1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu lịch sử ra đời, phát triển và đặc điểm của làng xã nam bộ và nam trung bộ

26 7,9K 21

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 66,15 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đến đầu thế kỉ X, chính quyền họ Khúc tích cực thi hành chính sách cải cáchhành chính, biến làng thành đơn vị hành chính cấp cơ sở của nhà nước gọi là xã.Khái niệm “làng, xã” như một đơn

Trang 1

Đề tài: Tìm hiểu lịch sử ra đời, phát triển và đặc điểm của làng xã Nam bộ và Nam trung bộ.

MỤC LỤC

MỤC LỤC 1

Chương 1: Lịch sử hình thành và phát triển của làng xã Nam bộ và Nam Trung Bộ 3

I Lịch sử hình thành làng xã Việt Nam: 3

II Lịch sử hình thành và phát triển của làng xã Nam Bộ và Nam trung bộ 4

II.1 Tiến trình định cư và khai phá hình thành làng xã của người Việt ở Nam bộ và Nam trung bộ trong thế kỉ XVII – XVIII: 4

II.2 Các loại đồn điền và sự hình thành xã thôn ở miền Nam đầu thế kỷ XIX: 8

II.3 Từ làng xã hình thành nên những thị tứ, trung tâm buôn bán sầm uất 9

Chương 2 Đặc điểm của làng xã Nam bộ và Nam Trung bộ 10

I Những đặc điểm cơ bản của làng xã Việt Nam 10

I.1 Kết hợp giữa cư trú theo dòng họ và cư trú theo địa vực 10

I.2 Kết cấu kinh tế nông nghiệp – thủ công nghiệp – thương nghiệp 11

I.3 Quan hệ giữa làng với nước chặt chẽ 12

I.4 Quan hệ xã hội “tứ dân”: sĩ - nông - công – thương 12

I.5 Tính tổ chức cộng đồng và tính tự trị rất cao 13

II Đặc điểm riêng của làng Việt ở Nam Bộ 13

II.1 Đặc điểm cư trú 13

II.1.1 Định cư từ cao xuống thấp 14

II.1.2 Hình thức quần cư, làng kéo dài trên diện rộng 14

II.1.3 Làng khai phá 14

II.2 Làng thiếu chất kết dính chặt, mang tính mở 16

Trang 2

II.3 Kết cấu kinh tế 16

II.3.1 Làng phân cực ở mức độ cao 16

II.3.2 Một nền kinh tế hàng hóa 18

II.4 Đặc điểm văn hóa 19

II.4.1 Văn hóa dân gian người Việt không đọng dày 19

II.4.2.Tiếp nhận và giao lưu văn hóa với các tộc người khác 19

II.4.3 Tôn giáo địa phương dị biệt nhưng hòa đồng 19

III Đặc điểm của làng xã Nam Trung Bộ 20

III.1 Đặc điểm cơ bản 20

III.2 Một số làng tiêu biểu ở Nam Trung Bộ 21

III.2.1 Làng Phước Thuận 21

III.2.2 Làng Phú Lộc 22

IV Nhận xét và đánh giávài nét cơ bản giữa làng Nam Bộ và Nam Trung Bộ với làng Bắc Bộ 22

IV.1 So sánh làng Nam Bộ với làng Nam Trung Bộ 22

IV.2 Nét khác nhau cơ bản giữa làng miền Nam và làng miền Bắc 23

IV.3 Làng xã miền Nam hiện nay: 24

Chương 3: Kết luận 25

TÀI LIỆU THAM KHẢO 27

Trang 3

Chương 1: Lịch sử hình thành và phát triển của làng xã Nam bộ và Nam Trung Bộ

I Lịch sử hình thành làng xã Việt Nam:

Từ thời kỳ văn hóa Phùng Nguyễn cách ngày nay khoảng 4000 năm, trên đấtnước ta đã diễn ra quá trình tan rã của công xã thị tộc và thay vào đó là quá trìnhhình thành công xã nông thôn- hay nói một cách khác đấy là quá trình hình thànhlàng Việt

Mỗi làng bao gồm một số gia đình sống quây quần trong một khu vực địa lí nhấtđịnh Ở đây, bên cạnh quan hệ địa lí – láng giềng, quan hệ huyết thống vẫn đượcbảo tồm và củng cố tạo thành kết cấu vừa làng vừa họ hay kết cấu làng họ rất đặctrưng ở Việt Nam Lúc này, toàn bộ ruộng đất cày cấy cùng với rừng núi sôngngòi, ao đầm trong phạm vi làng đều thuộc quyền sở hữu của làng Công việckhai hoang, làm thủy lợi và các hình thức lao động công ích khác đều được tiếnhành bằng lao động hiệp tác của các thành viên trong làng Làng Việt như thế làmột loại hình của công xã phương Đông trong đó nông nghiệp gắn liền với thủcông nghiệp, làng xóm gắn liền với ruộng đất, nên tự nó mang tính ổn định rấtcao Tính ổn định cao này đã hóa thân thành tinh thần công xã, thành truyềnthống xóm làng nên nó trở thành nguồn sức mạnh tiềm tàng trong cuộc đọ sứcnghìn năm với các mưu đồ nô dịch và đồng hóa của phương Bắc

Thời kỳ Bắc thuộc, phong kiến Trung Quốc đã tìm mọi cách vươn xuống tận cơ

sở để nắm lấy và sử dụng làng Việt truyền thống như một công cụ phục vụ chomưu đồ thống trị và đồng hóa của chúng Đầu thế kỉ thứ VII đề ra chính sáchkhuôn làng Việt vào mô hình thống trị của Trung Quốc: đặt ra hương và dướihương là xã Nhưng trong thực tế phong kiến Trung Quốc đã không thành công Đến đầu thế kỉ X, chính quyền họ Khúc tích cực thi hành chính sách cải cáchhành chính, biến làng thành đơn vị hành chính cấp cơ sở của nhà nước gọi là xã.Khái niệm “làng, xã” như một đơn vị tụ cư, đơn vị kinh tế, đơn vị tín ngưỡng vàsinh hoạt văn hóa cộng đồng, đơn vị hành chính cấp sơ sở như ta hằng quan niệmxưa nay được hình thành trong thời điểm lịch sử này, đây cũng chính à bướcchuyển biến rất quan trọng của nông thôn Việt Nam truyền thống Cấp thôn rađời chính là do nhu cầu quản lý hành chính của bản thân cấp xã Thôn trở thànhđầu mối giáp nối, gắn kết và điều hòa hai hệ thống quản lý: hành chính và tự trị,luật pháp và tục lệ, chính trị và xã hội

Trang 4

Đầu thời Trần, năm 1242, Trần Thái Tông tiến hành phân chia ra các xã lớn, xãnhỏ mà đặt các chức đại tư xã, tiểu tư xã là các xã quan thay mặt nhà nước trựctiếp quản lý từ một đến bốn xã Đến thời Pháp thuộc, Thực dân Pháp khôngnhững không thủ tiêu tổ chức xã, thôn cổ truyền mà còn tìm mọi cách duy trì nó,nuôi dưỡng nó thông qua bọn địa chủ phong kiến và hội đồng kì mục, biến nóthành công cụ hữu hiệu cho chính sách thống trị và khai thác thuộc địa nhưng sựthực lại diễn ra hoàn toàn trái ngược với những tính toán của bọn Thực dân Vìchính những nơi đây là nơi nuôi dưỡng tinh thần yêu nước, ý thức quốc gia, dântộc và có những nơi trở thành những pháo đài, căn cứ chống Pháp

Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công và sự thành lập chính quyền dânchủ nhân dân phủ định hoàn toàn bộ máy chính quyền cũ của đế quốc, phongkiến từ trung ương cho đến cơ sở Sau cuộc bầu cử hội đồng nhân dân xã vàotháng 4/1946, nhiều thôn làng cũ được sáp nhập lại thành những xã tương đốilớn Cơ sở để sáp nhập là những thôn làng có quan hệ về nguồn gốc lịch sử, vănhóa có sự gần gũi về địa vực cư trú, sự gắn bó về tự nhiên, kinh tế, xã hội

Đến thời kì hợp tác xã nông nghiệp bậc thấp, tuy thôn làng không còn là đốitượng quản lý nữa, nhưng nó đã hóa thân vào hợp tác xã và thôn vẫn còn giữđược các nét truyền thống riêng của mình Chỉ từ khi hợp tác xã chuyển lên bậccao với quy mô toàn xã thì thôn làng truyền thống mới hầu như bị giải thể

II.Lịch sử hình thành và phát triển của làng xã Nam Bộ và Nam trung bộ.

II.1 Tiến trình định cư và khai phá hình thành làng xã của người Việt ở Nam bộ và Nam trung bộ trong thế kỉ XVII – XVIII:

Trong quá trình hình thành nên những thôn ấp, làng xã ở Nam bộ hay Nam trung

bộ đều gắn liền với tiến trình khai phá, khẩn hoang bằng những công cuộc Namtiến, mở rộng lãnh thổ của các chính quyền phong kiến Nước Đại Việt và Chăm

pa vốn là hai nước láng giềng qua lại nhiều thế kỉ, có lúc xung đột, nhưng cũng

có khi rất yên ổn Thời Lê sơ quan hệ Đại Việt – Chăm pa giữ được hòa bìnhtrong một thời gian đầu Nhưng từ thập niên 40, vua Chiêm nhiều lần cho quânquấy phá vùng biên giới, cướp phá vùng đất Hóa Châu, gây ra bất hòa lớn giữahai nước Trước tình hình đó, năm 1471 vua Lê Thánh Tông thân chinh đi đánhChăm pa, chiếm của nước này một vùng rộng lớn kéo dài từ cực Nam Quảng

Trang 5

Ngãi đến đèo Cù Mông ngày nay Sau thắng lợi trên vùng đất còn lại của Chăm

pa, vua Lê Thánh Tông còn chia thành 3 tiểu quốc: Nam Bàn, Hoa Anh, ChiêmThành với ý định lấy 2 vương quốc Nam Bàn và Hoa Anh làm vùng đêm giữaĐại Việt và Chămpa nhằm ngăn chặn các cuốc tấn công của Chămpa vào ĐạiViệt duy trì bình yên giữa vùng biên giới của hai nước Sau cuộc Nam chinh, LêThánh Tông lấy đất Chiêm Thành vừa chiếm đặt làm đạo Thừa Tuyên – QuảngNam, cộng trong nước là 13 Thừa tuyên, danh từ Quảng Nam có từ lúc ấy Saucuộc Nam chinh trở về, việc chiêu mộ nhân dân vào vùng đất mới tiếp tục diễn ra

và ngày càng mạnh mẽ Vùng đất mới là phủ Hoài Nhân, tức tỉnh Bình Địnhngày nay là vùng đất rộng rãi, đồng bằng phì nhiêu, có cửa biển lớn, có sức hấpdẫn đối với lưu dân, trong đó có nhiều binh lính tham gia chiến tranh đã ở lạivùng đất này và mang theo gia quyến của họ, cũng như thuận tiện cho việc lưuđày đến nơi xa xôi của những tù nhân, tội phạm của nhà nước Truyền thống củangười Việt trong việc duy trì tính chất đại gia đình đã đóng một vai trò quantrọng trong việc di dân về phía Nam, truyền thống này khuyến khích di dân đitheo từng nhó cùng huyết thống hay họ tộc ngoài ra còn có những cuộc di cư củanhững người nghèo khó hay tội phạm, khi lẻ tẻ một vài gia đình, khi từng nhómnhỏ vẫn liên tục và âm thầm diễn ra Mục đích của những người dân Việt khi di

cư đến vùng đất mới là nhằm tìm kiếm đất đai để làm ăn chứ không phải để bắt

tù binh nô lệ hay cướp bóc của cải Nhờ vậy mà họ sớm hòa nhập với cộng đồng

cư dân bản địa, lập nên xóm làng mới cùng lao động và hòa hợp trong nhữngsinh hoạt văn hóa

Năm 1527 nhà Mạc chiếm ngôi nhà Lê, rồi đến việc họ Trịnh nắm quyền bính,

họ Nguyễn bị nghi kỵ và nguy cơ bị họ Trịnh hãm hại Năm 1558, Đoan quậncông Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hóa (gồm Quảng Bình, Quảng Trị,Thừa Thiên Huế ngày nay), năm 1570 lại trấn thủ them phủ Quảng Nam Từ đó

họ Nguyễn phía Nam ra sức xây dựng lực lượng của mình, biến miền Nam thànhgiang sơn cát cứ riêng biệt, lập thế đối trọng với chúa Trịnh ở phía Bắc sau khinhận quyền trấn thủ Quảng Nam (1570), năm 1578, Nguyễn Hoàng đã cử lươngVăn Chánh làm Tri huyện Tuy Viễn và giao nhiệm vụ chiêu tập lưu dân đến CùMông, Bà Đài, khẩn hoang ở Đà Diễn, đánh chiếm lấy Thành Hồ Cùng với biệnpháp quân sự, ông thực hiện biện pháp kinh tế là chiêu mộ dân vào khai khẩn nơiđất hoang vì dân cư ở đây thưa thớt biện pháp kinh tế này đã tạ sự ổn định choHoa Anh, đồng thời cũng tạonđiều kiện thuận lợi dể người Việt từ vùng ThuậnQuảng vào vùng này ngày càng đông đúc Trên cơ sở đó vào năm 1597, Tổng tấnThuận Quảng Nguyễn Hoàng đã có công văn lệnh cho Lương Văn Chánh trấn

An Biên đem dân vào khai khẩn vùng đất Phú Yên Công văn này thúc chất như

Trang 6

sự công nhận “lưu dân đi trước nhà nước theo sau” – một quá trình Nam tiến củangười Việt.

Sau đó nhà Nguyễn tiếp tục cho khai phá, hình thành nên làng xã ở Nam bộ trongthế kỷ XVII-XVIII

Ngay từ thế kỷ XVII, trên vùng đất Nam bộ nói chung và cũng như vùng châuthổ đồng bằng Sông Cửu Long nói riêng, bắt đầu xuất hiện lớp cư dân mới vớimột nề văn hóa mới, trong đó đa số là những nông dân và thợ thủ công nghèo ởcác tỉnh phía Bắc vì không chịu nổi những tai họa do cuộc chiến tranh giữa haitập đoàn Trịnh – Nguyễn gây ra, cũng như sự áp bức, bóc lột tàn bạo của giai cấpphong kiến buộc họ phải “tha phương cầu thực” Cùng với việc tự do phân chiếmruộng đất, những người dân di cư cũng hoàn toàn được tự do lựa chọn nơi cư trú

củ mình để dựng nhà và lập làng ở nhưng nơi họ cho là tốt và thích hợp Ở nhữngnơi đó, họ sống quần tụ lại với nhau, tự động lập thành những thôn ấp, bởi vìlàng xã là những cơ sở hạ tầng quen thuộc của người Việt có từ thời xa xưa Hơnnữa trên vùng đất mới, với rừng rậm, đầy thú dữ, với sông sâu nhiều cá sấu, lạichưa quen thủy thổ nên họ phải gắn bó với nhau, tự động quần tụ với nhau thànhthôn ấp để có điều kiện giúp đỡ lẫn nhau khai hoang mở đất và đối phó với thiêntai, thú dữ Đây là cách sinh cơ lập nghiệp quen thuộc của những người dân di

cư Những thôn ấp mà những người dân di cư lập ra lúc đầu mang tính chất tựquản, chứ chưa phải là những dơn vị hành chính, vì lúc bấy giờ chưa có chínhquyền

Trong lớp cư dân mới xuất hiện ở vùng đồng bằng Sông Cửu Long trong các thế

kỷ XVII,XVIII, ngoài thành phần chính là người Việt, người Hoa, người Chăm,cũng còn 1 số người thuộc các quốc tịch khác như Pháp, Anh, Macau, Ấn Độ…Như vậy địa bàn dành cho lớp cư dân mới đến cư trú và khai khẩn khá rộng rãi,việc quản lí hành chính và xã hội ở đây cho đến thế kỷ XVII vẫn còn khá lỏnglẻo, những lưu dân mới đến được tự do lựa chọn nơi ăn chốn ở, muốn khẩn đấtchỗ nào tùy ý

Trong tình hình như thế, những người mới đến thường chọn trước tiên những địađiểm thuận lợi cho sự sinh sống và trồng trọt đó là các vùng đất giồng ven sôngbiển, các cù lao màu mỡ, những nơi có thể nhnh chóng khẩn hoang để trồng câylương thực và cây ăn quả hoặc là ruộng muối hay làm nghề chai lưới để đánh bắtthủy hải sản… đó cũng là các vùng ven núi nơi ngu dân có thể khai thác nhiềunguồn lợi của rừng như săn bắt thú, khai thác gỗ, khai mỏ…

Tóm lại đến cuối thế kỷ XVII, lớp cư dân mới mà chủ yếu là người Việt đã đặtchân tới nhiều nơi ở Đồng bằng Sông Cửu Long Tuy nhiên rõ ràng là các điểmđịnh cư và khai khẩn chưa được phân bố đều khắp do điều kiện tự nhiên ở các

Trang 7

vùng có sự khác nhau Trong các thế kỷ XVII,XVIII lưu dân người Việt có mặtđông đảo ở các vùng Bà Rịa, Đồng Nai, Bến Nghé, Mỹ Tho, Bến Tre nhất lànhững vùng gần ông Vàm Cỏ, Sông Tiền là những vùng có nhiều thuận lợi đốivới việc làm lúa.

Năm 1698, Chưởng cơ Lễ thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh dinh (thiết lập

bộ máy hành chính ở Đồng Nai – Gia Định), lấy Nông Nại đặt làm phủ Gia Định,lập xứ Đồng Nai làm huyện Phước Long, dựng dinh Trấn Biên; lập xứ Sài Gònthành huyện Tân Bình, dựng dinh Phiên Trấn Gọi là huyện nhưng huyện PhướcLong và Tân Bình khi ấy khá rộng

Vì đất đai quá rộng mà dân cư còn quá ít, cho nên Nguyễn Hữu Cảnh một mặtchiêu mộ những lưu dân từ châu Bố Chính (Quảng Bình) trở vô Nam đến ở khắpnơi, cho phép những người dân tự di cư phân chiếm ruộng đất để canh tác.từ đó,chính quyền họ Nguyễn tỏ ra rất dễ dãi đối với việc khai hoang lập ấp của lưudân Sau khi chính quyền họ Nguyễn lập ra hệ thống hành chính, việc hình thànhnững ấp mới thường được thực hiện theo phương thức những người giàu đứng rađầu đơn xin mộ dân lập ấp và nhu vậy, người đứng tên xin lập làng mặc nhiêntrở thành điền chủ, chủ nợ Khi ruộng đất thành thuộc, dân đông hơn thì các thôn

ấp ấy được nâng lên thành làng Các làng được lập sớm hay muộn tùy vào tầmquan trọng của các thôn ấp Bên cạnh đó, sau khi chính quyền họ Nguyễn đa tiếnhành việc kinh lược, đặt ra hệ thống hành chính thì tổ chức thôn ấp (theo nghĩađơn vị hành chính) chỉ được áp dụng đối với người làm nghề nông, khai khẩnruộng đất Còn đối với một số người làm nghề rừng, nghề biển thì được hưởngquy chế riêng, khỏi lập thôn ấp mà chỉ cần có người thay mặt đứng ra chịu tráchnhiệm để kết hợp thành trang, trại, man, thuộc, nậu… Họ sống định cư hoặc lưudộng, với người cai trại hoặc người hộ trưởng, người đầu nậu cầm đầu Nhưngtrong thực tế thì ngay cả những người dân lầm nghề rừng, nghề biển vẫn sốngquy tụ với nhau trong những khu vực cư trú nhất định

II.2 Các loại đồn điền và sự hình thành xã thôn ở miền Nam đầu thế kỷ XIX:

Sang thế kỷ XIX, dân số tang lên do sinh đẻ tự nhiên và do dân miền ngoài tiếptục nhập cư khai khẩn theo sự vận động của triều Nguyễn, vì vậy, vùng đất nàotrước đó còn hoang vắng thì nay đều được khai phá

Năm 1802, sau khi đánh bại nhà Tây Sơn, Nguyễn Ánh lập ra triều Nguyễn Đểđối phó với những khó khan ban đầu, song song với việc dùng biện pháp quân sự

Trang 8

và hành chính để đàn áp và khống chế nhân dân, các vua triều Nguyễn đều đặcbiệt chú trọng đến việc khẩn hoang, coi đó là một biện pháp tích cực nhất đưadân vào công việc sản xuất, giải quyết được nạn dân lưu tán, đồng thời lại có thểtăng thêm diện tích trồng trọt Đặc biệt dưới thời Tự Đức, năm 1853, triều đìnhnhà Nguyễn đã triển khai một đợt mộ dân khai hoang ập ấp với quy mô lớn ởNam Kỳ Lục tỉnh do Nguyễn Tri Phương đảm trách Đợt mộ dân lập ấp này chỉsau 1 năm thực hiện đã lập them 124 ấp mới bên cạnh đó Nguyễn Ánh lập lạihình thức đồn điền ở Nam kỳ

 Loại thứ nhất là đồn điền mang tính chất quân sự thuần túy do quân lính chínhquy chọn đất làm doanh trại rồi khai hoang làm ruộng Quân lính thay phiên nhaukhẩn hoang làm ruộng, cày cấy, chia theo đội ngũ mà làm và làm theo kỷ luậtquân sự Mỗi khu đồn điền giao cho 1 viên võ quan hàm tứ phẩm cải quản

 Loại đồn điền thứ 2 là do hạn dân thường canh tác Dân trong đồn điền được chiathành các đội hay nậu giống như tổ chức đội ngũ quân sự Nhưng họ chỉ chuyênlàm ruộng chăn nuôi và không phải tập luyện quân sự Họ được nhà nước giaoruộng hoang, cấp nông cụ (nếu thiếu) và khi thu hoạch hang năm họ phải nộpthóc sưu Để thành lập loại đồn điền này, chính quyền phong kiến tổ chức mộngười từ các làng Việc tuyển mộ được thực hiện với cả 2 hình thức tự nguyện vàcưỡng bức Hình thức tự nguyện được áp dụng rộng rãi cho tất cả mọi người với

lệ thường để khuyến khích Và tổ chức đồn điền này giống với bất cứ 1 làng ấpnào, cũng có gia đình, con cái, nhà cửa, bà con và quây quần với nhau, và nhưvậy, mặc nhiên đã hình thành những làng ấp mới, những làng ấp có tổ chức Sangthời Gia Long, tính chất dân sự của đồn điền này càng được khẳng định, bởi vìkhi trưng mộ hương binh, dân đồn điền cũng được tính như dân thường các loại.Còn dưới thời Minh Mạng và Thiệu Trị, có thể là các đồn điền kiểu này đã hoàntoàn biến thành thôn xã rồi, cho nên trong chính sử nhà Nguyễn chỉ nhắc tới loạiđồn điền thứ nhất

Tóm lại bên cạnh các làng xã được hình thành từ việc khẩn hoang, một số đáng

kể các làng xã Nam Kỳ đã chuyển biến từ đồn điền mà ra Đồn điền cũng đóngvai trò quan trọng trong đời sống kinh tế, chính trị ở miền Nam nước ta hồi đầuthế kỷ XIX Không phải ngẫu nhiên mà đồn điền chỉ được thiếp lập ở Nam kỳ vá

áp dụng liên tục trong suốt 4 triều vua nhà Nguyễn Có thể thấy, Nam kỳ là đấtmới hơn nhiều so với những miền đất khác ở dải đất Việt Nam

II.3 Từ làng xã hình thành nên những thị tứ, trung tâm buôn bán sầm uất.

Trang 9

Có thể coi là sản phẩm của vùng đất phía Nam, được hình thành trên những trungtâm giao thông thủy bộ và nằm giữa vùng nông nghiệp trù phú Thị tứ có khi làhuyện lỵ, có khi không phải là huyện lỵ nhưng thường có dịch vụ và sản xuất 1làng thủ công, là tiền đô thị hay nửa đô thị.

Với kết cấu kinh tế - xã hội nông, công và thương, thị tứ có sức sống bền vữnghơn một làng (chỉ thuần túy phát triển buôn bán hay thủ công nghiệp) Tuy vậy,thị tứ ra đời cũng là hiện tượng đô thị hóa, nhưng chậm chạp và vẫn còn đậm tínhchất nông thôn

Giai đoạn này , ở Nam bộ xuất hiện nhiều thị tứ và tụ điểm buôn bán sầm uất vàmột số đã trở thành những trung tâm giao dịch với bên ngoài nổi tiếng nhưthương cảng Cù Lao Phố (tức Nông Nại Đại Phố ở Biên Hòa), thương cảng SàiGòn (tức Chợ Lớn), thương cảng Hà Tiên, thương cảng Bãi Xàu, phố chợ MỹTho…

Trang 10

Chương 2 Đặc điểm của làng xã Nam bộ và Nam Trung bộ

I Những đặc điểm cơ bản của làng xã Việt Nam.

I.1 Kết hợp giữa cư trú theo dòng họ và cư trú theo địa vực

Làng Việt là một phức hợp của nhiều tổ chức xã hội mà trước hết là dòng họ.Các mối liên kết trong làng có nghề nghiệp, tín ngưỡng tôn giáo, địa vực lánggiềng, xóm, giáp, đơn vị hành chính làng xã và họ hàng dòng máu, nhưng mốiliên kết họ hàng vẫn là bền vững nhất Có thể coi cộng đồng làng trước hết là tậphợp của những dòng họ

Một vài nhà nghiên cứu cho rằng, tổ chức dòng họ ở nước ta không chặt chẽ như

ở Trung Quốc và Nhật Bản Nhân dân ta vẫn lấy gia đình cá thể (một vài thế hệ)làm cơ sở

Quá trình hình thành và phát triển của một làng ở đồng bằng sông Hồng và đồngbằng Sông Cửu Long, từ khởi đầu cho đến ngày nay là sự chuyển đổi và pháttriển từ liên kết hộ gia đình tiến lên liên kết họ hàng và các dòng họ với nhau Đócũng là mối liên kết tự nhiên theo hôn nhân và theo sản xuất Tín ngưỡng tổ tiên

là đặc trưng tín ngưỡng của ngời Việt đã góp phần không nhỏ trong việc thắt chặtquan hệ họ hàng

Làng Nam bộ có đặc tính mở, cư dân là những người từ nhiều nơi tụ về cùng hòahợp, chung lung đấu cật, xây dựng làng mới Làng Nam bộ trẻ hơn và khôngmang nặng tính chất tự túc tự cấp mà trải dài thoáng ven kênh rạch và kinh tếhàng hóa phát triển hơn

I.2 Kết cấu kinh tế nông nghiệp – thủ công nghiệp – thương nghiệp.

Trong xã hội Việt Nam trước đây, kết cấu làng xã có ba thành phần: nôngnghiệp, thủ công nghiệp và thương nghiệp tương đối phổ biến ở đồng bằng Bắc

Bộ và Trung Bộ trong làng có tư tưởng truyền thống là “trọng nông ức thương”,

“dĩ nông vi bản”, … ăn sâu vào tiềm thức người dân Chính vì vậy đề cao thóiquen hà tiện “thắt lung buộc bụng”, “tự lực cánh sinh” Kết cấu kinh tế này thực

sự đã tạo cho làng xã có thể tồn tại lâu dài, vững chắc mà những biến động xã hội

Trang 11

mấy thế kỷ qua, thậm chí cho đến đầu thế kỷ này tác động vào cũng không làmcho nó thay đổi hay có chăng cũng chỉ là những thay đổi nhỏ không đáng kể.Mối quan hệ trên không chỉ dơn giản là sự kết hợp về nghề nghiệp và cư dân màcòn là sự kết hợp các tổ chức và quan hệ xã hội; trong làng có hương ước, có tộcước lại có thêm cả phường lệ Nếu ta gọi những làng nông nghiệp vơi các loạihình sở hữu: ruộng công, ruộng nửa công nửa tư, ruộng tư… như là công xã nôngnghiệp thì những làng nông nghiệp có các phường thủ công nghiệp và thươngnghiệp là làng xã nông công thương nghiệp.

Tóm lại, sự kết hợp giữa tiểu nông, tiểu thủ công và tiểu thương duy trì kinh tế cáthể, tạo ra sự vận động khép kín, một chất níu kéo sự phát triển

I.3 Quan hệ giữa làng với nước chặt chẽ.

Xã hội Việt Nam truyền thống là xã hội nông nghiệp, văn hóa Việt Nam là vănhóa nông nghiệp Con người Việt Nam trong lịch sử, từ rất lâu đời đã là conngười vừa của làng, vừa của nước “Sống ở làng, sang ở nước”

Nhà nước và Làng là hai thực thể xã hội với hai cấp độ khác nhau về không giankinh tế - xã hội nhưng lại có mối liên quan, liên kết chặt chẽ tạo nên sức mạnhcủa làng, của nước Sự thống nhất giữa làng với nước đã tạo nên một sức mạnhlớn đưa đất nước ta vượt qua biết bao thăng trầm của thời đại, vẫn đứng vững saunhiều cuộc xâm lược của nhiều kẻ thù lớn mạnh

Cho đến nay, dù đã bước sang giai đoạn lịch sử mới với chế độ Nhà nước Xã hộiChủ nghĩa nhưng do mối quan hệ giữa làng xẫ và nhà nước vẫn được giữ gìn,phát huy Có làng mới có nước, nước được hình thành trên cơ sở làng: “làng cótrước nước có sau” Do đó mọi người đều gắn bó với làng, với nước

Xây dựng bảo vệ làng là xây dựng bảo vê nước mối quan hệ giữa làng và nướcbền chặt như vậy nên trong lịch sử dù có lúc mất nước nhưng lại không mất làng.Chúng ta có thể thấy thể liên kết cộng đồng Việt Nam chủ yếu theo ba cấp cộngđồng theo trục dọc là: nhà – làng – nước Nhà và gia đình là tế bào của xã hội.Làng là cộng đồng kết hợp quan hệ láng giềng (xóm làng) với quan hệ huyếtthống (họ), mang tính tự quản cao Nước là quốc gia dân tộc Vua Gia Long cũngtừng nhận định: “nước là họp các làng mà thành” Làng và nước có mối lên kếttrên các bình diện: kinh tế, văn hóa, xã hội

Trang 12

Mối liên hệ làng – nước trải qua 1 thời gian dài từ quá khứ đến hiện tại và tươnglai và còn đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển và xây dựng đấtnước.

I.4 Quan hệ xã hội “tứ dân”: sĩ - nông - công – thương.

Làng Việt Nam có kết cấu bền vững, độc đáo, đa chức năng với kết cấu chồnglấn: sĩ, nông, công, thương Qua thứ tự sắp xếp thứ bậc cho ta thấy, người Việt ta

có truyền thống học tập, đề cao tri thức nên mới đưa tầng lớp “Sĩ” lên hàng đầu

kế sau tri thức là nông dân – những người làm ra lương thực, nuôi sống xã hộibởi “có thực mới vực được đạo” Kế đến là những người công nhân, còn tầng lớpthương nhân bị người dân miệt thị xếp hàng sau cùng Bởi trong quan niệmngười Việt cho rằng kinh doanh chỉ là buôn nước bọt, lường gạt lẫn nhau, ănchênh lệch dựa trên sản phẩm vủa người khác chứ không làm ra của cải cho xãhội

Tuy nhiên, xã hội ngày nay đã thay đổi ít nhiều nên các quan niệm cũng đượcthay đổi theo Cả 4 tầng lớp đều có vai trò ngang nhau, không ai có thể thay thế

ai Đặc biệt trong thời kỳ hội nhập như hiện nay, “thương” không những không

bị coi thường mà còn đặc biệt được coi trọng

I.5 Tính tổ chức cộng đồng và tính tự trị rất cao.

Việc tổ chức nông thôn theo nhiều nguyên tắc khác nhau tạo nên tính cộng đồnglàng xã Tính cộng đồng là sự liên kết các thành viên trong làng lại với nhau, mỗingười đều hướng tới người khác – đó là đặc trưng dương tính, hướng ngoại.Sản phẩm của tính cộng đồng ấy là một tập thể làng xã mang tính tự trị rất cao,các làng tồn tại biệt lậpvới nhau và độc lập với triều đình phong kiến Tính tự trịkhẳng định sự độc lập của làng xã, không liên hệ với bên ngoài; làng nào biếtlàng ấy, mỗi làng là một vương quốc khép kín – đặc trưng âm tính, hướng nội.Tính cộng đồng và tính tự trị là hai đặc trưng bao trùm nhất, quan trọng nhất củalàng xã, chúng tồn tại song song, chúng là 2 mặt của một vấn đề

Biểu tượng truyền thống của tính cộng đồng là sân đình, cây đa, bến nước… biểutượng của tính tự trị là lũy tre làng, cổng làng…

Trang 13

Truyền thống “Phép vua thua lệ làng” chính là một trong những quy luật biểuhiện tính tự trị trong mối quan hệ của làng xã và nhà nước ở Việt Nam Theocách tổ chức này thì mỗi làng như làng là một quốc gia độc lập trong giới hạnquyền lợi địa phương.

II.Đặc điểm riêng của làng Việt ở Nam Bộ.

II.1 Đặc điểm cư trú.

Tuổi của làng Việt trên đồng bằng Nam Bộ hiển nhiên là ít hơn nhiều so với tuổicủa làng Việt ở Bắc Bộ Làng nào cao tuổi lắm cũng chỉ khoảng 300 năm, khi

mà người Việt tới vùng đất này để khai phá, lập nghiệp Với đặc điểm hình thànhnhư vậy nên làng Việt Nam Bộ mang những nét đặc trưng riêng:

II.1.1 Định cư từ cao xuống thấp.

Nhìn ở góc độ quan hệ với thiên nhiên, điều đập ngay vào mắt người quan sát lànhững địa điểm định cư của người Việt ở Nam Bộ rất thích ứng với thiên nhiên:con người lựa chọn những nơi thích hợp để định cư, họ thích nghi với thiên nhiênđến là chặt chẽ

Cũng về điểm định cư, người Việt khi xuống đất trũng lập làng còn chịu ảnhhưởng của sông nước Ngoài loại làng ven biển của lưu dân làm nghề chài lưới,dọc bờ sông còn có loại làng lập gần nơi “giáp nước”, nơi gặp nhau giữa nướcthủy triểu chảy ngược và nước sông chảy xuôi Phù sa lắng đọng ở những nơinày, mà cư dân quen gọi là “lung lừa” Thuyền ghe buôn bán thường ghé lại nghỉ

ở đây chờ con nước Làng mạc mọc lên ở những nơi này, bởi thế ở đâu là ơi giápnước ở đó trên bờ là thị trấn, thị tứ, chợ búa, tiệm ăn, … mọc lên

II.1.2 Hình thức quần cư, làng kéo dài trên diện rộng

Vẫn trong mối quan hệ với thiên nhiên, hình thức quần cư của làng Việt ở miềnNam cũng khác so với Bắc Bộ.hình thức này ở Bắc Bộ đã được P.Guru miêu tảtrong cuốn “Nông dân vùng châu thổ Bắc Kỳ” Theo ông thì có 3 loại cả thảy:làng trên dải đất cao ven sông, làng ven đồi và làng duyên hải Hình thức quần cư

ấy khiến cho mỗi làng là một quần thể khép kín, với lũy tre làng bao bọc

Ngày đăng: 05/01/2016, 17:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w