1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

cảm hứng đạo đức trong tiểu thuyết quốc ngữ nam bộ những năm đầu thế kỷ xx

93 385 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 0,96 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Người ta nhìn nhận đó như là một đặc trưng của tiểu thuyết Quốc ngữ Nam Bộ chứ chưa khảo sát thật sự trên văn bản tác phẩm, nếu có chăng chỉ là tập trung vào một số tác giả lớn như: Hồ B

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA SƯ PHẠM

BỘ MÔN NGỮ VĂN

VÕ TRÚC XINH

CẢM HỨNG ĐẠO ĐỨC TRONG TIỂU THUYẾT QUỐC NGỮ NAM BỘ NHỮNG

Trang 2

LÍ LUẬN CHUNG VỀ CÁI NHÌN TRONG TRUYỆN NGẮN, ĐÔI NÉT

VỀ THẠCH LAM VÀ TRUYỆN NGẮN THẠCH LAM

1 Giới thiệu chung về truyện ngắn 1.1 Khái niệm truyện ngắn

1.2 “Cái nhìn” trong truyện ngắn

2 Đôi nét về Thạch Lam và truyện ngắn Thạch Lam 2.1 Đôi nét về Thạch Lam

Trang 3

2.2 Sự nâng niu trân trọng vẻ đẹp cuộc đời

2 Không gian trong truyện ngắn Thạch Lam 2.1 Không gian hiện thực hàng ngày

2.2 Không gian hòa quyện thời gian

PHẦN KẾT LUẬN KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 4

1 Lí do chọn đề tài:

Văn chương Quốc ngữ Nam Bộ là một bộ phận văn học vô cùng độc đáo Đó là những viên gạch đầu tiên để nền văn học Việt Nam hiện đại vươn lên tỏa sắc Trong đó, tiểu thuyết Quốc ngữ Nam Bộ là một thành tựu độc đáo khi mà những năm đầu thế kỷ XX, phong trào viết và đọc tiểu thuyết trở nên rầm rộ ở vùng đất này Mọi lứa tuổi từ già đến trẻ, mọi hạng người từ thành thị đến nông thôn…luôn say mê tìm đọc mỗi khi một quyển tiểu thuyết mới xuất hiện Tiểu thuyết Quốc ngữ đã sớm trở thành một món ăn tinh thần không thể thiếu trong đời sống của người dân nơi đây Đến với tiểu thuyết Quốc ngữ, người đọc không phải chỉ xem nó là một trò giải trí tinh thần đơn thuần mà cái chính là tìm thấy ở đó những giá trị độc đáo

Các nhà tiểu thuyết Quốc ngữ không chỉ gợi lên những sự thương cảm ở người đọc qua những mối tình éo le, trắc trở trong những tiểu thuyết ái tình hay cuốn người đọc vào không khí huyền bí, li kì của những tiểu thuyết trinh thám, hoặc hòa mình vào không khí hào hùng trong tiểu thuyết lịch sử….mà hơn hết là giúp người ta tìm thấy ở

đó những bài học đạo đức sâu sắc - Những cái mà rất cần trong buổi ngọn gió Âu Tây đang tấn công mạnh mẽ vào bức tường luân lý truyền thống của dân tộc mà không ít

kẻ đã bị lai căng, mất gốc Với ý thức thân phận của một người dân mất nước, các nhà văn Nam Bộ tuy không trực tiếp đứng lên cầm vũ khí chống giặc nhưng họ lại tự đặt lên đôi vai mình trọng trách giữ gìn nền đạo lý truyền thống của dân tộc Họ luôn cố gắng thông qua những tác phẩm của mình có thể chỉ cho quần chúng độc giả đâu là nẻo ngay đường chánh mà noi theo, đâu là nẻo đường tăm tối mà xa lánh…Có thể nói, các nhà tiểu thuyết Quốc ngữ Nam Bộ đã bằng cả tấm lòng nhiệt huyết mà ra công bảo tồn những giá trị đạo đức truyền thống quý báo của dân tộc Họ đã say mê gởi gắm đến người đọc những bài học đạo đức sâu sắc trong mọi mối quan hệ từ trong gia đình đến

xã hội thông qua đứa con tinh thần của mình Do đó, sẽ là một thiếu sót to lớn khi nói

đến tiểu thuyết Quốc ngữ Nam Bộ mà bỏ qua “cảm hứng đạo đức”- một nét riêng

mang tính phổ biến trong các sáng tác của các nhà văn Nam Bộ những năm đầu của thế kỷ XX

Tính đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về tiểu thuyết Quốc ngữ Nam

Bộ nhưng về vấn đề cảm hứng đạo đức trong các tiểu thuyết Quốc ngữ vẫn chưa có

- 1 -

Trang 5

những cái nhìn thật toàn diện Người ta nhìn nhận đó như là một đặc trưng của tiểu thuyết Quốc ngữ Nam Bộ chứ chưa khảo sát thật sự trên văn bản tác phẩm, nếu có chăng chỉ là tập trung vào một số tác giả lớn như: Hồ Biểu Chánh, Nguyễn Chánh Sắt…Vì vậy, lựa chọn đề tài, người viết hi vọng sẽ góp phần nhỏ vào việc có được một cái nhìn toàn

diện và sâu sắc hơn về “cảm hứng đạo đức” - biểu hiện của niềm say mê bảo vệ những giá

trị đạo đức truyền thống dân tộc của các nhà tiểu thuyết Quốc ngữ Nam Bộ buổi sơ khai Cũng như qua đề tài này, người viết mong sẽ góp một phần nhỏ vào việc đi tìm và nhìn nhận lại những giá trị của nền văn chương Quốc ngữ Nam Bộ mà những nhà văn tiên phong đã đóng góp những thành tựu độc đáo trong buổi đầu mở đường cho nền văn học dân tộc khởi sắc

2 Lịch sử vấn đề:

Cho đến nay, sau khi đã có cái nhìn nghiêm túc và đúng đắn hơn về văn chương Quốc ngữ Nam Bộ những năm đầu thế kỷ XX nói chung, tiểu thuyết Quốc ngữ nói riêng đã có nhiều công trình nghiên cứu về bộ phân văn chương này Thế nhưng do nhiều yếu tố khách quan của lịch sử, phần nhiều tài liệu về các tác giả cũng như tác phẩm đã bị thất tán,

do đó rất khó khăn cho việc đánh giá một cách toàn diện, sâu sắc về toàn bộ nền văn chương giai đoạn này Các tác giả chỉ thường tập trung khai thác một phương diện của bộ phận văn học này hoặc chỉ tập trung vào một vài tác giả, tác phẩm nổi bật…Chẳng hạn:

- Trần Mạnh Tiến trong Lí luận phê bình văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX, NXB Giáo dục, trong phần Văn học với tư tưởng và đạo đức, tác giả đã phân tích mối quan hệ chi

phối lẫn nhau giữa tư tưởng của người viết sách tác động đến việc xây dựng tác phẩm và tác động của tác phẩm văn chương đến tư tưởng người đọc Đồng thời, tác giả còn khái quát cái nhìn của các nhà văn đối với vấn đề: văn chương và đạo đức - cần phân biệt rạch ròi hay đồng nhất khi sáng tác tác phẩm Tác giả đã khẳng định: với hiện thực đời sống những năm đầu thế kỷ XX, nền giáo lí Nho gia không còn phù hợp mà dần thay thế bằng quan niệm đạo đức của nhân dân

- Mã Giang Lân trong Quá trình hiện đại hóa văn học Viêt Nam 1900 - 1945,

NXB Văn hóa thông tin Hà Nội, 2000, đã có cái nhìn khá toàn diện về những đặc điểm nổi bật của nền văn học Viêt Nam giai đoạn 1900 - 1945 Riêng phần văn chương

- 2 -

Trang 6

Quốc ngữ Nam Bộ, ông đã có những nhân xét sâu sắc về Hồ Biểu Chánh Ông khẳng định,

những vấn đề đạo đức trong tác phẩm của Hồ Biểu Chánh đã “đáp ứng được nhu cầu tâm lý

của người đọc Nam Bộ: trọng nhân nghĩa, thương người hoạn nạn, thẳng thắng mà chung thủy”…trên cơ sở của sự kế thừa truyền thống

- Cao Xuân Mỹ và Mai Quốc Liên trong Văn xuôi Nam Bộ nửa đầu thế kỷ 20, 2 tập,

NXB Văn Nghệ Thành phố Hồ Chí Minh và Trung tâm nghiên cứu Quốc học, đã cung cấp một lượng lớn văn bản tác phẩm Đồng thời, các tác giả đã có cái nhìn tổng quan, sâu sắc

về việc nhìn nhân giá trị của các tác phẩm cũng như đóng góp của các tác giả Nam Bộ Đây là những định hướng và điều kiện thuận lợi cho việc nghiên cứu và thực hiện đề tài

- Hoài Anh - Thành Nguyên - Hồ Sĩ Nghiệp trong Văn học Nam Bộ từ đầu đến giữa thế kỷ XX ( 1900-1954), NXB Thành phố Hồ Chí Minh, 1988, các tác giả đã nêu

lên sự vân động của văn học Nam Bộ cùng với những biến động của lịch sử, xã hội theo từng thời kì từ 1900 - 1954 Ngoài ra, các tác giả cũng nhấn mạnh giá trị đạo đức trong một số tác phẩm của các tác giả như: Phạm Minh Kiên, Tân Dân Tử, Hồ Biểu Chánh…Đặc biệt, các tác giả đã nhận xét quan niệm đạo đức trong tiểu thuyết Hồ Biểu

Chánh là sự kết hợp giữa đạo đức Nho gia với những chi tiết hiện thực đời thường “với

thái độ đồng cảm với người nghèo khổ gặp cảnh ngộ không may, lên án kẻ giàu sang

mà tàn ác bất nhân, phụ tình bạc nghĩa, ca ngợi những con người hiếu hạnh, thủy chung, có chí lập thân”….nên nó phù hợp với đạo lí của nhân dân

- Quyển Tiểu thuyết Nam Bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, NXB Đại học

quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, do Nguyễn Kim Anh chủ biên là một công trình nghiên cứu công phu Các tác giả đã khái quát bối cảnh lịch sử xã hội Nam Bộ cũng như những điều kiện thuận lợi cho sự hình thành tiểu thuyết Nam Bộ những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX Ngoài ra, các tác giả còn cung cấp những tư liệu về cuộc đời, sự nghiệp của các tác giả Nam Bộ… mà hơn hết là nêu khái quát những giá trị nội dung cũng như những bài học đạo đức của các tác phẩm sau phần tóm tắt văn bản tác phẩm

- Nguyễn Q.Thắng với Văn học Việt Nam nơi miền đất mới, tập 1, NXB Văn

học, ngoài việc nêu lên những nét khái quát về cuộc đời, sự nghiệp của các tác giả và

- 3 -

Trang 7

cung cấp những văn bản tác phẩm, tác giả còn đi sâu vào phân tích những giá trị về nội dung cũng như nghệ thuật của một số tác phẩm Trong đó, tác giả đã phân tích giá trị

đạo đức của tác phẩm Cha con nghĩa nặng của Hồ biểu Chánh với những góc nhìn khá

độc đáo

- Nguyễn Khuê với Chân dung Hồ Biểu Chánh, NXB Thành phố Hồ Chí Minh, 1998,

ngoài việc nghiên cứu một cách công phu về cuộc đời, sự nghiệp quan trường và văn chương của họ Hồ, tác giả còn nêu lên được những quan niêm tâm huyết của nhà văn khi sáng tác

là “vì đời mà tải đạo”, “đặng lần dắt quần chúng về nẻo chánh đường ngay”

- Nguyễn Văn Hà với bài Nguyễn Chánh Sắt - Trong hành trình văn xuôi Quốc ngữ Nam Bộ đầu thế kỷ XX đã nghiên cứu khá tỉ mỉ về cuộc đời, sự nghiệp dịch thuật

cũng như sáng tác của nhà văn Tác giả đã phân tích được một cách khá sâu sắc về nội dung và nghệ thuật trong các sáng tác của nguyễn Chánh Sắt Đặc biệt, tác giả đã nêu lên những biểu hiện của khuynh hướng đạo lý được cụ thể trong những tác phẩm của nhà văn, đây là một định hướng tốt tạo thuận lợi cho người viết nghiên cứu đề tài

Ngoài ra, còn rất nhiều công trình nghiên cứu công phu hay những bài viết lẻ tẻ khác xoay quanh những vấn đề của tiểu thuyết Quốc ngữ Nam Bộ những năm đầu thế

kỷ XX Nhưng nhìn chung đến nay vẫn chưa có một công trình nào thật sự có một cách nhìn thật toàn diện và sâu sắc về vấn đề “cảm hứng đạo đức” trong bộ phận văn học này

3 Mục đích yêu cầu

Như đã trình bày ở trên, khuynh hướng đạo đức là một đặc điểm riêng, mang tính phổ biến trong các tiểu thuyết Quốc ngữ Nam Bộ Đó như trở thành một kim chỉ nam, mục đích hướng tới trong việc sáng tác của các nhà văn Họ đã luôn cố gắng lồng ghép vào tác phẩm của mình những bài học đạo đức sâu sắc để “cảnh tỉnh” lòng người Do đó, trong bài

nghiên cứu này, người viết hi vọng sẽ làm sáng tỏ “cảm hứng đạo đức trong tiểu thuyết

Quốc ngữ Nam Bộ” thông qua tìm hiểu:

- Quan niệm sáng tác của các nhà văn

- Những điều kiện tác động đến quan niệm sáng tác của các nhà văn

- 4 -

Trang 8

- Các yếu tố nghệ thuật góp phần thể hiện những nội dung đạo đức

- Những vấn đề đạo đức được các nhà văn phổ biến trong tác phẩm

4 Phạm vi nghiên cứu

Tiểu thuyết Quốc ngữ Nam Bộ những năm đầu thế kỷ XX là một bộ phận văn chương ra đời trong một hoàn cảnh vô cùng đặc biệt Đó là buổi chuyển giao: nền văn chương cũ đã kết thúc vai trò trên văn đàn mà cái mới vẫn chưa khẳng định được chỗ đứng vững chắc Tiểu thuyết Quốc ngữ ra đời đã đáp ứng được nhu cầu thưởng thức văn chương của quần chúng độc giả mới nên nó nhanh chóng được chào đón và tiếp nhận Điều đó đã tạo nên một phong trào viết và đọc tiểu thuyết rầm rộ ở Nam Bộ những năm đầu của thế kỷ XX Có thể nói chỉ hơn 30 năm mà bộ phân văn học này đã

có một lực lượng tác giả cũng như số lượng tác phẩm khá đồ sộ Hơn thế, do nhiều nguyên nhân khách quan cũng như chủ quan, đến nay phần nhiều tài liệu về tác giả cũng như văn bản tác phẩm đã bị thất tán…Do đó có thể nghiên cứu toàn diện về toàn

bộ giai đọan văn học này là một điều vô cùng khó khăn Đồng thời, do phạm vi đề tài

là “cảm hứng đạo đức trong tiểu thuyết Quốc ngữ Nam Bộ những năm đầu thế kỷ XX”,

nên người viết chỉ tiến hành nghiên cứu, khảo sát trên những tác giả, tác phẩm tiêu biểu của bộ phận tiểu thuyết Quốc ngữ Nam Bộ những năm đầu thế kỷ XX có liên quan đến đề tài

Mặt khác, qua việc tìm hiểu, nghiên cứu, người viết nhận thấy rằng: trong khoảng hơn 30 năm đầu của thế kỷ XX (1900-1932) là giai đoạn mà bộ phận văn học này từng bước hình thành và đạt được những thành tựu nhất định Mặc dù vẫn có nhiều nhà văn Nam Bộ còn viết tiếp mãi đến những năm sau đó nhưng lúc này có thể nói nhiệm vụ đưa nền văn học dân tộc lên đỉnh cao của con đường hiện đại hóa đã chuyển sang tay của những tác giả miền Bắc Cho nên có thể nói trong hơn 30 năm đầu này, các nhà văn Nam Bộ đã thực hiện xuất sắc nhiệm vụ mở đường cho nền văn học Việt Nam hiện đại với những thành tựu đặc sắc Chính vì vậy, người viết chọn mốc thời gian là giai đoạn 1900-1932 làm giới hạn nghiên cứu đề tài

5 Phương pháp nghiên cứu

Như đã nói, tiểu thuyết Quốc ngữ Nam Bộ từ khi hình thành đến khi kết thúc vai trò mở đường cho nền văn học Việt Nam lên con đường hiện đại đã để lại không ít tên

Trang 9

tuổi tác giả cũng như một số lượng lớn tác phẩm Do vậy để đảm bảo cho việc thực hiện đề tài thật tốt, người viết trước tiên phải sưu tầm, tổng hợp tài liệu về bối cảnh lịch sử xã hội của Nam Bộ những năm đầu thế kỷ XX, các tài liệu về tác giả, văn bản tác phẩm, các bài nghiên cứu và những nhận định, đánh giá liên quan đến đề tài…Sau

đó, tiến hành phân tích, nghiên cứu, đối chiếu và phác thảo những vấn đề chính cần triển khai trong đề tài Tham khảo ý kiến của giáo viên hướng dẫn, thầy cô chuyên môn, bạn học…để điều chỉnh và từng bước tiến hành hoàn thành đề tài

Trang 10

Chương 1: VÀI NÉT VỀ TIỂU THUYẾT QUỐC NGỮ NAM BỘ

GIAI ĐOẠN ĐẦU THẾ KỶ XX

1.1 Hoàn cảnh ra đời của tiểu thuyêt quốc ngữ Nam Bộ 1.1.1 Bối cảnh lịch sử, xã hội Nam Bộ những năm đầu thế kỷ xx 1.1.1.1 Tính hình chính trị

Năm 1958, lấy cớ triều đình nhà Nguyễn ngăn cản việc thông thương và giết các giáo sĩ, ngày 01 tháng 09, Thực dân Pháp nổ tiếng súng đầu tiên vào bán đảo Sơn Trà (Đà Nẵng) - mở đầu cuộc tiến công chính thức xâm lược Việt Nam Cảng Đà Nẵng là cửa ngỏ triều đình nhưng không phải là một căn cứ địa thuận lợi nên sau 5 tháng dặm chân tại chỗ trước sự kháng cự quyết liệt của quân và dân ta, Pháp quyết định mở cuộc tấn công vào Gia Định vào ngày 10-02-1859 Đến ngày 17-02-1859, Pháp chiếm thành Gia Định Nhân dân Nam Bộ trong tinh thần cả nước đã kiên cường chống giặc ngoại xâm Trong khi đó, triều đình lúc đầu còn cùng nhân dân chống giặc nhưng dần về sau càng tỏ ra ương hèn, thỏa hiệp và cuối cùng là đầu hàng giặc Với Hòa ước ngày 5-06-1862, triều đình đã nhượng ba tỉnh miền Đông cho Pháp Đến

1867, Pháp cưỡng chiếm luôn ba tỉnh miền Tây Năm 1874, lại kí Điều ước và thương ước nhường toàn bộ Nam Kỳ cho Thực dân Đền Hòa ước 1884, chủ quyền của Việt Nam nằm hoàn toàn trong tay Thực dân Pháp, Việt Nam trên thực tế đã không còn là một nước độc lập Với việc chia Việt Nam ra ba đơn vị hành chính: Bắc kỳ, Trung kỳ

và Nam kỳ, chính sách chia để trị của Thực dân Pháp được cụ thể hóa Riêng Nam kỳ chính thức trở thành thuộc địa của Pháp với những đặc điểm riêng về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội so với Bắc và Trung kỳ

Sau khi chiếm được Nam kỳ, Thực dân Pháp đã tiến hành thiết lập chính quyền quân sự, đứng đầu là các đô đốc, các chủ tỉnh và phủ huyện cũng đều là những sĩ quan Pháp Năm 1880, chúng đặt chức thống đốc và Hội đống quản hạt Nam Kỳ được thành lập gồm 12 ủy viên người Pháp và 6 ủy viên người Việt Với âm mưu biến Nam Kỳ thành bàn đạp để tấn công Bắc và Trung Kỳ, Pháp đã tăng cường chiêu mộ binh lính

để chuẩn bị lực lượng Đồng thời, chúng cũng không ngừng mở mang giao thông, xây

Trang 11

dựng những cơ sở vật chất nhằm đẩy nhanh phát triển kinh tế Nam kỳ trong giới hạn của một khu vực thuộc địa phục vụ cho chính quốc

Trước nạn xâm lược, nhân dân miền Nam vẫn ngấm ngầm hoặc công khai phản kháng Chẳng hạn: từ sau năm 1867- 1880 có nhiều cuộc khởi nghĩa cưỡng lại triều đình và chống Pháp như: Hồ Huấn Nghiệp, Trương Định, Trần Thiện Chánh…Đến

1885 là cuộc khởi nghĩa của nhân dân 18 thôn Vườn Trầu Những cuộc khởi nghĩa này

do nhiều nguyên nhân dều đi đến thất bại nhưng đã nêu cao tinh thần yêu nước nồng nàn của nhân dân Việt Nam trước nạn ngoại xâm Sau cái chết của Phan Đình Phùng (1896), đánh dấu sự thất bại hoàn toàn của phong trào Cần Vương chống Pháp kéo dài

từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thề kỷ XX thì cách mạng Việt Nam cũng rơi vào giai đoạn khủng hoảng trầm trọng về đường lối cứu nước Tuy vậy không có nghĩa là lòng yêu nước của dân tộc ta đã bị dập tắt Mà nó đang âm ỉ trong lòng và chờ đợi ngọn gió mới

để bùng lên mạnh mẽ

Đến đầu thế kỷ XX, ngọn gió từ cuộc vận động Duy tân ở Trung Quốc và Nhật Bản

đã thổi đến Việt Nam thông qua những “tân thư, tân văn” Giới tri thức Việt Nam nhanh chống được tiếp xúc với những học thuyết mới mẽ như: triết học tiến hóa luận của Đac-uyn, những tư tưởng của Xpenxơ, Nớtxlây, những lí luận xã hội của: Rutxô, Môngtetxkiơ, Vonte…Những điều này đã ảnh hưởng sâu sắc đến tư tưởng của những nhà yêu nước Việt Nam tạo nên phong trào Duy Tân mạnh mẽ

Ngay từ khi phong trào Duy Tân phát khởi, những người lãnh đạo đã chú ý đến mảnh đất Nam Kỳ - một vùng đất thuộc địa đã sớm được ảnh hưởng một chế độ tương đối

rộng rãi hơn Trung và Bắc Kỳ, “nơi mà những tư tưởng dân chủ tư sản đã có đủ thời gian

thấm vào mảnh đất này”, lại có được một bộ phận tiến bộ trong tầng lớp tư sản mới lên

mâu thuẫn với lợi ích tư bản Pháp và lợi ích của họ còn ít nhiều gắn bó với lợi ích với dân tộc Năm 1903, Phan Bội Châu đến vùng đất Thất Sơn (Châu Đốc) để gặp nhà sư họ Trần

và đồng thời tập hợp những lực lương còn sót lại của phong trào Cần Vương Nhưng lực lượng này không đủ khả năng để chuyển sang đường hướng Duy Tân của cụ Phan Bù lại trong chuyến đi này Phan Bội Châu đã tìm được một lực lượng yêu nước mạnh mẽ Họ là những tri thức tiến bộ hết lòng tham gia và ủng hộ phong trào Duy Tân Đó là: Đặng Thúc Liêng, Hội đồng Nguyễn Thành Hiến, Trần Chánh Chiếu, Trương Duy Toản…

- 8 -

Trang 12

Đầu năm 1905, phong trào Đông Du mở đầu bằng cuộc đi sang Nhật đầu tiên của Phan Bội Châu, Tăng Bạt Hổ, kế đó là một số chí sĩ khác trong đó có Cường Để

Năm 1907, Phan Bội Châu soạn Ai cáo Nam Kỳ phụ lão để làm tài liệu vận động đồng

bào Nam Kỳ Phong trào Đông Du phát triển một cách mạnh mẽ ở Nam Kỳ vào khoảng những năm 1907-1908, trong số du học sinh cả nước khoảng 200 riêng Nam

kỳ đã chiếm hết 100 Lúc này ở Nam Kỳ có nhiều tổ chức mà người Pháp gọi là “Hội kín” Hội thu hút mạnh mẽ nhân dân ở chỗ đối tượng trừng trị của hội là bọn quan lại tham nhũng và cường hào gian ác, bọn tay sai của Thực dân Cơ sở của hội mạnh mẽ nhất là ở các vùng như: Gia Định, Chợ Lớn, Biên Hòa, Thủ Dầu Một, Bến Tre và Châu Đốc Trong các hoạt động của hội nổi bật nhất là cuộc khởi nghĩa tiến công vào Sài Gòn của 600 người vào ngày 23 rạng 24-3-1913 do Nguyễn Hữu Trí và Phan Xích Long lãnh đạo và cuộc nổi dậy tại khám lớn Sài Gòn vào đêm 14 rạng 15-2-1916 Mặc

dù những phong trào này đều bị Thực dân Pháp nhanh chống dập tắt nhưng âm vang của nó vẫn tác động mạnh mẽ đến không khí chung của buổi đương thời

1.1.1.2 Về mặt xã hội :

Sau khi chiếm được Nam Kỳ Lục tỉnh, Pháp tăng cường khai thác thuộc địa để phục vụ mẫu quốc Sau chương trình khai thác thuộc địa của Paul Doumer và Albert Sarrut đã làm thay đổi sâu sắc xã hội Việt Nam nói chung và Nam Kỳ nói riêng

Xã hội Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX ngoài những giai cấp của xã hội cũ

đã bắt đầu xuất hiện một số giai cấp, tầng lớp mới làm cho cơ cấu xã hội trở nên vô cùng phức tạp Một bộ phận nông dân bị bần cùng hóa phải từ bỏ ruộng vườn ra thành thị kiếm sống bằng đủ mọi nghề, hình thành nên tầng lớp dân nghèo thành thị với đời sống nghèo khổ, bấp bênh Những người tham gia hoạt động kinh tế ở các lĩnh vực thương mại, sản xuất với các tiệm buôn, vựa lúa, cơ xưởng sản xuất lớn nhỏ tùy theo qui mô và sự thành đạt mà trở thành tầng lớp tư sản và tiểu tư sản Tầng lớp tư sản Việt Nam ra đời trong một hoàn cảnh đặc biệt: Là một đứa con ốm yếu sinh sau đẻ muộn từ chế độ Thực dân nhưng tư sản Việt Nam lại bị chính tư sản Pháp chèn ép Giai cấp này mang nặng tính chất mại bản, nặng thương nghiệp, không lìa bỏ được lối

sống bốc lột phong kiến Trong các tầng lớp xã hội phức tạp ấy, tri thức tiểu tư sản giữ

một vai trò đặc biệt quan trọng về lĩnh vực văn hóa Việc thay đổi hình thức thi cử từ năm 1906 đã quyết định chiều hướng phát triển của tầng lớp này Sự tiếp xúc văn hóa

Trang 13

phương Tây, cách đào tạo và thi cử mới đã hình thành nên một đội ngũ tri thức mới khác hẳn với tầng lớp Nho sĩ trước kia Những người này đa phần xuất thân trí thức Tây học, họ vốn dễ dàng tham gia làm việc trong chế độ thực dân Ở đó, họ có điều kiện tiếp xúc với những thông tin về chính trị, văn hóa, xã hội, đặc biệt là những luồng tư tưởng mới từ ngọn gió phương Tây và cả những tác phẩm Âu Tây Tù đó, họ có những cách nhìn tương đối mới mẽ trong cách nghĩ, cách sống, thị hiếu, quan điểm thẩm mĩ…Và chính họ là lực lượng làm thay đổi đáng kể bộ mặt văn học của dân tộc Họ chính là những người đầu tiên dám tiếp nhận cái mới để từng bước theo kịp với những thay đổi của thời đại

Sau những chính sách “khai hóa”, “đồng hóa” của Thực dân Pháp, những năm đầu thế kỷ XX, cuộc sống ở thành thị Việt Nam đã có nhiều biến đổi Đặc biệt là ở Nam Kỳ, quá trình đô thị hóa đã diễn ra nhanh chóng ở Sài Gòn - Chợ Lớn Dân số đô thị ngày càng đông, xã hội càng phức tạp khi mà thành phần dân cư càng ngày càng đa dạng với những giai cấp, tầng lớp khác hẳn trước kia Sự ra phát triển của đô thị đã hình thành nên những con người mới với nếp sống mới, cách nghĩ mới và thị hiếu mới Đến lúc này, những sinh hoạt văn hóa truyền thống cũng như nền văn chương đài các Nho gia đã kém phần hấp dẫn, khi mà giữa cuộc sống đua chen, cạnh tranh hối hả của nền kinh tế hàng hóa, người ta cần những gì hiện thực hơn, gần gũi hơn, bình dị hơn Chính vì vậy, trong thị hiếu văn chương cũng bắt đầu có những thay đổi Người ta bắt đầu cần đến một nền văn chương chứa đựng nhiều yếu tố thông tục và bình dân, đáp ứng được nhu cầu thưởng thức của đại đa số công chúng bình dân thành thị Độc giả lúc này không chỉ biết tiếp nhận những gì nhà văn hướng đến mà họ còn đề ra những yêu cầu mà nhà văn phải cố gắng đáp ứng nếu muốn tồn tại Chính tầng lớp công chúng thành thị đã góp phần thúc đẩy các tác giả mạnh dạn tìm đến cái mới, cái phù hợp với bước tiến của thời đại

1.1.1.3 Chính sách giáo dục

Ngay sau khi đặt nền cai trị lên vùng đất Nam kỳ, bên cạnh những hoạt động về chính trị, kinh tế…Pháp còn đặc biệt chú ý về lĩnh vực văn hóa giáo dục Với ý định triệt tiêu ảnh hưởng của giới sĩ phu cũng như nền giáo dục, văn hóa Nho gia truyền thống, Pháp đã dần dần loại bỏ chữ Hán và chế độ thi cử cũ Thay vào đó, chúng dần thiết lập một hệ thống giáo dục mới dùng chữ Pháp và chữ Quốc ngữ Ngày 21-09-

- 10 -

Trang 14

1861, phó thủy sư đô đốc Sacner (Charner) ký nghị định mở trường Pháp - Việt đầu tiên ở Nam Kỳ mang tên Bá Đa Lộc Ngày 16-07-1864, Pháp cho mở trường Thông ngôn ở Sài Gòn…Những thay đổi của Pháp trong việc thi cử cũng như chính sách

“nhồi sọ” với tham vọng là dạy cho người Việt nói tiếng Pháp rồi đi đến bị đồng hóa trong văn hóa Pháp, đã vấp phải sự phản ứng mạnh mẽ của giới sĩ phu và nhân dân yêu nước Do đó, mặc dầu rất nhiều trường Pháp Việt ra đời nhưng rất ít con em người Việt theo học Chính vì vậy, ngày 17-11-1874, Pháp ban hành chế độ giáo dục mới với những điều khoản nhằm khuyến khích dân Việt theo học như: học sinh được học tự do, miễn phí tại các trường thuộc địa, các trường dạy chữ Nho nếu dạy thêm Quốc ngữ thì thưởng mỗi năm thêm 20 Franc…Đến ngày 06-04-1878, nghị định của Thống đốc Nam kỳ quy định: các loại giấy tờ, văn kiện đều phải dùng tiếng Annam bằng mẫu tự Latinh và những người được tuyển dụng vào guồng máy hành chánh đều phải biết Quốc ngữ hoặc tiếng Pháp… Với những điều kiện ấy, Pháp thu hút được một số lượng lớn những người tham gia học hành, thi cử theo chế độ giáo dục mới của Pháp Đến ngày 17-03-1879, sở Học chính Nam Kỳ ra đời đã đánh dấu một chặng đường mới của mảnh đất Nam Kỳ nói riêng, Việt Nam nói chung Một lực lượng trí thức Tây học hùng hậu đã ra đời Trong những người ấy, có những kẻ chạy theo bả danh lợi mà bán nước cầu vinh, chà đạp lên những luân lý truyền thống nhưng vẫn có những người luôn hướng lòng về quê hương, về tổ quốc Bộ phận tiến bộ trong tầng lớp này đã góp phần không nhỏ vào sự nghiệp chung của dân tộc mà đặc biệt là lĩnh vực văn chương Chính bộ phận này có điều kiện tiếp thu nền văn hóa phương Tây với những phương thức sáng tác mới, tư tưởng mới…trong một chừng mực nào đó đã góp phần làm thay đổi diện mạo nền văn học dân tộc buổi đương thời Trên cơ sở kế thừa những giá trị truyền thống và tiếp thu những giá trị tiến bộ của nền văn hóa mới, họ đã từng bước đưa nền văn học dân tộc tiến lên con đường hiện đại hóa

1.1.2 Những điều kiện thuận lợi cho sự hình thành tiểu thuyết Quốc ngữ Nam Bộ ở những năm đầu thế kỷ XX

1.1.2.1 Chữ Quốc ngữ:

Ra đời từ thế kỷ XVII, chữ Quốc ngữ là thành quả tập thể của nhiều giáo sĩ phương Tây Trong đó công lao lớn nhất phải kể đến Alexandre de Rhodes Nó ra đời

Trang 15

do yêu cầu truyền đạo của các phái bộ truyền giáo khi họ từ phương Tây đến Việt Nam nên lúc đầu nó chỉ tồn tại trong cộng đồng Thiên chúa giáo Nhưng chính cái ưu điểm

dễ học, dễ nhớ mà các nhà truyền giáo đã lưu ý khi sáng tạo một thứ chữ thuận lợi cho việc truyền đạo đến người dân Việt đã biến chữ Quốc ngữ thành một công cụ đắc lực cho mưu đồ “đồng hóa” của Pháp Do đó, sau khi chiếm được Nam Kỳ, chúng đã cố gắng loại bỏ chữ Hán và chế độ thi cử cũ, đồng thời ép người Việt học chữ Pháp và Quốc ngữ để mong dễ bề cai trị Lúc đầu, trước sự áp đặt của Thực dân, chữ Quốc ngữ

bị dân ta xem như thứ chữ của quân xâm lược, đặc biệt là sự phản ứng mạnh mẽ - “tẩy chay” của lực lượng nhà Nho và những người yêu nước Nhân dân ta đã quyết lòng không cho con em theo học ở các trường Pháp Việt Đến những năm đầu thế kỷ XX thì tình hình phát triển theo chiều hướng khác Lúc này, Thực dân Pháp ngoài những chính sách khuyến khích đã dùng các biện pháp cưỡng chế mạnh mẽ để mong thực hiện nhanh chóng chính sách đồng hóa Chúng bắt buộc thiếu niên Việt Nam phải đi học mà lúc này hệ thống trường dạy bằng chữ Pháp và Quốc ngữ đang dần chiếm ưu

thế Mặt khác “theo nghị định ngày 6-4-1878 của Thống đốc Nam Kỳ Lafont: kể từ

ngày 1-1-1882, các loại giấy tờ, văn kiện trong guồng máy hành chính đều phải dung tiếng Annm bằng mẫu tự Latinh Người được tuyển dụng vào phải biết Quốc ngữ”[3;

tr.3] Do đó những người biết chữ Pháp và Quốc ngữ đều rất dễ dàng tìm được công việc có địa vị trong xã hội, một số khác lại được pháp cử đi học ở nước ngoài như: Nguyễn Trọng Quản, Diệp Văn Cương…Vì vậy, có thể nói một bộ phân không ít người đã tìm đến với thứ chữ này vì lợi ích mưu sinh

Mặt khác, chữ Quốc ngữ với ưu thế dễ đọc, dễ viết, không theo hướng “chữ

nghĩa” Nho gia mà theo hướng nôm na bình dị, câu văn dùng “tiếng Annam ròng”, trơn

tuột như lời nói, đã dần chiếm được sự quan tâm của người dân Việt Nam Đặc biệt, những nhà Nho tiến bộ đã sớm nhìn thấy chữ Hán và hệ thống thi cử cũ là những vật cản đến việc tiếp thu những luồng tư tưởng tiến bộ mới, đến công cuộc Duy tân của dân tộc Nên từ sự phản ứng gay gắt họ bắt đấu cổ động mọi người dùng chữ Quốc ngữ như một công

cụ giao tiếp tiện ích và hiện đại:

“Trước hết phải học ngay chữ Quốc ngữ Khỏi đôi đường tiếng, chữ khác nhau

Trang 16

Chữ ta, ta đã thuộc làu Nói ra nên tiếng, viết câu nên bài”

( Nguyễn Phan Lãng - Đông kinh nghĩa thục)

Tác giả Văn minh tân đọc sách cũng khẳng định: “Phàm người trong nước đi học nên lấy

chữ Quốc ngữ làm phương tiện đầu tiên, để cho trong vài ba tháng đàn bà, con trẻ đều biết chữ …Đó thực là bước đầu mở mang trí khôn vậy”

Với những điều kiện như vậy, chữ Quốc ngữ dần dần chiếm ưu thế so với chữ

Hán và Nôm Nó bắt đầu thực hiện vai trò là một “chất xúc tác hữu hiệu của quá trình

Việt Nam hội nhập văn hóa phương Tây” để dần đưa nền văn học dân tộc vào quá trình

hiện đại hóa Đây là phương tiện để các trí thức tân học dần tiến gần đến với nền văn chương nôm na, bình dân mà tiểu thuyết Quốc ngữ là bông hoa đầu mùa đầy hương sắc

1.1.2.2 Báo chí:

Báo chí chính là phương tiện đầu tiên phổ biến chữ Quốc ngữ ở Việt Nam Trước khi Pháp xâm lược, người Việt chưa biết đến báo chí Chỉ khi Pháp sang xâm lược và thiết lập nền cai trị ở Đông Dương, xuất phát từ nhu cầu sinh hoạt của họ ở thuộc địa và cần một phương tiện làm cấu nối phổ biến các thông tin, nghị định giữa chính quyền Thực dân và nhân dân thuộc địa nên họ mới đưa báo chí đến Việt Nam

Ngày 15-04-1865, Gia Định báo - tờ báo Quốc ngữ đầu tiên ra đời, đánh dấu sự khởi đầu của lịch sử báo chí Việt Nam Sau đó, lần lượt xuất hiện: Phan Yên báo (1898),

Thông Loại khóa trình (1888), Nông cổ mín đàm (1901), Đại Việt tân báo (1905), Lục

Tỉnh tân văn (1907)…

Ngay từ đầu thế kỷ XX, Sài Gòn - Gia Định đã trở thành những đô thị sầm uất, trung tâm của mọi hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội, chính trị…Đây cũng chính là mảnh đất màu mỡ của báo chí Việt Nam nói chung, Nam Kỳ nói riêng buổi sơ khai Đến lúc này, chữ Quốc ngữ đã đựơc thừa nhận như một ngôn ngữ của dân tộc nên báo chí Quốc ngữ cũng trở thành một món ăn tinh thần của nhiều tầng lớp độc giả ở Nam

Kỳ Báo chí Quốc ngữ phục vụ mọi tầng lớp, thành phần xã hội, nó như “một cuốn bách khoa” mà người ta có thể tìm thấy mọi thông tin ở mọi lĩnh vực : văn học, giáo

Trang 17

dục, y tế, khoa học…Ngôn ngữ lại gần gũi lời ăn tiếng nói của đông đảo công chúng độc giả bình dân…Do đó, nó dễ dàng được chào đón và tiếp nhận một cách nồng nhiệt ở Nam kỳ trong giai đoạn sơ khai

Có thể nói báo chí còn là “một bà đỡ mát tay” của nền văn học Nam Bộ nói

chung và tiểu thuyết Quốc ngữ nói riêng Đây chính là nơi phổ biến và lưu giữ những tác phẩm văn chương Quốc ngữ khi mà hoạt động in ấn, xuất bản chưa có ở Nam Kỳ Hầu hết những tác phẩm văn chương Quốc ngữ đều được đăng trên báo chí hoặc để lại những dấu ấn thông qua những bài giới thiệu sách, phê bình văn học tranh luận văn

học trên báo Với cuộc thi viết tiểu thuyết đầu tiên trên báo Nông cổ mín đàm vào số

262, ngày 23-10-1906 với nhan đề Quốc âm thí cuộc, báo chí đã chính thức khai sinh

nền tiểu thuyết Quốc ngữ ở Nam kỳ Ở buổi đầu, tiểu thuyết Nam Bộ thường xuất hiên dưới dạng các bài viết đăng nhiều kỳ trên báo Sau đó, mới được xuất bản thành sách nếu tạo được một chỗ đứng trong lòng độc giả Báo chí phát triển đã tạo điều kiện hình thành nên một bộ phận những người chuyên viết văn và viết báo Báo chí cũng chính

là môi trường khắc nghiệt để họ rèn luỵện, nâng cao ngòi bút của mình để có thế đáp ứng được nhu cầu thị hiếu ngày càng cao của độc giả Cho nên ta không phải ngạc nhiên khi phần lớn những nhà văn Nam Bộ đều xuất thân từ nghề viết báo như: Trần Chánh Chiếu, Nguyễn Chánh Sắt, Lê Hoằng Mưu, Phú Đức, Bửu Đình…Như vậy báo

chí ngay từ buổi đầu đã là một: “mảnh đất ươm mầm cho một thể loại văn học mới

phát triển, đơm hoa kết trái: đó là tiếu thuyết viết bằng chữ Quốc ngữ” [3; tr.101]

1.1.2.3 Dịch thuật:

Khoảng những năm cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX, cùng với sự hình thành từng bước của chữ Quốc ngữ, văn học dịch đã từng bước phát triển ở miền Nam Những bản dịch bằng chữ Quốc ngữ của các tác phẩm văn học cận đại, tác phẩm của Trung Hoa và Pháp đã sớm trở thành món ăn tinh thần độc đáo của công chúng độc giả trước khi những sáng tác bằng Quốc ngữ chính thức ra đời

Mở đầu của phong trào này là việc các nhà văn Nam Bộ dịch những tác phẩm

chữ Nôm sang chữ Quốc ngữ như: Janneaux phiên âm Lục Vân tiên sang Quốc ngữ năm 1873; Trương Vĩnh Ký với: Đại Nam quốc sử diễn ca (1875), Kim Vân Kiều (1878), Phan Trần (1889), Lục Vân Tiên (1889), Lục súc tranh công (1887), Gia

Trang 18

huấn ca (1888)…Huỳnh Tịnh Của với: Chiêu Quân cống Hồ (1906), Thoại Khanh - Châu Tuấn (1906), Bạch Viên Tôn Các (1906)…Bên cạnh đó, văn xuôi chữ Hán cũng được phiên âm sang Quốc ngữ như: một số truyện trong Truyền kỳ mạn lục được Trần Đại Học dịch và in trên Gia Định báo Sau đó, những sách Hán văn cũng được các tác giả dịch sang Quốc ngữ như: Trương Vĩnh Ký dịch Trung dung (1875), Mạnh thượng tập chí (1875), Sơ học vấn tân (1877), Đại học (1877)…Huỳnh Tịnh Của với Chuyện giải buồn (1885)…Ngoài ra, trong giai đoạn này cần phải kể đến

phong trào dịch truyện Tàu rầm rộ ở Nam Kỳ với những “tay dịch thuật trứ danh” mà

Phụ nữ Tân văn bình chọn như: Trần Phong Sắc, Nguyễn Chánh Sắt, Nguyễn An

Khương …Truyện Pháp: dịch những truyện ngụ ngôn của LaFontaine (1885), Tô Lê Mặc phiêu lưu kí (1887), Truyện nhi đồng Francinet (1885), Robinson trên đảo hoang (1886), Tiền căn báo hậu (1907), Ba chàng ngự lâm (1914)…

Phong trào dịch thuật ở Nam kỳ được thúc đẩy bởi nhiều nguyên nhân Thứ nhất

là do sự thiếu vắng các tác phẩm văn học trong buổi giao thời, chuyển giao giữa nền văn học mới và cũ Khi mà nền văn học cũ đã gần rơi vào giai đoạn kết thúc nhiệm vụ trên văn đàn mà nền văn học mới lại chưa đủ khả năng sản sinh ra những đứa con tinh thần mạnh khoẻ Thứ hai là do sự thay đổi trong lực lượng quần chúng độc giả Lực lượng độc giả lúc này không chỉ là những nhà Nho đạo mạo, những người am tường chữ nghĩa bác học mà là những bình dân thành thị Do đó thị hiếu, quan điểm thẩm mĩ của họ cũng khác trước Lúc này nền văn học đài các vốn giành cho tầng lớp trên cuả

xã hội truyền thống không còn được ưa chuộng mà người ta cần có một nền văn học mới đậm chất bình dị, dân dã Một động lực quan trọng của phong trào dịch thuật ở Nam Kỳ là chủ trương của Pháp muốn dân ta dần làm quen và chấp nhận chữ Quốc ngữ cũng như nền văn hóa, văn chương mới và dần tách khỏi ảnh hưởng của nền văn hóa, văn chương truyền thống để dễ bề đồng hoá, cai trị

Dù động lực thúc đẩy là nguyên nhân nào đi nữa thì việc dịch thuật cũng đã góp một phần quan trọng vào nền văn học Nam kỳ nói chung, tiểu thuyết Quốc ngữ nói riêng Đó là trong quá trình dịch thuật các nhà văn Nam Bộ đã vay mượn một vốn từ phong phú vào nền văn học dân tộc, học hỏi được những cách thức sáng tác mới từ những tác phẩm phương Tây cũng như những tác phẩm hiện đai của Trung Quốc Từ mảnh đất dịch thuật, các nhà văn Nam Bộ đã từng bước từ việc dịch thuật để đi đến

Trang 19

phóng tác và cuối cùng là sáng tác Do đó, ta thấy trong sự nghiệp văn chương của mình các nhà văn Nam Bộ thường bắt đầu bằng việc dịch thuật rồi phóng tác những tác phẩm nước ngoài trước khi bắt tay vào sáng tác như: Nguyễn Chánh Sắt, Hồ Biểu Chánh… Đó cũng là môi trường để họ “ươm mầm”, thử nghiệm cho công việc sáng tác sau này

1.1.2.4 Nghề in và hoạt động xuất bản:

Trước khi Pháp sang xâm lược, lúc chữ Hán và chữ Nôm đang thịnh hành, ở Nam Bộ và cả nước nói chung việc lưu giữ các văn bản bằng các bản khắc gỗ hoặc dùng những chữ rời của Trung Quốc rồi sắp dưới dạng thủ công Đến cuối thế kỷ XIX, cùng với bước chân sang xâm lược, Pháp cũng đồng thời mang sang Sài Gòn những máy in với kỹ thuật in hiện đại Năm 1862, nhà in đầu tiên của chính quyền thuộc địa được thành lập tại Sài Gòn là Impériale; đến 1864, nhà in Nhà Chung, sau đổi là nhà

in Tân Định, của giáo phận Nam Kỳ ra đời mở ra một bước ngoặc mới cho nền văn học Nam Kỳ Mục đích ban đầu của các nhà in Công giáo là xuất bản những kinh sách phục vụ cho việc truyền đạo bằng mẫu tự La tinh, nhưng thực tế các nhà in này đã in một số lượng lớn nhiều thể loại khác Các nhà in lúc đầu chủ yếu in tài liệu và bào chí, nhưng dần về sau in cả các sách nghiên cứu, phê bình, truyện Tàu, truyện Tây, truyện Nôm dịch ra Quốc Ngữ và cả những sáng tác bằng chữ Quốc ngữ Cụ thể, trong quá trình hoạt động, nhà in Tân Định ngoài các kinh sách còn in:

-Từ điển: Dictionnaire Annamite - Francais (1898), Nouveau dictionaire- Annamite

(1916)

-Biên khảo: Đại Nam Việt quốc triều sử kí (1879), Bổn dụng phép toán (1889), Văn chương Annam (1933)…

-Sách đạo đức: Phong hóa điều trần (1884), Cờ bạc nha phiến (1909)…

-Sách gia chánh, giải trí: Bổn dạy nấu ăn theo phép Tây (1880)…

-Tác phẩm: Cổ tích tạp bút, Nhị Độ Mai, Lục súc tranh công…

Nghề in là một nghề mới mẽ nhưng thu nhiều lợi nhuận Do đó, thoạt đầu chỉ có một số ít cơ sở do người Pháp và các tổ chức Công giáo làm chủ nhưng dần về sau xuất hiện một số nhà in của người Việt và người Hoa làm chủ Việc in ấn ngày càng

Trang 20

tiến bộ hơn đã góp phần phổ biến rộng rãi các tác phẩm văn học đến quần chúng độc giả

Song song với sự phát triển của nghề in là hoạt động xuất bản ở Nam Kỳ Không như nền văn chương Trung đại xem việc sáng tác tác phẩm ra như là để thỏa cái thú vui tao nhã Các tác giả thường chỉ để riêng mình thưởng thức hoặc đem bàn luận cùng bạn tri âm Còn ở nền văn chương đầu Quốc ngữ thế kỷ XX thì việc viết văn đã được xem một cái nghề Các tác phẩm được xuất bản và phổ biến rộng rãi trên các báo Đến khi phong trào viết

và đọc tiểu thuyết bắt nguồn trên báo chí với những thành tựu đáng kể, nhà in và nhà xuất bản cũng đã nhanh chóng nắm bắt thị hiếu của độc giả và trở thành nơi lưu hành, phổ biến

tác phẩm chữ Quốc ngữ Nhiều nhà xuất bản lần lượt ra đời như: F.H.Schneider de

I’Union, Nguyễn Văn Viết, Xưa Nay, Bảo Tồn, Đức Lưu Phương, Tín Đức Thư Xã…đã

góp phần không nhỏ trong việc đưa tác phẩm đến độc giả và tạo động lực thúc đẩy các nhà văn sáng tác

1.2 Một số thành tựu:

1.2.1 Lực lượng sáng tác

Vùng đất Nam Bộ là vùng đất sanh sau đẻ muộn của Tổ quốc Kể từ khi Nguyễn Hoàng vào trấn thủ vùng đất Thuận Hoá (khoảng tháng 2-1558) và mở mang khu vực này thành một vùng phên dậu phía Nam Tổ quốc lo phòng thủ, chống chúa Trịnh ở Thăng Long Nhưng mãi đến đời chúa Sãi - Nguyễn Phước Nguyên mở rộng dần thế lực về miền Nam thì khu vực này mới bắt đầu được khai sinh Như vậy tính ra miền Nam chỉ trải qua hai thế kỷ khai sanh lập địa Tuy vậy, thành tựu văn học ở vùng đất này không thể không đáng trân trọng Ngay từ thế kỷ trước Nam bộ đã sản sinh ra một đội ngũ trí thức Hán Nôm hùng hậu với: Mạc Thiên Tích, Trịnh Liên San, Lê Bá Bình, Võ Trường Toản, Đặng Đức Truật, Chỉ Sơn Trịnh Hoài Đức, Nhử Sơn Ngô Gia Tịnh, Kỳ Sơn Diệp Minh Phụng, Phục Sơn Vương Kế Sinh, Hối Sinh Huỳnh Ngọc Uẩn, Lê Quang Định, Phan Thanh Giản, Nguyễn Đình Chiểu, Huỳnh Mẫn Đạt…Mặc

dù, số lượng không nhiều nhưng cũng đủ làm cho nền văn hoá Nam Bộ đậm đà bản sắc dân tộc

Đến những năm đầu thế kỷ XX, khi mà nền văn học Hán Nôm đang dần lùi bước trước gót giày xâm lược và chính sách cai trị của thực dân, thì cũng chính vùng

Trang 21

đất này lại là cái nôi để dòng văn học Việt Nam hiện đại ươm mầm, nảy lộc Chính lực lượng trí thức - những đứa con được đẻ ra từ chế độ giáo dục của thực dân ở Nam Kỳ -

đã trở thành một lực lượng sáng tác mới đầy sức sống Với sự tiếp xúc văn hoá phương Tây,

họ đã mạnh dạn tiếp thu cái mới trên nền tảng truyền thống để từng bước đưa nền văn học dân tộc tiến trên con đường hiện đại hoá

Nếu như ở cuối thế kỷ XIX, với những tác phẩm ghi lại những câu chuyện cổ

tích, dân gian bằng Quốc ngữ của Huỳnh Tịnh Của, Trương Vĩnh Ký…mà Truyện thầy Lazarô Phiền của Nguyễn Trọng Quản đã đánh dấu những bước tiến đột phá đầu

tiên của Quốc ngữ, thì đến những năm đầu thế kỷ XX với mốc thời gian 1910 - thời

điểm ra đời của Hoàng Tố Anh hàm oan (Trần Thiên Trung - Trần Chánh Chiếu) và Phan Yên ngoại sử tiết phụ gian truân (Trương Duy Toản), nền văn học Nam Kỳ nói

chung, tiểu thuyết Quốc ngữ Nam Bộ nói riêng đã có những chuyển biến to lớn Từ một vài tác phẩm ra đời thưa thớt lúc đầu thì dần về sau cả một khu rừng tiểu thuyết đã bắt đầu nở rộ Đặc biệt, ngay từ những năm 1924, 1925 văn chương Quốc ngữ đã đạt

đến sự phồn thịnh của nó khi mà “đương buổi bây giờ sách Quốc ngữ ở nước ta rất

phồn thạnh, mỗi ngày mỗi thấy xuất bản, ta cứ trông lên báo chương, tạp chí, bốn chữ

Giới thiệu sách mới tuần nào cũng có, thì đủ biết ngay”(Muốn cho quốc văn có gía trị ta phải làm thế nào?, Hồng Tiêu, Đông Pháp thời báo, số 210, ngày 29-10-1924)

[3 ;tr.126] Theo như thống kê của Bằng Giang trong khoảng 30 năm đầu của thế kỷ

XX có khoảng 128 tác giả và 211 tác phẩm nhưng thực tế con số này có thể hơn nhiều Trong khoảng 1910- 1932, hàng lọat tên tuổi các nhà tiểu thuyết thay nhau sáng rực trên bầu trời văn học như: Trần Chánh Chiếu, Trương Duy Toản, Lê Hoằng Mưu, Nguyễn Chánh Sắt, Hồ Biểu Chánh, Nguyễn Bửu Mộc, Nguyễn Văn Vinh, Nguyễn Thành Long, Bửu Đình, Nguyễn Ý Bửu…Các tiểu thuyết Quốc ngữ không chỉ phong phú về số lượng đầu sách xuất bản, tái bản mà còn ở dung lượng và chất lượng Nếu

Truyện thầy Lazarô Phiền của Nguyễn Trọng Quản không đến 30 trang, Hoàng Tố Anh hàm oan - Trần Thiên Trung, khoảng 45 trang…thì dần về sau với Mảnh trăng thu - Bửu Đình, Kim thời dị sử- Biến Ngũ Nhy, Ngọn cỏ gió đùa - Hồ Biểu Chánh, Người bán ngọc - Lê Hoằng Mưu…đã lên tới vài trăm trang Và các tác phẩm nếu lúc đầu còn e dè khi tiếp thu phương pháp sáng tác mới thì dần về sau có sự tiếp thu và vận dụng mạnh mẽ hơn Trong giai đoạn này cũng bắt đầu xuất hiện những lời nhận

Trang 22

định, phê bình và đánh giá khi mà văn chương đã chính thức được thừa nhận như là một cái nghề trong xã hội

1.2.2 Lực lượng độc giả

Với những chính sách “khai thác thuộc địa” về kinh tế, văn hoá, giáo dục của Pháp trong những năm đầu thế kỷ XX đã gây cho Việt Nam nói chung, Nam Kỳ nói riêng những biến động to lớn Nhưng nó cũng đã vô tình tạo ra những điều kiện thuận lợi cho dân tộc ta bước dần trên con đường hiện đại hoá Đặc biệt là trên lĩnh vực văn chương, khi mà một lực lượng dân chúng thành thị hùng hậu ra đời bên cạnh lực lượng trí thức tân học Chính lực lượng dân chúng thành thị là động lực mạnh mẽ để nhà văn Nam Bộ tiến dần đến nền văn chương nôm na, bình dân Họ không chỉ là đối tượng để các nhà văn sáng tác và không chỉ là người chỉ biết tiếp nhận mà họ còn là người đề ra những yêu cầu để các nhà văn điều chỉnh cách thức sáng tác của mình Ta thấy đây là giai đoạn mà rải rác trên các báo có những ý kiến đóng góp cũng như trao đổi giữa độc giả với các tác giả Đây cũng chính là động lực tiếp thêm sức mạnh để các nhà tiểu thuyết Quốc ngữ không ngừng trao dồi “ngòi bút” của mình để tiểu thuyết trở thành một món ăn tinh thần không thể thiếu trong đời sống quần chúng độc giả Các nhà văn như được tiếp thêm sức mạnh khi mà tác phẩm của mình được độc giả đón nhận nồng nhiệt Có thể nói, tiểu thuyết Quốc ngữ Nam Bộ đã có được một lực lượng độc giả vô cùng hùng hậu Sự tiếp nhận đánh giá của họ chính là nơi để các nhà văn kiểm tra và nâng cao năng lực, kỹ năng sáng tác của mình Đồng thời, đó cũng là lực lượng đề ra những yêu cầu để nhà văn mạnh dạn thay đổi quan điểm, tư tưởng cũng như phương thức sáng tác phù hợp với hoàn cảnh thời đại mới

1.3 Những đóng góp tiêu biểu của tiểu thuyết Quốc ngữ Nam Bộ ở những năm đầu thế kỷ XX

1.3.1 Phương diện nội dung:

1.3.1.1 Bức tranh về hiện thực cuộc sống

Thế kỷ XX là một thế kỷ có nhiều biến động Đây là lúc mà ý thức tư sản bắt đầu xuất hiện trong xu thế đấu tranh với đạo đức phong kiến Cái cũ chưa hoàn toàn mất đi

và cái mới cũng chưa đủ mạnh để phủ định, thay thế cái cũ Hiện thực cuộc sống luôn

Trang 23

từng ngày biến đổi vô cùng phức tạp khi mà con người bị đặt vào ranh giới lựa chọn: cũ hay mới, phương Đông hay phương Tây…

Nhà văn vốn là người rất tinh tế, nhạy bén trước cuộc sống nên họ không thể

làm ngơ trước buổi giao thời “Với ý thức không “tô điểm sai cảnh thực”, ý thức mô tả

“chân tình, chân cảnh”, khiến người ta nghe câu văn như trông thấy cảnh, tai nghe thấy người mà sinh ra cái lòng quan cảm giúp các nhà văn viết về xã hội tư sản hóa với những con người, tình huống, cảnh ngộ, sự việc cụ thể” (Huỳnh Thị Lan Phương,

giáo trình Văn học Việt Nam hiện đại 1, tr.38) Dù hiện thực trong các tác phẩm đa

phần được thể hiện qua mục đích đạo đức của các nhà văn - Nghĩa là nêu lên những hiện tượng, biến động đảo điên của xã hội nhằm cảnh báo cho nhân dân về mặt đạo lí Thế nhưng qua đó cũng đã giúp ta thấy được phần nào diện mạo xã hội buổi giao thời

Đó là một bức tranh về “một xã hội náo nhiệt, xô bồ mà đồng tiền tư sản, lối sống tư

sản, đạo đức tư sản đang dần chiếm địa vị ưu thế ở thành thị” còn ở nông thôn thì bọn

địa chủ, quan lại, những kẻ quyền thế…câu kết với nhau mà bóc lột, hà hiếp dân nghèo với những thủ đoạn tinh vi và tàn bạo hơn Các nhà tiểu thuyết Nam Bộ đã dựng lên bức tranh hiện thực cuộc sống vô cùng phong phú và phức tạp với đủ mọi hạng người trong mọi hoàn cảnh sống Bằng vốn sống phong phú và sự tinh tế, nhạy bén các nhà văn đã góp phần thể hiện rõ diện mạo chung của toàn xã hội Nam Kỳ trong buổi giao thời khi mà luồng gió tư tưởng Âu Mỹ đang tấn công thành thị và len dần vào nông thôn làm đảo lộn mọi trật tự, giá trị truyền thống

Nguyễn Chánh Sắt với Nghĩa hiệp kỳ duyên - câu chuyện về một người giàu có

lớn là Trịnh Thế Xương, sự nghiệp đáng trăm muôn, vợ mất sớm để lại một đứa con gái tên Trịnh Phương Lang trong cơn hỏa hoạn đã bị lạc mất lúc sáu tuổi Từ đó biệt tích vắng tăm ngót đã 12 năm Ông đăng báo tìm con nhưng lại bị bọn Lâm Trí Viễn

và Đào Phi Đáng nhờ thủ thuật tạo bết son giả của Cao Quấc Thủ đã âm mưu mạo

nhận Trịnh Phương Lang nhằm chiếm đoạt gia tài; trong Lòng người nham hiểm - câu

chuyện về gia đình quan Huyện Nguyễn Trọng Luận ở Vĩnh An Hà vốn “thanh liêm

cang trực, giàu chẳng sợ, khó chẳng khinh” vì muốn giúp bạn mà “bảo lãnh liên can”

chịu “biến mãi gia sản để trừ đủ số nợ 5000 đồng”, còn bạn ông là Phan Mẫn Đạt đang buôn bán thuận lợi “chẳng dè vận thời điên đảo, phú quí tợ phù vân, một nhà

buôn vốn liếng ước 5, 3 muôn, mà trong giây phút hóa ra tro bụi”… Tất cả đếu phản

Trang 24

ánh khá trung thực một vài khía cạnh của hiện thực xã hội Nam Bộ những năm đầu thế kỷ

XX Đó là xã hội buổi giao thời, đang trên con đường tư sản hóa đã làm đảo lộn cuộc sống của nhiều gia đình, thay đổi nhiều thân phận nhất là đối với tầng lớp quan lại, trung lưu - những đứa con còn sót lại của chế độ cũ

Tác phẩm Ai lỗi lầm của Tuấn Anh thông qua mối tình của Cao Hoài Châu và Mười

Cầm, đã dựng lên bức tranh xã hội mà trong đó không ít những thanh niên chạy theo lối sống Âu Tây, tự do luyến ái thái quá đã vày đạp lên luân thường đạo lí ngàn đời của tổ tiên mà chẳng giúp ích gì cho đời

Nguyễn Bửu Mộc với Mạng nhà nghèo đã dựng lên bức tranh nông thôn mà ở

đó cuộc sống của dân nghèo vô cùng cơ cực, bị khinh rẻ, ức hiếp thông qua gia đình Năm Vạn - Thị Bần, còn bọn có quyền có thế như Hương chủ Phồn, Diệt Tộc, Hương chánh Cò…độc ác, ỷ vào quyền thế mà chà đạp lên nhân nghĩa, khinh bạc kẻ nghèo

hèn Trong Cô giáo Yến Hoa luỵ vì tình, tác giả đã miêu tả cuộc đời của Yến Hoa vì

những ham mê, đua đòi theo lối sống mới đã xô đẩy cô từ một tầng lớp trên xã hội được trọng vọng xuống tận hố sâu tội lỗi Qua đó, tác giả đã phản ánh hiện thực xã hội khi mà lối sống Âu Tây đã làm không ít trí thức bị tuột dốc thảm hại về mặt đạo đức, phẩm chất

Nguyễn Ý Bửu với Cô Ba Tràh đã tao nên một bước đột phá mới khi nhân vật chính

là một cô gái điếm nổi tiếng có thật ở Sài Gòn những năm đầu thế kỷ XX Tác giả đã khai thác đời tư của một cô gái vốn đẹp người, đẹp nết đã bị dòng đời đẩy đưa vào cuộc đời tội lỗi cuối cùng chết trong sự cô đơn, bệnh tật, nghèo khổ

Trong số các nhà văn cùng thời, có thể nói Hồ Biểu Chánh là người đóng góp một phần vô cùng quan trọng vào nền văn học Quốc ngữ Nam Kỳ nói riêng, Việt Nam nói chung trong buổi sơ khai Trong cuộc đời của mình, ông viết rất khỏe - gần 70 tiểu thuyết, và mỗi một quyển là một bức tranh phản ánh độc đáo bộ mặt vùng quê mà ông

đi qua Đó là Cà Mau, Bến Tre, Vĩnh Long, Trà Vinh…Hồ Biểu Chánh bằng sự quan sát tinh tế đã khai thác hiện thực cuộc sống bằng tất cả sự bề bộn, sôi động Đó là cuộc sống thành thị với bọn thông ngôn, ký lục: sợ sệt quan Tây, bắt nạt dân lành, xem nhẹ

nhân nghĩa chạy theo tiền tài như: thầy thông Phong trong Thầy thông ngôn, Phùng Sanh trong Vì nghĩa vì tình…Giới thượng lưu trí thức sống phong lưu, hưởng thụ

Trang 25

trong Thầy Chung trúng số qua nhân vật Lợi, Điểu và đám bạn của thầy

Chung…Những thị dân nghèo thành thị lại sống chui rúc trong những xóm nghèo “ổ

chuột” trong Vì nghĩa vì tình Còn ở nông thôn, bọn địa chủ độc ác, tham lam như: Vĩnh Thái trong Khóc thầm; bà Cai Hiếu, cậu Hai Nghĩa trong Con nhà nghèo…Bọn hương

chức, hội tề, có quyền có thế câu kết với nhau chà đạp lên luân thường, đạo nghĩa, đẩy

dân nghèo vào tận cùng đau khổ như: Cai tổng Luông trong Thầy thông ngôn, Chánh hương quản Sum, Hương hào Hội trong Cha con nghĩa nặng, bà phủ Khánh Long trong Tiền bạc bạc tiền…Trong khi đó, dân nghèo lại cam chịu mọi bất công, họ bị bóc lột về

kinh tế, bị đẩy vào tận cùng sự cùng cực, trở thành nạn nhân của dục vọng thấp hèn như: gia

đình Cai tuần Bưởi trong Con nhà nghèo, gia đình Trần Văn Sửu trong Cha con nghĩa nặng…

Ngoài việc miêu tả đặc điểm của nhiều tầng lớp người trong xã hội đương thời, các tác giả Nam Bộ còn phản phản ánh một số mặt tiêu cực trong đời sống xã hội lúc

bấy giờ Đó là nạn cưỡng hôn (Tiền bạc bạc tiền - Hồ Biểu Chánh, Chuyện chị em cô

Lê trò Lý - Nguyễn Văn Vinh…), ngoại tình (Cha con nghĩa nặng - Hồ Biểu Chánh,

Ai lỗi lầm - Tuấn Anh, Lỗi bước phong tình - Nguyễn Thành Long, Hổ thầm - Nguyễn Bửu Mộc…), hãm hiếp (Chúa tàu Kim Quy - Hồ Biểu Chánh, Tình duyên xảo ngộ - Phạm Minh Kiên…) và án mạng thường xuyên xảy ra trong các tác phẩm

Ta thấy, hiện thực cuộc sống hiện lên trong các tác tiểu thuyết Quốc ngữ Nam Bộ thật

sự phong phú, đa dạng và sinh động Các tác giả đã đưa tất cả cảnh đời, hạng người với những biến động, sự việc diễn ra trong cuộc sống vào trang sách của mình Các tác giả đã vạch trần mặt trái của xã hội với những tiêu cực - hệ quả của một xã hội trên con đường tư sản hoá Các tác giả không đặt ra vấn đề tìm phương cách để giải quyết nó mà chỉ muốn dùng đạo lý để chấn chỉnh, sửa đổi để xã hội tốt hơn Tuy vậy, ta không thể phủ nhận những đóng góp to lớn của họ đối với nền văn học dân tộc buổi sơ khai Họ đã từ bỏ những câu chuyện tuồng tích ảnh hưởng từ Trung Quốc, với những tấm gương đạo đức chung

chung, những bậc kỳ nhân theo kiểu “Lê Huê pháp thuật, Kim Đính thần thông, Khương

Thượng phong thần, Thế Hùng tróc quỷ…” để thay vào đó là những con người Việt Nam

với những cảnh đời chân thực Đây là một đóng góp mở đầu cho dòng văn học hiện thực sau này

Trang 26

1.3.1.2 Nêu cao những bài học đạo lý :

Các nhà văn Nam Bộ là những người sớm tiếp thu văn hóa phương Tây

“Nhưng trước khi thấm nhuần Tây học, họ vẫn là những con người Việt Nam Từ đấy nảy sinh một điều tưởng chừng như đầy mâu thuẫn: tác phẩm của các nhà văn luôn hướng đến việc giáo dục đạo đức, khuyến hóa nhân dân, vì vậy không thể phủ nhận được tư tưởng

“văn dĩ tải đạo”, giáo dục đạo đức vẫn là một tư tưởng bao trùm, quán xuyến toàn bộ sáng tác của các nhà văn Nam Bộ” [ 3; tr.73]

Dù sáng tác ở đề tài nào: kim thời hay lịch sử, ái tình hay luân lí xã hội…các sáng tác của các nhà văn luôn tóat lên một tư tưởng chung nhất quán: phê phán bọn nhà giàu, quyền thế bất lương; bênh vực những người nghèo khổ bị áp bức, bóc lột và

đề cao khát vọng hạnh phúc gia đình, công bằng xã hội Đây có thể xem là sự tiếp nối

tích cực của các nhà văn Nam Bộ đối với quan niệm “văn dĩ tải đạo” của văn chương Trung đại Họ cho rằng: “Văn chương chẳng những là một nghề chơi thanh nhã để di

dưỡng tinh thần mà thôi, mà lại có thể cảm động được lòng người, di dịch được phong

tục, chuyển biến được cuộc đời” (Phan Kế Bính, Việt Hán văn khảo, Nhà in Trung

bắc Tân văn, tr.9) Trong đó, “tiểu thuyết cũng đăng chiếm một địa vị cao đẳng để làm

phương châm mà chỉ vẽ những việc phải quấy của thời thế nhân tình, và làm cái

gương khuyến trừng cho đám dân đoàn xã hội” (Lời phụ thuyết Giọt máu chung tình

của Châu Sơn Nguyễn Đăng Cao) [3; tr.839] Họ đã gởi đến độc giả những bài học đạo

lý sâu sắc qua những số phận trong buổi xã hội đảo điên Họ dựng lên những tấm gương trung, hiếu, tiết, nghĩa để lần dắt quần chúng trở về nẻo chánh đường ngay, lấy những tấm gương xấu xa, bất nhân phi nghĩa để quần chúng tránh nẻo đường tăm tối

Bởi vậy, họ đã vận dụng triệt để triết lí: “thiện ác đáo đầu chung hữu báo” để làm sáng

tỏ những quan niệm đạo lí của mình Cho nên, những đứa con hiếu thảo như: Thanh

Kiều trong Tiền bạc bạc tiền - Hồ Biểu Chánh; Tý và Quyên trong Cha con nghĩa nặng - Hồ Biểu Chánh; Xuân Lan và Thu Cúc trong Lòng người nham hiểm - Nguyễn Chánh Sắt; cô Lê trong Truyện chị em cô Lê trò Lý - Nguyễn Văn Vinh; Kiều Tiên trong Mảnh trăng thu - Bửu Đình…Những tấm lòng tiết hạnh son sắc thuỷ chung như: Nhan Khả Ái trong Phan Yên ngoại sử tiết phụ gian truân - Trương Duy Toản, Bạch Tuyết trong Ai làm được - Hồ Biểu Chánh, Bạch Thu Hà trong Giọt máu chung tình - Tân Dân Tử…Những người lấy nhân nghĩa làm gốc như: Vương Thế

Trang 27

Trân trong Phan Yên ngoại sử tiết phụ gian truân - Trương Duy Toản, Trần Trọng Nghĩa trong Nghĩa hiệp kỳ duyên - Nguyễn Chánh Sắt, Hoàn Ngọc Ẩn trong Châu về hiệp phố - Phú Đức, Minh Đường trong Mảnh trăng thu - Bửu Đình; Chí Đại trong Ai làm được - Hồ Biểu Chánh Dù họ phải trải qua bao gian lao, sóng gió nhưng cuối cùng vẫn hưởng được cuộc sống hạnh phúc Còn những kẻ xấu xa, bất chấp luân thường đạo lí, bất chấp mọi thủ đoạn nhằm chạy theo tiền tài, danh vọng điều bị trừng

trị như: Nguyễn Viết Sung trong Mảnh trăng thu - Bửu Đình, phải âm thầm rời bỏ gia đình đi biệt xứ trong sự khinh rẻ của mọi người, cha con Diệt Tộc trong Mạng nhà nghèo - Nguyễn Bửu Mộc, kẻ thì bị giết kẻ chịu tù tội để đền tội ác, Trương Bá Vạn trong Phan Yên ngoại sử tiết phụ gian truân - Trương Duy Toản, phải chết bỏ xác để đền tội dâm ô, Năm Nhỏ trong Kim thời dị sử - Biến Ngũ Nhy, Thị Lựu trong Cha con nghĩa nặng - Hồ Biểu Chánh, vợ Hương hào Điều trong Khóc thầm - Hồ Biểu Chánh, Mười Cầm trong Ai lỗi lầm - Tuấn Anh đều phải đền cái tội bất thuỷ vô

chung bằng cái chết ghê gớm Qua đó, ta thấy các nhà văn Nam Bộ đã cố gắng dùng ngòi bút của mình nhằm giữ gìn và phát huy những đạo lí truyền thống tốt đep của dân tộc trước làn gió Âu Tây đang ào ạt tấn công Đây là một đóng góp có ý nghĩa trong thời buổi dân Việt Nam không ít người bị chao đảo trước làn sóng văn minh mà vày đạp lên bức tường luân lý của dân tộc

1.3.1.3 Tinh thần yêu nước:

Cuộc xâm lăng của Thực dân Pháp đã tác động rất lớn đối với Việt Nam nói chung, Nam Bộ nói riêng Như đã trình bày ở phần bối cảnh lịch sử xã hội, sau thất bại của phong trào Cần Vương, cách mạng Việt Nam rơi vào khủng hoảng về mặt đường lối Đến đầu thế kỷ XX, với sức ảnh hưởng từ sách báo “tân thư, tân văn” đã gây nên một làn sóng mới đến khắp cả nước Đặc biệt là ở Nam Bộ - một vùng đất sớm trở thành thuộc địa, nơi trung tâm giao lưu kinh, tế văn hóa và là nơi tiếp thu những luồng

tư tưởng tiến bộ sớm nhất thông qua giao lưu văn hóa Ở Nam Bộ đã sớm hình thành những tổ chức ủng hộ phong trào của công cuộc Duy Tân của các sĩ phu yêu nước tiến

bộ Trước tình hình xã hội như vậy, các nhà văn Nam Bộ dù ít nhiều vẫn tiềm tàng một

tinh thần dân tộc: “Giang san đã mất đồng bào phải mang kiếp ngựa trâu, người anh

hùng không dễ ngồi sầu khoanh tay để mà xem thời cuộc” (Non tình biển bạc - Phú

Đức) Trong buổi phong trào duy tân khởi xướng, ta thấy đã có một số nhà văn đã tích

Trang 28

cực ủng hộ, tham gia hoạt đông trong các tổ chức yêu nước như: Trần Chánh Chiếu, Trương Duy Toản…Hay như Bửu Đình một nhà văn bị khai trừ khỏi hoàng tộc vì dám công khai phê phán triều đình, phê phán Thực dân; một thầy giáo Nguyễn Văn Vinh bị thực dân lên án tuyên truyền tư tưởng chống đối chính quyền vì những tác phẩm mang đậm tinh thần yêu nước, đả kích Thực dân…Ta thấy vẫn phảng phất trong tác phẩm của họ tình cảm, sự trăn trở đối với dân với nước mặc dù đang sống trong vòng kiểm soát gắt gao của Thực dân

Trần Chánh Chiếu là một trong những người tiên phong của nền văn học dân tộc buổi

sơ khai Ông cũng là một trụ cột của phong trào Duy Tân ở miền Nam Vào năm 1912 đã

tập hợp những bài báo của ông và các đồng chí xuất bản thành tập sách Minh tân tiểu thuyết kêu gọi mọi người “minh minh đức và tác tân văn” Năm 1907, ông viết Cha ghẻ con ghẻ nhằm công kích Thực dân tàn bạo và sự bất lực của triều đình Trong phần kết

thúc ông có viết: “làm con người mà lại ích kỉ hại nhơn làm rứa…làm những điều bất nhân

bất nghĩa, vô lễ thất tín làm sao mà thương cho đặng, mà phục cho đặng, mà bình yên cho đặng” [18; tr.714]

Trương Duy Toản, bản thân ông cũng từng gặp gỡ và hợp tác với những người yêu nước của phong trào duy tân như: Phan Bội Châu, Cường Để…Ông đã cùng Nguyễn Văn Y đưa yêu sách đòi Thực dân Pháp phải thay đổi chính sách cai trị ở Đông Dương Nhưng việc không thành, ông bị bắt giam và sau đó bị trục xuất về

nước Năm 1910, ông viết Phan Yên ngoại sử tiết phu gian truân, kể về đoạn đời

gian truân của đôi trai tài gái sắc là Vương Thế Trân và Nhan Khả Ái Tác phẩm lấy bối cảnh thời Tây Sơn - nhà Nguyễn nhưng các nhân vật đều hư cấu, không có thật Trong tác phẩm này, Trương Duy Toản đã gián tiếp gởi gắm lời động viên cho phong

trào chống Pháp của các sĩ phu và nhân dân yêu nước: “Vậy nay đương lúc triều đình

hữu sự, nhà nước nghiên nghèo…đương lo tu bổ chiến thuyền sắm sanh khí giái…Vậy nay tôi xuất thêm cho đủ số một muôn đặng đem dưng cho nhà nước hầu có phí dụng trong việc quân binh, kẻo làm trai đứng trong quốc vương thủy thổ mà gặp lúc nước nhà có việc mình lại chẳng giúp đặng điều chi chả, thì lấy làm hổ thẹn quá” [18;

tr.1069]

Bửu Đình dù xuất thân hoàng tộc nhưng mang trong lòng tình yêu nước thiết tha Ông nhiều lần đăng đàn diễn thuyết phản đối triều đình phong kiến mục ruỗng,

Trang 29

ủng hộ việc lập chế độ cộng hòa theo chủ trương của Phan Châu Trinh Do đó, ông bị khai trừ ra khỏi hoàng tộc và bị đày đi Lao Bảo 9 năm Sau đó bị đày ra Côn Đảo Trong thời gian bị lưu đày nơi Côn Đảo, ông vẫn sáng tác bằng tất cả nhiệt huyết của

mình Năm 1931, ông viết Một thiên tuyệt bút trường hận miêu tả về cuộc đời của Tạ

Nhựt Hồng - một thanh niên nước Hàn có chí lập thân, được đi du học để tiếp thu những tri thức tiến bộ về phục vụ quê hương…Nhưng lại lầm đường lạc lối phản bội lai quê hương, phản bội mọi thâm tình và cuối cùng chết trong sự ăn năn, tủi nhục Tác phẩm là sự trăn trở của nhà văn trước thời cuộc đảo điên của dân tộc mà cái chết của Nhựt Hồng như một bài học cảnh tỉnh tầng lớp thanh niên buổi đương thời

Trong không khí chung cả nước đứng lên chống Pháp, miền Nam đã anh dũng đứng lên đấu tranh quyết liệt với nhiều cuộc khởi nghĩa quật cường Các sự kiện này

đã tác động mạnh mẽ đến đời sống văn hóa và văn học của vùng đất này Những người cầm bút trước hết muốn tìm một cảm hứng mới cho sáng tác, đồng thời còn nói lên tinh thần dân tộc, khát vọng độc lập tự do của một người con mất nước Chính vì vậy

đã dấy lên phong trào viết tiểu thuyết lịch sử với các cây bút nổi danh như: Phạm Minh Kiên, Tân Dân Tử…Hầu hết các nhà văn trong sự nghiệp văn chương của mình đều có

ít nhất một tác phẩm nói về lịch sử dân tộc Đây chính là một thể loại độc đáo để các nhà văn gởi gấm tình yêu nước sâu kín của mình trước sự kiểm soát của chế độ Thực dân Bởi tái hiện quá khứ hào hùng của dân tộc chính là để ấp ủ lòng yêu nước, ấp ủ lòng tự hào dân tộc, nhắc nhở mọi người đừng quên sự nghiệp dựng nước và giữ nước của ông cha, để rồi phải làm gì cho quê hương khi đứng trước thực tại…Có thể nói tiểu thuyết lịch sử đã góp một phần không nhỏ vào công cuộc cổ động tình yêu nước trong nhân dân

Nguyễn Chánh Sắt với Việt Nam Lê Thái Tổ (1929) đã dựng lại bức tranh từ cuối

đời Trần Nghệ Tông đến việc Hồ Quý Ly cướp ngôi, rồi kháng chiến chống quân Minh và

sự nghiệp của anh hùng Lê Lợi Tác giả đã cố công dựng lại một thời kỳ đầy biến động, đau thương và cũng hào hùng của dân tộc Nhà văn biểu dương công lao của những bậc hào kiệt đã vì dân vì nuớc ngày đêm gìn giữ cơ đồ của cha ông Qua đó, ta thấy được tình cảm sâu sắc của nhà văn đối với quê hương, đất nước

Nguyễn Văn Vinh với Tam Yên di hận (1929), thông qua biến cố của gia đình

Lữ Huỳnh Anh, tác giả đã ngụ ý phê phán việc Pháp lấy cớ bảo hộ để sang xâm lược

Trang 30

nước ta Ông đã phơi bày thực trạng đau đớn, tủi nhục của nhân dân dưới ách nô lệ Từ đó, tác giả muốn thức tỉnh người đọc về tình yêu quê hương đất nước, về nỗi đau nhục của người dân mất nước, khơi gợi ý thức đấu tranh, giành độc lâp tự do

Phạm Minh Kiên với tâm sự “Bấy lâu người mình mải mê truyện Tàu hằng mua

hằng đọc là vì trong nước mình chưa có sách các vị tiên nhơn Nay Bắc, Trung, Nam đều có người viết vậy thì người mình cũng nên mua đọc, cho biết cái việc nên hư, tốt

xấu và nẻo tà đường chánh của mình” (Lời tựa Tiền Lê mạt vận), tác giả đã liên tiếp

sáng tác những tiểu thuyết lịch sử:Việt Nam anh kiệt, Lê triều Lý thị, Tiền Lê mạt vận và Việt Nam Lý trung hưng…nhằm “gắng công tìm kiếm các bộ dã sử và các bộ

đại sử mà biên dịch ra đủ sự tích lớp lang, có lúc ai bi, có hồi chinh chiến, có kẻ trung thần tử tiết, có trang nghĩa sĩ giúp đời, nói rút lại thì cái hay có lẽ không kém chuyện Tàu mà nhứt là người mình nên biết sự tích nước mình cho lắm lắm” [3; tr.599]

Như vây, vào đầu thế kỷ XX, tiểu thuyết Quốc ngữ Nam Bộ đã góp một phần không kém phần quan trọng trong sự nghiệp của dân tộc là tinh thần yêu nước trầm lắng nhưng sâu sắc, nồng nàn Đây là một đóng góp vô cùng quý báo, đáng trân trọng

1.3.2 Phương diện nghệ thuật

1 3.2.1 Ngôn ngữ- Cách hành văn

Từ khi ra đời vào thế kỷ XVII, chữ Quốc ngữ đã trãi qua những giai đoạn thăng trầm khi mà trước âm mưu đồng hóa của Thực dân - làm cho người Vịêt biết tiếng Pháp rồi đi đến bị hòa vào dòng văn hóa Pháp, thì nó đã bị xem là thứ chữ của quân xâm lược Ngay từ đầu nó đã bị phản đối mạnh mẽ của giới sĩ phu và nhân dân yêu nước Nhưng dần về sau với những ưu thế của mình: dễ đọc, dễ viết, dễ nhớ dần dần

nó được chấp nhận như một ngôn ngữ của dân tộc Người ta bắt đầu đưa nó vào sinh hoạt đời sống Thế nhưng trước khi chữ Quốc ngữ bước chân vào đời sống cuả người Việt thì nó đã nảy mầm trong môi trường văn học Với sự ra đời của tờ báo Quốc ngữ đầu tiên đã đánh dấu một bước tiến mới của ngôn ngữ này Từ chỗ mục đích ban đầu

là dùng báo chí để dạy Quốc ngữ cho nhân dân, phổ biến các nghị định, chính sách của Thực dân nhưng dần về sau các nhà các nhà văn Nam Bộ đã dần sử dụng Quốc ngữ vào công việc sáng tác của mình Người mở đầu là Trương Vĩnh Ký với quan niệm

“nói tiếng Annam ròng” trong cuốn Chuyện đời xưa (1886) đã làm công việc định

Trang 31

hình những bước đi đầu tiên của nền văn chương Quốc ngữ nôm na, bình dân Đến

1887, Nguyễn Trọng Quản đã đặt viên gạch đầu tiên cho nền văn chương Quốc ngữ

khi viết Truyện thầy Lazaro Phiền với ý thức “lấy tiếng thường mọi người hằng nói

để bày đặt một chuyện đời nay là sự thường có ở trước mặt ta luôn” Họ Nguyễn đã có

công đem đến cho nền văn học dân tộc một ánh sáng mới và đã tạo ra sức ảnh hưởng

to lớn đến cách thức các nhà văn đi sau Bởi sau Nguyễn Trọng Quản, không ít các nhà văn đã dần đưa những lời ăn tiếng nói hằng ngày của nhân dân vào tác phẩm của mình thay ngôn ngữ văn chương Nho gia đài các như: Trần Thiên Trung (Trần Chánh

Chiếu) đã từng cố gắng “ngụ ý soạn một bổn nói về việc trong xứ mình, dùng tiếng tầm

thường cho mọi người hiểu” khi viết Hoàng Tố Anh hàm oan, Hồ Biểu Chánh thì từ

ảnh hưởng của Truyện thầy Lazaro Phiền, Hoàng Tố Anh hàm oan và Phan yên ngoại sử tiết phụ gian truân đã mạnh dạn chuyển từ văn vần với U tình lục sang văn xuôi nôm na Ai làm được Chính vì vậy, ta thấy trong các tiểu thuyết Quốc ngữ lúc

bấy giờ thay cho những điển tích, điển cố, những từ cổ là những từ ngữ mang đậm

phong vị Nam Bộ bình dị như: buồn nghiến, nằm dàu dàu, nằm không cục cựa, ngồi

chồm hỗm, ngồi xo ro, bươn bả, đi tuốt, hà rầm, ba láp, lập cập lưởi cưởi, bù xa bù xít, lật đật lưởi đưởi, nước mắt nước mũi chảy chàm ngoàm, ngộ, chơn, hai bàng tang, Các nhà văn đã phá vỡ tính có vần có đối của lối văn chương đài các truyền

thống mà tiến dần đến lối hành văn “trơn tuột” như lời nói thường Họ bắt đầu dễ dãi

hơn trong việc trau truốt câu chữ và thường thì nghĩ sao viết vậy Chẳng hạn, trong

Nghĩa hiệp kỳ duyên có đoạn:

“Trời đất ơi! Đây đó có bao xa mà không biết Phải tôi dè như vậy thì tôi nhắn cho ông anh hay đã lâu rồi chớ đâu mà để cho tới ngày nay Từ ngày tôi gặp con hai nó đi lơ thơ ngoài chợ, tôi thấy vậy tôi thương nên tôi đem nó về mà ở với tôi mấy tháng nay Dì cháu hẩm hút với nhau thiệt tôi thấy tánh nết nó thiệt thà tôi thương nó quá Lúc đêm hôm rảnh rang tôi cũng hỏi thăm gốc gát cha mẹ nó thì nó không biết chi hết, vì lúc họ chở nó

đi thì nó còn nhỏ quá”

Đây là một đoạn trong Ai làm được của Hồ Biểu Chánh:

“Quan Phủ đã nổi giận mà bà còn châm chích thêm, chẳng khác nào lửa cháy mà bà còn

chế thêm dầu, bởi vậy quan Phủ lấy roi biểu Bạch Tuyết nằm xuống ông đánh hơn một chục roi cắn răn, chợn mắt không cho Bạch Tuyết khóc

Trang 32

Ông vừa đámh vừa nói rằng:

-“Mày lấy thằng Chí Đại làm nhục nhã tao, tội ấy tao chưa nói, bây giờ tao định gã mày cho mầy khỏi mang tiếng xấu, mầy lại làm hơi lanh, muốn chống cự với tao nữa à.”

Còn trong Mạng nhà nghèo, Nguyễn Bửu Mộc đã có đoạn miêu tả ngôn ngữ Diệt

Tộc vì muốn cưới con Hội đồng Gòn nên tìm mọi cách hất hủivợ: “lỏ cập mắt chao bảo,

mà nói xẳn rằng: tao nói cho mầy nghe, tao với mầy từ nầy về sau hết tình nghĩ vợ chồng, hãy xê ra xa đứng gần tao nổi điên, tao đạp trào máu họng”

Ta thấy những đoạn văn trên rất gần gũi với lời ăn tiếng nói hàng ngày của quần chúng nhân dân Dù câu văn, ngôn từ không tránh những chỗ thô vụng của buổi sơ khai nhưng các nhà văn Nam Bộ đã có công rất lớn trong việc hướng nền văn học tộc từng bướcđến gần con đường hiện đại và xa dần lối văn đài các, khuôn sáo trước đây

1.3.2.2 Nghệ thuật xây dựng nhân vật

Trong các tác phẩm của mình, các nhà văn Nam Bộ đã đưa vào một thế giới nhân vật thật sinh động với đủ hạng người trong xã hội Đó không phải là những thần thánh, những bậc tài trí phi thường có tài biến hóa khôn lường như trong các truyện Tàu và tác phẩm trung đại mà là những con người rất cụ thể với những cảnh đời, những số phận rất riêng Ngoài những vua, quan lại, anh hùng, mỹ nhân…trong các tiểu thuyết lịch sử thì những địa chủ, cường hào, hội tề, bần nông, tá điền…đến trí thức tân học, thông ngôn, ký lục, dân nghèo thành thị, cu ly, người ở… đến cả những cô gái điếm cũng được các nhà văn đưa vào trang sách của mình Mỗi nhân vật hiện lên với những nét rất riêng, cụ thể từ ngoại hình đến tính cách, nhân phẩm chứ không chung

chung, tượng trưng nữa Chẳng hạn, miêu tả một cô gái đẹp người đẹp nết: “Mặt nàng

không dồi phấn mà trắng hồng hồng, môi nàng không thoa son mà ửng đỏ đỏ, hàm răng nàng khít khao mà lại trắng trong, chơn mày cong vòng mà lại nhỏ mức, ngón tay dài mà nhọn như mũi viết, lại thêm phao hồng hồng, móng tay suôn đuột, bàn chơn

nàng không mang giày mà gót ửng đỏ, bàn no vun…”(Ngọn cỏ gió đùa- Hồ Biểu

Chánh), trong khi cũng là một người con gái đẹp nhưng lại lẳng lơ thì mang những nét

rất riêng: “nàng ăn mặc trang hoàng, hình dung yểu điệu dịu dàng da như nhuộm phấn

môi tợ thoa son, mày như lá liễu, mắt tợ ngôi sao…Nàng vừa nói vừa liếc cặp mắt

Trang 33

hữu tình dường như cặp thủy tinh” (Ai lỗi lầm - Tuấn Anh); còn người có ý chí, giàu

lòng hào hiệp thì: “một người trai trạc 17, 18 tuổi, miệng rộng, môi dày, vai ngang,

trán trợt, tóc hớt cụt, mắt rạng ngời, tư cách nghiêm trang, mặt mày sáng rỡ, tuy y

phục tầm thường mà hình dung không phải người thừơng”(Ai làm được - Hồ Biểu

Chánh)…Cũng là những nông dân hiền lành, chất phác nhưng cai tuần Bưởi (Con nhà nghèo - Hồ Biểu Chánh) không giống Trần Văn Sửu (Cha con nghĩa nặng - Hồ Biểu Chánh) và càng khác xa Năm Vạn (Mạng nhà nghèo - Nguyễn Bửu Mộc); là những

bậc trí thức có học nhưng phẩm chất Lê Xuân Kì khác xa Hoàng Hữu Chí và Phan

Quấc Chấn trong Lòng người nham hiểm; là con gái nhà giàu nhưng Hồng Như Hoa (Thầy thông ngôn - Hồ Biểu Chánh) không giống với Thu Hà (Khóc thầm - Hồ Biểu Chánh), Kiều Tiên (Mảnh trăng thu - Bửu Đình)…Có thể nói các nhân vật trong các

tiểu thuyết Quốc ngữ đã dần bước ra khỏi cái khung ước lệ, tượng trưng của văn chương truyền thống mà mang những nét cụ thể, sinh động của những con người bình thường ngoài đời

Ngoài ra, các nhà văn Nam Bộ còn tạo ra một bước đột phá khi mà họ đã bắt

đầu chú ý đến đời sống nội tâm của nhân vật Lê Hoằng Mưu trong Người bán ngọc

đã giành một lượng trang không nhỏ để miêu tả tâm lý Tô Thường Hậu trong đêm đầu

tiên được gần người trong mộng, trong Ai lỗi lầm của Tuấn Anh là những dằn vặc, day

dứt, trăn trở của Cao Hoài Châu và Trần Chánh Tâm trước cảnh tình trớ trêu, Hồ Biểu

Chánh thì để anh nông dân chất phác Trần Văn Sửu trong Cha con nghĩa nặng miên

man trong những suy nghĩ khi nghe mọi người nói về việc vợ ngoại tình, muốn tự huỷ mình khi lỡ tay giết vợ nhưng vì thương con mà không đành lòng…Mặc dù, các tác giả còn chủ yếu là kể lại những suy nghĩ của nhân vật chứ chưa để nhân vật bộc lộ trực tiếp nhưng đấy cũng là một điều đáng ghi nhận và trân trọng của một nền tiểu thuyết buổi giao thời

1.3.2.3 Kết cấu

Các nhà văn Nam Bộ đa phần đều được học Quốc ngữ và Pháp văn trong chế

độ giáo dục mới mà Pháp đã sớm áp đặt ở Nam Kỳ Họ vốn sớm tiếp xúc với nền văn hóa Phương Tây, do đó, dấu ấn văn chương Tây Âu dù ít nhiều vẫn để lại trong họ những dấu ấn Tuy vậy, nền văn chương Trung đại vốn tồn tai hàng thế kỷ, những truyện Tàu vốn được dịch rầm rộ và được xem như món ăn tinh thần của dân Nam Bộ

Trang 34

những năm cuối thế kỷ XIX vẫn còn đủ sức ảnh hưởng đến tư tưởng của các nhà văn Đây

là giai đoạn mà họ bị đẩy vào ranh giới giữa mới và cũ, Đông và Tây Họ nhận thấy ở hai phía đều có cái hay và cái hạn chế Do đó, họ chủ trương dung hòa cả hai - nghĩa là tiếp thu cái mới trên nền tảng truyền thống Vì vậy, trong các tác phẩm của họ thường có dấu ấn của cái hiện đại bên cạnh những yếu tố truyền thống

Trước hết, dấu ấn của nền văn học Nho gia và những tiểu thuyết Trung Quốc còn in đâm trong các tiểu thuyết Quốc ngữ là ở kết cấu chương hồi, phân chia lớp lang Nghĩa là tác phẩm được chia thành nhiều chương, nhiều phần có đánh số thứ tự, mỗi chương mỗi phần thường có hai câu đề từ nêu lên nội dung khái quát của chương, phần Chẳng hạn:

Tác phẩm Giọt máu chung tình của Tân Dân Tử được chia làm 28 hồi với:

- Hồi thứ nhất: “Thành Bình Định thuật sơ sự tích

Võ Đông Sơ lướt dặm quan hà”

- …

- Hồi hai mươi bảy: “Đền nợ nước anh hùng ra tử trận

Trọn ân tình liệt nữ quyết liều thân”

- Hồi hai mươi tám: “Dọn tùng đình phối hiệp nhơn duyên

Lập miếu võ để thờ người trung liệt”

Trong Chút phận linh đinh của Hồ Biểu Chánh được chia làm 15 phần có đánh số La

Tác phẩm Nghĩa hiệp kỳ duyên của Nguyễn Chánh Sắt được phân làm 19 phần:

- I “Lâm Trí Viễn dụng mưu”

- 31 -

Trang 35

- III “Trịnh Thế Xương mắc kế”

- …

Tuân theo kết cấu truyền thống: Hội ngộ, lưu lạc, đoàn viên, các nhà văn thường để tác phẩm mình kết thúc theo lối có hậu Nghĩa là người hiền lương dù trải qua bao khổ nạn thì cuối cùng cũng được hưởng hạnh phúc, còn kẻ ác tâm dù có mưu

mô, xảo quyệt thì cuối cùng cũng bị trừng trị Tuy vậy, với xu hướng ảnh hưởng ngày càng mạnh mẽ của văn hóa Tây Âu đã gây ra những biến đổi trong phương cách sáng tác của các nhà văn Họ dần từ bỏ lối kết cấu chương hồi và phá vỡ kết cấu có hậu gượng ép của truyền thống Một số nhà văn đã mạnh dạn để nhân vật chính diện rơi

vào kết thúc bi thảm như: Lê Hoằng Mưu trong Oán hồng quần đã để cho Triệu Bất

Lượng chết thảm vì bị máy ăn, Nguyễn Ý Bửu thì để cho cô Ba Tràh trong tác phẩm cùng tên đã làm bao nhiêu người vì say đắm nhan sắc mà tán gia bại sản cuối cùng chết trong nghèo khổ, bệnh tật, cô đơn ở nhà thương thí…Ngoài ra, các nhà văn còn phá vỡ cái kết cấu theo trật tự tuyến tính: hội ngộ, lưu lạc rồi đoàn viên của truyền thống Họ đã khéo léo đảo lộn trật tự câu chuyện làm cho độc giả khó lòng đoán định được kết quả câu chuyện như những tác phẩm theo kết cấu truyền thống Như: trong

Chút phận linh đinh của Hồ Biểu Chánh, mở đầu là cảnh chia tay của Hiển Vinh và

Thu Vân sau đó mới kể lại quá trình họ quen nhau rồi nên vợ nên chồng thế nào, rồivì

sao mà Hiển Vinh phải đi Tây…Trong Lòng người nham hiểm - Nguyễn Chánh Sắt,

mở đầu là cuộc gặp gỡ của Hoàng Hữu Chí với bà Phủ và chị em Thu Cúc - Xuân Lan,

sau đó mới kể về xuất thân và gia cảnh của bà Phủ và hai nàng…Trong Mảnh trăng thu - Bửu Đình, bắt đầu câu chuyện là những suy luận của Trần Thành Trai đối với án

mạng mà em họ chàng là Kiều Tiên bị xem là thủ phạm, sau đó mới dần kể lại cuộc đời Kiều Tiên từ lúc gặp Minh Đường đến những ngày lưu lạc sau án mạng đêm hôn lễ…Với việc xáo trộn tình tiết câu chuyện, các tác giả Nam Bộ đã làm cho tác phẩm của mình trở nên hấp dẫn, lôi cuốn người đọc hơn khi nó đã tạo ra được những bất ngờ

lí thú mà người ta khó có thể tìm thấy trước đây

Trang 36

Chương 2: CẢM HỨNG ĐẠO ĐỨC TRONG TIỂU THUYẾT QUỐC NGỮ NAM BỘ NHỮNG NĂM ĐẦU THẾ KỶ XX

2.1 Dụng ý “tải đạo” trong tiểu thuyết Quốc ngữ Nam Bộ những năm đầu thế

kỷ XX 2.1.1 Mục đích sáng tác của các nhà văn Nam Bộ

Trước thế kỷ XX, nền văn hóa Việt Nam là nền văn hóa phong kiến mang đậm màu sắc Đông Nam Á Tư tưởng phương Đông đã ăn sâu vào phong tục, tập quán và tâm hồn của người dân Việt Người Việt Nam vốn sống theo những chuẩn mực đạo đức trong mọi phương diện, từ cái ăn cái mặc đến cách đối nhân xử thế Thế nhưng, đến đầu thế kỷ XX cùng với sự xâm lăng của Thực dân Pháp thì luồng gió văn hóa phương Tây cũng tấn công ào ạt và gây ra những biến động to lớn cho thành trì văn hóa truyền thống của Việt Nam Mọi nề nếp từ cái nôi gia đình truyền thống đến những mối quan hệ, những giá trị tinh thần truyền thống ngoài xã hội đều bị xáo trộn, lung lay Mọi thứ đều bị đẩy vào ranh giới bờ vực giữa cái mới và cũ, giữa phương Đông và phương Tây tạo nên những hiện tượng vô cùng phức tạp mà Hồ Biểu Chánh

đã từng hoang mang: “Đã biết luồng gió Âu hóa thổi vào xứ ta lâu rồi Nhưng trước

kia tôi cùng nhiều bạn đồng chí không cần lo ngại cho lắm vì nghĩ luân lí bao giờ cũng

là luân lí đồng bào dù có tấm văn minh đến mực nào, dầu có cảm nhiễm phong tục Âu

mỹ nhiều hay ít dân tộc ta cũng không thể vày đạp cái luân lý tổ phụ của ta được…Vậy

mà hiện nay đồng bào ta đa số đã khuynh hướng hoặc về chủ nghĩa này hoặc về chủ nghĩa nọ, chỉ còn một số ít ca củm ôm ấp cái luân lí cũ mà thôi…Nhìn hiện tại tôi bắt giựt mình, mà nghĩ tới tương lai tôi càng thêm lo lắng” ( 11; tr.266)

Đứng trước thời cuộc như vậy, các nhà văn Nam Bộ - vùng đất sớm chịu những luồng gió văn hóa Tây phương xa lạ - đã có những nghĩ suy, trăn trở Dù họ đa phần đều được lớn lên và giáo dục trong chế độ thuộc địa của Thực dân nhưng văn hóa truyền thống vẫn còn đủ sức ăn sâu vào tinh thần của họ Do đó với cương vị là một người con của Tổ quốc Việt Nam, các nhà văn Nam Bộ nói chung, tiểu thuyết Quốc ngữ nói riêng đã chủ trương dùng ngòi bút của mình để giữ gìn những giá trị truyền

Trang 37

thống tốt đẹp của dân tộc Họ luôn đặt trên vai mình nhiệm vụ khuyến đạo trừ gian, vạch ra chỗ hay chỗ dở để nhân dân noi theo đường chánh mà lánh nẻo tà Họ xem đó

là mục đích, là kim chỉ nam trong việc sáng tác bởi “trong lúc mưa Âu gió Mỹ, thời

đại văn minh này, tiểu thuyết cũng đặng chiếm một địa vị cao đẳng để làm phương châm mà chỉ vẽ những việc phải quấy của thời thế nhân tình và làm cái gương khuyến

trừng cho đám dân đoàn xã hội” (Châu Sơn Nguyễn Đăng Cao, Lời phụ thuyết Giọt

máu chung tình của Tân Dân Tử, Imp.J Nguyễn Văn Viết, Sài Gòn, 1926) [3; tr.839]

Chính vì lẽ đó, các nhà tiểu thuyết Quốc ngữ Nam Bộ thường có những lời phụ thuyết, lời tựa kèm theo theo khi phát hành một tác phẩm nhằm gởi gắm đến độc giả

mục đích tâm huyết của mình là cảnh tỉnh lòng người, là “để cảm hóa đặng lần dắt

quần chúng trở về đường chánh đại quang minh” (Hồ Biểu Chánh) Các tác giả nhận

thấy tiểu thuyết có một vai trò vô cùng quan trọng trong việc cảm hóa lòng người Khi

mà nó đã trở thành một món ăn tinh thần không thể thiếu trong đời sống con người Việt Nam Đó là nơi mà người ta cùng khóc cùng cười, vui buồn cùng số phận của

nhân vật Họ xem tiểu thuyết như nơi di dưỡng phong hóa truyền thống của dân tộc, nơi mà “tiểu thuyết nào từ nghiêm lý chánh, thì được bổ ích cho xã hội nhơn

quần”…còn “tiểu thuyết nào viết bạ nói xàm chẳng kể luân lý cang thường, ắt gây một mối ác cảm trong lòng người mà phải đồi phong bại tục” Chính vì thế các tác giả

Nam Bộ luôn “ước mong sao cho các nhà tiểu thuyết trong xứ ta ngày nay, cũng nên

lấy ngọn thiết bút mà làm cây kim chỉ nam, lấy tấm nhiệt thành làm cái la bàn để chỉ con đường quang minh chánh đại, vẽ cái nẻo luân lí cang thường của tổ tiên mấy ngàn năm xưa, ngỏ để cho đám thiếu niên sau này noi dấu bước theo, cho khỏi lạc vào lối

biển đắm sông mê, và cho khỏi sa vào hầm tồi phong bại tục” (Tân Dân Tử, Bình

luận tiểu thuyết của ông Nguyễn Chánh Sắt, Đông Pháp thời báo số 496, ngày 13

Octobre 1929) [3; tr.838] Ngay từ buổi đầu, các nhà văn đã xác định cho mình mục đích sáng tác là: vì đời mà tải đạo Các nhà văn dù còn nhiều hạn chế về nội dung hay nghệ thuật nhưng đó chỉ là đặc điểm cố hữu của một nền văn học buổi sơ khai, mà cái đáng trân trọng chính là tâm huyết của họ gởi gắm nơi ấy Họ sáng tác không chỉ nhằm

“lấy tiếng thường mọi người hằng nói ra” rồi “bày đặt một chuyện đời nay là sự đời

có trước mắt ta luôn” để “ làm cho dân các xứ biết rằng Annam sánh tài sánh trí thì cũng chẳng thua ai” , mà còn làm cái nghĩa vụ thiêng liêng của một nhà đạo đức ra

Trang 38

sức giữ gìn truyền thống tốt đẹp của dân tộc: “phải viết đặng ghi cái hay cái dở của

nhân tình thế thái về khoảng đời truỵ lạc mà để lại cho con cháu đời sau biết chỗ cao, chỗ thấp Phải viết đặng chỉ đường vạch nẽo cho con cháu trong nhà ngó thấy [18;

tr.1025] Chính vì vậy, các nhà văn xem các tác phẩm của mình như tấm gương để mọi

người soi vào mà tu sửa bản thân Họ cho rằng “trong bộ tiểu thuyết nào cũng vậy, nếu

lấy tình làm đề, thì sau cũng có tình nên hay tình hư, tích lành hay tích dữ, để làm tuồng vay trả Tự nơi người xem, thấy nên học đòi, thấy hư xa lánh” (Lê Hoằng Mưu,

Lục tỉnh Tân văn số 1941, 2 Févreir 1925.) Dù có đôi lúc đề cao thái quá vai trò của

tiểu thuyết như: “từ xưa đến nay, những bậc ưu thời mẫn thế đều dùng văn chương mà

làm cái xe truyền đệ tư tưởng Nếu trước tác giả vì đạo đức nhân nghĩa mà viết tiểu thuyết, thì chư độc giả nhờ cái ảnh hưởng đạo đức nhân nghĩa mà hóa ra tư cách cao thượng Nếu trước tác giả vì tình dục, vì tư lợi mà viết tiểu thuyết, thì chư độc giả cũng

nhiễm lấy sự ái tình, sự kim tiền, mà hóa ra đê tiện” (Nguyễn Bửu Tài, Tiểu dẫn Tam

Yên di hận - Nguyễn Văn Vinh, nhà in Khéo F.Van Vo Van, Bến Tre, 1929)…nhưng

qua đó vẫn thấy tấm lòng của nhà văn muốn đóng góp cho đời, muốn hướng quốc dân vào đường ngay lối chánh và giữ gìn đạo lý ngàn năm của dân tộc mà Hồ Biểu Chánh

từng tâm huyết: “tôi xin thưa thiệt trot 40 năm nay tôi ôm ấp cái tham vọng, duy trì

luân lý Nho giáo, không nệ ngòi bút yếu ớt, không nệ học thức hẹp hòi tôi hăng hái gieo rắc hột giống ấy phát chồi đâm đọt, rồi nảy sinh hoa tươi quả ngọt để cộng đồng thưởng thức với đồng bào” [11; tr.265]

2.1.2 Vấn đề sử dụng các yếu tố nghệ thuật với dụng ý “tải đạo” trong các tiểu thuyết Quốc ngữ

Với quan niêm biến tác phẩm của mình thành những bài học đạo đức “ghi lại

cái hay cái dở của nhân tình thế thái” để từ đó “lần dắt quần chúng về đường chánh đại quang minh”, các nhà tiểu thuyết Nam Bộ đã cố gắng lồng ghép vào tác phẩm của

mình mọi góc cạnh của “bức tường” đạo đức Chính vì vậy ta không khỏi ngạc nhiên khi mọi yếu tố nghệ thuật trong tác phẩm đều hướng tới thể hiện những bài học luân lý sâu sắc

Trước tiên, dụng ý “tải đạo” của nhà văn thể hiện ngay ở tên tác phẩm Dường

như các tác giả muốn truyền tải đến độc giả những bài học đạo đức một cách nhanh

Trang 39

nhất, rõ ràng, trực tiếp nhất nên họ đã rất chú ý đến ngay cách đặt tên cho tác phẩm

Họ luôn cố lựa chọn cho đứa con tinh thần của mình một cái tên mà tự nó có thể thâu tóm những bài học, giá trị đạo đức mà mình muốn hướng đến Trần Thiên Trung (Trần

Chánh Chiếu) với Hoàng Tố Anh hàm oan kể về cuộc đời của người con gái hiền

ngoan, hiếu thảo, trọng điều danh tiết nhưng phải mang oan khúc vì bọn hám sắc, bất

nhân Trương Duy Toản với Phan Yên ngoại sử tiết phụ gian truân, ca ngợi người quyết giữ lòng thủy chung, trinh bạch dù trải qua bao cay đắng, khổ nạn; còn Lưu Yến Ngọc cứu cha đại hiếu thì nêu cao tấm gương hiếu thảo…Nguyễn Chánh Sắt với Nghĩa hiệp kỳ duyên là ca ngợi mối lương duyên của trang nghĩa hiệp với người con gái hiếu thảo, đức hạnh; Lòng người nham hiểm thì phê phán bọn người vì tư lợi, ích

kỷ mà hãm hại người khác…Nguyễn Bửu Mộc thì nêu lên sự sa ngã của tầng lớp trí

thức trước là sóng Âu Mỹ trong Cô giáo Yến Hoa lụy vì tình; dựng lên bức tranh về số phận bi thương của kiếp dân nghèo trước sự tàn bạo của kẻ có quyền có thế qua Mạng nhà nghèo…Tân Dân Tử thì ca ngợi tình yêu sắc son, chung thủy đã dám vượt qua những khổ ải, gian truân để đến với nhau trong Giọt máu chung tình Hồ Biểu Chánh

thì khen ngơi những người có chí khí, những tấm lòng trong trắng, thủy chung trong

Ai làm được; đả kích bọn người hám tiền mà bất chấp tất cả trong Tiền bạc bạc tiền; cảm thương số phận của những kiếp người bất hạnh qua Ngọn cỏ gió đùa, Chút phận linh đinh…Qua đó ta thấy, mỗi một tên tác phẩm như là những bài học, những vấn đề đạo lý mà tác giả muốn đề cập

Không chỉ thể hiện những giá trị đạo đức ở nhan đề tác phẩm mà dụng ý tải đạo

của các nhà văn còn thể hiện qua cách đặt tên nhân vật Người Việt Nam ta nói riêng,

các dân tộc Á Đông nói chung đều rất thận trọng trong cách đặt và gọi tên mà nhất là tên người Cái tên được xem như là nơi để người ta hướng đến một kỳ vọng nào đó tốt đẹp trong tương lai và đôi khi nó lại được xuất phát từ một đặc điểm về tính cách, ngoại hình, thói quen…của người được gọi Trong các tác phẩm của mình các nhà văn cũng rất chú trọng đến cách đặt tên của nhân vật Thông thuờng, họ cố gắng lựa chọn sao cho cái tên có thể biểu hiện được tính cách, phẩm chất đạo đức của nhân vật

Chẳng hạn trong Phan Yên ngoại sử tiết phụ gian truân của Trương Duy Toản: người

con gái xinh đẹp được gọi là Nhan Khả Ái, đấng trượng phu giàu lòng hào hiệp, trung quân ái quốc tên là Vương Thế Trân còn kẻ cậy thế ức hiếp người hiền lương tên là

Trang 40

Trịnh Cao, bọn thảo khấu thô lỗ thất phu là Ngưu Cường và Mã Kiện, mụ tú bà tên là

Liễu Chiêu Xuân…Lê Hoằng Mưu trong Oán hồng quần với người thanh niên nghèo

nặng tình, đã vay tiền bạn để mong giải cứu Kim Huê khỏi chốn lầu xanh tên là Triệu

Bất Lượng; trong Tô Huệ Nhi dã sử thì kẻ vì tiền tài mà dùng mọi thủ đoạn: đem

cháu là Tô Huệ Nhi về nuôi dưỡng để đoạt gia tài, ép gả nàng cho Lí Mặc Dư nhưng

kế không thành nên đem con vào thế chỗ để nhận 1000 đồng…tên là Tô Kế

Pha…Nguyễn Chánh Sắt trong Nghĩa hiệp kỳ duyên với: Lâm Trí Viễn là kẻ mưu sâu

hiểm độc, Đào Phi Đáng là kẻ giả mạo, ích kỷ; tên phóng túng, cờ bạc sa đọa lại ăn cắp vặt là Triệu Bất Thanh, còn người trọng nhân trọng nghĩa, hết lòng giúp người hoạn nạn tên là Trần Trọng Nghĩa, người giàu lòng nhân hậu là Trịnh Thế Xương;

trong Lòng người nham hiểm với người có chí khí, ghét điều tiểu nhân là Hoàng Hữu

Chí, người luôn cố công học tập để mong giúp dân giúp nước là Phan Quấc Chấn, người giàu lòng nhân ái là bà Phủ Phan Hữu Ân, vị quan thanh liêm, trọng điều nhân nghĩa là Nguyễn Trọng Luận, người con gái đẹp người đẹp nết là Thu Cúc và Xuân

Lan còn tên ích kỷ, tiếu nhân là Lê Xuân Kì…Trong Châu về hiệp phố của Phú Đức,

người có hành tung lúc ẩn lúc hiện là Hoàn Ngọc Ẩn, người ngay thẳng, liêm chính là

Đỗ Hiếu Liêm, người con gái có sắc làm bao người say đắm là Lệ Thủy, nàng ả đào

nhưng vẫn giữ giá trong tiết sạch là Bạch Tuyết…Nguyễn Bửu Mộc trong Mạng nhà nghèo: những người nghèo khổ, cơ cực gọi là Thị Bần, thằng Bĩ, thằng Cực người

con gái xinh đẹp, đức hạnh nhưng bị chồng giết chết trên dòng sông khi đang mang

thai là Kim Sa, kẻ giết cha, giết vợ và con là Diệt Tộc; còn trong Hổ thầm: kẻ hám

sắc, phụ tình vợ, lỗi nghĩa cùng bạn là thầy giáo Bội Nghĩa, tên xấu xa vì vật chất mà dùng mọi thủ đoạn đen tối là Hai Quạ còn người trọng tình nghĩa, hết lòng cưu mang

khi bạn gặp lúc gian nan là Lê Quý Hữu…Hồ Biểu Chánh trong Tại tôi: Như Thạch là

người cứng rắn, vững vàng, dám hi sinh tất cả để bảo vệ tình yêu chính đáng của mình

còn Thanh Nguyên là người con gái “có tấm lòng trong sạch như nước trong nguồn

mới chảy ra, chẳng nhuốm chút bụi trần nào hết”; trong Tiền bạc bạc tiền: kẻ trọng

tiền tài mà bất chấp thủ đoạn không kể danh dự, nhân phẩm là Đỗ Thị Đào, người con gái hiếu thảo, chịu nhiều bất hạnh, bị người thân xem như món hàng để mưu lợi là Thanh Kiều… Ngay cả Phạm Minh Kiên - một tác giả chuyên viết tiểu thuyết lịch sử, vốn lấy nền từ các sự kiện và con người có thực trong lịch sử, nhưng ta thấy thỉnh

Ngày đăng: 05/01/2016, 16:23

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hoài Anh, Chân dung văn học, Tiểu luận phê bình, NXB Hội Nhà Văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chân dung văn học
Nhà XB: NXB Hội Nhà Văn
2. Hoài Anh- Thành Nguyên- Hồ Sĩ Hiệp, Văn học Nam Bộ từ đầu đến giữa thế kỷ XX ( 1900-1945), NXB Thành phố Hồ Chí Minh, 1988 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Nam Bộ từ đầu đến giữa" thế "kỷ XX ( 1900-1945)
Nhà XB: NXB Thành phố Hồ Chí Minh
3. Nguyễn Kim Anh (chủ biên), Tiểu thuyết Quốc ngữ Nam Bộ nữa cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, NXB Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết Quốc ngữ Nam Bộ nữa cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
4. Nguyễn Huệ Chi, Thử tìm vài đặc điểm của văn xuôi tự sự Quốc ngữ Nam bộ trong bước khởi đầu, www.google.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thử tìm vài đặc điểm của văn xuôi tự sự Quốc ngữ Nam bộ trong bước khởi đầu
5. Phan Cự Đệ, Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại, tập 1, NXB Đại học và trung học chuyên nghiệp Hà Nội, 1974 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại
Nhà XB: NXB Đại học và trung học chuyên nghiệp Hà Nội
6. Bằng Giang, Văn học Quốc ngữ ở Nam kì 1865-1930, NXB Trẻ Thành phố Hồ Chí Minh, 1992 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Quốc ngữ ở Nam kì 1865-1930
Nhà XB: NXB Trẻ Thành phố Hồ Chí Minh
7. Nguyễn Kim Hoa (chủ biên), 25 năm một vùng tiểu thuyết, NXB Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 25 năm một vùng tiểu thuyết
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
8. Phan Mạnh Hùng, Tiểu thuyết lịch sử- Một khuynh hướng nổi bật trong văn xuôi Quốc ngữ Nam bộ đầu thế kỷ XX, www.google.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết lịch sử- Một khuynh hướng nổi bật trong văn xuôi Quốc ngữ Nam bộ đầu thế kỷ XX
9. Nguyễn Phạm Hùng, Văn học Việt Nam - Từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XX, NXB Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam - Từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XX
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia Hà Nội
10. Nguyễn Văn Hiệu, Văn chương Quốc Ngữ Nam bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX nhìn từ quá trình xã hội hóa chữ Quốc ngữ, www.google.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn chương Quốc Ngữ Nam bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX nhìn từ quá trình xã hội hóa chữ Quốc ngữ
11. Nguyễn Khuê, Chân dung Hồ Biểu Chánh, NXB Thành phố Hồ Chí Minh, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chân dung Hồ Biểu Chánh
Nhà XB: NXB Thành phố Hồ Chí Minh
12. Mã Giang Lân, Quá trình hiện đại hóa văn học Việt Nam 1900- 1945, NXB Văn hóa thông tin Hà Nội, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quá trình hi"ện đại hóa văn học Việt Nam 1900- 1945
Nhà XB: NXB Văn hóa thông tin Hà Nội
13. Cao Xuân Mỹ- Mai Quốc Liên, Văn xuôi Nam Bộ nửa đầu thế kỷ XX, tập 1, NXB Văn nghệ và Trung tâm nghiên cứu quốc học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn xuôi Nam Bộ nửa đầu thế kỷ XX
Nhà XB: NXB Văn nghệ và Trung tâm nghiên cứu quốc học
14. Cao Xuân Mỹ- Mai Quốc Liên, Văn xuôi Nam Bộ nửa đầu thế kỷ XX, tập 2, NXB Văn nghệ và Trung tâm nghiên cứu quốc học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn xuôi Nam Bộ nửa đầu thế kỷ XX
Nhà XB: NXB Văn nghệ và Trung tâm nghiên cứu quốc học
15. Vương Trí Nhàn, Những lời bàn về tiểu thuyết trong văn học Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến 1945 , NXB Hội Nhà Văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những l"ời bàn về tiểu thuyết trong văn học Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến 1945
Nhà XB: NXB Hội Nhà Văn
16. Võ Văn Nhơn, Văn học Quốc Ngữ trước 1945 ở Thành phố Hồ Chí Minh, NXB Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, NXB văn hóa Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Quốc Ngữ trước 1945 ở Thành phố Hồ Chí Minh
Nhà XB: NXB Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh
17. Trần Hữu Tá, Nghĩ về buổi bình minh của tiểu thuyết Nam Bộ, NXB Đại học quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghĩ về buổi bình minh của tiểu thuyết Nam Bộ
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia
18. Nguyễn Q.Thắng, Văn học Việt Nam nơi miền đất mới, tập 1, NXB Văn học 19. Trần Mạnh Tiến, Lí luận phê bình văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX, NXBGiáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam nơi miền đất mới", tập 1, NXB Văn học 19. Trần Mạnh Tiến, "Lí lu"ận phê bình văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX
Nhà XB: NXB Văn học 19. Trần Mạnh Tiến
20. Bùi Đức Tịnh, Những bước đầu của báo chí, truyện ngắn, tiểu thuyết và thơ mới (1865-1932), NXB Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những bước đầu của báo chí, truyện ngắn, tiểu thuyết và thơ mới (1865-1932)
Nhà XB: NXB Thành phố Hồ Chí Minh
21. Nguyễn Văn Tùng, Tuyển tập các bài viết về tiểu thuyết ở Việt Nam thế kỷ XX, NXB Giáo dục.II. Tác phẩm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập các bài viết về tiểu thuyết ở Việt Nam thế kỷ XX
Nhà XB: NXB Giáo dục. II. Tác phẩm

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w