Trong số 17 nước đầu tư vào Chămpasak, Việt Nam chiếm tỷ lệ vốn đầu tư cao nhất, chủ yếu đầu tư vào lĩnh vực trồng cao su, cà phê, kinh doanh khách sạn… tiếp theo là các nước Thái Lan, T
Trang 1BỘ TÀI CHÍNH TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH-MARKETING
Trang 2L ỜI CẢM ƠN
Trong thời gian nghiên cứu, tìm hiểu, thu thập số liệu để viết chuyên đề
tốt nghiệp là “Giải pháp thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của Việt Nam và
quan tâm của lãnh đạo của Bộ và sở kế hoạch và đầu tư tỉnh Champasak cũng như sự tạo điều kiện giúp đỡ của phòng tổng hợp Tuy nhiên, do hạn chế về trình
độ và tài liệu tôi đã thu thập được nên chuyên đề không thể tránh khỏi những tồn
tại và thiếu sót Tôi kính mong nhận được chỉ bảo, góp ý của Thầy, Cô và hội đồng để chuyên đề được hoàn thiện hơn, mang ý nghĩa khoa học và thực tiễn cao hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn tận tình của thầy giáo hướng dẫn PGS.TS Hoàng Trần Hậu, cảm ơn ban lãnh đạo Bộ, sở kế hoạch và đầu tư tỉnh Champasak, các cán bộ phòng tổng hợp đã giúp và tạo điều kiện cho tôi hoàn thành chuyên đề này
Cuối cùng em xin chúc quí các thầy cô sức khỏe và thành đạt
Xin chân thành cảm ơn
Tran trọng cảm ơn
Latthanou SISANGA
Trang 3MỘT SỐ LÝ LUẬN VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI (FDI) CƠ SỞ - LÝ
LU ẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI CÔNG
HÒA DÂN CH Ủ NHÂN DÂN LÀO 32T 6
1.2.2 V ề phía Lào : chính sách, tiềm lực của Lào; nguồn nhân lực của Lào 32T 18
1.3 Kinh nghi ệm thu hút FDI từ nước khác………23
32T
CHƯƠNG II 32T 28
32T
PHÂN TÍCH TH ỰC TRẠNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI CỦA VIỆT
NAM VÀ THÁI LAN TRONG T ỈNH CHAMPASAK CỦA NƯỚC CHDCND Lào 32T
2.3 Phân tích th ực trạng thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài của Việt nam và
Thái Lan tại tỉnh Champasak, CHDCND Lào 32T 32
2.5 Cơ chế chính sách của tỉnh Champasak đã ban hành và áp dụng để thu hút đầu
tr ực tiếp nước ngoài 32T 47
Trang 43.3.2.1.5 Tập trung nâng cao hoạt động của công tác quản lý, điều hành, tháo
g ỡ khó khăn và hỗ trợ các dự án FDI hoạt động hiệu quả 32T 76
Trang 5DANH M ỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ
Bảng 2.1 : Số vốn và dự án đầu tư của Thái Lan vào tỉnh Champasak 34
Biểu đồ 2.1 : Số dự án đầu tư qua các năm của Thái Lan 2000 – 201435
Bảng 2.2 : Số dự án và vốn đầu tư của Việt Nam vào tỉnh Champasak 36Biểu đồ 2.2 Dự án đầu tư qua các năm của Việt Nam 2000 – 2014 37
Bảng 2.3 : Đầu tư trực tiếp nước ngoài của Thái Lan và Việt Nam vào
tỉnh Champasak theo ngành giai đoạn 2000 – 2011 39
Bảng 2.4 : Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào tỉnh Champasak tính theo hình thức đầu tư giai đoạn 2000 – 2014 (Thái Lan và Việt Nam) 41
Bảng 2.5 : Tốc độ GDP của tỉnh Champasak giai đoạn 2000-2014 44
Trang 6DANH M ỤC CHỮ VIẾT TẮT
AEC Cộng đồng kinh tế ASEAN (ASEAN Economic Community) AFTA Hiệp định thương mại tư do Châu Á (ASIAN Free Trade
Agreement) BCC Hợp đồng hợp tác kinh doanh (Business Cooperation Contract) B.O.T Hợp đồng – Xây dựng – Kinh doanh – Chuyển giao
CHDCND Lào Cộng Hoà Dân Chủ Nhân Dân Lào
CHXHCN Việt Nam Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam
ĐTTTNN Đầu tư trực tiếp nước ngoài
FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign Dirrect Investment)
GDP Tổng sản phẩm trong nước (Gross Domestic Product)
IMF Quỹ tiền tệ quốc tế (International Monetary Fund)
LSX Thị trường chứng khoán Lào (Lao Security Exchange)
ODA Official Development Assistance
PDA Hiệp định dự án phát triển(Project Development Agreement)
TNHH Trách nhiệm hữu hạn
WTO Tổ chức thương mại thế giới (World Trade Orgainizatio
Trang 7M Ở DẦU 1.Tính c ấp thiết của đề tài:
Trong việc xây dựng và phát triển tổ quốc có thể nói đầu tư là một lĩnh
vực rất quan trọng và cần thiết đối với việc phát triển của nền kinh tế - xã hội
của không chỉ các nước kém phát triển, mà còn các nước đang phát triển và các nước đã phát triển Tuy nhiên, đầu tư trực tiếp nước ngoài là một trong những điều kiện rất quan trọng và không thể thiếu được trong việc phát triển tổ quốc đến tiến bộ của kinh tế - xã hội trong mọi hướng mà chúng ta có thể thấy được từ nước có nền kinh tế phát triển lớn nhất và là nước mà có giá trị đầu tư lớn nhất
CHDCND Lào đã mở cửa và có quan hệ kinh tế quốc tế với các nước trên
thế giới từ năm 1986 nhưng chưa có nước nào vào đầu tư tại Lào vì lúc đó chưa
có luật và những chính sách đảm bảo sự an toàn của họ, cho đến năm 1989 sau
có luật và các chính sách áp dụng thì mới có các nhà đầu tư của Thái Lan đầu tư vào CHDCND Lào Đến năm 1997 CHDCND Lào đã là thành viên của ASIAN
và đã được ký hợp đồng thương mại tư do ASIAN (AFTA : ASIAN FREE TRADE AGREEMENT) Đến năm 1998 đã được tham gia vào trong hợp tác kinh tế với các nước láng giềng trong khu vực nhất là trong hợp tác về tam giác kinh tế và du lịch Đến năm 2004 chính phủ đã ban hành pháp luật là luật thúc đẩy đầu tư trực tiếp nước ngoài trong CHDCND Lào Từ đó, tạo được nhiều sự tin tưởng hơn đối với các nhà đầu tư nước ngoài đến đầu tư tại CHDCND Lào
Champasak là một tỉnh lớn của CHDCND Lào và là một trong những điểm xuất phát về kinh tế - xã hội, cơ sở vật chất kỹ thuật, hạ tầng và nguồn lực cho đầu tư phát triển nói riêng, cho phát triển kinh tế - xã hội nói chung vẫn còn thấp kém Tăng trưởng hợp tác kinh tế về vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI : Foreign Direct Investment) đóng vai trò hết sức quan trọng và rất cần thiết Tuy nhiên, tỉnh cố gắng nhiều lên để phát huy được sự thuận lợi, khắc phục những khó khăn về tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh đã có những chuyển biến tích cực nhưng đó cũng chỉ là trong thời gian ngắn mà thôi Đặc biệt là những hoạt động
Trang 8đầu tư của nhà đầu nước ngoài tại tỉnh đã dần dần khẳng định được vị trí và vai trò của tỉnh đối với sự phát triển nền kinh tế của tỉnh Những năm gần đây Champasak cũng mở rộng cửa thu hút các nhà đầu tư Riêng đầu tư nước ngoài,
hiện Việt Nam đang dẫn đầu với hơn 51% tổng vốn FDI vào Champasak Trong
đó nông nghiệp có 21 dự án có tổng vốn là 165 triệu USD, công nghiệp có 10 dự
án với trị giá là 33,9 triệu USD, dịch vụ có 6 dự án với hơn 20 triệu USD Đồng Nai có 2 dự án tại Champasak với trên 23 triệu USD và chiếm trên 10% số vốn đầu tư nước ngoài vào Champasak Dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đã giúp Champasak duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế trên 10% trong năm 2010 và
2011.Trong năm 2012, tỉnh Chămpasak đã tiến hành tổ chức một số hoạt động xúc tiến đầu tư vào Chămpasak tại các tỉnh Đồng Nai, Bình Dương, TP HCM (Việt Nam) Bên cạnh đó, Chămpasak cũng kêu gọi đầu tư từ các nước khác như: Trung Quốc, Thái Lan…
Đến nay, tỉnh Chămpasak đã thu hút khoảng 341 dự án đầu tư trong và ngoài nước với tổng vốn đăng ký khoảng 10.796 tỷ kip Trong đó, có 166 dự án đầu trong nước với vốn đầu tư khoảng 4.394 tỷ kíp; còn lại là các dự án FDI Trong số 17 nước đầu tư vào Chămpasak, Việt Nam chiếm tỷ lệ vốn đầu tư cao
nhất, chủ yếu đầu tư vào lĩnh vực trồng cao su, cà phê, kinh doanh khách sạn…
tiếp theo là các nước Thái Lan, Trung Quốc… Bức tranh của quan hệ kinh tế đối ngoại nói chung, thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài nói riêng đã được hình thành rõ ràng và năng động
Tỉnh Champasak có diện tích trên 15.300 km2 trong đó có khoảng 1,5 triệu ha đất sản xuất nông nghiệp, có 200 km sông Mê Kông chảy qua địa phận tỉnh Với vị trí thuận lợi, thiên nhiên ưu đãi tỉnh Champasak đã sôi nổi lên là một
tỉnh có sức hấp dẫn, phù hợp và là một hiện tượng đặc sắc về thu hút đầu tư FDI
Trang 9Đầu tư trực tiếp nước ngoài đã và đang đóng góp một phần tích cực đáng
kể trong công cuộc đổi mới kinh tế của tỉnh Champasak nhiều hơn những năm
đã qua Chúng ta có thể nói rằng, đầu tư nước ngoài như là một trong các nguồn năng lực rất quan trọng trong việc phát triển và đổi mới kinh tế của Lào Ngày nay, có thể nói là đầu tư nước ngoài đã trở thành một bộ phận của nền kinh tế
của nước CHDCND Lào Mọi chính sách kinh tế, mỗi biến động tài chính tiền tệ, các chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh đều có bóng dáng sáng soả của đầu tư nước ngoài Đối với Lào, là một đất nước có trình độ về kinh tế kém phát triển, các tỉnh miền núi và các tỉnh nghèo còn chiếm một phần lớn trong nước,
vậy việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài là rất quan trọng nhằm mục thực hiện chính sách công nghiệp hoá hiện đại hoá mà đặc biệt là xoá đói giảm nghèo, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn, ưu tiên về phát triển kinh tế - xã hội ở các vùng miền núi vùng sâu vùng xa đang là chính sách phát triển toàn diện mà Đảng và Nhà nước chúng ta đã đề ra Đầu tư trực tiếp nước ngoài mang lại cho
tỉnh Champasak rất nhiều lợi ích khác nhau, nó thể hiện dưới sự tiến bộ về mặt kinh tế, chính trị và xã hội Nó ngày càng quan trọng đối với tỉnh Champasak nói riêng và một nước có nhu cầu vốn lớn cho sự phát triển kinh tế xã hội nói chung
Do có đầu tư trực tiếp nước ngoài thì làm cho tình hình xã hội của tỉnh đã được
cải thiện, đời sống nhân dân tại tỉnh được nâng cao, từ không có thu nhập trở thành có thu nhập cao, giảm bớt sức ép của những vấn đề xã hội Tuy nhiên, bên
cạnh những lợi ích đó mà đầu tư nước ngoài mang lại thì nó cũng còn có nhiều
hạn chế đó là những tác động tiêu cực của đầu tư nước ngoài với nền kinh tế và
có thể nói nó là con dao hai lưới, bởi vậy chúng ta cần phải mở rộng quan hệ với nước ngoài và biết tiếp nhận đầu tư nước ngoài một cách hợp pháp, đúng đắn, phát huy mặt tích cực của nó đồng thời giảm được những ảnh hưởng tiêu cực hướng theo chiến lược phát triển kinh tế xã hội bằng cách cùng giám sát với họ
để tránh tình trạng những tác động tiêu cực mà nó có thể có bất kỳ trong thời gian nào Đặc biệt, trong thời gian tới chúng ta cần phải đưa ra các giải pháp
Trang 10thiết thực, hợp pháp và đúng đắn để có thể tăng cường việc thực hiện thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào tỉnh Champasak nhằm huy động được tối đa nguồn lực cho sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Ngoài đó, tỉnh đang
cải thiện phát triển khu kinh tế đặc biệt mang tên là khu kinh tế đặc biệt Khonphaphêng, Pakxong, Văng tau
Chính vì vậy, đề tài nghiên cứu là “Giải pháp thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của Việt Nam và Thái Lan vào tỉnh Champasak của nước CHDCND Lào”
2 M ục tiêu nghiên cứu
• Nghiên cứu thực trạng của đầu tư trực tiếp nước ngoài của Việt Nam và Thái Lan tại tỉnh Champhasak…
• Phân tích, so sánh và đánh giá thực trạng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào tỉnh Champasak
• Đề xuất các giải pháp để tăng cường thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào tỉnh Champasak
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
• Đối tượng ngiên cứu của luận văn là Giải pháp thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của Việt Nam và Thái Lan vào tỉnh Champasak của nước CHDCND Lào
• Phạm vi nghiên cứu của luận văn: Nghiên cứu tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài vào tỉnh Champasak từ năm 2000-2011
4 Phương pháp nghiên cứu
• Phương pháp được sử dụng trong quá trình thực hiện đề tài là: Phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp, sơ đồ, bảng biểu…
• Phương pháp định tính qua việc thống kê mô tả, phân tích, so sánh, tổng
Trang 115 K ết cấu của đề tài:
Ngoài lời mở đầu trên, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo Đề tài này còn được trình bày thành ba chương:
Chương I : Một số lý luận về đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)
Chương II : Phân tích thực trạng đầu tư trực tiếp nước ngoài của Việt nam
và Thái Lan vào t ỉnh Champasak của CHDCND Lào
Chương III : Định hướng và giải pháp tăng trưởng thu hút FDI vào tỉnh Champasak c ủa CHDCND Lào
Trang 12CHƯƠNG I
(FDI) CƠ SỞ - LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐẦU TƯ
NHÂN DÂN LÀO 1.1 Khái ni ệm và các hình thức đầu tư trực tiếp
1.1.1 Khái ni ệm về đầu tư trực tiếp nước ngoài :
A , Các lý thuy ết về đầu tư trực tiếp nước ngoài:
- Lý thuyết chu kì sống: Lý thuyết này giải thích tại sao các nhà sản xuất lại chuyển hướng hoạt động kinh doanh từ xuất khẩu sang thực hiện FDI Lý thuyết cho rằng đầu tiên các nhà sản xuất tại chính quốc đạt được lợi thế độc quyền
xuất khẩu nhờ việc cho giá đời những sản phẩm mới, sản xuất vẫn tiếp tục tập trung tại chính quốc này cả chỉ khi phí sản xuất ở nước ngoài có thể thập hơn Trong thời kỳ này để xâm nhập thị trường nước ngoài thì các nước thực hiện
việc xuất khẩu hàng hoá Tuỳ nhiên khi sản phẩm trở nên chuẩn hoá trong thời
kỷ tăng trưởng các nhà sản xuất khuyến khích đầu tư ra nước ngoài nhằm tận dụng chi phí sản xuất thập và quan trọng hơn là ngăn chặn khả năng để rời thị trường vào nhà sản xuất điạ phường
- Lý thuyết về quyền lợi thị trường: Lý thuyết cho rằng FDI tồn tại do
những hành vi đặc biệt của độc quyền nhóm trên phạm vi quốc tế như phản ứng độc quyền nhóm, hiệu quả kinh tế bên trong do quy mô sản xuất và sự liên kết đầu tư nước ngoài theo chiều rộng Tất cả những hành vi này đều nhằm hạn chế cạnh tranh mở rộng thị trường và ngăn không cho đối thu khác xâm nhập vào ngành FDI theo chiều rộng tồn tại khi các công ty xâm nhập vào nước khác và sản xuất các sản phẩm trung gian, sau đó các sản phẩm này được xuất ngược trở lại và được sản xuất với tư cách là đầu vào cho sản xuất của chủ nhà hay tiêu thụ
Trang 13này các công ty thực hiện FDI vì một số lý do: thứ nhất: do nguồn cung cấp nguyên liệu ngày càng khan hiếm các công ty địa phường không đủ khả năng tham do khai thác do vậy các MNC tranh thủ lợi thế cạnh tranh trên cơ sở khai thác nguyên liệu tại địa phương điều đó giải thích tại sao FDI theo chiều rộng được thực hiện ở các nước đang phát triển Thứ hai, thông qua các liên kết FDI
dọc các công ty độc quyền nhóm lập nên các hàng rào không cho các công ty khác tiếp cận tới những nguồn nguyên liệu của chung Thứ ba, FDI theo chiều
rộng còn tạo ra lợi thế về chi phí thông qua việc cải tiến kỷ thuật bằng cách phối hợp sản xuất và chuyền giao các sản phẩm giữa các công đoán khác nhau của quá trình sản xuất
- Lý thuyết về tính không hoàn hảo của thị trường: Lý thuyết này cho rằng khi xuất hiện trên thị trường cho hoạt động kinh doanh kém hiệu quả đi các công
ty thực hiện đầu tư trực tiếp nước ngoài nhằm khuyên khích hoạt động kinh doanh và vượt qua yếu tố không hoàn hảo đó Có hai yếu tố không hoàn hảo của
thị trường là rào cản thương mại và kiến thực đặc biệt
- Lý thuyết chiết trung: Các công ty sẽ thực hiện FDI khi hộ tụ đủ ba lợi
thế: địa điểm, sở hữu, nội địa hoá, về địa điểm là các ưu thế có được do tiến hành
hoạt động sản xuất kinh doanh tại một địa điểm nhất định những ưu thế về địa điểm có thể là các nguồn tài nguyên thiên nhiên, nguồn lao động lãnh nghề và
rể…Sở hữu là ưu thế cho một công ty có cơ hội tham gia sở hữu một số tài sản
nhất định như nhãn hiệu sản phẩm, kiến thức kỹ thuật hay cơ hội quản lý… Nội địa hóa là ưu thế đạt được cho việc nội hoá hoạt động sản xuất thay vì chuyển nó đến một thị trường kém hiệu quả hơn.Thuyết này khẳng định rằng khi hội tụ đầy
đủ các lợi thế trên, các công ty sẽ thực hiện FDI
B, Khái ni ệm về đầu tư trực tiếp nước ngoài:
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là một quá trình mà người trú ẩn của
một nước (nước xuất khẩu đầu tư) là chủ sở hữu tài sản để nhằm mục đích quản
lý việc sản xuất, phân chia và các hoạt động khác của các nhà doanh nghiệp tại
Trang 14một nước khác (nước tiếp nhận đầu tư)
FDI là đầu tư của các công ty nhằm xây dựng các cơ sở, chi nhánh ở nước ngoài và làm chủ toàn bộ hay từng phần cơ sở đó Đây là hình thức đầu tư mà chủ đầu tư nước ngoài đóng góp một số vốn lớn vào lĩnh vực sản xuất hoặc dịch
vụ và cho phép họ trực tiếp tham gia điều hành đối tượng mà họ bỏ vốn đầu tư
- Theo Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) (1977):
"Đầu tư trực tiếp ám chỉ số đầu tư được thực hiện để thu được lợi ích lâu dài trong một hãng hoạt động ở một nền kinh tế khác với nền kinh tế của nhà đầu tư, mục đích của nhà đầu tư là giành được tiếng nói có hiệu quả trong công việc quản lý hãng đó"
- Theo luật Đầu tư nước ngoài của Liên Bang Nga (04/07/1991"Đầu tư trực tiếp nước ngoài là tất cả các hình thức giá trị tài sản và những giá trị tinh thần mà nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào các đối tượng sản xuất kinh doanh và các hoạt động khác nhằm mục đích thu lợi nhuận"
- Theo Hiệp hội Luật quốc tế Henxitiky (1996 )
Đầu tư trực tiếp nước ngoài là sự di chuyển vốn từ nước của người đầu tư sang nước của người sử dụng nhằm xây dựng ở đó những xí nghiệp kinh doanh hay dịch vụ
- Theo Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam sửa đổi, ban hành 12/11/1996, tại Điều 2 Chương 1:
Đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào để tiến hành hoạt động đầu tư theo quy định của luật này
Theo Luật khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài của CHDCND Lào
số 2/QH ngày mùng 8 tháng 7 năm 2009 thì FDI có nghĩa là sự nhập khẩu vốn từ nước ngoài để phát triển nền kinh tế quốc dân, gồm có cả tài sản, chuyên môn và
Trang 15công nghệ hiện đại
Như vậy, mặc dù có rất nhiều quan điểm khác nhau khi đưa ra khái niệm
về FDI, song ta có thể đưa ra một khái niệm tổng quát nhất, đó là:
Đầu tư trực tiếp nước ngoài là hình thức mà nhà đầu tư bỏ vốn để tạo lập
cơ sở sản xuất kinh doanh ở nước tiếp nhận đầu tư Trong đó nhà đầu tư nước ngoài có thể thiết lập quyền sở hữu từng phần hay toàn bộ vốn đầu tư và giữ quyền quản lý, điều hành trực tiếp đối tượng mà họ bỏ vốn nhằm mục đích thu được lợi nhuận từ các hoạt động đầu tư đó trên cơ sở tuân theo quy định của Luật Đầu tư nước ngoài của nước sở tại
1.1.2 Đặc điểm của đầu tư trực tiếp nước ngoài
Từ những quan điểm lý thuyết trên, có thể rút ra những đặc điểm về đầu tư trực tiếp nước ngoài như sau:
- Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư quốc tế chủ yếu mà chủ đầu tư nước ngoài đầu tư toàn bộ hay phân đủ lớn vốn đầu tư của các dự án nhằm giành quyền điều hành hoặc tham gia điều hành các doanh nghiệp sản xuất hoặc kinh doanh dịch vụ, thương mại
- Đầu tư FDI được thực hiện thông qua việc xây dựng doanh nghiệp mới, mua lại toàn bộ hoặc từng phần doanh nghiệp đang hoạt động hoặc mua cổ phần
để thôn tính hoặc sát nhập các doanh nghiệp với nhau
- Các chủ đầu tư nước ngoài phải đóng góp một số vốn tối thiểu theo luật đầu tư của từng nước quy định Chủ đầu tư nước ngoài điều hành toàn bộ mọi
hoạt động đầu tư nếu là doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài hoặc tham gia điều hành doanh nghiệp liên doanh tuỳ theo tỉ lệ góp vốn của mình Đối với nhiều nước trong khu vực, chủ đầu tư chỉ được thành lập doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài trong một số lĩnh vực nhất định và chỉ được tham gia liên doanh với số vốn cổ phần của bên nước ngoài nhỏ hơn hoặc bằng 49%; 51% cổ phần còn lại
do nước chủ nhà nắm giữ Trong khi đó, Luật đầu tư nước ngoài của Lào cho
Trang 16phép rộng rãi hơn đối với hình thức 100% vốn nước ngoài và quy định bên nước ngoài phải góp tối thiểu 30% vốn pháp định của dự án
- Đây là hình thức nhà đầu tư tự bỏ vốn cùng điều hành nguồn vốn đó theo nhu cầu kinh doanh của mình Họ sẽ bị lỗ hoặc hưởng lãi vì vậy nước nhận đầu
tư sẽ không phải tham gia vào các hoạt động đầu tư loại này trừ việc điều hành bàng hành lang pháp lý của mình Đầu tư trực tiếp mang lại cho nước nhận đầu
tư thu thập được công nghệ cao cùng kỹ năng quản lý tốt Vì vậy các nước đang phát triển trên thế giới đều muốn thu hút loại hình đầu tư này để theo kịp khoa học kỹ thuật mà các nước phát triển đã trải qua Nguồn vốn đầu tư này có một
thời hạn rộng rãi, mang tính khả thi và hiệu quả kinh tế cao và không bị gắn với bất cứ điều kiện chính trị nào nên nước chủ nhà không bị những ảnh hưởng về mặt chính trị của các nước cho vay nợ hoặc đầu tư, không để lại gánh nặng nợ nần cho nền kinh tế
- Đầu tư trực tiếp chịu sự chi phối mãnh liệt của quy luật thị trường, vì vậy
lợi nhuận là mục tiêu hàng đầu của các nhà đầu tư Lợi nhuận của các nhà đầu tư nước ngoài thu được phụ thuộc vào kết quả hoạt động kinh doanh và được chia theo tỷ lệ góp vốn trong vốn pháp định sau khi nộp thuế cho nước sở tại và trả
lợi tức cổ phần (nếu có)
- Thông qua FDI, nước tiếp nhận đầu tư có cơ hội học hỏi được công nghệ,
kỹ thuật hiện đại, tiếp thu được kinh nghiệm quản lý của các nước phát triển Đây cũng chính là ưu điểm mà các hình thức khác không có được
- Nguồn vốn FDI không chỉ bao gồm vốn đầu tư ban đầu của chủ dự án đầu
tư dưới hình thức vốn pháp định, mà trong quá trình hoạt động, nó còn bao gồm
cả vốn vay của doanh nghiệp để triển khai hoặc mở rộng dự án cũng như vốn đầu tư từ nguồn lợi nhuận thu được
Các đặc điểm trên đã tạo một ưu thế chắc chắn FDI hơn những hình thức đầu tư khác, và FDI trên thế giới hiện nay là hình thức đầu tư được quan tâm đặc
ệt
Trang 17Đặc điểm của đầu tư trực tiếp nước ngoài hầu hết là giống nhau toàn thế
giới (Monekham SOULINPHOUMY, năm 2008 )
1.1.3 Các hình th ức chủ yếu của đầu tư trực tiếp nước ngoài:
Hiện nay, toàn nước CHDCND Lào đang có 3 hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài chủ yếu theo Luật thúc đẩy đầu tư nước ngoài sau đây :
• Hợp đồng hợp tác kinh doanh (Business Cooperation Contract – BCC) BCC là hợp đồng được ký kết giữa 2 bên hoặc nhiều bên (nước ngoài và nước sở tại), để nhằm tiến hành một hoặc nhiều hoạt động đầu tư tại nước tiếp nhận đầu tư trên cơ sở quy định trách nhiệm và phân chia những kết quả kinh doanh mà không thành lập pháp nhân mới
Phương thức hoạt động là các tổ chức kinh tế trong nước sản xuất, gia công,
lắp ráp sản phẩm cho phía nước ngoài và nhận lại tiền công lao động hoặc bằng
sản phẩm Khi hết hạn hợp đồng, các máy móc thiết bi phục vụ cho việc sản xuất, gia công có thể được bán lại cho doanh nghiệp
• Doanh nghiệp liên doanh (Joint – Venture enterprise)
Doanh nghiệp liên doanh là doanh nghiệp được thành lập do các chủ đầu tư nước ngoài hợp tác và góp vốn với doanh nghiệp của nước tiếp nhận đầu tư trên
cơ sở hợp đồng là liên doanh Các bên tham gia vào hợp tác và góp vốn thì cùng điều hành hoạt động kinh doanh, cùng hưởng lợi nhuận và chia sẻ rủi ro theo tỷ
lệ góp vốn
Doanh nghiệp liên doanh được thành lập theo hình thức công ty TNHH
có tư cách pháp nhân theo pháp luật của CHDCND Lào Thời gian trong hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp là khoảng từ 30-50 năm Doanh nghiệp đầu
tư theo hình thức này là hoàn toàn tự chủ về tài chính vì vốn pháp định do
mỗi bên liên doanh đóng góp Trong quá trình hoạt động kinh doanh muốn tăng vốn phải được sự chấp thuận của Bộ Kế hoạch và Đầu tư
• Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài (100% foreign owned capital)
Trang 18Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là doanh nghiệp có tư cách pháp nhân riêng với 100% vốn của phía nước ngoài Loại hình doanh nghiệp này là do phía nước ngoài có quyền sở hữu quản lý, điều hành, tự tổ chức sản xuất kinh doanh
và chịu toàn bộ trách nhiệm về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh trong khuôn khổ pháp luật của nước tiếp nhận đầu tư Trong quá trình hoạt động, đầu
tư thì các doanh nghiệp hoặc các nhà đầu tư không được giảm vốn pháp định Ngoài ra còn có nhiều hình thức khác như là hình thức công ty cổ phần, công ty quản lý vốn và còn có hình thức biến tướng khác tuỳ theo mục đích và đặc điểm trong yêu cầu tiếp nhận đầu tư Ví dụ, các lĩnh vực khai thác tài nguyên thiên nhiên mà có hình thức hợp đồng phân chia sản phẩm, trong lĩnh vực xây dựng kết cấu hạ tầng thì có hợp đồng xây dựng - kinh doanh - chuyển giao (B.O.T) Hoặc hình thức đầu tư vào khu chế xuất hiện nay cũng có nhiều cải biến, con người bắt đầu tập trung chú ý đến hình thức xây dựng các khu công nghiệp hiện đại hoặc quan tâm đến việc xây dựng đặc khu kinh tế Việc đó chắc
chắn sẽ có nhiều hình thức cụ thể ra đời để đáp ứng cho nhu cầu và khả năng thu hút đầu tư nước ngoài của các quốc gia Có thể nói rằng, các hình thức của FDI
rất đa dạng, phong phú, và mỗi hình thức sẽ có những điểm mạnh và điểm yếu khác nhau Như vậy, phụ thuộc vào các yêu cầu, các mục tiêu của từng dự án cụ
thể mà chủ đầu tư sẽ lựa chọn hình thức thích hợp thuận lợi và mang lại lợi ích nhiều nhất cho chính mình
1.2 Đánh giá đặc điểm đầu tư của Việt Nam và Thái Lan
Dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào các quốc gia thì không bằng nhau, và trong mỗi quốc gia, các vùng kinh tế khác nhau thì có khả năng thu hút và sử dụng vốn FDI khác nhau Việc lượng vốn FDI vào các vùng kinh tế
của các quốc gia sẽ cao hay là thấp thì nó sẽ phụ thuộc vào các yếu tố sau: hướng di chuyển của dòng vốn FDI; sự ổn định về môi trường vĩ mô; chiến lược, quy hoạch, kế hoạch thu hút và sử dụng vốn FDI của các quốc gia và các địa phương; sự phát triển hành chính; hoạt động xúc tiến đầu tư; trong đó, điều kiện
Trang 19tự nhiên, kinh tế - xã hội của các vùng kinh tế sẽ có ảnh hưởng lớn đến hoạt động thu hút và sử dụng vốn FDI
1.2.1 Nhà đầu tư : cơ chế chính sách, tiềm lực và sở trường của nhà đầu
tư
1.2.1.1 Vi ệt Nam
Dựa vào luật Đầu tư năm 2005 và Nghị định chính phủ số 78/2006 NĐ –
CP quy định về đâu tư trực tiếp ra nước ngoài của Việt Nam
Trường hợp pháp luật, chính sách mới ban hành có các quyền lợi, ưu đãi cao hơn so với các quyền lợi, ưu đãi mà nhà đầu tư đã được hưởng trước đó thì nhà đầu tư được hưởng các quyền lợi, ưu đãi theo quy định mới kể từ ngày pháp
luật, chính sách mới đó có hiệu lực
Trường hợp các quyền lợi, ưu đãi ghi trong Giấy phép đầu tư hoặc văn
bản cho phép đầu tư trực tiếp ra nước ngoài đã cấp cho nhà đầu tư có mức độ ưu đãi cao hơn so với các quyền lợi, ưu đãi mà nhà đầu tư được hưởng theo quy định hiện hành thì nhà đầu tư đó có quyền tiếp tục được hưởng các quyền lợi, ưu đãi đã ghi trong Giấy phép đầu tư hoặc văn bản cho phép đầu tư trực tiếp ra nước ngoài
Tiềm năng và sở trường của Việt Nam
Việt Nam và Lào là hai nước láng giềng, có truyền thống hữu nghị, tình cảm anh em gắn bó keo sơn từ lâu đời Trong việc hợp tác toàn diện giữa Lào và Việt Nam có sự phát ngày một mạnh mẽ, nhất là trong lĩnh vực thương mại giữa hai nước Nhiều dự án đầu tư trực tiếp của Việt Nam vào Lào đang được triển khai một cách hiệu quả và ngày một phát triển cả về số lượng và chất lượng trên tất cả các lĩnh vực như : Nông-Lâm nghiệp, Xây dựng, Công nghiệp chế biến và công nghiệp nặng, Dịch vụ
Trang 20Vào năm 1993, dự án đầu tiên của Việt Nam về khai thác thiếc đăng ký đầu tư vào thị trường Lào Nhưng giai đoạn 1993-1998, các dự án của Việt Nam đăng ký đầu tư vào Lào ít (chỉ có 4 dự án với tổng vốn đăng ký 2,8 triệu USD)
Từ năm 1999 các dự án đầu tư vào Lào mới tăng trưởng nhanh về cả số lượng và chất lượng (quy mô) dự án Trong đó, lĩnh vực công nghiệp là lĩnh vực có sự tăng trưởng nhanh đầu tư của doanh nghiệp Việt Nam vào Lào giai đoạn 2005-
2010 (đạt 88 dự án đầu tư)
Có thể thấy tình hình đầu tư của các doanh nghiệp Việt Nam sang Lào có
sự tăng trưởng mạnh về tổng mức đăng ký đầu tư Nếu năm 2005 chỉ có 450,45 triệu USD vốn đăng ký đầu tư, thì đến năm 2007 đã đạt đến 692,72 triệu USD đăng ký đầu tư, đến năm 2009 đạt 1.302,42 triệu USD vốn đăng ký đầu tư Giai đoạn 2005-2009, giá trị vốn đăng ký đầu tư tăng 2,89 lần, tốc độ tăng trưởng bình quân tổng vốn đăng ký đầu tư đạt 30,3%/năm Riêng năm 2010, số dự án đầu tư tăng lên 26 dự án; tuy nhiên, tổng mức đầu tư giảm xuống chỉ còn 132,11 triệu USD
Mức đầu tư bình quân trong ngành dịch vụ đạt 36,2 triệu USD/dự án là mức đầu tư rất cao nhưng trên thực tế, hầu hết các dự án đều có quy mô nhỏ Quy mô đầu tư bình quân chỉ tăng lên rất nhiều sau khi có dự án của công ty cổ phần đầu tư và kinh doanh Golf Long Thành đầu tư vào lĩnh vực sân Golf và bất động sản tại thủ đô Viêng Chăn vào năm 2009 với mức đăng ký đầu tư 1 tỷ USD
Các dự án đầu tư vào ngành Nông - Lâm nghiệp có quy mô bình quân đạt 21,3 triệu USD/dự án là mức đầu tư tương đối cao Bởi vì đa số dự án trong lĩnh vực Nông - Lâm nghiệp là dự án trồng cây cao su cần đầu tư ở mức lớn, tổ chức sản xuất kiểu công nghiệp mới đảm bảo hiệu quả sản xuất
Ngành công nghiệp có quy mô đầu tư bình quân đạt 14,7 triệu USD/dự án,
là ngành có mức đầu tư thấp hơn mức trung bình (19,9 triệu USD)
Trang 21Tính đến nay, Chính phủ Lào đã cấp phép đầu tư cho 413 dự án của các doanh nghiệp Việt Nam (DNVN) với tổng số vốn đầu tư khoảng 5 tỷ USD Đầu
tư của Việt Nam đứng thứ 2 trong các quốc gia đầu tư vào Lào, tập trung vào các lĩnh vực như năng lượng, dịch vụ, hạ tầng, nông – lâm nghiệp và khai khoáng…
Tổng số FDI giải ngân lũy kế của các dự án Việt Nam đến nay đạt xấp xỉ 1,5 tỷ USD, tương ứng 30% tổng vốn đầu tư đăng ký của Việt Nam tại Lào, trong đó nhiều dự án đã đi vào hoạt động đạt hiệu quả tốt, đã góp phần làm tăng trưởng nền kinh tế Lào, tăng thu ngân sách và tạo việc làm ổn định cho trên 30 nghìn lao động của Lào
Đầu tư của các doanh nghiệp Việt Nam vào Lào tập trung lớn tại khu vực Trung Nam Lào Tính đến hết tháng 9/2014, số dự án đầu tư của Việt Nam vào khu vực Trung Nam Lào là 199 dự án, chiếm khoảng 49% tổng số dự án đầu tư vào Lào; tổng vốn đầu tư đạt hơn 4,7 tỷ USD, chiếm 95,4% tổng số FDI đăng kí của Việt Nam tại Lào Tính từ sau tọa đàm xúc tiến đầu tư vào khu vực Trung Nam Lào lần thứ nhất tại Chawmpasak năm 2012, đã có 36 dự án mới với tổng số vốn đầu tư là 1.53 tỷ USD được Chính phủ Lào cấp phép, gấp 1.5 lần so với năm 2012
Nhiều dự án quy mô lớn đang được các doanh nghiệp Việt Nam tích cực triển khai như: lĩnh vực khai khoáng (Dự án muối mỏ Kali tại Khăm muộn với tổng đầu tư gần 500 triệu USD); lĩnh vực năng lượng, thuỷ điện (Có 4 dự án, tổng số vốn đầu tư là hơn 1,17 tỷ USD, chiếm 24,7% như: Dự án thủy điện Xekaman 1, Thuỷ điện Luangprabang,…); Đầu tư cơ sở hạ tầng (Dự án kho ngoại quan và đường ống dẫn dầu từ Cảng Hòn La sang tỉnh Khămmuộn, sân bay Attopư, các dự án xây dựng đường giao thông khác), điển hình đi đầu tạo động lực cho doanh nghiệp là tập đoàn Hoàng Anh Gia Lai… đã tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển giao thương và du lịch mang tính đột phá
Trang 22Về hợp tác thương mại, đến hết tháng 9 năm 2014,kim ngạch thương mại hai chiều VN – Lào đạt 995 triệu USD Riêng khu vực Trung Nam Lào, kim ngạch thương mại hai chiều đạt khoảng 600 triệu USD, (tăng 48.3% so với cùng
kỳ năm 2013), chiếm 60% tổng kim ngạch thương mại Việt Nam – Lào, trong đó xuất khẩu từ Việt Nam sang Lào đạt 190 triệu USD, nhập khẩu từ Lào đạt 410 triệu USD Dự kiến đến hết năm 2014, kim ngạch hai chiều Việt Nam – Lào đạt 1.4 tỷ USD
Riêng tình hình hợp tác kinh tế giữa các tỉnh khu vực Tây Nguyên, Nam Trung Bộ của Việt Nam với các tỉnh Trung Nam Lào cũng đạt nhiều kết quả đáng kể Các dự án đều tập trung vào khai thác các thế mạnh của khu vực Trung Nam Lào như: trồng cây công nghiệp (Cao su, cọ), thủy điện, khai khoáng… Các dự án đều thực hiện đúng tiến độ, được Chính phủ Lào, địa phương Lào đánh giá là có hiệu quả, góp phần thay đổi hẳn diện mạo kinh tế của địa phương, cải thiện cơ bản cuộc sống của người dân Lào khu vực đầu tư dự án
Ngành xây dựng có quy mô dự án đầu tư bình quân thấp nhất do các doanh nghiệp lớn không mấy quan tâm đến lĩnh vực này vì hiệu quả đầu tư thấp Nguyên do: khi nhận công trình thi công, các doanh nghiệp không chỉ không được ứng vốn, không được thanh toán từng phần, mà còn bị nợ rất lâu, thường rất khó thu hồi nợ ( Cục đầu tư nước ngoài, Bộ kế hoạch và đầu tư CHDCND Lào và http://www.bidv.com.vn/Tin-tuc-su-kien/Thong-tin-bao-chi)
1.2.1.2 Thái Lan
Dựa theo kế hoạch phát triển của quốc gia thứ 10 ( 2005 – 2010 ) để thúc đẩy các doanh nghiệp đầu tư ra nước ngoài trong nhiều ngành nghề và đàm phán điều chỉnh luật có liên quan đến đầu tư tại các nước liên minh để thúc đẩy các doanh nghiệp của Thái Lan đầu tư ra nước ngoài
Chính phủ Thái Lan Chính sách thúc đẩy đầu tư trực tiếp ra nước ngoài cho biết ngày 30/12/2007 Chính sách thúc đẩy đầu tư trực tiếp ra nước ngoài là
Trang 23thúc đẩy đầu tư trực tiếp của Thái Lan ra nước ngoài trong các ngành mà Thái Lan có tiềm lực, xây dựng mạng lưới liên kết các doanh nghiệp cả các doanh nghiệp trong nước và các doanh nghiệp ở ngoài nước, có trung tâm phục vụ các doanh nghiệp về những thông tin liên quan đến nước sẽ ra đầu tư, cấp giấy
chứng nhận cho các doanh nghiệp ra đầu tư ở nước ngoài để có thể sử dụng quyền lực của mình trong việc đầu tư, và những điều kiện khác liên quan đến đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Thái Lan
Tiềm năng và sở trường của Thái Lan
Thái Lan là một quốc gia đã rất thành công trong việc thu hút FDI, vì vậy,
họ có nhiều kinh nghiệm để tổ chức bộ máy điều hành, thúc đẩy và hỗ trợ doanh nghiệp Thái Lan đầu tư trực tiếp ra nước ngoài, đặc biệt là CHDCND Lào Đầu
tư trực tiếp của Thái Lan vào CHDCND Lào được đẩy mạnh với hai ngành quan
trọng là ngành năng lượng và khai thác khoáng sản
Ở Thái Lan, chính phủ luôn khuyến khích, ưu đãi (ưu đãi về vốn) tạo điều
kiện thuận lợi cho các công ty, tập đoàn, các doanh nghiệp đẩy mạnh đầu
tư trực tiếp vào CHDCND Lào Chính phủ Thái Lan thực hiện nới lỏng các hạn chế về vốn đầu tư trực tiếp vào CHDCND Lào đối với các công ty, xí nghiệp Các biện pháp, chính sách của Nhà nước đều tập trung mở rộng khả năng đầu tư vào CHDCND Lào, bãi bỏ các điều luật và điều lệ gây hạn chế đầu tư vào CHDCND Lào trước đây Chính phủ Thái Lan thành lập cơ quan quản lý vốn đầu tư ra nước ngoài nói chung, đầu tư vào CHDCND Lào nói riêng, đồng thời xây dựng một hệ thống các chính sách quản lý vốn đầu tư trực tiếp vào CHDCND Lào và thực hiện có hiệu quả Các hoạt động đầu tư vào CHDCND Lào với giá trị vốn lớn đều do Ngân hàng Thái Lan phê chuẩn Cùng với chính sách đối ngoại đa dạng hóa, đa phương hóa, hợp tác khu vực, các hoạt động đầu
tư trực tiếp của Thái Lan vào CHDCND Lào ngày càng tăng
Trang 24Thái Lan nằm trong tốp những đối tác thương mại, nhà đầu tư hàng đầu
của Lào Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư Thái-lan, giá trị kim ngạch thương mại hai chiều giữa hai nước năm 2011 đạt 3,9 tỷ USD, tăng 35,8% so với năm trước Trong giai đoạn 2000-2010, Băng-cốc đã đầu tư 276 công trình tại Lào trong nhiều lĩnh vực như năng lượng, giấy, đường với tổng giá trị lên đến 2,69 tỷ USD
Thái-lan là nhà đầu tư lớn tại Lào trong các lĩnh vực khai thác mỏ và thủy điện Đây là các ngành công nghiệp mũi nhọn, đóng vai trò chủ yếu trong thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Lào, chiếm khoảng 80% tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và 50% mức tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) Theo ước tính của Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), doanh thu từ xuất khẩu đồng của Viêng Chăn đạt 1,3 tỷ USD và vàng đạt 240 triệu USD trong năm 2011 Với các dự án xây dựng hàng chục đập thủy điện mới, Lào hướng tới mục tiêu trở thành
"nguồn năng lượng của Đông - Nam Á", cung cấp 8% lượng điện cho khu vực này vào năm 2025, với tiềm năng sản xuất 28 nghìn MW điện Băng-cốc hợp tác triển khai nhiều dự án thủy điện tại Lào, trong đó có đập thủy điện Nậm Thun 2,
trị giá 1,45 tỷ USD với tổng công suất 1.086 MW, giúp tăng gấp đôi sản lượng điện của Lào kể từ tháng 3-2010 Ngoài ra, hai Công ty khai thác than Ban-pu và Công ty Điện lực Rát-cha-bu-ri (RATCH) của Thái-lan nắm giữ tổng cộng 80%
cổ phần của Nhà máy nhiệt điện than non Hông-xa, trị giá 3,7 tỷ USD với công
suất 1.800 MW, dự kiến sẽ hoàn thành vào năm 2015 và trở thành nhà máy điện
lớn nhất tại đất nước Triệu Voi
1.2.2 V ề phía Lào : chính sách, tiềm lực của Lào; nguồn nhân lực của Lào
* Chính sách
Dựa vào Luật đầu tư số 02/QH, ngày mùng 8 tháng 7 năm 2009 tại Thủ
đô Viêng Chăn
Thúc đẩy đầu tư là chính sách, tạo ra môi trường và các điều kiện cho nhà
Trang 25đầu tư cả trong nước và nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài để nhà đầu tư có thể kinh doanh hoàn hảo, nhanh chóng và đúng theo luật tại CHDCND Lào
Cho phép ưu tiên đầu tư trực tiếp nước ngoài có quyền sở hữu kinh doanh 100% trong khu vực kinh tế những trừ lĩnh vực khai thác khoáng sản và các công nghiệp điện lực vì phải có sự hợp tác của Chính phủ
Chính phủ thúc đẩy mọi đầu tư của các nhà đầu tư trong nước và các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài như là tạo môi trường và các điều kiện thuận lợi để quy định phương hướng, cung cấp thông tin quan trọng và có liên quan, chính sách về thuế quan, lao động, quyền sử dụng mạnh đất, sự đảm bảo và bảo vệ quyền lợi, quyền, lợi nhuận và những điều kiện khác
Chính sách về thuế quan chia thành 3 trình độ là :
- Trình độ 1: là các ngành có thúc đẩy đầu tư nhiều nhất
- Trình độ 2 : là các ngành có thúc đẩy đầu tư trung bình
- Trình độ 3 : là các ngành có thúc đẩy đầu tư thấp
Chính sách về thuế lãi suất :
- Lĩnh vực 1 là lĩnh vực có cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội chưa hợp pháp và chưa thuận lợi trong công việc đầu tư đa phần là vùng núi
và vùng sâu vùng xa, lĩnh vực này sẽ có chính sách thúc đẩy đầu tư trên trình độ cao Các doanh nghiệp nằm trên trình độ 1 sẽ được
miễn thuế lãi suất là 10 năm Các doanh nghiệp nằm trên trình độ 2
sẽ được miễn thuế lãi suất là 6 năm Các doanh nghiệp nằm trên trình độ 3 sẽ được miễn thuế lãi suất là 4 năm
- Lĩnh vực 2 là là lĩnh vực có cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội có thể tạo thuận lợi trong công việc đầu tư được một phần và không phải lĩnh
vực khó khăn như lĩnh vực 1, lĩnh vực này sẽ có chính sách thúc đẩy đầu tư trên trình độ trung bình Các doanh nghiệp nằm trên trình độ 1 sẽ được miễn thuế lãi suất là 6 năm Các doanh nghiệp
Trang 26nằm trên trình độ 2 sẽ được miễn thuế lãi suất là 4 năm Các doanh nghiệp nằm trên trình độ 3 sẽ được miễn thuế lãi suất là 2 năm
- Lĩnh vực 3 là là lĩnh vực có cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội tốt tạo rât nhiều thuận lợi trong công việc đầu tư , lĩnh vực này sẽ có chính sách thúc đẩy đầu tư trên trình độ thấp Các doanh nghiệp nằm trên trình độ 1 sẽ được miễn thuế lãi suất là 4 năm Các doanh nghiệp
nằm trên trình độ 2 sẽ được miễn thuế lãi suất là 2 năm Các doanh nghiệp nằm trên trình độ 3 sẽ được miễn thuế lãi suất là 1 năm Chính sách về thuế khác : được miễn thuế nhập khẩu đối với nhập khẩu tài nguyên, các công cụ, linh kiện và phương tiện phục vụ trực tiếp cho việc sản xuất Được miễn thuế xuất khẩu đối với sản phẩm thúc đẩy cho xuất khẩu
Chính sách thúc đẩy đầu tư cụ thể khác là nếu đầu tư vào xây dựng bệnh
viện, trường tiểu học, trường dạy nghề, trường học cao đẳng, đại học, trung tâm điều tra và nghiên cứu và các công ích thì sẽ được miễn chi phí thuê đất đai của chính phủ Nếu xây dựng trên lĩnh vực 1 thì được miễn 15 năm, lĩnh vực 2 thì được miễn 10 năm, lĩnh vực 3 thì được miễn 3 và sẽ được miễn thuế lãi suất 5 năm
* Ti ềm lực và nguồn lực trong phát triển kinh tế của Lào
Trong bối cảnh kinh tế phát triển nhanh chóng, CHDCND Lào cố gắng thu hút đầu tư từ các nước láng giềng và các nhà đầu tư phương Tây để phát triển nguồn lực và hạ tầng cơ sở để phát triển kinh tế như : Nhiều khu thương
mại đang được xây dựng, nhiều nhà máy, cơ sở kinh doanh và cơ sờ giáo dục được xây dựng cùng với nhiều dự án nước ngoài được cấp phép thực hiện
Các dự án thủy điện do Thái Lan xây dựng đang được triển khai trên hệ
thống sông ngòi của Lào Bên cạnh đó, các doanh nghiệp nông nghiệp Việt Nam cũng đang đầu tư vào Lào Nền kinh tế yếu kém trước đây của Lào đã tăng trưởng trung bình 7,9%/ năm kể từ năm 2006 Sự tăng trưởng này chủ yếu dựa
Trang 27vào sản xuất điện từ các nhà máy thủy điện, khai thác đồng và vàng, du lịch và tiêu dùng nội địa
Hiện tại, tăng trưởng kinh tế của Lào chủ yếu dựa vào thủy điện và khai thác mỏ, chiếm khoảng 80% vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)
Trong lĩnh vực thủy điện, các doanh nghiệp Thái Lan chiếm ưu thế Với
dự án xây dựng hàng chục đập thủy điện mới, Lào hướng mục tiêu trở thành nguồn cung năng lượng của Đông Nam Á, cung cấp 8% lượng điện cho khu vực này vào năm 2025 với công suất tiềm năng 28.000 MW Lào cam kết cung cấp một nửa lượng điện được sản xuất cho các nước láng giềng vào năm 2015
Trên thực tế, nền kinh tế Lào tương đối nhỏ bé và có tổng trị giá 7,5 tỉ USD, chỉ bằng 1/14 lần GDP của Việt Nam và khoảng 2% GDP của Thái Lan Tuy nhiên, con số này đã tăng hơn gấp đôi kể từ năm 2006 và tỉ lệ GDP bình quân đầu người đã tăng từ 600 USD lên 1.200 USD, theo số liệu của Ngân hàng
Thế giới
Các đô thị của Lào hiện đại hóa nhanh chóng với 19 ngân hàng thương
mại và các khu kinh tế đặc biệt mới mở với các chính sách miễn giảm thuế Ngành viễn thông phát triển mạnh mẽ: hiện có 5 nhà cung cấp dịch vụ với 10 triệu người sử dụng điện thoại di động trong khi dân số nước này chỉ có 6,4 triệu người
Ngoài ra, dự án xây dựng đường sắt cao tốc nối với Trung Quốc với Thái Lan trị giá 7 tỉ USD do Trung Quốc đầu tư đang được lên kế hoạch Hãng Hàng không Quốc gia Lào đã mở rộng đội bay hiện có 8 máy bay cánh quạt bằng cách
bổ sung thêm hai chiếc máy bay Airbus A320 trị giá 91 triệu USD
Bước tiến quan trọng nhất là việc thị trường chứng khoán Lào (LSX) bắt đầu đi vào hoạt động kể từ tháng 1/2011, trên cơ sở liên doanh có tổng trị giá 20 triệu USD với công ty chứng khoán Hàn Quốc Korea Exchange lớn thứ 4 Châu
Á
Trang 28Ngoài các tiềm lực phát triển kinh tế công mặt khai thác khoáng sản và
thủy điện ra Lào còn rất nhiều tiềm lực kinh tế phát triển các ngành dịch vụ như
du lịch, việc vận chuyển quốc tế
Xét về mặt địa lý Lào là một nước không có biên giới tiếp giáp với biển Nhưng Lào lại có tiềm lực rất lớn về phát triển du lịch tự nhiên Ngành du lịch
của Lào đã có nhiều phát triển so với nhưng năm trước Du khách nước ngoài đến vơi Lào ngày một nhiều như du khách từ: Thái Lan, Việt Nam, Trung Quốc
Mỹ, Pháp, Nhật Bản, Anh, Hàn Quốc… Đây là điều kiện thuận lợi để phát triển quảng bá du lịch trong nước tới bạn bè năm châu của Lào cũng như góp phần đáng kể vào trong việc phát triển kinh tế đất nước.Theo thống kê của Bộ Thông tin, Văn hóa và Du lịch năm 2011, Lào đón 2,7 triệu lượt khách du lịch, đạt doanh thu 406 triệu USD, tăng 8% so với năm 2010 Trong đó, khách từ Thái Lan đạt 1,5 triệu lượt (tăng 4%), từ Việt Nam đạt 561.000 lượt (tăng 30%), từ Trung Quốc đạt 150.000 người (giảm 7%), còn lại lần lượt từ Mỹ, Pháp, Nhật
Bản, Anh, Hàn Quốc… Trong số các tỉnh thành, Viêng Chăn là nơi nhiều du khách tới nhất với 1.154 triệu lượt; tiếp đó là Savanakhet 1,125 triệu lượt, tỉnh Viêng Chăn 470.000 lượt, Champassak 394.000 lượt, Luang Prabang 274.500 lượt Về cửa khẩu có nhiều khách qua lại nhất: cửa khẩu Lào-Thái tại Savanakhet có tới 752.825 lượt người quá cảnh để tới và từ Việt Nam đi; tiếp đó
lần lượt là cửa khẩu Lào-Thái tại Viêng Chăn với 743.361 lượt người qua lại;
cửa khẩu Densavanh trên biên giới Lào-Việt với 190.518 lượt; sân bay Wattay
với 179.242 lượt; cửa khẩu Huayxai trên biên giới Lào-Thái với 138.763 lượt và Sân bay Luang Prabang với 89.500 lượt Theo dự báo của Bộ Thông tin, Văn hóa và Du lịch, ngành du lịch Lào năm 2012 sẽ tạo ra 435 triệu USD thu nhập, tăng 7,3% so với năm 2011, trở thành ngành có thu nhập ngoại tệ lớn thứ hai chỉ sau khai khoáng Dự kiến, ngành sẽ đón 2.9 triệu lượt khách quốc tế, tăng 6% so
với năm 2011
Trang 29Với những số liệu thống kê ở trên chúng ta có thể thấy ngành du lịch Lào đang ngày một phát triển đóng góp một phần lớn vào sự phát triển kinh tế của đất nước Du khách nước ngoài đến với Lào ngày như đến với một vùng đất thiên nhiên, đến với nền văn hóa nghệ thuật cổ kính lâu đời, để hòa mình vào thiên nhiên hung vĩ và tươi đẹp cùng với những phong tục tập quán cổ truyền
của người dân nơi đây cũng như thăm quan những di sản văn hóa cổ kính lâu đời
Về mặt giao thông vận tải quốc tế, Lào là một nước nằm trong cung đường vận chuyển hàng hóa của châu Á cũng như Đông Nam Á Lào là của ngõ vận chuyển hàng hóa đường bộ Đông – Tây trong khu vực Đông Nam Á Đây là
một tuyến đường quan trọng và ngắn nhất để vận chuyển hàng hóa của Thái Lan, Lào tới cản biển của Việt Nam để đi tới các thị trường lớn như : Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc…… (http://tamnhin.net/quoc-te/17885/kinh-te-lao-phat-trien-vuot-bac.html)
Ngoài các nhân tố nêu trên còn có các nhân tố về sự ổn định của môi trường vĩ mô, chiến lược, quy hoạch, sự ổn định về chính trị của nước CHDCND Lào
1.3 Kinh nghi ệm thu hút FDI từ nước khác:
A, Bài h ọc kinh nghiệm từ việc thu hút FDI từ Hà Nội, Việt Nam:
Là thủ đô của Việt Nam với nhiều thuận lợi và thế mạnh, Hà Nội đã quá thành công trong việc thu hút FDI trong những năm qua Tính đến hết năm 2006 Hà Nội đang đứng thứ hai cả nước về kết quả thu hút FDI (chỉ sau thành phố Hồ Chí Minh) Hà Nội đã thu hút 757 dự án đầu tư (chiếm 11,11% tổng dự án đầu tư cả nước) với tổng vốn đầu tư là 10,123,771,781 USD ( chiếm 16,74%), vốn pháp định là 4,259,297,026 (chiếm 12,25%) Quá trình thu hút FDI của Hà Nội để lại
một số bài học kinh nghiệm cho các địa phương như:
* Nâng cao chất lượng quy hoạch tổng thể: Quy hoạch đầu tư nước ngoài
là một bộ phận hữu cơ trong quy hoạch đầu tư chung của thành phố Hà Nội Định hướng và giải pháp thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài phải gắn chặt với
Trang 30quy hoạch tổng thể các ngành, các vùng lãnh thổ và đặt trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, khai thác những tiềm năng và lợi thế so sánh của Hà Nội, nâng cao sức cạnh tranh và hiệu quả của nền kinh tế
* Phát triển đồng bộ, hiện đại hóa cơ sở hạ tầng kỹ thuật
Tiếp tục nâng cao vai trò của ngân sách Nhà nước trong xây dựng cơ cấu
hạ tầng, đặc biệt là hạ tầng khu công nghiệp Áp dụng quy chế ưu đãi hoặc được phát hành trái phiếu công trình để đầu tư vào các công trình trọng điểm
Ngoài ra thành phố Hà Nội còn khuyến khích tư nhân đầu tư nhân đầu tư vốn phát triển hạ tầng khu công nghiệp Áp dụng quy chế ưu đãi cụ thể đối với các hình thức đầu tư BOT, BTO, BT vào các dự án địa bàn cụ thể
* Mở rộng tự do hóa tư nhân và tăng cường xúc tiến, vận động đầu tư Thành phố Hà Nội đã chủ trương khuyến khích các thành phần kinh tế trong nước đầu tư với nước ngoài thành lập công ty cổ phần có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài Hình thức này đã phổ biến trên thế giới và Đông Nam Á Đây là công ty có lợi về huy động vốn và có mức độ rủi ro thấp hơn công ty trách nhiệm
hữu hạn Doanh nghiệp có vốn đầu tư được cấp phép thuê nhà đất để xây dựng nhà ở cho thuê hoặc bán cho người nước ngoài, người Việt Nam FDI được mở
rộng kinh doanh trên các lĩnh vực tài chính, nhất là bảo hiểm, ngân hàng và một
số lĩnh vực cụ thể khác Gắn công tác vận động xúc tiến đầu tư với chương trình
dự án, đối tác, địa điểm cụ thể Bộ, ngành, Ủy ban nhân dân có trách nhiệm
hướng dẫn nhà đầu tư trong khâu tìm hiểu, chuẩn bị dự án, xem xét cấp giấy phép và triển khai Nhanh chóng xây dựng danh mục kêu gọi đầu tư trực tiếp nước ngoài với chất lượng cao, từng dự án cần được mô tả khái quát về nội dung, địa điểm, khả năng thị trường, dự kiến vốn đầu tư, thời gian triển khai dự án, đối tác trong nước để nhà đầu tư nước ngoài nghiên cứu các thông tin và đưa ra
quyết định đầu tư
* Công tác phân cấp trong quản lý đầu tư:
Ngay trong quyết định chấp thuận chủ đầu tư, thành phố Hà Nội đã ghi rõ
Trang 31trách nhiệm của các đơn vị, sở, ngành, chức năng của thành phố trong việc giúp
chủ đầu tư thực hiện đúng tiến độ Ngoài ra, tiến độ khai thác các dự án lớn nhỏ đều được đưa ra tại các cuộc giao ban hàng tuần, hàng tháng của lãnh đạo thành
phố, lãnh đạo các sở, ngành Qua đó các cơ quan có thẩm quyền nắm bắt những khó khăn vướng mắc của nhà đầu tư để cùng họ tháo gỡ
* Đặc biệt, một thành công trong công tác thu hút FDI vào Hà Nội có thể nói đến là: Hà Nội phát huy lợi thế so sánh của mình và có hướng thu hút FDI vào những ngành, lĩnh vực mà có thể khai thác tốt những lợi thế đó Kết quả thu hút FDI vào đất đai của Hà Nội là một ví dụ điển hình Đất đai được UBND thành phố Hà Nội xem là trọng tâm thu hút FDI vào thành phố Các dự án gần đây với quy mô lớn, có thể kể đến như: Khách sạn năm sao của tập đoàn Charmvit (Hàn Quốc) tại khu đô thị Đông Nam (đường Trần Duy Hưng, Cầu Giấy), diện tích 1,98ha, vốn đầu tư nước dự án là 80 triệu USD với quy mô 564 phòng; siêu thị Big C…
B, Bài học kinh nghiệm từ Tỉnh Hải Dương, Việt Nam:
Thực hiện đường lối của Đảng và Nhà nước về đổi mới, mở cửa nền kinh tế, Đại
hội Đảng bộ tỉnh Hải Dương lần thứ XIII đã đề ra Nghị quyết thực hiện các chương trình hoạt động của tỉnh, trong đó có chương trình thu hút và sử dụng có
hiệu quả các nguồn vốn đầu tư để phát triển kinh tế, UBND tỉnh Hải Dương tháng 04/2002 đã phê duyệt đề án tạo môi trường thuận lợi, thu hút mọi nguồn
vốn đầu tư trong và ngoài nước vào tỉnh Hải Dương Các giải pháp thu hút FDI
Trang 32+ Trong nhưng năm qua tỉnh đã dành các nguồn vốn của các tổ chức tài chính
quốc tế, nguồn vốn ODA vào các lĩnh vực xây dựng đường giao thông, nhà máy
và hệ thống cấp thoát nước, phát triển hệ thống thủy lợi…
+ Đa dạng hóa các hình thức đầu tư như xây dựng – chuyển giao (BT), xây dựng – kinh doanh – chuyển giao (BOT)
-Phát triển các khu công nghiệp
Để khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào các khu công nghiệp và làng nghề,
tỉnh đã có một số chính sách ưu đãi như miễn tiền thuê đất trong 10 năm, và
giảm 50% tiền thuê đất trong 10 năm tiếp theo Đồng thời được hỗ trợ từ ngân sách tỉnh 100% số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp trong 2 năm đầu và
giảm 50% cho 2 năm tiếp theo khi các doanh nghiệp đầu tư vào các cụm công nghiệp và làng nghề Ngoài ra nhà đầu tư còn được vay vốn tín dụng ưu đãi, được hỗ trợ lãi suất sau đầu tư, giảm 10% cho lãi suất vay vốn và thuê tài chính Tuy nhiên, đây chỉ là những hình thức khuyến khích mang tính tạm thời Để tạo
ra sức hút lâu dài với các nhà đầu tư nước ngoài, đòi hỏi phải có những chính sách mang tính chiến lược hơn
- Tích cực cải cách hành chính Thủ tục hành chính được cải cách theo mô hình
“ một cửa, một đầu mối” theo hướng đơn giản, rõ ràng, công khai và minh bạch, đây là giải pháp quan trọng làm tăng tính hấp dẫn môi trường đầu tư
- Đào tạo nguồn nhân lực Xây dựng và đào tạo đội ngũ cán bộ công chức gọn
nhẹ, đủ năng lực để giải quyết từ khâu cấp phép đầu tư đến nhà quản lý đầu tư
nhằm nâng cao hiệu quả của vốn đầu tư Tăng cường công tác quản lý đầu tư, cũng giúp tạo môi trường thuận lợi cho doanh nghiệp yên tâm sản xuất và kinh doanh Các doanh nghiệp làm ăn hiệu quả củng cố niềm tin cho các nhà đầu tư Trên thực tế tiếng nói của các nhà đầu tư đang hoạt động kinh doanh tại địa phương là hình thức vận động hữu hiệu nhất
- Về giải phóng mặt bằng: Tỉnh đã tạo mối liên kết chặt chẽ giữa các ban
Trang 33ngành, nhằm đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng Xây dựng đơn giá bồi thường cho từng vùng, từng địa phương và phổ biến công khai với người dân
Trang 34CHƯƠNG II
Đầu tư trực tiếp nước ngoài là một phần đã và đang đóng góp tích cực trong công cuộc đổi mới kinh tế của CHDCND Lào nói chung và tỉnh Champasak nói riêng trong hơn 20 năm qua Có thể nói rằng, đầu tư trực tiếp nước ngoài là một trong các nguồn năng lực quan trọng trong việc phát triển nền kinh tế tỉnh Champasak cũng như của CHDCND Lào Hiện nay, đầu tư trực tiếp nước ngoài đã trở thành một bộ phận quan trọng của nền kinh tế quốc dân của các quốc gia toàn thế giới Mỗi chính sách về kinh tế, mỗi biến động về tài chính
tiền tệ, mỗi chiến lược về phát triển kinh tế xã hội đều có sự liên quan của đầu tư trực tiếp nước ngoài Đối với CHDCND Lào, là một đất nước có thể nói là trình
độ phát triển về nền kinh tế thấp, các tỉnh miền núi trung du và các tỉnh nghèo còn chiếm một phần rất lớn, việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài để thực hiện chính sách công nghiệp hoá hiện đại hoá mà đặc biệt là hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn, xoá đói giảm nghèo, ưu tiên phát triển kinh tế - xã hội ở các vùng miền núi, vùng sâu vùng xa đang là chính sách phát triển toàn diện cần thiết nhất
mà Đảng và Nhà nước đã đề ra và cần phải quan tâm đến Đầu tư trực tiếp nước ngoài mang lại rất nhiều lợi ích khác nhau, đối với đầu tư thì nó thể hiện ở sự
tiến bộ về mặt kinh tế - xã hội, chính trị Nó là điều kiện rất quan trọng đối với
một nước có nhu cầu vốn lớn cho sự phát triển kinh tế xã hội như tỉnh Champasak nói riêng và CHDCND Lào nói chung
2.1 S ự cần thiết phải thu hút đầu tư vào tỉnh Champasak
Đầu tư trực tiếp nước ngoài đã và đang đóng góp tích cực trong công cuộc
Trang 35đổi mới kinh tế của CHDCND Lào nói chung và tỉnh Champasak nói riêng trong hơn 20 năm qua Có thể nói rằng đầu tư nước ngoài là một trong các nguồn năng
lực quan trọng trong việc phát triển nền kinh tế của CHDCND Lào Hiện nay, đầu tư nước ngoài đã trở thành một bộ phận của nền kinh tế quốc dân của các
quốc gia Mỗi chính sách kinh tế, mỗi biến động tài chính tiền tệ, mỗi chiến lược phát triển kinh tế xã hội đều có sự liên quan của đầu tư nước ngoài Đối với CHDCND Lào, là một đất nước có thể nói là trình độ kinh tế kém phát triển, các
tỉnh miền núi trung du và các tỉnh nghèo còn chiếm đoạt phần lớn, việc thu hút đầu tư nước ngoài để thực hiện chính sách công nghiệp hoá hiện đại hoá mà đặc
biệt là hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn, xoá đói giảm nghèo, ưu tiên phát triển kinh tế - xã hội ở các vùng miền núi, vùng sâu vùng xa đang là chính sách phát triển toàn diện cần thiết nhất mà Đảng và Nhà nước đã đề ra và cần phải quan tâm đến Đầu tư nước ngoài mang lại rất nhiều lợi ích khác nhau, đối với đầu tư thì nó thể hiện ở sự tiến bộ về mặt kinh tế - xã hội, chính trị Nó là điều
kiện rất quan trọng đối với một nước có nhu cầu vốn lớn cho sự phát triển kinh
tế xã hội như tỉnh Champasak nói riêng và CHDCND Lào nói chung
Vì FDI là một trong những nguồn vốn quan trọng để bù đắp cho sự thiếu hụt
về vốn đầu tư, nó góp phần tạo ra năng lực trong việc tăng trưởng và phát triển Lịch sử kinh tế thế giới đã chứng minh rằng, muốn thoát khỏi đói nghèo, muốn thu hẹp khoảng cách với các nước phát triển thì phải mở cửa nhà và thu hút đầu
tư để phát triển kinh tế
Nếu có FDI thì FDI sẽ góp phần vào trong việc phát triển nguồn nhân lực, giúp giải quyết lao động còn dư thừa và tạo công ăn việc làm cho lao động dư thừa đó Hơn thế nữa, nó còn giúp cho các nước đang phát triển có thể tiếp thu được những thành tựu về khoa học, công nghệ hiện đại, từ đó phát triển chất lượng nguồn nhân lực theo hướng tiếp cận kinh tế tri thức FDI mang lại rất nhiều lợi cho các nước tiếp nhận đầu tư như là những quy trình sản xuất hiện đại,
kỹ thuật hiện đại và độc đáo, kinh nghiệm quản lý cho nước chủ nhà để quản lý
Trang 36hiệu quả các dự án đầu tư khác, góp phần trong việc phát triển và nâng cao lực lượng sản xuất, cơ cấu lại nền kinh tế Bên cạnh đó, những công nhân và cán bộ làm việc trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, vốn đã có một trình
độ tương đối cao so với mặt bằng chung, ngày càng có cơ hội học hỏi do được
tiếp cận với các khoa học kỹ thuật và công nghệ hiện đại Dưới sự quản lý chặt
chẽ và mức độ đòi hỏi rất cao của nước ngoài, các chuyên gia nước chủ nhà sẽ nhanh chóng tiếp cận được những phương pháp quản lý hiệu quả và hiện đại, từ
đó sẽ cải thiện mới cách thức tổ chức điều hành sản xuất, sáng tạo hơn, hiệu quả hơn, góp phần nâng cao được năng lực sản xuất của đất nước
Việc thu hút vốn FDI sẽ góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các nước đang phát triển theo hướng công nghiệp hoá và hiện đại hoá, thúc đẩy phân công lao động xã hội của các nước phát triển phù hợp cùng với xu hướng chung của phân công lao động quốc tế
Hoạt động FDI sẽ có những tác động lớn tới cơ cấu xuất nhập khẩu của các nước đang phát triển Tuy giai đoạn đầu triển khai, FDI thường là làm tăng
nhập khẩu trong nước tiếp nhận đầu vì cần phải nhập khẩu máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu để xây dựng cơ bản thường xuyên dẫn đến tình trạng thâm hụt trong dài hạn, cán cân thương mại sẽ phát triển tích cực hơn vì do các sản phẩm
sản xuất ra của các công ty có vốn đầu tư nước ngoài nó sẽ đáp ứng được nhu
cầu nội địa
2.2 L ợi thế và khó khăn của tỉnh Champasak trong việc phát triển kinh
Trang 37Champasak hiện có 492 hộ với trên 3.760 nhân khẩu người Việt Nam đang sinh
sống, giáp biên giới với Thái Lan và Campuchia Sông Mekong và Se Don chảy qua tỉnh này Các tỉnh lân cận với Champasak về phía bắc là Salavan, Xekong và Attopu, các tỉnh của Campuchia về phía nam là Stung Treng và Preah Vihear,
tỉnh của Thái Lan về phía tây là Ubon Ratchathani Champasak nằm trên cao nguyên Bo Lị Vên, đất rộng và đẹp hợp pháp về đầu tư vào ngành nông nghiệp
và có nhiều tài nguyên thiên nhiên để sản xuất ra sản phẩm
Đặc biệt, tỉnh Champasak có 3 khu kinh tế đặc biệt đã thành lập.Bây giơ
có 2 khu kinh tế đã ký kết giữa chính phủ CHDCND Lào vàdoanh nghiệp cổ
phần tư nhân phía Nam Lào và có ký kết công ty TNHH từ Ngã, nơi cả hai bên
đã đồng ý cùng nhau nghiên cứu và phát triển một trung tâm thương mại và công nghiệp mới ở tỉnh Champasak của CHDCND Lào
2.2.2 Khó khăn
Mục đích cao nhất cần đạt được của các nhà đầu tư là lợi nhuận Trong đó
những lĩnh vực, ngành, dự án có tỷ suất lợi nhuận cao luôn luôn được các nhà đầu tư quan tâm đến, còn những dự án, các lĩnh vực tuy rất cần thiết cho dân sinh, nhưng không đem lại cho họ những lợi nhuận thỏa đáng thì cũng không thu
hút được sự quan tâm của các nhà đầu tư nước ngoài
Tuy nhiên, tỉnh Champasak có khu kinh tế đặc biệt như vậy và nối tiếp nhiều nước là một lợi thế lớn của tỉnh Champasak, rộng và chia thành 3 khu vực như đã nói trên nhưng cùng với lợi thế đó cũng có những khó khăn đó là sự quyết định của chính phủ còn chậm chưa thống nhất làm cho việc đầu tư gặp khó khăn và chậm lại, thiếu thốn lao động có hiệu quả, thiếu sự chuyên môn hóa khoa học, tuy mà trong nước có thể sản xuất ra điện nhưng cũng còn thiếu điện, thiếu nước, công cụ vận tải và giao nhận còn lạc hậu, còn nhiều bước khó khăn
của luật trong việc đầu tư của các nhà đầu tư
Trang 38Ngoài đó, người dân còn nghèo khổ, nhất là ở các vùng sâu vùng xa vì thiếu việc làm, như vậy ai mà có tuổi đến mức độ có thể đi làm việc được theo
luật quy định thì họ sẽ bỏ học đi kiếm việc làm vì bố mẹ của họ không có việc làm không có thu nhập cho nên không có tiền để cho con đi học, có một số người trốn đi làm ở nước ngoài nhất là con gái khi đi làm như thế thì họ bị lừa đi bán làm gái mại dâm
CHDCND Lào là nước đất liền không có biển cho nên nó làm cho việc
xuất khẩu hàng hoá sang các nước châu Âu và châu Phi và một số nước tại châu
Á chúng ta thì gặp nhiều khó khăn, như vậy việc tăng trưởng và phát triển kinh
tế cũng gặp nhiều khó khăn và không thu hút được sự quan tâm đáng kể của các nhà đầu tư nước ngoài
2.3 Phân tích th ực trạng thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài của Việt
2.3.1 S ố vốn và dự án
Cơ cấu của các ngành đầu tư của các nhà đầu tư nước ngoài vào Tỉnh Champasak có nhiều sự thay đổi vào những năm đầu thực hiện đầu tư và ngành đầu tư chủ yếu của họ là tập trung vào những ngành khai thác và chế biến, những ngành có sử dụng nhiều nguyên vật liệu và lao động Tuy nhiên, trong những năm gần đây cơ cấu đầu tư có rất nhiều sự thay đổi theo những ngành đầu tư đó
là do sự điều chỉnh của phía cán bộ của ngành và sự ưu đãi của chính sách đầu tư
từ phía nhà nước nên các dự án chủ yếu trong tỉnh là lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ
Kể từ khi Luật thúc đẩy Đầu tư nước ngoài đã được ban hành, công tác thu hút FDI của tỉnh Champasak đã đạt được những kết quả đáng kể Căn cứ theo số liệu từ Bộ Kế hoạch và Đầu tư, và sở kế hoạch và đầu tư tỉnh cung cấp
ề tình hình thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài từ năm 2000 đến năm 2011 thu
Trang 39hút được 20 quốc gia đầu tư với số dự án là 144 dự án, tổng số vốn đầu tư đạt trên 1,594 triệu đô la và có số vốn đăng ký là 512 triệu đô la Trong đó, các nhà đầu tư chiếm thị phần cao nhất là Thái Lan và thứ hai là Việt Nam
Trong bài này nghiên cứu việc thu hút FDI của 2 quốc gia, đó là Việt Nam
và Thái Lan, như vậy sẽ có phân tích số dự án và số vốn của 2 quốc gia đó
* Thái Lan
Thái Lan là một quốc gia đã rất thành công trong việc thu hút FDI, vì vậy,
họ có nhiều kinh nghiệm để tổ chức bộ máy điều hành, thúc đẩy và hỗ trợ doanh nghiệp Thái Lan đầu tư trực tiếp ra nước ngoài, đặc biệt là CHDCND Lào Đầu
tư trực tiếp của Thái Lan vào CHDCND Lào được đẩy mạnh với hai ngành quan trọng là ngành năng lượng và khai thác khoáng sản
Thái Lan đứng thứ nhất trong việc đầu tư vào tỉnh Champasak so với các nhà đầu tư nước ngoài khac thể hiện tại bảng 2.2 sau :
Trang 40B ảng 2.1 : Số vốn và dự án đầu tư của Thái Lan vào tỉnh Champasak
Đơn vị : USD
Nguồn : Bộ kế hoạch và đầu tư, và sở kế hoạch và đầu tư tỉnh champasak , CHDCND Lào
Từ bảng 2.1 ta thấy rằng, trong giai đoạn năm 2000 – 2014 thực hiện luật thúc đẩy đầy tư trực tiếp nước ngoài số 02/QH- CP về tăng cường thu hút và nâng cao hiệu quả ĐTNN thời kỳ 2000 -2014 tỉnh đã thu hút được 44 dự án từ nhà đầu tư Thái Lan và có tổng vốn đầu tư thu hút đạt 305 triệu đô la và tổng số
vốn đăng ký đạt được là 133 triệu đô la Theo bảng 2.1 cho chúng ta thấy rằng số
Chỉ tiêu Số dự án
Tổng số vốn Đầu tư