Lý do chọn đề tài Qua hơn 20 mươi năm đổi mới,Việt Nam đạt được những thành tựu rất quan trọng; vượt qua nhiều khó khăn thử thách và ổn định kinh tế - xã hội, giữ vững ổn định chính trị
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
=====O0O=====
VƯƠNG THỊ HUỆ
VẤN ĐỀ CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH NHÀ
NƯỚC TA HIỆN NAY
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trước tiên em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới Th.s Hoàng Thanh Sơn – người thầy đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn em hoàn thành khoá luận tốt nghiệp
với đề tài “ Vấn đề cải cách hành chính Nhà nước ta hiện nay”
Em cũng xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trường ĐHSP HN2 đặc biệt là những thầy cô trong khoa Giáo dục chính trị đã nhiệt tình giảng dạy giúp em có được kết quả như ngày hôm nay
Và cuối cùng em xin gửi lời cảm ơn tới gia đình và bạn bè trong thời gian qua đã động viên, ủng hộ giúp em hoàn thành tốt khoá luận của mình Tuy nhiên do trình độ và thời gian có hạn nên trong quá trình thực hiện
đề tài này em vẫn còn nhiều thiếu sót Em rất mong được sự tham gia đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo và bạn bè để đề tài của em được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 5 năm 2012
Tác giả khoá luận VƯƠNG THỊ HUỆ
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan khoá luận tốt nghiệp với đề tài “ Vấn đề cải cách
hành chính Nhà nước ta hiện nay” dưới sự hướng dẫn của Th.s Hoàng
Thanh Sơn là kết quả nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong khoá luận là trung thực, nếu có điều gì gian lận tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà Nội, tháng 5 năm 2012
Tác giả khoá luận VƯƠNG THỊ HUỆ
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 6
2 Lịch sử nghiên cứu đề tài 7
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 9
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9
5 Cơ sở phương pháp nghiên cứu 9
6 Đóng góp của khoá luận 10
7 Kết cấu của khoá luận 10
Chương 1 LÝ LUẬN VỀ CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH VÀ THỰC TRẠNG CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC TA HIỆN NAY 11
1.1 Khái niệm hành chính 11
1.1.1 Hành chính theo nghĩa rộng 11
1.1.2 Hành chính theo nghĩa hẹp 12
1.2 Một số quan điểm về cải cách hành chính 13
1.2.1 Quan điểm của Lênin về vấn đề cải cách hành chính nhà nước 13
1.2.2 Quan điểm của Hồ Chí Minh về cải cách hành chính 16
1.2.3 Quan điểm của Đảng, Nhà nước ta về vấn đề cải cách hành chính và mục tiêu của cải cách hành chính Nhà nước ta hiện nay 19
1.3 Thực trạng cải cách hành chính Nhà nước ta hiện nay 27
1.3.1 Những kết quả đạt được trong quá trình cải cách hành chính ở nước ta hiện nay 27
1.3.2 Những hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế đó trong quá trình tiến hành cải cách hành chính ở nước ta hiện nay 36
Chương 2 MỘT SỐ PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM ĐẨY MẠNH CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH Ở NƯỚC TA HIỆN NAY 43
2.1 Những yêu cầu đặt ra trong quá trình cải cách hành chính ở nước ta hiện nay 43
Trang 52.1.1 Trong tiến trình cải cách hành chính phải thực hiện nguyên tắc tập
trung dân chủ 43
2.1.2 Cải cách hành chính Nhà nước phải đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam 44
2.1.3 Tiến trình cải cách hành chính phải dựa trên cơ sở pháp luật và được bảo đảm bằng pháp luật 45
2.1.4 Tiến trình cải cách hành chính phải gắn liền với sự đổi mới về kinh tế 46
2.1.5 Tiến hành cải cách hành chính phải đồng bộ trên cơ sở thực hiện từng bước đi vững chắc 48
2.2 Phương hướng tiến hành cải cách hành chính ở nước ta hiện nay 50
2.2.1 Những yêu cầu mới đối với nền hành chính nước ta 50
2.2.2 Một số phương hướng cải cách hành chính ở nước ta hiện nay 52
2.3 Một số giải pháp nhằm đẩy mạnh công cuộc cải cách hành chính ở nước ta hiện nay 57
2.3.1 Đối với cải cách thể chế hành chính 57
2.3.2 Đối với cải cách bộ máy hành chính Nhà nước 59
2.3.3 Đối với đội ngũ cán bộ công chức 61
2.3.4 Đối với tài chính công 62
KẾT LUẬN 64
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 65
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Qua hơn 20 mươi năm đổi mới,Việt Nam đạt được những thành tựu rất quan trọng; vượt qua nhiều khó khăn thử thách và ổn định kinh tế - xã hội, giữ vững ổn định chính trị, đưa đất nước ra khỏi tình trạng khủng hoảng.Tuy nhiên Việt Nam vẫn còn là một nước kém phát triển tích luỹ nội bộ nền kinh
tế còn thấp, việc quản lý nền kinh tế còn chưa có nhiều kinh nghiệm; tổ chức
bộ máy nhà nước chưa được tinh giảm; năng lực hiệu quả quản lý điều hành của bộ máy chưa cao; bệnh quan liêu còn nặng, năng lực phẩm chất nột số cán
Nghị quyết Hội nghị thứ 8 của ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (Khoá VIII): “tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trọng tâm là cải cách một bước nền hành chính” với nội dung như vậy, Nghị quyết đã đưa ra nhưng yêu cầu cơ bản đó là:
Nền kinh tế hàng hoá thị trường, công cuộc công nghiệp hoá hiện đại hoá trong thời kỳ mới đòi hỏi nhà nước trực tiếp là nền hành chính, phải hoàn thiện thể chế và nâng cao hiệu lực quản lý theo cơ chế quá độ đi lên chủ nghĩa
xã hội để đảm bảo cho đất nước phát triển nhanh và bền vững theo định hướng xã hội chủ nghĩa.Trong quá trình đổi mới ở Việt Nam, khi kinh tế thị trường phát triển thì các lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất và tiếp theo là các quan hệ xã hội được giải phóng ra khỏi các khuôn khổ hành chính, pháp
lý cũ kỹ.Trong những năm qua các quan hệ hành chính, pháp lý từng bước được thay đổi thích ứng với nền kinh tế thị trường, với những quan hệ cung -cầu, cạnh tranh nhằm mục tiêu là hiệu quả.Tuy vậy, trong những lĩnh vực, nền hành chính không chuyển biến kịp và trở nên lạc hậu, gây trì trệ, kìm
Trang 7hoạt động của các cơ quan hành pháp một cách sâu rộng và toàn diện, cải cách hành chính phải gắn với cải cách kinh tế
Công cuộc đổi mới toàn diện đất nước đang đồi hỏi phải củng cố và hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, đặt ra những yêu cầu mới và nền hành chính phải đáp ứng
Sự mở rộng mối quan hệ đối ngoại đa phương, đa dạng đòi hỏi thể chế hành chính và đội ngũ cán bộ phải hiểu biết luật pháp và thông lệ quốc tế, đồng thời có bản lĩnh chính trị và phẩm chất cách mạng, trung thành với sự nghiệp cách mạng của Đảng, đảm bảo giữ vững độc lập tự chủ, bảo vệ lợi ích quốc gia
Cục diện trong nước và quốc tế trong giai đoạn mới tạo ra thời cơ để nền kinh tế Việt Nam hội nhập với thị trường thế giới, khai thác mọi nguồn lực trong và ngoài nước phục vụ sự tăng trưởng nhanh và bền vững Đồng thời cũng đặt ra những thách thức lớn trong việc giữ vững chủ quyền quốc gia và kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội Việc cải cách hành chính phải gắn liền với giữ vững chính trị, tăng cường bộ máy nhà nước và vai trò lãnh đạo của Đảng
Nhận thấy vấn đề cải cách hành chính nhà nước đang là vấn đề thiết thực của toàn Đảng, toàn dân ta hiện nay trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện
đại hoá đất nước Tôi đã lựa chọn “Vấn đề cải cách hành chính Nhà nước ta
hiện nay” làm đề tài khoá luận của mình
2 Lịch sử nghiên cứu đề tài
Vấn đề cải cách hành chính nhà nước là một vấn đề khó, đây là vấn đề
đã được rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm
Trên báo Lý luận Chính trị số 11/2001 có bài: “Cải cách hành chính - nhìn từ khía cạnh nhận thức lý luận” của Thạc sĩ Nguyễn Đức Mạnh Bài viết
Trang 8đã nhấn mạnh cải cách hành chính là một tất yếu khách quan Tác giả cũng khẳng định cải cách hành chính trong mối quan hệ biện chứng với đổi mới nền kinh tế, ổn định chính trị, xác định cải cách hành chính là nhiệm vụ trọng tâm của quá trình hoàn thiện Nhà nước, đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của hệ thống chính trị
Bài “Cải cách nền hành chính nhà nước: thực trạng và giải pháp” của Tiến sĩ Nguyễn Văn Mạnh đăng trên báo Lý luận Chính trị số 2/2001 Trong nội dung của bài viết Tiến sĩ đã đưa ra thực trạng của công cuộc cải cách hành chính và nêu ra một số giải pháp nhằm thúc đẩy công cuộc cải cách hành chính Nhà nước ta
Cũng bàn về vấn đề cải cách hành chính Nguyễn Minh Phương có bài
“Xây dựng đội ngũ công chức hành chính nhà nước; thực trạng và giả pháp” Tác giả bài viết đã đưa ra những giải pháp nhằm góp phần xây dựng hoàn chỉnh đội ngũ công chức hành chính Nhà nước
Tiếp theo Trần Quang Nhiếp có bài đăng trên Tạp chí Cộng sản với tiêu đề: “Cải cách hành chính - những vấn đề cần quan tâm” Bài viết đã đưa ra những quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về cải cách hành chính Nhà nước đồng thời tác giả cũng nêu ra những giải pháp thực hiện cải cách nền hành chính Nhà nước
Tóm lại, nội dung của những bài viết đều đề cập đến một vài khía cạnh của vấn đề cải cách hành chính nhưng chưa phải là toàn diện.Tuy nhiên, với nững bài viết của các tác gỉả cũng là tài liệu đáng quý cho tác giả khoá luận hoàn thành khoá luận của mình
Với đề tài “Vấn đề cải cách hành chính Nhà nước ta hiện nay” tác giả
khoá luận xin đưa ra một số ý kiến vào việc luận giải vấn đề cải cách hành chính của nhà nước ta hiện nay
Trang 93 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Mục đích
Mục đích của khoá luận là nghiên cứu vấn đề cải cách hành chính Nhà nước ta trong giai đoạn hiện nay, từ đó rút ra một số phương hướng và giải pháp để thúc đẩy thành công cuộc cải cách hành chính nhà nước ta hiện nay
Nhiệm vụ
Đưa ra một số lý luận chung về hành chính và cải cách hành chính Phân tích thực trạng vấn đề cải cách hành chính ở nước ta hiện nay Đưa ra một số phương hướng và giải pháp nhằm thúc đẩy mạnh công cuộc cải cách hành chính ở nước ta hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng:
Khoá luận đi nghiên cứu vấn đề cải cách hành chính ở nước ta hiện nay.Trên cơ sở đó đi sâu phân tích và đưa ra những phương hướng và giải pháp để đẩy mạnh công cuộc cải cách hành chính nhà nước ta hiện nay
Phạm vi nghiên cứu
Khoá luận đi nghiên cứu vấn đề cải cách hành chính nước ta trên cả nước bắt đầu từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (1986) cho đến nay
5 Cơ sở phương pháp nghiên cứu
Vận dụng quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin là: Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, đồng thời vận dụng quan điểm, tư tưởng của Hồ chí Minh làm phương pháp nghiên cứu
Bên cạnh đó khoá luận còn sử dụng phương pháp chuyên ngành: phân tích tổng hợp; so sánh - đối chiếu; khái quát trừu tượng làm phương pháp nghiên cứu
Trang 106 Đóng góp của khoá luận
Phân tích một cách tổng quát thực trạng vấn đề cải cách hành chính ở nước ta hiện nay trên cơ sở đó đưa ra được một số phương hướng nhằm đẩy mạnh công cuộc cải cách hành chính ở nước ta hiện nay
Khoá luận cũng góp phần cung cấp thêm tài liệu về vấn đề cải cách hành chính ở nước ta hiện nay cho bạn đọc
7 Kết cấu của khoá luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu của khoá luận gồm 2 chương và 6 tiết
Trang 11Như vậy, phân tích và hiểu một cách đầy đủ khái niệm hành chính chúng
ta phải hiểu theo hai lớp nghĩa đó là nghĩa rộng và nghĩa hẹp
1.1.1 Hành chính theo nghĩa rộng
Hành chính là một thuật nghữ hoạt động hoặc tiến chình chủ yếu có liên quan chặt chẽ tới những biện pháp để thực thi những mục đích, nhiệm vụ, đã được vạch sẵn, khi có hai người trở lên cùng hợp tác để thực hiện nhiệm vụ chung mà một cá nhân không làm được thì ở đó xuất hiện thể thức quản lý nói chung và hành chính là một nội dung của sự quản lý đó
Quản lý liên quan đến những thể thức hoạt động hợp tác cho nên tất cả các hành vi tham gia vào hoạt động hợp tác đều có nghĩa là tham gia vào một dạng hoạt động quản lý đó là: công việc hành chính, chúng ta có thể thấy các cán bộ, các tổ chức chính trị, các hiệp hội các nhà trường, hoặc một gia đình…đều cần đến hành chính để dành được mục tiêu chung
Từ những dẫn chứng trên, chúng ta thấy cơ sở về lý luận và thực tiễn của hành chính với nghĩa rộng của nó là hoạt động có mục đích bảo đảm cho các hành vi có ý thức và có hiệu quả cho mỗi bộ phận và các thành viên của các
tổ chức hành chính là một loại quản lý chung nhất của các nhóm người, hợp tác với nhau để hoàn thành mục đích chung, chính những đặc điểm phổ biến
Trang 12này cho chúng ta thấy, hành chính là một quá chình tổng hợp và được khái quát hoá thành các học thuyết hành chính, các nguyên tắc và các mối quan hệ chung để giành được mục đích chung của tổ chức, buộc các nhà quản lý và các tổ chức khác phải tuân theo
Hành chính theo nghĩa rộng được quan niệm dưới nhiều nghĩa khác nhau.Theo giáo sư, tiến sĩ Vũ Huy Từ thì hành chính theo nghĩa rộng gồm có mười lăm nghĩa khác nhau Đó là “giúp đỡ” hay “phục vụ”,”hướng dẫn”,”cai quản”,”điều hành”…Từ những lý lẽ trên, có thể nêu định nghĩa “hành chính” theo nghĩa rộng như sau:
Hành chính là những biện pháp tổ chức và điều hành của các tổ chức, các nhóm, các đoàn thể hợp tác theo hoạt động của mình để đạt được mục tiêu chung
Từ góc độ quan hệ với chính trị, nếu chính trị là biểu hiện ý chí của Nhà nước thì hành chính là sự chấp nhận ý của Nhà nước cho nên bất kỳ bộ phận quản lý nào thuộc loại chấp hành ý chí của Nhà nước đều gọi là hành chính Như vậy, theo cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp, khái niệm “hành chính” cũng
có rất nhiều định nghĩa khác nhau Vì vậy, để có một định nghĩa thống nhất làm cơ sở cho việc nghiên cứu tiếp theo là việc cần thiết
Theo tiếng la tinh cổ “hành chính” (ad ministratio) có hai nghĩa:
Trang 13Một là: sự giúp “đỡ” hay “hỗ trợ” của một người hay một nhóm người giành cho một người khác hay một nhóm người khác
Hai là: “quản lý”, “hướng dẫn”, “cai trị” của một người hay nhóm người với một người đối với một người hay một nhóm người khác
Kết hợp hai nghĩa này với nhau ta thấy, thuật ngữ “hành chính” vừa có nghĩa phục vụ, hỗ trợ lại, vừa có nghĩa quản lý, điều hành
Tóm lại, nói một cách tương đối thì hành chính là sự quản lý của nhà nước đi đôi với sự hình thành và tiến triển của Nhà nước Nhà nước là một chủ thể đặc biệt đối với rất nhiều khách thể khác nhau trong phạm vi toàn lãnh thổ, sự quản lý đó khác hẳn với các hình thức quản lý thông thường Do vậy khi nói tới quản lý nhà nước là nói tới hành chính Nhà nước (hay hành chính công), vì hành chính quốc gia là một bộ phận lớn nhất trong cơ cấu nhà nước, đảm nhận chức năng thực thi quyền hành pháp để quản lý, điều hành mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trực tiếp tổ chức thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và thực thi quyền lực của nhân dân
1.2 Một số quan điểm về cải cách hành chính
1.2.1 Quan điểm của Lênin về vấn đề cải cách hành chính nhà nước
Năm 1917 Nhà nước Xô Viết được thành lập, đây là mô hình Nhà nước
xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới Dưới sự lãnh đạo của Đảng Bônxêvich
và V.I.Lênin toàn thể dân tộc nước Nga Xô Viết bắt tay vào công cuộc khôi phục và phát triển đất nước sau chiến tranh cũng trong thời gian này Lênin đã viết nhiều bài báo, sách nói về vấn đề cải cách hành chính nhà nước Nga Xô Viết Đây cũng chính là những đường lối chủ trương của Đảng Bônxêvich về vấn đề cải cách hành chính
Theo Lênin, một vấn đề quan trọng trong cải cách hành chính là sắp xếp tinh giảm bộ máy hành chính và thực hành tiết kiệm.V.I.Lênin nhấn mạnh:
“nhiệm vụ cấp thiết, chủ yếu nhất trong lúc này, và cũng vẫn là nhiệm vụ
Trang 14quan trọng nhất trong những năm sắp tới là không ngừng tinh giảm bộ máy
Xô Viết và giảm bớt chi phí của nó bằng cách giảm nhẹ biên chế cải tiến tổ chức, xoá bỏ tác phong lề mề hành chính, bệnh quan liêu và giảm bớt các
Lênin đã đặt vấn đề tiết kiệm trong xây dựng bộ máy hành chính nhà nước cả trong sản xuất và trong tiêu dùng, trong hoạt động sản xuất và trong hoạt động quản lý, trong xây dựng bộ máy, trong hình thành luật pháp, cả về thời gian, công sức lao động và phương thức sử dụng hợp lý các nguồn lực, bảo đảm phát huy tối ưu các nguồn lực có được Người chỉ rõ “nhờ một sự tiết kiệm nghiêm ngặt nhất trong việc quản lý nhà nước của chúng ta sẽ có thể dùng cả đến món tiền tiết kiệm nhỏ nhất để phát triển đại công nghiệp cơ khí của chúng ta”
Cùng với việc thiết lập một hệ thống quản lý mới, V.I.Lênin xúc tiến việc cải cách hành chính để bảo đảm cho bộ máy nhà nước vận hành thông suốt Người coi trọng việc cải cách đơn giản hoá việc thủ tục hành chính, bớt những khâu xét duyệt giấy tờ không cần thiết Người đặc biệt lưu ý đến việc soạn lại các quy định thật cơ bản, thiết thực đã tính toán chuẩn xác để thi hành
có hiệu quả
Về nâng cao chất lượng hoạt động và giải quyết mối quan hệ giữa Đảng
và Nhà nước, Lênin nhấn mạnh sự cần thiết phải sử dụng bộ máy Đảng và Nhà nước theo đúng chức năng, nhiệm vụ của nó vào những công việc thiết thực hữu ích hàng ngày Lấy chất lượng và hiệu quả, hoạt động thực tiễn làm thước đo chứ không phải những lời tuyên bố, hứa hẹn xuông Đối với Đảng, thì “không có sự tận tuỵ nào, không có uy tín nào của Đảng có thể thay thế được điều cơ bản trong trường hợp này đó là: sự hiểu biết công việc, hiểu biết
bộ máy Nhà nước của chúng ta và hiểu biết bộ máy đó phải được cải tổ như thế nào” Và đối với Nhà nước thì “làm sao các đồng chí có thể quản lý được
Trang 15nếu không có được uy tín chuyên môn…nếu không có kiến thức đầy đủ, nếu không tinh thông khoa học quản lý”
Theo Lênin vấn đề quan trọng hàng đầu trong quá trình cải cách bộ máy hành chính Nhà nước là yếu tố con người, trước hết là đội ngũ cán bộ Người nhấn mạnh: “Nghiên cứu con người, tìm những cán bộ có bản lĩnh hiện nay
đó là then chốt, nếu không thì tất cả mọi mệnh lệnh cũng chỉ là đống giấy lộn”
Muốn xây dựng được bộ máy Nhà nước thật sự có chất lượng, yêu cầu đầu tiên đối với con người là phải có trình độ, văn hoá cần thiết, và phải cố hết sức, tự đặt cho mình những nhiệm vụ sau đây: Một là học tập, hai là học tập, ba là học tập mãi và cơ bản là phải làm cho học thức không nằm trên giấy hoặc là một lời nói theo mốt nữa
Lênin rất quan tâm đến việc nâng cao tinh thần trách nhiệm và đạo đức công vụ, để có thể phục vụ đạt hiệu quả cho lợi ích của sự nghiệp cách mạng
xã hội chủ nghĩa.Trước hết phải đấu tranh chống nững biểu hiện thờ ơ, coi thường, lơ là trước những đòi hỏi, những nhu cầu chính đáng của nhân dân lao động, chống lối làm việc bàn giấy mang tính hình thức Bộ máy của chính quyền Xô viết cần phải làm việc chu đáo, cụ thể, trung thực và giải quyết khẩn trương nhiệm vụ chuyên môn.Tuyệt đối không để tình trạng làm việc tắc trách lỏng lẻo, vô tổ chức.Theo Lênin, chế độ tập thể lãnh đạo là cần thiết trong việc thảo luận các vấn đề căn bản thì cũng cần thiết có chế độ trách nhiệm cá nhân để tránh hiện tượng lề mề và trốn tránh trách nhiệm đặc biệt Lênin rất chú trọng đến đấu tranh chống bệnh quan liêu Theo Lênin: “Nếu có cái gì thì sẽ làm tiêu vong chúng ta thì chính là cái đó”
Lênin chỉ ra rằng, chống quan liêu là công việc rất khó khăn, phải làm lâu dài, phải xác định rõ những địa chỉ của những sai lầm, không để cán bộ ở quá lâu một vị trí, lãnh đạo phải bổ nhiệm và luân chuyển, phải coi trọng
Trang 16chuyên gia, thường xuyên kiểm tra, kiểm soát, phải lựa chọn đúng cán bộ và thử thách nghiêm ngặt, không tuỳ tiện đưa người vào bộ máy của Đảng và Nhà nước
Quan điểm của V.I.Lênin về cải cách bộ máy hành chính nhà nước là một hệ thống lý luận có tính cách mạng và khoa học, Đảng và nhà nước ta đã quán triệt và vận dụng sáng tạo các quan điểm tư tưởng của Người vào xây dựng nền hành chính nhà nước của quốc gia độc lập ngay từ khi Cách mạng Tháng Tám (1945) thành công
1.2.2 Quan điểm của Hồ Chí Minh về cải cách hành chính
Sau cách mạng Tháng Tám năm 1945, Hồ Chí Minh đã quan tâm và bỏ công sức xây dựng bộ máy hành chính nhà nước từ chính phủ đến chính quyền các cấp.Trước tiên là qua hai bản Hiến Pháp (năm 1946 và năm 1959),
đã thể hiện rõ quan điểm của Người về mối quan hệ giữa cơ quan hành chính Nhà nước cao nhất là Chính Phủ với Quốc hội và Uỷ ban thường vụ Quốc hội, với Toà án Mặc dù trong thiết chế năm 1946, Chủ tịch nước hay trong quy định năm 1959, Thủ tướng là người đứng đầu Chính phủ, thì Chính phủ luôn là cơ quan hành pháp cao nhất, cơ quan chấp hành của Quốc hội và cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của quền lực nhà nước và không thể là
“cơ quan hành chính nhà nước của Quốc hội” như quan niệm chế độ “hỗn hợp các quyền” Tổ chức chính quyền địa phương là Hội đồng nhân dân ở hai cấp tỉnh - xã (không có ở cấp huyện) và Uỷ ban hành chính (trong kháng chiến đổi thành Uỷ ban kháng chiến, sau đổi thành Uỷ ban nhân dân) Hội đồng nhân dân tự quyết định tất cả những vấn đề có tính chất địa phương, ngoài những vấn đề có tính luật định phải xin phép cơ quan chính quyền ở Trung ương, những quyết định của Hội đồng nhân phải được gửi lên cơ quan hành chính cấp trên; Trong một thời hạn nhất định nếu không có phản hồi thì đương nhiên có hiệu lực pháp lý thi hành
Trang 17Trong nền hành chính, Người rất xem trọng con người, đội ngũ công chức và nền công vụ như: quan tâm đến việc học tập, nâng cao đân trí, nâng cao trình độ quản lý, việc đào tạo và tuyển dụng một đội ngũ công chức trong sạch và có đủ đức, tài Hồ Chí Minh đã không ngần ngại trong việc sử dụng những công chức hành chính chế độ cũ, cũng như kiến thức và kinh nghiệm nghiệp vụ, kỹ thuật trong các văn bản hành chính của chế độ thực dân Pháp
để lại, để xây dựng nền hành chính mới mẻ và non trẻ của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà
Nhận thức được vai trò và vị trí của công chức đối với nền hành chính nhà nước, vào những năm 1948 và năm 1950 Người đã ký Sắc lệnh số 288/SL ban hành quy chế công chức với quan niệm “công chức Việt Nam là những người công dân giữ một nhiệm vụ trong bộ máy Nhà nước của chính quyền nhân dân, dưới sự lãnh đạo tối cao của Chính phủ” Các sắc lệnh của Hồ Chí Minh thể hiện quan điểm và tư tưởng về công vụ, công chức của Nhà nước pháp quyền và các nền hành chính hiện đại, khác với thực thế cách tổ chức và xây dựng đội ngũ công chức trong mấy chục năm qua, cần phải cải cách cơ bản
Như vậy hành chính Nhà nước là toàn bộ hoạt động thực thi pháp luật, là
cơ quan chấp hành của cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất (Quốc hội), nó
là tổ chức bộ máy Trung ương đến địa phương được cấu thành bởi các pháp nhân hành chính, chịu trách nhiệm về mọi mặt, trước nhân dân và trước cơ quan luập pháp Nó thực chất là cơ quan chỉ huy điều khiển mọi hoạt động của xã hội theo ý chí, mục tiêu chính trị của nhà nước bang chức năng, hình thức và phương pháp hành chính
Chủ tịch Hồ Chí Minh là người sáng lập ra nền chính trị cách mạng Việt Nam, đồng thời là người khai sinh nền cộng hoà dân chủ Việt Nam và đặt cơ
sở vững chắc cho việc xây dựng nền hành chính hiện đại Việt Nam Người đã
Trang 18thực hiện nguyên tắc thống nhất giữa mục tiêu chính trị và mục tiêu hành chính trong một mục tiêu chung Đồng thời khi nói tói bản chất của nền hành chính nhà nước là nói tới bản chất của chế độ, tức là nói tới dân chủ và chuyên chính Nền hành chính ấy theo Hồ Chí Minh là của nhân dân, do nhân dân, và vì nhân dân cũng tức là nền dân chủ nhân dân
Bản chất của nền hành chính luôn luôn phụ thuộc vào bản chất của nhà nước, Hồ Chí Minh từng viết: “Tính chất của một nhà nước là: trong Nhà nước ấy, giai cấp nào thống trị, giai cấp nào bị thống trị Nhà nước ấy bảo vệ lợi ích của giai cấp nào…” và “Tính chất của nó là nhân dân dân chủ chuyên chính…trong nước Việt Nam dân chủ cộng hoà của chúng ta, tất cả mọi quyền lực dều là của nhân dân, tức là giai cấp công nhân, nông dân và tiểu tư sản dân tộc Bốn giai cấp ấy do giai cấp công nhân lãnh đạo lấy công nông liên minh làm nền tảng, đoàn kết các giai cấp dân chủ và các dân tộc trong cả nước để thực hành dân chủ chuyên chính Nhân dân dân chủ chuyên chính là bản chất của nền hành chính Việt Nam, nó được quy định ngay từ bản Hiến pháp đầu tiên (1946) của nước ta do đích thân Hồ Chủ tịch soạn thảo và đã được Quốc hội khoá I nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà thông qua.Thực hiện cải cách hành chính là trọng tâm với năm nội dung cơ bản là: Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng; cải cách thể chế và phương thức hoạt động của nhà nước; phát huy dân chủ, giữ vững
kỷ luật, kỷ cương, tăng cường pháp chế; xây dựng đội ngũ cán bộ công cức trong sạch có năng lực; đấu tranh chống tham nhũng
Nắm vững quan điểm tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về vấn đề cải cách nền hành chính Nhà nước, Đảng và Nhà nước ta trong những năm qua
đã không ngừng đẩy mạnh công cuộc cải cách nền hành chính Nhà nước với mục tiêu là xây dựng một nền hành chính dân chủ, trong sạch, vững mạnh, chuyên nghiệp, hiện đại hoá hoạt động có hiệu lực, hiệu quả theo nguyên tắc
Trang 19của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng; Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có phẩm chất và năng lực đáp ứng yêu cầu của công cuộc xây dựng, phát triển đất nước, đúng như những gì mà Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã từng mong mỏi
1.2.3 Quan điểm của Đảng, Nhà nước ta về vấn đề cải cách hành chính
và mục tiêu của cải cách hành chính Nhà nước ta hiện nay
Cải cách hành chính ở Việt Nam là công việc mới mẻ, diễn ra trong điều kiện thiếu kiến thức và kinh nghiệm về quản lý Nhà nước trong thời kỳ mới,
có những vấn đề vừa tìm tòi vừa rút kinh nghiệm.Vì vậy, việc hình thành quan niệm và những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo công cuộc cải cách hành chính cũng như việc đề ra những nội dung, phương hướng, chủ trương giải pháp thực hiện trong từng giai đoạn là một quá trình tìm tòi sáng tạo không ngừng,
là một qua trình nhận thức liên tục, thống nhất trong tiến trình đổi mới được khởi đầu rừ Đại hội lần thứ VI của Đảng cộng sản Việt Nam năm 1986
Từ xác định những nguyên nhân của tình hình khủng hoảng kinh tế xã hội trầm trọng, Đại hội VI đã chỉ rõ nguyên nhân của mọi nguyên nhân là công tác tổ chức và đề ra chủ trương thực hiện một cuộc cải cách lớn về tổ chức bộ máy cơ quan nhà nước.Thực hiện Nghị quyết Đại hội VI, tổ chức bộ máy nhà nước đã được sắp xếp lại một bước theo hướng gọn nhẹ, bớt đầu mối.Tuy nhiên, nhìn chung tổ chức và biên chế của bộ máy nhà nước vẫn còn quá cồng kềnh nặng nề
Đến Đại hội VII Đảng xác định tiếp tục cải cách bộ máy hành chính Nhà nước và đề ra những nhiệm vụ về sửa đổi Hiến pháp cải tiến tổ chức và hoạt động của Quốc hội, sửa đổi cơ cấu tổ chức và phương thức hoạt động của Chính phủ, chính quyền địa phương Trên cơ sở những nhiệm vụ do Đại hội VII để ra, trong nhiệm kỳ này đã tiến hành đợt sắp xếp lần thứ hai kể từ Đại
Trang 20hội VI hệ thống chính trị ở nước ta bao gồm: Đảng, Nhà nước, mặt trận và các đoàn thể nhân dân Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội, chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm
2000 do Đại hội VII thông qua đã khẳng định bước tiến về lý luận, nhận thức
về nền hành chính Nhà nước, Cương lĩnh đã nêu: về nhà nước “phải có đủ quyền lực và có đủ khả năng định ra luật pháp về tổ chức, quản lý mọi mặt đời sống xã hội bằng pháp luật Sửa đổi hệ thống tổ chức nhà nước, cải cách
bộ máy hành chính, kiện toàn các cơ quan luật pháp để thực hiện có hiệu quả chức năng quản lý của nhà nước”
Chiến lược cũng nêu trọng tâm cải cách: “nhằm vào hệ thống hành chính với nội dung chính là xây dựng một hệ thống hành chính và quản lý hành chính nhà nước thông suốt, có đủ quyền lực, năng lực, hiệu quả”
Thực hiện Nghị quyết Đại hội VII, tháng 4 năm 1992, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua hiến pháp mới thay thế hiến pháp năm 1980 Hiến pháp năm 1992 thể hiện sự nhận thức đầy đủ hơn
về phân công, phối hợp giữa ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp trong tổng thể quyền lực thống nhất của nhà nước
Sau Đại hội VII, từ 1992 đến 1995 là giai đoạn phát triển mạnh tư duy, quan niệm, nhận thức của Đảng về nền hành chính nhà nước và về cải cách hành chính Hội nghị Trung ương VIII khoá VII (1-1995) đánh dấu bước phát triển mới về xây dựng và phát triển nền hành chính nhà nước Cải cách một bước nền hành chính nhà nước được xác định là trọng tâm của việc tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà nước, với mục tiêu là xây dựng một nền hành chính trong sạch, có đủ năng lực, sử dụng đúng quyền lực và từng bước hiện đại hoá để quản lý có hiệu lực và hiệu quả công việc của nhà nước, thúc đẩy
xã hội phát triển lành mạnh, đúng hướng, phục vụ đắc lực đời sống nhân dân,
Trang 21xây dựng nếp sống và làm việc theo pháp luật trong xã hội Lần đầu tiên ba nội dung chủ yếu của cải cách hành chính nhà nước được trình bày một cách
hệ thống trong Nghị quyết Trung ương VIII, đó là cải cách thể chế nền hành chính, trấn chỉnh tổ chức bộ máy và xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức Việc thực hiện Nghị quyết Trung ương VIII khoá VII đã mở ra một giai đoạn mới, giai đoạn chuyển biến thật sự trong cải cách hành chính ở nước ta
Có thể nói, Nghị quyết Trung ương VIII khoá VII có ý nghĩa quan trọng thúc đẩy tiến trình cải cách hành chính của hơn 20 năm đổi mới vừa qua Tiếp tục khẳng định cải cách hành chính là trọng tâm của việc xây dựng, hoàn thiện nhà nước trong những năm trước mắt, Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII (1996) nhấn mạnh yêu cầu tiến hành cải cách hành chính đồng bộ, dựa trên cơ sở pháp luật, coi đó là một giải pháp cơ bản để thực hiện các nhiệm vụ mục tiêu chủ yếu của kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm năm
1996 - 2000
Với tinh thần đẩy mạnh cải cách hành chính được đề ra trong Nghị quyết Trung ương VIII khoá VII một cách tích cực theo chương trình, kế hoạch Nghị quyết Trung ương VIII nhấn mạnh nhiệm vụ xây dựng hế thống pháp luật phù hợp với cơ chế mới; cải tiến quy trình xây dựng và ban hành văn bản pháp luật của Chính phủ, đồng thời tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, và sắp xếp lại bộ máy hành chính từ Trung ương đến địa phương, hợp nhất một số cơ quan quản lý chuyên ngành về kinh tế trên cơ sở xác định rõ
và thực hiện đúng chức năng quản lý nhà nước của các bộ, ngành Theo đó, bốn điểm bổ sung quan trọng trong định hướng cải cách được Nghị quyết đề
ra là:
- Phân định rõ thẩm quyền và trách nhiệm của từng cấp, hành chính;
Trang 22- Tiếp tục nghiên cứu để cụ thể hoá sự phân cấp quản lý nhà nước giữa các cơ quan của chính phủ với chính quyền tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;
- Đổi mới chế độ công chức và công vụ (bao gồm sửa đổi quy chế thi tuyển, bồi dưỡng, đào tạo mới và trẻ hoá đội ngũ cán bộ, công chức, kiên quyết xử lý và sa thải những người thái hoá biến chất; tăng cường biện pháp
và phối hợp lực lượng đẩy mạnh đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, cửa quyền trong bộ máy quản lý nhà nước và các tổ chức kinh tế nhà nước;
- Thành lập toà án hành chính và thực hiện xã hội hoá đối với một số hoạt động thuộc lĩnh vực dịch vụ công
Hội nghị lần thứ III của ban chấp hành Trung ương khoá VIII họp tháng
6 năm 1997 ra Nghị quyết về phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tiếp tục xây dựng nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Một trong những chủ trương và giải pháp lớn về cải cách hành chính được nhấn mạnh trong Nghị quyết quan trọng này là bảo đảm thực hiện dân chủ hoá đời sống chính trị của xã hội, giữ vững và phát huy bản chất tốt đẹp của nhà nước, phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong xây dựng và bảo vệ nhà nước, trong giám sát hoạt động của bộ máy nhà nước và hoạt động của cán bộ, công chức Từ
đó, chính phủ ban hành các quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở
Trong việc xây dựng chiến lược về cán bộ cho thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đến năm 2020, Nghị quyết trung ương III đặc biệt nhấn mạnh xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có phẩm chất và năng lực, coi đó là yếu tố quyết định đến chất lượng bộ máy nhà nước Cán bộ lãnh đạo phải được đào tạo, bồi dưỡng kiến thức toàn diện, được bố trí, điều động theo nhu cầu và lợi ích của đất nước
Trang 23Nghị quyết Trung ương VI (lần 2), Nghị quyết Trung ương VII (Khoá VIII) đã biểu thị một số quyết tâm chính trị rất lớn về việc tiếp tục tiến hành cải cách hành chính, đặt cải cách hành chính trong tổng thể của đổi mới hệ thống chính trị
Từ việc kiểm điểm tình hình và rút kinh nghiệm thực tiễn, Đảng đã đi đến khẳng định, trong điều kiện một Đảng cầm quyền, sự đổi mới chưa đồng
bộ các tổ chức trong hệ thống chính trị là trở ngại lớn của công cuộc cải cách hành chính trong thời gian qua Không thể tiến hành cải cách riêng nền hành chính tách rời sự đổi mới tổ chức và phương thức lãnh đạo của Đảng, đổi mới
tổ chức và phương thức hoạt động của các đoàn thể nhân dân Cũng không thể cải cách hành chính một cách biệt lập mà không đồng thời đổi mới tổ chức và
cơ chế hoạt động của các cơ quan lập pháp, cơ quan tư pháp
Từ nhận thức đó, Nghị quyết Trung ương VII khoá VIII đề ra chủ trương tiến hành sắp xếp lại tổ chức bộ máy Đảng và các tổ chức trong hệ thống chính trị gắn liền với cải cách hành chính theo hướng tinh gọn, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả Đồng thời, với việc kiên quyết sắp xếp một bước bộ máy các tổ chức trong hệ thống chính trị thực hiện tinh giảm biên chế, cải cách chính sách tiền lương
Đại hội IX (2001), bên cạnh việc khẳng định mục tiêu xây dựng nền hành chính nhà nước dân chủ, trong sạch, vững mạnh, từng bước hiện đại hoá
đã đưa ra một loại chủ trương, giải pháp có ý nghĩa quan trọng trong cải cách hành chính thời gian tới như điều chỉnh chức năng và cải tiến phương thức hoạt động của chính phủ, nguyên tắc bộ quản lý đa ngành, đa lĩnh vực, phân công, phân cấp, tách cơ quan hành chính công quyền với tổ chức sự nghiệp, dịch vụ công, tiếp tục cải cách doanh nghiệp nhà nước, tách rõ chức năng quản lý nhà nước với sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, tiếp tục cải
Trang 24cách thủ tục hành chính; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức trong sạch, có năng lực; thiết lập trật tự kỉ cương, chống quan liêu, tham nhũng…
Để thực hiện Nghị quyết Đại hội IX của Đảng, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo phải nhanh chóng xây dựng cho được một chương trình cải cách hành chính có tính chiến lược, dài hạn của Chính phủ Sau một thời gian chuẩn bị, ngày 1/9/2001, Thủ tướng Chính phủ đã kí quyết định số 136/2001/QĐ-TTg phê duyệt chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001
- 2010
Với chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001-
2010, lần đầu tiên trong quá trình cải cách, chính phủ có một chương trình có tính chiến lược, dài hạn, xác định rõ bốn lĩnh vực cải cách là cải cách thể chế, cải cách tổ chức bộ máy hành chính, xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ, công chức và cải cách tài chính công định rõ các mục tiêu, nhiệm vụ cải cách
và xác định các giải pháp thực hiện nhằm bảo đảm thắng lợi cho công cuộc cải cách Chương trình tổng thể sẽ là công cụ quan trọng để Chính phủ chỉ đạo các bộ, ngành Trung ương và chính quyền địa phương các cấp đẩy mạnh cải cách hành chính
* Về mục tiêu chung
Mục tiêu chung của chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001- 2010 là: Xây dựng một nền hành chính dân chủ, trong sạch, vững mạnh, chuyên nghiệp, hiện đại hoá, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả theo nguyên tắc của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có phẩm chất và năng lực đáp ứng yêu cầu của công cuộc xây dựng, phát triển đất nước Đến năm 2010, hệ thống hành chính về cơ bản được cải cách phù hợp với yêu cầu quản lý kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
* Về mục tiêu cụ thể
Trang 25Hoàn thiện hệ thống thể chế hành chính, cơ chế, chính sách phù hợp với thời kì công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, trước hết là các thể chế về kinh tế, về tổ chức và hoạt động của hệ thống hành chính Tiếp tục đổi mới quy trình xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật, khắc phục tính cục bộ trong việc chuận bị, soạn thảo các văn bản; đề cao trách nhiệm của từng cơ quan trong quá trình xây dựng thể chế, phát huy dân chủ, huy động trí tuệ của nhân dân để nâng cao chất lượng văn bản quy phạm pháp luật
Xoá bỏ về cơ bản các thủ tục hành chính mang tính quan liêu, rườm rà, gây phiền hà cho doanh nghiệp và nhân dân; hoàn thiện các thủ tục hành chính mới theo hướng công khai, đơn giản và thuận tiện cho dân
Các cơ quan trong hệ thống hành chính dược xác định chức năng, nhiệm
vụ, thẩm quyền, trách nhiệm và rõ ràng; chuyển được một số công việc và dịch vụ không cần thiết phải do cơ quan nhà nước thực hiện cho doanh nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức phi chính phủ đảm nhận
Cơ cấu tổ chức của chính phủ gọn nhẹ, hợp lý theo nguyên tắc Bộ quản
lý đa ngành, đa lĩnh vực, thực hiện chức năng chủ yếu là quản lý vĩ mô toàn
xã hội bằng pháp luật, chính sách, hướng dẫn và kiểm tra thực hiện Bộ máy của các bộ được điều chỉnh về cơ cấu trên cơ sở phân biệt rõ chức năng, phương thức hoạt động của các bộ phận tham mưu, thực thi chính sách, cung cấp dịch vụ công
Đến năm 2005, về cơ bản xác định xong và thực hiện được các quy định mới về phân cấp quản lý hành chính nhà nước giữa Trung ương và địa phương, giữa các cấp chính quyền địa phương, định rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và tổ chức bộ máy chính quyền ở đô thị và nông thôn Các cơ quan chuyên môn thuộc uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện được tổ chức lại gọn nhẹ, thực hiện đúng chức năng quản lý nhà nước theo nhiệm vụ và thẩm
Trang 26quyền được xác định trong luật tổ chức Hội đồng nhân dân và uỷ ban nhân dân (sửa đổi), xác định rõ tính chất, cơ cấu tổ chức, chế độ làm việc của chính quyền cấp xã
Đến năm 2010, đội ngũ cán bộ, công chức có số lượng, cơ cấu hợp lý, chuyên nghiệp, hiện đại Tuyệt đại bộ phận cán bộ, công chức có phẩm chất tốt và đủ năng lực thi hành công vụ, tận tuỵ, phục vụ sự nghiệp phát triển đất nước và phục vụ nhân dân
Đến năm 2005, tiền lương của cán bộ, công chức được cải cách cơ bản trở thành động lực của nền công vụ, đảm bảo cuộc sống của cán bộ công chức
và gia đình
Đến năm 2005, cơ chế tài chính được đổi mới thích hợp với tính chất của
cơ quan hành chính và tổ chức sự nghiệp, dịch vụ công
Nền hành chính nhà nước được hiện đại hoá một bước rõ rệt, các cơ quan hành chính có trang thiết bị tương đối hiện đại phục vụ yêu cầu quản lý nhà nước kịp thời và thông suốt, hệ thống thông tin điện tử của Chính phủ được đưa vào hoạt động
Đến Đại hội Đảng toàn quốc lần XI (2011), Nghị quyết 30c/ NQ – CP năm 2011 về chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn
2011 – 2020 do Chính phủ ban hành ngày 8 tháng 11 năm 2011 với những mục tiêu chủ yếu sau:
- Xây dựng, hoàn thiện hệ thống thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nhằm giải phóng lực lượng sản xuất, huy động và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực cho phát triển đất nước
- Tạo môi trường kinh doanh bình đẳng, thông thoáng, thuận lợi, minh bạch nhằm giảm thiểu chi phí về thời gian và kinh phí của các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế trong việc tuân thủ thủ tục hành chính
Trang 27- Xây dựng hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước từ Trung ương tới
cơ sở thông suốt, trong sạch, vững mạnh, hiện đại, hiệu lực, hiệu quả, tăng tính dân chủ và pháp quyền trong hoạt động điều hành của Chính phủ và của các cơ quan hành chính nhà nước
- Bảo đảm thực hiện trên thực tế quyền dân chủ của nhân dân, bảo vệ quyền con người, gắn quyền con người với quyền và lợi ích của dân tộc, của đất nước
- Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có đủ phẩm chất, năng lực và trình độ, đáp ứng yêu cầu phục vụ nhân dân và sự phát triển của đất nước
Trọng tâm cải cách hành chính trong giai đoạn 10 năm tới là: Cải cách thể chế; xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, chú trọng cải cách chính sách tiền lương nhằm tạo động lực thực sự để cán bộ, công chức, viên chức thực thi công vụ có chất lượng và hiệu quả cao; nâng cao chất lượng dịch vụ hành chính và chất lượng dịch vụ công
Chương trình tổng thể cải cách hành chính giai đoạn 2010 – 2020 được chia làm 2 giai đoạn chính là: giai đoạn 1 từ năm 2011 – 2015; giai đoạn 2 từ năm 2016 – 2020 với những mục tiêu cụ thể
Nắm vững những quan điểm của Đảng và Nhà nước đã đưa ra qua các
kỳ Đại hội, công cuộc cải cách hành chính Nhà nước ta đã bước đầu đạt được những thành tựu to lớn đưa đất nước ta tiến dần đến mục tiêu đã đề ra
1.3 Thực trạng cải cách hành chính Nhà nước ta hiện nay
1.3.1 Những kết quả đạt được trong quá trình cải cách hành chính ở nước
ta hiện nay
Cải cách hành chính hiện nay đã trở thành một bộ phận quan trọng trong chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước ta, nó đã được xác định là công tác trọng tâm của việc tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước Cộng hoà xã
Trang 28hội chủ nghĩa Việt Nam, nền hành chính nhà nước không thể thiếu ba yếu tố
cơ bản sau đây:
- Một là, hệ thống thể chế để quản lý xã hội có trật tự;
- Hai là, cơ cấu tổ chức và cơ chế vận hành của bộ máy hành chính các cấp, các ngành từ chính phủ đến chính quyền cơ sở;
- Ba là, đội ngũ cán bộ, công chức hành chính Nhà nước gồm: Những người thực thi công vụ trong bộ máy hành chính công quyền, trong đó có một
số cán bộ dân cử, kể cả cán bộ chính quyền xã, phường, thị trấn và số đông hơn là công chức được tuyển dụng, bổ nhiệm trong tất cả các cấp, các ngành; không kể những người làm việc ở các doanh nghiệp Nhà nước hoặc ở các đơn
vị dịch vụ, không thuộc bộ máy công quyền
Như vậy, cải cách hành chính nhà nước là phải cải cách đồng bộ cả ba lĩnh vực, đó là: Cải cách về thể chế, cải cách cơ cấu tổ chức bộ máy xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức hành chính nhà nước có đủ trình độ, năng lực, phẩm chất để thực thi công vụ nhà nước ở mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó, cải cách về thể chế là khâu đầu tiên, đột phá cho tiến trình cải cách nền hành chính nhà nước
1.3.1.1 Về cải cách thể chế hành chính
Văn kiện Hội nghị lần thứ ba Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII đã chỉ ra nhiệm vụ “cải cách bộ máy nhà nước, nghiên cứu ban hành hệ thống pháp luật phù hợp với điều kiện cụ thể nước ta theo hướng xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân…”
Chúng ta đã biết, mục tiêu lâu dài của cải cách bộ máy nhà nước nói chung và cải cách hành chính nói riêng là nhằm xây dựng một thể chế nền hành chính hiện đại với quy mô phát triển tương ứng với sự chuyển đổi nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa nhiều thành phần có định hướng của nhà nước Muốn thực hiện được mục
Trang 29tiêu này, trước hết cần phải tiến hành cải cách cơ bản thể chế nền hành chính đang tồn tại hàng mấy chục năm qua ở nước ta Cùng với cải cách bộ máy nhà nước, nâng cao trình độ công chức trong bộ máy nhà nước, cải cách thể chế hành chính giữ vị trí trung tâm trong tiến trình cải cách hành chính
Sự nghiệp đổi mới chung trong những năm qua được tiến hành một cách toàn diện, trong đó lấy đổi mới nền kinh tế làm trọng tâm Tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước ta đã có nhiều tiến bộ trên các lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư pháp, chất lượng các kỳ họp của Quốc hội ngày càng được nâng cao, nền hành chính đã được sửa đổi từng bước về thể chế và cơ cấu tổ chức Chính phủ đã chuyển dẫn việc quản lý xã hội, quản lý Nhà nước phù hợp với cơ chế mới.Vị trí của Viện kiểm sát và Toà án nhân dân các cấp được xác định trên cơ sở nhiệm vụ, chức năng theo Luật Tổ Chức Viện kiểm sát nhân dân và Luật tổ chức toà án nhân dân Cụ thể như sau:
- Tạo lập được cơ chế mới trong lĩnh vực kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước Những văn bản pháp luật quan trọng đã được ban hành: Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, Luật khuyến khích và đầu tư trong nước, Luật doanh nghiệp,…và ban hành hàng chục pháp lĩnh của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, rất nhiều nghị quyết, nghị định,…của chính phủ, thủ tướng chính phủ thể hiện nội dung thể chế quản lý mới các văn bản này đã tạo được cơ hội kinh doanh cho mọi người dân, mọi doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh
tế Bước đầu phân biệt được quản lý nhà nước với quản lý sản xuất kinh doanh
- Thể chế đã tạo ra và củng cố nên dân chủ xã hội chủ nghĩa sự tham gia của nhân dân và các dịch vụ công liên quan đến đời sống, phúc lợi của họ được hình thành phù hợp với nền kinh tế khung pháp lý mới trong các lĩnh vực xã hội, y tế, văn hoá, giáo dục, chính sách xã hội cho người nghèo, người
Trang 30chúng, tổ chức chính phủ và các khu vực tư nhân vào các hoạt động dịch vụ công
- Các quy định mới về tổ chức, nhân sự đã tạo ra mặt bằng pháp lý bình đẳng giữa Trung ương với địa phương, cụ thể:
Đã quy định lại chức năng, nhiệm vụ quyền hạn giữa các bộ, các nghành cho phù với chức năng quản lý nhà nước của từng bộ, từng ngành Ví dụ: chuyển nhiệm vụ, di dân và phát triển kinh tế mới, chương trình nước sạch từ
Bộ lao động - thương binh và xã hội sang Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn
Ở lĩnh vực nhân sự, đã thể chế hoá chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và pháp điển hoá các văn bản pháp quy của Nhà nước thành pháp lệnh cán bộ, công chức cùng các văn bản pháp quy khác thành hệ thống thể chế mới, nhằm đưa công tác quản lý mới, phát triển nguồn nhân lực, nâng cao nghĩa vụ, bổn phận và trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước, đồng thời quy định chế độ thi, sát hạch…để tuyển dụng, bổ nhiệm nâng ngạch, chuyển ngạch và đào tạo, bồi dưỡng nguồi nhân lực đi vào trận tự nề nếp
Về mặt thủ tục hành chính, Chính phủ đã có những chỉ đạo sâu sát, quyết liệt, cụ thể nhằm tạo sự chuyển biến thực sự trong cải cách thủ tục hành chính Kết quả là thủ tục hành chính trên các lĩnh vực đã được rà soát, đơn giản hóa nhiều lần theo hướng tạo thuận lợi cho cá nhân, tổ chức khi đến cơ quan hành chính giải quyết các công việc Đặc biệt, thủ tục hành chính trên những lĩnh vực bức xúc, liên quan trực tiếp tới người dân và doanh nghiệp, như đất đai, xây dựng, hộ tịch, hộ khẩu, đầu tư, đăng ký doanh nghiệp, hải quan, thuế, kho bạc, xuất nhập khẩu đã được rà soát sửa đổi nhiều lần Một loạt những thủ tục hành chính đã được đơn giản hóa và thuận lợi hơn, ví dụ
Trang 31như thủ tục hành chính về đăng ký kết hôn, khai sinh, xác nhận hộ nghèo, xác nhận thành phần dân tộc, cấp giấy chứng minh thư, cấp hộ chiếu phổ thông, chứng thực, đăng ký kinh doanh Các thủ tục hành chính về thuế, hải quan,
dự án đầu tư trong và ngoài nước đã có nhiều sửa đổi
Thực hiện Đề án 30 giai đoạn I, trong cả nước đã thống kê được trên 5.700 thủ tục hành chính, trên 9.000 văn bản quy định và trên 100.000 biểu mẫu thống kê thủ tục hành chính Giai đoạn II, các bộ, ngành, địa phương đã hoàn thành việc tự rà soát theo tiến độ và đạt chỉ tiêu đơn giản hóa tối thiểu 30% thủ tục hành chính Đến nay, đã có trên 5.500 thủ tục hành chính được rà soát; trong đó, có 453 thủ tục hành chính được kiến nghị bãi bỏ, hủy bỏ, 3.749 thủ tục hành chính được kiến nghị sửa đổi, bổ sung theo hướng tạo thuận lợi hơn cho người dân và doanh nghiệp, 288 thủ tục hành chính được thay thế, đạt tỷ lệ đơn giản hóa 81%
Thực hiện cơ chế “một cửa”, “một cửa liên thông” tại cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, cho đến nay, đã có 96% cấp xã, 98% cấp huyện
và 87% các sở, ban, ngành cấp tỉnh triển khai cơ chế này Thực tế cho thấy, bên cạnh một số hạn chế cần tiếp tục đổi mới, nhìn chung những đổi mới, cải cách thực hiện theo cơ chế “một cửa”, “một cửa liên thông” đã được xã hội, người dân và doanh nghiệp đánh giá cao và mong muốn tiếp tục đẩy mạnh và thực hiện triệt để hơn
1.3.1.2 Về cải cách bộ máy hành chính nhà nước
Cải cách tổ chức bộ máy hành chính là một nội dung của các cách hành chính nhà nước Sau 15 năm đổi mới và thực hiện cải cách hành chính theo Nghị quyết lần thứ 8 Ban chấp hành trung ương khoá VII, tháng 1/1995, bộ máy nhà nước đã từng bước đổi mới, điều chỉnh, bổ sung theo yêu cầu của quá trình chuyển đổi từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường, phát triển nền kinh tế nhiều thành phần định hướng xã hội chủ nghĩa
Trang 32Tuy nhiên, thực tế là bộ máy vẫn cồng kềnh, biên chế lớn, hiệu lực, hiệu quả thấp, bởi vậy tiếp tục kiện toàn hệ thống tổ chức bộ máy hành chính nhà nước hiện nay được đặt ra như một yêu cầu khách quan.Việc cải cách bộ máy hành chính xuất phát từ hai phía: Thứ nhất là từ thực trạng tồn tại của hệ thống tổ chức bộ máy hành chính hiện nay; Thứ hai là từ những yêu cầu bối cảnh mới của hệ thống của hệ thống hành chính đòi hỏi Do đó việc nhận thức đúng thực trạng của bộ máy hành chính nhà nước vừa là khẳng định thành tựu cơ bản đã đạt được và rút ra các bài học kinh nghiệm, vừa giúp chúng ta xác định điểm xuất phát của tiến trình cải cách bộ máy hành chính trong giai đoạn tới Sau mười năm cải cách, số lượng các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ từ 48 đã giảm xuống còn 30, các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh từ 19 - 27 xuống còn 17 - 20 và cơ quan chuyên môn cấp huyện từ 12 -
15 đầu mối xuống 12 - 13 Thực hiện phân cấp quản lý giữa Trung ương - địa phương đã góp phần tạo ra những chuyển biến tích cực trong hoạt động của chính quyền địa phương cũng như của các bộ, ngành Trung ương Trong đó, các bộ, ngành tập trung vào khâu hoạch định thể chế, chính sách, quy hoạch,
kế hoạch, hướng dẫn thực hiện và thanh tra, kiểm tra Các địa phương được tăng thẩm quyền đã phát huy sức sáng tạo, tự chủ của chính quyền địa phương
Để tiếp tục nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương các cấp, phân biệt rõ chính quyền đô thị với chính quyền nông thôn, Quốc hội đã ra Nghị quyết thí điểm không tổ chức hội đồng nhân dân huyện, quận, phường tại 10 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương Qua thí điểm đã cho thấy những kết quả tích cực, bộ máy hành chính hoạt động hiệu quả, tổ chức gọn nhẹ Đây là cơ sở để có những bước đi thích hợp về tổ chức chính
Trang 331.3.1.3 Về cải cách đội ngũ cán bộ, công chức
Nói về cải cách công vụ, công chức, Đảng và Nhà nước ta đã xác định rõ mục tiêu: “Xây dựng và ban hành văn bản pháp quy về chế độ công vụ và công chức Định rõ nghĩa vụ, trách nhiệm thẩm quyền, quyền lợi và kỷ luật công chức hành chính.Quy định các chế độ đào tạo, tuyển dụng, sử dụng công chức, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước vừa có trình độ chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp cao vừa giác ngộ về chính trị, có tinh thần trách nhiệm, tận tuỵ, công tâm, vừa có đạo đức liêm khiết khi thi hành công vụ” [2, tr.123]
Để thực hiện mục tiêu trên rõ ràng là phải tiến hành đồng bộ nhiều công việc, có chiến lược, có biện pháp cụ thể, tiến trình giải quyết đúng thứ tự, hiệu quả
Công vụ, công chức là những vấn đề có tính cốt lõi, vì vậy mà lúc sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặc biệt quan tâm Hiểu rõ vai trò, vị trí của lĩnh vực công vụ, công chức trong nhiều năm qua, đặc biệt từ sau khi có Nghị định 38/CP của Chính phủ về cải cách một bước thủ tục hành chính trong việc giải quyết công việc của công dân, tổ chức (năm 1994) công tác này được các cấp chính quyền, các ngành chức năng, các tổ chức trong bộ máy nhà nước quan tâm, thực hiện và đã có nhiều biến chuyển tích cực
Về chính sách, pháp luật: Từ 1998, pháp lệnh cán bộ, công chức được ban hành và triển khai thực hiện, bước đầu đưa các công việc thi tuyển dụng, nâng ngạch công chức thành nề nếp chính quy; các chức danh tiêu chuẩn công chức, các ngạch bậc được quy định rõ ràng
Chế độ đãi ngộ đối với cán bộ, công chức đã được thay đổi theo hướng tích cực, cụ thể là về cơ bản đã tiền tệ hoá được thu nhập của cán bộ, công chức thông qua tiền lương theo ngạch, bậc công chức, thông qua nhiều kênh
để thực hiện chính sách đãi ngộ với cán bộ, công chức