cựu tổng thống Hoa Kỳ Reagan trong lời phát biểu ngày 8/2/1985 nói: “Châu
Á - Thái Bình Dương là tương lai của thế giới”
Như vậy, có thể thấy rằng trong bối cảnh quốc tế còn tồn tại nhiều yếu
tố bất ổn như tranh chấp, xung đột sắc tộc, tôn giáo và chiến tranh cục bộ, thì khu vực Châu Á - Thái Bình Dương với tiềm lực kinh tế, chính trị, quân sự to lớn của mình đã và đang có vị trí, vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế, chính trị và an ninh thế giới
1.2 MỐI QUAN HỆ GIỮA VIỆT NAM VỚI MỘT SỐ NƯỚC TRONG KHU VỰC CHÂU Á - THÁI BÌNH DƯƠNG TRƯỚC NĂM 1986
1.2.1 Với Trung Quốc
Trung Quốc là nước láng giềng lâu đời của Việt Nam, có vai trò là một nước lớn trong khu vực Châu Á-Thái Bình Dương và có tầm ảnh hưởng về kinh tế chính trị, văn hoá xã hội rất lớn Quan hệ Việt Nam - Trung Quốc là một trong những mối quan hệ địa chính trị lâu đời nhất trên thế giới còn tồn tại đến ngày nay và là chủ đề nóng bỏng trong mấy nghìn năm lịch sử của Việt Nam, cho dù thời đại nào đều mang tính thời sự Là hai nước láng giềng, chung biên giới trên bộ và trên biển, lại có quá trình gắn bó tương tác về văn hóa lịch sử, cũng như các cuộc chiến tranh qua lại giữa hai nước, đã làm cho Quan hệ Việt Trung trở nên vô cùng phức tạp và nhạy cảm
Ngày 1/10/1949, Cách mạng Trung Quốc thành công, nước Cộng hòa DCND (Dân Chủ Nhân Dân) Trung Hoa ra đời Việc Chính phủ Cộng hòa DCND Trung Hoa và Việt Nam DCCH (Dân Chủ Cộng Hòa) tuyên bố công
Trang 15đối với cách mạng hai nước Kể từ đó cách mạng Việt Nam phá được thế bị bao vây và tiếp nhận sự giúp đỡ to lớn của cách mạng Trung quốc đặc biệt là trong 2 cuộc chiến tranh giữ nước (1945-1975)
Mặc dù với quan điểm tiến bộ, các nhà lãnh đạo của Đảng và nhà nước Trung Quốc đã nhiều lần khẳng định phía Trung Quốc không coi viện trợ là việc giúp đỡ của một bên, mà là viện trợ lẫn nhau Chủ tịch Mao Trạch Đông từng nói: Nhân dân Trung Quốc, Đảng Cộng sản Trung Quốc phải cảm ơn nhân dân Việt Nam đã đánh thắng đế quốc Mỹ Thủ tướng Chu Ân Lai cũng từng nói: Nhân dân Việt Nam kháng chiến, đổ máu hy sinh trên tuyến đầu chống Mỹ, đó là sự chi viện mạnh mẽ biết bao đối với nhân dân Trung Quốc đang tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa…nhưng trên thực tế, quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc luôn có những biến động phức tạp, lúc thăng lúc trầm làm ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa hai nước, đặc biệt là từ cuối 1975 đến cuối thập niên 80 của thế kỷ trước Tuy nhiên, trong bối cảnh lịch sử thế giới hiện đại, mối quan hệ giữa hai nước ngày càng được tăng cường cải thiện
1.2.2 Với Hoa Kỳ
Nhận thức sâu sắc Hoa Kỳ là một cường quốc rộng lớn với tiềm lực kinh tế lớn nhất thế giới và là nước đồng minh chống chủ nghĩa phát xít, ngay trong chiến tranh thế giới thứ II, Hồ Chí Minh đã cố gắng đặt quan hệ với Hoa
Kỳ và đã có những hiệu quả đáng kể Sự giúp đỡ của OSS (Cơ quan tình báo chiến lược) với cách mạng Việt Nam là một ví dụ Ngay sau khi Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, với chủ trương thực hiện đường lối ngoại giao thêm bạn bớt thù nhằm giảm bớt khó khăn cho đất nước, thay mặt Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần liên hệ với phía chính phủ Hoa Kỳ để bày tỏ quan điểm, lập trường và thiện chí hữu nghị của nhân dân Việt Nam với Hoa
Kỳ và hy vọng nhận được sự giúp đỡ của chính phủ Hoa Kỳ nhằm ngăn chặn
Trang 16hành động xâm lược Việt Nam của thực dân Pháp Nhưng với bản chất chống cộng quyết liệt, chính phủ Hoa Kỳ không những không đáp ứng mà còn ủng
hộ thực dân Pháp quay trở lại xâm lược Việt Nam và ngày càng can thiệp sâu vào cuộc chiến tranh ở Đông Dương, họ tăng cường viện trợ cho thực dân Pháp trong cuộc chiến tranh ở Việt Nam và từng bước thế chân xâm lược từ
1954 đến 1975 đối với Việt Nam để cuối cùng chuốc lấy thảm bại
Tuy thất bại trong chiến tranh xâm lược và phải điều chỉnh chiến lược, Hoa Kỳ vẫn tiếp tục chính sách thù địch chống phá công cuộc tái thiết đất nước của nhân dân Việt Nam: phong tỏa tài sản của Việt Nam ở nước ngoài (sau 30/4/1975); tuyên bố cấm vận thương mại (ngày 15/5/1975); ba lần phủ quyết Việt Nam gia nhập Liên Hợp Quốc…Xuất phát từ yêu cầu khách quan
và lợi ích của hai nước, từ năm 1977, Việt Nam và Hoa Kỳ đã có những hoạt động bước đầu cho tiến trình bình thường hóa quan hệ Nhưng rất đáng tiếc,
do bản chất chống cộng quyết liệt của Hoa Kỳ nên mọi cố gắng của nhân dân Việt Nam đều bị từ chối Đặc biệt là trong bối cảnh Việt Nam ký hiệp ước hữu nghị và hợp tác với Liên Xô và quan hệ Trung Quốc - Việt Nam ngày càng căng thẳng, Hoa Kỳ huỷ bỏ ý định bình thường hóa quan hệ với Việt Nam mà quay sang cấu kết với một số nước trong khu vực, tập hợp lực lượng bao vây, cấm vận Việt Nam Theo đó, suốt từ cuối thập niên 70 đến hết thập niên 80 của thế kỷ trước, Hoa Kỳ vẫn tiếp tục cùng với các nước phương Tây
và một số nước khu vực Châu Á - Thái Bình Dương cô lập Việt Nam Quan
hệ Việt Nam - Hoa Kỳ ngày càng trở trở nên căng thẳng Quan hệ đó đã chi phối tiêu cực quan điểm của nhiều nước đối với Việt Nam, đặc biệt là các nước đồng minh của Hoa Kỳ, thân Hoa Kỳ ở Châu Á - Thái Bình Dương 1.2.3 Với Nhật Bản
Việt Nam và Nhật Bản là hai nước đều nằm trong vùng “ khí hậu gió
Trang 17nghiệp trồng lúa nước của châu Á, có nhiều điểm tương đồng về phong tục, tập quán, tín ngưỡng tôn giáo, cùng chịu ảnh hưởng dòng văn hoá phương Đông, đặc biệt là văn hoá Trung Hoa Vào nửa cuối thế kỷ XIII, cả hai dân tộc Việt - Nhật đều đã ghi vào lịch sử nhân loại dấu son chói lọi với những chiến thắng lẫy lừng trong các cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông Người Nhật cũng đã đến buôn bán ở Việt Nam từ thế kỷ XIV và cửa biển Hội An của Quảng Nam đã trở thành thương cảng và phố Nhật (Nihon Machi) lớn nhất của Việt Nam, đóng vai trò trung tâm buôn bán của Nhật với Đông Nam Á khi đó Chiến tranh thế giới thứ II, phát xít Nhật xâm lược Việt Nam và nhiều nước châu Á khác trong thế chiến thứ hai Đây là thời kỳ “đen tối ” nhất trong quan hệ bang giao hai nước
Sau khi Việt Nam DCCH ra đời, thực hiện hai nguyên tắc đối ngoại: thêm bạn, bớt thù và biểu dương lực lượng, sãn sàng thiết lập quan hệ ngoại giao với tất cả các nước trên cở sở tôn trọng quyền bình đẳng và chủ quyền quốc gia hai bên, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định : “chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa sãn sàng buôn bán với Nhật Bản cũng như các nước khác, trên nguyên tắc bình đẳng hai bên cùng có lợi” Thực tiễn, quan hệ Việt Nam
và Nhật Bản trong những năm 1945 - 1988 trải qua nhiều bước thăng trầm, gắn liền với những biến động chính trị xã hội của hai nước và quốc tế, nhất là thái độ của Nhật trong thời kỳ nhân dân Việt Nam tiến hành kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Sau chiến thắng mùa xuân 1975, để khắc phục hậu quả nặng nề của chiến tranh, Việt Nam cần sự ủng hộ, giúp đỡ của quốc tế Đại hội đại biểu lần thứ IV (12-1976); lần thứ V (3-1982)của Đảng đã chủ trương “thiết lập và
mở rộng quan hệ bình thường giữa nước ta với tất cả các nước khác” [13, tr.50] , trong đó chú trọng hơn nữa việc cải thiện quan hệ với Nhật Bản
Trang 18Về phía Nhật Bản sự phát triển thần kỳ của nền kinh tế và việc mở rộng quan hệ đối ngoại với bên ngoài đã tạo thêm thế và lực mới cho nước này Đông Nam Á nói chung và Việt Nam nói riêng là địa bàn mà người Nhật khá quan tâm trong chiến lược đối ngoại của họ Ngày 18/8/1977, tại Manila, thủ tướng Nhật Fukuda đã đọc bài diễn văn về chính sách đối ngoại của Nhật Bản đối Đông Nam Á mà về sau gọi là học thuyết Fukuda Theo học thuyết đó, một trong ba nguyên tắc quan trọng được đề cập là “Nhật sẽ theo đuổi mối quan hệ có tính chất xây dựng với các nước Đông Dương đặc biệt là Việt Nam, đồng thời Nhật chủ trương thúc đẩy chung sống hòa bình giữa ASEAN
và các nước Đông Dương ” để giảm bớt sự phụ thuộc vào Mỹ để tăng cường ảnh hưởng chính trị của mình và coi đó là yếu tố làm hạn chế ảnh hưởng của sức mạnh Xô Viết [1, tr.153]
Như vậy, sau năm 1975, Việt Nam và Nhật Bản đều tìm thấy lợi ích của mình trong quan hệ giữa hai nước Do đó, quan hệ Việt - Nhật ngày càng được nâng cao Nhưng nhìn chung quan hệ Việt Nam - Nhật Bản trước năm
1986 chịu sự chi phối sâu sắc của chiến tranh lạnh, đặc biệt là của Mỹ đối với Nhật Bản Vì vậy, quan hệ giữa hai nước còn nhiều hạn chế
1.2.4 Với các nước Đông Nam Á
Ngay từ khi mới giành được chính quyền, Đảng Cộng sản Việt Nam
và nhà nước Việt Nam DCCH đã quan tâm đến quan hệ bang giao với các nước láng giềng, đặc biệt là các nước thuộc khu vực Đông Nam Á Năm
1947, trong các bức điện gửi cho các nhà lãnh đạo một số nước khu vực Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói rõ quan điểm ngoại giao của Việt Nam: “ Việt Nam chỉ muốn hòa bình và độc lập để cộng tác thân thiện với các dân tộc trên thế giới, trước hết với các dân tộc anh em ở Á Đông và Việt Nam chỉ giữ gìn chủ quyền, độc lập của mình, chứ không hề xâm phạm đến ai” [12, tr.5,22]
Trang 19Do tác động của hoàn cảnh lịch sử thời kỳ này nên quan hệ giữa Việt Nam và các nước Đông Nam Á diễn biến phức tạp Nhìn tổng thể quan hệ nước ta với các nước Đông Nam Á giai đoạn 1945 - 1967 ở trong tình trạng lạnh nhạt, đối đầu, thậm chí thù địch, đặc biệt ở một số nước ủng hộ Hoa Kỳ xâm lược Việt Nam
Năm 1967, tổ chức hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN) ra đời
Từ đây quan hệ Việt Nam với các nước thành viên ASEAN và tổ chức ASEAN trở thành mối quan tâm trong chính sách đối ngoại của Việt Nam với khu vực Đông Nam Á
Tổ chức ASEAN thành lập vào thời gian cuộc chiến tranh chống Mỹ ở Việt Nam đang diễn ra căng thẳng Thái Lan và Philippin - hai thành viên của ASEAN tham gia SEATO (hiệp ước quân sự Đông Nam Á) trực tiếp ủng hộ Hoa Kỳ trong cuộc chiến tranh ở Việt Nam Vì vậy, ở thời kỳ đầu, Việt Nam
có những nghi ngại nhất định trong quan hệ với các nước ASEAN
Do biến đổi tình hình thế giới và khu vực vào đầu thập niên 1970, đặc biệt là sự thất bại nặng nề của Hoa Kỳ ở Việt Nam đã khá rõ ràng, các nước ASEAN đã điều chỉnh lại chiến lược của mình Tuyên bố ZOPFAN tháng 11/1971 thể hiện sự thay đổi trong chính sách đối ngoại của các nước ASEAN Trong quan hệ với Việt Nam, tuyên bố này thể hiện thái độ tích cực bước đầu của các nước ASEAN đối với cuộc chiến tranh xâm lược của Hoa
Kỳ ở Việt Nam Từ năm 1972, Philippin, Malaixia và Xingapo bắt đầu quan
hệ với Việt Nam về kinh tế, thương mại và ngoại giao Tháng 3/1973, Philippin và Thái Lan rút hết quân khỏi Việt Nam
Từ sau Hiệp định Pari (27/1/1973), đặc biệt là từ tháng 4/1975, miền Nam được hoàn toàn giải phóng, cuộc chiến tranh Đông Dương kết thúc Việt Nam tích cực triển khai chính sách khu vực, tăng cường quan hệ với các nước thành viên ASEAN bằng một loạt các hoạt động ngoại giao: thiết lập
Trang 20quan hệ ngoại giao với Malaixia (tháng 3/1973) Với Xingapo (1/8/1973), xúc tiến đàm phán lập quan hệ ngoại giao với Philippin
Trên cơ sở, hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ nhất khẳng định chính sách của mình là cùng tồn tại hòa bình với các nước Đông Dương ngày 23/2/1976, tháng 7/1976, Việt Nam công bố “chính sách bốn điểm của Việt Nam đối với khu vực”, nêu lên những nguyên tắc cơ bản cho việc xây dựng
và phát triển quan hệ giữa Việt Nam và các nước Đông Nam Á Tuyên bố này được một số các quốc gia trong khu vực, tuyên bố hoan nghênh và ủng hộ Việt Nam thiết lập quan hệ ngoại giao với Idonexia từ năm 1964, đến
tháng 8/1976, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với tất cả các thành viên ASEAN
Đây là thời kỳ quan hệ giữa Việt Nam với các nước thành viên ASEAN
có chiều hướng phát triển tốt trên các lĩnh vực Tuy vây, giữa Việt Nam với ASEAN vẫn chưa có được sự hiểu biết đầy đủ về nhau và vẫn còn những cản trở bởi sự ăn cách về chế độ chính trị giữa hai bên Do đó, đến thời điểm này, Việt Nam vẫn chưa có quan hệ trực tiếp với tổ chức ASEAN
Từ năm 1979, xuất hiện vấn đề Campuchia, Quan hệ Việt Nam nói riêng và các nước Đông Dương nói chung với các nước ASEAN giảm xuống mức thấp nhất Song vì lợi ích của khu vực và thế giới Đảng và nhà nước ta vẫn chủ động kêu gọi các nước ASEAN “hãy cùng các nước Đông Dương tiến hành đối thoại và thương lượng để giải quyết những vấn đề trong quan hệ giữa hai nhóm nước, tiến tới thực hiện một Đông Nam Á hòa bình, ổn định, hữu nghị và hợp tác” [15, tr.1 - 53]
Tháng 1/1980 đến tháng 8/1986, tại các hội nghị bộ trưởng ngoại giao các nước Đông Dương, Việt Nam đã đưa ra nhiều đề nghị phía ASEAN đối thoại để giải quyết vấn đề khu vực
Trang 21Tại diễn đàn Liên Hợp Quốc, từ năm 1980 đến năm 1985, Việt Nam, Lào cũng thường xuyên nêu vấn đề “hòa bình, ổn định và cùng hợp tác ở Đông Nam Á” nhằm thúc đẩy xu hướng đối thoại giữa hai nhóm nước Đông Dương và ASEAN
Tiếc rằng, những đề nghị của Việt Nam về đối thoại và hợp tác khu vực đều không được các nước ASEAN chấp nhận Các hoạt động của ASEAN trong quan hệ với Việt Nam ở giai đoạn này chịu ảnh hưởng của vấn đề Campuchia, quan hệ ASEAN - Việt Nam trở nên lạnh nhạt, trì trệ
Trong năm 1988, đã diễn ra hai sự kiện quan trọng: không gặp chính thức JIM 1 (ngày 25 đến ngày 28/7/1988) và chủ trương của thủ tướng Thái Lan Chatichai: biến Đông Dương từ chiến trường thành thị trường Đây là những tín hiệu tích cực tạo cơ sở cho các bước phát triển tiếp theo của quan
hệ Việt Nam - ASEAN trong thời gian tới
1.2.5 Với Ôxtrâylia
Ôxtrâylia là một trong hai quốc gia lớn và quan trọng của khu vực châu Đại Dương, là đồng minh của Hoa Kỳ, từ sau chiến tranh thế giới thứ hai, đường lối đối ngoại của Ôxtrâylia chịu ảnh hưởng sâu sắc của quan hệ quốc tế thời kỳ chiến tranh lạnh Tháng 9/1954, Ôxtrâylia gia nhập tổ chức Hiệp ước Đông Nam Á (SEATO) trực tiếp chống lại cách mạng Việt Nam
Thất bại của Mỹ cùng với những biến động mới trên chính trường nước này, đã xuất hiện những tiến bộ trong quan hệ Ôxtrâylia - Việt Nam Sự kiện Ôxtrâylia đặt quan hệ ngoại giao với Việt Nam dân chủ cộng hòa ngày 26/2/1973 đã đánh dấu bước phát triển mới trong quan hệ hai nước, đồng thời
có ý nghĩa lớn trong quan hệ quốc tế đương thời bởi vì Ôxtrâylia là một trong những nước tư bản đầu tiên thiết lập quan hệ ngoại giao cấp đại sứ với nước
ta
Trang 22Quan hệ giữa hai nước được cải thiện tốt trong những năm tiếp theo Nhưng khi sự kiện Campuchia bùng nổ, quan hệ giữa Việt Nam và các nước phương Tây nói chung và Ôxtrâylia nói riêng trở lên phức tạp, ngừng trệ Có thể khẳng định rằng “quan hệ Việt Nam - Ôxtrâylia trong hơn bốn năm liền (1979 -1982)…là thời gian giá lạnh nhất giữa hai nước kể từ khi thiết lập quan hệ ngoại giao Bằng việc cắt viện trợ cho Việt Nam và ủng hộ Campuchia dân chủ, chính phủ của thủ tướng Fraser đã tạo ra những hố ngăn cách trong quan hệ giữa Việt Nam - Ôxtrâylia Khi Công đảng quay trở lại nắm chính quyền tại nước này năm 1983, đã có một số cố gắng trong việc tìm kiếm giải pháp cho vấn đề Campuchia, quan hệ giữa hai nước bắt đầu ấm lên” [28, tr.433 - 434]
Tóm lại, cuộc chiến tranh lạnh giữa hai hệ thống chính trị - xã hội thế giới kéo dài từ giữa thập kỷ 1940 cho đến đầu thập kỷ 1990 đã ảnh hưởng sâu sắc đến quan hệ quốc tế đương thời và chi phối mạnh mẽ đến chính sách đối ngoại của các quốc gia - dân tộc, hoặc là đứng về phe tư bản chủ nghĩa hoặc
là đứng về phe xã hội chủ nghĩa
Việt Nam là nước xã hội chủ nghĩa Hai cuộc chiến tranh xâm lược của nhân dân Việt Nam mang ý nghĩa thời đại sâu sắc - là điểm nóng trong cục diện chiến tranh lạnh quyết liệt giữa hai hệ thống chính trị, xã hội do Liên Xô
và Mỹ đứng đầu Phần lớn các nước khu vực Châu Á - Thái Bình Dương thuộc phe tư bản chủ nghĩa, vì vậy quan hệ Việt Nam với các nước này từ năm 1945 đến giữa thập kỷ 1980 diễn biến phức tạp, về cơ bản là đối đầu, thậm chí thù địch, đặc biệt là khi xảy ra sự kiện Campuchia năm 1979
Vấn đề giải tỏa tình trạng căng thẳng, đối đầu thù địch giữa Việt Nam với các nước trong khu vực, tiến tới thiết lập quan hệ hữu nghị, hợp tác các nước là hết sức quan trọng và cấp bách đối với cách mạng nước ta
Trang 23Có thể thấy sau chiến tranh thế giới thứ hai, mối quan hệ giữa Việt Nam và các nước trong khu vực Thái Bình Dương, do những lợi ích về chính trị và những hiểu nhầm giữa các nước trong khu vực đã làm cho tình cảm hữu nghị giữa các nước trong khu vực trở lên căng thẳng Mặc dù chính phủ Việt Nam đã cố gắng để củng cố quan hệ giữa nước ta với Trung Quốc, Nhật, Hoa
Kỳ, các nước Đông Nam Á nhưng trước những biến động của tình hình phức tạp lúc bấy giờ làm quan hệ giữa nước ta với các nước nói trên vẫn không được cải thiện là bao
Trang 24Chương 2 QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP CHÂU Á - THÁI BÌNH DƯƠNG THEO
ĐƯỜNG LỐI CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
2.1 ĐƯỜNG LỐI ĐỐI NGOẠI CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM 2.1.1 Bối cảnh lịch sử và xu thế toàn cầu hóa
Từ những năm cuối thập niên 70, đặc biệt là trong những năm đầu 80 của thế kỷ XX, sự tăng trưởng kinh tế liên tục và với nhịp độ cao của châu Á
mà nòng cốt là các nền kinh tế Đông Á đã thu hút sự chú ý của cả thế giới Tiếp theo "sự thần kỳ" của Nhật Bản, các nền kinh tế công nghiệp mới, ASEAN và đặc biệt là sự nổi lên của Trung Quốc đã biến châu Á thành khu vực phát triển kinh tế năng động bậc nhất thế giới
Từ những năm 1980, các nước châu Á luôn luôn dẫn đầu thế giới về tốc
độ phát triển kinh tế trong khi kinh tế thế giới bị suy thoái vào đầu những năm
1990 Xuất khẩu thực sự là động lực tăng trưởng kinh tế ở các nước châu Á Trong giai đoạn 1980 - 1992, xuất khẩu của các nước châu Á tăng nhanh nhất thế giới, đạt tốc độ bình quân hàng năm trên 10%, so với 4% của các nước châu Âu và Mỹ La-tinh và 6% của các nước công nghiệp phát triển vốn chiếm tới 2/3 thương mại thế giới Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào các nước châu Á tăng mạnh, phần lớn từ Mỹ, Nhật Bản và các nền kinh tế NIE (nền kinh tế công nghiệp mới) Tiềm lực lớn về xuất khẩu hàng hoá, dịch vụ và vốn đầu tư đòi hỏi phải có thị trường ổn định, rộng mở và hạn chế đến mức tối đa những hàng rào ngăn trở sự lưu chuyển của hàng hoá, dịch vụ, đầu tư trong khu vực Do đó, hợp tác và liên kết kinh tế khu vực trở thành nhu cầu cấp thiết để bảo đảm cho sự phát triển kinh tế cao và ổn định
Trong khi đó, xu thế toàn cầu hóa phát triển mạnh, thể hiện qua sự phân
Trang 25khoa học - công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin Việc Trung Quốc cải cách và mở cửa càng làm gia tăng xu thế này ở châu Á - Thái Bình Dương Trong nền kinh tế thế giới, các hoạt động sản xuất, thương mại, tài chính và dịch vụ ngày càng được quốc tế hóa Từ cuối những năm 1980, như một sự ứng phó với toàn cầu hoá, xu thế khu vực hóa cũng phát triển mạnh mẽ cả về chiều rộng và chiều sâu Biên độ của nó rộng khắp các khu vực châu Âu và Bắc Mỹ Trong khi đó, từ cuối thập niên 70, đặc biệt từ cuối thập niên 80 của thế kỷ XX, châu Á- Thái Bình Dương tuy có ổn định tương đối về chính trị,
và là một khu vực năng động và có nhịp độ tăng trưởng kinh tế cao nhưng chưa có một hình thức liên kết nào có tính chất chính thức, liên chính phủ và toàn khu vực để bảo đảm lợi ích của các nước trong khu vực trước sự gia tăng ngày càng mạnh của chủ nghĩa khu vực bảo hộ ở Tây Âu và Bắc Mỹ Vì vậy, chính sự tăng trưởng cao liên tục và phát triển của nền kinh tế ở khu vực châu
Á - Thái Bình Dương, xu thế toàn cầu hóa và khu vực hóa cũng như sự tuỳ thuộc lẫn nhau ngày càng tăng giữa các nền kinh tế đã đặt ra yêu cầu khách quan, cấp bách cho việc hình thành một diễn đàn mở rộng trong khu vực nhằm phối hợp chính sách về các lĩnh vực kinh tế, thúc đẩy tự do hóa và khuyến khích thương mại hàng hoá, dịch vụ và đầu tư, tăng cường hợp tác kinh tế, khoa học - công nghệ giữa các nền kinh tế ở châu Á - Thái Bình Dương, qua đó duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và bảo đảm sự phát triển bền vững của khu vực
2.1.2 Đường lối đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam (đồi với khu vực Châu Á - Thái Bình Dương)
Thực trạng đất nước và những chuyển biến lớn lao của tình hình thế giới đã đặt ra yêu cầu khách quan là phải đổi mới tư duy trong mọi hoạt động lĩnh vực của Đảng và nhà nước để ổn định và phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời để thích ứng với môi trường chính trị quốc tế Đại hội lần thứ VI của
Trang 26Đảng đề ra đường lối đổi mới toàn diện, mở ra bước ngoặt trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta Trong đó đổi mới về đối ngoại là một
bộ phận hữu cơ của sự nghiệp đổi mới
Đại hội đại biểu lần thứ VI của Đảng (tháng 12/1986) đã nhận thức đúng những biến động của tình hình thế giới và xu thế quốc tế, từ đó chỉ rõ đặc điểm nổi bật của thời đại là cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật đang diễn
ra mạnh mẽ, tạo thành bước nhảy vọt của lực lượng sản xuất và đẩy nhanh quá trình quốc tế hóa các lực lượng sản xuất Theo đó, Đại hội VI nhấn mạnh : “Cuộc đấu tranh trên lĩnh vực kinh tế có ý nghĩa chính trị ngày càng quan trọng đối với kết cục của đấu tranh giữa hai hệ thống…, giữa các nước có chế
độ xã hội khác nhau, sự lựa chọn duy nhất đúng đắn là thi đua về kinh tế, về lối sống… và cuộc thi đua này chỉ có thế được thực hiện trong hoàn cảnh hòa bình được đảm bảo vững chắc” [15, tr.35, 37] Một trong 4 bài học kinh nghiệm mà đại hội rút ra là “phải biết kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong điều kiện mới” [15, tr.35, 37] Từ đó Đảng chủ trương “sử dụng tốt mọi khả năng mở rộng quan hệ thương mại, hợp tác kinh tế và khoa học,
kỹ thuật với bên ngoài để phục vụ công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội” (Đảng Cộng sản Việt Nam, sđđ, tr.31) Những nhận thức mới trên đây đã đặt nền móng cho việc hình thành các chủ chương mở rộng quan hệ quốc tế của Đảng Cộng sản Việt Nam
Triển khai Nghị quyết ĐH (Đại hội) VI, các HNBCHTW ( Hội nghị Ban Chấp Hành Trung ương) đã cụ thể hóa đường lối đối ngoại nhằm từng bước xóa thế bị bao vây của cách mạng Việt Nam Đặc biệt là Nghị quyết 13 của Bộ chính trị (tháng 5 - 1988) Trên cơ sở phân tích và đánh giá sâu sắc những diễn biến mới của tình hình thế giới và khu vực, Bộ chính trị đã chỉ ra những cơ hội và thách thức đối với cách mạng nước ta và khẳng định lợi ích
Trang 27trung sức xây dựng và phát triển kinh tế Đó là yếu tố quyết định củng cố, giữ vững an ninh và độc lập…Cần phải có quan điểm mới về an ninh và phát triển trong thời đại ngày nay để khẳng định mạnh mẽ phương hướng ưu tiên tập trung cho sự nghiệp giữ vững hòa bình và phát triển kinh tế Bộ chính trị chỉ
ra rằng “…với một nền kinh tế mạnh, một nền quốc phòng vừa đủ mạnh cùng với sự mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế, chúng ta sẽ càng có nhiều khả năng giữ vững độc lập và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội hơn” [35, tr.7] Thực tế cho thấy rằng, nội dung của đổi mới tư duy về đối ngoại được khởi xướng từ Đại Hội VI, sau đó được nghị quyết 13 của Bộ chính trị và tiếp theo
là các NQTW (Nghị quyết Trung ương) 6 (3-1989); NQTW 8 (3 -1990); phát triển, đã thể hiện rõ sự điều chỉnh chiến lược đối ngoại của nước ta trước tình hình mới Sự điều chỉnh này đã đặt nền móng cho chiến lược đối ngoại độc lập, tự chủ, rộng mở, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế của Đảng
và nhà nước
Đến Đại hội VII (tháng 6 - 1991), tư duy của Đảng ta về quan hệ quốc
tế tiếp tục được đổi mới Đó là việc nhận thức sâu sắc rằng trong đời sống chính trị - kinh tế quốc tế, quan hệ giữa các quốc gia, dân tộc, bên cạnh lợi ích mang tính giai cấp, mang tính ý thức hệ còn có những lợi ích mang tính phổ biến, tính toàn cầu, trong một thế giới mà sự phụ thuộc lẫn nhau ngày càng chặt chẽ thì nhu cầu cần có sự phối hợp, hợp tác giữa các nước để giải quyết những vấn đề quốc tế là một nhu cầu khách quan với tất cả các quốc gia Trong điều kiện như vậy, tư duy xác định “bạn, thù” trên cơ sở tiêu chí ý thức hệ đơn thuần không còn phù hợp nữa, mà đòi hỏi phải mềm dẻo hơn , linh hoạt hơn Đại hội VII khẳng định chủ trương “hợp tác, bình đẳng và cùng
có lợi với tất cả các nước, không phân biệt chế độ chính trị xã hội khác nhau, trên cơ sở các nguyên tắc cùng tồn tại hòa bình” [16, tr.88, 147], với phương châm “Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới,
Trang 28phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển” [17, tr.88 - 147] Cương lĩnh xây dựng đất nước (1992) xác định: Quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân tất
cả các nước trên thế giới là một trong những đặc trưng cơ bản của CNXH (chủ nghĩa xã hội) mà nhân dân ta đang xây dựng Đại hội yêu cầu quán triệt
đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ kinh tế với mọi quốc gia, mọi tổ chức kinh tế, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ và quyền hạn thành viên của nước ta và gia nhập các tổ chức quốc tế và các hiệp hội kinh tế khác khi cần thiết và có điều kiện
Các HNTW (Hội nghị trung ương) (khóa VII) tiếp tục bổ sung, phát triển Đặc biệt là NQTW 3 (6 - 1992) và NQHN giữa nhiệm kỳ (1 - 1994) chủ trương triển khai mạnh mẽ và đồng bộ đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, mở rộng, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại theo đúng bốn phương châm xử lý các quan hệ quốc tế do Hội nghị Trung ương ba đề ra
Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII đã thể hiện sự tiếp tục đổi mới tư duy đối ngoại của, Đảng ta trước tình hình mới, đồng thời phản ánh tính tích cực, chủ động của Đảng trong việc nắm bắt tình hình và xử lý một cách sáng suốt, kịp thời các tình huống trong quan hệ quốc tế
Ngày 20/09/1994, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra chỉ thị “Về mở rộng
và đổi mới hoạt động đối ngoại nhân dân” nhằm phát huy hơn nữa hiệu quả của lĩnh vực hoạt động đối ngoại quan trọng này
Những thành tựu của công cuộc đổi mới nói chung, đối ngoại nói riêng
và tình hình thế giới đã mở ra một xu thế đối ngoại mới theo phương châm chủ động, tích cực, hội nhập kinh tế quốc tế
Đại hội Đảng lần thứ VIII (tháng 6 - 1996) khẳng định tiếp tục mở rộng quan hệ quốc tế, hợp tác nhiều mặt với các nước, các trung tâm kinh tế, chính trị khu vực và quốc tế Đồng thời chủ trương “ xây dựng nền kinh tế mở” và
Trang 29hơn quan điểm đối ngoại với các đối tác cụ thể như “…tăng cường quan hệ với các nước láng giềng và các nước trong tổ chức ASEAN, không ngừng củng cố quan hệ bạn bè với các nước truyền thống, coi trọng quan hệ với các nước phát triển và các trung tâm kinh tế - chính trị thế giới…đoàn kết… với các nước phát triển… với phong trào không liên kết”[18, tr.121] tham gia tích cực và đóng góp cho hoạt động của tổ chức quốc tế, các diễn đàn quốc tế và chủ trương “ Thử nghiệm để tiến tới đầu tư ra nước ngoài” của nền kinh tế nước ta
So với ĐH VII, ĐH VIII có các điểm mới trong quan hệ đối ngoại: + Chủ trương mở rộng quan hệ với các đảng cầm quyền và các đảng khác
+ Quán triệt yêu cầu mở rộng quan hệ đối ngoại nhân dân, quan hệ với các tổ chức phi chính phủ
+ Lần đầu tiên, trên lĩnh vực kinh tế đối ngoại, Đảng đưa ra chủ trương thử nghiệm tiến tới thực hiện đầu tư ra nước ngoài
Cụ thể hóa quan điểm của ĐH VIII,
Nghị quyết Ban chấp hành Trung ương khóa VIII (tháng 12/1997) nhấn mạnh việc phát huy tốt nội lực kết hợp với mở rộng hợp tác quốc tế là vấn đề
cơ bản quyết định thành công của sự nghiêp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và duy trì sự phát triển bền vững cho đất nước Một trong những chính sách lớn
mà nghị quyết nhấn mạnh là “trên cơ sở phát huy nội lực, thực hiện nhất quán, lâu dài chính sách thu hút các nguồn lực bên ngoài, đề ra chủ trương tiến hành khẩn trương vững chắc việc đàm phán thương mại với Hoa Kỳ, gia nhập APEC và WTO (tổ chức thương mại thế giới)
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng (tháng 4 - 2011) trên cơ
sở phân tích sâu sắc tình hình thế giới đã đưa ra nhận định: trong thời gian tới khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin và công nghệ tin học tiếp
Trang 30tục có bước phát triển nhảy vọt, tạo ra những bước biến đổi sâu sắc trên các lĩnh vực đời sống xã hội Các nước đang phát triển, trong đó có nước ta, có cơ hội thu hẹp khoảng cách so với các nước phát triển, cải thiện vị thế của mình, nhưng đồng thời cũng đứng trước nguy cơ tụt hậu xa hơn nếu không tranh thủ được cơ hội phát triển Toàn cầu hóa kinh tế là xu thế khách quan , đây là quá trình vừa hợp tác phát triển, vừa đấu tranh phức tạp, đặc biệt là đối với các nước phát triển Đảng chủ trương trong thời gian tới, tiến trình hội nhập kinh
tế của nước ta sẽ được nâng lên một bước mới, tham gia có hiệu quả vào phân công lao động quốc tế, khu vực Châu Á - Thái Bình Dương tiếp tục phát triển năng động , tạo thuận lợi cho sự phát triển kinh tế của Việt Nam, đồng thời cũng tạo ra sức ép cạnh tranh với nước ta Từ nhận định trên, Đại hội IX nêu
rõ quan điểm : “ xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, trước hết là độc lập tự chủ về đường lối, chính sách, đồng thời có tiềm lực kinh tế đủ mạnh Xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ phải đi đôi với chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại, kết hợp nội lực với ngoại lực thành nguồn lực tổng hợp phát triển đất nước” [21, tr.25, 26] Đại hội IX đã thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, mở rộng, đa phương hóa các quan hệ quốc tế, đồng thời tiếp tục bổ sung, phát triển về chủ trương, chính sách và những nhiệm vụ của công tác đối ngoại
Nhận thức sâu sắc bối cảnh thế giới và quan hệ chính trị quốc tế, đồng thời trên cơ sở cảm nhận đầy đủ “thế” và “lực” của đất nước sau 15 năm đổi mới, Đại Hội IX đã phát triển phương châm “Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hòa bình, độc lập, phát triển” của Đại hội VII thành “Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hòa bình độc lập, phát triển” Điều này thể hiện bước phát triển mới về tư duy đối ngoại của Đảng ta, đồng thời
Trang 31Như vậy, qua các Đại Hội Đảng lần thứ VII, lần thứ VIII, lần thứ IX và các hội nghị Trung ương, quan điểm đại hội mở rộng được đề ra từ đại hội VI
đã phát triển thành đường lối đối ngoại đôc lập, tự chủ, rộng mở, đa dạng hóa,
đa phương hóa Đường lối đối ngoại của Đảng đã trở thành kim chỉ nam cho hoạt động đối ngoại của nhà nước ta trong quan hệ với các nước nói chung và với khu vực châu Á - Thái Bình Dương nói riêng
Ngay từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Đảng cộng sản Việt Nam cũng có những quan điểm mới trong nhận định về tình hình và xu thế phát triển trong khu vực: “Châu Á - Thái Bình Dương là một trung tâm đấu tranh gay gắt giữa cách mạng và phản cách mạng, đồng thời ở khu vực này, quan hệ giữa các nước có chế độ chính trị khác nhau cũng ở trong xu thế chung là đấu tranh trong hình thái tồn tại cùng hòa bình” [14, tr.37] Sự phát triển của Việt Nam phụ thuộc một phần quan trọng vào việc mở rộng hợp tác với bên ngoài, đặc biệt là hợp tác với các nước trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương Xuất phát từ nhận thức trên, NQTW 6 (khóa VI) đã chủ trương
mở rộng và đa dạng hóa quan hệ với các nước, phát triển quan hệ với các nước châu Á - Thái Bình Dương Kể từ đó, hợp tác toàn diện và từng bước ra nhập các tổ chức khu vực, trong đó có khu vực châu Á- Thái Bình Dương là một trong những chủ trương lớn được bàn tới trong chương trình nghị sự của các ĐH Đảng và HN ban chấp hành TW Với khu vực Châu Á – Thái Bình Dương bắt đầu có những điều chỉnh theo hướng chú trọng quan hệ với các nước láng giềng, khu vực Thực hiện chủ trương của Đảng, hoạt động đối ngoại đã tập trung vào các nhiệm vụ: Cải thiện mối quan hệ với các nước Đông Nam Á, với Trung Quốc, khởi động việc đối thoại với Hoa kỳ và tăng cường quan hệ với các nước khác trong cộng đồng thế giới, đã tạo tiền đề quan trọng cho việc bình thường hóa quan hệ về thiết lập quan hệ giữa Việt Nam với các nước trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương Để thực hiện
Trang 32mục tiêu phá thế bị bao vây, cô lập về chính trị, cấm vận về kinh tế của các thế lực thù địch, đồng thời mở của giao lưu, hợp tác với khu vực, quan điểm nhất quán của Đảng là đề ra chủ trương, chính sách nhằm giải quyết những vấn đề luôn cản trở quan hệ Việt Nam với khu vực Việc cải cách nền kinh tế
và chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế theo hướng mở cửa, hợp tác với bên ngoài; việc giải quyết các vấn đề Campuchia và việc phấn đấu cải thiện với các nước láng giềng, khu vực như: Trung Quốc, các nước ASEAN, Hoa Kỳ, Nhật… đã tạo cơ sở quan trọng cho việc bình thường hóa và thiết lập quan hệ giữa nước
ta với các nước, tạo tiền đề cho các bước hội nhập ở Việt Nam với khu vực Châu Á - Thái Bình Dương trong thập kỷ 1990
Những kết quả đạt được từ việc thực hiện chủ trương của Đảng trong quan hệ với khu vực tuy còn hạn chế nhưng có ý nghĩa quan trọng là “đã tạo nên thế đứng mới, thoát khỏi hình thái hai phe của thời kỳ chiến tranh lạnh Lúc này, những thành tựu về kinh tế chưa phải là nhiều nhưng đã mở được cánh cửa giao lưu với láng giềng và thế giới, khép lại quá khứ băng giá và đối địch” [32, tr.23]
2.2 QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP KHU VỰC CHÂU Á - THÁI BÌNH DƯƠNG
2.2.1 Bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc
Trên cơ sở lấy lợi ích cơ bản và lâu dài của hai nước làm trọng, Đại hội Đảng lần thứ VI tuyên bố “Việt Nam sẵn sàng đàm phán với Trung Quốc bất cứ lúc nào, bất cứ cấp nào và bất cứ ở đâu nhằm bình thường hóa quan hệ giữa hai nước, vì lợi ích của nhân dân hai nước, vì hòa bình ở Đông Nam Á
và thế giới” [15, tr.107] Từ năm 1988, Đảng ta tiếp tục chủ trương bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc trên nguyên tắc giữ vững độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của tổ quốc Việt Nam coi việc bình thường hóa và
Trang 33bình, ổn định cho công cuộc phát triển của hai nước mà còn là một bộ phận quan trọng góp phần thực hiện thành công chính sách mở rộng quan hệ đối ngoại của Việt Nam với các nước khác
Vượt qua các trở ngại trong quá khứ, từ tháng 1/1989, Việt Nam và Trung Quốc đã nối lại đàm phán Cuộc gặp cấp cao giữa hai nước tại Thành
Đô (Trung Quốc - 9/1990) là sự kiện mở đầu cho tiến trình bình thường hóa quan hệ Việt - Trung Trên cơ sở nhận thức ngày càng sâu sắc hơn tầm quan trọng của việc bình thường hóa quan hệ Việt - Trung về phương diện chính trị đối ngoại cũng như về kinh tế đối ngoại, Đại hội lần thứ VII, tiếp tục chủ trương thúc đẩy quá trình bình thường hóa quan hệ Việt - Trung, đặt vấn đề từng bước mở rộng sự hợp tác nhiều mặt giữa hai nước Bản thân Trung Quốc cũng nhận thức được việc bình thường hóa quan hệ với Việt Nam trực tiếp mang lại lợi ích cho cả hai nước mà trước hết là cho họ Đây là việc làm thuận với xu thế quốc tế là hòa bình, hợp tác và phát triển, nên Trung Quốc sẽ tăng được uy tín đối với các nước, đặc biệt là với các nước Đông Nam Á, qua đó tạo điều kiện thuận lợi cho việc tập hợp lực lượng của Trung Quốc Tiếp đó,
là mở ra cơ hội cho Trung Quốc xâm nhập vào thị trường Việt Nam Góp phần bảo đảm an ninh cho biên giới phá Nam của Trung quốc Vì vậy, từ thập niên 1990 quan hệ Việt - Trung ngày càng phát triển tốt đẹp
Ngày 5/11/1991, nhận lời mời của Tổng bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc Giang Trạch Dân và Thủ tướng Trung Quốc Lý Bằng, Tổng bí thư Đảng Cộng Sản Việt Nam Đỗ Mười và chủ tịch Hội đồng Bộ Trưởng Võ Văn Kiệt dẫn đầu đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam sang thăm chính thức nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa Tại cuộc gặp gỡ Bắc Kinh ( 10/11/1991), hai bên ra tuyên bố chung như sau:
+ Cuộc gặp cấp cao Việt - Trung đánh dấu sự bình thường hóa quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc…
Trang 34+ Hai nước Việt Nam và Trung Quốc sẽ phát triển quan hệ hữu nghị và làng giềng thân thiệt trên cơ sở năm nguyên tắc: tôn trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không xâm phạm lẫn nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng, cùng có lợi và cùng tồn tại hòa bình Hai Đảng Cộng Sản Việt Nam và Trung Quốc sẽ khôi phục quan hệ bình thường trên các nguyên tắc độc lập, tự chủ, hoàn toàn bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau…Hai bên nhất trí thúc đẩy hợp tác giữa hai nước trong các lĩnh vực kinh tế, thương mại, khoa học - kỹ thuật và văn hóa…theo nguyên tắc bình đẳng cùng có lợi… [26, tr.2, 211, 213] Chính sách đối ngoại của Việt Nam với Trung Quốc sau khi bình thường hóa được xác định là kiên trì củng cố và mở rộng quan hệ hữu nghị hợp tác với Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, coi đó là một yêu cầu chiến lược, với phương châm triệt để phát huy những điểm tương đồng, hạn chế những điểm bất đồng, giải quyết từng bước các vấn đề biên giới đất liền và lãnh hải thông qua thương lượng hòa bình giữa hai nước
Mặc dù, mức độ quan hệ giữa hai nước so với những năm 1950 – 1960 vẫn còn khoảng cách nhất định, nhưng việc bình thường hóa quan hệ Việt - Trung là một sự kiên trọng đại, mở ra thời kỳ phát triển mối quan hệ hợp tác nhiều mặt giữa hai nước Việt Nam - Trung Quốc
Sự kiện ngoại giao quan trọng giữa hai nước diễn ra trong năm 1992 là việc thủ tướng Trung Quốc Lý Bằng thăm hữu nghị chính thức nước ta (ngày 30/11 - 4/12/1992) Hai bên đã ký một số văn kiện hợp tác như: Hiệp định khuyến khích và bảo đảm đầu tư; hiệp định hợp tác kinh tế kỹ thuật; hiệp định hợp tác khoa học kỹ thuật; hiệp định văn hóa giữa hai nước Việt Nam và Trung Quốc Ngoài ra hai bên còn trao đổi với nhau về tình hình, chính trị, kinh tế mỗi nước và các vấn đề quốc tế
Trang 35Trong chuyến thăm Việt Nam của Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Trung Quốc Đường Gia Triền (tháng 10/1993), hai bên đã ký kết văn bản “thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản giải quyết vấn đề biên giới Việt Nam và Trung Quốc” Văn bản thỏa thuận này đặt ra những nguyên tắc cho vòng đàm phán cấp thứ trưởng và chuyên viên để giải quyết vấn đề biên giới lãnh thổ giữa Việt Nam và Trung Quốc (vòng thứ nhất tại Bắc Kinh tháng 8/1993, vòng thứ hai tại Hà Nội, tháng 8/1994, vòng thứ ba tại Bắc Kinh tháng 7/1995)
Trên lĩnh vực quan hệ quốc tế, Việt Nam và Trung Quốc đã thể hiện sự thống nhất trên nhiều vấn đề quan trọng và hỗ trợ lẫn nhau một cách tích cực Việt Nam với tư cách là một quốc gia độc lập, đã ủng hộ quan điểm: Đài Loan là bộ phận lãnh thổ không thể chia cắt của Trung Quốc Với tư cách là thành viên ASEAN, Việt Nam tích cực ủng hộ Trung Quốc trở thành nước đối thoại đầy đủ của ASEAN (1996) và tích cực thúc đẩy hợp tác giữa ASEAN và Trung Quốc Đồng thời, phía Trung Quốc cũng thúc đẩy Việt Nam bình thường hóa quan hệ với Hoa Kỳ (1995) và ủng hộ Việt Nam gia nhập APEC
Ngày 30/12/1999, tại Hà Nội, Việt Nam và Trung Quốc ký hiệp ước biên giới trên đất liền Đây là sự kiện quan trọng đánh dấu một bước phát triển trong quan hệ hai nước, giải quyết được một vấn đề phức tạp, khó khăn
do lịch sử để lại , nhằm xây dựng quan hệ “láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai” tạo điều kiện cho công cuộc phát triển của mỗi nước, góp phần tích cực củng cố hòa bình, ổn định trong khu vực
Quan hệ hữu nghị hợp tác giữa Việt Nam và Trung quốc năm 2002, tiếp tục được thúc đẩy theo phương châm 16 chữ vàng “láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai” Hai nước đã tổ chức các cuộc gặp gỡ, trao đổi của các đoàn cấp cao, đặc biệt là chuyến thăm hữu
Trang 36nghị Việt Nam của đồng chí Tổng bí thư, chủ tịch nước Giang Trạch Dân vào tháng 2/2012 các cuộc trao đổi, tiếp xúc giữa các nhà lãnh đạo các ngành và địa phương hai nước tiếp tục được củng cố tăng cường
Việc bình thường hóa và phát triển nhiều mặt với Trung Quốc không những mang lại láng giềng hòa bình, ổn định cho Việt Nam mà còn góp phần vào công cuộc phát triển kinh tế và mở rộng quan hệ đối ngoại của nước ta, tạo nên thế và lực cho Việt Nam trong quá trình mở rộng quan hệ quốc tế 2.2.2 Bình thường hóa quan hệ với Hoa Kỳ
Từ cuối thập kỷ 1980, quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ đã có những chuyển biến quan trọng, từ đối đầu sang đối thoại, nhất là sau cuộc xung đột Campuchia đạt tới giải pháp chính trị
Đảng Cộng sản Việt Nam coi trọng quan hệ với Hoa Kỳ là nhân tố quan trọng trong chính sách đối ngoại của mình, đặc biệt là trên lĩnh vực hợp tác, kinh tế, thương mại
Quan hệ với Hoa Kỳ sẽ giúp ta tiếp cận một nền kinh tế phát triển, một nguồn vốn dồi dào và đó là một thị trường giàu tiềm năng Khai thác tận dụng được những điều kiện trên sẽ giúp Việt Nam đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nhất là trong bối cảnh các nguồn viện trợ, đầu tư từ các nước xã hội chủ nghĩa Liên Xô và Đông Âu không còn Việc bình thường hóa quan hệ với Hoa Kỳ còn giúp Việt Nam phá được thế bị bao vây, cô lập, khai thông được các trở ngại, tạo điều kiện thuận lợi cho việc cải thiện và mở rộng quan hệ với các nước và các tổ chức khu vực, quốc tế
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng chỉ rõ quan điểm và lập trường của nhà nước Việt Nam là “tiếp tục bàn bạc với Hoa Kỳ giải quyết vấn
đề nhân đạo do chiến tranh để lại và sẵn sàng cải thiện quan hệ với Hoa Kỳ vì hòa bình, ổn định ở Đông Nam Á”, đẩy mạnh thực hiện chủ trương, từng