1. Lý do chọn đề tài Xã hội ngày một phát triển, khoa học công nghệ ngày càng cao, yêu cầu con người phải không ngừng lao động, học tập nhằm tạo ra sản phẩm đáp ứng cho nhu cầu vật chất và tinh thần của cá nhân và sự phát triển của xã hội. Việc đáp ứng yêu cầu và nhịp độ khẩn trương của công việc khiến con người dễ cảm thấy quá tải và dễ rơi vào trạng thái căng thẳng, mệt mỏi, ảnh hưởng không tốt tới cơ thể cũng như kết quả lao động. Chính vì vậy, đối với con người không chỉ sức khỏe thể chất mà cả nhu cầu về sức khỏe tâm trí cũng là một vấn đề hết sức quan trọng. Hiện nay, trong nhà trường nhiều học sinh gặp khó khăn trong học tập, tu dưỡng đạo đức, xây dựng lý tưởng sống và xác định cách thức ứng xử cho phù hợp với các mối quan hệ xung quanh. Đặc biệt, độ tuổi Vị thành niên là độ tuổi đang ở trong giai đoạn phát triển mạnh về mặt nhân cách. Các em rất dễ bị ảnh hưởng xấu bởi các tiêu cực của xã hội, dễ gặp phải những vấn đề khó giải quyết trong cuộc sống, trong học tập, quan hệ bạn bè, cha mẹ...Vì vậy, việc trợ giúp tâm lý cho những học sinh tại thành phố lớn như Hà Nội là rất cần thiết. Thực trạng trên đòi hỏi cần phải có những nghiên cứu về TVTL cho học sinh. Tham vấn tâm lý được ứng dụng ở nhiều loại hình khác nhau, trong đó TVTL học đường đang trở thành một nhu cầu cấp bách của xã hội cần được đáp ứng kịp thời. TVTL học đường đóng vai trò rất quan trọng đối với học sinh. Vì vậy, việc nghiên cứu thực trạng nhu cầu TVTL của học sinh ở nội thành thành phố Hà Nội là rất cần thiết, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn để xác định phương hướng, cách thức tổ chức các hoạt động tham vấn có hiệu quả cho HS. Xuất phát từ những lý do trên, đề tài “Nhu cầu tham vấn tâm lý của học sinh THCS ở nội thành thành phố Hà Nội” được chọn làm đề tài nghiên cứu của luận văn.
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Xã hội ngày một phát triển, khoa học công nghệ ngày càng cao, yêucầu con người phải không ngừng lao động, học tập nhằm tạo ra sản phẩmđáp ứng cho nhu cầu vật chất và tinh thần của cá nhân và sự phát triển của
xã hội Việc đáp ứng yêu cầu và nhịp độ khẩn trương của công việc khiếncon người dễ cảm thấy quá tải và dễ rơi vào trạng thái căng thẳng, mệtmỏi, ảnh hưởng không tốt tới cơ thể cũng như kết quả lao động Chính vìvậy, đối với con người không chỉ sức khỏe thể chất mà cả nhu cầu về sứckhỏe tâm trí cũng là một vấn đề hết sức quan trọng
Hiện nay, trong nhà trường nhiều học sinh gặp khó khăn trong họctập, tu dưỡng đạo đức, xây dựng lý tưởng sống và xác định cách thức ứng
xử cho phù hợp với các mối quan hệ xung quanh Đặc biệt, độ tuổi Vịthành niên là độ tuổi đang ở trong giai đoạn phát triển mạnh về mặt nhâncách Các em rất dễ bị ảnh hưởng xấu bởi các tiêu cực của xã hội, dễ gặpphải những vấn đề khó giải quyết trong cuộc sống, trong học tập, quan hệbạn bè, cha mẹ Vì vậy, việc trợ giúp tâm lý cho những học sinh tại thànhphố lớn như Hà Nội là rất cần thiết
Thực trạng trên đòi hỏi cần phải có những nghiên cứu về TVTL chohọc sinh Tham vấn tâm lý được ứng dụng ở nhiều loại hình khác nhau,trong đó TVTL học đường đang trở thành một nhu cầu cấp bách của xã hội
cần được đáp ứng kịp thời TVTL học đường đóng vai trò rất quan trọng
đối với học sinh Vì vậy, việc nghiên cứu thực trạng nhu cầu TVTL củahọc sinh ở nội thành thành phố Hà Nội là rất cần thiết, có ý nghĩa lý luận
và thực tiễn để xác định phương hướng, cách thức tổ chức các hoạt động
tham vấn có hiệu quả cho HS Xuất phát từ những lý do trên, đề tài “Nhu cầu tham vấn tâm lý của học sinh THCS ở nội thành thành phố Hà Nội”
được chọn làm đề tài nghiên cứu của luận văn
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu NC TVTL của học sinh THCS ở nội thành thành phố
Hà Nội và đề xuất một số khuyến nghị phù hợp nhằm đáp ứng NC TVTLcủa học sinh THCS, góp phần phát triển nhân cách toàn diện cho học sinh
Trang 23 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu: Học sinh THCS ở nội thành thành phố Hà
Nội: Trường THCS Phương Liệt và Trường THCS Giáp Bát
3.2 Đối tượng nghiên cứu: Nhu cầu tham vấn tâm lý về các vấn đề học
tập, về các mối quan hệ ở học đường của học sinh THCS
4 Phạm vi và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Nghiên cứu thực trạng NC TVTL về các vấn đề tronghọc tập và các mối quan hệ ở học đường Cụ thể là: Nhu cầu về lĩnh vựcTVTL học đường, về hình thức TVTL học đường
- Về khách thể nghiên cứu: 300 học sinh THCS, bao gồm: 150 HSTrường THCS Phương Liệt và 150 HS Trường THCS Giáp Bát
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Phân tích, hệ thống hóa một số thành tựu lý luận về nhu cầu, TVTL,
TVTL HĐ, NC TVTL HĐ của HS THCS Trên cơ sở đó xây dựng cơ sở lýluận cho việc triển khai nghiên cứu đề tài
- Khảo sát, đánh giá thực trạng NC TVTL HĐ của HS Trường THCSPhương Liệt và Trường THCS Giáp Bát ở nội thành thành phố Hà Nội
- Đề xuất một số khuyến nghị nhằm đáp ứng NC TVTL HĐ cho HSTHCS ở nội thành thành phố Hà Nội
5 Giả thuyết khoa học: NC TVTL HĐ của HS THCS đã được hình thành
và phát triển nhưng còn ít được đáp ứng Nếu phát hiện được những NCTVTL HĐ đặc trưng của HS THCS thì sẽ đưa ra được những ý kiến đềxuất phù hợp để đáp ứng NC TVTL HĐ cho HS
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu
6.2 Phương pháp quan sát
6.3 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
6.4 Phương pháp phỏng vấn
6.5 Phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình
6.6 Phương pháp toán thống kê
Trang 3Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
1.1.1 Lịch sử nghiên cứu tham vấn tâm lý trên thế giới
Tham vấn tâm lý là một chuyên ngành tâm lý tương đối trẻ Năm
1907, Jesse Davis (1817 – 1955) đã xây dựng cơ sở đào tạo đầu tiên vềcông tác hướng dẫn nghề tại Michigan Tuy nhiên, người có ảnh hưởng lớnnhất đến công tác hướng nghiệp ở Mỹ là Frank Parsons (1854 – 1908).Ông được xem như cha đẻ của ngành hướng dẫn tư vấn nghề nghiệp F.Parsons đã viết cuốn sách “ Cẩm nang hướng nghiệp” Chính điều này đãtạo điều kiện cho sự ra đời và phát triển của ngành hướng dẫn tư vấn nghề Năm 1913, Hội nghị công tác hướng dẫn tư vấn nghề nghiệp lần đầutiên được tổ chức tại Boston Kết quả của Hội nghị này đánh dấu sự ra đờicủa Hiệp hội tư vấn hướng nghiệp quốc gia Mỹ (NVGA), tổ chức tiềnnhiệm của Hiệp hội tham vấn Mỹ (ACA) sau này
Tham vấn tâm lý học đường (School Counseling) hay còn gọi là thamvấn học đường là một nhánh của ngành tham vấn tâm lý được xuất hiệnvào đầu thế kỷ 20 tại Hoa Kỳ Jesse B Năm 1997, Tiêu chuẩn quốc gia của
Mỹ cho các chương trình tham vấn học đường ra đời và kể từ đó, ngànhTVHĐ được xem là đã có tương đối các cơ sở để phát triển vững mạnh
1.1.2 Lịch sử nghiên cứu tham vấn tâm lý ở Việt Nam
Hiện nay ở nước ta cũng đã có một số sách về TVTL được xuất bảnnhư: “Tư vấn tâm lý căn bản” của Thạc sĩ Nguyễn Thơ Sinh (Nhà xuất bảnLao Động, 2006), “Tư vấn tâm lý học đường” do Kiến Văn – Lý ChủHưng biên soạn (Nhà xuất bản phụ nữ, 2007), bên cạnh đó còn có một sốbài báo như: “Tham vấn – một dịch vụ XH cần được phát triển ở ViệtNam” đăng trên tạp chí TLH, số 2/2005 “Thực trạng tham vấn ở ViệtNam: từ lý thuyết đến thực tế”, tạp chí TLH số 2/2003…
Đến nay, vấn đề TVTL HĐ tại Việt Nam đã trở thành một đề tài nóngbỏng và nhận được nhiều sự ủng hộ từ các em HS, phụ huynh, nhà trường,
Trang 4các nhà Tâm lý - Giáo dục và các tổ chức thuộc chính phủ cũng như các tổchức phi chính phủ
1.2 Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu
1.2.1 Khái niệm nhu cầu
nhu cầu tự thể hiện Quan điểm của phân tâm học: Đại diện tiêu biểu là
S.Freud Ông cho rằng, đời sống tâm lý của con người bao gồm 3 khối (cái
ấy, cái tôi, cái siêu tôi) Quan điểm của chủ nghĩa hành vi: J Watson
(1878 - 1958), người khởi xướng ra Tâm lý học hành vi ở Mỹ (1913) chorằng: “ Khi có một kích thích nào đó tác động vào cơ thể sẽ tạo ra phảnứng tương ứng đáp lại theo công thức: S → R
b Quan điểm về nhu cầu của các nhà tâm lý học Xô Viết: Các nhà tâm
lý học Liên Xô khi nghiên cứu về con người, đời sống tâm lý đã khẳngđịnh: NC là yếu tố bên trong quan trọng đầu tiên thúc đẩy hoạt động củacon người
c Quan điểm về nhu cầu của các nhà tâm lý học Việt Nam: Có nhiều quan điểm khác nhau về nhu cầu Theo chúng tôi: “Nhu cầu là sự đòi hỏi tất yếu mà con người thấy cần thỏa mãn để tồn tại và phát triển” trong
cuốn giáo trình “Tâm lý học đại cương” do Nguyễn Quang Uẩn chủ biên(2011)
1.2.1.2 Đặc điểm nhu cầu: NC bao giờ cũng có đối tượng; Nội dung của
NC do những điều kiện và phương thức thoả mãn nó quyết định; NC cótính chu kỳ; NC của con người mang bản chất xã hội
1.2.1.3 Phân loại nhu cầu: NC vật chất và NC tinh thần.
1.2.2 Khái niệm tham vấn tâm lý
1.2.2.1 Tham vấn tâm lý là gì?
Từ những khái niệm khác nhau về TVTL, chúng tôi chọn khái niệmcủa PGS.TS Trần Thị Minh Đức làm khái niệm công cụ để tiến hành
Trang 5với thân chủ Thông qua các kĩ năng trao đổi và chia sẻ tâm tình, thân chủ hiểu và chấp nhận thực tế của mình, tự tìm lấy tiềm năng bản thân để giải quyết vấn đề của chính mình”
1.2.2.2 Đối tượng, mục đích, nhiệm vụ tham vấn tâm lý
a) Đối tượng của TVTL: Nghiên cứu các biểu hiện “không bình
thường” trong nhận thức, hành vi, và các nguyên nhân gây ra chúng ở các
cá nhân và nhóm người có khó khăn tâm lý nhằm trợ giúp cho họ có cuộcsống tốt hơn
b) Mục đích chung của TVTL: Cải tiến, củng cố (về mặt sức khỏe tinh
thần) giúp thân chủ sống tốt hơn; Ngăn ngừa, tránh không để vấn đề xảy ratồi tệ hơn; Giúp thân chủ giải quyết vấn đề cụ thể; Giúp thân chủ thay đổihành vi, nhân cách
c) Nhiệm vụ của TVTL: Xác định vấn đề và nguyên nhân gây ra; Chẩn
đoán, đánh giá, phân loại vấn đề; Giúp tìm ra cách giải quyết vấn đề
1.2.2.3 Nội dung TVTL: Nội dung tham vấn tâm lý được mở rộng ra
trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội như: Tham vấn Tình yêu – Hônnhân – Gia đình, Tham vấn sức khỏe tinh thần, Tham vấn học đường,…
1.2.2.4 Hình thức TVTL: Hình thức tham vấn trực tiếp và tham vấn gián tiếp
1.2.3 Khái niệm tham vấn tâm lý học đường.
1.2.3.1 Tham vấn tâm lý học đường là gì?
TVTL HĐ là hoạt động trợ giúp giữa NTV học đường với học sinh về các vấn đề trong học tập, trong quan hệ xã hội và các vấn đề chuyên biệt; phát hiện sớm, phòng ngừa và can thiệp thích hợp nhằm mục đích khơi dậy tiềm năng, nâng cao năng lực tự giải quyết vấn đề cho học sinh, giúp học sinh có điều kiện, cơ hội phát triển tốt nhất.
1.2.3.2 Đối tượng, mục đích, nhiệm vụ tham vấn tâm lý học đường
a) Đối tượng của TVTL HĐ: Đối tượng của TVHĐ là những HS, sinh
viên đang gặp những trở ngại, khó khăn về mặt tâm lý, là những phụhuynh, giáo viên và các tổ chức xã hội cần hỗ trợ về cách thức chăm sóc,giáo dục, phát hiện và can thiệp kịp thời những vấn đề mà HS, sinh viêngặp phải
b) Mục đích của TVTL HĐ: Giúp HS xác định những vấn đề khó khăn
trong quá trình phát triển của mình, giảm bớt những thiếu hụt của cá nhân,trợ giúp HS trong học tập, quan hệ xã hội, nâng cao năng lực cá nhân, pháttriển toàn diện về cả thể chất và tâm trí
Trang 6c) Nhiệm vụ của TVTL HĐ: Hỗ trợ HS, sinh viên giải quyết những
khó khăn trong việc phát triển nhân cách Hỗ trợ phụ huynh, giáo viên vàcác tổ chức xã hội cần hỗ trợ về cách thức chăm sóc, giáo dục, phát hiện vàcan thiệp kịp thời những vấn đề mà HS, sinh viên gặp phải
1.2.3.3 Nội dung TVTL HĐ: Bao gồm các vấn đề về học tập, về các mối
quan hệ học đường: Phát triển học tập, phát triển cá nhân/xã hội, phát triểnnghề nghiệp
1.2.3.4 Hình thức TVTL HĐ: Tham vấn trực tiếp và tham vấn gián tiếp 1.2.3.5 Nhà tham vấn tâm lý học đường
NTV HĐ là người trợ giúp tạo ra và tổ chức những chương trình thamvấn học đường một cách thích hợp với từng giai đoạn phát triển của học sinh
1.2.4 Học sinh THCS và một số đặc điểm – khó khăn tâm lý
1.2.4.1 Khái niệm HS THCS
Lứa tuổi HS THCS thường được bắt đầu từ 11- 12 tuổi và kết thúcvào lúc 14 – 15 tuổi Ở Việt Nam lứa tuổi này còn được gọi là tuổi thiếu niên.Đặc điểm sinh lý cơ bản trong lứa tuổi thiếu niên là hiện tượng dậy thì
1.2.4.2 Một số đặc điểm tâm – sinh lí cơ bản của HS THCS
a) Đặc điểm phát triển thể chất của HS THCS: Tuổi dậy thì ở các trẻ em
gái Việt Nam vào khoảng 12 - 13 tuổi, ở các em trai bắt đầu và kết thúc chậmhơn khoảng từ 1 đến 2 năm Đến 15 - 16 tuổi, giai đoạn dậy thì kết thúc
b) Đặc điểm phát triển tâm lý của HS THCS: Sự phát triển của tự ý
thức; Tự đánh giá của TN; Tự giáo dục của TN; Sự phát triển hứng thú củaTN; Sự hình thành đạo đức của TN; Sự phát triển đời sống tình cảm của
TN; Hoạt động học tập; Giao tiếp của thiếu niên.
1.2.4.3 Một số khó khăn tâm lý của HS THCS
Thiếu niên gặp khó khăn trên một số vấn đề sau: Khó khăn trong học tập, khó khăn nội tâm, khó khăn trong quan hệ với cha mẹ, khó khăn trong quan hệ với thầy cô giáo, khó khăn nảy sinh từ quan hệ bạn bè
1.2.5 Nhu cầu tham vấn tâm lý của học sinh THCS
1.2.5.1 Khái niệm
Nhu cầu TVTL HĐ là quá trình HS mong muốn nhận được sự trợ giúp chuyên nghiệp, tích cực của NTV HĐ về các lĩnh vực trong môi trường học đường như: phát triển học, phát triển cá nhân – xã hội, phát
Trang 7triển nghề nghiệp nhằm mục đích giúp cho HS có điều kiện, cơ hội phát triển tốt nhất
1.2.5.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu tham vấn tâm lý của HS THCS.
Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu tham vấn của HS THCS
Đó là các yếu tố khách quan và yếu tố chủ quan
- TVHĐ là hoạt động trợ giúp giữa NTV học đường với học sinh, sinh viên về các vấn đề trong học tập, trong quan hệ xã hội và các vấn đề chuyên biệt nhằm mục đích giúp cho học sinh có điều kiện, cơ hội phát triển tốt nhất
- HS THCS có một số đặc điểm cơ bản là: Sự trưởng thành về mặt sinh học (dậy thì) có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển tâm lý của các em Sự hình thành ý thức, tự đánh giá bản thân trong các mối quan hệ với mọi người Mâu thuẫn, xung đột giữa HS THCS với cha mẹ, thầy cô Giao tiếp với bạn bè giúp HS THCS khẳng định mình trong một nhóm bạn cũng như khẳng định sự trưởng thành về mặt giới tính của mình trong quan hệ với bạn khác giới HS THCS gặp nhiều áp lực từ phía gia đình, cộng đồng, những thay đổi của cơ thể, từ mối quan hệ bạn bè đồng trang lứa Điều này dẫn đến nhiều khó khăn tâm lý mà HS THCS gặp phải.
- Nhu cầu TVTL HĐ là quá trình HS mong muốn nhận được sự trợ giúp chuyên nghiệp, tích cực của NTV HĐ về các lĩnh vực trong môi trường học đường như: phát triển học tập, phát triển cá nhân – xã hội, phát triển nghề nghiệp nhằm mục đích giúp cho HS có điều kiện, cơ hội phát triển tốt nhất.
- NC TVTL HĐ của HS THCS chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố khác nhau, trong đó có cả các yếu tố chủ quan và khách quan.
Trang 8Chương 2
TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Vài nét về địa bàn nghiên cứu và khách thể nghiên cứu
2.1.1 Vài nét về địa bàn nghiên cứu
Trường THCS Giáp Bát nằm ở khu vực quận Hoàng Mai Địa chỉ
của trường là: Số 35, ngõ Giáp Bát – Phường Giáp Bát – Quận Hoàng Mai
– Thành phố Hà Nội.Trường THCS Phương Liệt nằm ở khu vực quận
Thanh Xuân Địa chỉ trường: Ngõ 377 Giải Phóng – Phường Phương Liệt –Thanh Xuân – Hà Nội
2.1.2 Khách thể nghiên cứu
Do điều kiện và thời gian nghiên cứu có hạn nên chúng tôi chỉ khảosát thực trạng NC TVTL HĐ trên 300 HS thuộc cả 4 khối lớp 6, 7, 8 và 9 ởhai trường.Trong đó:150 HS trường THCS Phương Liệt,150 HS trườngTHCS Giáp Bát
2.2 Tổ chức nghiên cứu
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu
2.3.2 Phương pháp quan sát
2.3.3 Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi
2.3.4 Phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình
Các phương pháp nghiên cứu cụ thể đều hướng tới đảm bảo tínhkhách quan, và có sự kết hợp, bổ sung cho nhau, tạo điều kiện để thu đượcnhững số liệu có độ tin cậy cao nhất và giúp người nghiên cứu rút ra đượcnhững nhận xét và kết luận xác đáng, góp phần làm sáng tỏ mục đích vàgiả thuyết khoa học của đề tài
Trang 9Chương 3 THỰC TRẠNG NHU CẦU TVTL HĐ CỦA HS THCS
Ở NỘI THÀNH THÀNH PHỐ HÀ NỘI 3.1 Thực trạng nhu cầu tham vấn tâm lý học đường của học sinh THCS ở nội thành thành phố Hà Nội
3.1.1 Nhận thức của HS THCS ở nội thành thành phố Hà Nội về khái niệm TVTL HĐ
Nhận thức của khách thể nghiên cứu về TVTL HĐ mà chúng tôimuốn tìm hiểu là nhận định của họ về TVTL HĐ, về mức độ cần thiết củadịch vụ với bản thân khách thể nghiên cứu
Chúng tôi đã tiến hành khảo sát nhận thức về TVTL HĐ của HS haitrường THCS Giáp Bát và THCS Phương Liệt trong tháng 4 và 5 năm
2013 Kết quả khảo sát được thể hiện trong bảng 3.1 sau:
Bảng 3.1 Nhận thức của HS THCS ở nội thành thành phố Hà Nội
về khái niệm TVTL HĐ
STT Khái niệm TVHĐ
HS THCS Giáp Bát
HS THCS Phương Liệt (n = 300) Tổng (n =150) (n = 150)
1
Là sự trợ giúp tâm lý từ phía thầy
cô, cha mẹ về những khó khăn
tâm lý của học sinh
trong quan hệ xã hội và các vấn
đề chuyên biệt…giúp học sinh có
điều kiện, cơ hội phát triển tốt
Trang 10Kết quả khảo sát trong bảng 3.1 cho thấy: Số lượng HS nhận biếtđúng về TVTL HĐ chiếm đại đa số Trong đó số lượng HS nhận biết đúng
về TVTL HĐ ở trường THCS Giáp Bát chiếm 80% cao hơn so với HStrường THCS Phương Liệt (72,67%) So sánh kết quả điều tra về nhận thứcgiữa HS các khối lớp về TVTL HĐ cho thấy: Phần lớn HS khối lớp 6 vẫnchưa hiểu rõ thế nào là TVTL HĐ, 39,71% các em còn hiểu TVTL HĐ ởmức đơn giản là cần có sự trợ giúp tâm lý từ phía thầy cô giáo và cha mẹ
Số lượng HS nhận biết đúng về TVTL HĐ chỉ chiếm 36,76% xếp thứ hai.Khối lớp 7, số lượng HS nhận thức đúng về TVTL HĐ chiếm đại đa số là76,54% Lên đến khối lớp 8 và lớp 9 thì nhận thức của HS về TVTL HĐ đãđúng đắn hơn, thể hiện ở kết quả khảo sát khối lớp 8 là 92,59%, và khốilớp 9 là 95,71% HS nhận thức đúng về khái niệm TVTL HĐ
Nhìn chung, kết quả khảo sát cho thấy đa số HS hai trường đã nhậnthức được thế nào là TVTL HĐ Khả năng nhận thức của HS có sự thayđổi rõ ràng giữa các khối lớp Càng ở những khối lớp trên thì nhận thứccủa HS càng đúng đắn hơn, chính xác hơn về khái niệm TVTL HĐ
Đa số HS đã nhận thức được thế nào là TVTL HĐ nhưng việc HS tiếpcận với TVTL HĐ còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố, đặc biệt là yếu tố chủquan Trong đó nhận thức của mỗi HS về người cần được TVTL là rấtquan trọng 94,33% HS nhận thức được rằng người cần đi TVTL HĐ
không phải là người “Có vấn đề”, người “Thần kinh”.
Khảo sát ý kiến của HS hai trường về việc TVTL HĐ cho HS hiệnnay có cần thiết hay không Kết quả khảo sát cho thấy: Đại đa số HS 92,67
% trong tổng số 300 HS hai trường cho rằng TVTL HĐ “Có cần thiết” đối với HS Chỉ có 7,33 % HS cho rằng TVTL HĐ là “Không cần thiết” Như
vậy có thể thấy đại đa số học sinh đều ý thức được tầm quan trọng củaTVTL HĐ đối với bản thân họ
3.1.2 Mức độ tiếp cận và sử dụng các hình thức dịch vụ TVTL HĐ của
HS THCS ở nội thành thành phố Hà Nội
Trong tổng số 300 HS hai trường, có 58.33% HS đã được biết đếnTVTL HĐ nhưng chưa được tiếp cận Đây là số HS chiếm tỷ lệ cao nhất.Nếu so sánh giữa hai trường thì với mức độ này, ở trường THCS Giáp Bát(53,33%) thấp hơn so với trường THCS Phương Liệt (63.33%) Số HS
“Biết và đã từng được tiếp cận” là 24.33% trên tổng số 300 HS Trong đó
số HS đã từng được tiếp cận với TVTL HĐ của trường THCS Giáp Bát(28%) cao hơn so với trường THCS Phương Liệt (20.67%) Số HS hai
Trang 11trường “Biết nhưng không muốn tiếp cận” với TVTL HĐ có tỷ lệ thấp
nhất (5.67%)
Bảng 3.5 Tình hình tiếp cận với TVTL HĐ của HS THCSở nội thành
thành phố Hà Nội theo khối lớp.
STT
Tình hình tiếp cận với
TVTL HĐ của HS THCS
Lớp 6 (n = 68)
Lớp 7 (n = 81)
Lớp 8 (n =81)
Lớp 9 (n = 70)
1 Chưa biết và chưa được
tiếp cận bao giờ 17 25.00 12 14.81 6 7.42 0 0
2 Đã biết nhưng chưa từng
đã biết nhưng chưa được tiếp cận, biết nhưng không muốn tiếp cận) chiếm82.35% là tương đối cao Số HS khối lớp 6 được tiếp cận với TVTL HĐ làthấp Số HS được tiếp cận nhiều nhất với TVTL HĐ là HS khối lớp 9
(30%) Nhìn chung, HS THCS ở nội thành thành phố Hà Nội “Biết nhưng không muốn tiếp cận” với TVTL HĐ có tỷ lệ rất nhỏ ở các khối lớp đồng
nghĩa với việc số HS có nhu cầu tiếp cận với TVTL HĐ ở THCS là rất lớn
Nguồn thông tin giúp HS THCS ở nội thành thành phố Hà Nội biết đến TVTL HĐ nhiều nhất là “Qua Internet” (25%); xếp thứ 2 là “Qua phương tiện truyền thông” (21%)
3.1.3 Nhận thức về các hình thức TVTL HĐ của HS THCS ở nội thành thành phố Hà Nội
Ba hình thức TVTL HĐ được sử dụng nhiều nhất là “Tham vấn qua
Internet” xếp thứ 1 Xếp thứ 2 là “Tham vấn qua tổng đài điện thoại”, thứ
3 là “Tham vấn qua thư từ, sách báo”