BỘ TÀI CHÍNH TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH – MARKETING --- PHẠM THỊ BẢO TRÂM PHÂN TÍCH TÁC ĐỘNG CẤU TRÚC VỐN ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP TRONG NGÀNH LOGISTICS NIÊ
Trang 1-
PHÂN TÍCH TÁC ĐỘNG CẤU TRÚC VỐN ĐẾN HIỆU
Chuyên ngành: Tài Chính - Ngân Hàng
Mã s ố: 60.34.02.01
Trang 3BỘ TÀI CHÍNH TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH – MARKETING
-
PHẠM THỊ BẢO TRÂM
PHÂN TÍCH TÁC ĐỘNG CẤU TRÚC VỐN ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP TRONG NGÀNH LOGISTICS NIÊM YẾT
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Chuyên ngành: Tài Chính - Ngân Hàng
Mã số: 60.34.02.01
HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS ĐẶNG THỊ NGỌC LAN
TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2015
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác Nội dung của luận văn có tham khảo và
sử dụng một số thông tin, tài liệu từ các nguồn sách, tạp chí… được liệt kê trong danh mục các tài liệu tham khảo
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình
TP HCM, ngày 31 tháng 07 năm 2015
Tác giả luận văn
Phạm Thị Bảo Trâm
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến toàn thể quý Thầy Cô của trường Đại học Tài Chính Marketing khoa Tài chính- Ngân hàng đã tận tình dạy dỗ, truyền đạt những kinh nghiệm trong suốt quá trình học tập tại nhà trường Xin cảm ơn Các Thầy Cô của Phòng Quản Lý Sau Đại Học trường Đại học Tài Chính Marketing đã luôn tạo điều kiện tốt nhất để giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn TS Đặng Thị Ngọc Lan vì sự quan tâm, dành thời gian
và tận tình để hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn này
Xin chân thành cảm ơn các Thầy Cô trong Hội đồng chấm luận văn đã góp ý kiến
để luận văn được hoàn thiện hơn
Cuối cùng, tôi muốn gửi lời cảm ơn sâu sắc đến gia đình, tất cả bạn bè và đồng nghiệp, những người luôn kịp thời động viên và giúp đỡ tôi vượt qua những khó khăn trong cuộc sống
Tp HCM, ngày 31 tháng 07 năm 2015
Tác giả luận văn
Phạm Thị Bảo Trâm
Trang 6MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU 1
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU VÀ CÂU HỎI NGHIÊN CỨU 2
1.2.1 Mục tiêu nghiên cứu: 2
1.2.2 Câu hỏi nghiên cứu: 2
1.3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN VĂN 2
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu đề tài: 2
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu: 2
1.3.3 Phương pháp nghiên cứu 3
1.4 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 3
1.5 BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN 3
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ LUẬN VỀ CẤU TRÚC VỐN VÀ HIỆU QUẢ CỦA CÁC DOANH NGHIỆP TRONG NGÀNH LOGISTICS NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 4
2.1 Tổng quan về cấu trúc vốn kinh doanh của doanh nghiệp 4
2.1.1 Khái niệm về cấu trúc vốn 4
2.1.2 Vai trò của cấu trúc vốn 4
2.1.3 Các chỉ tiêu phản ánh cấu trúc vốn 5
2.2 Các vấn đề liên quan tới hiệu quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp 6
2.2.1 Khái niệm 6
2.2.2 Vai trò của hiệu quả sản xuất kinh doanh đối với với doanh nghiệp 7
2.2.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến kết quả hoạt động kinh doanh 8
2.2.4 Các chỉ số đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp12 2.3 Mối liên hệ giữa cấu trúc vốn và hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp 14
2.3.1 Lý thuyết về cấu trúc vốn hiện đại 14
Trang 72.3.2 Lý thuyết đánh đổi cấu trúc vốn 19
2.3.3 Lý thuyết trật tự phân hạng 20
2.3.4 Lý thuyết định thời điểm thị trường 21
2.4 Giới thiệu khái quát về tổng quan ngành Logistics 22
2.4.1 Khái niệm về Logistics 22
2.4.2 Đặc điểm ngành Logistics 23
2.4.3 Phân loại dịch vụ logistics 25
2.4.4 Vai trò của logistics đối với doanh nghiệp: 27
2.5 Một số nghiên cứu trước đây 29
2.5.1 Những nghiên cứu trên thế giới 29
2.5.2 Những nghiên cứu trong nước 35
CHƯƠNG 3: THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 39
3.1 QUY TRÌNH NGHIÊN CỨU 39
3.2 GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU 39
3.2.1 Giả thuyết về đòn bẩy 40
3.2.2 Giả thuyết về tỷ lệ nợ vay 40
3.2.3 Giả thuyết về nợ ngắn hạn 40
3.2.4 Giả thuyết về nợ dài hạn 41
3.3 MÔ TẢ CÁC BIẾN 41
3.3.1 Biến phụ thuộc 41
3.3.2 Biến độc lập 42
3.3.3 Biến kiểm soát 42
3.4 MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 43
3.5 PHÂN TÍCH DỮ LIỆU 44
3.5.1 Thống kê mô tả dữ liệu 45
3.5.2 Ma trận hệ số tương quan 45
3.5.3 Các kiểm định trong mô hình dữ liệu bảng 45
3.5.4 Khắc phục mô hình bị khuyết tật 47
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 48
4.1 Tổng quan về ngành logistics tại Việt Nam 48
Trang 84.1.1 Khái quát dịch vụ logistics tại Việt Nam 48
4.1.2 Thực trạng về cấu trúc vốn ngành Logistics 51
4.1.3 Khái lược hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp logistics 53
4.2 Kết quả nghiên cứu và các kiểm định 56
4.2.1 Kiểm tra tính cân bằng 56
4.2.2 Thống kê mô tả các biến trong mẫu nghiên cứu 57
4.2.3 Đánh giá ma trận tương quan giữa các biến 59
4.2.4 Kiểm định lựa chọn mô hình phù hợp 64
4.2.5 Kết quả hồi quy 75
4.2.6 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 81
4.3 Kết luận chương 4 85
CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ GỢI Ý CHÍNH SÁCH 86
5.1 Kết luận 86
5.2 Đề xuất kiến nghị 87
5.3 Hạn chế của nghiên cứu và các hướng nghiên cứu tiếp theo 88
5.3.1 Hạn chế của đề tài 88
5.3.2 Hướng nghiên cứu tiếp theo 89
TÀI LIỆU THAM KHẢO 91
Tài liệu tiếng Việt 91
Tài liệu tiếng Anh 91
Danh mục website: 93
PHỤ LỤC 94
PHỤ LỤC I: DANH SÁCH CÔNG TY VÀ CÁC BIẾN NGHIÊN CỨU 94
PHỤ LỤC II: KẾT QUẢ CHẠY MÔ HÌNH TỪ PHẦN MỀM STATA 11 102
Trang 9DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
2 CFO Chief Financial Officer Giám đốc tài chính
4 FGLS Feasible Generalized Least
Square
Ước lượng Bình phương tổi thiểu tổng quát khả thi
8 LPI Operational capability index Chỉ số năng lực hoạt động
9 LTDTA Long-Term Debt to Total
asset
Tỷ số nợ dài hạn trên tổng tài sản
11 ROA Return on total assets Lợi nhuận ròng trên tài sản
14 STDTA Short-Term Debt to Total
asset
Tỷ số nợ ngắn hạn trên tổng tài sản
16 TDTA Total Debt to Total asset Tỷ số nợ trên tổng tài sản
18 TOBIN’Q Coefficient Tobin's Q Hệ số Q củaTobin
VCIS
Vietnam Automated Cargo Clearance System/ Vietnam Customs Intelligence
Information System
Hệ thống thông quan tự động
và Cơ chế một cửa quốc gia
Trang 10DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 4.1: Tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu 52 Biểu đồ 4.2: Tổng sản lượng hàng hóa thông quan 54 Biểu đồ 4.3: Chỉ số các biến ROA, ROE, GM, Tobin’q trung bình (2009-2014) 58 Biểu đồ 4.4: Chỉ số các biến độc lập trung bình (2009-2014) 59
Trang 11DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 4 1: Tồng quan về lĩnh vực dịch vụ logistics Việt Nam 49
Bảng 4.2: Chỉ số hoạt động logistics việt nam từ năm 2007-2014 50
Bảng 4 3 Một số chỉ tiêu cấu trúc vốn ngành logistics 53
Bảng 4 4 Bảng chỉ tiêu tài chính ngành logistics 55
Bảng 4 5 Bảng chỉ tiêu tài chính một số doanh nghiệp tiêu biểu 56
Bảng 4.6: Thống kê mô tả các biến trong mẫu nghiên cứu 57
Bảng 4.7: Ma trận tương quan giữa ROA và các biến độc lập, biến kiểm soát 60
Bảng 4.8: Ma trận tương quan giữa ROE và các biến độc lập, biến kiểm soát 61
Bảng 4.9: Ma trận tương quan giữa GM và các biến độc lập, biến kiểm soát 62
Bảng 4.10: Ma trận tương quan giữa Tobin’Q và các biến độc lập, biến kiểm soát 63 Bảng 4.11: Mối liên hệ giữa ROA với các biến 64
Bảng 4.12: Mối liên hệ giữa ROE với các biến 67
Bảng 4.13: Mối liên hệ giữa GM với các biến 70
Bảng 4 14: Mối liên hệ giữa Tobin’Q với các biến 73
Bảng 4.15: Kết quả hồi quy giữa ROA và các biến độc lập 76
Bảng 4.16: Kết quả hồi quy giữa ROE và các biến độc lập 77
Bảng 4.17: Kết quả hồi quy giữa GM và các biến độc lập 78
Bảng 4.18: Kết quả hồi quy giữa Tobin’Q và các biến độc lập 79
Bảng 4.19: Kết quả hồi quy đối với những doanh nghiệp có vốn vay cao 80
Bảng 4.20: Kết quả hồi quy đối với những doanh nghiệp có vốn vay thấp 81
Trang 12CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Ngày nay, khái niệm dịch vụ logistics đã không còn là cái tên mới mẻ đối với nhiều người Việt Nam Logistics đóng một vai trò rất quan trọng đối với quá trình sản xuất –kinh doanh của một ngành và cả một nền kinh tế Thời gian qua, ngành dịch vụ logistics của nước ta đã có những bước phát triển cả về chất lẫn về lượng, bước đầu đạt được một số kết quả khích lệ Ngân hàng Thế giới (WB) đánh giá qua chỉ số năng lực hoạt động (LPI) của Việt Nam đứng thứ 53 trên 155 nước khảo sát
và đứng thứ 5 khu vực ASEAN (2012) Tốc độ phát triển thị trường dịch vụ logistics trung bình đạt từ 15-20%/năm
Hiệu quả là vấn đề cốt lõi trong hoạt động sản xuất kinh doanh, nó là mục tiêu lâu dài bao trùm tất cả các doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp logistics nói riêng Hiệu quả hoạt động của công ty được đánh giá qua những tỷ số đo lường mức sinh lợi và thành quả mà công ty đạt được dựa trên giá trị sổ sách và giá trị thị trường Việc hoạch định cấu trúc vốn cũng đóng một vai trò hết sức quan trọng trong việc quản lý doanh nghiệp, nó góp phần tác động trực tiếp đến giá trị doanh nghiệp và có khả năng khuếch đại thu nhập cho chủ sở hữu công ty Để có vốn kinh doanh, doanh nghiệp huy động từ nhiều nguồn khác nhau Việc lựa chọn nguồn vốn nào với tỷ trọng là bao nhiêu ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp
Mối quan hệ giữa hiệu quả hoạt động và cấu trúc vốn giữa các doanh nghiệp được xem là một vấn đề quan trọng và được quan tâm đáng kể Hiện đang tồn tại rất nhiều lý thuyết liên quan đến chủ đề trên, và chưa có một lý thuyết nào được xem là hoàn toàn thuyết phục Nhằm đóng góp thêm về mặt lý luận cũng như nhằm tìm kiếm những phát hiện mới về mối liên hệ này Chính vì thế tôi chọn đề tài
“Phân tích tác động cấu trúc vốn đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp trong ngành logistics niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam” để
tìm hiểu thêm về những nhân tố quyết định cấu trúc vốn ảnh hưởng đến hiệu quả
Trang 13kinh doanh dẫn đến tính cạnh tranh các dịch vụ logistics Việt Nam và tìm ra giải pháp cạnh tranh tối ưu nhất
1.2.1 Mục tiêu nghiên cứu:
- Nghiên cứu mối quan hệ giữa cấu trúc vốn và hiệu quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp logistics niêm yết trên TTCK Việt Nam
- Lượng hóa được mức độ ảnh hưởng của cấu trúc vốn đến hiệu quả hoạt động kinh của doanh nghiệp logistics trên trường chứng khoán Việt Nam
- Từ kết quả nghiên cứu của đề tài tác giả sẽ đưa ra những giải pháp hoặc gợi ý những chính sách có thể áp dụng cho các doanh nghiệp trong ngành logistics niêm yết trên TTCK Việt Nam
1.2.2 Câu hỏi nghiên cứu:
Để làm rõ tác động của cấu trúc vốn với hiệu quả hoạt động trong ngành logistics, luận văn này sẽ đưa ra các câu hỏi nghiên cứu sau đây:
- Có mối quan hệ giữa cấu trúc vốn và hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp logistics không? Nếu có thì đó là quan hệ tuyến tính hay là phi tuyến tính?
- Mức độ ảnh hưởng của cấu trúc vốn đến hiệu quả sản xuất kinh doanh như thế nào?
- Có những giải pháp hoặc gợi ý chính sách nào phù hợp để áp dụng cho các doanh nghiệp logistics?
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu đề tài:
Đề tài tập trung nghiên cứu tác động cấu trúc vốn đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp trong ngành logistics niêm yết trên TTCK Việt Nam
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi thời gian: Số liệu được khảo sát trong khoảng thời gian từ năm 2009-
2014
Trang 14- Phạm vi về không gian: Luận văn nghiên cứu với 27 công ty kinh doanh trong ngành logistics niêm yết trên TTCK Việt Nam có đầy đủ dữ liệu được nêu trong các báo cáo tài chính
1.3.3 Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu đề tài tác giả đã tiến hành so sánh và chọn phương pháp nghiên cứu cơ bản là phương pháp định lượng đồng thời sử dụng sử dụng mô hình hồi quy tuyến tính với sự hỗ trợ của phần mềm stata 11 để xác định hệ số hồi qui Trên cơ
sở đó, tác giả xây dựng phương trình nghiên cứu tác động cấu trúc vốn đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp logistics Từ đó, Tác giả kiểm định mô hình quan hệ giữa hiệu quả kinh doanh và cấu trúc vốn trên tập dữ liệu Khi quá trình kiểm định hoàn tất, tác giả tiến hành phân tích kết quả và đưa ra một số kiến nghị phù hợp với ngành logistics
Nghiên cứu tìm ra những đặc điểm của cấu trúc vốn và hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp từ đó phân tích và xây dựng mô hình mối quan hệ giữa quyết định cấu trúc vốn với hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp từ đó các nhà quản trị có phương pháp phù hợp xây dựng một cấu trúc vốn hợp lý để mang lại lợi nhuận tối ưu
Luận văn sẽ được chia làm 5 chương cơ bản:
Chương 1: Giới thiệu nghiên cứu
Chương 2: Tổng quan lý luận
Chương 3: Thiết kế nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương 5: Kết luận và kiến nghị
Trang 15CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ LUẬN VỀ CẤU TRÚC VỐN
VÀ HIỆU QUẢ CỦA CÁC DOANH NGHIỆP TRONG NGÀNH LOGISTICS NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
2.1 Tổng quan về cấu trúc vốn kinh doanh của doanh nghiệp
2.1.1 Khái niệm về cấu trúc vốn
Cấu trúc vốn là sự kết hợp của nợ ngắn hạn thường xuyên, nợ dài hạn, cổ phần ưu đãi và vốn cổ phần thường được sử dụng để tài trợ cho quyết định đầu tư của doanh nghiệp Cấu trúc vốn tối ưu xảy ra ở điểm mà tại đó tối thiểu hóa chi phí sử dụng vốn, tối thiểu hóa rủi ro và tối đa hóa lợi nhuận1
2.1.2 Vai trò của cấu trúc vốn
Hệ số nợ đo lường mức độ tài chính của doanh nghiệp vay mượn từ bên ngoài, cho biết trong tổng nguồn vốn của doanh nghiệp thì nợ chiếm bao nhiêu phần trăm
Dựa vào hệ số nợ giúp nhà đầu tư có cái nhìn khái quát về sức mạnh tài chính, cấu trúc tài chính của doanh nghiệp và làm thế nào để doanh nghiệp có thể chi trả cho các hoạt động Về nguyên tắc, hệ số này càng nhỏ, có nghĩa là nợ phải trả chiếm tỷ lệ nhỏ so với tổng tài sản hay tổng nguồn vốn thì doanh nghiệp sẽ chủ động hơn về mặt tài chính Hệ số này càng lớn thì khả năng gặp khó khăn trong việc trả nợ hoặc phá sản của doanh nghiệp càng cao
Trên thực tế, nếu nợ phải trả chiếm quá nhiều so với nguồn vốn chủ sở hữu,
có nghĩa là doanh nghiệp đi vay mượn nhiều hơn số vốn hiện có (nói cách khác là doanh nghiệp đang đi chiếm dụng vốn của các đơn vị và cá nhân bên ngoài), nên doanh nghiệp có thể gặp rủi ro trong việc trả nợ, đặc biệt doanh nghiệp càng gặp nhiều khó khăn khi lãi suất ngân hàng ngày một tăng cao
1 Trần Ngọc Thơ - Tài chính doanh nghiệp hiện đại_Khoa tài chính trường Đại học kinh tế thành phố Hồ Chí Minh
Trang 16Các chỉ số nợ cung cấp thông tin bảo vệ chủ nợ trong tình huống mất khả năng thanh toán của chủ doanh nghiệp và thể hiện năng lực tiếp cận các nguồn tài chính từ bên ngoài, đáp ứng nhu cầu đầu tư và phát triển của doanh nghiệp
Các chủ nợ ngân hàng cũng thường xuyên xem xét, đánh giá kĩ hệ số nợ (và một số chỉ số tài chính khác) để quyết định có cho doanh nghiệp vay hay không
Tuy nhiên, việc sử dụng nợ cũng có ưu điểm, đó là chi phí lãi vay sẽ được trừ vào thuế thu nhập doanh nghiệp Do đó, doanh nghiệp phải cân nhắc giữa rủi ro
về tài chính và lợi ích của vay nợ để đảm bảo một tỷ lệ hợp lý nhất
bị mất khả năng thanh toán
Thông thường nếu hệ số nợ ở mức cao, có nghĩa là công ty thường thông qua các khoản nợ để tài trợ cho các hoạt động của mình Nếu một công ty vay nợ nhiều
để tài trợ cho mức chi phí hoạt động cao của doanh nghiệp thì nó có thể thu được nhiều lợi nhuận hơn so với việc phát hành cổ phiếu Và nếu lợi nhuận công ty thu được cao hơn nhiều so với chi phí đi vay thì các cổ đông của công ty cũng sẽ thu được nhiều lợi ích Tuy nhiên, lợi nhuận thu được từ các hoạt động đầu tư và kinh doanh từ các khoản tiền đi vay có thể sẽ không bù đắp được các chi phí đi vay dẫn tới việc công ty có thể bị phá sản Vì vậy, vay nợ hay phát hành thêm cổ phiếu là một bài toán khó đối với các doanh nghiệp
Trang 172.2 Các vấn đề liên quan tới hiệu quả hoạt động kinh doanh của các doanh
nghiệp
2.2.1 Khái niệm
Có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm hiệu quả kinh doanh
Một số nhà quản trị học lại quan niệm hiệu quả kinh doanh được xác định bởi tỷ số giữa kết quả đạt được và chi phí phải bỏ ra để đạt được kết quả đó Manfred Kuhn cho rằng: Tính hiệu quả được xác định bằng cách lấy kết quả tính theo đơn vị giá trị chia cho chi phí kinh doanh
Nhà kinh tế học Adam Smith cho rằng: "Hiệu quả là kết quả đạt được trong hoạt động kinh tế, là doanh thu tiêu thụ hàng hoá" Như vậy, hiệu quả được đồng nghĩa với chỉ tiêu phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh, có thể do tăng chi phí mở
Trang 18rộng sử dụng nguồn lực sản xuất Nếu cùng một kết quả có hai mức chi phí khác nhau thì theo quan điểm này doanh nghiệp cũng đạt hiệu quả
Quan điểm khác nữa lại cho rằng: "Hiệu quả kinh doanh là mức độ thoả mãn yêu cầu của quy luật kinh tế cơ bản của chủ nghĩa xã hội cho rằng quỹ tiêu dùng với
ý nghĩa là chỉ tiêu đại diện cho mức sống của mọi người trong các doanh nghiệp là chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh doanh" Quan điểm này có ưu điểm là đã bám sát mục tiêu của nền sản xuất xã hội chủ nghĩa là không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân Nhưng khó khăn ở đây là phương tiện để đo lường thể hiện tư tưởng định hướng đó
Từ các quan điểm trên có thể hiểu một cách khái quát hiệu quả kinh doanh
là một phạm trù kinh tế, biểu hiện sự phát triển kinh tế theo chiều sâu, nó phản ánh trình độ khai thác và sử dụng các nguồn lực trong quá trình tái sản xuất nhằm thực hiện mục tiêu kinh doanh, với chi phí bỏ ra ít nhất mà đạt hiệu quả cao nhất2
2.2.2 Vai trò của hiệu quả sản xuất kinh doanh đối với với doanh nghiệp
Hiệu quả sản xuất kinh doanh là công cụ hữu hiệu để các nhà quản trị doanh nghiệp thực hiện nhiệm vụ quản trị kinh doanh Khi tiến hành bất kỳ một hoạt động sản xuất kinh doanh nào thì các doanh nghiệp đều phải huy động và sử dụng các nguồn lực mà doanh nghiệp có khả năng có thể tạo ra kết quả phù hợp với mục tiêu
mà doanh nghiệp đề ra Ở mỗi giai đoạn phát triển của doanh nghiệp thì doanh nghiệp đều có nhiều mục tiêu khác nhau, nhưng mục tiêu cuối cùng bao trùm toàn
bộ qúa trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là tối đa hoá lợi nhuận trên cơ
sở sử dụng tối ưu các nguồn lực của doanh nghiệp Để thực hiện mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận cũng như các mục tiêu khác, các doanh nghiệp phải sử dụng nhiều phương pháp, nhiều công cụ khác nhau Hiệu quả sản xuất kinh doanh là một trong các công cụ hữu hiệu nhất để các nhà quản trị thực hiện chức năng quản trị của mình Thông qua việc tính toán hiệu quả sản xuất kinh doanh không những cho
2
Bùi Xuân Phong (2007) Phân tích hoạt động kinh doanh, Học Viện Công nghệ bưu chính viễn thông
Trang 19phép các nhà quản trị kiểm tra đánh giá tính hiệu quả của các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp (các hoạt động có hiệu quả hay không và hiệu quả đạt
ở mức độ nào), mà còn cho phép các nhà quản trị phân tích tìm ra các nhân tố ảnh hưởng đến các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, để từ đó đưa ra được các biện pháp điều chỉnh thích hợp trên cả hai phương diện giảm chi phí tăng kết quả nhằm nâng cao hiệu quả các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Với tư cách là một công cụ quản trị kinh doanh hiệu quả sản xuất kinh doanh không chỉ được sử dụng để kiểm tra, đánh giá và phân tích trình độ sử dụng tổng hợp các nguồn lực đầu vào trong phạm vi toàn doanh nghiệp mà còn được sử dụng để kiểm tra đánh giá trình độ sử dụng từng yếu tố đầu vào trong phạm vi toàn doanh nghiệp cũng như ở từng bộ phận cấu thành của doanh nghiệp Do vậy xét trên phương diện lý luận và thực tiễn thì phạm trù hiệu quả sản xuất kinh doanh đóng vai trò rất quan trọng và không thể thiếu được trong việc kiểm tra đánh giá và phân tích nhằm đưa ra các giải pháp tối ưu nhất, lựa chọn được các phương pháp hợp lý nhất để thực hiện các mục tiêu của doanh nghiệp đã đề ra
Ngoài ra, trong nhiều trường hợp các nhà quản trị còn coi hiệu quả kinh doanh như là các nhiệm vụ, các mục tiêu để thực hiện Vì đối với các nhà quản trị khi nói đến các hoạt động sản xuất kinh doanh thì họ đều quan tâm đến tính hiệu quả của nó Do vậy mà hiệu quả sản xuất kinh doanh có vai trò là công cụ để thực hiện nhiệm vụ quản trị kinh doanh đồng thời vừa là mục tiêu để quản trị kinh doanh
2.2.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến kết quả hoạt động kinh doanh
Các nhân tố bên trong
- Lực lượng lao động
Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, lực lượng lao động của doanh nghiệp
có thể sáng tạo ra công nghệ, kỹ thuật mới và đưa chúng vào sử dụng để tạo ra tiềm năng lớn cho việc nâng cao hiệu quả kinh doanh Cũng chính lực lượng lao động sáng tạo ra những sản phẩm mới với kiểu dáng phù hợp với cầu của người tiêu dùng, làm cho sản phẩm dịch vụ của doanh nghiệp có thể bán được tạo cơ sở nâng
Trang 20cao hiệu quả kinh doanh Lực lượng lao động tác động trực tiếp đến năng suất lao động, đến trình độ sử dụng các nguồn lực khác (máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu…) nên tác động trực tiếp đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
Ngày nay sự phát triển của khoa học kỹ thuật đã thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế tri thức Đặc trưng cơ bản của nền kinh tế tri thức là hàm lượng khoa học công nghệ kết tinh trong sản phẩm (dịch vụ) rất cao Đòi hỏi lực lượng lao động phải là lực lượng có trình độ khoa học kỹ thuật cao, điều này khẳng định vai trò ngày càng quan trọng của lực lượng lao động đối với việc nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
- Trình độ phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật và ứng dụng tiến bộ kỹ thuật
Công cụ lao động là phương tiện mà con người sử dụng để tác động vào đối tượng lao động Quá trình phát triển sản xuất luôn gắn liền với quá trình phát triển của công cụ lao động, tăng năng suất lao động, tăng sản lượng, chất lượng sản phẩm
và hạ giá thành Như thế, cơ sở vật chất kỹ thuật là nhân tố hết sức quan trọng tạo ra tiềm năng năng suất, chất lượng và tăng hiệu quả kinh doanh Chất lượng hoạt động của doanh nghiệp chịu tác động mạnh mẽ của trình độ kỹ thuật, tính đồng bộ của máy móc thiết bị, chất lượng của công tác bảo dưỡng, sửa chữa máy móc
- Nhân tố vốn
Đây là một nhân tố tổng hợp phản ánh sức mạnh của doanh nghiệp thông qua khối lượng (nguồn) vốn mà doanh nghiệp có thể huy động vào kinh doanh, khả năng phân phối, đầu tư có hiệu quả các nguồn vốn cũng như khả năng quản lý các nguồn vốn kinh doanh
Yếu tố vốn là yếu tố chủ chốt quyết định đến quy mô của doanh nghiệp Nó phản ánh sự phát triển của doanh nghiệp và là cơ sở đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp trong kinh doanh
- Nhân tố quản trị doanh nghiệp
Trang 21Nhân tố quản trị doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Quản trị doanh nghiệp chú trọng đến việc xác định cho doanh nghiệp một hướng đi đúng dắn trong môi trường kinh doanh ngày càng biến động Định hướng đúng là cơ sở để đảm bảo hiệu quả lâu dài của doanh nghiệp
Muốn tồn tại và phát triển doanh nghiệp phải chiến thắng trong cạnh tranh, các lợi thế về chất lượng và sự khác biệt hóa sản phẩm, giá cả và tốc độ cung ứng
để đảm bảo cho một doanh nghiệp giành chiến thắng trong cạnh tranh phụ thuộc vào nhãn quan và khả năng quản trị của các nhà quản trị doanh nghiệp
Đội ngũ quản trị mà đặc biệt là các nhà quản trị cao cấp lãnh đạo doanh nghiệp bằng phẩm chất và tài năng của mình có vai trò quan trọng, có tính chất quyết định đến sự thành đạt của doanh nghiệp Kết quả và hiệu quả hoạt động của quản trị doanh nghiệp đều phụ thuộc rất lớn vào trình độ chuyên môn của đội ngũ các nhà quản trị cũng như cơ cấu tổ chức bộ máy quản trị doanh nghiệp, việc xác định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của từng bộ phận, cá nhân và thiết lập các mối quan hệ giữa các bộ phận trong cơ cấu tổ chức đó
Các nhân tố bên ngoài
- Môi trường chính trị - pháp lý
Môi trường pháp lý bao gồm luật, các văn bản dưới luật,… Mọi quy định pháp luật về kinh doanh đều tác động trực tiếp kết quả và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Môi trường pháp lý đảm bảo tính bình đẳng của mọi loại hình doanh nghiệp cùng hoạt động kinh doanh, cạnh tranh nhau một cách lành mạnh, mỗi doanh nghiệp đều phải chú ý phát triển nội lực, ứng dụng thành tựu khoa học kỹ thuật và khoa học quản trị tiên tiến nhằm phát triển kinh doanh của mình
Các yếu tố thuộc môi trường chính trị - pháp luật chi phối mạnh mẽ đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Sự ổn định chính trị được coi là một tiền đề quan trọng cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Sự thay đổi của môi trường chính trị có thể ảnh hưởng có lợi cho một nhóm doanh nghiệp này nhưng lại kìm
Trang 22hãm sự phát triển của nhóm doanh nghiệp khác hoặc ngược lại Mức độ hoàn thiện,
sự thay đổi và thực thi pháp luật trong nền kinh tế có ảnh hưởng lớn đến việc hoạch định và tổ chức thực hiện chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp
Tóm lại, môi trường chính trị - pháp luật có ảnh hưởng rất lớn đến việc nâng cao hiệu quả kinh doanh bằng cách tác động đến hoạt động của doanh nghiệp thông qua hệ thống công cụ luật pháp, công cụ vĩ mô…
- Các nhân tố ảnh hưởng thuộc môi trường kinh doanh
* Đối thủ cạnh tranh
Bao gồm các đối thủ cạnh tranh sơ cấp (cùng tiêu thụ các sản phẩm đồng nhất) và các đối thủ cạnh tranh thứ cấp (sản xuất và tiêu thụ những sản phẩm có khả năng thay thế) Nếu doanh nghiệp có đối thủ cạnh tranh mạnh thì việc nâng cao hiệu quả kinh doanh sẽ trở nên khó khăn hơn nhiều Bởi vì doanh nghiệp lúc này có thể nâng cao hiệu quả kinh doanh bằng cách nâng cao chất lượng, giảm giá thành sản phẩm để đẩy mạnh tốc độ tiêu thụ, tăng doanh thu, tăng vòng quay vốn, yêu cầu doanh nghiệp phải tổ chức lại bộ máy hoạt động tối ưu hơn, hiệu quả cao hơn để tạo khả năng cạnh tranh về giá cả, chất lượng, mẫu mã… Như vậy, đối thủ cạnh tranh
có ảnh hưởng rất lớn đến việc nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp đồng thời tạo ra sự tiến bộ trong kinh doanh, tạo ra động lực phát triển của doanh nghiệp Việc xuất hiện càng nhiều đối thủ cạnh tranh thì việc nâng cao hiệu quả kinh doanh
của doanh nghiệp sẽ càng khó khăn và sẽ bị giảm một cách tương đối
* Thị trường
Nhân tố thị trường ở đây bao gồm cả thị trường đầu vào và thị trường đầu ra của doanh nghiệp Nó là yếu tố quyết định quá trình tái sản xuất mở rộng của doanh nghiệp Đối với thị trường đầu vào: cung cấp các yếu tố cho quá trình sản xuất như nguyên vật liệu, máy móc thiết bị… Cho nên nó tác động trực tiếp đến giá thành sản phẩm, tính liên tục và hiệu quả của quá trình sản xuất Còn đối với thị trường đầu ra quyết định doanh thu của doanh nghiệp trên cơ sở chấp nhận hàng hóa, dịch vụ của
Trang 23doanh nghiệp, thị trường đầu ra sẽ quyết định tốc độ tiêu thụ, tạo vòng quay vốn nhanh hay chậm từ đó tác động đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
2.2.4 Các chỉ số đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp
Thông thường hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp ngành được phản ánh qua các chỉ số:
Lợi nhuận trên vốn Chủ sở hữu (Return On Equity)
Chỉ số này cho biết bình quân một đồng vốn chủ sở hữu bỏ vào đầu tư thì sau quá trình hoạt động SXKD, Chủ sở hữu sẽ thu lại được bao nhiêu đồng lời Đây là một chỉ số được dùng rất phổ biến bởi tính đơn giản, dễ hiểu, dễ so sánh giữa các doanh nghiệp trong cùng ngành kinh tế với quy mô khác nhau hoặc giữa các doanh nghiệp trong nhiều ngành kinh tế khác nhau hoặc giữa nhiều hoạt động đầu tư khác nhau như tiền gửi tiết kiệm, bất động sản, Chứng khoán, Vàng, Ngoại tệ, dự án kinh doanh…Chính vì vậy nó sẽ giúp nhà đầu tư đưa ra các quyết định tài trợ nhanh chóng
Tuy nhiên nhược điểm lớn nhất của ROE là nó dễ bị bóp méo bởi các chiến lược tài chính của nhà quản trị doanh nghiệp Ví dụ, nhà quản trị có thể dự đoán được vì một lý do gì đó mà lợi nhuận của doanh nghiệp có khả năng bị ảnh hưởng và suy giảm nên doanh nghiệp sẽ tăng đầu tư vào dư nợ hoặc mua lại cổ phiếu từ nguồn tiền mặt tích trữ, và chính những hoạt động này sẽ giúp Doanh nghiệp cải thiện được đáng kể chỉ số ROE
Lợi nhuận ròng trên tài sản (Return on total assets)
Tổng lợi nhuận sau thuế
Trang 24Chỉ số này cho biết bình quân một đồng tài sản bỏ vào đầu tư thì sau quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, Doanh nghiệp sẽ thu lại bao nhiêu đồng lợi nhuận Đây
là thước đo tránh được những bóp méo có thể có do các chiến lược tài chính của nhà quản trị doanh nghiệp tạo ra giống như chỉ số ROE
Chỉ số ROA có tính đến số lượng tài sản được sử dụng để hỗ trợ các hoạt động kinh doanh Chỉ số này xác định công ty có thể tạo ra một tỷ suất lợi nhuận ròng đủ lớn trên những tài sản của mình
Hệ số thu nhập trên vốn sử dụng (Return On Capital Employed)
Chỉ số này thể hiện khả năng thu lợi nhuận của một doanh nghiệp dựa trên lượng vốn đã sử dụng Khả năng sinh lời trên vốn sử dụng (ROCE) là một thước đo khả năng tạo ra lợi nhuận của một doanh nghiệp từ vốn được sử dụng Vốn sử dụng được tính bằng vốn chủ sở hữu cộng với nợ dài hạn của một công ty (hoặc tổng nguồn vốn - Nợ ngắn hạn), Một doanh nghiệp nên cho thấy chỉ số ROCE cao hơn mức lãi suất đi vay, nếu không sự gia tăng vốn vay sẽ làm giảm thu nhập của cổ đông
Tỷ số lợi nhuận trên doanh thu
Chỉ số này cho biết cứ trong một đồng doanh thu và thu nhập thu được từ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận trước thuế Thông qua chỉ tiêu này, những người quan tâm đến doanh nghiệp nhận biết được hiệu quả của một đồng doanh thu thu được trong kỳ cao hay thấp Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp càng tốt Khả năng sinh lời trên doanh thu có thể được sử dụng như một công cụ để phân tích hiệu suất của một
Lợi nhuận trước thuế và lãi vay
Trang 25công ty và để so sánh hiệu suất giữa các công ty tương tự nhau Tỷ lệ này rất khác nhau đối với các ngành khác nhau nhưng lại rất hữu ích cho việc so sánh giữa các công ty khác nhau trong cùng một doanh nghiệp Cũng như các chỉ tiêu khác, tốt nhất ta nên so sánh ROS của công ty trong một chuỗi thời gian để tìm xu hướng, và
so sánh nó với các công ty khác trong ngành Một tỷ lệ ROS sẽ tăng đối với các công ty có hoạt động đang ngày càng trở nên hiệu quả hơn, trong khi một tỷ lệ giảm
có thể là dấu hiệu lờ mờ khó khăn về tài chính Mặc dù, trong một số trường hợp, một tỷ lệ lợi nhuận thấp trên doanh thu bán hàng có thể được bù đắp bằng doanh thu bán hàng tăng lên
Tỷ suất Tobin’s Q
Tobin’s Q là đại diện cho thước đo giá trị về mặt thị trường
Tobin’s Q = (giá trị vốn hóa thị trường + giá trị sổ sách của nợ)/Giá trị sổ sách của tổng tài sản (Tobin, 1969), trong đó giá trị vốn hóa thị trường = giá đóng cửa của cổ phiếu x số lượng cổ phiếu đang lưu hành
Tobin định nghĩa q là thị giá của một công ty trên chi phí thay thế vốn của công ty
đó Nếu hệ số q cao, công ty sẽ đầu tư nhiều hơn vì việc huy động thêm vốn sẽ rẻ hơn do thị giá của công ty khá cao so với chi phí huy động thêm vốn Ngược lại, nếu hệ số q thấp, công ty sẽ không gia tăng đầu tư vì chi phí huy động thêm vốn khá đắt
2.3 Mối liên hệ giữa cấu trúc vốn và hiệu quả hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp
2.3.1 Lý thuyết về cấu trúc vốn hiện đại
Lý thuyết cấu trúc vốn hiện đại bắt đầu với bài viết của Modigliani và Miller vào năm 1958 (gọi tắt là học thuyết MM) Đây là một trong những lý thuyết đề cập đến mối quan hệ giữa cấu trúc vốn, chi phí sử dụng vốn và giá trị doanh nghiệp
Lý thuyết M&M trong trường hợp không có thuế
Trang 26Đây là trường hợp đơn giản nhất khi xem xét lý thuyết M&M Trong trường hợp này tất cả các giả định của M&M đều được tuân thủ nhằm đơn giản hóa vấn đề cần nghiên cứu Các giả định đầy đủ của lý thuyết M&M bao gồm:
- Công ty họat động trong môi trường không có thuế
- Không có chi phí phá sản, chi phí giám sát người thừa hành và chi phí giao dịch
- Thị trường hoàn hảo (có đủ số người mua vàsố người bán trong thị trường, vì vậy không có nhà đầu tư riêng lẻ nào có một ảnh hưởng lớn đối với giá cả chứng khoán)
- Có sẵn thông tin liên quan cho tất cả các nhà đầu tư và không phải mất tiền
- Tất cả các nhà đầu tư có thể vay hay cho vay cùng lãi suất
- Tất cả các nhà đầu tư đều hợp lý và có kỳ vọng đồng nhất về lợi nhuận của một doanh nghiệp
- Doanh nghiệp hoạt động dưới các điều kiện tương tự sẽ có cùng mức độ rủi
ro kinh doanh (rủi ro đồng nhất)
Với những giả định như trên, nội dung của lý thuyết M&M được phát biểu thành hai định đề được trình bày dưới đây:
Định đề 1- Giá trị công ty: “Trong điều kiện không có thuế, giá trị công ty có vay
nợ (V L ) bằng giá trị công ty không có vay nợ (V U ), nghĩa là V U = V L ”
Định đề này có thể phát biểu theo cách khác là trong điều kiện không có thuế, gía trị công ty có vay nợ và không vay nợ là như nhau Do đó, cơ cấu Nợ trên vốn (D/E) không có ảnh hưởng gì đến giá trị công ty cũng không thể nào tăng giá trị bằng cách thay đổi cơ cấu vốn
Ý nghĩa định đề 1
- Đòn bẩy tài chính làm gia tăng dòng thu nhập mỗi cổ phần dự kiến nhưng không làm tăng giá cổ phần
Trang 27- Trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo, quyết định vay nợ của công ty không tác động đến lợi nhuận hoạt động hoặc tổng giá thị trường của các chứng khoán của doanh nghiệp vì vậy không tác động đến tỷ suất sinh lợi dự kiến từ tài sản của doanh nghiệp (rA) Lợi nhuận hoạt động dự kiến rA = Giá trị thị trường của tất cả chứng khoán
- M&M thừa nhận tác động hai mặt của đòn bẩy tài chính: sử dụng đòn bẩy tài chính có lợi cho cổ đông, làm thu nhập cổ đông tăng khi công ty hoạt động có lãi
và thừa khả năng thanh toán lãi vay, đòn bẩy tài chính gây bất lợi cho cổ đông nếu doanh nghiệp không đủ khả năng thanh toán lãi vay thì sẽ đẩy thu nhập của cổ đông xuống thấp Tuy nhiên, đòn bẩy tài chính không tác động đến giá trị doanh nghiệp
Định đề 2- Chi phí sử dụng vốn: Tỷ suất sinh lợi dự kiến từ vốn cổ phần
thường của một doanh nghiệp có vay nợ tăng tương ứng với tỷ lệ nợ trên vốn cổ phần (D/E), được đo lường bằng gía trị thị trường Tỷ lệ gia tăng tùy thuộc vào chênh lệch giữa r A – tỷ suất sinh lợi dự kiến từ một danh mục gồm tất cả các chứng khoán của doanh nghiệp, và r D – tỷ suất sinh lợi dự kiến từ nợ Lưu ý rằng r E =r A
nếu doanh nghiệp không có nợ Về mặt toán học, định đề 2 của M&M có thể được
biểu diễn bởi công thức:
Trong đó:
rE: Lợi nhuận yêu cầu hay lợi nhuận kỳ vọng trên vốn cổ phần
rD: Lãi suất vay hay chi phí sử dụng nợ
rU: Chi phí sử dụng vốn nếu công ty sử dụng 100% vốn cổ phần
D: Giá trị nợ hay trái phiếu công ty phát hành
E: Giá trị vốn cổ phần của công ty
Trang 28Ý nghĩa định đề 2:
- Khi doanh nghiệp vay nợ nhiều lên, rủi ro không thực hiện nghĩa vụ tăng lên và doanh nghiệp buộc phải chịu lãi suất nợ vay cao hơn, nhà đầu tư sẽ yêu cầu suất sinh lợi vốn Chủ sở hữu cao hơn
- Khi doanh nghiệp vay nợ ít , nợ có thể được coi là chi phí rủi ro, rD không đổi , rE có quan hệ tuyến tính với (D/E)
- Khi doanh nghiệp vay nợ nhiều, nợ trở nên có rủi ro, rD tăng lên khi (D/E) tăng lên, rE không còn quan hệ tuyến tính khi (D/E) tăng lên
Lý thuyết M&M trong trường hợp có thuế
Định đề số 1 – Giá trị công ty trong trường hợp có thuế
“Trong trường hợp có thuế thu nhập công ty, giá trị công ty có vay nợ bằng giá trị công ty không có vay nợ cộng với hiện giá của lá chắn thuế” Về mặt toán học,
mệnh đề M&M số 1 trong trường hợp có thuế được diễn tả bởi công thức: 𝑉𝐿 =
𝑉𝑈 + 𝑇𝐶𝐷
Định đề M&M số 1 xem xét xem giá trị công ty sẽ thay đổi thế nào khi thay đổi tỷ
số nợ trên vốn (D/E) hay còn gọi là tỷ số đòn bẩy Để thấy được sự thay đổi này, lý thuyết M&M xem xét giá trị công ty trong trường hợp không vay nợ hay được tài
Trang 29trợ bằng 100% vốn chủ sở hữu (VU) và giá trị của công ty khi có vay nợ (VL) Ngoài
ra, dù có vay nợ hay không vay nợ công ty vẫn phải nộp thuế thu nhập với thuế suất
là TC Nếu có vay nợ (D) bằng cách phát hành trái phiếu công ty sẽ phải trả lãi suất vay là rD Nếu không vay nợ hay tài trợ hoạt động công ty bằng 100% vốn chủ sở hữu (E) thì chi phí sử dụng vốn chủ sở hữu là r0
Định đề số 2 – Chi phí sử dụng vốn trong trường hợp có thuế
“Lợi nhuận yêu cầu trên vốn cổ phần có quan hệ cùng chiều với mức độ sử dụng đòn bẩy tài chính hay tỷ số nợ“ Mối quan hệ này được thể hiện bởi công thức :
𝑟𝐸 = 𝑟𝑈 + ( 𝑟𝑈 + 𝑟𝐷)(1 − T)(D
𝐸) Công thức này có thể được suy ra từ mệnh đề M&M số 1 Trong trường hợp có thuế, giá trị của công ty có vay nợ bằng giá trị công ty không có vay nợ cộng với hiện giá của lá chắn thuế Do đó, chúng ta có thể biểu diễn bảng cân đối tài sản của công ty dưới dạng:
VU = Giá trị công ty không có vay nợ D = Nợ
TCD= Hiện giá lá chắn thuế E = Vốn cổ phần
Ngoài ra, quan hệ giữa giá trị công ty và dòng tiền được thể hiện qua công thức:
Giá trị công ty = PV (dòng tiền) = Dòng tiền / Chi phí sử dụng vốn
Từ đây ta có dòng tiền kì vọng bên tay trái bảng cân đối là (vUrU + TDrD) Tương tự, dòng tiền kì vọng bên tay phải bảng cân đối kế toán là (DrD + ErE) Theo nguyên tắc kế toán, tổng tài sản bằng tổng nguồn vốn và bởi vì dòng tiền xem xét ở đây là dòng tiền đều mãi mãi và tiền tạo ra ở đây dùng để trả cổ tức nên dòng tiền bên tài sản của công ty thuộc về cổ đông, do đó chúng ta có thể thiết lập cân bằng sau: 𝑉𝑈𝑟𝑈+ 𝑇𝐶𝐷𝑟𝐷 = 𝐷𝑟𝐷+ 𝐸𝑟𝐸 (*)
Chia hai vế phương trình này cho E, sau đó chuyển vế ta được:
Trang 30Tóm lại, lý thuyết M & M về cơ cấu vốn được xem là lý thuyết hiện đại lý giải được quan hệ giữa giá trị công ty , chi phí sử dụng vốn và mức độ sử dụng nợ vay Tuy nhiên lý thuyết này chưa xem xét đến tác động của một số chi phí khác khiến cho lợi ích của lá chắn thuế bị giảm dần và đi đến triệt tiêu khi công ty gia tăng nợ Khi công ty gia tăng sử dụng nợ làm cho rủi ro của công ty tăng lên, điều này còn gây nhiều ảnh hưởng khác tới hiệu quả hoạt động kinh doanh của công ty nữa Do đó, bàn về tác động giữa cơ cấu vốn tới hiệu quả hoạt động của công ty vẫn còn gây nhiều tranh cãi
2.3.2 Lý thuyết đánh đổi cấu trúc vốn
Được nghiên cứu bởi Kraus và Litzenberger, 1973 và sau đó là Myers, 1977 và Myers, 1984 Một cấu trúc vốn tối ưu tồn tại ở công ty khi có thể dựa trên nguyên tắc cân bằng giữa lợi ích từ tấm chắn thuế và chi phí kiệt quệ tài chính (chi phí phá sản và chi phí đại diện) của nợ để xác định nên lựa chọn tài trợ bao nhiêu nợ và bao nhiêu vốn cổ phần trong cấu trúc vốn của mình Các giám đốc tài chính phải cân nhắc sự đánh đổi giữa lợi ích của tấm chắn thuế và chi phí kiệt quệ tài chính trong việc lựa chọn một tỷ lệ tài trợ bằng nợ hợp lý Lý thuyết đánh đổi cấu trúc vốn nhìn
Trang 31chung thừa nhận rằng các tỷ lệ nợ mục tiêu có thể khác nhau giữa các doanh nghiệp Các công ty có tài sản hữu hình an toàn, có nhiều thu nhập chịu thuế nên có tỷ lệ nợ cao hơn Các công ty có khả năng sinh lời thấp hơn nên chủ yếu sử dụng tài trợ bằng vốn cổ phần Lý thuyết đánh đổi giải thích được những khác biệt trong cấu trúc vốn giữa nhiều ngành tuy nhiên lại không thể giải thích được mối liên hệ giữa một tỷ suất lợi nhuận cao với một tỷ lệ đòn bẩy tài chính thấp, một sự kết hợp hợp
lý giữa vốn chủ sở hữu và nợ sẽ tạo nên một cấu trúc vốn tối ưu cho doanh nghiệp
2.3.3 Lý thuyết trật tự phân hạng
Myers và Majluf (1984), nền tảng đầu tiên cho lý thuyết trật tự phân hạng là
từ những nghiên cứu của Donaldson (1961) Trong nghiên cứu của họ thì cấu trúc vốn của doanh nghiệp phải đối diện với thông tin bất cân xứng và chi phí giao dịch Bởi vì các nhà quản lý có nhiều thông tin hơn những nhà đầu tư bên ngoài, đứng ở
vị thế của những nhà đầu tư đang hiện hữu thì những nhà đầu tư mới yêu cầu một mức chiết khấu cao khi doanh nghiệp phát hành chứng khoán và điều này dẫn đến việc chi phí cho các nguồn tài trợ bên ngoài thì rất đắt đỏ Chính vì vậy, khi doanh nghiệp có nhu cầu về vốn, họ thường sử dụng nguồn tài trợ nội bộ (lợi nhuận giữ lại) đầu tiên, sau đó là chứng khoán nợ và phát hành cổ phần thường mới là lựa chọn cuối cùng
Có nhiều ví dụ cổ phần thường được phát hành bởi các công ty có thể vay mượn một cách dễ dàng Nhưng lý thuyết này giải thích được tại sao tài trợ từ bên ngoài là nợ vay và tại sao các thay đổi trong các tỷ lệ nợ thường theo sau các nhu cầu tài trợ từ bên ngoài
Lý thuyết trật tự phân hạng giải thích tại sao các doanh nghiệp có khả năng sinh lời thường vay ít hơn không phải vì họ có tỷ lệ nợ mục tiêu thấp mà vì họ không cần tiền bên ngoài Các doanh nghiệp có khả năng sinh lời ít hơn thì phát hành nợ vì họ không có các nguồn vốn nội bộ đủ cho quá trình đầu tư vốn vì tài trợ
nợ đứng đầu trong trật tự phân hạng của tài trợ từ bên ngoài Ngoài ra, nó còn giải thích được mối tương quan nghịch trong ngành giữa khả năng sinh lợi và đòn bẩy
Trang 32tài chính và thường thì các doanh nghiệp đầu tư theo mức tăng trưởng ngành Như vậy, các tỷ lệ đầu tư sẽ tương tự nhau trong cùng một ngành Với các tỷ lệ chi trả cổ tức cho sẵn và không thể linh hoạt được thì các Doanh nghiệp sinh lời ít nhất sẽ có
ít nguồn vốn nội bộ hơn và sẽ phải đi vay mượn thêm
2.3.4 Lý thuyết định thời điểm thị trường
Thuyết được phát triển bởi Myers (1984) và sự đóng góp của Graham- Harvey (2001), Hovakimian (2001) Lý thuyết định thời điểm thị trường của cấu trúc vốn cho rằng quyết định cấu trúc vốn doanh nghiệp dựa trên việc xem xét định thời điểm thị trường theo đó các doanh nghiệp sẽ định thời điểm thuận lợi của thị trường
để phát hành cổ phiếu Thuyết đã nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ từ các CEO trên thế giới vì tính thống nhất và chắc chắn của lý thuyết Thuyết này ủng hộ các CFO
có thể phát hành huy động vốn trên thị trường nợ hay thị trường vốn bất kỳ khi xét thấy thị trường đó có triển vọng và điều kiện tốt hơn
Ngoài ra, nó cũng khuyến khích các CFO linh hoạt trong việc phát hành cổ phần mới, có thể hoãn phát hành nếu thị trường định giá công ty này quá thấp hoặc cũng
có thể phát hành đưa vào quỹ tích lũy nếu thị trường đang định gía cao cổ phần công ty Thuyết này nhấn mạnh đến chính sách cổ tức bền vững thì ảnh hưởng đến giá cổ phần của doanh nghiệp cùng với điều kiện của thị trường nợ đóng vai trò quyết định đến chính sách tài trợ nợ của công ty
Trong thực tiễn thời điểm thị trường phát hành cổ phần mới là một phương diện quan trọng nhất trong quyết định chính sách tài chính tổng thể công ty Các nhà nghiên cứu đưa ra bốn quan điểm nghiên cứu về thuyết thời điểm thị trường Đầu tiên, các nghiên cứu chỉ ra rằng các công ty có xu hướng phát hành cổ phần thường thay cho nợ khi thị trường định giá cao trong mối quan hệ giá trị thị trường với giá trị sổ sách, và doanh nghiệp có khuynh hướng mua lại cổ phần khi thị trường định giá thấp cổ phần Thứ hai, chính sách chi trả cổ tức ổn định trong dài hạn sẽ hỗ trợ cho việc phát hành mới thành công giúp quyết định tài chính tổng thể hướng tới cấu trúc vốn tối ưu Các doanh nghiệp phát hành cổ phần mới khi giá cổ phần quá cao
Trang 33so với giá trị sổ sách và mua lại cổ phần khi giá thấp hơn giá trị sổ sách Thứ ba, những phân tích về khả năng sinh lợi và tín hiệu thị trường qua việc phát hành cổ phần khuyến khích các công ty phát hành khi thị trường có triển vọng tốt về khả năng sinh lợi của cổ phần Cuối cùng, cổ phiếu định giá cao hay thấp là một nhân tố chủ chốt trong quyết định tài trợ của doanh nghiệp
Tuy nhiên, lý thuyết không giải thích được vai trò của các nhân tố còn lại trong đòn bẩy tổng thể của doanh nghiệp và không theo đuổi cấu trúc vốn tối ưu của doanh nghiệp
2.4 Giới thiệu khái quát về tổng quan ngành Logistics
2.4.1 Khái niệm về Logistics
Dịch vụ logistics đã xâm nhập vào nước ta khá lâu nhưng người Việt ta chưa thật sự quen với thuật ngữ này, mặc dù đâu đó trong các trang mục quảng cáo về dịch vụ giao nhận, tuyển dụng nhân viên…có đề cập đến dịch vụ logistic, nhân viên logistics
Cách đây vài thế kỷ, thuật ngữ logistic được sử dụng trong quân đội với tư cách là một cách thức tổ chức cung ứng tương đối giống “dịch vụ hậu cần” trong các đơn vị quân đội ngày nay, và đã từng được hoàng đế Napoleon nhắc đến trong câu nói nổi tiếng “kẻ nghiệp dư bàn về chiến thuật, người chuyên nghiệp bàn về logistic” để nhấn mạnh đến tầm quan trọng của dịch vụ này Sau này, do sự phát triển mạnh về khoa học kỹ thuật, khoa học quản lý, phương pháp quản trị sản xuất, kinh doanh, giao thông vận tải, thông tin liên lạc…đã làm cho logistic có bộ mặt mới và có thể thay đổi về chất so với bản chất nguyên thủy ban đầu là cung ứng “dịch vụ hậu cần” của nó
Theo Hội đồng quản trị logistics của Mỹ (Council of Logistics Management-CLM)
thì “logistics là quy trình chuỗi cung ứng có nhiệm vụ lập kế hoạch, tổ chức thực hiện và kiểm soát quá trình lưu chuyển, dự trữ hàng hoá, dịch vụ và những thông tin liên quan từ điểm xuất phát đầu tiên đến nơi tiêu thụ cuối cùng sao cho hiệu quả và phù hợp với yêu cầu của khách hàng”
Trang 34Dưới góc độ quản trị chuỗi cung ứng thì “ Logistics là quá trình tối ưu hóa về vị
trí, lưu trữ và chu chuyển các tài nguyên, yếu tố đầu vào từ điểm xuất phát đầu tiên
là nhà cung cấp, qua nhà sản xuất, bán buôn, bán lẻ đến tay người tiêu dung cuối cùng thông qua hang loạt các hoạt động kinh tế”
Theo quan niệm của Liên hợp quốc: “Logistics là hoạt động quản lý quá trình lưu
chuyển nguyên vật liệu qua các khâu lưu kho, sản xuất ra sản phẩm cho tới tay người tiêu dùng theo yêu cầu của khách hàng”
Trong lĩnh vực quân sự, “logistics được định nghĩa là khoa học của việc lập kế
hoạch và tiếnhành di chuyển và tập trung các lực lượng, … các mặt trong chiến dịch quân sự liên quan tới việc thiết kế và phát triển, mua lại, lưu kho, di chuyển, phân phối, tập trung, sắp đặt và di chuyển khí tài, trang thiết bị”
Theo quy định tại Điều 233 của Luật thương mại ( LTM ) 2005: “Dịch vụ
logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công đoạn bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi mã ký hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác liên quan đến hàng hoá theo thoả thuận với khách hàng để hưởng thù lao” Như vậy nói một cách đơn giản, Logistics là quá trình tối
ưu hóa về vị trí và thời điểm, vận chuyển và dự trữ nguồn tài nguyên từ điểm đầu tiên của chuỗi cung ứng qua các khâu sản xuất, phân phối cho đến tay người tiêu dùng cuối cùng, nhằm đáp ứng tốt nhất nhu cầu của người tiêu dùng với chi phí hợp
lý, thông qua hàng loạt các hoạt động kinh tế
Trang 35nào cần và cần ở đâu? Logistics sinh tồn là bản chất và nền tnag3 của hoạt động logistics nói chung
- Logistics hoạt động là bước phát triển mới của logistics sinh tồn và gắn với toàn bộ quá trình và hệ thống sản xuất của các sản phẩm của doanh nghiệp Logistics hoạt động liên quan đến quá trình vận động và lưu kho của nguyên liệu đầu vào trong, đi qua và đi ra khỏi doanh nghiệp, thâm nhập vào các kênh phân phối trước khi đi đến tay người tiêu dùng cuối cùng
- Logistics hệ thống giúp ích cho việc duy trì hệ thống hoạt động Các yếu tố của logistics hệ thống bao gồm các máy móc, thiết bị, nguồn nhân lực, công nghệ,
cơ sở hạ tầng, nhà xưởng…Logistics sinh tồn, hoạt động và hệ thống có mối quan
hệ chặt chẽ với nhau tạo cơ sở hình thành hệ thống logistics hoàn chỉnh
Logistics hỗ trợ hoạt động của doanh nghiệp: Logistics hỗ trợ toàn bộ quá trình hoạt động của doanh nghiệp, ngay cả khi sản phẩm đã ra khỏi dây chuyền sản xuất của doanh nghiệp và đến tay người tiêu dùng Một doanh nghiệp có thể kết hợp với bất kỳ yếu tố nào của logistics tùy theo yêu cầu của doanh nghiệp mình Logistics còn hỗ trợ hoạt động của doanh nghiệp thông qua quản lý di chuyển và lưu trử nguyên vật liệu đi vào doanh nghiệp và bán thành phẩm di chuyển trong doanh nghiệp
Logistics là sự phát triển hoàn chỉnh của dịch vụ vận tải giao nhận Cùng với quá trình phát triển của mình, logistics đã làm đa dạng hóa khái niệm vận tải giao nhận truyền thống Từ chỗ chỉ thay mặt khách hàng thực hiện những khâu rời rạc như thuê tàu, lưu cước, chuẩn bị hàng, đóng gói hàng hải…cho tới cung cấp dịch vụ trọng gói từ kho đến kho, từ chỗ đóng vai trò đại lý, người được ủy thác trở thành chủ thể chính trong các hoạt động vận tải giao nhận với khách hàng, chịu trách nhiệm trước các nguồn luật điều chỉnh
Logistics là sự phát triển hoàn thiền dịch vụ vận tải đa phương thức Trước đây, hàng hóa đi theo hình thức hàng lẻ từ nước xuất khẩu sang nước nhập khẩu và trải qua nhiều phương tiện vận tải khác nhau Vì vậy, xác suất rủi ro mất mát đối với hàng hóa là rất cao, và người gửi hàng phải ký nhiều hợp đồng với nhiều người vận tải khác nhau mà trách nhiệm của họ chỉ giới hạn trong chặng đường hay dịch vụ
Trang 36mà họ đảm nhiệm Tới những năm 60-70 của thế kỷ XX, cách mạng container trong ngành vận tải đã đảm bảo an toàn và độ tin cậy trong vận chuyển hàng hóa, là tiền
đề và cơ sở cho sự ra đời và phát triển của vận tải đa phương thức Khi vận tải đa phương thức ra đời, chủ hàng chỉ ký một hợp đồng duy nhất với người kinh doanh vận tải đa phương thức (MTO- Multimodal Transport Operator) thì MTO sẽ chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện toàn bộ việc vận chuyển hàng hóa từ khi nhận hàng cho tới khi giao hàng bằng một chứng từ vận tải duy nhất cho dù anh ta không phải
là người chuyên chỡ thực tế , MTO ở đây chính là người cung cấp dịch vụ logistics
2.4.3 Phân loại dịch vụ logistics
Điểm lại lịch sử phát triển Logistics từ những năm 60 của thế kỷ 20 trở lại đây, ta thấy Logistics đã phát triển dưới các hình thức 1PL, 2PL, 3PL, 4PL và 5PL, trong đó:
- Logistics bên thứ nhất (1PL – First Party Logistics) - người chủ sở hữu hàng hóa
tự mình tổ chức và thực hiện các hoạt động Logistics để đáp ứng nhu cầu của bản thân Theo hình thức này, chủ hàng phải đầu tư vào phương tiện vận tải, kho chứa hàng, hệ thống thông tin, nhân công để quản lý và vận hành hoạt động Logistics 1
PL làm phình to bộ máy của doanh nghiệp, đối với các doanh nghiệp không có đủ quy mô cần thiết, cũng như kinh nghiệm và kỹ năng chuyên môn để quản lý và vận hành hoạt động Logistics, thì hình thức này thường làm giảm hiệu quả hoạt động kinh doanh
- Logistics bên thứ hai (2PL – Second Party Logistics) – người cung cấp dịch vụ Logistics bên thứ hai là người cung cấp dịch vụ cho một hoạt động đơn lẻ trong chuỗi các hoạt động Logistics (vận tải, kho bãi, thủ tục hải quan, thanh toán…) để đáp ứng nhu cầu của chủ hàng, chưa tích hợp hoạt động Logistics Loại hình này bao gồm: các hãng vận tải đường biển, đường bộ, đường hàng không, các công ty kinh doanh kho bãi, khai thuê hải quan, trung gian thanh toán
- Logistics bên thứ ba (3PL – Third Party Logistics) – là người thay mặt cho chủ hàng quản lý và thực hiện các dịch vụ Logistics cho từng bộ phận chức năng, ví dụ như: thay mặt cho người gửi hàng thực hiện thủ tục xuất khẩu và vận chuyển nội địa hoặc thay mặt cho người nhập khẩu làm thủ tục thông quan và vận chuyển hàng tới
Trang 37địa điểm đến quy định Do đó 3PL bao gồm nhiều dịch vụ khác nhau, kết hợp chặt chẽ việc luân chuyển, tồn trữ hàng hóa, xử lý thông tin… và có tính tích hợp vào chuỗi cung ứng của khách hàng
- Logistics bên thứ tư (4PL – Fourth Party Logistics) – là người tích hợp (integrator) – người hợp nhất, gắn kết các nguồn lực, tiềm năng và cơ sở vật chất khoa học kỹ thuật của mình với các tổ chức khác để thiết kế, xây dựng và vận hành các giải pháp chuỗi Logistics 4PL chịu trách nhiệm quản lý dòng lưu chuyển vật tư, hàng hóa, cung cấp giải pháp chuỗi cung ứng, hoạch định, tư vấn Logistics, quản trị vận tải… 4PL hướng đến quản trị cả quá trình Logistics, như nhận hàng từ nơi sản xuất, làm thủ tục xuất, nhập khẩu, đưa hàng đến nơi tiêu thụ cuối cùng
- Logistics bên thứ năm (5PL – Fifth Party Logistics) – là người thiết kế và tái cấu trúc lại chuỗi cung ứng, các hoạt động của 4PL, 3PL cũng như cung cấp hệ thống thông tin tích hợp để đảm bảo dòng thông tin liên tục và tăng khả năng kiểm soát toàn bộ chuỗi cung ứng 5PL quản lý và điều phối hoạt động của các 3PL, 4PL thông qua các giải pháp thông tin liên quan đến cung và cầu trên thị trường dịch vụ Logistics điện tử 5PL hoạt động trên nền tảng hoàn thiện dòng chu chuyển của nguyên vật liệu trên toàn chuỗi cung ứng, với mục đích ứng dụng và phát triển các chuỗi cung ứng linh hoạt, nhằm thỏa mãn nhu cầu tất cả các thành viên trong chuỗi Cùng với đà phát triển của xã hội, xu hướng thuê bên ngoài (các 2PL, 3PL, 4PL, 5PL, chủ yếu là các 3PL) thực hiện các hoạt động Logistics ngày càng phổ biến, đó
là các dịch vụ Logistics Trước đây, khi nhắc đến dịch vụ Logistics, người ta thường nghĩ ngay đến các dịch vụ cơ bản: vận tải, lưu kho Giờ đây, các dịch vụ Logistics
đã phong phú hơn rất nhiều: vận tải, lưu kho, gom hàng, đóng gói, dán nhãn, lắp ghép, cross-docking, milk run, quản lý nhà cung cấp, Logistics thu hồi, hỗ trợ tài chính… Có thể chia các dịch vụ này thành 4 nhóm chính:
- Logistics đầu vào;
- Logistics trong kho hàng;
- Logistics đầu ra;
- Logistics thu hồi
Tập hợp các nhà cung cấp dịch vụ Logistics sẽ tạo nên ngành dịch vụ Logistics
Trang 38Ở VN, trước Luật Thương mại 2005, chưa hề có những quy định về dịch vụ Logistics, mà mới chỉ có những quy định liên quan đến vận chuyển, giao nhận hàng hóa Chỉ đến Luật Thương mại 2005, dịch vụ Logistics mới được đưa vào một mục của Luật với 8 điều (điều 233 – điều 240), bao gồm các quy định về dịch vụ Logistics, điều kiện kinh doanh dịch vụ Logistics, quyền và nghĩa vụ của thương nhân kinh doanh dịch vụ Logistics; quyền và nghĩa vụ của khách hàng; các trường hợp miễn trách nhiệm đối với thương nhân kinh doanh dịch vụ Logistics; giới hạn trách nhiệm; quyền cầm giữ và định đoạt hàng hóa và nghĩa vụ của thương nhân kinh doanh dịch vụ Logistics khi cầm giữ hàng hóa
Theo quy định tại điều 233, Luật Thương mại 2005 của VN, dịch vụ Logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công việc bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hoá theo thỏa thuận của khách hàng để hưởng thù lao Dịch vụ Logistics được phiên âm theo tiếng Việt là dịch vụ Lô-gi-stic
Để chi tiết hóa Luật Thương mại, ngày 5/9/2007 Chính phủ đã ban hành Nghị định
số 140/2007/NĐ-CP v/v Quy định chi tiết Luật Thương mại về điều kiện kinh doanh dịch vụ Lô-gi-stic và giới hạn trách nhiệm đối với thương nhân kinh doanh dịch vụ Lô-gi-stic
Theo Điều 4 Nghị định 140, dịch vụ lô-gi-stíc được phân loại như sau:
- Các dịch vụ lô-gi-stíc chủ yếu ;
- Các dịch vụ lô-gi-stíc liên quan đến vận tải ;
- Các dịch vụ lô-gi-stíc liên quan khác
Cách phân loại này phù hợp với Biểu cam kết về dịch vụ vận tải của VN với WTO, tuy nhiên, chưa thể hiện được những loại hình dịch vụ Logistics mới, hiện đại trong điều kiện hiện nay
2.4.4 Vai trò của logistics đối với doanh nghiệp:
Logistics là một chức năng kinh tế chủ yếu, có vai trò rất quan trọng đối với nền kinh tế, nói chung, và từng doanh nghiệp, nói riêng Logistics có mặt trong mọi lĩnh
Trang 39vực của cuộc sống từ sản xuất, kinh doanh cho đến y tế, giáo dục, ở đâu cần có tối
ưu hóa, ở đó có Logistics, chứ không đơn giản chỉ là kho và vận Nhưng lĩnh vực
Logistics hoạt động tập trung nhất, dễ thấy nhất, chính là giao nhận vận tải, kho bãi
Vai trò của logistics đối với doanh nghiệp
Khi thị trường toàn cầu phát triển với các tiến bộ công nghệ, đặc biệt là việc mở cửa thị trường ở các nước đang và chậm phát triển, logistics được các nhà quản lý coi như là công cụ, một phương tiện liên kết các lĩnh vực khác nhau của chiến lược doanh nghiệp Logistics tạo ra sự hữu dụng về thời gian và địa điểm cho các hoạt động của doanh nghiệp
Logistics giúp giải quyết cả đầu vào lẫn đầu ra cho doanh nghiệp một cách hiệu quả, tối ưu hoá quá trình chu chuyển nguyên vật liệu, hàng hoá, dịch vụ…logistics giúp giảm chi phí, tăng khả năng cạnh tranh cho doanh nghiệp
Logistics góp phần nâng cao hiệu quả quản lý, giảm thiểu chi phí nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Doanh nghiệp được chủ động chọn nguồn cung cấp nguyên vật liệu, nhân công, vốn…góp phần phát triền logistics toàn cầu
Logistics hỗ trợ đắc lực cho hoạt động Maketting Chính logistics đóng vai trò then chốt trong việc đưa sản phẩm đến đúng nơi cần đến, vào thời điểm thích hợp Sản phẩm, dịch vụ chỉ có thể làm thoả mãn khách hàng và có giá trị khi và chỉ khi nó đến được với khách hàng đúng thời hạn, địa điểm quy định
Vai trò của logistics đối với nền kinh tế
Logistics là một chuỗi xuyên suốt hoạt động liên tục, các khâu có mối quan hệ mật thiết với nhau Mỗi hoạt động trong chuỗi đều chiếm một vị trí nhất định vì vậy phát triển dịch vụ logistics một cách hiệu quả sẽ góp phần tăng năng lực cạnh tranh của nền kinh tế và quốc gia Trong xu thế toàn cầu mạnh mẽ như hiện nay, sự cạnh tranh giữa các quốc gia trên thế giới ngày càng trở nên gay gắt, khốc liệt hơn Điều này đã làm cho dịch vụ logistics trở thành một trong các lợi thế cạnh tranh của quốc gia
Trang 40Phát triển dịch vụ logistics sẽ đem lại nguồn lợi khổng lồ cho nền kinh tế logistics
là một hoạt động tổng hợp mang tính dây chuyền, hiệu quả của quá trình này có tầm quan trọng quyết định đến tính cạnh tranh của ngành công nghiệp và thương mại mỗi quốc gia Đối với những nước phát triển như Mỹ và Nhật logistics đóng góp khoảng 10% GDP Đối với những nước kém phát triển thì tỷ lệ này có thể cao hơn 30% Sự phát triển dịch vụ logistics có ý nghĩa đảm bảo cho việc vận hành sản xuất, kinh doanh các dịch vụ khác được đảm bảo về thời gian và chất lượng Logistics phát triển tốt sẽ mang lại khả năng giảm được chi phí, nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ
2.5 Một số nghiên cứu trước đây
2.5.1 Những nghiên cứu trên thế giới
Phần này tác giả sẽ đưa ra một số nghiên cứu khoa học kiểm tra tác động của cấu trúc vốn đến hiệu quả của công ty được chia ra làm bốn phần: Phần thứ nhất trình bày một số nghiên cứu chỉ ra rằng một mối quan hệ tích cực giữa cấu trúc vốn
và hiệu quả công ty Phần thứ hai cho thấy một mối tương quan nghịch giữa cấu trúc vốn và hiệu quả công ty Phần thứ ba cho thấy kết quả hỗn hợp Phần cuối cùng
sẽ hiển thị kết quả không có mối quan hệ ý nghĩa giữa cấu trúc vốn và hiệu quả kinh doanh
Một số nghiên cứu cho rằng cấu trúc vốn tác động tích cực lên hiệu quả
hoạt động của công ty
Nghiên cứu của Derayat,M (2012), nghiên tác động của cấu trúc vốn đến
hiệu quả hoạt động của 135 công ty niêm yết trên sàn chứng khoán Tehran trong giai đoạn 2006 – 2010 Nghiên cứu này dựa trên năm ngành công nghiệp bao gồm các kim loại cơ bản, máy móc và thiết bị, thực phẩm và nước giải khát, Phi kim loại
và khoáng sản, Vật liệu và hóa học Nghiên cứu cho ra kết quả cấu trúc vốn có tác động tích cực lên ROA
Ưu điểm: Ngoài kết quả nghiên cứu cho ra tác động tích cực lên hiệu, nghiên cứu cũng cho thấy các công ty thuộc những nhóm ngành công nghiệp khác nhau