1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

đảng bộ tỉnh nam định lãnh đạo công tác bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa từ năm 1996 2010

82 654 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 1,36 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nền văn hóa đó được Lênin gọi là văn hóa vô sản, văn hóa xã hội chủ nghĩa kết hợp được truyền thống với hiện đại, vừa giữ gìn và phát huy được bản sắc, tinh hoa của dân tộc vừa kế thừa đ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ

=====***=====

ĐINH THỊ NGA

ĐẢNG BỘ TỈNH NAM ĐỊNH LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY CÁC DI SẢN VĂN HÓA TỪ NĂM 1996

ĐẾN NĂM 2010

KHÓA LUẬN TỐT NGHỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

HÀ NỘI - 2013

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ

=====***=====

ĐINH THỊ NGA

ĐẢNG BỘ TỈNH NAM ĐỊNH LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY CÁC DI SẢN VĂN HÓA TỪ NĂM 1996

ĐẾN NĂM 2010

KHÓA LUẬN TỐT NGHỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

Người hướng dẫn khoa học

GV Phạm Văn Giềng

HÀ NỘI - 2013LỜI CẢM ƠN

Trang 3

Khóa luận “Đảng bộ tỉnh Nam Định lãnh đạo công tác bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa từ năm 1996 đến năm 2010” được hoàn thành tại Khoa Giáo dục chính trị, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 dưới sự hướng dẫn của thầy giáo Phạm Văn Giềng

Để hoàn thành khóa luận này, tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành nhất tới thầy giáo Phạm Văn Giềng người đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn và góp ý cho tôi trong suốt quá trình làm khóa luận

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy cô trong Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, đặc biệt là các thầy cô trong khoa Giáo dục chính trị đã giảng dạy tôi trong suốt thời gian qua

Tôi xin gửi lời cảm ơn tới Tỉnh ủy – Uỷ ban nhân dân tỉnh Nam Định, Sở văn hóa, thể thao và du lịch tỉnh Nam Định đã giúp tôi hoàn thành khóa luận

Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới gia đình, thầy cô trong khoa Giáo dục chính trị, tập thể lớp K35 Giáo dục công dân đã động viên, góp

ý và tạo điều kiện cho tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài nay

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Trang 4

Khóa luận tốt nghiệp này được hoàn thành dưới sự hướng dẫn của giảng viên Phạm Văn Giềng Tôi xin cam đoan đây là kết quả nghiên cứu của riêng tôi Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Tháng 05 năm 2013

Sinh viên

Đinh Thị Nga

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VẤN ĐỀ BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY CÁC DI SẢN VĂN HÓA TẠI TỈNH NAM ĐỊNH 6

1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 6

1.1.1 Một số khái niệm về văn hóa 6

1.1.2 Khái niệm di sản văn hóa 11

1.1.3 Khái niệm bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa 13

1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN 14

1.2.1 Vị trí địa lí và điều kiện tự nhiên của tỉnh Nam Định 14

1.2.2 Điều kiện kinh tế - xã hội của tỉnh Nam Định 16

1.2.3 Vai trò của di sản văn hoá đối với đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân tỉnh Nam Định 18

Chương 2: ĐẢNG BỘ TỈNH NAM ĐỊNH LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY CÁC DI SẢN VĂN HÓA TỪ NĂM 1996 ĐẾN NĂM 2010 32

2.1 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY CÁC DI SẢN VĂN HÓA TRƯỚC NĂM 1996 32

2.1.1 Chủ trương của Trung ương Đảng và Đảng bộ tỉnh Nam Định về công tác bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa 32

2.1.2 Thành tựu và hạn chế, nguyên nhân của hạn chế 37

2.3 MỘT SỐ NHẬN XÉT, KINH NGHIỆM LỊCH SỬ VÀ GIẢI PHÁP 56 2.3.1 Một số nhận xét 56

2.3.3 Một số giải pháp 64

KẾT LUẬN 68

TÀI LIỆU THAM KHẢO 70

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Nam Định là nơi phát tích và gắn liền suốt 175 năm trị vì của vương triều Trần, một trong những triều đại phong kiến hưng thịnh vào bậc nhất trong lịch sử dân tộc làm nên những chiến công vĩ đại Đó là miền đất văn hiến, “địa linh, nhân kiệt”, nơi sinh dưỡng biết bao trạng nguyên và nhiều trí thức làm rạng danh non sông đất nước Một vùng văn hoá đặc sắc, hoà quyện

và đan xen văn hoá biển và văn hoá châu thổ, văn hoá bác học và văn hoá dân gian Bản sắc văn hoá Nam Định không thể tách rời nền văn hoá Việt Nam Song, trên mảnh đất này, qua những năm dài của lịch sử vẫn có những dấu ấn riêng, tạo nên cốt cách của người Nam Định

Là một tỉnh có nền văn hóa giàu truyền thống đa dạng và phong phú, đặc biệt là các di sản văn hóa, thể hiện ở các hình thức diễn xướng dân gian như hát Chầu văn, hát ả đào, hát xẩm Ở các công trình kiến trúc như đình, chùa, miếu, phủ, lăng mộ, nhà thờ, từ đường,… là nơi bảo tồn, lưu giữ những

lễ hội, phong tục, tập quán cùng những phong cách kiến trúc nghệ thuật đậm

đà bản sắc văn hóa Việt Trải qua bao thời gian, do sự tác động của con người cũng như của tự nhiên, các di sản văn hóa đang có xu hướng xuống cấp và bị xâm hại dần mất đi nét truyền thống của dân tộc Bên cạnh đó, trong quá trình đổi mới với xu thế hội nhập, ngoài những thuận lợi còn có những mặt hạn chế

đã và đang phát triển tạo thành nguy cơ ảnh hưởng không tốt đến những giá trị của các di sản văn hóa trên địa bàn tỉnh Bởi vậy, công tác bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa đang được đặt ra như một nhu cầu tất yếu trong đời sống của đại đa số tầng lớp người dân mà Đảng bộ tỉnh Nam Định phải quan tâm, chú trọng và tiến hành lãnh đạo để góp phần giữ gìn, kế thừa và phát huy truyền thống đạo đức của dân tộc Với những lí do trên tôi quyết định chọn đề

Trang 7

tài “Đảng bộ tỉnh Nam Định lãnh đạo công tác bảo tồn và phát huy các di

sản văn hóa từ năm 1996 đến năm 2010” để nghiên cứu

2 Lịch sử nghiên cứu đề tài

Vấn đề về công tác bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa trong những năm gần đây được các nhà nghiên cứu quan tâm nhiều hơn Trước tiên phải kể đến cuốn sách “Một số vấn đề về bảo tồn và phát triển di sản văn hóa dân tộc” (1997) của Hoàng Vinh Cuốn sách nêu những tiền đề lí luận về di sản văn hoá dân tộc, thực trạng và một số kiến nghị về chính sách bảo tồn, phát triển

di sản văn hoá dân tộc ở Việt Nam

Cuốn “Di sản văn hóa bảo tồn và trùng tu” (2002) của Hoàng Đạo Kinh

là cuốn sách tập hợp các bài tiểu luận về các di sản văn hóa Việt Nam và nêu các định hướng bảo tồn và trùng tu các kiến trúc, các di sản văn hóa

Cuốn “Một con đường tiếp cân di sản văn hóa” (2006) do Phạm Quang Nghị chủ biên Cuốn sách giới thiệu những bài viết về di sản văn hóa vật thể

và phi vật thể, bảo tàng và công tác bảo tồn, tôn tạo ở Việt Nam

Cuốn “Di sản văn hóa bảo tồn và phát triển” (2008) của Nguyễn Đình Thanh đã tập hợp những bài nghiên cứu về hoạt động phát triển văn hóa ở Việt Nam, một số kinh nghiệm bảo tồn di sản văn hóa của một số nước trên thế giới

Cuốn “Quản lý di sản văn hóa” (2012) do Th.S Nguyễn Thị Kim Loan chủ biên đã nêu vai trò của di sản văn hóa trong phát triển kinh tế xã hội, trình bày nội dung quản lý nhà nước về di sản văn hóa

Đối với công tác bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa ở tỉnh Nam Định cũng có những cồng trình nghiên cứu về vấn đề này Cuốn “Trần miếu (Đền Trần – Nam Định) - di sản và tín ngưỡng dân gian” (2006) do Hồ Đức Thọ biên soạn Giới thiệu về Đền Trần – Nam Định: thờ nguồn gốc lập miếu, việc thờ tự và giới thiệu kiến trúc nghệ thuật, tín ngưỡng, các ngày kỉ niệm, đại lễ và lễ hội Ngoài ra, Hồ Đức Thọ viết rất nhiều về văn hóa ở Nam Định

Trang 8

như cuốn “Lễ hội cổ truyền ở Nam Định”, “Chùa Phổ Minh với Giác Hoàng Trần Nhân Tông”

Cuốn sách “Di tích lịch sử - văn hóa” (2008) do Ban quản lý di tích và thắng cảnh tỉnh Nam Định đã tiến hành nghiên cứu, biên soạn và xuất bản Đây là công trình sưu tầm, biên soạn của nhiều tác giả, cán bộ giới thiệu chi tiết về các di tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn tỉnh Nam Định

Nghề và làng nghề truyền thống ở Nam Định (2010) do Đỗ Đình Thọ, Lưu Tuấn Hùng, Nguyễn Văn Nhiên biên soạn Giới thiệu một số nghề, làng nghề truyền thống tiêu biểu của tỉnh Nam Định như nghề làm muối ở Văn Lý, làng hoa, cây cảnh ở Vị Khê, nghề đúc đồng thị trấn Lâm, làng đúc đồng, đúc bạc Đồng Quỹ, nghề sơn ở Cát Đằng

Thông qua việc tìm hiểu các nguồn tài liệu trên, tôi nhận thấy công tác bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa được đề cập đến rất nhiều Tuy nhiên, đối với tỉnh Nam Định nói riêng, tài liệu nghiên cứu về công tác bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa tương đối ít vì vậy cần được quan tâm và nghiên cứu nhiều hơn

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài

3.1 Mục đích nghiên cứu đề tài

Đề tài nghiên cứu quá trình Đảng bộ tỉnh Nam Định lãnh đạo công tác bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa để làm rõ sự quan tâm của Đảng bộ đối với việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, thực hiện nhiệm vụ Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) đề ra là “xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc”

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu đề tài

Để đạt được mục đích của đề tài, khóa luận phải giải quyết nhiệm vụ sau: Tìm hiểu về những di sản văn hóa của tỉnh Nam Định và vai trò của các

di sản văn hóa đó đối với đời sống Từ đó làm rõ vai trò của công tác bảo tồn

và phát huy các di sản văn hóa trên địa bàn tỉnh

Trang 9

Đi sâu và làm rõ quá trình triển khai Nghị quyết của Trung Đảng của Đảng bộ tỉnh Nam Định trong việc lãnh đạo công tác bảo tồn và phát huy các

di sản văn hóa Đánh giá những kết quả đạt được và chỉ ra những hạn chế chưa được khắc phục, trên cơ sở đó đưa ra những giải pháp để bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa trên địa bàn tỉnh

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài

4.1 Đối tượng nghiên cứu đề tài

Đề tài nghiên cứu về đường lối của Đảng bộ tỉnh Nam Định lãnh đạo công tác bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa từ năm 1996 đến năm 2010

4.2 Phạm vi nghiên cứu đề tài

- Thời gian: Từ năm 1996 đến năm 2010

- Không gian: Tỉnh Nam Định

5 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài được nghiên cứu dựa trên thế giới quan, phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Đồng thời, sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học chủ yếu sau: phân tích, tổng hợp,

so sánh, điều tra, khảo sát, thống kê, hệ thống hóa…

6 Đóng góp của đề tài

Đề tài đã trình bày một cách tổng quát về số lượng và hiện trạng các di sản văn hóa của tỉnh Nam Định, về vai trò của các di sản văn hóa đối với người dân Đặc biệt, qua việc nghiên cứu và phân tích đường lối, chính sách của Đảng bộ tỉnh Nam Định đã làm rõ được sự quan tâm của Đảng bộ đối với các di sản văn hóa, thực hiện đúng tinh thần của Nghị quyết Trung ương Đảng

đề ra Thông qua đó đã đánh giá tình hình công tác bảo tồn và pháy huy các di sản văn hóa với những thành tựu đạt được và những hạn chế còn tồn tại Từ

đó, đưa ra những giải pháp đóng góp vào công tác bảo tồng và phát huy các di sản văn hóa của tỉnh, để trong những năm tới các di sản văn hóa được lưu giữ, bảo tồn, tôn tạo và phát huy được giá trị của mình, góp phần gìn giữ các giá trị

Trang 10

truyền thống, xây dựng văn hóa tiên tiến, đậm đà bản bản sác văn hóa dân tộc, làm cho văn hóa đi vào đời sống người dân

7 Kết cấu khóa luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục Bài khóa luận gồm có 2 chương, 5 tiết:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về vấn đề bảo tồn và phát huy các

di sản văn hóa tại tỉnh Nam Định

Chương 2: Đảng bộ tỉnh Nam Định lãnh đạo công tác bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa từ năm 1996 đến năm 2010

Trang 11

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VẤN ĐỀ BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY CÁC DI SẢN VĂN HÓA TẠI TỈNH NAM ĐỊNH

1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1.1 Một số khái niệm về văn hóa

Văn hóa là khái niệm mang nội hàm rộng với rất nhiều cách hiểu khác nhau, hiện nay có khoảng 5000 khái niệm về văn hóa

Ở phương Đông, từ văn hóa đã có trong đời sống ngôn ngữ từ rất sớm Trong Chu Dịch (Trung Quốc) có viết “quan hồ nhân dĩ hóa thành thiên hạ” nói đến phép tắc để giáo hóa làm cho thiên hạ được khai hóa Người sử dụng

từ văn hóa sớm nhất có lẽ là Lưu Hướng (năm 77 – 6 trước công nguyên) thời Tây Hán với nghĩa như một phương thức giáo hóa con người – văn trị giáo hóa Văn hóa ở đây được dùng đối lập với vũ lực

Theo ngôn ngữ của phương Tây, từ tương ứng với văn hóa của tiếng Việt (culture trong tiếng Anh và tiếng Pháp, kultur trong tiếng Đức, kultura trong tiếng Nga ) những từ này lại có chung gốc Latinh là chữ cultus animi

là trồng trọt tinh thần Ban đầu, từ “cult” có nghĩa là canh tác đất đai và gieo trồng thực vật Sau này với sự phát triển của lịch sử thì nó mang ý nghĩa mới,

đó là sự mở rộng kiến thức, bồi dưỡng về thể chất và tinh thần hay còn gọi là

“trồng trọt tinh thần” Sang thế kỉ XVII - XVIII thuật ngữ “văn hóa” có nghĩa

là “canh tác tinh thần”, bên cạnh nghĩa gốc là canh tác nông nghiệp cho đến thế kỉ XIX thuật ngữ “văn hóa” được các nhà nhân loại học phương Tây sử dụng như một danh từ chính

Năm 1871, E.B Tylor cho rằng: Văn hóa hay văn minh, theo nghĩa rộng về tộc người học, nói chung gồm có tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán và một số năng lực và thói quen khác được con người

Trang 12

chiếm lĩnh với tư cách một thành viên của xã hội Theo E.B Tylor thì văn hóa

và văn minh là một Nó bao gồm tất cả những lĩnh vực liên quan đến đời sống con người, từ tri thức, tín ngưỡng đến nghệ thuật, đạo đức, pháp luật… Có người ví, định nghĩa này mang tính “bách khoa toàn thư” vì đã liệt kê hết mọi lĩnh vực sáng tạo của con người

F Boas định nghĩa: Văn hóa là tổng thể các phản ứng tinh thần, thể chất

và những hoạt động định hình nên hành vi của cá nhân cấu thành nên một nhóm người vừa có tính tập thể vừa có tính cá nhân trong mối quan hệ với môi trường tự nhiên của họ, với những nhóm người khác, với những thành viên trong nhóm và của chính các thành viên này với nhau Theo định nghĩa này, mối quan hệ giữa cá nhân, tập thể và môi trường là quan trọng trong việc hình thành văn hóa của con người

Lênin đã từng viết: Thói quen là điều đáng sợ nhất C.Mác cũng nhấn mạnh rằng: Truyền thống của tất cả các thế hệ đã qua đè nặng lên đầu óc của những người đang sống Theo V.I Lênin, đối với những người bắt tay vào công cuộc kiến thiết chế độ mới, nếu họ chỉ có nhiệt tình và lòng dũng cảm thì không đủ Họ cần phải có hiểu biết, học vấn và kinh nghiệm đấu tranh thực tiễn Nói một cách khác, họ phải được giáo dục và tự giáo dục về văn hóa, sao cho quần chúng lao động nâng cao được trình độ văn hóa Chỉ

có thể phát triển văn hóa, nâng cao trình độ và nhu cầu văn hóa của quần chúng mới có thể làm cho họ thực sự trở thành những người chủ nghĩa xã

hội mới V.I Lênin chỉ ra rằng: “Chỉ có làm cho tất cả mọi người đều phải

có văn hóa, phải nâng cao trình độ văn hóa của quần chúng lên mới có thể chiến thắng được kẻ thù một cách căn bản” [14;218]

Trong bức thư gửi Mô - lô - tốp ngày 23-3-1922 về việc chuẩn bị báo

cáo chính trị cho Đại hội XI của Đảng Cộng sản Nga, Lênin chỉ rõ “Về mặt

kinh tế và chính trị, chính sách kinh tế mới hoàn toàn đảm bảo cho chúng ta

Trang 13

có khả năng xây dựng được nền móng cho nền kinh tế xã hội chủ nghĩa Tất

cả chỉ là tùy ở lực lượng văn hóa của giai cấp vô sản và của đội tiền phong của nó” [15;74]

Xây dựng nền văn hóa mới tiên tiến có tính chất xã hội chủ nghĩa, thấm nhuần nội dung và hình thức dân tộc, gắn với những yêu cầu của thời đại mới, thời đại quá độ lên chủ nghĩa xã hội là một nhiệm vụ, đồng thời là một mục tiêu quan trọng của cách mạng tư tưởng và văn hóa Nền văn hóa đó được Lênin gọi là văn hóa vô sản, văn hóa xã hội chủ nghĩa kết hợp được truyền thống với hiện đại, vừa giữ gìn và phát huy được bản sắc, tinh hoa của dân tộc vừa kế thừa được những thành quả tốt đẹp, ưu tú nhất của văn hóa nhân loại qua các thời đại lịch sử Một mặt, phải sáng tạo ra một nền văn hóa phong phú, đa dạng và hiện đại Mặt khác, phải làm cho giai cấp công nhân và quần chúng lao động tham gia tích cực vào quá trình sáng tạo văn hóa, trở thành chủ thể sản xuất, tiêu dùng và cảm thụ các giá trị văn hóa nghệ thuật, xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh để giáo dục và đào tạo con người xã hội chủ nghĩa

Đời sống văn hóa tinh thần của xã hội chủ nghĩa vừa như một môi trường xã hội với chất lượng cao về đạo đức, văn hóa và lối sống, lại vừa đồng thời là sự tổng hợp phong phú các hoạt động văn hóa của xã hội hướng vào sự phát triển cá nhân và cộng đồng nhằm tạo ra văn hóa nhân cách của cá nhân, văn hóa gia đình và văn hóa của xã hội Chất lượng sáng tạo, cảm thụ văn hóa, giao tiếp văn hóa được tạo ra từ đó, như điều mà Lênin đã khẳng định: phải làm cho những người lao động có thể thực sự hưởng được tất cả những phúc lợi của nền văn hóa, văn hóa, văn minh và dân chủ

Năm 2002, UNESCO đã đưa ra định nghĩa về văn hóa như sau: Văn hóa nên được đề cập đến như là một tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn, vật chất, tri thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội

Trang 14

và nó chứa đựng, ngoài văn học và nghệ thuật, cả cách sống, phương thức chung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đã mở ra một nền văn hóa mới cho dân tộc Việt Nam, đó là nền văn hóa trên nền tảng độc lập dân tộc kết hợp với chủ nghĩa xã hội, tự do, ấm no, hạnh phúc cho mọi người và mỗi người Đó là nền văn hóa là tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Tư tưởng văn hóa và sự nghiệp văn hóa Hồ Chí Minh không chỉ là của thế kỷ XX mà còn là của các thế kỷ tiếp theo Trong suốt cuộc đời của mình, tuy không gắn với nghiệp văn chương, nhưng sự nghiệp cách mạng cao cả của Chủ tịch Hồ Chí Minh chính

là sự nghiệp văn hóa vĩ đại - văn hóa giải phóng con người và xã hội loài người khỏi mọi ách áp bức, bất công, nô dịch, nghèo nàn, lạc hậu…tiến tới xây dựng xã hội của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân Tháng 8-1943, khi còn trong nhà tù của Tưởng Giới Thạch, lần đầu tiên Hồ Chí Minh đưa ra một định nghĩa của mình về văn hóa Điều thú vị là định nghĩa của Hồ Chí Minh

có rất nhiều điểm gần với quan niệm hiện đại về văn hóa, Người viết:

Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi sự sinh tồn [18;431]

Về định nghĩa này, Hồ Chí Minh đã khắc phục được quan niệm phiến diện về văn hóa trong lịch sử và hiện tại, hoặc chỉ đề cập đến lĩnh vực tinh thần, trong văn học nghệ thuật, hoặc chỉ đề cập đến lĩnh vực giáo dục, phản ánh trình độ học vấn… Trên thực tế, văn hóa bao gồm toàn bộ những giá trị vật chất và những giá trị tinh thần mà loài người đã sáng tạo ra, nhằm đáp ứng

sự sinh tồn và cũng là mục đích cuộc sống của loài người

Trang 15

* Quan điểm về xây dựng một nền văn hóa mới

Cùng với định nghĩa về văn hóa, Hồ Chí Minh còn đưa ra 5 điểm lớn định hướng cho việc xây dựng nền văn hóa dân tộc:

1 Xây dựng tâm lý: tinh thần độc lập tự cường

2 Xây dựng luân lý: biết hy sinh mình, làm lợi cho quần chúng

3 Xây dựng xã hội: mọi sự nghiệp có liên quan đến phúc lợi của nhân dân trong xã hội

4 Xây dựng chính trị: dân quyền

5 Xây dựng kinh tế [17;431]

Như vậy, ngay từ sớm, Hồ Chí Minh đã quan tâm đến văn hóa, đã thấy

rõ vai trò, vị trí của văn hóa trong đời sống xã hội Điều này cắt nghĩa vì sao ngay sau khi giành được độc lập, Hồ Chí Minh đã bắt tay ngay vào việc xây dựng, kiến tạo một nền văn hóa mới ở Việt Nam trên tất cả mọi lĩnh vực, từ kinh tế, chính trị, xã hội, đạo đức đến tâm lý con người, đã sớm đưa văn hóa vào chiến lược phát triển đất nước

PGS Phan Ngọc đưa ra một định nghĩa văn hóa mang tính chất thao tác luận, khác với những định nghĩa trước đó, theo ông đều mang tính tinh thần luận:

Không có cái vật gì gọi là văn hóa cả và ngược lại bất kì vật gì cũng có cái mặt văn hóa Văn hóa là một quan hệ Nó là mối quan hệ giữa thế giới biểu tượng và thế giới thực tại Quan hệ ấy biểu hiện thành một kiểu lựa chọn riêng của một tộc người, một cá nhân khác Nét khác biệt giữa các kiểu lựa chọn làm cho chúng khác nhau, tạo thành những nền văn hóa khác nhau, tạo thành những nền văn hóa khác nhau là độ khúc xạ Tất cả mọi cái mà tộc người tiếp thu hay sáng tạo đều có một độ khúc xạ riêng có mặt ở mọi lĩnh vực và rất khác độ khúc xạ ở một tộc người khác [19;28]

Trong Nghị quyết Trung ương 5 ( Khóa VIII), Đảng ta khẳng định: Văn hóa Việt Nam là tổng thể những giá trị vật chất và tinh thần do cộng đồng các

Trang 16

dân tộc Việt Nam sáng tạo ra trong quá trình dựng nước và giữ nước…, là kết quả giao lưu và tiếp thu tinh hoa của nhiều nền văn minh thế giới để không ngừng hoàn thiện mình Văn hóa Việt Nam đã hun đúc nên tâm hồn, khí phách, bản lĩnh Việt Nam, làm rạng rỡ lịch sử vẻ vang của dân tộc

Như vậy, văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn trong

sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình 1.1.2 Khái niệm di sản văn hóa

Di sản văn hóa là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác Trong diễn trình văn hóa của mỗi dân tộc, di sản văn hóa đóng vai trò vô cùng quan trọng vì nó là nguồn lực nội sinh cho quá trình tiếp biến văn hóa Ngay phần mở đầu của Luật Di sản văn hóa được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa X, kì họp thứ 9 thông qua ngày 29-6-2001 đã

viết: “Di sản văn hóa Việt Nam là tài sản quý giá của cộng đồng các dân

tộc Việt Nam và là một bộ phận của di sản văn hóa nhân loại, có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta” [16;12] Di

sản văn hóa gồm có di sản văn hóa vật thể và di sản văn hóa phi vật thể:

Theo UNESCO, di sản văn hóa vật thể là những sản phẩm văn hóa tồn tại hữu hình mà con người có thể tiếp xúc một cách trực tiếp, cảm tính thông qua các giác quan Đó là các công trình kiến trúc lịch sử văn hóa, các tác phẩm hội hoạ, điêu khắc, các di tích lịch sử văn hóa như đền, đài, lăng

mộ, thành cổ, vật cổ và bảo vật quốc gia

Tại chương 1 – điều 4 của Luật Di sản văn hóa cũng đã nêu rõ: “Di sản

văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, bao gồm di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia” [16;13]

Trang 17

Đề cập về di sản văn hóa phi vật thể, ngày 17-10-2003, UNESCO đã phê chuẩn Công ước về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể:

Di sản văn hóa phi vật thể được hiểu là các tập quán, các hình thức thể hiện, biểu đạt tri tri thức, kỹ năng và kèm theo đó là những công cụ, đồ vật, đồ tạo tác và các không gian văn hóa có liên quan mà các cộng đồng, các nhóm người và trong một số trường hợp là các cá nhân, công nhận là phần di sản văn hóa của họ Được chuyển giao từ thế hệ này sang thế hệ khác, di sản văn hóa phi vật thể được các cộng đồng và các nhóm người không ngừng tái tạo để thích nghi với môi trường và mối quan hệ qua lại giữa cộng đồng với tự nhiên và lịch sử của họ, đồng thời hình thành trong họ một ý thức về bản sắc

và sự kế tục, qua đó khích lệ thêm sự tôn trọng đối với sự đa dạng văn hóa và tính sáng tạo của con người [4;84]

Theo định nghĩa này thì di sản văn hóa phi vật thể không chỉ là các tập quán , các hình thức thể hiện, biểu đạt tri thức, kỹ năng mà còn là những công

cụ, đồ vật, đồ tạo tác và các không gian văn hóa có liên quan

Luật Di sản văn hóa của Việt Nam định nghĩa:

Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu giữ bằng trí nhớ, chữ viết, được lưu truyền bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lưu giữ, lưu truyền khác, bao gồm tiếng nói, chữ viết, tác phẩm văn học nghệ thuật, khoa học, ngữ văn truyền miệng, diễn xướng dân gian, lễ hội, bí quyết về nghề thủ công truyền thống, tri thức về y, dược học cổ truyền, về văn hóa ẩm thực, về trang phục truyền thống dân tộc và những tri thức dân gian khác [16;13]

Di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể có liên quan mật thiết với nhau Di sản văn hóa vật thể xuất hiện như là sự biểu hiện vật chất của di sản văn hóa phi vật thể, và di sản văn hóa phi vật thể đến lượt mình tồn tại như là biểu hiện tinh thần của di sản văn hóa vật thể đó Nếu gọi di sản văn

Trang 18

hóa vật thể là gương mặt lịch sử, là nhân chứng của các thời đại, thì di sản văn hóa phi vật thể là linh hồn, là tinh anh, hun đúc những giá trị cao nhất của dân tộc Các di sản văn hóa vật thể luôn luôn chứa đựng trong mình những giá trị

vô hình, nơi con người gửi gắm đức tin và tôn thờ một đấng thiêng liêng nào

đó, là không gian văn hóa cho nhân dân trong những ngày lễ hội truyền thống,

lễ hội tôn giáo, là nơi các nghệ nhân xưa thể hiện năng lực sáng tác kiến trúc – nghệ thuật của mình dâng lên đấng tối cao, thể hiện khát vọng và ước mơ thầm kín mãnh liệt của mình về cuộc sống – thế giới con người Đối với di sản văn hóa phi vật thể thì tự thân nó đã mang trong mình những thông điệp của quá khứ và khi tham gia vào đời sống văn hóa hiện đại sẽ làm cho văn hóa của mỗi dân tộc không bị tách rời khỏi truyền thống, nó giữ lại những giá trị tự thân, đồng thời tạo nên những giá trị bên trong cốt cách, bản lĩnh, năng lực của mỗi dân tộc Những hệ giá trị này có tính ổn định rất lớn và có tính bền vững tương đối, có sức mạnh to lớn đối với cộng đồng Trong sự tiến bộ phát triển của xã hội, các giá trị này thường không biến mất mà hóa thân vào các giá trị của thời sau theo quy luật kế thừa, tái tạo và đó cũng là biểu hiện của tính liên tục văn hóa

1.1.3 Khái niệm bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa

Bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa là hoạt động nhằm mục đích lưu giữ, bảo vệ và phát triển các di sản văn hóa đang có nguy ơ biến mất vì lí do này hay lí do khác Bảo tồn và phát huy bao gồm nhiều hoạt động khác nhau như việc điều tra, nghiên cứu, bảo quản, tu bổ, phục dựng Bảo tồn và phát huy được coi là một lĩnh vực khoa học chuyên ngành với nhưng yêu cầu về kỹ năng riêng biệt Bên cạnh đó, bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa phải tuân thủ các nguyên tắc trùng tu, tôn tạo và bảo quản

Di sản văn hóa là những nét tinh tú nhất, đặc sắc nhất của một nền văn hóa vượt qua được thử thách của thời gian, lịch sử đến với thế hệ hiện tại, vì thế nó chính là tấm gương phản ánh thật rõ nét bản sắc văn hóa của dân tộc ta

Trang 19

Đó chính là lòng yêu nước nồng nàn, ý chí độc lập tự cường bất khuất, đạo lí uống nước nhớ nguồn sâu sắc, tinh thần tương thân tương ái đoàn kết cộng đồng vững chắc và tấm lòng bao dung rộng mở Đây chính là những nét tạo nên bản lĩnh, cốt cách của dân tộc Việt Nam Hệ thống di sản văn hóa không chỉ minh chứng, khẳng định bản lĩnh, cốt cách dân tộc mà còn cho ta thấy rõ những nếp sống, nếp sinh hoạt và suy nghĩ rất riêng của dân tộc ta thông qua

hệ thống phong tục tập quán thật đa dạng và phong phú

Do đó, bảo tồn và tôn tạo các di sản văn hóa chính là giữ gìn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống dân tộc, nó có ý nghĩa to lớn đối với các thế hệ nối tiếp Di sản văn hóa là “bức thông điệp” của thế hệ cha ông gửi lại cho thế

hệ mai sau Như vậy, bảo tồn, tôn tạo và khai thác các di sản văn hóa trở thành vấn đề lớn của mỗi dân tộc chứ không phải của riêng cá nhân, tổ chức nào

Hiện nay trong quá trình đổi mới, với sự tác động của nền kinh tế thị trường, ngoài những thuận lợi còn có những mặt hạn chế đã và đang phát triển

cả ở thành thị và nông thôn, tạo thành nguy cơ ảnh hưởng không tốt đến môi trường cảnh quan và những giá trị của các di sản văn hóa Bởi vậy công tác bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa sẽ góp phần giữ gìn, kế thừa và phát huy truyền thống đạo đức của dân tộc là hết sức cần thiết, hết sức có ý nghĩa Bởi nếu không có giải pháp bảo tồn, phát huy một cách thiết thực, có hiệu quả thì nhiều di sản văn hóa cả vật thể và phi vật thể sẽ nhanh chóng bị hủy hoại bởi thời gian, bởi môi trường thiên nhiên khắc nghiệt và bởi mặt trái của toàn cầu hóa và thị trường hóa

Trang 20

Toạ độ địa lý: 19o53'-20o vĩ độ Bắc, 105o55'-106o37' kinh độ Đông

1.2.1.2 Điều kiện tự nhiên

Nam Định có diện tích là 1652,29 km2 bằng khoảng 0,5% diện tích toàn quốc Địa hình tương đối bằng phẳng, chủ yếu là đồng bằng thấp trũng và đồng bằng ven biển Khu vực phía tây bắc tỉnh tập trung một số ít đồi núi thấp như Bảo Đài, Ngô Xá (còn gọi là Thương Sơn, Mai Sơn – Ý Yên), Côi Sơn (còn gọi

là núi Gôi), Non Côi, Hổ Sơn, Kim Bảng nay là Kim Thái, Trang Nghiêm tức núi Ngăm (Vụ Bản)… Dưới chân núi thường có những dòng sông nhỏ chảy quanh tạo nên cảnh trí hữu tình Non Côi – sông Vị là những danh thắng đại diện cho Nam Định mà cả nước nhiều người biết đến Cư dân tụ họp về đây sinh sống từ rất lâu đời Những kết quả nghiên cứu của các ngành khoa học xã hội như: khảo cổ học, bảo tàng học, dân tộc học, đã chứng minh người Việt cổ

đã sớm có mặt ở vùng đất này (di chỉ khảo cổ học Núi Lê, hang Lỗ Xá, Tam Thanh huyện Vụ Bản, núi Hổ Sơn xã Liên Minh, núi Thái xã Kim Thái) Từ xuất phát điểm đó, các làng, xã ở Nam Định hình thành và trở thành đơn vị hành chính hàm chứa những yếu tố văn hoá riêng biệt, bao gồm sự kết nối từ gia đình đến dòng họ, sau đó đến làng, đến quốc gia

Cũng như các tỉnh trong vùng đồng bằng Bắc Bộ, Nam Định mang khí hậu cận nhiệt đới ẩm ấm Nhiệt độ trung bình trong năm từ 23 – 24 °C Tháng lạnh nhất là các tháng 12 và 1, với nhiệt độ trung bình từ 16 – 17 °C Tháng 7 nóng nhất, nhiệt độ khoảng trên 29 °C

Lượng mưa trung bình trong năm từ 1.750 – 1.800 mm, chia làm 2 mùa

rõ rệt: mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, mùa ít mưa từ tháng 11 đến tháng 2 năm sau Số giờ nắng trong năm: 1.650 – 1.700 giờ Độ ẩm tương đối trung bình: 80 – 85% Mặt khác, do nằm trong vùng vịnh Bắc Bộ nên hàng năm Nam Định thường chịu ảnh hưởng của bão hoặc áp thấp nhiệt đới, bình quân từ 4 – 6 cơn/năm Thuỷ triều tại vùng biển Nam Định thuộc loại nhật triều, biên độ triều trung bình từ 1,6 – 1,7m lớn nhất là 3,31m và nhỏ nhất là 0,11m

Trang 21

Với khí hậu thời tiết của vùng nhiệt đới ẩm gió mùa đã tạo ảnh hưởng đến các di sản văn hóa Trước tiên ảnh hưởng đến sự hình thành các phong tục, tập quán của người dân nơi đây, đó cũng là nguồn gốc để tạo nên nét ẩm thực

vô cùng đa dạng phong phú và ấn tượng của Nam Định Bên cạnh đó cũng gây ảnh hưởng xấu đến các di tích lịch sử, với lượng mưa tương đối nhiều, độ ẩm thấp và hàng năm phải hứng chịu nhiều cơn bão đã phá hủy và xuống cấp nhiều

di tích lịch sử

Nam Định là vùng đất nằm giữa hạ lưu hai con sông lớn của đồng bằng Bắc Bộ là sông Hồng và sông Đáy Dòng chảy của sông Hồng và sông Đáy kết hợp với chế độ nhật triều đã bồi tụ tại vùng cửa hai sông tạo nên 2 bãi bồi lớn ven biển là Cồn Lu, Cồn Ngạn (Giao Thuỷ) và vùng Cồn Trời, Cồn Mờ (Nghĩa Hưng) Ngoài hai con sông lớn, trong tỉnh còn có những chi lưu của sông Hồng chảy sang sông Đáy hoặc đổ ra biển Từ bắc xuống nam có sông Đào làm địa giới quy ước cho hai vùng nam bắc tỉnh, sông Ninh Cơ đổ ra cửa Lác (thường gọi là Gót Chàng), sông Sò (còn gọi là sông Ngô Đồng) đổ ra cửa Hà Lạn

Tính đến năm 2000, toàn tỉnh có 4.723 ha rừng các loại, chủ yếu là rừng phòng hộ, cây trồng chính là sú, vẹt, phi lao, bần Hệ thực vật chiếm khoảng 50%, hệ động vật chiếm khoảng 40% loài thực vật, động vật cả nước

1.2.2 Điều kiện kinh tế - xã hội của tỉnh Nam Định

Nam Định gồm có 1 Thành phố là thành phố Nam Định và 09 huyện: Giao Thủy, Hải Hậu, Mỹ Lộc, Nam Trực, Nghĩa Hưng, Trực Ninh, Vụ Bản,

Xuân Trường, Ý Yên Nam Định có 230 đơn vị hành chính cấp xã gồm 195 xã,

20 phường và 15 thị trấn

Theo điều tra dân dố 01-04-2010 Nam Định có 2.005.771 người với mật

độ dân số 1.196 người/km² Dân tộc sinh sống tại Nam Định chủ yếu là dân tộc

Kinh, theo hai tôn giáo chính là Phật giáo và Thiên chúa giáo

Nam Định là một tỉnh có bề dày văn hóa và truyền thống hiếu học của cả nước Sở Giáo dục và Đào tạo cũng như Đội tuyển thi học sinh giỏi Quốc gia

Trang 22

nhiều năm xếp thứ nhất toàn quốc Trường trung học phổ thông chuyên Lê Hồng Phong (Trường Thành Chung Nam Định xưa) được xếp vào hạng hàng đầu của cả nước về thành tích học tập Ngoài ra, có một số ngôi trường khác cũng khá nổi bật là các trường trung học phổ thông Giao Thủy A, (trường chuẩn quốc gia năm 2003), Hải Hậu A (trường chuẩn quốc gia năm 2003), trung học phổ thông Trần Hưng Đạo (trường chuẩn quốc gia năm 2009), trường trung học cơ sở Lý Tự Trọng, trung học cơ sở Trần Đăng Ninh, trung học cơ sở Phạm Hồng Thái Ngoài ra trong tốp 200 trường có kết quả cao nhất

cả nước thì Nam Định có tới 17 trường Trong Top 100 trường trung học phổ thông tốt nhất Việt Nam năm 2009, Nam Định có tới 7 trường

Nam Định có trường Đại học Điều dưỡng được thành lập năm 2005 là trường Đại Học Điều Dưỡng đầu tiên trên cả nước Ngoài ra còn có các trường đại học khác như trường Đại học Sư phạm kỹ thuật Nam Định, trường Đại học Dân Lập Lương Thế Vinh, trường Đại học Kinh tế kỹ thuật công nghiệp, trường Cao đẳng Sư phạm Nam Định và 12 trường cao đẳng khác

Nam Định nằm trong vùng trọng điểm sản xuất lương thực, thực phẩm của đồng bằng Bắc Bộ Đồng thời, có nền sản xuất công nghiệp phát triển tương đối sớm với nhiều ngành nghề truyền thống, là một trong những trung tâm dệt may hàng đầu của cả nước Tổng giá trị hàng xuất khẩu trên địa bàn đạt

210 triệu USD (kế hoạch 200 triệu USD) Tổng nguồn vốn đầu tư xã hội trên địa bàn tỉnh ước thực hiện 8800 tăng 19,4% (kế hoạch tăng 10%) Năm 2010, ước tính GDP tỉnh đạt 10.920 tỷ đồng Năm 2009, Cơ cấu kinh tế là: Nông-lâm-thuỷ sản: 30%; Công nghiệp-xây dựng: 32%; Dịch vụ: 38%

Các khu công nghiệp trong tỉnh Nam Định: Khu Công nghiệp Hòa Xá, khu Công nghiệp Mỹ Trung, khu Công nghiệp Thành An, khu Công nghiệp Bảo Minh, khu Công nghiệp Hồng Tiến, khu Kinh tế Ninh Cơ và nhiều cụm công nghiệp khác

Trang 23

1.2.3 Vai trò của di sản văn hoá đối với đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân tỉnh Nam Định

1.2.3.1 Khái quát chung về các di sản văn hóa của tỉnh Nam Định

Nam Định nằm ở trung tâm vùng Nam đồng bằng sông Hồng, không chỉ là mảnh đất địa linh nhân kiệt, nơi đây còn là nơi phát tích của vương triều Trần - một trong những triều đại phát triển hưng thịnh nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam Là nơi hội tụ và bảo lưu nhiều giá trị văn hóa truyền thống thể hiện ở các công trình kiến trúc như đình, chùa, đền, miếu, phủ, lăng,

mộ, nhà thờ, từ đường dòng họ,… tất cả hệ thống di sản văn hoá đó đã và đang hội tụ những giá trị tư tưởng, đạo đức, tín ngưỡng, tôn giáo, góp phần hun đúc nên nhân cách con người Nam Định, luôn hướng tới Chân - Thiện -

Mỹ và Nhân - Nghĩa - Lễ - Trí - Tín Các di tích lịch sử, văn hoá là nơi ghi dấu công sức, tài năng của các thế hệ qua từng thời đại, là bằng chứng xác thực, cụ thể về đặc điểm văn hóa mỗi vùng, miền Các di tích lịch sử văn hóa hầu như vẫn giữ được khá đầy đủ và liên tục về mạch truyền thống kiến trúc dân tộc

* Di sản văn hóa vật thể

Trên địa bàn tỉnh hiện có hơn 2.000 di tích lịch sử - văn hoá, khoảng

300 nhà thờ và đặc biệt là hơn 3.000 Từ đường dòng họ Trong đó có 77 di tích được công nhận cấp quốc gia, 214 di tích được công nhận cấp tỉnh, bao gồm các loại hình di tích: kiến trúc nghệ thuật, lịch sử, khảo cổ, cách mạng kháng chiến, danh thắng Số lượng di tích này trải rộng ở khắp các địa bàn, phong phú, đa dạng và có nhiều giá trị văn hóa truyền thống sâu sắc Những

di tích lịch sử văn hóa được công nhận có nhiều giá trị về lịch sử, nghệ thuật, khảo cổ, mang đậm nét dấu ấn văn hóa Việt, tiêu biểu là:

- Khu di tích Đền Trần - Chùa Tháp xã Lộc Vượng là một điển hình của di sản văn hóa thời Trần ở Việt Nam Đây là khu di tích qua nhiều thế kỉ

Trang 24

được đặt dưới nhiều sự quản lí của Nhà nước phong kiến thời độc lập tự chủ

từ thế kỉ XVI cho đến Cách mạng Tháng Tám năm 1945 Đây là khu di tích đặc biệt quan trọng của quốc gia có nhiều dấu ấn văn hóa, lịch sử từ thế kỉ XIII, là quê hương của vương triều Trần, một vương triều có nhiều võ công – văn trị lừng danh trong lịch sử Do vậy, các giá trị văn hóa ở đây được bảo tồn

và khai thác rất tích cực, góp phần vào việc xây dựng bản sắc dân tộc Đây là khu di tích có giá trị trong lĩnh vực du lịch để giới thiệu những bài học dựng nước, giữ nước của cha ông ta trong cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên – Mông, một đế quốc hung mạnh nhất thời đó Nơi đây vào đúng giờ

Tý rằm tháng Giêng âm lịch có lễ Khai Ấn Tương truyền các vua Trần nghỉ tết âm lịch hàng năm đến rằm tháng Giêng thì Khai Ấn trở lại quốc sự Lễ Khai Ấn hàng năm thu hút rất nhiều du khách các nơi về Nam Định dự và xin lộc vua Trần

- Chùa Keo (Thần Quang Tự) tại làng Hành Thiện, Xã Xuân Hồng, Huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định, là di tích lịch sử được xếp hạng của Bộ văn hóa Đây là một khu di tích bề thế, thờ Thiên sư rất nổi tiếng thời Lý được xây dựng năm 1062 Toàn bộ công trình kiến trúc từ thế kỉ XVII này có nhiều bia kí, cổ vật, cổ thư

- Khu di tích Phủ Giầy, bao gồm phủ Tiên Hương, phủ Văn Cát, Lăng

và hơn 10 di tích khác tạo thành một quần thể di tích văn hóa Chúng ta có thể tìm thấy ở đây tín ngưỡng thờ Mẫu – một tín ngưỡng cổ xưa và phát triển mạnh ở thế kỉ XVIII đến thế kỉ XIX

- Chùa Phổ Minh, một trong những ngôi chùa cổ nhất của Phật giáo nước ta đã được tu bổ đúng với bố cục kiến trúc ban đầu

- Chùa Cổ Lễ nơi thiền sư Nguyễn Minh Không trụ trì (cùng với các thiền sư Từ Đạo Hạnh và Giác Hải là Nam thiền tam tổ)

Trang 25

- Phủ Quảng Cung (Phủ Nấp) thờ Thánh mẫu Liễu Hạnh, giáng sinh lần thứ nhất ở xã Yên Đồng, Ý Yên

- Quần thể các di tích thờ Vua Đinh Tiên Hoàng ở Nam Định gồm Đền Vua Đinh (Yên Thắng), đền Thượng, đình Thượng Đồng, đình Cát Đằng ở Yên Tiến, Ý Yên và đền Vua Đinh ở làng việt cổ Bách Cốc, Vụ Bản

- Tháp chuông chùa Phổ Minh ngày trước có vạc Phổ Minh là một trong An Nam tứ đại khí, chùa Vọng Cung

- Mộ Tam Nguyên Yên Đổ Nguyễn Khuyến, tại núi Phương Nhi, xã Yên Lợi phía bắc huyện Ý Yên

- Mộ nhà thơ Tú Xương, tại Công viên Vị Xuyên, thành phố Nam Định

- Làng Tức Mặc, Phường Lộc Vượng, thành phố Nam Định xưa là phủ Thiên Trường là quê hương của các vua nhà Trần, một trong những triều đại lừng danh nhất trong lịch sử Việt Nam với chiến tích 3 lần chiến thắng Nguyên Mông

Ngoài ra, còn rất nhiều các di tích có giá trị khác như dền Bảo Lộc, đền

Bà Kiến Quốc phu nhân, đình Thượng Đồng, đình Hưng Lộc, Cầu Ngói, chùa

Đệ Tứ, chùa Phúc Hải, Chùa Lương,…

Hệ thống từ đường các dòng họ cũng được nghiên cứu và công nhận là

di sản văn hóa của dân tộc Đây là nơi thờ các ông Tổ, bà Tổ có nhiều công lao trong sự nghiệp dựng nước giữ nước, mở làng, lập ấp, khai sông, lấn biển, học hành, khoa cử Chính vì vậy mà toàn tỉnh Nam Định có tới 3.360 từ đường dòng họ chính phái, từ đường chi, ngành…góp phần tạo nên sự đa dạng, phong phú của văn hóa Nam Định như Đền thờ Trạng nguyên Nguyễn Hiển, Lương Thế Vinh, Trần Bích San, Vũ Hữu Lợi và nhiều vị quận công, thượng thư nổi tiếng khác ở cùng một dòng họ như nhà thò, miếu quận công Thọ Nghiệp, họ Đặng Phi Hiển xã Tân Thanh huyện Nam Trực

Trang 26

Các di tích còn được trải dài dọc theo suốt chiều dài lịch sử, không có thời kì nào không để lại dấu ấn, phản ánh sự phát triển liên tục, đóng góp của đất và người Nam Định trong công cuộc dựng nước và giữ nước Điều đó được thể hiện từ những di tích thờ các vị tướng thời Hùng Vương như đình Sùng Văn (Mỹ Lộc), các di tích thờ nữ tướng thời Hai Bà Trưng ở Vụ Bản như đền Vụ Nữ, đền Giáp Nhất… Các di tích gắn với sự nghiệp của các danh nhân văn hóa thời Lý, Trần, Lê, Nguyễn như khu di tích Đền Trần – Chùa Tháp Đến các di tích liên quan đến công cuộc, sự nghiệp cách mạng do Đảng Cộng Sản Việt Nam lãnh đạo như ngôi nhà số 7 phố Bến Ngự, Cửa hàng cắt tóc dưới hầm, Khu di tích ghi dấu tội ác của Đế quốc M tại phố Hàng Thao, Nhà lưu niệm cố Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Trường Chinh… được phân bổ ở khắp nơi các địa bàn trong tỉnh như thành phố Nam Định và các huyện Nghĩa Hưng, Hải Hậu, Xuân Trường, Giao Thủy, Ý Yên, Vụ Bản, Nam Trực,…

Tuy nhiên, hiện nay một số di tích đã và đang bị xuống cấp nghiêm trọng dần mất đi giá trị Bên cạnh đó còn tồn tại tình trạng xâm hại, phá hoại

di tích, lấy cắp cổ vật và đồ thờ tự trong đền, chùa Công tác bảo tồn và phát huy các di sản có lúc chưa được quan tâm đến mức dẫn đến tình trạng người dân địa phương chưa tuân thủ theo quy định của Luật Di sản trong việc tôn trọng giá trị gốc, thiếu sự quy hoạch, thiết kế, chỉ đạo chuyên môn, tự ý sửa chữa mà không xin ý kiến và có sự tham gia của các cơ quan chuyên môn dẫn đến di tích bị “biến dạng”, không giữ được yếu tố kiến trúc gốc…

* Di sản văn hóa phi vật thể

Ngoài những di sản văn hóa vật thể, Nam Định còn có vốn văn hóa truyền thống, tín ngưỡng, lễ hội khá phong phú mang đậm bản sắc nền văn minh lúa nước, với khoảng 100 lễ hội truyền thống được tổ chức hằng năm tại các địa phương, trong đó có 58 lễ hội xuân và 42 lễ hội tổ chức vào dịp thu,

Trang 27

đông Việc tổ chức tốt các lễ hội có quy mô về không gian về thời gian như:

Lễ hội Phủ Giầy, Lễ hội Đền Trần, Lễ Khai ấn đầu năm, Hội chợ Viềng mùa xuân Những hoạt động văn hóa truyền thống: biểu diễn rối nước, hát văn, đi

cà kheo, bơi trải, thi bắt vịt, cọ lửa, thổi cơm thi thể hiện tính độc đáo, đặc trưng riêng của vùng quê Nam Định

Tỉnh còn có hơn 70 làng nghề với các ngành nghề và sản phẩm truyền thống Nhiều làng nghề nổi tiếng như: làng nghề chạm, khảm gỗ La Xuyên, sơn mài Cát Đằng, đúc đồng Tống Xá (huyện Ý Yên), mây tre đan Vĩnh Hào (huyện Vụ Bản), dệt Cự Trữ, ươm tơ Cổ Chất (huyện Trực Ninh), trồng hoa cây cảnh Vị Khê (huyện Nam Trực)

Nam Định còn có những hình thức âm nhạc riêng biệt và độc đáo là hát chầu văn, hát xẩm, hát ả đào

- Hát chầu văn: Tỉnh có nhiều vùng quê phát triển nghệ thuật chầu văn

và xuất hiện các thế hệ cung văn nổi tiếng Từ trong các đền, phủ, với vai trò như một phương tiện nghệ thuật phục vụ tín ngưỡng tâm linh, chầu văn đã

“chuyển mình” vào sân khấu, có sức sống lan toả trong đời sống, đáp ứng nhu cầu thưởng thức văn hoá nghệ thuật của các tầng lớp nhân dân Các bài hát văn được soạn lời mới có nội dung ca ngợi tình yêu quê hương đất nước, cổ

vũ khối đoàn kết toàn dân chung sức, đồng lòng đứng lên đánh giặc Qua giọng hát của NSƯT Kim Liên, Thế Tuyền, Kim Ngân, nghệ thuật chầu văn

và các tiết mục hát văn Nam Định ngày càng có sức lan toả trong công chúng như các tiết mục: “Gái đảm Nam Hà”, “Mùa sen dâng Bác”, “Trẩy hội quê hương”, “Hoa dũng sỹ”, “Mừng Việt Nam đại thắng” Tại lễ hội Phủ Dầy hằng năm đều tổ chức hội thi hát văn, thu hút các cung văn mọi miền tham dự Hát văn đã trở thành môn nghệ thuật độc đáo, đáp ứng nhu cầu thưởng thức

và hưởng thụ văn hoá, văn nghệ ngày càng cao của các tầng lớp nhân dân Là một trong những cái nôi của nghệ thuật hát chầu văn, Nam Định đã được Bộ

Trang 28

Văn hóa - Thể thao và Du lịch chọn là địa phương đại diện cho các tỉnh, thành phố trong cả nước lập hồ sơ khoa học “Nghi lễ Chầu văn của người Việt ở Nam Định”, đưa vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, sau đó trình Thủ tướng Chính phủ cho phép đề nghị UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại

- Hát xẩm: Là đặc trưng của dòng hát chuyên nghiệp của các nghệ nhân

đi hát rong Nghệ nhân Hà Thị Cầu, người thôn Sở Thượng, xã Yên Phú, huyện Ý Yên, hơn 60 năm qua chuyên đi hát xẩm nuôi gia đình Bà đã lưu giữ được viên ngọc quý của âm nhạc quê hương Năm 1993, Nhà nước đã phong tặng cho bà danh hiệu nghệ sĩ ưu tú

- Hát ả đào (ca trù): là đào hát và kép đào ăn mặc chỉnh tề ngồi trên chiếu cạp điều Cô đào hát đẹp, duyên dáng với giọng hát trong trẻo, tay gõ phách hòa cùng tiếng đàn đáy của kép hát, có tiếng trống chầu của người thưởng thức Với tiết tấu khoan thai, nhàn tản đã tạo nên một khung cảnh nghệ thuật trang nhã, sang trọng hòa quyện sự tâm đắc của người hát, người đàn và người nghe Bà Thanh Lâm (tức bà Chánh Sim) ở phố Hàng Sắt, thành phố Nam Định là một nghệ nhân hát ca trù nổi tiếng của xứ Nam

Nam Định còn được biết đến với những sản phẩm nổi tiếng kết tinh của nền văn minh lúa nước sông Hồng Từ những sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, bằng sự khéo léo, tinh tế, người dân nơi đây đã chế biến và sáng tạo ra những món ăn dân dã mà dư vị của nó lan tỏa đến các vùng miền trong nước và quốc

tế Gạo tám Xuân Đài, gạo nếp Hải Hậu, phở bò gia truyền Nam Định, bánh nhãn Hải Hậu, kẹo Sìu Châu, nem nắm Giao Thủy, bánh cuốn Làng Kênh,… Các đặc sản biển Hải Hậu, Giao Thủy là món ăn nổi tiếng toàn quốc nhất là khu vực phía nam, không những thế du khách thế giới cũng rất ưa thích như: Gỏi nhệch,gỏi sứa, cá nướng thơm…Với các món ăn trên người Nam Định thường dùng với Rượu Bỉnh Ri - Giao Thịnh nổi tiếng xưa nay được lên men

Trang 29

từ loại gạo nếp thơm ngon của Huyện Giao Thủy Với nét ẩm thực đa dạng và phong phú đã làm lên nét văn hóa đặc trưng của vùng quê Nam Định với những món ăn dân giã, bình dị nhưng chứa đựng trong đó không chỉ có sự khéo léo, sáng tạo mà còn có trong đó nét truyền thống văn hóa mà người dân gửi gắm vào đó đó là tình yêu, niềm tự hào về quê hương giàu truyền thống anh hùng, hiếu học

Ngày nay, nhiều di sản văn hóa phi vật thể của tỉnh đã được sưu tầm, kiểm kê và phục hồi với những nét văn hóa đặc sắc đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc như các lễ hội, trò chơi dân gian, các làng nghề,… Bên cạnh đó một

số di sản đang có dấu hiệu bị mai mốt và mất đi nét truyền thống Một số lễ hội tổ chức chưa đảm bảo về mặt ý nghĩa truyền thống, còn lộn xộn, có sự pha tạp những văn hóa không lành mạnh, tình trạng trộm cắp, lừa đảo còn phổ biến Những trò chơi dân gian chưa được quan tâm phục chế, điều này được thể hiện ở trong các lễ hội hiện nay đa số tổ chức những trò chơi hiện đại mà chưa chú trọng những trò chơi dân gian

1.2.3.2 Vai trò của các di sản văn hóa đối với đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân tỉnh Nam Định

Từ xưa, di sản văn hóa là môt bộ phận không thể tách rời trong đời sống của người dân Nam Định Ngày nay, di sản văn hóa ở tỉnh Nam Định đã thực sự khẳng định được vị trí, vai trò của mình trong đời sống xã hội Với hình ảnh bình

dị, những đặc sắc của ngôi đình, những làn điệu dân ca sâu lắng trữ tình, sự cuốn hút của các lễ hội,…ngày càng trở nên gần gũi với người dân Điều đó chứng tỏ

di sản văn hóa có sức lan tỏa mãnh liệt và sức sống rất lâu bền trong đời sống và

có ý nghĩa vô cùng to lớn đối với người dân Nam Định

* Di sản văn hóa góp phần phát triển kinh tế của tỉnh Nam Định

Đối với người dân Nam Định, các di sản văn hóa có giá trị to lớn và không ai có thể phủ nhận vai trò quan trọng của di sản văn hoá với tư cách là

Trang 30

nhân tố trực tiếp tham gia vào quá trình phát triển kinh tế Trong sự phát triển của xã hội, kinh tế và văn hoá luôn luôn có mối quan hệ hữu cơ và tác động qua lại chặt chẽ

Hiện nay, trên địa bàn tỉnh Nam Định đang lưu giữ nhiều di tích văn hóa khá đa dạng và có sức lôi cuốn với du khách như: Phủ Giầy, Chùa Cổ Lễ, Chùa Keo Hành Thiện, Cầu Ngói Chùa Lương, Cột cờ Nam Định Bên cạnh

đó là các di tích lịch sử văn hóa gắn liền với các danh nhân: Trạng nguyên Nguyễn Hiền, Trạng lường Lương Thế Vinh, Nhà thơ trào phúng Tú Xương, Khu lưu niệm cố Tổng Bí thư Trường Chinh, nhà lưu niệm nhà thơ Nguyễn Bính Tỉnh còn có hơn 70 làng nghề với các ngành nghề và sản phẩm truyền thống Ngoài những di sản văn hóa vật thể, Nam Định còn có vốn văn hóa truyền thống, tín ngưỡng, lễ hội khá phong phú mang đậm bản sắc nền văn minh lúa nước sông Hồng, là nền tảng cho việc hình thành những sản phẩm

du lịch văn hóa phi vật thể, với khoảng 100 lễ hội truyền thống được tổ chức hằng năm tại các địa phương như: Lễ hội Phủ Giầy, Lễ hội Đền Trần, Lễ Khai

ấn đầu năm, Hội chợ Viềng mùa xuân tạo cơ hội thuận lợi cho người dân khai thác phục vụ khách du lịch tạo thêm nguồn thu nhập đáng kể Những hoạt động văn hóa truyền thống: biểu diễn rối nước, hát văn, đi cà kheo, bơi trải, thi bắt vịt, cọ lửa, thổi cơm thi được tổ chức trong các dịp lễ hội luôn được các nhà lữ hành đặc biệt quan tâm vì tính độc đáo, đặc trưng riêng có của vùng quê Nam Định, bởi đó chính là những sản phẩm du lịch văn hóa được khách du lịch quốc tế ưa thích nhất Trong tổng số hơn một triệu lượt khách mỗi năm đến các điểm tham quan du lịch của tỉnh thì lượng người đến với các khu điểm du lịch văn hóa, tham dự các lễ hội chiếm tới hai phần ba, nhất là vào dịp hội chợ Viềng mùa xuân hay Lễ Khai ấn đầu năm tổ chức vào ngày mồng 8 và 14 tháng Giêng Hơn nữa, du khách có thể ghé thăm các di tích lịch sử văn hóa như nhà thờ, tham quan các làng nghề truyền thống

Trang 31

Từ việc bảo tồn và phát huy các làng nghề truyền thống đã tạo ra những sản phẩm có chất lượng và uy tín cao trên thị trường trong và ngoài nước như những đồ gỗ mỹ nghệ của làng nghề chạm, khảm gỗ La Xuyên Những tượng đồng, chuông đồng nổi tiếng được đúc tại Tống Xá (huyện Ý Yên) như những tác phẩm bằng đồng ở chùa Bái Đính do những nghệ nhân của làng Tống Xá đúc Hay những sản phẩm mây tre đan Vĩnh Hào (huyện Vụ Bản), dệt Cự Trữ với chất lượng cao được làm thủ công từ nhãng bàn tay kheo léo của người dân nơi đây đa được xuất khẩu các nước Châu Âu Và đặc biệt trong những năm gần đây trồng hoa cây cảnh Vị Khê (huyện Nam Trực) đã gặt hái được nhiều thành công Với những thành tựu đó đã góp phần không nhỏ vào sự phát triển kinh tế của tỉnh Nam Định, giải quyết việc làm và tăng thu nhập cho người dân

Với nét văn hóa ẩm thực đặc sắc và phong phú đã thuyết phục và tạo được hứng thú cho những ai đã từng thưởng thức như phở bò gia truyền Nam Định, bánh nhãn Hải Hậu, bánh cuốn làng Kênh, kẹo Sìu Châu, gạo tám Xuân Đài, gạo nếp Hải Hậu Với những món ăn được ưa chuộng người dân Nam Định đã không ngừng quảng bá và giới thiệu cho các du khách và bạn bè bốn phương, từ đó tạo nên những thương hiệu nổi tiếng và uy tín tạo điều kiện thuận lợi cho người dân buôn bán, kinh doanh Có những đặc sản có giá trị xuất khẩu như gạo Hải Hậu, kẹo Sìu Châu, bánh nhãn Hải Hậu,

* Di sản văn hóa làm cho hình ảnh và vị thế của tỉnh Nam Định không ngừng tăng lên

Di sản văn hóa lưu trữ nguồn tài liệu quý giá trải qua nhiều thời kì lịch

sử giúp cho việc nghiên cứu về mảnh đất có bề dày truyền thống, có chức năng phản ánh, bảo lưu và truyền bá các giá trị văn hóa truyền thống, thể hiện

ở sự ngưỡng mộ, thành kính đối với tổ tiên, với những người có công với quê hương Di sản văn hóa không những lưu giữ những giá trị truyền thống mà

Trang 32

còn quảng bá hình ảnh cho vùng đất Nam Định Là vùng đất phát tích của vương triều Trần, Nam Định đã lưu giữ được khu di tích Đền Trần được coi là khu di tích đặc biệt quan trọng của quốc gia có nhiều dấu ấn văn hóa Nghệ thuật hát Chầu văn của tỉnh được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận

và đưa “Nghi lễ Chầu văn của người Việt ở Nam Định” vào danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia Đề nghị UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loạị,… Các di sản văn hóa đã nói lên được vẻ đẹp truyền thống của người dân nơi đây, đó là truyền thống yêu nước với những trang lịch sử hào hùng, một vùng đất địa linh nhân kiệt, có truyền thống hiếu học Qua đó hình ảnh của tỉnh được nâng cao, được mọi người biết đến là vùng đất “địa linh nhân kiệt”

* Di sản văn hóa giáo dục con người và từ đó tạo nền tảng cho phát triển kinh tế tri thức phục vụ cho nhu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa của tỉnh Nam Định

Chứa đựng những giá trị truyền thống của dân tộc, các di sản văn hóa

đã giúp các thế hệ người dân nhận thức được truyền thống anh hùng, bất khuất trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của ông cha, truyền thống cần cù, sáng tạo trong lao động, truyền thống hiếu học, Từ những giá trị đó, đã giáo dục các thế hệ người dân ý thức được trách nhiệm của mình trong việc phát huy và tiếp nối những truyền thống tốt đẹp của cha ông Đặc biệt là trong xã hội ngày nay với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của đất nước trong

xu thế hội nhập quốc tế, di sản văn hóa đã tạo động lực để các thế hệ trẻ không ngừng vươn lên xây dựng quê hương thêm giàu mạnh không chỉ để tiếp nối truyền thống của cha ông mà còn xây dựng nền kinh tế tri thức giúp tỉnh

nhà ngày thêm phát triển

Trang 33

* Di sản văn hóa đã hun đúc đạo lí “uống nước nhớ nguồn”, ghi nhớ công ơn tổ tiên, nhắc nhở con cháu hướng về cội nguồn của người dân Nam Định

Điều này được thể hiện rõ qua việc các khu di tích như đình, chùa, từ đường luôn được người dân quan tâm, thường xuyên tôn tạo nên vẫn giữ được

sự bền vững cùng tính nguyên bản của các sắc thái hoa văn, các lễ hội được chú trọng tổ chúc linh đình, trang nghiêm và mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc như lễ hội Phủ Giầy, lễ Khai ấn Đền Trần, lễ hội chùa Lương, chùa Phúc Hải,… tất cả thể hiện lòng thành kính, giữ gìn di sản văn hóa cha ông đồng thời góp phần hun đúc, bồi đắp, giáo dục truyền thống yêu quê hương đất nước cho các thế hệ người dân

* Di sản văn hóa đã góp phần làm phong phú đời sống tinh thần, tăng cường tình đoàn kết, tinh thần cố kết cộng đồng của người dân Nam Định

Người dân đã cùng nhau chung tay góp công, góp của để bảo tồn, trùng tu, tôn tạo lại các di sản văn hóa của cha ông Trong các dịp lễ hội, còn gì vui hơn khi mọi người hô hào nhau cùng dọn dẹp, sắm sửa, để tổ chức cho lễ hội long trọng và ý nghĩa Đến với lễ hội truyền thống ngoài sự “hòa nhập” hết mình trong các hoạt động của lễ hội, người dân còn được “hóa thân” đóng một vai trong hội hay “nhập thân” vào một trò chơi, tất cả mọi người đều được hưởng những lễ vật mà mình dâng cúng, đều được tham gia vào các hoạt động vui chơi, giải trí trong quá trình tổ chức hoạt động lễ hội Thông qua đó, giữ gìn được những truyền thống, đạo đức, giáo dục lối sống đoàn kết, tương thân tương ái, giúp đỡ lẫn nhau Đó chính là sợi dây cố kết mọi người lại với nhau tạo nên sức mạnh của cộng đồng để xây dựng quê hương ngày một giàu đẹp hơn

* Di sản văn hóa còn là niềm tự hào của người dân Nam Định về lịch

sử hào hùng và truyền thống của quê hương mình

Đi đâu họ cũng tự hào là nơi phát tích của vương triều nhà Trần với bao chiến thắng oanh liệt của dân tộc, quê hương của các danh sĩ nổi tiếng như:

Trang 34

Lương Thế Vinh, Nguyền Hiền, Tú Xương, Nguyễn Bính, Văn Cao, Nguyên Hồng,… Tự hào là cái nôi của nghệ thuật hát Chầu văn với nghệ sĩ nhân dân

Hà Thị Cầu Đi khắp mọi miền đất nước đâu đâu cũng thấy những quán phở

bò gia truyền Nam Định hay bánh nhãn Hải Hậu với hương vị đặc trưng của miền quê xứ Nam Với niềm tự hào đó đã tạo động lực mạnh mẽ để các thế hệ tiếp nối truyền thống, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa, góp phần làm giàu thêm nền văn hóa, thúc đẩy sự nghiệp xây dựng đời sống tinh thần và vật chất

ở địa phương Phát huy sức mạnh của quê hương mình nhất là trong công cuộc xây dựng đất nước trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

* Di sản văn hóa đáp ứng các nhu cầu về văn hóa, nghệ thuật của người dân

Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, bên cạnh phát triển kinh tế, người dân còn có nhu cầu đáp ứng các hoạt động văn hóa nghệ thuật Đặc biệt

là các lễ hội, các di tích lịch sử, Trong cuộc sống ngoài lao động sản xuất người dân còn có nhu cầu hưởng thụ và giải trí Họ được tham gia các hoạt động văn nghệ, giao lưu thông qua các lễ hội truyền thống, ở đó họ được hòa mình vào không khí vui tươi, náo nhiệt với những trò chơi dân gian, những câu hát đối để quên đi những mệt mỏi, lo toan của cuộc sống, rèn luyện sức khỏe… họ trao đổi với nhau những kinh nghiệm trong lao động, cuộc sống hàng ngày như lề hội chùa Keo Hành Thiện với những trò chơi dân gian như

đi cà kheo, chèo thuyền, chợ Viềng là nơi trao đổi, mua bán những dụng cụ lao động, lễ hội Phủ Giầy ngoài phần hội đầy náo nhiệt là phần lễ bà chúa Liễu Hạnh và nghi thức hầu bóng với những bài hát chầu văn đặc sắc với những ca từ ca ngợi tình yêu quê hương đất nước Các di sản văn hóa đáp ứng nhu cầu đời sống tinh thần, tâm linh, giải quyết những khát khao, những ước

mơ của cộng đồng các dân tộc ở địa phương như lễ hội Phủ Giầy ( Vụ Bản), Hội chợ Viềng (Vụ Bản), Lễ khai ấn ( thành phố Nam Định), Hội chùa Keo

Trang 35

Hành Thiện (Xuân Trường), Hội đền vua Đinh ( Ý Yên)… Thông qua đó, tạo cho con người niềm lạc quan yêu đời, yêu chân lý, trọng cái thiện và làm cho tâm hồn, nhân cách mỗi con người như được sưởi ấm tình nhân đạo, nhân văn

để rồi thẩm thấu vào cuộc sống đời thường, đáp ứng nhu cầu đời sống văn hóa tinh thần, tâm linh về giao lưu, làm cho đời sống có ý nghĩa hơn, tốt đẹp hơn Giáo dục, động viên quần chúng hăng say lao động sản xuất, chung lòng chung sức xây dựng quê hương ngày một giàu đẹp

Trong xã hội ngày nay, với nền kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế, với sự

du nhập của nhiều nền văn hóa làm cho lối sống, đạo đức của người dân có nhiều thay đổi tiêu cực như lối sống thực dụng, ích kỉ, chủ nghĩa cá nhân, xuất hiện nhiều tệ nạn xã hội, văn hóa đồi trụy… Khi đó, di sản văn hóa hướng cho mọi người về những giá trị truyền thống của dân tộc, đó là đạo lí “uống nước nhớ nguồn”, truyền thống đoàn kết, cố kết cộng đồng, tinh thần tương thân tương ái, yêu thương, giúp đỡ lẫn nhau,…qua các lễ hội truyền thống, các di tích lịch sử Chiều sâu của di sản văn hóa là bảo lưu cội nguồn, là thứ vũ khí tư tưởng rất sắc bén cho mọi thời đại của mỗi dân tộc Do đó, thực hiện tốt các chức năng của di sản văn hóa là góp phần giáo dục truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc, làm lành mạnh, phong phú đời sống tinh thần của xã hội và cũng để nhằm góp phần

“xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” đề ra trong Nghị quyết lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII)

Trang 36

Tiểu kết chương 1

Di sản văn hóa là sự kết tinh của các giá trị văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể , là cái hồn và là tài sản vô cùng quý giá của mỗi dân tộc Di sản văn hóa không chỉ được coi là tài sản có giá trị giáo dục truyền thống, mà còn

là một nguồn lực to lớn góp phần phát triển kinh tế - xã hội Vì vậy, công tác bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, không những giúp cho các yếu tố văn hóa thấm sâu vào đời sống của người dân, mà bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa còn có vai trò to lớn đối với sự thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội Là một tỉnh nằm ở trung tâm khu vực Nam đồng bằng sông Hồng, Nam Định là nơi hội tụ và bảo lưu được nhiều giá trị văn hóa truyền thống Nam Định còn được biết đến với các giá trị văn hóa phi vật thể độc đáo, là trung tâm của tín ngưỡng thờ Mẫu - một tín ngưỡng bản địa của Việt Nam Nam Định còn có hơn 2.000 di tích lịch sử văn hóa với trên

100 lễ hội truyền thống, trong đó có những lễ hội mang tầm quốc gia, vùng miền rộng lớn như lễ hội Trần, lễ hội Phủ Dầy Trong nền kinh tế thị trường, Nam Định đã duy trì và phát triển được nhiều làng nghề truyền thống với các nghệ nhân có tay nghề cao ở làng trồng hoa cây cảnh Vị Khê, làng chạm khắc

gỗ La Xuyên, làng đúc đồng Tống Xá, làng rèn Vân Chàng cùng các di sản văn hóa phi vật thể khác như chầu văn, hát chèo, rối nước, rối cạn là những tinh hoa văn hóa của quê hương đang được gìn giữ và phát triển Những giá trị lịch sử, văn hóa đó đã được kết tinh trong các di sản văn hóa, đó là môt bộ phận không thể tách rời trong đời sống của người dân Nam Định Ngày nay,

di sản văn hóa ở tỉnh Nam Định đã thực sự khẳng định được vị trí, vai trò của mình trong đời sống xã hội, nó có sức lan tỏa sâu rộng và lâu bền trong đời sống tinh thần cũng như đời sống vật chất của người dân nơi đây

Trang 37

Chương 2 ĐẢNG BỘ TỈNH NAM ĐỊNH LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY CÁC DI SẢN VĂN HÓA

TỪ NĂM 1996 ĐẾN NĂM 2010

2.1 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY CÁC DI

SẢN VĂN HÓA TRƯỚC NĂM 1996

2.1.1 Chủ trương của Trung ương Đảng và Đảng bộ tỉnh Nam Định về

công tác bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa

* Chủ trương của Trung ương Đảng

Trải qua hàng nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước, cha ông ta đã

tạo dựng và để lại những di sản văn hóa vô cùng quý giá, đó là thành quả

hàng nghìn năm lao động sáng tạo, đấu tranh kiên cường dựng nước và giữ

nước của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, là kết quả giao lưu và tiếp thu tinh

hoa của nhiều nền văn minh thế giới để không ngừng hoàn thiện mình Tất cả

đã hun đúc nên tâm hồn, khí phách, bản lĩnh Việt Nam, làm rạng rỡ lịch sử vẻ

vang của dân tộc là nguồn lực quan trọng cho sự phát triển đất nước Tuy

nhiên, di sản văn hóa cũng rất dễ bị mai một và luôn tiềm ẩn nguy cơ biến

mất nhanh chóng Nhận thức được điều đó, đầu năm 1943 Ban Thường vụ

trung ương Đảng họp tại Võng La (Đông Anh – Hà Nội) đã thông qua Đề

cương văn hóa do Tổng Bí thư Trường Chinh trực tiếp dự thảo Đây là lần đầu

tiên kể từ ngày thành lập, Đảng ta họp bàn và có chủ trương kịp thời về văn

hóa văn nghệ Đề cương đề ra 3 nguyên tắc của nền văn hóa mới: dân tộc,

khoa học và đại chúng Nền văn hóa mới Việt Nam có tính chất dân tộc về

hình thức, dân chủ về nội dung Có thể coi Đề cương văn hóa Việt Nam là bản

tuyên ngôn, là cương lĩnh của Đảng về văn hóa trước Cách mạng Tháng Tám

mà ảnh hưởng của nó còn có tác động sâu rộng đến mãi sau này Đây là văn

Trang 38

kiện quan trọng của Đảng ta về văn hóa văn nghệ, mở ra thời kì mới cho văn hóa cách mạng Việt Nam, tạo kiện cho văn hóa thể hiện sức mạnh to lớn vốn

có trong công cuộc kiến quốc, có tính chất mở đường cho quá trình phát triển ngày càng hoàn thiện và làm sâu sắc hơn các quan điểm, các văn kiện của Đảng về văn hóa, văn nghệ

Ngày 23-11-1945, sau Cách mạng tháng Tám, trong khi bộn bề công việc, thù trong giặc ngoài, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận thấy tính cấp thiết của việc bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc, ngay sau khi Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công Người kí sắc lệnh 65 Bảo vệ các cổ vật trong toàn cõi Việt Nam Điều 4 trong sắc lệnh đã ghi rõ:

Cấm phá hủy đình chùa, miếu đền hoặc những nơi thờ tự khác như cung điện, thành quách cùng lăng mộ chưa được bảo tồn,… Cấm phá hủy những bia ký, đồ vật, chiếu sắc, văn bằng giấy má, sách vở có tính cách tôn giáo nhưng có ích cho lịch sử mà được bảo tồn [17;387]

Từ đó đến nay các văn bản, Nghị quyết của Đảng, Chính phủ thường xuyên nhắc nhở công việc bảo tồn các di sản văn hóa dân tộc, đặc biệt từ khi Pháp lệnh Bảo vệ di tích lịch sử văn hóa do Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Trường Chinh kí ngày 1-4-1984 đến Luật di sản văn hóa được Quốc hội thông qua tháng 6- 2001 thì công tác bảo tồn di tích càng được đặc biệt quan tâm và

có vị trí xứng đáng trong đời sống văn hóa cộng đồng Vì vậy, các Nghị quyết của các Đại hội Đảng về xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc và định hướng cho các hoạt động văn hóa, văn nghệ đã giành một vị trí thích đáng cho lĩnh vực bảo tồn và phát triển di sản văn hóa dân tộc

Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta thắng lợi, tại

Đại hội Đảng lần thứ IV (1976), trong Báo cáo Chính trị có khẳng định: Công

tác bảo tồn, bảo tàng có tác dụng sâu sắc cho quần chúng, đặc biệt là thế hệ trẻ

về lòng yêu nước và những tình cảm cách mạng trong sáng Đảng cũng nhấn

Trang 39

mạnh: Kế thừa và phát huy các giá trị tinh thần, đạo đức, thẩm mỹ, các di sản văn hóa, nghệ thuật của dân tộc Bảo tồn và tôn tạo các di tích lịch sử, văn hóa

và danh lam thắng cảnh của đất nước

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng khẳng định: “Tiếp tục

phát triển và nâng cao chất lượng các hoạt động văn hóa, văn học nghệ thuật, xây dựng một nền văn hóa văn nghệ xã hội chủ nghĩa, đậm đà bản sắc dân tộc” [9;222]

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội

được thông qua tại Đại hội VII có viết: “Kế thừa và phát huy những truyền

thống văn hóa tốt đẹp của tất cả các dân tộc các nước, tiếp thu những tinh hoa văn hóa nhân loại, xây dựng một xã hội dân chủ, văn minh, vì lợi ích chân chính và phẩm giá con người, với trình độ tri thức, đạo đức, thể lực và thẩm mỹ ngày càng cao” [7;10]

Đi sâu hơn nữa vào lĩnh vực bảo tồn và phát huy di sản văn hóa dân tộc, Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VII có đề ra: Trước mắt, tập trung xây dựng , một số luật cần thiết như xuất bản, luật bảo

vệ di tích văn hóa dân tộc…đầu tư nâng cấp và chống xuống cấp các bảo tàng, các di tích lịch sử và văn hóa, xây dựng những tượng đài về các anh hùng dân tộc

và danh nhân văn hóa Có chính sách toàn diện bảo vệ và phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số trong cộng đồng dân tộc Việt Nam Có quy định nghiêm ngặt bảo vệ những giá trị văn hóa của dân tộc

Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VII khẳng định: Xây dựng lối sống lành mạnh, văn minh, phát huy những thuần phong mỹ tục của dân tộc, giáo dục tinh thần quý trọng và bảo vệ các di tích lịch

sử và cách mạng

Như vậy, công tác bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa đã được Đảng ta quan tâm từ rất sớm ngay cả khi đất nước đang trong thời kì kháng

Trang 40

chiến chống giặc ngoại xâm Và khi đất nước được giải phóng, đường lối của Đảng đã được bổ sung, hoàn thiện và trong công tác lãnh đạo thực hiện đã đạt được những thành tích đáng kể để góp phần gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc

* Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Nam Định

Là vùng đất được hình thành từ lâu đời và trải qua nhiều thăng trầm của lịch sử, năm 1832 dưới triều Nguyễn tỉnh chính thức được đặt tên thành Nam Định Trải qua bao biến cố lịch sử của dân tộc cùng với hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, xuất phát từ nhu cầu thực tế và yêu cầu việc tổ chức lãnh đạo có hiệu quả đường lối đổi mới của Đảng, ngày 1-4-1965 Uỷ ban thường vụ Quốc hội ra Nghị quyết số 103/NQ-TVQH phê chuẩn việc lập tỉnh mới trên cơ sở sát nhập hai tỉnh Nam Định và Hà Nam thành tỉnh Nam Hà Từ 27-12-1975, Nam Hà lại được hợp nhất với Ninh Bình thành tỉnh Hà Nam Ninh Ngày 26-12-1991, tỉnh Nam Hà lại được tái lập Sau một thời gian dài hoạt động, thực hiện Nghị quyết của Quốc hội khoá IX, kỳ họp thứ 10 ngày 6-11-1996, tỉnh Nam Hà chia tách thành hai tỉnh là Hà Nam và Nam Định

Từ khi thành lập cùng với quá trình sát nhập và chia tách tỉnh, các Đảng

bộ Hà Nam Ninh cũng như Đảng bộ Nam Hà đã có nhiều cố gắng thực hiện tốt nhiệm vụ, vượt qua mọi khó khăn thư thách để giành nhiều thắng lợi trong

sự nghiệp xây dựng đất nước cũng như sự nghiệp xây dựng tỉnh thêm giàu mạnh trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội và văn hóa Một trong những nhiệm vụ cấp thiết đặt ra cán bộ nhân dân tỉnh để giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc Dưới sự tàn phá của chiến tranh cũng như ý thức của người dân

về giá trị của các di sản văn hóa chưa được cao mà các di sản văn hóa bị xâm hại trầm trọng, vì vậy bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa trên địa bàn tỉnh

là nhiệm vụ quan trọng mà Đảng bộ phải chú trọng thực hiện

Tháng 12 năm 1990, Uỷ ban nhân dân tỉnh Hà Nam Ninh đã trình lên

Bộ Văn hóa hồ sơ di tích và văn bản đề nghị công nhận các di tích lịch sử trên

Ngày đăng: 05/01/2016, 17:12

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban Quản lý di tích và thắng cảnh tỉnh Nam Định (2008), Di tích lịch sử - văn hóa, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Di tích lịch sử - văn hóa
Tác giả: Ban Quản lý di tích và thắng cảnh tỉnh Nam Định
Nhà XB: Nxb Văn hóa dân tộc
Năm: 2008
2. Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương (2004), Tài liệu nghiên cứu Kết luận Hội nghị lần thứ X, Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá IX, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu nghiên cứu Kết luận Hội nghị lần thứ X, Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá IX
Tác giả: Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2004
3. Vũ Minh Chi (2004), Nhân học văn hóa – con người với thiên nhiên, xã hội và thế giới siêu nhiên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhân học văn hóa – con người với thiên nhiên, xã hội và thế giới siêu nhiên
Tác giả: Vũ Minh Chi
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2004
4. Cục di sản văn hóa, 2007, Công ước về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể, Nxb Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công ước về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể
Nhà XB: Nxb Thế giới
8. Đảng Cộng sản Việt Nam (1976), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1976
9. Đảng Cộng sản Việt Nam (1987), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1987
10. Đảng Cộng sản Việt Nam (1992), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1992
11. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1996
12. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
13. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
14. V.I. Lênin (1978), Toàn tập, tập 44, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: V.I. Lênin
Nhà XB: Nxb Tiến bộ
Năm: 1978
15. V.I. Lênin (1978), Toàn tập, tập 45, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: V.I. Lênin
Nhà XB: Nxb Tiến bộ
Năm: 1978
16. Luật Di sản văn hoá và Nghị định hướng dẫn thi hành (2003), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Di sản văn hoá và Nghị định hướng dẫn thi hành
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2003
17. Hồ Chí Minh (2002), Toàn tập, tập 3, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập, tập 3
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2002
18. Hồ Chí Minh (1981), Văn hóa văn nghệ cũng là một mặt trận, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa văn nghệ cũng là một mặt trận
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1981
19. Trần Ngọc Thêm (1995), Cơ sở văn hóa Việt Nam, Nxb Trường đại học Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở văn hóa Việt Nam
Tác giả: Trần Ngọc Thêm
Nhà XB: Nxb Trường đại học Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh
Năm: 1995
20. Đỗ Đình Thọ, (2010), Nghề và làng nghề truyền thống ở Nam Định, Nxb Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghề và làng nghề truyền thống ở Nam Định
Tác giả: Đỗ Đình Thọ
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 2010
21. Hồ Đức Thọ (2003), Lễ hội cổ truyền ở Nam Định, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lễ hội cổ truyền ở Nam Định
Tác giả: Hồ Đức Thọ
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2003
22. Hồ Đức Thọ (2006), Trần miếu (Đền Trần – Nam Định) - di sản và tín ngưỡng dân gian, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trần miếu (Đền Trần – Nam Định) - di sản và tín ngưỡng dân gian
Tác giả: Hồ Đức Thọ
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2006
28. Trang thông tin điện tử tỉnh Nam Định: http://www.namdinh.gov.vn Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w