1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tư tưởng hồ chí minh về đạo đức cách mạng của cán bố đảng viên ở việt nam hiện nay

100 578 7

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 1,23 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Được tôi luyện, trưởng thành trong bão táp cách mạng và kế thừa những tinh hoa của dân tộc, tiếp thu những yếu tố tích cực, tiến bộ của thời đại, đội ngũ cán bộ đảng viên đã không ngừng

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

========================

NGUYỄN THỊ NGUYỆT

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG VỚI VIỆC GIÁO DỤC, RÈN LUYỆN ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG CỦA CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SỸ TRIẾT HỌC

Hà Nội - 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

========================

NGUYỄN THỊ NGUYỆT

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG VỚI VIỆC GIÁO DỤC, RÈN LUYỆN ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG CỦA CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SỸ Chuyên ngành: Triết học

Mã số: 60 22 03 01

NGƯỜI HƯỚNG DẪN: PGS TS PHẠM VĂN NHUẬN

Hà Nội – 2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này là kết quả nghiên cứu của tôi dưới sự hướng dẫn của PGS TS Phạm Văn Nhuận

Tôi xin cam đoan đề tài này không trùng với bất cứ đề tài luận văn thạc sĩ nào đã được công bố ở Việt Nam

Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung của đề tài

Người cam đoan

Nguyễn Thị Nguyệt

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Em xin chân thành cảm ơn PGS TS Phạm Văn Nhuận, hiện đang công tác tại Viện Khoa học xã hội và nhân văn quân sự, đã hướng dẫn em hoàn thành luận văn này

Đồng thời, em cũng chân thành cảm ơn sự tận tình chỉ bảo của các thầy giáo, cô giáo trong khoa Triết học, trường Đại học khoa học xã hội và Nhân văn Hà Nội, và tất cả người thân, bạn bè đã luôn sát cánh giúp đỡ, trong suốt quá trình học tập cũng như trong thời gian thực hiện luận văn vừa qua

Em xin chân thành cảm ơn!

Trang 5

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU: 1

CHƯƠNG 1: NGUỒN GỐC VÀ NỘI DUNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG 6

1.1 Cơ sở lý luận và thực tiễn hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng 6

1.1.1.Cơ sở lý luận 6

1.1.2.Cơ sở thực tiễn 9

1.1.3.Quan niệm của Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng 12

1.2 Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng 18

1.2.1 Tư tưởng Hồ Chí Minh về vị trí, vai trò của đạo đức cách mạng 18

1.2.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về những chuẩn mực đạo đức cơ bản của cán bộ, đảng viên 20

1.2.2 Những nguyên tắc cơ bản trong quan niệm của Hồ Chí Minh về xây dựng đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên 30

CHƯƠNG 2: MỘT SỐ NỘI DUNG GIÁO DỤC VÀ RÈN LUYỆN ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG CỦA CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY DƯỚI ÁNH SÁNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH 41

2.1 Thực trạng đạo đức của cán bộ, đảng viên ở Việt Nam hiện nay 41

2.1.1 Những kết quả đạt được trong giáo dục rèn luyện đạo đức của cán bộ, đảng viên ở Việt Nam hiện nay 41

2.1.2 Những hạn chế về đạo đức của cán bộ, đảng viên ở Việt Nam hiện nay 50

2.1.3 Nguyên nhân 59

2.2 Một số vấn đề đặt ra trong việc giáo dục rèn luyện đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên ở Việt Nam hiện nay 67

2.2.1 Nền kinh tế thị trường phát triển đã ảnh hưởng tiêu cực đến đạo đức của cán bộ, đảng viên 67

Trang 6

2.2.2 Kiên quyết xử lý nghiêm minh những cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống 70

2.3 Những giải pháp chủ yếu nhằm kế thừa và phát huy đạo đức cách mạng của Hồ Chí Minh trong việc giáo dục rèn luyện đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên ở Việt Nam hiện nay 71

2.3.1 Đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên về tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh 71 2.3.2 Thực hiện tốt việc“Tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” góp phần nâng cao chất lượng giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên trong giai đoạn hiện nay 75 2.3.3 Tăng cường công tác tổ chức cán bộ và sinh hoạt Đảng 79 2.3.4 Mỗi cán bộ, đảng viên luôn tích cực tự giáo dục, tự rèn luyện đạo đức cách mạng theo tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh để thực sự là công bộc của dân 82

KẾT LUẬN 86 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 88

Trang 8

Đảng ta lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hoạt động cách mạng luôn vững vàng chèo lái con thuyền cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này tới thắng lợi khác ngày càng to lớn hơn Đảng luôn tự chỉnh đốn, tự đổi mới, giữ vững vai trò lãnh đạo, tổ chức mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam được quần chúng nhân dân tin cậy và yêu mến -

"Đảng ta là đạo đức là văn minh" Tuy vậy, trong những năm qua, trong Đảng có nhiều biểu hiện yếu kém, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một

bộ phận cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp cần tập trung đấu tranh ngăn chặn Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ tư, khóa XI

đã ra Nghị quyết “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” Trong đó,

một vấn đề cần thực hiện trước mắt là thực hiện Chỉ thị số 03-CT/TW (ngày 14 /

5 / 2011 của Bộ Chính trị) Về tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh một cách thiết thực, hiệu quả nhất Đây là yêu cầu

vừa cơ bản lâu dài, vừa đòi hỏi cấp bách trong quá trình đổi mới đất nước ta hiện nay, để đạo đức cách mạng của con người Việt trong thời đại mới không ngừng được củng cố, phát triển Bởi vậy việc tiếp tục đi sâu nghiên cứu, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là điều rất quan trọng và cấp thiết đối với toàn xã hội, mà trước hết là đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên trong Đảng và bộ máy Nhà nước

Trong sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc trước đây, cũng như trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay, đội

Trang 9

ngũ cán bộ, đảng viên luôn giữ vai trò rất quan trọng, là lực lượng nòng cốt đưa đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước vào cuộc sống Được tôi luyện, trưởng thành trong bão táp cách mạng và kế thừa những tinh hoa của dân tộc, tiếp thu những yếu tố tích cực, tiến bộ của thời đại, đội ngũ cán bộ đảng viên đã không ngừng nâng cao trình độ chính trị, học vấn, chuyên môn, nghiệp vụ, lãnh đạo, quản lý và vận động quần chúng, phát huy vai trò tiên phong, gương mẫu, đủ cả phẩm chất và năng lực góp phần xứng đáng vào thắng lợi của sự nghiệp cách mạng.Tuy nhiên, trong quá trình xây dựng đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, những mặt trái của cơ chế thị trường đã không ngừng tác động đến tư tưởng, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên, làm tha hóa một bộ phận không nhỏ cán bộ đảng viên, suy giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng, chế độ Đối với mỗi cán bộ, đảng viên, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là nhiệm vụ rất quan trọng và thường xuyên, qua đó để giáo dục, rèn luyện mình xứng đáng là đảng viên của Đảng cộng sản Việt Nam là “người lãnh đạo, người đầy tớ thật trung thành của nhân dân” Do đó, tôi quyết định chọn vấn đề

“Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng với việc giáo dục, rèn luyện

đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài luận

văn nghiên cứu của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung, tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh nói riêng là một vấn đề lý luận cơ bản đã và đang thu hút được sự quan tâm nghiên cứu và vận dụng của nhiều tổ chức và cá nhân, cả trong nước và trên thế giới Chương trình nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh (KX02) của quốc gia do GS Đặng Xuân Kỳ làm chủ nhiệm, trong đó có đề tài: Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức (KX 02.08), do PGS, PTS Nguyễn Văn Truy - chủ

nhiệm, sau nghiệm thu được xuất bản cuốn sách mang tên “Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996 Đây là một công

trình nghiên cứu công phu của tập thể tác giả các nhà khoa học đã có nhiều năm nghiên cứu về tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung, Tư tưởng Hồ Chí Minh

Trang 10

gốc, đặc trưng và nội dung cơ bản và khẳng định giá trị trường tồn của tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh làm cơ sở cho việc quán triệt và vận dụng tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh vào thực tiễn cách mạng hiện nay

Để phục vụ cho đề tài nghiên cứu cơ bản này, còn có các công trình nghiên

cứu chuyên khảo khác như: “Hồ Chí Minh về đạo đức” - trích dẫn tư tưởng đạo đức của Hồ Chí Minh; “Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh - truyền thống và nhân loại”, Kỷ yếu hội thảo (1993), cùng nhiều bài nghiên cứu khác được

đăng trên các báo, tạp chí ở cả trong nước và ngoài nước

Nghiên cứu về cuộc đời và sự nghiệp của Hồ Chí Minh, giá trị quý báu nhất thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà khoa học cả ở trong và ngoài nước chính là những nội dung về tư tưởng và đạo đức Hồ Chí Minh;

có nhiều nội dung đề cập tới đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên hoạt động trên các lĩnh vực của đời sống xã hội Nhiều bài viết, công trình nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng của người cán bộ, đảng viên đã được xuất bản thành sách và công bố trên các báo, tạp chí trong và ngoài nước Chẳng hạn, về tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh có các cuốn sách:

“Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng” (Nxb Sự thật, Hà Nội, 1976); “Chủ tịch Hồ Chí Minh với vấn đề đạo đức cách mạng” (Nxb Thông tin lý luận,

Hà Nội, 1986); “Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh” (Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1993)… và các công trình khoa học: “Giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên theo Di Chúc của chủ tịch Hồ Chí Minh” (Lê Hữu Cát, Mạc Văn Nam, Tạp chí Triết học, số 9, Hà Nội, 2004); “Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng của người cán bộ quân đội”, TS Phạm Văn Nhuận (chủ biên), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2004; “ Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức” (Lê Trọng Ân, Tạp chí Triết học, số 1, Hà Nội, 2005); “ Nói đi đôi với làm phải nêu gương về đạo đức - một nguyên tắc cơ bản của đạo đức Hồ Chí Minh” (Song Thành, Tạp chí Cộng sản, số

11, Hà Nội, 2005); “ Đạo đức cách mạng trong tư tưởng Hồ Chí Minh qua các phạm trù mà người đã sử dụng” (Hoàng Trung, Luận án Tiến sĩ Triết học, Hà Nội, 2005); “Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh với việc nâng cao đạo

Trang 11

đức cán bộ, đảng viên hiện nay” (Lê Hữu Nghĩa, Tạp chí Cộng sản, số 2 - 3,

Hà Nội, 2006); “Học tập Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh - xây dựng nền văn hóa đạo đức ở nước ta hiện nay”, PGS, TS Thành Duy và TS Lê Quý Đức, Nxb Lí luận Chính trị, Hà Nội, 2007; “Tư tưởng Hồ Chí Minh về nâng cao đạo đức cách mạng và đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân” (Vũ Thị Hồng

Lê, Luận văn Thạc sĩ Triết học, Hà Nội, 2007); “Giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng theo tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trong quân đội hiện nay”, PGS, TS Phạm Văn Nhuận (Chủ biên), Nxb Quân đội

nhân dân, Hà Nội, 2008).v.v

Các công trình nghiên cứu nêu trên đã đề cập và làm rõ những vấn đề trong quan niệm của Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng, đem lại những đóng góp thiết thực trong nghiên cứu, học tập, rèn luyện đạo đức cách mạng cho các đối tượng khác nhau theo tư tưởng và tấm gương đạo đức cách mạng của Người Tuy nhiên, vấn đề Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh với việc nâng cao hiệu quả giáo dục, rèn luyện đạo đức của cán bộ, đảng viên ở nước ta hiện nay vẫn chưa được tập trung nghiên cứu một cách cụ thể, sâu sắc

Vì vậy, để đẩy mạnh hơn nữa nghiên cứu Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng với việc giáo dục,rèn luyện đạo đức cách mạng của cán

bộ, đảng viên ở nước ta hiện nay là rất cơ bản và cấp thiết

3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài

- Mục đích: Làm sâu sắc những vấn đề lí luận và thực tiễn của tư tưởng

Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng; đồng thời làm rõ thực trạng giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên ở Việt Nam hiện nay

Trang 12

Đề xuất những giải pháp cơ bản nhằm giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên ở Việt Nam hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng: Những quan niệm, tư tưởng cơ bản của Hồ Chí Minh về

đạo đức cách mạng và thực trạng giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên ở Việt Nam

- Phạm vi: Đề tài tập trung nghiên cứu những vấn đề lí luận và thực tiễn

về đạo đức Hồ Chí Minh và vận dụng vào việc giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên ở Việt Nam hiện nay;

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài

- Cơ sở lý luận: Đề tài dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa duy vật biện

chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, những nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin

và Tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng về đạo đức cách mạng nhằm phục vụ cho việc phát triển kinh tế - xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa

- Phương pháp nghiên cứu: Đề tài đã sử dụng các phương pháp: phân tích, tổng hợp, lôgic - lịch sử, so sánh

6 Đóng góp mới về mặt khoa học của đề tài

Đề tài góp phần làm rõ quan niệm của Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng; đề xuất những giải pháp cơ bản góp phần vào giáo dục và rèn luyện đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên theo tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

- Ý nghĩa lý luận: Đề tài góp phần vào việc tìm hiểu, làm sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng với việc giáo dục và rèn luyện đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên

- Ý nghĩa thực tiễn: Đề tài có thể dùng làm tài liệu tham khảo phục vụ nghiên cứu, học tập môn Triết học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các chuyên ngành khoa học khác có liên quan

8 Kết cấu của đề tài

Gồm mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, 2 chương, (5 tiết)

Trang 13

Chương 1 NGUỒN GỐC VÀ NỘI DUNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

VỀ ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG 1.1 Cơ sở lý luận và thực tiễn hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng

có sự thống nhất chặt chẽ giữa tư tưởng và tấm gương đạo đức cách mạng

Đó là nét đặc trưng làm nên sức sống, sự lan tỏa mạnh mẽ của đạo đức Hồ Chí Minh sau khi ra đời đã nhanh chóng được mọi tầng lớp nhân dân tiếp nhận, phổ biến trong toàn Đảng, toàn dân và nhanh chóng trở thành đạo đức phổ biến, chủ đạo của xã hội

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng và tư tưởng đạo đức truyền thống của dân tộc có mối quan hệ chặt chẽ; đạo đức Hồ Chí Minh là đạo đức cộng sản chủ nghĩa nhưng mang những đặc điểm rất Việt Nam cả về nội dung và hình thức biểu hiện Đó là sự kết hợp sáng tạo thế giới quan của chủ nghĩa Mác - Lênin, nhân sinh quan cộng sản chủ nghĩa với những tinh hoa truyền thống của dân tộc Việt Nam, một dân tộc văn hiến, coi trọng phẩm giá con người và những giá trị tinh thần trong đời sống xã hội.Từ ngàn xưa, dân tộc ta đã sớm có ý thức cộng đồng, giàu lòng yêu nước, biết đoàn kết,cố kết cộng đồng trong đấu tranh chống thiên tai, giặc dã, bảo vệ và xây dựng đất nước Hồ Chí Minh rất biết quý trọng truyền thống đạo đức dân tộc và thường xuyên chắt lọc giá trị tốt đẹp, bồi đắp truyền thống yêu nước thương nòi của dân tộc ta

Trang 14

Đạo đức truyền thống của dân tộc ta khuyên bảo con người ăn ở có tình, có nghĩa, có đức, có nhân, biết trung, biết hiếu, v.v Hồ Chí Minh đã đưa vào những khái niệm đạo đức truyền thống ấy thế giới quan khoa học và nhân sinh quan cộng sản, hình thành những nguyên tắc, chuẩn mực của một nền đạo đức mới để giáo dục cán bộ, đảng viên và nhân dân Hồ Chí Minh là người đạt đến nghệ thuật trong việc sử dụng những từ ngữ quen thuộc với quần chúng để diễn đạt nội dung của đạo đức mới một cách dễ hiểu, dễ đi vào lòng người

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng còn chịu ảnh hưởng sâu sắc của hoàn cảnh quê hương và gia đình vốn gắn bó với cuộc sống hàng ngày của Người Tính cách xứ Nghệ với những đặc điểm như: lý tưởng trong tâm hồn, trung kiên trong bản chất, khắc khổ trong sinh hoạt, cứng cỏi trong giao tiếp… mang ý nghĩa, giá trị đạo đức nhân văn sâu sắc Đặc biệt, Nghệ Tĩnh là nơi đã sản sinh ra nhiều tấm gương yêu nước, hy sinh vì độc lập tự do của dân tộc Hồ Chí Minh được sinh ra trong một gia đình nhà nho yêu nước, có nếp sống văn hóa đạo đức rất tiêu biểu Đó là những hoàn cảnh, môi trường văn hóa đạo đức rất sâu sắc mà Hồ Chí Minh đã được tiếp nhận từ lúc thiếu thời, một môi trường đặc biệt tác động, in đậm dấu ấn đến quá trình hình thành tư tưởng

Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng sau này của Người

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng còn được hình thành trên

cơ sở tiếp thu tinh hoa đạo đức phương Đông và phương Tây, mà cốt lõi là đạo đức Mác - Lênin Hồ Chí Minh là một người mác-xít nhưng Người không ngần ngại, mà trái lại, luôn bày tỏ sự ngưỡng mộ của mình đối với những người sáng lập các tôn giáo lớn trên thế giới và đặc biệt trân trọng các giá trị nhân văn đạo đức cao cả mà các bậc vĩ nhân đó đã đúc rút, sáng tạo được và ngưỡng mộ

chính phẩm hạnh của họ Hồ Chí Minh đã có nhận xét rất xác đáng rằng: "Học

thuyết của Khổng Tử có ưu điểm của nó là sự tu dưỡng đạo đức cá nhân.Tôn giáo Giê-su có ưu điểm của nó là lòng nhân ái cao cả.Chủ nghĩa Mác có ưu điểm của nó là phương pháp làm việc biện chứng Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có

Trang 15

ưu điểm là chính sách của nó thích hợp với điều kiện của nước ta Khổng Tử,

Giê xu, Mác, Tôn Dật Tiên chẳng phải đã có những điểm chung đó sao? Họ

đều muốn "mưu hạnh phúc cho loài người, cho xã hội" Tôi cố gắng làm

người học trò nhỏ của các vị ấy” [10,tr 51]

Đạo đức phương Đông cũng đã có ảnh hưởng rất lớn đến việc hình thành

tư tưởng đạo đức cách mạng Hồ Chí Minh Trong di sản văn hóa phương Đông, Hồ Chí Minh không chỉ giản đơn sử dụng các khái niệm và mệnh đề Nho giáo, mà trái lại, Người đã tiếp thu có chọn lọc những nội dung, mặt tích cực của Nho giáo như: ở “sự tu dưỡng đạo đức cá nhân”; phẩm chất hiếu học;

về triết lý hành động, nhân nghĩa, ước vọng về một xã hội bình trị, hòa mục, thế giới đại đồng; về một triết lý nhân sinh, tu thân, tề gia, trị quốc; đề cao văn hóa trung hiếu “ dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh” Các khái niệm

“trung, hiếu, trí, dũng, liêm” đã được Người kế thừa và phát triển một cách rất sáng tạo, biết "gạn đục khơi trong" từ những lý thuyết cũ, chắt lọc lấy cái có giá trị, bổ sung những nội dung mới

Đối với Phật giáo, Hồ Chí Minh tiếp thu giá trị tư tưởng đạo đức: vị tha,

từ bi, bác ái, cứu khổ, cứu nạn, coi trọng tinh thần bình đẳng, chống phân biệt đẳng cấp, chăm lo điều thiện,v.v Hồ Chí Minh còn tiếp thu Chủ nghĩa tam dân của Tôn Trung Sơn Người ca ngợi chính sách của nó là “phù hợp với điều kiện của nước ta” và sử dụng học thuyết Tam dân vào việc mưu cầu hạnh phúc cho dân tộc Các giá trị cơ bản như độc lập - tự do - hạnh phúc đã được Người lựa chọn sử dụng làm mục tiêu phấn đấu, xây dựng một xã hội mới ở Việt Nam xuyên suốt quá trình hoạt động cách mạng

Nghiên cứu, tiếp thu những giá trị tư tưởng đạo đức phương Tây, Hồ Chí Minh đã tìm thấy ở tư tưởng bác ái của Đức Chúa Giê-su “lòng nhân ái cao cả” Đặc biệt, Người chịu ảnh hưởng sâu sắc tư tưởng “tự do, bình đẳng, bác ái” trong Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền (năm 1791) của Đại cách mạng

tư sản Pháp Điều đó đã thôi thúc Người ra đi tìm đến tận quê hương của những

tư tưởng ấy để xem thực tế nó như thế nào Về tư tưởng dân chủ của cách mạng

Trang 16

Mỹ, Người đã tiếp thu giá trị về quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc Nước Pháp là nơi mà chủ nghĩa nhân văn rất phát triển Chủ nghĩa nhân văn là đạo đức về sự cao quý của con người Ở đây, Hồ Chí Minh đã có điều kiện tiếp xúc với các trào lưu tư tưởng triết học tiến bộ mà đại biểu là tư tưởng của các nhà triết học thời kỳ Khai sáng và thời kỳ cách mạng tư sản Pháp, như Diderot, Voltaire, Rousseau, Montesquieu… và chủ nghĩa xã hội không tưởng của Xanhximông, Phuriê, Ôoen… Các nhà tư tưởng này đều hướng đến một xã hội lý tưởng, đề cao con người Hồ Chí Minh không chỉ học hỏi, tiếp thu được kho tàng lý luận của phương Tây mà còn học hỏi được nhiều điều từ bạn bè quốc tế trong quá trình sống và làm việc ở đó Người hiểu được tấm lòng khoan dung độ lượng của con người nơi đây

Đặc biệt, từ năm 1920, Hồ Chí Minh đã đến được với chủ nghĩa Mác Lênin Đây được coi là nguồn gốc lý luận trực tiếp quyết định bản chất của tư tưởng Hồ Chí Minh, làm cho tư tưởng và hành động của Người trở nên khoa học và cách mạng Hồ Chí Minh không tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lênin một cách rập khuôn, máy móc, giáo điều, mà Người nắm vững cái cốt lõi, linh hồn sống của nó là phương pháp biện chứng duy vật để giải quyết thành công các vấn đề thực tiễn của cách mạng Việt Nam Hồ Chí Minh ca ngợi phương pháp làm việc biện chứng, đề cao phần tinh túy nhất, sâu sắc nhất trong học thuyết Mác - Lênin mang tính nhân đạo, nhân văn cao cả Như vậy, học thuyết Mác - Lênin nói chung, về đạo đức nói riêng không phải là nguồn gốc lý luận duy nhất của tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức, nhưng là nguồn gốc lý luận nền tảng và chủ yếu nhất, chính nhờ nguồn gốc này mà Hồ Chí Minh đã tiếp thu

-và phát triển đạo đức truyền thống của dân tộc -và nhân loại lên một tầm cao mới, mang bản chất khoa học và cách mạng trở thành Đạo đức mới, Đạo đức cách mạng Việt Nam

1.1.2 Cơ sở thực tiễn

Cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, đất nước ta rơi vào cảnh nô lệ lầm than dưới ách thống trị của đế quốc thực dân Pháp Nhân dân ta đã liên tiếp nổi dậy

Trang 17

chống lại ách cai trị của thực dân Pháp nhưng do thiếu đường lối chính trị đúng đắn lãnh đạo nên các phong trào đấu tranh đều lần lượt thất bại Giữa lúc đó, Hồ Chí Minh đã ra đi tìm đường cứu nước Người đã đến nhiều nước thuộc địa ở khắp các châu lục Á, Phi, Mỹ, Âu cũng như các nước tư bản phát triển nhất - Mỹ, Anh, Pháp Người vừa kiếm sống, vừa hoạt động trong các phong trào công nhân và lao động ở nhiều nước trên thế giới Người được tiếp xúc với những người lao động nghèo khổ và thấy được những bất công của xã hội tư bản Điều đó càng thôi thúc Người tìm cho được con đường cứu nước, giải phóng dân tộc, giải phóng nhân loại cần lao Hồ Chí Minh ra sức học tập, nghiên cứu các trào lưu tư tưởng cách mạng, các thể chế chính trị và từng bước đến với chủ nghĩa Mác - Lênin; tìm thấy con đường đúng đắn cứu nước, giải phóng dân tộc là con đường cách mạng vô sản Từ đó, Người xây dựng nên lý luận về cách mạng thuộc địa để lãnh đạo, tổ chức, xây dựng lực lượng, đưa cách mạng Việt Nam tiến lên giành thắng lợi

Như vậy, thực tiễn phong phú của thời đại và hoạt động thực tiễn cách mạng mà Hồ Chí Minh đã từng trải qua là một nguồn gốc, cơ sở có ý nghĩa quyết định đối với sự hình thành, phát triển và hoàn thiện tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng Còn về mặt chủ quan do chính nhân cách vĩ đại của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh, nói đi đôi với làm, lý luận gắn với thực tiễn đã từng bước xây dựng nên tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung, tư tưởng

về đạo đức cách mạng nói riêng Có thể nói rằng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là một tấm gương đạo đức của một vĩ nhân, một lãnh tụ cách mạng vĩ đại, nhưng đó đồng thời cũng là tấm gương đạo đức của một người bình thường, ai cũng có thể học theo để trở thành một người cách mạng chân chính, một công dân tốt trong xã hội Tấm gương đạo đức của Người được thể hiện đó là:

Đạo đức Hồ Chí Minh là tấm gương trọn đời phấn đấu, hy sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người và nhân loại Hồ Chí Minh luôn có một ham muốn là làm sao cho nước nhà được hoàn

Trang 18

toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc,

ai cũng được học hành Trên con đường thực hiện mục tiêu đó, Người đã chấp nhận sự hy sinh, không quản gian nguy, kiên định, dũng cảm và sáng suốt để vượt qua mọi khó khăn, thách thức, thực hiện bằng được mục tiêu đó Sự kiên định mục tiêu phấn đấu trong suốt cuộc đời của Hồ Chí Minh đã được nhân dân thế giới thừa nhận và kính phục Cuộc đời của Hồ Chí Minh là một chuỗi năm tháng đấu tranh vô cùng gian khổ, vượt qua bao khó khăn, Người kiên trì mục đích của cuộc sống, bảo vệ chân lý, giữ vững quan điểm, khí phách; bình tĩnh, chủ động vượt qua mọi thử thách Hồ Chí Minh là một người hết lòng thương yêu, quý trọng đối với nhân dân Người luôn đặt lợi ích của nhân dân lên trên hết, luôn dựa vào dân, “lấy dân làm gốc” Người giáo dục cán bộ, đảng viên phải nêu cao tinh thần phục vụ, tinh thần trách nhiệm trước nhân dân, phải chăm lo đời sống vật chất và tinh thần đối với nhân dân, bởi “nếu nước được độc lập mà dân không được hưởng hạnh phúc, tự do thì độc lập cũng không có nghĩa lý gì” Người dạy cán bộ phải gần dân, không được lên mặt “quan cách mạng”, cậy quyền cậy thế đè đầu cưỡi cổ dân Mặc dù uy tín rất cao, được nhân dân suy tôn là “vị cha già dân tộc”, nhưng không bao giờ Người xem mình đứng cao hơn nhân dân Người coi việc gánh chức Chủ tịch cũng như việc

“người lính vâng mệnh lệnh quốc dân ra mặt trận”

Hồ Chí Minh có một tấm lòng nhân ái, vị tha, khoan dung, nhân hậu hết mực Cả cuộc đời Người chăm lo cho hạnh phúc của nhân dân, cả cuộc đời Người lo cho dân tộc Việt Nam Trái tim yêu thương mênh mông của Người

ôm trọn mỗi nỗi đau khổ của nhân dân Tình thương yêu đó được mở rộng đối với nhân dân lao động toàn thế giới Đối với những người lầm đường, ngay cả những người chống đối hay kẻ thù, Hồ Chí Minh cũng thể hiện một tấm lòng khoan dung, độ lượng hiếm có Đối với kẻ thù khi chúng đã bị thất thế, đầu hàng, Người luôn luôn nhắc nhở chúng ta phải đối xử với chúng một cách khoan hồng, phải làm “cho thế giới biết rằng dân tộc ta là một dân tộc văn minh, văn minh hơn bọn đi giết người, cướp nước”

Trang 19

Hồ Chí Minh còn là con người chí công vô tư, luôn sống giản dị và khiêm tốn, cần kiệm, ít lòng ham muốn về vật chất, đó là “tư cách của người cách mạng” Người đề ra và tự mình gương mẫu thực hiện Cuộc đời của Người từ một thợ ảnh bình thường ở ngõ hẻm Công-poanh đến khi làm chủ tịch nước, sống giữa thủ đô Hà Nội, vẫn là một cuộc đời thanh bạch, giản dị, tao nhã Khách nước ngoài vào thăm nhà sàn của Bác đã rất xúc động khi được biết Người không hề có một chút của riêng Đó là một “cuộc đời thanh bạch chẳng vàng son”, suốt đời thực hiện cần kiệm liêm chính Nét nổi bật trong đạo đức Hồ Chí Minh là sự khiêm tốn phi thường Mặc dù có công lao rất lớn, Người không

để ai sùng bái cá nhân mình mà luôn luôn nêu cao sự nghiệp của toàn đảng, toàn dân, toàn quân ta Người nói: Quần chúng mới là người làm nên lịch sử và lịch

sử là lịch sử của chính họ chứ không phải của một cá nhân anh hùng nào

Bấy nhiêu đức tính cao cả chung đúc lại trong một con người đã làm cho tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trở nên cao thượng tuyệt vời Nhưng cũng chính từ sự kết hợp của những đức tính đó, Người là tấm gương cụ thể, gần gũi

mà mọi người đều có thể noi theo

Như vậy có thể nói, từ những học thuyết cổ, kim, đông, tây đã được Hồ Chí Minh tiếp nhận sáng tạo, “gạn đục khơi trong” để xây dựng cho mình một

hệ thống tư tưởng Đạo đức mới, Đạo đức cách mạng Việt Nam

1.1.3 Quan niệm của Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng

Trước khi nghiên cứu về đa ̣o đức Hồ Chí Minh, chúng ta cần phải nghiên cứu thâ ̣t kỹ những khái ni ệm cơ bản như đa ̣o đức , tư tưởng đạo đức

Hồ Chí Minh, quan điểm của Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng làm tiền đề quan tro ̣ng để chúng ta có thể nhâ ̣n thức được lý do ta ̣i sao cần phải giáo du ̣c ,

rèn luyện đa ̣o đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên ở Việt Nam hiện nay

Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, xuất hiện từ khi con người thoát thai từ động vật và có những biến chuyển trong quá trình phát triển xã hội loài người Đạo đức thuộc về ý thức xã hội thể hiện sự phản ánh của con người trong mối quan hệ với tự nhiên - xã hội và ngay chính bản thân con người với

Trang 20

nhau, thể hiện trình độ phát triển của con người trong những giai đoạn lịch sử nhất định Xét về yếu tố cá nhân, đạo đức là nhân tố quan trọng bậc nhất trong nhân cách của mỗi một con người, nó thể hiện mối quan hệ giữa bản thân cá nhân với cộng đồng xã hội và giới tự nhiên Đây cũng là lý do tại sao trong

tác phẩm Luận cương về Phoi-ơ-bắc, C.Mác lại khẳng định: Trong tính hiện

thực của mình, bản chất con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội [35, tr.11] Con người là động vật cao cấp, nhưng khác biệt với tự nhiên, con người có các mối quan hệ xã hội Và chính đạo đức của con người được hình thành từ các mối quan hệ xã hội đó, hay nói cách khác, đạo đức xã hội chính

là thành tố quan trọng của bản chất “xã hội” của con người

Danh từ đạo đức bắt nguồn từ tiếng Latinh là mos, moris, nghĩa là lề

thói “moralis”, nghĩa là có liên quan đến lề thói, đạo nghĩa Còn có một danh

từ thường được xem như đồng nghĩa với đạo đức là luân lý học, có gốc từ chữ

Hy Lạp là ethicos, cũng có nghĩa là lề thói, tập tục Như vậy, khi ta nói đến

đạo đức là nói đến những lề thói, tập tục biểu hiện mối quan hệ nhất định giữa người với người trong giao tiếp với nhau hàng ngày

Ở phương Đông, các học thuyết về đạo đức của người Trung Quốc cổ đại xuất hiện sớm Đạo có nghĩa là con đường, đường đi, là đường sống của con người trong xã hội Đức dùng để nói đến nhân đức, đức tính và nhìn chung đức là biểu hiện của đạo, là đạo nghĩa, là nguyên tắc luân lý Như vậy

có thể nói đạo đức ở người Trung Quốc cổ đại chính là những yêu cầu, những nguyên tắc do cuộc sống đặt ra mà con người phải tuân theo

Quan điểm mác xít coi đạo đức là một trong những hình thái ý thức

xã hội, một chế định xã hội, nó phản ánh tồn tại xã hội, phản ánh hiện thực đời sống Đạo đức là sản phẩm của những điều kiện sinh hoạt vật chất của

xã hội, của cơ sở kinh tế Sự hình thành, phát triển, hoàn thiện bản chất xã hội của đạo đức được quy định bởi trình độ phát triển và hoàn thiện của thực tiễn và nhận thức xã hội của con người Ph.Ănghen viết: “Chung qui lại thì mọi thuyết đạo đức đã có từ trước tới nay đều là sản phẩm của tình hình kinh

Trang 21

tế - xã hội lúc bấy giờ” [37, tr 137] Đạo đức chính là yếu tố bản chất của con người trong quá trình phát triển của mình theo hướng ngày càng đạt tới giá trị đích thực của cái thiện

Đặc trưng quan trọng của đạo đức là năng lực ý thức và hành động tự

nguyện, tự giác của con người vì cái thiện, vì lợi ích và hạnh phúc của con

người và tiến bộ xã hội Tính tự giác của đạo đức thể hiện ở sự quan tâm của con người đến người khác, đến xã hội Sự tự giác, tự nguyện là một trong những cơ sở của tự do Ph.Ăngghen khẳng định: “Người ta không thể bàn về đạo đức và pháp quyền mà lại không nói đến vấn đề gọi là tự do ý chí, lương

tri của con người, quan hệ giữa tất yếu và tự do” [36, tr.162] Người ta chỉ có

thể đạt được sự tự do của đạo đức khi có nhận thức sâu sắc nội dung, ý nghĩa của những yêu cầu, quy phạm đạo đức xã hội, biến nó thành nhu cầu đạo đức nội tại, thành chuẩn mực hành vi mà cá nhân tự giác, tự nguyện tuân thủ Các nhà mác xít cũng chỉ ra mối quan hệ của cơ sở kinh tế và đạo đức đồng thời chủ trương xây dựng xã hội mới xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa làm nền tảng hình thành và phát triển đạo đức cao đẹp - đạo đức cộng sản V.I.Lênin đã nêu giá trị đạo đức được xác định ở chỗ nó phục vụ cho tiến bộ

xã hội vì hạnh phúc của con người: "Đạo đức giúp cho xã hội loài người tiến lên trình độ cao hơn, thoát khỏi ách bóc lột lao động" [29, tr.356]

Ngày nay, có rất nhiều quan niệm khác nhau về đạo đức, song theo chúng tôi định nghĩa sau đây là phù hợp: “Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tập hợp những nguyên tắc, qui tắc, chuẩn mực xã hội, nhằm điều chỉnh

và đánh giá cách ứng xử của con người trong quan hệ với nhau và quan hệ với xã hội, chúng được thực hiện với niềm tin cá nhân, bởi truyền thống và sức mạnh của dư luận xã hội” [34, tr.8] Theo định nghĩa này, đạo đức được xem xét ở ba phương diện chủ yếu:

Thứ nhất, đạo đức với tư cách là một hình thái ý thức xã hội bao gồm

toàn bộ những quan điểm, quy tắc, chuẩn mực nhằm điều chỉnh hành vi và đánh giá cách ứng xử trong quan hệ con người với con người, con người với

xã hội nhằm đảm bảo quan hệ lợi ích của cá nhân với cộng đồng

Trang 22

Thứ hai, đạo đức là phương thức để điều chỉnh hành vi của con người

Những chuẩn mực và quy tắc là những yêu cầu của xã hội nhằm điều chỉnh hành vi của mỗi cá nhân trong mối quan hệ với nhau và với xã hội

Thứ ba, đạo đức là một hệ thống giá trị Đó là các giá trị vật chất và tinh

thần; các giá trị sản xuất và tiêu dùng; các giá trị chính trị - xã hội, thẩm mỹ, tôn giáo… Thiện là giá trị đạo đức cao nhất, là cái tốt đẹp mang lại cái có ích lợi, đáp ứng nhu cầu của con người, cộng đồng, xã hội

Đạo đức có các chức năng: chức năng nhận thức, chức năng điều chỉnh hành vi và chức năng giáo dục

Chức năng nhận thức của đạo đức giúp con người đi đến sự nhận biết, phân biệt những giá trị: đúng sai, tốt xấu, thiện ác, hướng tới giá trị bao quát đó là cái chân, thiện, mỹ Từ nhận thức này mà chủ thể hình thành và phát triển thành các quan điểm và nguyên tắc sống của mình

Chức năng điều chỉnh hành vi của đạo đức làm cá nhân và xã hội cùng tồn tại và phát triển, bảo đảm quan hệ lợi ích cá nhân và cộng đồng

Chức năng giáo dục của đạo đức là để hình thành những quan điểm cơ bản nhất, những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực đạo đức cho con người; nó còn giúp cho con người có khả năng lựa chọn, đánh giá các hiện tượng xã hội; từ đó con người tự điều chỉnh hành vi của mình để không ngừng hoàn thiện Chức năng giáo dục đóng vai trò rất quan trọng trong việc hình thành nhân cách con người

Tóm lại, có thể thấy đạo đức ra đời, tồn tại và phát triển gắn liền với

sự tồn tại và phát triển của con người và xã hội loài người Đạo đức là một trong những nhân tố cơ bản điều chỉnh hành vi con người, là cội nguồn của hạnh phúc và là động cơ, sức mạnh để chống lại cái ác, góp phần thúc đẩy

sự phát triển kinh tế, sự tiến bộ xã hội Đạo đức có vai trò rất quan trọng trong đời sống xã hội Nói đến đạo đức là nói đến quan hệ giữa cái tốt và cái xấu, giữa cái đúng và cái sai Cơ chế vận hành của đạo đức trong đời sống

xã hội bao gồm: ý thức đạo đức, hành vi đạo đức và đánh giá đạo đức Ý

Trang 23

thức đạo đức bao hàm những chuẩn mực, thói quen, tập quán và phong tục đạo đức tác động đến tư tưởng, tình cảm và hành vi của con người Chúng

có thể đóng vai trò định hướng tinh thần trong cuộc sống cá nhân và cộng đồng Các chuẩn mực đạo đức là cơ sở để con người sống với nhau một

cách hòa thuận, nhân ái

Vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng đạo đức cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin và những tinh hoa văn hóa, đạo đức của nhân loại, trên cơ

sở truyền thống đạo đức của dân tộc Việt Nam, Hồ Chí Minh đã để lại cho chúng ta di sản quý báu trong đó có tư tưởng đạo đức của Người Đó là là một

hệ thống các quan điểm về vai trò của đạo đức; những phẩm chất đạo đức cơ bản, đạo đức cách mạng và những nguyên tắc xây dựng nền đạo đức mới

Tư tưởng đạo đức của Hồ Chí Minh gần gũi với mỗi người với những chuẩn mực đạo đức cụ thể cho từng đối tượng, từ cán bộ, đảng viên, nông dân, trí thức, công an, bộ đội, cho đến văn nghệ sĩ, nhà báo, thanh niên, thiếu niên Hơn nữa, không chỉ nêu những yêu cầu về đạo đức mà bản thân Chủ tịch Hồ Chí Minh là một tấm gương sáng ngời về đạo đức, suốt đời không mệt mỏi tự rèn mình, giáo dục, động viên cán bộ, đảng viên, nhân dân cùng thực hiện

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng là hệ thống các nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực, giá trị đạo đức để định hướng, điều chỉnh, đánh giá

ý thức và hành vi đạo đức cách mạng của mọi tầng lớp nhân dân, trước hết là cán bộ đảng viên tự nguyện, tự giác đấu tranh vì độc lập, tự do của Tổ quốc,

vì hạnh phúc của nhân dân Vấn đề đạo đức được Hồ Chí Minh đặt ra và xem xét một cách toàn diện trong tất cả mọi lĩnh vực hoạt động của con người, từ việc tư đến việc công, từ lao động sản xuất ở hậu phương đến chiến đấu ngoài mặt trận, từ học tập, công tác đến sinh hoạt hàng ngày Việc

Hồ Chí Minh xem xét vấn đề đạo đức một cách toàn diện là một cách nhìn khách quan, phù hợp với thực tiễn xã hội, đấu tranh cách mạng

Hồ Chí Minh không đưa ra định nghĩa đạo đức là gì, nhưng trong sử dụng, thuật ngữ đạo đức được hiểu là các qui tắc, chuẩn mực dùng điều chỉnh

Trang 24

việc Những tư tưởng về đạo đức cách mạng được Hồ Chí Minh khái quát, thể

hiện trong hành động và trong lối sống của mình trước rồi phổ biến cho mọi người cùng thực hiện theo dần trở thành những nội dung cơ bản của Đạo đức mới, Đạo đức cách mạng Việt Nam Người diễn đạt nội dung đạo đức đó thành những lời nói, cách nói dễ hiểu, dễ nhớ, thiết thực để mọi người cùng

làm, cùng hoàn thành nhiệm vụ Chẳng hạn với bài thơ “Nghe tiếng giã gạo”,

Hồ Chí Minh không chỉ đơn thuần nói về công việc giã gạo mà qua đó còn toát lên ý nghĩa giáo dục đạo đức rất sâu sắc.“Gạo đem vào giã bao đau đớn / Gạo giã xong rồi trắng tựa bông./ Sống ở trên đời người cũng vậy,/ Gian nan rèn luyện mới thành công” [42, tr 350]

Về đạo đức cách mạng, Hồ Chí Minh giải thích, đạo đức cách mạng

là đạo đức mới, không phải là đạo đức thủ cựu Đạo đức mới kế thừa , phát triển truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc và của loài người theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin Hồ Chí Minh cho rằng đạo đức cách mạng là tuyệt đối trung thành với Đảng, với nhân dân, quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng, bất kỳ khó khăn nào cũng kiên quyết làm đúng chính sách, nghị quyết của Đảng, làm gương cho quần chúng, hòa mình với quần chúng thành một khối, tin quần chúng, hiểu quần chúng, lắng nghe ý kiến của quần chúng, thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư Từ quan niệm về đạo đức cách mạng nêu trên, Người coi đạo đức là cội nguồn của người cách mạng Do đó, bồi dưỡng đạo đức cách mạng gắn liền với chống chủ nghĩa cá nhân Theo cách nói của Người thì các căn bệnh quan liêu, lãng phí, tham nhũng đều do chủ nghĩa cá nhân mà ra Do sa vào chủ nghĩa cá nhân mà làm ô danh Đảng, tham ô, hối lộ, nhũng nhiễu nhân dân làm mất tư cách của người cán bộ, đảng viên Nhưng đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân không phải là giày xéo lên lợi ích cá nhân Bác Hồ cũng đưa ra các nguyên tắc xây dựng đạo đức cách mạng là tu dưỡng đạo đức cách mạng suốt đời, nói và làm đi đôi, nêu gương đạo đức cách mạng, xây dựng dạo đức mới đi liền với

Trang 25

chống đạo đức lạc hậu… Hồ Chí Minh đã khái quát bốn đức cơ bản nhất của con người là cần, kiệm, liêm, chính

Theo quan điểm của Hồ Chí Minh thì người sức có mạnh mới gánh được nặng và đi được xa, người đảng viên phải có đạo đức cách mạng mới hoàn thành nhiệm vụ cách mạng vẻ vang Do đó cần giáo dục đạo đức cách mạng cho đảng viên nhận rõ được mục đích, động cơ vào Đảng, tự nguyện phục vụ nhân dân và làm đúng chính sách của Đảng Quan tâm lớn nhất của

Hồ Chí Minh là làm sao thấm nhuần đạo đức cách mạng Người yêu cầu đảng viên phải luôn trau dồi đức tính khiêm tốn, giản dị; cần, kiệm trong lao động, học tập, công tác, có đời tư trong sáng Giáo dục đạo đức cách mạng cho đảng viên phải chú trọng cả rèn đức, luyện tài để họ vừa có đạo đức vừa

có tài, vừa có phẩm chất, vừa có năng lực Có tài phải có đức “Có tài không

có đức, tham ô có hại cho Nhà nước Có đức không có tài như ông bụt ngồi trong chùa, không giúp ích gì cho ai” Hồ Chí Minh vừa là nhà đạo đức vừa

là một biểu tượng sáng ngời về đạo đức cách mạng

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng có sự hội tụ của nhiều học thuyết cổ, kim, đông, tây, truyền thống của dân tộc Việt Nam và nhân loại, nhưng quan trọng và mang ý nghĩa quyết định bản chất khoa học và cách mạng của tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng là chủ nghĩa Mác - Lênin Trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, Người có cái nhìn biện chứng trong việc tiếp thu những tư tưởng đạo đức mới, đạo đức cách mạng phù hợp với yêu cầu thực tiễn của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc với nhiều nội dung phong phú

1.2 Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng

1.2.1 Tư tưởng Hồ Chí Minh về vị trí, vai trò của đạo đức cách mạng

Từ rất sớm, Hồ Chí Minh đã khẳng định đạo đức là gốc của người cách mạng Trong tác phẩm “Đường cách mệnh”, Người đã nêu lên 23 điểm thuộc

“ tư cách một người cách mệnh”, trong đó chủ yếu các tiêu chuẩn về đạo đức, thể hiện chủ yếu trong ba mối quan hệ: với mình, với người và với việc

Trang 26

Người viết: “Làm cách mạng để cải tạo xã hội cũ thành xã hội mới là một sự nghiệp rất vẻ vang, nhưng nó cũng là một nhiệm vụ rất nặng nề, một cuộc đấu tranh rất phức tạp, lâu dài, gian khổ Sức có mạnh mới gánh được nặng và đi được xa Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang” [60, tr 283]

Với mỗi người, Hồ Chí Minh ví đạo đức là nguồn nuôi dưỡng và phát triển con người, như gốc của cây, ngọn nguồn của sông suối Người viết:

“Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù có tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân” [49, tr 252 - 253] Theo Hồ Chí Minh, đạo đức cách mạng giúp cho con người vững vàng trong mọi thử thách Người viết: “Có đạo đức cách mạng, thì khi gặp khó khăn gian khổ, thất bại, cũng không sợ sệt, rụt rè, lùi bước… khi gặp thuận lợi và thành công cũng vẫn gữ vững tinh thần gian khổ, chất phác, khiêm tốn, lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ, lo hoàn thành nhiệm vụ cho tốt chứ không kèn cựa về mặt hưởng thụ; không công thần, không quan liêu, không kiêu ngạo, không hủ hóa” [60, tr 284] Với yêu cầu đó, Hồ Chí Minh nêu năm điểm đạo đức mà người đảng viên phải giữ gìn cho đúng, đó là:

- Đạo đức cách mạng là tuyệt đối trung thành với Đảng, với nhân dân

- Là ra sức phấn đấu để thực hiện mục tiêu của Đảng

- Vô luận trong hoàn cảnh nào cũng phải quyết tâm chống mọi kẻ địch, luôn luôn cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu, quyết không chịu khuất phục, không chịu cúi đầu

- Vô luận trong hoàn cảnh nào, người đảng viên cũng phải đặt lợi ích của Đảng lên trên hết

- Đạo đức cách mạng là hòa mình với quần chúng thành một khối, tin quần chúng, hiểu quần chúng, lắng nghe ý kiến của quần chúng

Đối với Đảng, tổ chức tiền phong chiến đấu của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc Việt Nam, Hồ Chí Minh yêu cầu phải xây dựng Đảng ta thật trong sạch, vững mạnh, Đảng phải “là đạo đức, là văn minh”

Trang 27

Vấn đề đạo đức đã được Hồ Chí Minh đề cập một cách toàn diện Người nêu yêu cầu đạo đức đối với các giai cấp, tầng lớp và các nhóm xã hội, trên mọi lĩnh vực hoạt động, trong mọi phạm vi, từ gia đình đến xã hội, trong

cả ba mối quan hệ của con người: đối với mình, đối với người, đối với việc

Tư tưởng Hồ Chí Minh đặc biệt được mở rộng trong lĩnh vực đạo đức của cán

bộ, đảng viên, nhất là khi đảng đã trở thành Đảng cầm quyền Trong bản Di chúc bất hủ, Người viết: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng , thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư” [66, tr 498]

Là một hình thái ý thức xã hội, đạo đức không phải hoàn toàn một chiều phụ thuộc vào tồn tại xã hội, vào những điều kiện vật chất kinh tế Nó có khả năng tác động tích cực trở lại, cải biến tồn tại xã hội, giá trị đạo đức tinh thần một khi được con người chấp nhận sẽ biến thành một sức mạnh vật chất Hồ Chí Minh nhấn mạnh sức mạnh tinh thần của đạo đức cách mạng và coi đó là nhân tố quan trọng, góp phần xây dựng và phát triển con người, hướng con người tới chủ nghĩa nhân văn cao đẹp, chủ nghĩa nhân văn cộng sản

1.2.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về những chuẩn mực đạo đức cơ bản của cán bộ, đảng viên

Một là, trung với nước, hiếu với dân Theo Hồ Chí Minh phẩm chất đạo

đức cơ bản hàng đầu cần phải có của mỗi cán bộ, đảng viên nói riêng và nhân dân nói chung là “Trung với nước, hiếu với dân”, hết lòng,hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ Đảng, phục vụ nhân dân

Trung, hiếu là đạo đức truyền thống của dân tộc Việt Nam và phương Đông, đã được Hồ Chí Minh kế thừa và phát triển trong điều kiện mới Trung với nước là trung thành với sự nghiệp dựng nước, giữ nước, phát triển đất nước Nước là của dân, dân là chủ của đất nước, trung với nước là trung với dân, “Bao nhiêu quyền hạn đều của dân”; “bao nhiêu lợi ích đều vì dân” Hiếu với dân nghĩa là cán bộ đảng, cán bộ nhà nước “vừa là người lãnh đạo, vừa là

người đầy tớ trung thành của nhân dân”

Trang 28

Trải qua hàng ngàn năm lịch sử trong quan hệ văn hóa - đạo đức truyền thống của dân tộc ta mối quan hệ giữa dân và nước, giữa cá nhân với Tổ quốc là mối quan hệ lớn nhất, có vai trò chi phối các mối quan hệ khác Do đó, trung với nước, hiếu với dân là phẩm chất đạo đức hàng đầu Trung và hiếu là những phẩm chất đạo đức truyền thống nhưng đến Hồ Chí Minh, quan niệm trung và hiếu không còn bị bó hẹp trong khái niệm trung với vua, hiếu với cha mẹ nữa mà đã được Người kế thừa và mở rộng hơn rất nhiều, biến đổi về chất Theo Hồ Chí Minh, trung với nước, hiếu với dân gắn bó chặt chẽ với nhau vì “dân là dân nước, nước là nước của dân”, nhân dân là chủ nhân của đất nước “Trung với nước” là trung thành với sự nghiệp cách mạng của dân tộc, suốt đời phấn đấu vì hạnh phúc và tương lai của nhân dân Trung với nước còn là trung với Đảng, với Tổ quốc, có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ cá nhân đối với sự nghiệp dựng nước và giữ nước Trung với nước còn thể hiện tinh thần yêu nước, đặt lợi ích của dân tộc lên trên hết; mọi hoạt động của cán bộ tập trung phục vụ lợi ích cho dân tộc và cho nhân dân và là người kiên quyết chống lại những hành động và

tư tưởng trái với quyền lợi của Tổ quốc

Còn “Hiếu với dân” theo Hồ Chí Minh là hết lòng phục vụ và hy sinh cho quyền lợi của nhân dân, dám xả thân vì hạnh phúc của nhân dân Hiếu với dân được cụ thể hóa bằng chủ trương “bao nhiêu quyền hạn đều của dân”, “bao nhiêu lợi ích đều vì dân”, “bao nhiêu quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”, “Đảng và Chính phủ là đầy tớ của nhân dân” Chính quyền phải có trách nhiệm lo cho dân: “Làm cho dân có ăn, làm cho dân có mặc, làm cho dân có chỗ ở, làm cho dân có học hành” Người nhấn mạnh: “Cũng như trung là trung với Tổ quốc, hiếu là hiếu với nhân dân; ta thương cha mẹ

ta, mà còn phải thương cha mẹ người, phải cho mọi người đều biết thương cha mẹ” [51, tr 640]

Ở Hồ Chí Minh, hiếu với dân không dừng lại ở chỗ thương dân mà chủ yếu tin dân, dựa vào dân, gần dân, giúp đỡ dân, lo cho cuộc sống của nhân dân ngày càng tốt hơn Người khuyên cán bộ, đảng viên phải dựa vào

Trang 29

dân, gắn bó với dân, “lấy dân làm gốc” Người còn dạy rằng, hiếu với dân thì phải “làm sao cho dân biết hưởng quyền dân chủ, biết dùng quyền dân chủ của mình, dám nói, dám làm Người coi là có lỗi vì chưa hoàn thành nhiệm vụ như ý muốn khi nước đã độc lập mà dân không được hưởng tự

do, ấm no, hạnh phúc Người chỉ rõ: “Chính sách của Đảng và Chính phủ là phải hết sức chăm nom đến đời sống của nhân dân Nếu dân đói, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân rét là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân dốt là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân ốm là Đảng và Chính phủ có lỗi Vì vậy, cán bộ đảng và chính quyền từ trên xuống dưới, đều phải hết sức quan tâm đến đời sống của nhân dân” [56, tr572], nghĩa là gánh vác việc chung cho dân” Và Người nhấn mạnh “việc gì có lợi cho dân ta phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân ta phải hết sức tránh” [45, tr56 - 57] Cách mạng là

sự nghiệp của quần chúng “lật thuyền mới biết sức dân mạnh” Nên, người cán bộ luôn tự nhắc mình phải thấm nhuần tư tưởng hiếu với dân đó là yêu mến, quý trọng nhân dân, chăm lo cho cuộc sống và bảo vệ quyền lợi của nhân dân Tình yêu đó không chỉ dành cho cá nhân, gia đình mà còn cho cả dân tộc và nhân loại: “Mình không những cứu bố mẹ mình mà còn cứu bố

mẹ người khác, bố mẹ của cả nước Phải hiểu chữ hiếu của cách mạng rộng rãi như vậy” [54, tr60] Để cho cán bộ có nhận thức đúng, hiểu đúng về đạo đức cách mạng của người cán bộ, trong buổi tập huấn cho cán bộ tự vệ - Những người lính xung kích và cảm tử bảo vệ thành quả cách mạng của cách mạng tháng Tám năm 1945, Hồ Chí Minh đã dạy: “Đạo đức ngày trước thì chỉ trung với vua, hiếu với cha mẹ Ngày nay, thời đại mới, đạo đức cũng phải mới Phải trung với nước Phải hiếu với toàn dân, với đồng bào” [46, tr149] “Trung với nước, hiếu với dân” là hạt nhân cơ bản nhất của tư tưởng đạo đức của Hồ Chí Minh

Hai là, yêu thương con người, sống có nghĩa, có tình Lòng yêu

thương con người là một giá trị nổi bật của đạo đức truyền thống Việt Nam Giá trị ấy đã được Hồ Chí Minh kế thừa và phát triển dựa trên sự kết

Trang 30

cao đẹp của con người mới Việt Nam Tình thương yêu con người ở Hồ Chí Minh rất bao la, rộng lớn Người luôn dành tình yêu thương của mình cho các dân tộc và con người bị áp bức đau khổ Hồ Chí Minh luôn sống giữa cuộc đời và gần gũi với mọi người Đó cũng là lý do tại sao mà tình yêu thương con người trong tư tưởng đạo đức của Người thể hiện ở mọi mối quan hệ của con người là đòi hỏi mọi người phải thật sự rộng rãi, độ lượng với người khác, phải thật sự tôn trọng người khác, phải sống với nhau có tình có nghĩa Người viết: “Học chủ nghĩa Mác – Lênin là phải sống với nhau có tình có nghĩa Nếu thuộc bao nhiêu sách mà sống không

có tình có nghĩa thì sao gọi là hiểu chủ nghĩa Mác – Lênin được” [67, tr 554] Tuy nhiên, không phải vì thế mà bao che khuyết điểm cho nhau, mà phải trên nguyên tắc phê bình và tự phê bình, giúp nhau sửa chữa khuyết điểm, phát huy ưu điểm để không ngừng tiến bộ

Ba là cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư Để giáo dục đạo đức cho

cán bộ, đảng viên và nhân dân ta, Hồ Chí Minh đã có nhiều tác phẩm viết về vấn đề này Ngay từ năm 1927, trong tác phẩm “Ðường Kách mệnh”, chương đầu tiên của cuốn sách là Tư cách một người cách mệnh; và tiêu chuẩn đầu tiên trong Tư cách một người cách mệnh chính là: cần kiệm Sau này là các tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” (10-1947), “Thực hành tiết kiệm, chống tham

ô, lãng phí, chống bệnh quan liêu” (1952) “Đạo đức cách mạng” (12-1958)

và các bài báo như “Chớ kiêu ngạo, phải khiêm tốn”, “Cần kiệm, liêm, chính”, “Cần tẩy sạch bệnh quan liêu, mệnh lệnh”, “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”…Trước lúc đi xa, trong bản di chúc để lại cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta, Người nhắc “Đảng ta là một đảng cầm quyền, Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư… [66, tr 498]” Người

đã phát động nhân dân thực hiện cần, kiệm, liêm, chính Và chính Người là một tấm gương sáng trong việc thực hiện tinh thần cần kiệm liêm chính trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày cũng như trong làm việc

Trang 31

Đối với cán bộ, Bác chỉ rõ: “Ngày nay ta đề ra cần, kiệm, liêm, chính cho cán bộ thực hiện, làm gương cho nhân dân theo để lợi cho nước cho dân” [52, tr 321] Và cần, kiệm, liêm, chính là nền tảng của đời sống mới, là đức tính mới của con người sống dưới chế độ mới và là khẩu hiệu thi đua cách mạng của toàn đảng, toàn quân và toàn dân ta thực hiện trong suốt hai cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc Nhấn mạnh, đức tính cần, liệm, liêm, chính đối với cán bộ, Người đã so sánh với những hiện tượng thiên nhiên trở thành quy luật rất gần gũi với con người:

“Trời có bốn mùa: xuân, hạ, thu, đông

Đất có bốn phương: đông, tây, nam, bắc

Người có bốn đức: Cần, kiệm liêm, chính…

Thiếu một đức thì không thành người” [51, tr 631]

Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, vốn là các khái niệm cơ bản của đạo đức Nho giáo và đạo đức truyền thống Việt Nam, đã được Hồ Chí Minh tiếp thu và bổ sung thêm nhiều nội dung mới phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ mới của đất nước Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư đã được Hồ Chí Minh giải thích một cách ngắn gọn, giản dị, cụ thể, dễ hiểu và dễ làm theo

Cần: là lao động cần cù, siêng năng, có kế hoạch, sáng tạo, có năng

suất cao; lao động với tinh thần tự lực cánh sinh, không lười biếng, không ỷ lại, không dựa dẫm; phải kiên trì, bền bỉ, dẻo dai Phải thấy rõ lao động là nghĩa vụ thiêng liêng, là nguồn sống, nguồn hạnh phúc của con người Cán

bộ, đảng viên phải hăng say làm việc, phải tính toán cẩn thận và phân công cụ thể, rõ ràng, phải kiên quyết đấu tranh chống lại lười biếng Vì lười biếng là

kẻ địch của chữ cần, kẻ địch của dân tộc

Kiệm: là tiết kiệm sức lao động, tiết kiệm thì giờ, tiết kiệm tiền của dân,

của nước, của bản thân mình, tiết kiệm từ cái to đến cái nhỏ, vì nhiều cái nhỏ cộng lại thành cái to; không xa xỉ, không hoang phí, không bừa bãi, không phô trương, hình thức Tiết kiệm là để tích trữ vốn, mở rộng sản xuất Tiết kiệm khác với bủn xỉn, “xem đồng tiền to bằng cái nống” (cái nong) Bác dạy:

Trang 32

đáng làm, việc ích lợi cho đồng bào, cho Tổ quốc, thì dù bao nhiêu công, tốn bao nhiêu của, cũng vui lòng Như thế mới đúng là kiệm Việc đáng tiêu mà không tiêu, là bủn xỉn, chứ không phải là kiệm” [51, tr 637] Bác khuyên cán

bộ, đảng viên phải tiết kiệm: “Giấy bút, vật liệu đều tốn tiền của Chính phủ tức là của dân; ta cần phải tiết kiệm Nếu một miếng giấy nhỏ đủ viết, thì chớ dùng một tờ to Một cái phong bì có thể dùng hai ba lần Mỗi ngày, công sở

cả nước dùng hàng mấy vạn tờ giấy và phong bì Nơi nào cũng tiết kiệm một chút, thì trong một năm đỡ được hàng vạn tấn giấy, tức là hàng triệu đồng bạc Các vật liệu khác cũng vậy Nhờ các công sở tiết kiệm mà lợi cho dân rất nhiều” [48, tr 104 - 105]

Hồ Chí Minh còn chỉ rõ mối liên hệ mật thiết giữa cần và kiệm Người căn dặn: Cần và kiệm phải đi đôi với nhau như hai chân của con người “Cần

mà không kiệm” thì làm chừng nào xào chừng ấy” Cũng như một cái thùng không có đáy; nước đổ vào chừng nào, chảy ra hết chừng ấy, không lại hoàn không Kiệm mà không cần thì “không tăng thêm, không phát triển được” [51, tr 635] Một mặt chúng ta phải thi đua kiệm, một mặt chúng ta phải thi đua cần Kết quả của cần và kiệm sẽ là “bộ đội sẽ đầy đủ, nhân dân sẽ ấm no, kháng chiến sẽ mau thắng lợi, kiến quốc sẽ mau thành công, nước ta sẽ mau giầu mạnh ngang hàng với các nước tiên tiến trên thế giới” [51, tr 639]

Liêm là trong sạch, không tham lam, không tham ô, luôn tôn trọng, giữ

gìn của công, của dân, không chiếm dụng của công làm của tư, không sách nhiễu nhân dân Không tham địa vị, không tham tiền tài, không tham sung sướng Không ham người tâng bốc mình Vì vậy mà quang minh chính đại Không bao giờ hủ hóa Chỉ có một thứ ham là ham học, ham làm, ham tiến bộ

Chữ Liêm phải đi đôi với chữ Kiệm, cũng như chữ Kiệm phải đi đôi với chữ Cần Có Kiệm mới Liêm được Vì xa xỉ mà sinh tham lam Hồ Chí Minh chỉ rõ, tham tiền của, tham địa vị, tham danh tiếng, tham ăn ngon, sống yên đều

là bất liêm: “Do bất liêm mà đi đến tội ác trộm cắp Công khai hay bí mật, trực tiếp hay gián tiếp, bất liêm tức là trộm cắp” [51, tr 641] Không chỉ người có chức quyền mới phải liêm mà mọi người đều phải liêm, nhưng cán bộ phải

Trang 33

thực hành chữ liêm trước, để làm kiểu mẫu cho dân Dân phải biết quyền hạn của mình, phải biết kiểm soát cán bộ, để giúp cán bộ thực hiện chữ liêm Cán

bộ thi đua thực hành liêm khiết thì sẽ gây nên tính liêm khiết trong nhân dân Đồng thời pháp luật phải thẳng tay trừng trị những kẻ bất liêm, bất kỳ kẻ ấy ở địa vị nào, làm nghề nghiệp gì Hồ Chí Minh khẳng định việc thực hiện tốt Cần, Kiệm, Liêm, Chính có ý nghĩa rất to lớn đối với sự phát triển của dân tộc Người viết: “Một dân tộc biết cần, kiệm, biết liêm, là một dân tộc giàu về vật chất, mạnh về tinh thần, là một dân tộc văn minh tiến bộ” [51, tr 642]

Chính là không tà, là thẳng thắn, đứng đắn Điều gì không đứng đắn,

thẳng thắn, tức là tà Cần, kiệm, liêm là gốc rễ của chính; nhưng một cây cần

có gốc rễ, lại có nhành, lá, hoa, quả mới là hoàn toàn Một người phải cần, kiệm, liêm, nhưng còn phải chính mới là người hoàn toàn Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Người có thiện và ác; việc có chính và tà Làm việc chính là người thiện; làm việc tà là người ác” [51, tr 643] Chính đối với mình là không tự cao, tự đại, luôn luôn chịu khó học tập, cầu tiến bộ, phát triển điều hay và sửa chữa khuyết điểm của mình Đối với người phải yêu quý, kính trọng, giúp đỡ, không nịnh hót người trên, xem khinh người dưới Phải để việc nước, việc công lên trên việc tư, việc nhà Công việc dù to hay nhỏ đều phải

cố gắng hoàn thành Phải luôn luôn nhớ “việc thiện thì dù nhỏ mấy cũng làm Việc ác thì dù nhỏ mấy cũng tránh” [51, tr 645]

Chí công là rất mực công bằng, công tâm; vô tư là không được có lòng riêng, thiên tư, thiên vị “tri ân, tri huệ, tri oán, tri thù”, đem lòng chí công vô

tư đối với người, với việc Khi làm bất cứ việc gì cũng đừng nghĩ đến mình trước, khi hưởng thụ thì mình nên đi sau, lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ; là lòng mình chỉ biết vì Đảng, vì Tổ quốc, vì đồng bào Muốn “chí công vô tư” phải chiến thắng được chủ nghĩa cá nhân, phải kiên quyết quét sạch chủ nghĩa

cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng Bởi vì, chủ nghĩa cá nhân là trái với chủ nghĩa tập thể, trái với đạo đức cách mạng Chủ nghĩa cá nhân là một kẻ thù rất gian xảo, xảo quyệt, nó khéo dỗ dành người ta đi xuống dốc Nó là một

Trang 34

liêu, mệnh lệnh, bè phái, chủ quan, tham ô, lãng phí, xa hoa, tham danh trục lợi, thích địa vị quyền hành, tự cao tự đại, coi thường tập thể, xem khinh quần chúng, độc đoán, chuyên quyền, quan liêu mệnh lệnh.v.v

Do chủ nghĩa cá nhân mà mất đoàn kết, thiếu tính tổ chức, kỷ luật, kém tinh thần trách nhiệm, không chấp hành đúng đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, làm hại đến lợi ích của cách mạng, của nhân dân Chủ nghĩa cá nhân, tư tưởng tiểu tư sản còn ẩn nấp trong mình mỗi người chúng

ta, nó chờ dịp, hoặc dịp thất bại, hoặc dịp thắng lợi để ngóc đầu dậy Vì vậy, đạo đức cách mạng là bất kỳ trong hoàn cảnh nào cũng phải quyết tâm đấu tranh chống mọi kẻ địch Chủ nghĩa cá nhân là một trở ngại cho việc xây dựng chủ nghĩa xã hội Cho nên thắng lợi của chủ nghĩa xã hội không thể tách rời thắng lợi của cuộc đấu tranh trừ bỏ chủ nghĩa cá nhân Hồ Chí Minh chỉ rõ, đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân không phải là dày xéo lên lợi ích

cá nhân, mà phải giải quyết hài hòa quan hệ chung - riêng Nghĩ đến lợi ích riêng nhưng cần ưu tiên lợi ích chung Nếu lợi ích cá nhân mâu thuẫn với lợi ích tập thể, thì đạo đức cách mạng đòi hỏi lợi ích riêng của cá nhân phải phục tùng lợi ích chung của tập thể Chí công vô tư, thực chất là nối tiếp cần kiệm liêm chính Đây là chuẩn mực của người lãnh đạo, người “giữ cán cân công lý”, không được vì lòng riêng mà chà đạp lên pháp luật

Cần, kiệm, liêm, chính có quan hệ chặt chẽ với nhau và với chí công,

vô tư Cần, kiệm, liêm, chính sẽ dẫn đến chí công, vô tư Ngược lại, đã chí công, vô tư, một lòng vì nước, vì dân, vì Đảng thì nhất định sẽ thực hiện được cần, kiệm, liêm, chính

Hồ Chí Minh không chỉ đề ra và yêu cầu cán bộ, đảng viên phải thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, mà chính cuộc đời Người là một tấm gương mẫu mực về “cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư” Cần- kiệm- liêm- chính là cốt, là phẩm chất của đạo đức cách mạng, là những đức không thể thiếu đối với cán bộ, đảng viên Người cán bộ giữ được cần, kiệm, liêm, chính là người chí công vô tư tức là chính tâm, thân dân Ngược lại, người chí công, vô tư, một lòng vì nước, vì dân, vì Đảng thì nhất định sẽ thực hiện được cần, kiệm,

Trang 35

liêm, chính.Tư tưởng “Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư" là nguyên tắc chỉ đạo thường xuyên trong suốt toàn bộ tư tưởng đạo đức của Hồ Chí Minh

Đó là tài sản tinh thần vô giá mà Người để lại cho Đảng và nhân dân ta, là nguồn gốc tạo nên sức mạnh để dân tộc vượt qua khó khăn, thử thách, để không ngừng tiến lên trong thời đại mới Hồ Chí Minh là hiện thân rực rỡ của đạo đức “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”, là con người mà “giàu sang không thể quyến rũ, nghèo khó không thể chuyển lay, uy vũ không thể khuất phục”, kiên cường vượt qua mọi thử thách hiểm nguy để thực hiện lý tưởng

Bốn là tinh thần quốc tế trong sáng Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh về

đoàn kết quốc tế là sự mở rộng quan niệm đạo đức nhân đạo, nhân văn của Người ra phạm vi toàn nhân loại, vì Người là “người Việt Nam nhất” đồng thời là nhà văn hóa kiệt xuất của thế giới, anh hùng giải phóng dân tộc, chiến

sĩ lỗi lạc của phong trào cộng sản quốc tế Tinh thần quốc tế trong sáng trong

tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh về thực chất là tinh thần quốc tế vô sản Nội dung của nó rộng lớn và sâu sắc Đó là sự tôn trọng và thương yêu tất cả các dân tộc, nhân dân các nước, chống sự hằn thù, bất bình đẳng dân tộc và sự phân biệt chủng tộc Đó là tinh thần đoàn kết với các dân tộc bị áp bức, với nhân dân lao động và loài người tiến bộ trên toàn thế giới, cùng nhau xây dựng một thế giới hòa bình, độc lập dân chủ và tiến bộ xã hội

Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết

Thành công, thành công, đại thành công

Hồ Chí Minh cho rằng “Đại đoàn kết dân tộc không chỉ là mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu của Đảng mà còn là mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu của cả dân tộc” Bởi vì đại đoàn kết dân tộc chính là nhiệm vụ của quần chúng, do quần chúng, vì quần chúng Đảng có sứ mệnh thức tỉnh, tập hợp, đoàn kết quần chúng tạo thành sức mạnh vô địch trong cuộc đấu tranh vì độc lập cho dân tộc, tự do cho nhân dân, hạnh phúc cho con người Vì thế cho nên mỗi cán bộ đảng viên cần phải giữ gìn sự đoàn kết thống nhất trong Đảng, phải gương mẫu trong đoàn kết dân tộc, trong học tập và trong lao động, phải

Trang 36

Trong bản Di chúc thiêng liêng để lại cho muôn đời sau, nội dung đầu tiên Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cập trong công tác xây dựng Đảng là vấn đề đoàn kết, thống nhất Đây là nhân tố quan trọng nhất đảm bảo cho Đảng thực

sự vững mạnh, vượt qua mọi khó khăn, thách thức để hoàn thành thắng lợi sứ mệnh lịch sử, đó là lãnh đạo thành công sự nghiệp cách mạng Người khẳng định: “ Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và nhân dân

ta Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình” [66, tr 497]

Theo Hồ Chí Minh, đoàn kết trong Đảng là cơ sở vững chắc để xây dựng khối đoàn kết trong nhân dân Như vậy, đoàn kết thống nhất trong Đảng là cội nguồn tạo nên sức mạnh lãnh đạo cách mạng của Đảng, là nhân tố để phát huy cao độ trí tuệ và khả năng sáng tạo của những người làm cách mạng Bác rất coi trọng tự phê bình và phê bình Bác khuyên cán bộ, đảng viên của Đảng phải thương yêu, giúp đỡ nhau, giữ gìn đạo đức, lối sống, gắn bó với tập thể, với nhân dân; chống các căn bệnh công thần, địa vị, hẹp hòi, cục bộ, kèn cựa Bác yêu cầu: “Trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố phát triển sự đoàn kết thống nhất… Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau” [66, tr 497 - 498]

Hồ Chí Minh quan niệm rằng, đoàn kết trong Đảng phải thể hiện ở tư tưởng và hành động phải thống nhất Đảng tuy có nhiều Đảng viên, song khi tiến hành nhiệm vụ cách mạng thì chỉ như một người, trong Đảng không cho phép có tình trạng trống đánh xuôi, kèn thổi ngược Sự đoàn kết thống nhất trong Đảng trước hết phải dựa trên nền tảng đường lối, quan điểm của Đảng Người không chỉ kêu gọi, vận động toàn Đảng, toàn dân phải đoàn kết, mà chính Người là hiện thân của tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc Người đã tập hợp, cảm hóa mọi người bằng chính tấm gương cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, tận trung với nước, tận hiếu với dân, bằng tình thương yêu vô hạn đối với con người, trước hết là những người lao động Sự thống nhất giữa tư tưởng và hành động, nói luôn đi đôi với làm và đạo đức, nhân cách của Người đã quy tụ mọi lực lượng trong xã hội, trở thành động lực, sức

Trang 37

mạnh đoàn kết trong Đảng Trước yêu cầu và nhiệm vụ trong giai đoạn cách mạng mới, đòi hỏi “mỗi đảng viên và cán bộ phải thực sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân” [66, tr 498]

Cán bộ là cốt tủy của sự nghiệp cách mạng, nên đạo đức cách mạng là yếu tố căn bản của người cán bộ Có như vậy người cán bộ mới có đủ khả năng để hoàn thành vẻ vang nhiệm vụ được cách mạng giao phó Người cách mạng giữ vững phẩm chất và đạo đức trong suy nghĩ và hành động để cho mọi người noi theo Người cán bộ có trung, có hiếu, có đức, có tài, như vậy thì là người “ái quốc, ái dân”

1.2.3 Những nguyên tắc cơ bản trong quan niệm của Hồ Chí Minh

về xây dựng đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên

Trong suốt quá trình giáo dục đạo đức cho đội ngũ cán bộ của Đảng ta,

Hồ Chí Minh không xác định các chuẩn mực đạo đức cơ bản, các yêu cầu đạo đức trong các mối quan hệ xã hội, mà còn chỉ rõ nguyên tắc rèn luyện đạo đức Người đã nhất quán giáo dục cho đội ngũ cán bộ, đảng viên phải quán triệt sâu sắc các nguyên tắc cơ bản về rèn luyện đạo đức đó là:

Một là, phải tu dưỡng đạo đức thường xuyên, bền bỉ, suốt đời

Hồ Chí Minh luôn khẳng định rằng, để trở thành người cách mạng chân chính và có đạo đức cách mạng, điều cơ bản và chủ yếu nhất là phụ thuộc vào chính mình, vào chính sự tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng của mình một cách thường xuyên, bền bỉ Theo Hồ Chí Minh “người đảng viên, người cán bộ tốt muốn trở nên người cách mạng chân chính không có gì là khó cả Điều đó hoàn toàn do lòng mình mà ra… Lòng mình chỉ biết vì Đảng, vì Tổ quốc, vì đồng bào thì mình sẽ tiến đến chỗ chí công vô tư” [49, tr 251] và

“Đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hàng ngày mà phát triển và củng cố Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong” [60, tr 293] Người từng nói: “… gian

Trang 38

nan rèn luyện mới thành công”; “Hiền, dữ phải đâu là tính sẵn./ Phần nhiều do giáo dục mà nên"; “ Kiên trì và nhẫn nại/… Không nao núng tinh thần”

Theo Hồ Chí Minh đã là con người thì “Ai cũng có tính tốt và tính xấu” [49, tr 254] và “tính xấu của một người thường chỉ có hại cho người đó, còn tính xấu của một Đảng viên, một cán bộ sẽ có hại đến đảng, có hại đến nhân dân” [49, tr 254] Cái tính xấu đó là sự suy thoái đạo đức cách mạng với tất cả những biểu hiện của nó như lộng quyền, hách dịch, quan liêu, tham ô, xa hoa, trụy lạc… và không có việc gì ác mà họ không làm Vì vậy mà muốn diệt trừ cái tính xấu đó, vun trồng và phát huy cái tính tốt, con người phải luôn tu dưỡng, trau dồi đạo đức cách mạng một cách thường xuyên, bền bỉ, suốt đời

Sự tu dưỡng đó còn thể hiện ở mọi mối quan hệ, mọi lúc, mọi hoàn cảnh, từ chính mình đến gia đình và ngoài xã hội Có như vậy, con người, mà trước hết

và chủ yếu là người cán bộ, đảng viên mới luôn có đạo đức cách mạng, mới

có thể xứng đáng là người đầy tớ trung thành của nhân dân

Giáo dục đạo đức cách mạng luôn là một nội dung, yêu cầu thường xuyên trong sự nghiệp giáo dục đạo đức cho cán bộ, đảng viên và nhân dân Người chỉ rõ: “Trong việc giáo dục và học tập, phải chú trọng đủ các mặt đạo đức cách mạng, giác ngộ xã hội chủ nghĩa, văn hóa, kỹ thuật, lao động và sản xuất” [63, tr 190] Người luôn kiên trì sự nghiệp “trồng người, mà tước hết là công tác đào tạo cán bộ có đầy đủ cả đức và tài, phẩm chất và năng lực để trở

về tổ chức quần chúng, đưa phong trào cách mạng vào đúng quỹ đạo vô sản,

đi tới thành công

Hồ Chí Minh cho rằng giáo dục thế giới quan Mác - Lênin phải gắn với giáo dục nhân sinh quan cộng sản chủ nghĩa Bởi vì: “Có học tập lý luận Mác - Lênin mới củng cố được đạo đức cách mạng, giữ vững lập trường, nâng cao sự hiểu biết và trình độ chính trị, mới làm tốt công tác Đảng giao phó cho mình” [60, tr 292] Bác nhắc nhở mọi người trong rèn luyện đạo đức cách mạng cần phải có tinh thần nỗ lực, cố gắng cao độ, bền bỉ và thận trọng Vì việc trau dồi những đức tính tốt đẹp là một công việc khó khăn Người nói: “Học cái tốt thì khó, ví như người ta leo núi; phải vất vả, khó nhọc mới lên đến đỉnh Học cái

Trang 39

xấu thì dễ, như ở trên đỉnh núi trượt chân một cái là nhào xuống vực sâu” [55, tr 346] Mỗi cán bộ, đảng viên phải thường xuyên ý thức được yêu cầu tu dưỡng đạo đức cách mạng là công việc phải làm thường xuyên, bền bỉ, suốt đời, ở mọi nơi, mọi hoàn cảnh và phải gắn với thực tiễn cách mạng

Hai là, nói đi đôi với làm, phải nêu gương về đạo đức

Đây là nguyên tắc đầu tiên trong ba nguyên tắc đạo đức cách mạng, theo quan niệm của Hồ Chí Minh nói thì phải làm, xây đi cùng với chống và tu dưỡng đạo đức suốt đời.Trong bài giảng “Tư cách một người cách mệnh” Bác viết: “Tự mình phải: Cần kiệm Hòa mà không tư Cả quyết sửa lỗi mình Cẩn thận mà không nhút nhát Hay hỏi Nhẫn nại (chịu khó) Hay nghiên cứu, xem xét Vị công vong tư Không hiếu danh, không kiêu ngạo Nói thì phải làm” [41, tr 280]

Nói thì phải làm là thể hiện sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, tư tưởng và hành động, nhận thức và việc làm Đối với mỗi người để thực hiện được việc thống nhất giữa lời nói và việc làm, phải có nhận thức đúng và quyết tâm vượt qua chính mình Có nhận thức đúng nhưng không vượt qua được sự cám dỗ của lợi ích cá nhân ích kỷ sẽ dẫn đến nói không đi đôi với làm Để nói đi đôi với làm, còn cần có sự cố gắng, bền bỉ và quyết tâm, bởi bất kỳ công việc nào, nhiệm vụ gì, dù lớn hay nhỏ, khó hay dễ, đơn giản hay phức tạp, nhưng nếu không ra sức phấn đấu thì cũng không thể thành công được Nói đi đôi với làm đối lập với nói mà không làm của những người hay hứa suông, hoặc “nói một đằng làm một nẻo” của những kẻ cơ hội, không đáng tin cậy

Cán bộ, đảng viên từ nhân dân mà ra, nhưng lại có trách nhiệm hướng dẫn nhân dân thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước Muốn hướng dẫn nhân dân thì phải có tài, có ðức, ðýợc nhân dân tin yêu, mến phục Người đã dạy: “Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán chữ “cộng sản” mà ta được họ yêu mến Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, đạo đức Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước” [50, tr 552] Người cán bộ, đảng viên chỉ

Trang 40

đôi với làm” không chỉ là một nội dung của đạo đức thông thường, mà đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên phải làm gương trong thực tiễn “nói đi đôi với làm” để làm tròn trách nhiệm của mình

Muốn nói đi đôi với làm và làm có hiệu quả thì cùng với tấm lòng trung thực, cần phải kết hợp giữa chủ trương, biện pháp đúng đắn và đầy đủ với ý chí phấn đấu, không chỉ đọng ở lời nói, chủ trương Do đó, người dạy “Chủ trương 1, biện pháp 10, quyết tâm 20”, nghĩa là chủ trương đúng là rất quan trọng nhưng chưa đủ, phải có những biện pháp cụ thể và quyết tâm tổ chức thực hiện để nói và làm có hiệu quả Vì từ lời nói tới việc làm bao giờ cũng phải trải qua những chặng đường gian nan, không có quyết tâm cao tổ chức thực hiện thì không thể biến chủ trương đúng thành hiện thực Ngoài ra, nói đi đôi với làm đối với người cán bộ, đảng viên còn chủ yếu phải nêu gương đạo đức của mình trong mọi mối quan hệ, trong mọi công việc, trước quần chúng

để quần chúng noi theo Người cách mạng, có đạo đức cách mạng, theo Hồ Chí Minh, phải là “kiểu mẫu”, là “mực thước” cho người khác, để giáo dục người khác, để người khác theo mình

Nêu gương đạo đức là một yêu cầu đối với cán bộ, đảng viên và những người đứng đầu các cơ quan Đảng, Nhà nước, các tổ chức đoàn thể xã hội Hồ Chí Minh cho rằng, việc nêu gương đạo đức của cán bộ, đảng viên có tác dụng giáo dục quần chúng rất cao Người thường xuyên nhắc nhở và yêu cầu mỗi cán bộ, đảng viên “Tự mình phải chính trước, mới giúp được người khác chính Mình không chính, mà muốn người khác chính là vô lý” [51, tr 645] Ngược lại, sự thiếu rèn luyện, tu dưỡng, đặc biệt là sự thoái hóa, biến chất đạo đức của một bộ phận cán bộ, đảng viên sẽ ảnh hưởng rất lớn đến hành vi đạo đức, lối sống ý thức kỷ luật, pháp luật của quần chúng Người chỉ rõ “Nói chung thì các dân tộc Phương đông đều giàu tình cảm, và đối với họ một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền” [40, tr 263] Người luôn luôn yêu cầu cán bộ, đảng viên phải gương mẫu trong mọi việc Không có lĩnh vực nào mà tác dụng nêu gương lại quan trọng bằng lĩnh vực đạo đức Trong gia đình đó là tấm gương của cha mẹ đối với con cái, của

Ngày đăng: 05/01/2016, 17:12

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Trọng Ân ( 2005), Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức, Tạp chí Triết học, Số 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Triết học
2. Lê Hữu Cát, Mạc Văn Nam ( 2004), Giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên theo di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tạp chí Triết học, Số 9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Triết học
5. Thành Duy (1997), Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng với việc xây dựng đạo đức đội ngũ cán bộ ngày nay, Tạp chí Quốc phòng toàn dân, Số 8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Quốc phòng toàn dân
Tác giả: Thành Duy
Năm: 1997
6. Thành Duy (1997), Tư tưởng Hồ Chí Minh về vị trí cán bộ và công tác cán bộ, Tạp chí Thông tin lý luận, Số 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Thông tin lý luận
Tác giả: Thành Duy
Năm: 1997
7. PGS, TS. Thành Duy và TS Lê Quý Đức (2007), “Học tập Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh - xây dựng nền văn hóa đạo đức ở nước ta hiện nay”, Nxb Lí luận Chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Học tập Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh - xây dựng nền văn hóa đạo đức ở nước ta hiện nay
Tác giả: PGS, TS. Thành Duy và TS Lê Quý Đức
Nhà XB: Nxb Lí luận Chính trị
Năm: 2007
8. Trần Văn Giàu (1978), Đạo đức Nho giáo và đạo đức truyền thống Việt Nam, Tạp chí Triết học, Số 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Triết học
Tác giả: Trần Văn Giàu
Năm: 1978
9. Trần Văn Giàu (1996), Sự phát triển của tư tưởng ở Việt Nam từ thế kỷ XIX đến Cách mạng Tháng Tám, Gồm 2 tập, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự phát triển của tư tưởng ở Việt Nam từ thế kỷ XIX đến Cách mạng Tháng Tám
Tác giả: Trần Văn Giàu
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1996
11. Đảng Cộng sản Việt Nam: Các Nghị quyết của Trung ương Đảng 1996 - 1999, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các Nghị quyết của Trung ương Đảng 1996 - 1999
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2000
14. Đảng Cộng sản Việt Nam (2004), Văn kiện Hội nghị Trung ương lần thứ 9. Khóa IX, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị Trung ương lần thứ 9. Khóa IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2004
15. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2006
19. Hoàng Ngọc Hoa (1999), Thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, Tạp chí Thông tin lý luận, Số 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Thông tin lý luận
Tác giả: Hoàng Ngọc Hoa
Năm: 1999
21. Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Phân viện Thành phố Hồ Chí Minh (1997), Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề cán bộ và công tác cán bộ trong sự nghiệp đổi mới hiện nay, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề cán bộ và công tác cán bộ trong sự nghiệp đổi mới hiện nay
Tác giả: Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Phân viện Thành phố Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1997
24. Trần Hậu Kiêm - Chủ biên (1996), Giáo trình đạo đức học, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình đạo đức học
Tác giả: Trần Hậu Kiêm
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1996
25. Đặng Xuân Kỳ (1994), Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh, Tạp chí Cộng sản, Số 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Cộng sản
Tác giả: Đặng Xuân Kỳ
Năm: 1994
26. Vũ Kỳ (1993), Bác Hồ căn dặn cán bộ, đảng viên phải thật sự thấm nhuần và thực hành đạo đức cách mạng, Tạp chí Tư tưởng văn hóa, Số 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Tư tưởng văn hóa
Tác giả: Vũ Kỳ
Năm: 1993
27. Đỗ Huy (1992), Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh trong hệ chuẩn mực của thời đại mang tên Người, Tạp chí Triết học, Số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh trong hệ chuẩn mực của thời đại mang tên Người
Tác giả: Đỗ Huy
Nhà XB: Tạp chí Triết học
Năm: 1992
28. Vũ Thị Hồng Lê (2007), Tư tưởng Hồ Chí Minh về nâng cao đạo đức cách mạng và đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, Luận văn Thạc sĩ Triết học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng Hồ Chí Minh về nâng cao đạo đức cách mạng và đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân
Tác giả: Vũ Thị Hồng Lê
Nhà XB: Luận văn Thạc sĩ Triết học
Năm: 2007
32. Nguyễn Văn Lý (2004), Vấn đề nâng cao đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên ở nước ta hiện nay, Tạp chí Triết học, Số 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Triết học
Tác giả: Nguyễn Văn Lý
Năm: 2004
33. Cao Văn Lượng (1999), Hồ Chí Minh với vấn đề nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân, ngăn chặn sự thoái hóa, biến chất của một bộ phận cán bộ, đảng viên, Tạp chí nghiên cứu lịch sử, Số 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Chí Minh với vấn đề nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân, ngăn chặn sự thoái hóa, biến chất của một bộ phận cán bộ, đảng viên
Tác giả: Cao Văn Lượng
Nhà XB: Tạp chí nghiên cứu lịch sử
Năm: 1999
34. Nguyễn Ngọc Long chủ biên (2006), Giáo trình Đạo đức học, NXB Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Đạo đức họ
Tác giả: Nguyễn Ngọc Long chủ biên
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2006

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w