Ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng Rủi ro xảy ra có ảnh hưởng trực tiếp đến kinh doanh của ngân hàng, ảnh hưởng đến nguồn thu nhập, lợi nhuận ngân hàng, thậm chí ngân hàng
Trang 1BỘ TÀI CHÍNH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH - MARKETING
-
NGUYỄN ĐÍNH
GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC
QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM - CHI NHÁNH QUẢNG TRỊ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số: 60.34.02.01
TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2015
Trang 2BỘ TÀI CHÍNH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH - MARKETING
-
NGUYỄN ĐÍNH
GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN TRỊ
RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM - CHI NHÁNH QUẢNG TRỊ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Trang 3L ỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các s ố liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Nguy ễn Đính
Trang 4L ỜI CẢM ƠN!
Sau quá trình nghiên c ứu, học tập với sự nỗ lực cố gắng cùng với sự giúp đỡ của thầy cô, gia đình, bạn bè và cơ quan, tôi đã hoàn thành luận văn thạc sĩ này
Trước tiên tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến quý thầy cô giáo trường Đại học Tài chính Marketing đã trang bị những kiến thức cho tôi trong
su ốt thời gian học vừa qua
Đặc biệt tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất đến thầy giáo TS Phạm Hữu Hồng Thái đã nhiệt tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành lu ận văn
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Ban lãnh đạo và toàn thể cán
b ộ CNV Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh Quảng Trị đã tạo điều kiện tốt cho tôi trong suốt thời gian thực hiện luận văn tại chi nhánh
Do điều kiện thời gian có hạn, kiến thức còn hạn chế nên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được sự quan tâm, đóng góp
ý ki ến của thầy cô cũng như tất cả các bạn đọc để luận văn được hoàn thiện
M ột lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn!
Tác giả luận văn
Nguyễn Đính
Trang 5M ỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 2
5 K ết cấu luận văn 2
6 Tổng quan tài liệu 3
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ LÝ LUẬN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG VÀ QUẢN TR Ị RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NHTM 4
1.1 R ỦI RO TÍN DỤNG CỦA NHTM 4
1.1.1 Khái ni ệm rủi ro tín dụng 4
1.1.2 Phân loại rủi ro tín dụng 4
1.1.3 Nguyên nhân d ẫn đến rủi ro tín dụng 7
1.1.4 Ảnh hưởng của rủi ro tín dụng đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng và n ền kinh tế xã hội 8
1.2 QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NHTM 10
1.2.1 Khái niệm quản trị rủi ro tín dụng 10
1.2.2 Ý nghĩa và nhiệm vụ của rủi ro tín dụng 10
1.2.3 N ội dung của quản trị rủi ro tín dụng 11
1.3 CÁC NHÂN T Ố ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÔNG TÁC QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG 26
1.3.1 Các nhân tố bên trong 26
1.3.2 Các nhân t ố bên ngoài 29
K ẾT LUẬN CHƯƠNG 1 31
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NHCTVN - CHI NHÁNH QU ẢNG TRỊ 32
Trang 62.1 KHÁI QUÁT VỀ NHCTVN - CHI NHÁNH QUẢNG TRỊ 32
2.1.1 Vài nét lịch sữ hình thành và phát triển của NHCTVN 32
2.1.2 Thông tin v ề NHCTVN- Chi nhánh Quảng Trị……… 33
2.1.3 Ch ức năng nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức quản lý 34
2.1.4 Tình hình lao động 36
2.1.5 Kết quả hoạt động kinh doanh của NHCTVN –Chi nhánh QT 38
2.2 THỰC TRẠNG RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NHCTVN - CHI NHÁNH QU ẢNG TRỊ 48
2.2.1 Quy mô và phân lo ại dư nợ 48
2.2.2 Quy mô và cơ cấu nợ xấu 50
2.2.3 Những thiệt hại từ Rủi ro tín dụng 56
2.3.TH ỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NHCTVN - CHI NHÁNH QU ẢNG TRỊ 57
2.3.1 Th ực trạng nhận dạng rủi ro tín dụng 57
2.3.2 Thực trạng đo lường rủi ro tín dụng 59
2.3.3 Thực trạng kiểm soát rủi ro tín dụng 66
2.3.4 Th ực trạng tài trợ rủi ro tín dụng 69
2.4 ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC VÀ HẠN CHẾ CỦA CÔNG TÁC QU ẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NHCTVN - CHI NHÁNH QUẢNG TRỊ 72
2.4.1 K ết quả đạt được 72
2.4.2 H ạn chế tồn tại 75
K ẾT LUẬN CHƯƠNG 2 78
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN TRỊ R ỦI RO TÍN DỤNG TẠI NHCTVN - CHI NHÁNH QUẢNG TRỊ 79
3.1 ĐỊNH HƯỚNG QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NHCTVN - CHI NHÁNH QU ẢNG TRỊ 79
Trang 73.2.1 Nâng cao chất lượng cán bộ tín dụng 79
3.2.2 Công tác thu thập thông tin và hồ sơ tín dụng 79
3.2.3 Hoàn thi ện kỹ thuật thu hồi các khoản nợ có vấn đề 80
3.2 CÁC GI ẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN D ỤNG TẠI NHCTVN - CHI NHÁNH QUẢNG TRỊ 81
3.2.1 Nhóm giải pháp phòng ngừa rủi ro 81
3.2.2 Nhóm giải pháp tài trợ rủi ro 86
3.2.3 Nhóm gi ải pháp xử lý nợ xấu 87
3.3 CÁC KI ẾN NGHỊ 88
3.3.1 Kiến nghị với NHNN và Chính Phủ 88
3.3.2 Kiến nghị với Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam 90
K ẾT LUẬN 92
TÀI LI ỆU THAM KHẢO 93
Trang 8DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CBTD : Cán bộ tín dụng
DNTN : Doanh nghiệp tư nhân
DNNN : Doanh nghi ệp Nhà Nước
NHTM : Ngân hàng thương mại
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
S ố trang
2.1 Tì nh hình lao động tại chi nhánh 37 2.2 Quy mô, cơ cấu huy động vốn 39 2.3 Quy mô, cơ cấu dư nợ theo thời gian vay 42 2.4 Quy mô, cơ cấu dư nợ cho vay theo thành phần kinh tế 44 2.5 Quy mô, cơ cấu dư nợ cho vay theo lĩnh vực cho vay 46 2.6 Doang thu, chi phí và l ợi nhuận kinh doanh 48 2.7 Tình hình ch ất lượng tín dụng 49 2.8 Quy mô và cơ cấu nợ xấu theo thời gian 51 2.9 Quy mô và cơ cấu nợ xấu theo thành phần kinh tế 53 2.10 Quy mô và cơ cấu nợ xấu theo loại hình TSBĐ 54 2.11 K ết quả đo lường rủi ro khách hàng 63 2.12 Đo lường rủi ro qua các nhóm nợ 65 2.13 Trích l ập dự phòng rủi ro 70
DANH MỤC CÁC HÌNH
S ố trang
2.2 Cơ cấu về huy động vốn 40 2.3 Cơ cấu về dư nợ theo thời gian 43 2.4 Cơ cấu về dư nợ theo thành phần kinh tế 45 2.5 Cơ cấu về dư nợ theo lĩnh vực cho vay 47
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính c ấp thiết của đề tài
Ngày nay, với trình độ phát triển cao của nền kinh tế - xã hội, thị trường ngày càng mở rộng, gia tăng mối quan hệ quốc tế và khu vực Đây là điều kiện thuận lợi để
hoạt động SXKD nói chung và hoạt động Ngân hàng nói riêng phát triển Tuy nhiên,
mức độ rủi ro trong nền kinh tế cũng gắn với những cơ hội và thách thức mà nền kinh
tế hội nhập mang lại
Hiệu quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng ảnh hưởng rất lớn đến sự sống còn của chính Ngân hàng và sự phát triển của nền kinh tế Mà hoạt động của Ngân hàng luôn chứa đựng nhiều rủi ro Trong đó, rủi ro trong tín dụng là yếu tố diễn ra hết
sức phức tạp, sẽ gây ra những tác động khôn lường đến các TCTD và cao hơn là toàn
bộ hệ thống Ngân hàng bởi những đặc thù trong hoạt động tín dụng, hoạt động kinh doanh Ngân hàng Quản trị RRTD là vấn đề hết sức khó khăn nhưng rất bức thiết Đòi
hỏi phải có sự đầu tư thích đáng trong việc nghiên cứu nâng cao công tác quản trị rủi
ro nhằm ngăn ngừa, hạn chế mức tối đa những rủi ro có thể xảy ra
NHCTVN - Chi nhánh Quảng Trị được thành lập từ năm 2003 trên địa bàn có nhiều tiềm năng kinh tế đa dạng nhưng kém phát triển Hoạt động tín dụng chiếm tỷ
trọng chủ yếu trong hoạt động của ngân hàng Trong thời gian qua tình hình nợ xấu có
diễn biến phức tạp, nợ có khả năng mất vốn cao, kiểm soát còn thiếu chặt chẽ, đội ngũ CBTD mặc dầu được quan tâm đào tạo nhưng chưa đáp ứng kịp tốc độ phát triển của ngân hàng, quy trình quản trị RRTD còn nhiều vấn đề cần hoàn thiện, công tác quản trị
rủi ro hiệu quả chưa cao…
Hiện nay, NHCTVN đang tích cực đề ra những chính sách, biện pháp để nâng cao quản trị RRTD dựa trên những quy định của NHNN Với mục tiêu hướng tới xây
dựng mô hình một NHTM đạt tiêu chuẩn quốc tế, hiện đại và vững mạnh, NHCTVN nói chung và Chi nhánh Quảng Trị nói riêng luôn quan tâm và đặt lên hàng đầu đối với
vấn đề kiểm soát tốt các loại rủi ro, trong đó đặc biệt là quản trị RRTD Vì vậy tôi nghiên cứu đề tài: “Giải pháp hoàn thiện công tác Quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân
hàng TMCP Công Thương Việt Nam - Chi nhánh Quảng Trị” nhằm mục đích phân
Trang 11tích, đánh giá thực trạng quản trị RRTD Qua đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao công tác quản trị RRTD tại Chi nhánh
2 M ục tiêu nghiên cứu
M ục tiêu chung:
Đề tài nghiên cứu này được thực hiện nhằm nâng cao năng lực quản trị RRTD cho NHCTVN - Chi nhánh Quảng Trị, từ đó đảm bảo tính an toàn và hiệu quả trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng trong thời gian tới
M ục tiêu cụ thể:
Làm rõ những vấn đề lý luận về RRTD và quản trị RRTD của NHTM
Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động tín dụng và quản RRTD của NHCTVN - Chi nhánh Quảng Trị
Đề xuất những kiến nghị và giải pháp có thể nhằm tăng cường khả năng phòng
ngừa và hạn chế RRTD của NHCTVN - Chi nhánh Quảng Trị
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các RRTD và công tác quản trị RRTD tại NHCTVN - Chi nhánh Quảng Trị
- Phạm vi: Quan hệ tín dụng và hoạt động quản trị RRTD tại NHCTVN - Chi nhánh Quảng Trị trong thời gian từ năm 2012-2014
4 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng một số phương pháp cụ thể như thống kê, phương pháp phân tích
tổng hợp, so sánh số liệu
5 K ết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài nghiên cứu được tác giả trình bày gồm 03 chương:
Chương 1: Một số lý luận về RRTD và quản trị RRTD của NHTM
Chương 2: Thực trạng hoạt động quản trị RRTD tại NHCTVN - Chi nhánh
Quảng Trị
Trang 12Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác quản trị RRTD tại NHCTVN - Chi nhánh Quảng Trị
6 Tổng quan tài liệu
Trong quá trình thực hiện đề tài quản trị RRTD này, tác giả đã tham khảo nhiều tài liệu, công trình nghiên cứu có liên quan:
- Một số luận văn có cùng đề tài nghiên cứu
- Một số cuốn sách chuyên ngành Tài chính Tiền tệ, Quản trị ngân hàng thương
mại của trường Đại học kinh tế - Đại học Đà nẵng, Trường đại học kinh tế Thành phố
Hồ Chí Minh
- Tác giả cũng tham khảo thêm một số tài liệu có tính thực tiễn cao, bao gồm:
Luật các tổ chức tín dụng hiện hành, Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN; Các báo cáo thường niên, quy trình, văn bản, chế độ chính sách do NHCTVN ban hành; Báo cáo tài chính, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh giai đoạn 2012-2014 của NHCTVN - Chi nhánh Quảng Trị cũng là nguồn tài liệu quan trọng, thiết thực giúp tác giả tập hợp số
liệu để hoàn thiện đề tài
Trang 13Theo từng góc độ nghiên cứu, có nhiều quan niệm về RRTD như:
RRTD là khả năng xảy ra những tổn thất mà ngân hàng phải chịu do khách hàng vay không trả đúng hạn, không trả hoặc không trả đầy đủ vốn gốc, lãi, phí
A.Saunders và H.Lange cho rằng: RRTD là khoản lỗ tiềm tàng khi ngân hàng
cấp tín dụng cho khách hàng, nghĩa là khả năng nguồn thu nhập dự tính mang lại từ khoản cấp tín dụng của ngân hàng không thể được thực hiện đầy đủ về cả số lượng và
Tuy có nhiều khái niệm khác nhau về RRTD nhưng có thể tổng hợp lại như sau: RRTD được định nghĩa là khoản lỗ tiềm tàng vốn có được tạo ra khi ngân hàng
cấp tín dụng cho một khách hàng Có nghĩa là khả năng khách hàng không trả được nợ theo hợp đồng gắn liền với một khoản tín dụng ngân hàng cấp cho họ Hoặc nói một cách cụ thể hơn, thu nhập dự tính mang lại từ các tài sản có sinh lời của ngân hàng có
thể không được hoàn trả đầy đủ xét cả về mặt giá trị và thời hạn
1.1.2 Phân lo ại rủi ro tín dụng
Trang 14Tùy theo mục đích, yêu cầu nghiên cứu mà có cách phân loại RRTD phù hợp
a Căn cứ tính khách quan, chủ quan của nguyên nhân gây ra rủi ro thì rủi ro tín d ụng được phân chia thành
Rủi ro khách quan và rủi ro chủ quan
- R ủi ro khách quan: Là rủi ro do các nguyên nhân khách quan như thiên tai, địch
họa, người vay chết, mất tích và các biến động ngoài dự kiến khác làm thất thoát vốn vay trong khi người vay đã thực hiện nghiêm túc các chế độ, chính sách
- Rủi ro chủ quan: Do nguyên nhân chủ quan của người vay và người cho vay vì vô tình hay cố ý làm thất thoát vốn vay hay vì những lý do chủ quan khác
b Căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro thì rủi ro tín dụng được phân chia thành
Rủi ro giao dịch và rủi ro danh mục
- Rủi ro giao dịch là một hình thức của RRTD mà nguyên nhân phát sinh là do
những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng
Rủi ro giao dịch là loại RRTD phát sinh trong quá trình giao dịch tín dụng giữa ngân hàng và khách hàng Là loại rủi ro mang tính chủ quan của bên cho vay trong quá trình tác nghiệp Bao gồm:
+ Rủi ro lựa chọn: Là quá trình đánh giá, phân tích, lựa chọn khi tác nghiệp chưa
tốt, phân tích, đánh giá khách hàng thiếu bao quát, còn nhiều sơ hở Phân tích lựa chọn phương án vay vốn của khách hàng còn lỏng lẻo, qua loa Lựa chọn phương án thu nợ thiếu cân nhắc, có nhiều sơ hở dẫn đến rủi ro
+ Rủi ro đảm bảo là rủi ro các vấn đề liên quan đến đảm bảo tài sản: Điều khoản đảm bảo thiếu chặt chẽ, rõ ràng, danh mục tài sản đảm bảo thiếu tính cụ thể, hình thức đảm bảo và phương pháp xử lý tài sản còn bất cập, tỷ lệ đảm bảo tài sản thiếu dứt khoát, rõ ràng
+ Rủi ro nghiệp vụ là rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lý các khoản vay có vấn đề
Trang 15- Rủi ro danh mục: Rủi ro danh mục vay vốn là loại RRTD phát sinh trong quá
trình quản lý danh mục cho vay của ngân hàng Rủi ro danh mục là loại rủi ro vừa mang tính chủ quan vừa chịu tác động của các nhân tố khách quan Rủi ro danh mục bao gồm rủi ro nội tại và rủi ro tập trung
+ Rủi ro nội tại: Rủi ro nội tại xuất phát từ các yếu tố, các đặc điểm riêng có mang tính riêng biệt bên trong của mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành, lĩnh vực kinh tế Nó
xuất phát từ đặc điểm hoạt động hoặc đặc điểm sử dụng vốn của khách hàng vay vốn
Rủi ro nội tại xuất phát từ các yếu tố rủi ro bên trong của mỗi khách hàng vay vốn, ngành nghề kinh doanh, lĩnh vực hoạt động
+ Rủi ro tập trung: Là rủi ro phát sinh trong trường hợp ngân hàng tập trung vốn cho vay quá nhiều đối với một số khách hàng doanh nghiệp hoạt động trong cùng một ngành lĩnh vực kinh tế, hoặc trong một vùng địa lý nhất định hoặc cùng một loại hình cho vay có rủi ro cao
c Căn cứ vào phương diện quản lý, giám sát của ngân hàng
RRTD nhận diện được và RRTD chưa nhận diện được
- RRTD nhận diện được: Là loại rủi ro mà ngân hàng có thể nhận diện được
nguyên nhân gây ra rủi ro, ước tính được mức độ ảnh hưởng, dự kiến được thời gian phát sinh và từ đó có biện pháp hợp lý để phòng ngừa, hạn chế rủi ro Những RRTD thuộc loại này thường do yếu tố chủ quan của con người gây ra, có thể là do khách hàng hoặc chính bản thân ngân hàng gây ra cho mình, thông thường là xuất phát từ phía khách hàng
- RRTD chưa nhận diện được: Là loại RRTD mà ngân hàng không thể dự đoán
được, không biêt chúng sẽ xảy ra vào thời điểm nào, cũng không thể tính toán được
một cách chính xác nhất những ảnh hưởng mà chúng gây ra Những RRTD loại này thường không do yếu tố chủ quan gây ra mà chủ yếu là do những yếu tố khách quan gây ra như: Thiên tai, địch họa, dịch bệnh, hỏa hoạn…
Hai loại rủi ro trên, thông thường ngân hàng tập trung quản trị để ngăn chặn
những rủi ro có thể kiểm soát được, còn rủi ro không thể kiểm soát được thì chỉ có cách là chống đỡ
Trang 16Ngoài ra, còn có nhiều hình thức phân loại khác như phân loại căn cứ theo cơ cấu các loại hình rủi ro, theo nguồn gốc hình thành, đối tượng sử dụng vốn vay, …
1.1.3 Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng
a Nguyên nhân t ừ phía ngân hàng
Ngân hàng xây dựng chính sách khách hàng không phù hợp nên việc lựa chọn và thu hút được các khách hàng mục tiêu, khách hàng chiến lược sẽ hạn chế; quy trình
cấp tín dụng, quy trình quản lý rủi ro thiếu chặt chẽ, hợp lý sẽ dẫn đến nguy cơ phát sinh RRTD lớn và khôngg kiểm soát được RRTD…
Năng lực, trình độ của đội ngũ cán bộ làm công tác tín dụng còn hạn chế: Đây là
một trong những nguyên nhân gây ra RRTD Nhân viên ngân hàng phải am hiểu khách hàng, lĩnh vực và môi trường khách hàng kinh doanh, phải có khả năng dự báo các vấn
đề liên quan đến người vay Do vậy, họ cần phải được đào tạo và ự đào tạo kỹ lưỡng, liên tục, bài bản và toàn diện Hơn nữa, tác động mặt trái của cơ chế thị trường, một số nhân viên ngân hàng không tránh khỏi cám dỗ của đồng tiền, tiếp tay cho khách hàng rút ruột ngân hàng
Như vậy, chất lượng đội ngũ cán bộ ngân hàng, bao gồm trình độ và đạo đức nghề nghiệp không đảm bảo là nguyên nhân của RRTD
b N guyên nhân từ phía khách hàng
Kinh nghiệm quản lý kinh doanh của khách hàng còn hạn chế, việc dự báo các
vấn đề SXKD thiếu chính xác, yếu kém trong quản lý, điều hành làm cho hoạt động SXKD kém hiệu quả, thua lỗ, thất thoát vốn dẫn đến khó khăn trong việc trả nợ ngân hàng đúng theo cam kết Người vay sẵn sàng mạo hiểm với kỳ vọng thu được lợi nhuận cao, để đạt được mục đích của mình, sẵn sàng tìm mọi thủ đoạn đối phó với ngân hàng như cung cấp thông tin sai lệch, mua chuộc… Người vay không tính toán
kỹ lưỡng hoặc không có khả năng tính toán kỹ lưỡng những bất trắc có thể xảy ra, không có khả năng thích ứng và khắc phục khó khăn trong SXKD Một số trường hợp người vay kinh doanh có lãi, có nguồn thu để trả nợ ngân hàng nhưng không trả nợ cho ngân hàng đúng hạn, cố tình chây ỳ với kỳ vọng có thể quỵt nợ, hoặc sử dụng nguồn thu vào mục đích khác
Trang 17c Nguyên nhân chung của nền kinh tế, chính trị - xã hội và pháp luật
Những tác động của thiên tai, địch họa, hoặc những thay đổi tầm vĩ mô như: Thay đổi chính sách kinh tế, tài chính, tiền tệ, thuế quan… vượt quá tầm kiểm soát của người vay lẫn người cho vay
Những thay đổi trên thường xuyên xảy ra, tác động liên tục tới người vay, tạo thuận lợi hoặc khó khăn cho người vay Nhiều người vay, với bản lĩnh của mình có
khả năng dự báo, thích ứng, khắc phục được những khó khăn Trong những trường
hợp khác, người vay có thể bị tổn thất song vẫn có khả năng trả nợ cho ngân hàng đúng hạn, đủ gốc và lãi Tuy nhiên khi tác động của những nguyên nhân trên đối với người vay là nặng nề, khả năng trả nợ của họ bị suy giảm, dẫn đến RRTD
RRTD của các ngân hàng xảy ra ở những mức độ khác nhau, cấp độ nhẹ cũng làm cho ngân hàng bị giảm lợi nhuận, rủi ro ở cấp độ nặng làm cho ngân hàng không thu đủ gốc và lãi, dẫn đến ngân hàng bị thua lỗ Nếu tình trạng này kéo dài không khắc phục được ngân hàng sẽ bị phá sản, gây hậu quả nghiêm trọng cho nền kinh tế nói chung và hệ thống ngân hàng nói riêng Chính vì vậy, công tác quản trị RRTD cần phải được chú trọng Các ngân hàng phải xây dựng các phương pháp quản trị thích hợp để ngăn ngừa và phòng chống RRTD hiệu quả
1.1.4 Ảnh hưởng của rủi ro tín dụng đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng và n ền kinh tế xã hội
RRTD luôn tiềm ẩn trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng và đã gây ra
những hậu quả nghiêm trọng, ảnh hưởng nhiều mặt đến đời sống kinh tế xã hội của
quốc gia và lan rộng trên phạm vi toàn cầu
a Ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng
Rủi ro xảy ra có ảnh hưởng trực tiếp đến kinh doanh của ngân hàng, ảnh hưởng đến nguồn thu nhập, lợi nhuận ngân hàng, thậm chí ngân hàng phải lấy vốn tự có của mình để bù đắp các khoản thiếu hụt do rủi ro gây ra, lúc đó khả năng thanh toán của ngân hàng kém đi và lòng tin của khách hàng không còn nữa, người gửi tiền muốn rút
tiền để tránh rủi ro cho chính bản thân hoặc người vay không muốn vay, hoặc chuyển sang ngân hàng khác Vì vậy, khi rủi ro ở mức nhỏ, ngân hàng có thể bù đắp bằng lợi
Trang 18nhuận kinh doanh hoặc bị lỗ, nhưng rủi ro ở mức độ nghiêm trọng, nguồn vốn tự có
của ngân hàng không đủ để bù đắp thiệt hại, tất yếu sẽ dẫn ngân hàng đến bờ vực phá
sản Như vậy rủi ro có thể làm đảo lộn thành quả hoạt động nhiều năm, thậm chí trở thành vấn đề sống còn của ngân hàng
b Ảnh hưởng đến nền kinh tế xã hội
Ngân hàng hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ tín dụng với tư cách là trung gian của đời sống kinh tế, nó có quan hệ trực tiếp và thường xuyên với các tổ
chức kinh tế, vì vậy kinh doanh ngân hàng gặp phải rủi ro tất yếu sẽ gây ra những ảnh hưởng đối với nền kinh tế và đời sống kinh tế xã hội Rủi ro làm cho lợi nhuận ngân hàng giảm, từ đó ngân hàng không có khả năng đáp ứng nhu cầu về vốn cho khách hàng và chi trả chậm đối với người cho vay Vì vậy, xét trong nền kinh tế, rủi ro làm cho sản xuất bị đình trệ, các doanh nghiệp phải đóng cửa, hàng hoá không đủ đáp ứng nhu cầu của thị trường, tới một chừng mực nào đó làm giá cả hàng hóa tăng vọt, đó chính là một trong những nguyên nhân của lạm phát Mặt khác, các ngân hàng thường
lập một hệ thống chặt chẽ có mối liên hệ với nhau, khi một ngân hàng gặp phải rủi ro
có nguy cơ dẫn đến phá sản dể dàng kéo theo tình trạng khủng hoảng của cả hệ thống ngân hàng, gây mất ổn định trên thị trường tiền tệ Đặc biệt, trong diều kiện nền kinh
tế phát triển, mọi hoạt động thanh toán giao dịch của khách hàng đều được thực hiện qua ngân hàng, các doanh nghiệp sống chủ yếu nhờ vốn vay ngân hàng, nên khi ngân hàng gặp rủi ro lớn có thể gây chậm trể trong công tác thanh toán của khách hàng, làm
cản trở trực tiếp quá trình chu chuyển vốn, làm giảm lợi nhuận kinh doanh của doanh nghiệp
c Ảnh hưởng đối với khách hàng
Nếu rủi ro xảy ra từ phía ngân hàng, khách hàng có thể thiếu vốn dẫn đến khó khăn trong SXKD Mặt khác, nếu rủi ro xảy ra đối với chính khách hàng, các khoản nợ
của họ sẽ trở thành các khoản nợ khó đòi, gây khó khăn và ảnh hưởng đến quan hệ của
họ đối với ngân hàng Khi đó khách hàng cần vốn họ buộc phải quan hệ với các ngân hàng khác và phải chịu một khoảng thời gian tìm hiểu gây trì hoãn cho quá trình sản
xuất Đồng thời, nếu rủi ro lớn, chính họ sẽ gặp khó khăn
Trang 19RRTD của ngân hàng xảy ra ở nhiều mức độ khác nhau Nếu kéo dài ngân hàng
sẽ bị phá sản, gây hậu quả nghiêm trọng cho nền kinh tế nói chung và hệ thống ngân hàng nói riêng Chính vì vậy đòi hỏi các nhà quản trị ngân hàng phải hết sức thận
trọng và có những biện pháp thích hợp nhằm giảm thiểu rủi ro trong khi cấp tín dụng
1.2 QU ẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NHTM
1.2.1 Khái niệm quản trị rủi ro tín dụng
Theo Carl Olsson, Global Risk Management, SCB: Quản trị rủi ro là một quá trình chấp nhận rủi ro đã được tính toán trước chứ không phải là trốn tránh rủi ro
Quản trị RRTD là quá trình tiếp cận rủi ro một cách khoa học, toàn diện và có hệ
thống nhằm nhận dạng, kiểm soát, phòng ngừa và giảm thiểu những tổn thất, mất mát,
những định hướng bất lợi của RRTD
Quản trị RRTD là việc ngân hàng sử dụng các biện pháp nghiệp vụ để kiểm soát
chất lượng tín dụng, hạn chế hậu quả xấu trong hoạt động tín dụng, giảm thiểu sự tổn
thất, không để hoạt động của ngân hàng lâm vào tình trạng đổ vỡ
Quản trị RRTD là quá trình ngân hàng sử dụng tổng thể các biện pháp tác động đến hoạt động tín dụng thông qua bộ máy và công cụ quản lý để phòng ngừa, cảnh báo, đưa ra các giải pháp nhằm phòng ngừa và kiểm soát RRTD, xác định mức rủi ro
có thể xảy ra ở mức lường trước được và hạn chế tổn thất ở mức thấp nhất, tức là ở dưới mức tổn thất dự kiến
Nhìn chung có nhiều cách tiếp cận quản trị RRTD dưới nhiều góc độ khác nhau, nhưng bản chất thì giống nhau và đứng trên giác độ quản trị học, khái niệm quản trị RRTD là quá trình nhận dạng, kiểm soát, phòng ngừa và giảm thiểu những tổn thất,
mất mát, những ảnh hưởng bất lợi của RRTD nhằm tối đa hóa lợi nhuận của ngân hàng
với mức rủi ro có thể chấp nhận được Quản trị RRTD bao gồm các bước: Nhận dạng
rủi ro, đo lường rủi ro, kiểm soát rủi ro và tài trợ RRTD
1.2.2 Ý nghĩa và nhiệm vụ của Quản trị rủi ro tín dụng
a Ý nghĩa
- RRTD là loại rủi ro lớn nhất, thường xuyên xảy ra và gây hậu quả nặng nề nên
Trang 20việc đánh giá rủi ro là trách nhiệm của hầu hết các NHTM
- Quản trị RRTD giúp NHTM hạn chế những khoản nợ xấu, khoản nợ khó thu
hồi, tránh nguy cơ phá sản ngân hàng
- Quản trị tín dụng hiệu quả giúp ngân hàng không gặp khó khăn trong khâu thanh toán, có tác dụng làm tăng uy tín của ngân hàng trên thị trường tài chính tiền tệ
- Năng lực quản trị RRTD càng được mở rộng thì lợi nhuận của ngân hàng càng tăng cao
- Quản trị RRTD hiệu quả góp phần ổn định và phát triển kinh tế - xã hội
b Nhi ệm vụ
- Hoạch định phương hướng, kế hoạch phòng chống rủi ro Dự đoán rủi ro có
thể xảy ra đến đâu, trong điều kiện nào, nguyên nhân và hậu quả ra sao… Đồng thời,
tổ chức phòng chống rủi ro một cách khoa học nhằm chỉ ra những mục tiêu cụ thể cần đạt được, ngưỡng an toàn, mức độ sai sót có thể đạt được
- Xây dựng các chương trình nghiệp vụ, cơ cấu kiểm soát phòng chống rủi ro, phân quyền hạn và trách nhiệm cho từng thành viên, lựa chọn những công cụ kỹ thuật phòng chống rủi ro, xử lý rủi ro và giải quyết hậu quả do rủi ro gây ra một cách nghiêm túc
- Kiểm tra, kiểm soát để đảm bảo việc thực hiện theo đúng kế hoạch phòng
chống rủi ro đã hoạch định, phát hiện các rủi ro tiềm ẩn, các sai sót khi thực hiện giao
dịch, trên cơ sở đó kiến nghị các biện pháp điều chỉnh và bổ sung nhằm hoàn thiện hệ
thống quản trị rủi ro
1.2.3 N ội dung của quản trị rủi ro tín dụng
a Nhận dạng rủi ro tín dụng
Công việc đầu tiên để thực hiện việc quản trị rủi ro trong hoạt động tín dụng là
nhận dạng được rủi ro trong hoạt động tín dụng Nhằm giúp cho người thực hiện công tác quản trị xác định được đối tượng cụ thể, những hoạt động, cách thức nào có thể gây
ra rủi ro, tổn thất cho ngân hàng trong quá khứ và hiện tại, từ đó đưa ra lời cảnh báo,
Trang 21những biện pháp hạn chế, phòng tránh kịp thời những sai lầm không đáng có trong tương lai
Nhận dạng RRTD là quá trình xác định liên tục và có hệ thống trong hoạt động kinh doanh tín dụng của Ngân hàng Nhận dạng RRTD bao gồm các công việc theo dõi xem xét, nghiên cứu môi trường hoạt động tín dụng và toàn bộ hoạt động tín dụng
của Ngân hàng, nhằm thống kê được tất cả những rủi ro, không chỉ những loại rủi ro
đã và đang xảy ra, mà còn dự báo được những dạng rủi ro mới có thể xuất hiện đối với khách hàng, trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp đô lường, kiểm soát và tài trợ RRTD phù hợp Để nhận dạng được rủi ro nhà quản trị phải:
+ Theo dõi xem xét và nghiên cứu môi trường hoạt động và quy trình cho vay để
thống kê các dạng RRTD, nguyên nhân của từng kỳ và dự báo được những nguyên nhân tiềm ẩn có thể gây ra RRTD
+ Nhà quản trị phải lập được bảng liệt kê tất cả các dạng rủi ro đã, đang và sẽ có
thể xuất hiện bằng các phương pháp: Lập bảng câu hỏi nghiên cứu, tiến hành điều tra, phân tích các hệ số tín dụng, đặc biệt quan tâm điều tra các hồ sơ có vấn đề Kết quả phân tích cho ra các dấu hiệu, biểu hiện nguyên nhân RRTD, từ đó tìm ra biện pháp
hữu hiệu nhất để phòng chống rủi ro
Nhận dạng RRTD qua các dấu hiệu sẽ giúp ngân hàng có những giải pháp tối ưu
để xử lý kịp thời, là khâu quan trọng và quyết định đến việc thực hiện mục tiêu quản
trị RRTD và nâng cao hiệu quả kinh doanh cho ngân hàng Tuy nhiên, việc nhận diện
rủi ro rất phức tạp, các nguyên nhân dẫn đến RRTD rất đa dạng Do vậy, ngân hàng
cần xây dựng một bảng liệt kê các dấu hiệu nhận biết rủi ro điển hình để hổ trợ cho
hoạt động quản trị RRTD, cụ thể một số nhóm dấu hiệu sau:
- Các nhóm dấu hiệu từ phía khách hàng
+ Trì hoãn hoặc gây khó khăn đối với ngân hàng trong quá trình kiểm tra theo định kỳ hoặc đột xuất tình hình sử dụng vốn vay, tình hình tài chính, tình hình hoạt động SXKD của khách hàng mà không có sự giải thích minh bạch, thuyết phục
+ Chậm gửi hoặc trì hoãn gửi các báo cáo tài chính, báo cáo tình hình hoạt động SXKD theo yêu cầu mà không có sự giải thích minh bạch, thuyết phục
Trang 22+ Mức độ vay thường xuyên gia tăng, nhu cầu các khoản vay vượt quá nhu cầu
+ Có dấu hiệu tìm kiếm sự tài trợ nguồn vốn từ nhiều nguồn khác, đặc biệt từ đối
thủ cạnh tranh của ngân hàng
+ Có dấu hiệu sử dụng nhiều các khoản tài trợ ngắn hạn cho các hoạt động đầu tư dài hạn, chấp nhận sử dụng các nguồn vốn vay với giá cao, vô điều kiện
+ Đề nghị gia hạn, điều chỉnh kỳ hạn nợ nhiều lần không rõ lý do hoặc thiếu các căn cứ thuyết phục mang tính khách quan về việc cơ cấu lại nợ
+ Sự sụt giảm bất thường số dư tài khoản tiền gữi tại ngân hàng, xuất hiện những thay đổi bất thường ngoài dự kiến và không giải thích được trong tốc độ và tổng mức lưu chuyển tiền gữi thanh toán của khách hàng
+ Chậm thanh toán các khoản lãi, phí khi đến hạn thanh toán, thanh toán các khoản nợ gốc không đầy đủ, đúng hạn
+ Có dấu hiệu cho thấy khách hàng trông chờ các nguồn thu nhập bất thường để đáp ứng các nghĩa vụ thanh toán
+ Xuất hiện nợ quá hạn do khách hàng không có khả năng hoàn trả hoặc khách hàng không muốn trả nợ hoặc do việc tiêu thụ hàng hóa, thu hồi công nợ chậm hơn dự tính
+ Mối quan hệ không bình thường giữa ngân hàng và khách hàng: Sự chậm trễ,
trốn tránh làm việc với ngân hàng cũng là dấu hiệu cho thấy khách hàng đang có vấn
đề, có thể khó khăn trong SXKD, tài chính suy giảm Ngân hàng cần tăng cường thu
thập thông tin, theo dõi, giám sát chặt chẽ để đối phó kịp thời
+ Dự trù vật tư, hành hóa tăng cao, khả năng quay vòng thấp, chất lượng hàng hóa dịch vụ giảm sút, giá bán hàng hóa giảm bất thường
Trang 23+ Thay đổi thường xuyên tổ chức của ban điều hành, sự thay đổi bất thường về tổ
chức, thay đổi người quản lý cấp cao như: Cách chức, từ chức, chuyển công tác, người lao động thiếu việc làm, sa thải nhân công, bán tài sản Đây là những dấu hiệu rõ nét cho thấy những khó khăn của khách hàng, có thể ảnh hưởng xấu đến việc trả nợ ngân hàng
+ Trình độ, năng lực quản trị, điều hành yếu kém của khách hàng, hoạt động SXKD liên tục thua lỗ là dấu hiệu ảnh hưởng lớn đến RRTD
+ Đối tác của người vay gặp rủi ro như phá sản hoặc bị truy tố: Nếu đối tác của người vay gặp rủi ro thì nguy cơ rủi ro dây chuyền có thể xảy ra và ảnh hưởng khả năng trả nợ vay ngân hàng
+ Những thay đổi từ chính sách của Nhà nước, đặc biệt là tác động của các chính sách thuế, xuất nhập khẩu, thay đổi các chính sách tỷ giá, lãi suất, thay đổi công nghệ,
kỹ thuật sản xuất, thị hiếu tiêu dùng, nhà cung ứng hoặc khách hàng lớn, thêm đối thủ
cạnh tranh tác động bất lợi đến chiến lược, kế hoạch SXKD của khách hàng
- Các nhóm dấu hiệu từ phía ngân hàng
Chính sách tín dụng không hợp lý, không phù hợp với đặc điểm nội tại và tính đặc thù của từng ngân hàng, không phát huy được thế mạnh của ngân hàng dẫn đến
hoạt động tín dụng chứa đựng nhiều rủi ro, ảnh hưởng lớn và lâu dài đến việc phát triển bền vững, sự tồn tại của ngân hàng Chẳng hạn như một số dấu hiệu sau:
+ Tốc độ tăng trưởng tín dụng quá nhanh, vượt quá khả năng và năng lực kiểm soát cũng như nguồn vốn của ngân hàng
+ Xây dựng giới hạn tín dụng cho từng ngành, từng lĩnh vực, từng sản phẩm tín
dụng không phù hợp, tập trung vốn tín dụng cho một số ngành, một số lĩnh vực, một
số sản phẩm tín dụng, một khách hàng hoặc một nhóm khách hàng có liên quan,… + Xây dựng mô hình tổ chức cấp tín dụng không chặt chẽ, không phân định rõ
chức năng, nhiệm vụ của từng bộ phận tham gia trong quá trình cấp tín dụng và quản
lý tín dụng,…
Trang 24+ Xây dựng quy trình cấp tín dụng thiếu cơ chế giám sát hiệu quả để hạn chế, phòng ngừa rủi ro, xác định trách nhiệm của từng khâu, từng bước trong quy trình cấp tín dụng không rõ ràng, chồng chéo…
+ Không tuân thủ quy trình cấp tín dụng như: Không đảm bảo nguyên tắc và điều
kiện vay vốn, công tác kiểm tra trước, trong và sau khi cấp tín dụng không kịp thời, không hiệu quả
+ Sự đánh giá và phân loại không chính xác về mức độ rủi ro của khách hàng,
cấp tín dụng dựa trên các cam kết không chắc chắn và thiếu tính bảo đảm
+ Cho vay dựa trên các sự kiện bất thường có thể xảy ra, chẳng hạn như: Sáp
nhập, cung cấp tín dụng với khối lượng lớn cho các khách hàng không thuộc phân đoạn thị trường tối ưu của Ngân hàng
+ Hồ sơ tín dụng không đầy đủ, thiếu sự tuân thủ hay tuân thủ không đầy đủ các quy định hiện hành về phê duyệt tín dụng, soạn thảo các điều kiện ràng buộc trong hợp đồng tín dụng mập mờ, không rõ ràng
+ Có khuynh hướng cạnh tranh không lành mạnh như: Giảm điều kiện, thủ tục
cấp tín dụng, giảm thấp lãi suất cho vay, phí dịch vụ quá mức bình thường hay thực
hiện chiến lược “giữ chân” khách hàng bằng các khoản tín dụng mới để họ không quan
hệ với các TCTD khác mặc dù biết rõ các khoản tín dụng sẽ cấp tiềm ẩn nguy cơ rủi ro cao
Các phương pháp nhận dạng rủi ro trong hoạt động tín dụng
+ Phương pháp phân tích tài chính
Theo phương pháp này, từng khoản vay sẽ được nghiên cứu kỹ để phát hiện các
rủi ro tiềm năng có thể phát sinh Kết quả nghiên cứu được báo cáo cho từng khoản vay Phương pháp này có ưu điểm là đáng tin cậy, khách quan, dựa trên các số liệu sẵn
có, có thể trình bày ngắn gọn, rõ ràng và có thể dùng được cho cả nhà quản trị rủi ro và các nhà tư vấn chuyên nghiệp Ngoài việc giúp nhận dạng rủi ro, phương pháp này cũng hữu ích cho việc đo lường và định ra cách quản lý tốt nhất cho các nguy cơ rủi
ro Song, cũng nên lưu ý là phương pháp này không loại trừ được việc nhận dạng các
rủi ro suy đoán
Trang 25+ Phương pháp thẩm định đi thực tế khách hàng
Kiểm tra tình hình thực tế của khách hàng là một việc phải làm đối với nhà quản
trị rủi ro Bằng cách quan sát các bộ phận của tổ chức và các hoạt động tiếp sau đó của
nó, nhà quản trị có thể học được rất nhiều về những rủi ro mà tổ chức có thể gặp Các CBTD sẽ trực tiếp đi thực tế khách hàng để xem xét về công việc, cuộc sống, môi trường xung quanh, cơ sở vật chất kỹ thuật cũng như quá trình hoạt động SXKD của khách hàng Từ đó tận mắt chứng kiến, kiểm tra những điều kiện về mục đích sử dụng
vốn, nguồn thu nhập, giá trị hiện tại của tài sản đảm bảo mà khách hàng đã cam kết trong hồ sơ vay vốn của ngân hàng Nếu phát hiện có sai sót, gian lận thì có thể có
những biện pháp hữu hiệu để có thể khắc phục ngay tức khắc, tránh được những rủi ro
do thiếu sự theo dõi khách hàng
+ Phương pháp lập bảng điều tra - thiết lập bảng kê
Bằng việc lập ra các bảng điều tra, ngân hàng đưa ra các nghi vấn về các yếu tố
có thể gây ra tổn thất trong quy trình cho vay, thu thập thông tin từ khách hàng để có
thể tìm hiểu được nguyên nhân gây ra rủi ro, rủi ro bắt nguồn ở khâu nào trong quy trình cũng như những yêu cầu, mong muốn từ phía khách hàng được điều tra Từ đó đưa ra những dự đoán về tính chất nghiêm trọng và hậu quả của rủi ro để có những
biện pháp nhằm hạn chế và phòng tránh
+ Phương pháp phân tích các tổn thất
Các số liệu thống kê cho phép nhà quản trị rủi ro đánh giá các xu hướng của các
tổn thất mà tổ chức đã trải qua và so sánh kinh nghiệm này với các tổ chức khác Với phương pháp này đòi hỏi ngân hàng phải thu thập, phân tích, thống kê, lưu trữ số lượng thông tin lớn trong một thời gian dài, một cách có hệ thống, khoa học để nhận
biết cơ chế và nguồn gốc gây ra rủi ro, nhờ đó có thể đánh giá đúng các yếu tố rủi ro
mà trước đây đã bị CBTD xem nhẹ hoặc bỏ qua Giúp ngân hàng dự báo được xu hướng diễn biến rủi ro trong tương lai thông qua dữ liệu trong quá khứ
+ Phương pháp tham khảo các chuyên gia
Một cách nữa để nhận dạng rủi ro của tổ chức là thông qua các giao tiếp thường xuyên và có hệ thống với các bộ phận khác trong tổ chức Các giao tiếp này bao gồm:
Trang 26 Mở rộng việc thăm viếng các cán bộ quản lý và nhân viên ở các bộ phận khác qua đó nhà quản trị rủi ro cố gắng có được những hiểu biết đầy đủ về các hoạt động cũng như các tổn thất có thể có từ các hoạt động này
Các báo cáo miệng hoặc bằng văn bản của các bộ phận do họ tự đề xướng hoặc thực hiện theo một hệ thống báo cáo thường xuyên nhằm giúp nhà quản trị
rủi ro nắm được những thông tin cần thiết
Để bổ sung cho việc giao tiếp với các bộ phận khác trong tổ chức, nhà quản trị
rủi ro nên trao đổi thêm với những người có quan hệ với tổ chức như các chuyên viên
kế toán, luật sư, nhà tư vấn về rủi ro, chuyên viên thống kê, hay các chuyên gia kiểm soát tổn thất Mục đích của các trao đổi là nhằm tìm hiểu xem những người này có
nhận ra được các rủi ro nào mà mình đã bỏ sót không Hoặc chính những người này có
tạo ra các rủi ro mới cho tổ chức không
+ Phương pháp phân tích lưu đồ
Phương pháp này được thực hiện xuyên suốt quy trình cho vay, từ khâu đầu tiên
là tiếp nhận hồ sơ, khâu trung gian như thẩm định, ra quyết định, giải ngân, theo dõi khoản vay cho đến khâu cuối cùng là thanh lý hợp đồng Vì rủi ro có thể xảy ra ở bất
cứ khâu nào nên việc theo sát quy trình sẽ giúp ngân hàng xác định rủi ro xuất hiện và
tập trung nhất ở khâu nào để có biện pháp kiểm soát kịp thời, hiệu quả
+ Phương pháp thu thập thông tin từ nhiều nguồn khác nhau
Để có được nguồn thông tin đa dạng, chính xác, nhanh chóng để đáp ứng yêu cầu trong hoạt động của mình, ngân hàng sẽ tiến hành thu thập thông tin từ nhiều nguồn khác nhau, có thể là từ khách hàng cung cấp, từ các tạp chí kinh tế, tạp chí tài chính - ngân hàng hay thực hiện việc điều tra thông tin tín dụng từ CIC Giúp ngân hàng có cái nhìn tổng quát, chính xác về mọi mặt của khách hàng vay vốn, khắc phục những rủi ro
do thông tin bất đối xứng là nguyên nhân chính gây ra sự lựa chọn đối nghịch, bảo vệ
lợi ích của ngân hàng
Nhìn chung, mỗi phương pháp đều có những ưu nhược điểm riêng, việc áp dụng như thế nào cho khoa học, hiệu quả tuỳ thuộc vào điều kiện cụ thể của từng ngân hàng
Những phương pháp này đòi hỏi CBTD phải là người có chuyên môn, kinh nghiệm và
Trang 27có đạo đức để có thể phát hiện ra những sai sót, gian lận trong việc cung cấp thông tin
từ khách hàng Việc áp dụng cần có sự linh hoạt, sáng tạo, phù hợp với thực tế để chất lượng công tác nhận dạng rủi ro đạt được hiệu quả cao nhất
a Đo lường rủi ro tín dụng
Đo lường rủi ro trong hoạt động tín dụng là việc tính toán ra con số cụ thể về
mức độ rủi ro mà ngân hàng đang đối mặt và những tổn thất mà nó gây ra Đo lường
rủi ro phải tính được biên độ dao động của các dòng thu nhập và xác suất rủi ro xảy ra trong một số trường hợp xác định trước
Xác định giới hạn RRTD
Giới hạn RRTD là biên độ cao nhất về khả năng tổn thất có thể xảy ra mà ngân hàng chấp nhận được để đảm bảo hoạt động tín dụng hiệu quả, hoạt động của ngân hàng ngày càng phát triển Trong kế hoạch, định hướng hoạt động tín dụng, các NHTM xây dựng giới hạn RRTD phù hợp để đảm bảo mục tiêu phát triển của mọi ngân hàng trong từng thời kỳ Giới hạn RRTD được xây dựng trên cơ sở thực trạng
hoạt động của từng ngân hàng, khả năng tài chính và mục tiêu lợi nhuận kế hoạch của
mọi ngân hàng
Tùy theo từng thời kỳ, từng quốc gia, các NHTM sử dụng các chỉ tiêu để quản lý
chất lượng hoạt động tín dụng như:
+ Tỷ lệ nợ xấu: Tỷ lệ nợ xấu = (Tổng dư nợ xấu / Tổng như nợ)x100%
+ Khả năng bù đắp rủi ro:
Khả năng bù đắp rủi ro = (VCSH+Dự phòng rủi ro)/ Tổng dư nợ xấu
+ Phân loại nợ: Chia làm 5 nhóm: Nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn), nhóm 2 (Nợ cần chú ý), nhóm 3 ( Nợ dưới tiêu chuẩn), nợ nhóm 4 (Nợ nghi ngờ), nhóm 5 ( Nợ có khả năng mất vốn)
Phân tích, đo lường RRTD là việc ngân hàng xây dựng mô hình thích hợp để lượng hóa mức độ RRTD của khách hàng Từ đó xác định những phần bù rủi ro và
giới hạn tín dụng an toàn tối đa đối với một khách hàng, cũng như trích lập quỹ dự phòng để tài trợ cho RRTD
Trang 28 Các phương pháp đánh giá mức độ RRTD
Một số mô hình các NHTM thường sử dụng bao gồm:
- Mô hình chất lượng 6C
+ Character (Tư cách của khách hàng): Ngân hàng phải làm rõ mục đích đề nghị
cấp tín dụng của khách hàng, mục đích đó có phù hợp với chính sách tín dụng của ngân hàng hay không, có phù hợp với nhiệm vụ SXKD của khách hàng hay không Đồng thời, xem xét về lịch sử quan hệ tín dụng đối với khách hàng cũ, còn đối với khách hàng mới thì cần thu thập thông tin từ nhiều nguồn khác nhau như: Trung tâm thông tin tín dụng, trung tâm phòng ngừa rủi ro, cơ quan thông tin đại chúng…
+ Capacity (Năng lực của khách hàng): Tùy theo quy định pháp luật của các
quốc gia, đòi hỏi khách hàng phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự
+ Cash (Thu nhập của khách hàng): Trước hết phải xác định được nguồn trả nợ
của khách hàng như: Luồng tiền từ thu nhập bán hàng hay thu nhập, nguồn thu từ bán thanh lý tài sản hoăc nguồn thu từ phát hành chứng khoán,
+ Collateral (Bảo đảm tiền vay): Đây là điều kiện để ngân hàng cấp tín dụng và
là nguồn thu thứ hai để trả nợ cho ngân hàng
+ Conditions (Các điều kiện): Ngân hàng quy định các điều kiện tùy theo chính sách tín dụng theo từng thời kỳ cụ thể của mọi ngân hàng
+ Control (Kiểm soát): Tập trung vào những vấn đề như sự thay đổi của luật pháp có liên quan và quy chế hoạt động mới có ảnh hưởng xấu đến khách hàng hay không, nhu cầu tín dụng của khách hàng có đáp ứng được các tiêu chuẩn hay không ?
o Ưu điểm: Sử dụng mô hình này tương đối đơn giản
o Nhược điểm: Nó phụ thuộc vào mức độ chính xác của nguồn thông tin
thu thập, khả năng dự báo cũng như trình độ phân tích, đánh giá của CBTD
Mô hình x ếp hạng tín dụng của Moody và của Standard & Poor's
Đây là phương pháp đo lường RRTD hiện đại, đòi hỏi ngân hàng phải có phần
mềm quản lý tập trung Khách hàng đề nghị cấp tín dụng sẽ được chấm điểm dựa trên các yếu tố tài chính và phi tài chính Việc xếp hạng này được thực hiện bởi một số
Trang 29dịch vụ xếp hạng tư nhân, trong đó có Moody và Standard & Poor's là những dịch vụ
Ba Chất lượng trên trung bình, mang yếu tố đầu cơ
B Chất lượng dưới trung bình Caa Chất lượng kém
Ca Mang tính đầu cơ, dễ vỡ nợ
C Chất lượng kém nhất, triển vọng xấu
B ảng mô hình xếp hạng của Standard & Poor's Ngu ồn X ếp hạng Tình trạng khoản tín dụng
BB Chất lượng trên trung bình, mang yếu tố đầu cơ
B Chất lượng dưới trung bình CCC Chất lượng kém
CC Mang tính đầu cơ, dễ vỡ nợ
C Chất lượng kém nhất, triển vọng xấu
Trang 30+ Ưu điểm: Hệ thống được đánh giá tiệm cận với các tiêu chuẩn xếp hạng tín
dụng quốc tế, góp phần quan trọng trong việc đánh giá đúng thực trạng mức độ RRTD + Nhược điểm: Đo lường RRTD chỉ mới lượng hóa mức độ rủi ro Một số chỉ
tiêu tài chính áp dụng đối với khách hàng xếp loại AAA,AA quá thấp, chưa phù hợp
với một số ngành dẫn đến hạn chế
- Mô hình điểm số Z (Credit Scoring Model)
Đây là mô hình do E.I.Altman dùng để cho điểm tín dụng đối với các doanh nghiệp vay vốn Đại lượng Z dùng làm thước đo tổng hợp để phân loại RRTD đối với người vay và phụ thuộc vào:
+ Trị số của các chỉ số tài chính của người vay
+ Tầm quan trọng của các chỉ số này trong việc xác định xác suất vỡ nợ của người vay trong quá khứ
Theo Basel II, các ngân hàng sử dụng hệ thống cơ sở dữ liệu nội bộ để đánh giá RRTD, từ đó xác định hệ số an toàn tối thiểu, khả năng tổn thất tín dụng Với mỗi kỳ
hạn xác định, tổn thất có thể được tính dựa trên công thức:
Đối với công ty niêm yết:
Z = 1.2X1+1.4X2+3.3X3+0.6X4+1.0X5 Đối với công ty chưa niêm yết:
Z’ = 0,717 X1 + 0,847 X2 + 3,107 X3 + 0,42 X4 + 0,998 X5
Trong đó: Z ; Z’: Dùng làm thước đo tổng hợp để phân loại RRTD đối với người vay, phụ thuộc vào chỉ số tài chính của người vay, tầm quan trọng của chỉ số này trong
việc xác định xác suất vỡ nợ trong tương lai
X1: Hệ số vốn lưu động trên tổng tài sản
X2: Lãi chưa phân phối trên tổng tái sản
X3: Hệ số lợi nhuận trước thuế và lãi trên tổng tài sản
Trang 31X4: Hệ số giá trị thị trường của vốn chủ sở hữu trên giá trị hoạch toán của tổng
nợ
X5: Hệ số doanh thu trên tổng tài sản
Điểm Z càng cao thì xác suất vỡ nợ càng thấp Nếu Z thấp hoặc âm là căn cứ để
xếp khách hàng nhóm nguy cơ rủi ro vỡ nợ cao
Điểm số Z và nguy cơ doanh nghiệp
Giá trị Z Giá trị Z’ Dự báo
+ Chỉ cho phép phân loại giữa nhóm khách hàng rủi ro và không rủi ro
+ Không có bằng chứng thuyết phục chứng minh các thông số thể hiện tầm quan
trọng của các chỉ số trên công thức là không đổi trong bối cảnh điều kiện tín dụng và hoàn cảnh tài chính không ngừng biến động
+ Không tính đến một số nhân tố mang tính chất định tính ảnh hưởng đến chất lượng khoản vay (phẩm chất tín dụng khách hàng, mối quan hệ tín dụng giữa khách hàng và ngân hàng cho vay, các yếu tố vĩ mô cũng như sự biến động của chu kỳ kinh
tế)
- Mô hình đánh giá rủi ro khoản vay
Là phương pháp ước tính tổn thất tín dụng dựa trên hệ thống cơ sở dữ liệu đánh giá nội bộ IRB (Internal ratings based):
EL = EAD x PD x LGD
Trong đó:
+ EL (Expected at loss): Tổn thất tín dụng dự kiến
Trang 32+ EAD (Exposure at Default): Tổng dư nợ của khách hàng tại thời điểm khách hàng không trả được nợ
+ PD ( Prpbability of Default): Xác suất khách hàng không trả được nợ
+ LGD ( Loss Given Default): Tỷ trọng tổn thất ước tính
Cơ sở này là các số liệu của các khoản nợ trong quá khứ của khách hàng, gồm các khoản nợ đã trả, khoản nợ trong hạn và khoản nợ không thu hồi được Theo yêu
cầu của Basel II để tính được nợ trong vòng 1 năm của khách hàng, ngân hàng phải căn cứ vào số liệu của khách hàng trong vòng ít nhất 5 năm trước đó
o Ưu điểm: Tính chính xác được tổn thất ước tính của khoản cho vay thì
sẽ mang lại cho ngân hàng rất nhiều ứng dụng chứ không chỉ đơn thuần giúp ngân hàng xác định chính xác hơn hệ số an toàn vốn tối thiểu trong mối quan hệ giữa vốn tự
có với RRTD
o Nhược điểm: Việc tính toán bất kỳ chỉ tiêu nào trong số 3 chỉ tiêu PD,
LGD hay EAD luôn hết sức phức tạp, đòi hỏi ngân hàng phải có một cơ sở dữ liệu đầy
đủ, được lưu trữ khoa học với những chương trình phần mềm xử lý dữ liệu hiện đại
Tất cả những vấn đề trên đều đòi hỏi các NHTM phải đầu tư nguồn lực về tài chính, con người, thời gian rất lớn và đặc biệt phải có lộ trình khoa học
- Xác định tổn thất ước tính ngân hàng sẽ thực hiện thêm các mục tiêu
Giúp ngân hàng tăng cường khả năng quản trị nhân sự, xác định giá trị khoản vay, phục vụ hiệu quả cho việc chứng khoán hóa các khoản vay sau này Đây cùng là
xu hướng hiện nay của các NHTM, xác định xác suất vỡ nợ (PD) giúp ngân hàng nâng cao chất lượng của việc giám sát và tái xếp hạng khách hàng sau khi cho vay
b Kiểm soát rủi ro tín dụng
Là việc sử dụng các biện pháp kỹ thuật, công cụ chiến lược và các chương trình
hoạt động để ngăn ngừa né tránh, giảm thiểu rủi ro ngăn ngừa, giảm thiểu bằng cách
kiểm soát tần suất và mức độ của rủi ro và tổn thất hoặc lợi ích Kiểm soát rủi ro trong
hoạt động tín dụng cũng vậy, các sử dụng những biện pháp của mình để phòng ngừa hay hạn chế rủi ro trong hoạt động tín dụng
Trang 33Căn cứ vào mức độ rủi ro đã được tính toán, các hệ số an toàn tài chính và khả năng chấp nhận rủi ro mà có những biện pháp phòng chống khác nhau nhằm làm giảm
mức độ thiệt hại, có nhiều lựa chọn
Công việc trọng tâm của quản trị rủi ro là kiểm soát rủi ro Trong hoạt động tín
dụng, các ngân hàng luôn phải chấp nhận một mức độ rủi ro nhất định, bởi rủi ro luôn
đi kèm với lợi nhuận Có thể nói rủi ro trong hoạt động tín dụng chính là sự biểu hiện
tập trung nhất cho sự đánh đổi giữa lợi nhuận và rủi ro Vì thế, các ngân hàng phải
chấp nhận rủi ro ở một mức độ nào đó để có lợi nhuận, và cố gắng hạn chế rủi ro càng
thấp càng tốt
Tùy thuộc vào tình hình kinh doanh của mình, tình hình rủi ro trong hoạt động tín
dụng tại ngân hàng mình mà mỗi ngân hàng sẽ có những biện pháp kiểm soát rủi ro phù hợp với đặc điểm riêng của mình
Các phương pháp kiểm soát rủi ro trong hoạt động tín dụng
+ Né tránh r ủi ro: Một trong những phương pháp kiểm soát rủi ro cụ thể là né
tránh những hoạt động làm phát sinh tổn thất có thể có bởi không thừa nhận nó ngay từ
đầu hoặc bởi loại bỏ nguyên nhân dẫn tới tổn thất đã được thừa nhận
+ Ch ủ động tránh rủi ro trong hoạt động tín dụng: Có thể loại bỏ rủi ro một cách
tuyệt đối thông qua việc từ chối cho vay đối với những khách hàng không hội đủ điều
kiện vay vốn theo quy định của ngân hàng
+ Kh ắc phục các nguyên nhân có thể gây ra rủi ro trong hoạt động tín dụng: Với
những khoản vay có rủi ro nhưng biết chắc rủi ro có thể khắc phục được vẫn tiến hành cho vay, vì rủi ro đi kèm với lợi nhuận, lợi ích từ cho vay có rủi ro sẽ cao hơn không
cho vay
+ Ki ểm soát các nguồn rủi ro: Đây là công việc rất khó thực hiện vì có những
nguồn mà bản thân ngân hàng không thể kiểm soát, như các điều luật về hôn nhân và gia đình, luật về đất đai, luật dân sự Việc nắm bắt những thông tin liên quan đến hoạt động cho vay như thông tin kinh tế trong và ngoài nước, môi trường tự nhiên, môi trường chính trị xã hội để tránh sự bất đối xứng về thông tin gây ra rủi ro trong hoạt động tín dụng Chính vì vậy mà người CBTD cần có những kiến thức đầy đủ, khoa
Trang 34học và có hệ thống về những môi trường bên ngoài đó nhằm có những điều chỉnh thích
hợp giúp giảm thiểu rủi ro trong hoạt động tín dụng cho ngân hàng Đây là giải pháp
khá đơn giản, triệt để và chi phí thấp, tuy nhiên có một số hạn chế sau:
Một là, rủi ro và lợi ích song song tồn tại vì vậy nếu né tránh rủi ro cũng có thể
mất đi lợi ích có được từ tài sản và hoạt động đó
Hai là, rủi ro và bất định tồn tại trong mọi hoạt động của con người và tổ chức, vì
vậy coi chừng tránh rủi ro này thì chúng ta có thể gặp rủi ro khác
Ba là, trong nhiều tình huống không thể đặt ra giải pháp né tránh, hoặc nguyên nhân của rủi ro gắn chặt với bản chất hoạt động do vậy không thể chỉ loại bỏ nguyên nhân mà không loại bỏ hoạt động
+ Bi ện pháp giảm thiểu tổn thất trước khi rủi ro xảy ra: Đây là biện pháp đòi hỏi
người CBTD phải luôn theo sát từng giai đoạn trong tiến trình cho vay để kiểm soát tốt
mọi việc, đạt được sự hoàn thiện đứng trên góc độ của quản trị rủi ro trong hoạt động tín dụng Trên cơ sở các công cụ, phương tiện cách thức phù hợp với tình huống thực
tế để khi rủi ro xảy ra thì tổn thất của nó luôn ở mức chấp nhận được
+ Bi ện pháp phân tán rủi ro: Thực hiện việc đa dạng hoá trong hoạt động tín
dụng theo ngân hàng, theo ngành nghề, theo địa lý, theo thời hạn cho vay để có thể
tận dụng sự khác biệt về công nghệ, địa lý, sự biến động của các dòng tiền, sự biến động của thị trường giúp ngân hàng loại bỏ được rủi ro phi hệ thống Đây là nguyên
tắc bảo hiểm rất có ý nghĩa do tận dụng được sự vận động ngược chiều của các dòng
tiền
+ Ki ểm tra mục đích sử dụng trước khi quyết định cho vay: Đây là biện pháp
ngăn ngừa rủi ro trong hoạt động tín dụng đảm bảo sự chính xác việc sử dụng vốn của khách hàng vay vốn, đảm bảo đúng thị trường mục tiêu mà ngân hàng đã chọn, phòng tránh được sự lựa chọn đối nghịch, không đầu tư vào lĩnh vực có rủi ro cao Nếu mục đích sử dụng vốn không phù hợp với quy định của ngân hàng thì từ chối cho vay, loại
bỏ rủi ro một cách tuyệt đối
+ Ki ểm tra khoản vay sau khi cho vay: Vì rủi ro có thể xảy ra ở bất cứ khâu nào
trong tiến trình cho vay nên sau khi cho vay, việc kiểm tra theo dõi hoạt động sử dụng
Trang 35vốn nhằm đảm bảo việc sử dụng vốn đúng mục đích, kiểm soát rủi ro ở mức có thể
chấp nhận được là công việc hết sức cần thiết
c Tài tr ợ rủi ro tín dụng
Tài trợ rủi ro trong hoạt động tín dụng là những kỹ thuật và công cụ được sử
dụng để tài trợ cho chi phí của rủi ro và tổn thất từ hoạt động tín dụng Trong hoạt động tín dụng, các ngân hàng luôn luôn phải chấp nhận một mức độ rủi ro mà không
thể né tránh hoàn toàn rủi ro, vì “Không có rủi ro thì không có lợi nhuận” Việc tìm ra cách giải quyết hậu quả tổn thất chính là nội dung của công việc tài trợ rủi ro
Khi RRTD xảy ra, trước hết ngân hàng cần theo dõi, xác định những tổn thất về tài sản, nguồn lực, giá trị pháp lý Sau đó thực hiện các biện pháp khắc phục và xử lý
mà vẫn không thu hồi được, ngân hàng cần có những biện pháp tài trợ RRTD phù hợp
để đảm bảo cho hoạt động của ngân hàng và đảm bảo chấp hành các quy định an toàn
của NHNN
Theo công bố của Ủy ban Basel, các NHTM phải thường xuyên dự trữ các nguồn
quỹ dự phòng cần thiết, sẵn sàng bù đắp được mọi tổn thất có thể xảy ra để đảm bảo an toàn cho hoạt động kinh doanh Tùy theo tính chất của từng loại tổn thất, ngân hàng được sử dụng những nguồn vốn thích hợp để bù đắp
Các phương pháp tài trợ rủi ro tín dụng
- Trích lập dự phòng
Đây là biện pháp được các ngân hàng sử dụng chủ yếu, là biện pháp tự khắc phục
rủi ro trong hoạt động tín dụng của ngân hàng Ngân hàng thực hiện việc phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng đối với các khoản nợ theo quy định của NHNN Việc TLDP sẽ làm giảm lợi nhuận của ngân hàng nhưng mặt khác nó giúp ngân hàng ý thức được việc kiểm soát rủi ro trong hoạt động tín dụng một cách chặt chẽ hơn
Tỷ lệ TLDP cụ thể đối với các nhóm nợ theo quy định của NHNN như sau:
Nhóm 1 là: 0%, Nhóm 2 là: 5%, Nhóm 3 là: 20%, Nhóm 4 là: 50%, Nhóm 5 là: 100%
Số tiền dự phòng cụ thể phải trích được tính theo công thức sau:
Dự phòng rủi ro phải tính = (GT – TSĐB) x tỷ lệ trích dự phòng
Trang 36Trong đó: GT là giá trị tín dụng
- Thanh lý tài sản
Đối với những khách hàng không có khả năng trả nợ hoặc không có ý muốn trả
nợ, sau khi ngân hàng đã thực hiện mọi phương án để thu hồi vẫn không hiệu quả thì
việc thanh lý là phương án giải quyết cuối cùng để bảo toàn vốn, hoặc thu lại một tỷ lệ
vốn nhất định Trong hoạt động này, ngân hàng có thể yêu cầu sự hợp tác từ khách hàng hoặc nhờ pháp luật can thiệp nếu cần thiết
- Chuyển giao rủi ro
Ngân hàng có thể sử dụng một số biện pháp để chuyển giao rủi ro như:
+ Chứng khoán hoá: Việc tích hợp các khoản vay tốt lẫn những khoản vay có
vấn đề có thể đưa ra hoặc không đưa ra ngoại bảng cho một tổ chức thực hiện việc phát hành chứng khoán Người mua chứng khoán sẽ thanh toán khoản nợ và thu hồi lại
vốn từ người phát hành hoặc người mua lại Như vậy, ngân hàng đã chuyển giao rủi ro cho một số tổ chức hay cá nhân trong nền kinh tế
+ Bảo hiểm tín dụng: Bảo hiểm tín dụng là hình thức chuyển một phần hoặc toàn
bộ RRTD của các TCTD cho các tổ chức bảo hiểm
+ Bán nợ: Đối với hoạt động ngân hàng, đây là biện pháp nhằm loại bỏ những tài
sản có rủi ro, tạo chỗ cho các tài sản khác có tính thanh khoản cao hơn Việc bán
những khoản tín dụng có nợ xấu sẽ loại bỏ được RRTD, qua đó ngân hàng thu hồi được nợ nhanh hơn đồng thời giảm các chi phí liên quan đến khoản nợ đó
Tuy nhiên, việc chuyển giao rủi ro không phải dễ dàng thực hiện được vì nó đòi
hỏi phải có một môi trường kinh doanh với những điều kiện nhất định Và việc quản
trị rủi ro trong hoạt động tín dụng phải tiến hành đồng bộ và trên nhiều nội dung để có
thể biết chắc mọi chuyển vẫn trong tầm kiểm soát của ngân hàng Thông thường, hiện nay đối với rủi ro trong hoạt động tín dụng thì biện pháp duy nhất mà các NHTM thường sử dụng đó là dùng quỹ dự phòng rủi ro trong hoạt động tín dụng để bù đắp tổn
thất
Trang 371.3 CÁC NHÂN T Ố ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÔNG TÁC QUẢN TRỊ RRTD
1.3.1 Các nhân t ố bên trong
a Cơ sở dữ liệu
Cơ sở dữ liệu là nguồn thông tin quý giá tạo điều kiện thuận lợi cho ngân hàng trong việc thiết lập các hệ thống xếp hạng tín dụng của khách hàng Nếu luồng thông tin đầu vào tốt thì các quyết định đưa ra chính xác,chất lượng tín dụng được bảo đảm,
hiệu quả công tác quản trị rủi ro được nâng cao Tuy nhiên, việc thu thập cơ sở dữ liệu
có chất lượng đòi hỏi cần nhiều thời gian và công sức.Để có được cơ sở dữ liệu phục
vụ cho công tác thẩm định, xếp hạng đòi hỏi thông tin phải được thu thập, xữ lý và lưu
trữ trong thời gian dài một cách khoa học, logic để dễ dàng trong việc tra cứu, sử
dụng Chính vì vậy mà không phải ngân hàng nào cũng có được cơ sở dữ liệu tốt đáp ứng được yêu cầu của công tác quản trị rủi ro trong hoạt động tín dụng
Vì thế nhân tố con người là yếu tố quan trọng, đòi hỏi phải được quan tâm, tạo điều
kiện để nhân tố này phát huy tốt nhất vai trò của mình trong công tác quản trị rủi ro trong hoạt động tín dụng của các NHTM
c Công tác qu ản lý, tổ chức, kiểm soát nội bộ
Một nhân tố không kém phần quan trọng trong quá trình quản trị RRTD của một ngân hàng chính là công tác quản lý và tổ chức, kiểm soát nội bộ Nó có thể có tác
dụng thúc đẩy, hổ trợ hoặc hạn chế, gây trở ngại cho khả năng chủ động phòng ngừa
và xữ lý RRTD Hay nói một cách khác, công tác này có ảnh hưởng lớn đến năng lực
quản trị RRTD Nếu công tác quản lý và tổ chức được tiến hành chặt chẽ, khoa học, các phòng ban chức năng có mối quan hệ chặt chẽ hổ trợ lẫn nhau trong mọi hoạt động thì hoạt động tín dụng sẽ diễn ra một cách lành mạnh, hiệu quả, đồng thời cũng tạo
Trang 38điều kiện dễ dàng cho việc kiểm tra, kiểm soát, phát hiện và xữ lý các khoản tín dụng
có dấu hiệu rủi ro Bên cạnh đó, công tác kiểm soát nội bộ cũng hướng cho các cán bộ điều hành công việc theo đúng cơ chế, quy chế và đúng pháp luật, nắm rõ được thông tin về những khoản vay, tránh tình trạng khách hàng sử dụng vốn sai mục đích Việc
kiểm soát nội bộ nếu được thực hiện tốt và thường xuyên sẽ giúp cho ngân hàng kịp
thời phát hiện và có những biện pháp khắc phục những khoản tín dụng có vấn đề
d Nguồn lực tài chính của ngân hàng
Mọi tổ chức đều cần một nguồn lực tài chính đủ mạnh để có thể tiến hành tốt các
hoạt động của mình Với NHTM, nguồn lực tài chính cho phép ngân hàng đảm bảo
hoạt động thanh toán luôn trong tình trạng ổn định, kiểm soát được Bên cạnh đó, để
có được cơ sở dữ liệu tốt thì quá trình thu thập, xữ lý thông tin là một công việc đòi
hỏi nhiều công sức và tiền của mà không phải ngân hàng nào cũng có thể đáp ứng được, đồng thời việc áp dụng các tiến bộ khoa học công nghệ, các mô hình đo lường… vào hoạt động đòi hỏi ngân hàng phải có nguồn lực tài chính to lớn để có thể đáp ứng nhu cầu
1.3.2 Các nhân t ố bên ngoài
a Môi trường kinh tế
Trong nền kinh tế thị trường, chính sách kinh tế vĩ mô của Chính phủ đóng vai trò quyết định đối với hoạt động của nền kinh tế quốc dân nói chung và lĩnh vực kinh doanh tiền tệ, tín dụng của các NHTM nói riêng Chính sách kinh tế vĩ mô của Chính
phủ bao gồm các chính sách về kinh tế, tài chính tiền tệ, kinh tế đối ngoại Chỉ cần Chính phủ thay đổi một trong các chính sách trên, lập tức sẽ có ảnh hưởng đến hoạt động SXKD của các doanh nghiệp và người chịu tác động trực tiếp là NHTM và hoạt động kinh doanh của ngân hàng khác nhau luôn gắn bó mật thiết với hoạt động của khách hàng Chính vì vậy nếu chính sách kinh tế vĩ mô của Chính phủ đúng đắn phù
hợp với thực tiễn thì nó sẽ góp phần thúc đẩy SXKD phát triển, tạo điều kiện cho
khách hàng làm ăn có hiệu quả, nhưng ngược lại cũng sẽ kìm hãm sự phát triển SXKD làm cho khách hàng gặp khó khăn thậm chí thua lỗ, phá sản
b Môi trường pháp lý
Trang 39Trong hoạt động kinh doanh, song song với hoạt động mang tính kỹ thuật nghiệp
vụ và các hoạt động mang tính pháp lý như ký kết hợp đồng kinh tế, đầu tư tài chính tín dụng Tính pháp lý thể hiện các hoạt động kinh doanh luôn tiến hành dựa trên các quy định pháp luật, hay nói cách khác bị giới hạn trong khuôn khổ pháp luật
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, các yếu tố pháp lý là điều kiện đảm bảo cho hoạt động kinh doanh, đặc biệt là hoạt động cho vay của các NHTM Nhưng cũng chính vì vậy, nếu môi trường pháp lý chưa hoàn chỉnh thiếu đồng bộ cũng sẽ gây khó khăn, bất lợi cho các doanh nghiệp và ngân hàng
Môi trường kinh tế, môi trường pháp lý tạo nên môi trường kinh doanh của khách hàng, đồng thời tạo nên môi trường cho vay của các NHTM Môi trường cho vay có ảnh hưởng, tác động tích cực hay tiêu cực đến hoạt động tín dụng, nó sẽ góp phần làm
hạn chế hoặc tăng thêm rủi ro trong các hoạt động cho vay của các NHTM
c T ừ môi trường xã hội
Những biến động lớn về kinh tế chính trị trong nước cũng như trên thế giới luôn
có ảnh hưởng tới công việc kinh doanh của khách hàng cũng như của ngân hàng Ngày nay, cùng với sự mở rộng giao lưu kinh tế, văn hoá, chính trị giữa các nước đời sống kinh tế thế giới cũng có nhiều biến đổi Muốn phát triển kinh tế một cách toàn diện cần
thực hiện mở cửa nền kinh tế để tiếp thu những thành tựu khoa học kĩ thuật hiện đại
của những nước phát triển, trao đổi, xuất nhập khẩu hàng hoá, dịch vụ và đầu tư hoặc vay tiền của nước ngoài Tất cả các hoạt động đó tạo nên mối quan hệ kinh tế đối ngoại của mỗi quốc gia Những thay đổi về chính trị có thể dẫn đến sự biến động cán
cân thương mại quốc tế, tỉ giá hối đoái giá làm biến động thị trường trong nước như giá cả nguyên vật liệu, hàng hoá, dịch vụ, mức lãi suất thị trường, mức cầu tiền tệ
trực tiếp ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp và người chịu tác động là các NHTM
Trang 40K ẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Qua nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về quản trị RRTD trong hoạt động
của NHTM, chúng ta đã tiếp cận một cách có hệ thống, khoa học, đầy đủ về các quan điểm về RRTD, nội dung của quản trị RRTD và theo các chuẩn mực, thông lệ quốc tế Trên cơ sở những lý luận đó, vận dụng vào thực tiễn hoạt động quản trị RRTD cho phù
hợp với điều kiện, đặc điểm hoạt động của từng ngân hàng để giảm thiểu những tổn
thất, những ảnh hưởng bất lợi của RRTD đối với hoạt động tín dụng của ngân hàng, đảm bảo hoạt động của ngân hàng an toàn, hiệu quả và phát triển bên vững Trong điều kiện nền kinh tế luôn biến động phức tạp như hiện nay thì không những các doanh nghiệp gặp khó khăn mà ngay cả hệ thống ngân hàng cũng bị ảnh hưởng, chất lượng tín dụng ngày một giảm Vì vậy, yêu cầu cấp thiết đặt ra đối với hệ thống NHTM Việt Nam là phải tăng cường công tác quản trị RRTD hơn nữa nhằm tạo sự tăng trưởng tín dụng một cách ổn định và quản trị tốt chất lượng tín dụng