Để làm sáng tỏ vấn đề này tác giả tiến hành nghiên cứu tác động của các biến quy mô ngân hàng SIZE, rủi ro tín dụng LLP, tỷ lệ vốn ngân hàng CAP, khả năng sinh lời ROE và tăng trưởng GDP
Trang 1BỘ TÀI CHÍNH TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH MARKETING
KHOA SAU ĐẠI HỌC
PHẠM HOÀNG NAM
ĐÁNH GIÁ YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN
TỶ LỆ THANH KHOẢN TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN
VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
Chuyên ngành: TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
Mã số: 60.34.02.01
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 10 năm 2015
Trang 2BỘ TÀI CHÍNH TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH MARKETING
KHOA SAU ĐẠI HỌC
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
Chuyên ngành: TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
Mã số: 60.34.02.01
GVHD: TS NGUYỄN THỊ MỸ LINH
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 10 năm 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn “Đánh giá các yếu tố tác động đến tỷ lệ thanh khoản ở các
ngân hàng thương mại tại Việt Nam” là công trình nghiên cứu của riêng tôi với sự
hướng dẫn khoa học của Tiến sĩ Nguyễn Thị Mỹ Linh Các nội dung nghiên cứu, kết
quả trong đề tài này là trung thực và chưa công bố bằng bất kỳ hình thức nào trước đây Những số liệu trong các bảng biểu phục vụ cho việc phân tích, nhận xét, đánh giá được chính tác giả thu thập từ các nguồn khác nhau có ghi rõ trong phần tài liệu tham khảo Ngoài ra, trong luận văn còn sử dụng một số nhận xét, đánh giá cũng như số liệu của các tác giả khác, cơ quan tổ chức khác đều có trích dẫn và chú thích nguồn gốc
Tôi xin cam đoan và chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày … tháng … năm 2015
Học viên
Phạm Hoàng Nam
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn Tiến sĩ Nguyễn Thị Mỹ Linh vì sự tận tình, đầu tƣ thời gian
và tâm huyết trong suốt quá trình nghiên cứu, nhắc nhở và cho những lời khuyên vô cùng quý báu để giúp tôi có thể hoàn thành luận văn của mình
Tôi xin chân thành cảm ơn Quý Thầy Cô, các cán bộ quản lý khoa Sau Đại Học đã tạo kiều kiện cho tôi có đƣợc cơ hội tiếp xúc và học tập những kiến thức mới
Trong quá trình thực hiện, mặc dù đã trao đổi, tiếp thu các ý kiến đóng góp của Quý Thầy
Cô và bạn bè, tham khảo nhiều tài liệu và hết sức cố gắng để hoàn thiện luận văn, song không thể tránh khỏi sai sót Tôi rất mong nhận đƣợc những thông tin đóng góp, phản hồi
từ Quý thầy cô và bạn đọc
Xin chân thành cám ơn
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày … tháng … năm 2015
Học Viên
Phạm Hoàng Nam
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC BẢNG vii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT viii
TÓM TẮT LUẬN VĂN xi
Chương 1 GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Vấn đề nghiên cứu 2
1.3 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.4 Câu hỏi nghiên cứu 3
1.5 Phương pháp nghiên cứu và dữ liệu nghiên cứu 3
1.6 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
1.6.1 Đối tượng nghiên cứu 3
1.6.2 Phạm vi nghiên cứu 4
1.7 Ý nghĩa luận văn 4
1.8 Kết cấu đề tài nghiên cứu 4
Chương 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN 6
2.1 Tổng quan về tỷ lệ thanh khoản 6
2.1.1 Khái niệm tỷ lệ thanh khoản 7
2.1.2 Thanh khoản trong hệ thống ngân hàng hiện đại 7
2.1.3 Vai trò của thanh khoản tỏng hoạt động ngân hàng 8
2.1.4 Các phương pháp đo lường tỷ lệ thanh khoản 9
2.1.4.1 Tài sản nợ và tài sản có 9
2.1.4.2 Phương pháp chỉ số tài chính 9
2.1.4.3 Phương pháp khe hở tài trợ 11
2.1.4.4 Phương pháp cấu trúc nguồn vốn 12
Trang 62.1.4.5 Phương pháp chỉ số thanh khoản 12
2.2 Các nghiên cứu trước đây 14
2.2.1 Các nghiên cứu nước ngoài 14
2.2.2 Các nghiên cứu trong nước 17
2.3 Đo lường các biến 21
2.3.1 Tỷ lệ thanh khoản 21
2.3.2 Quy mô ngân hàng 22
2.3.3 Tỷ lệ vốn 23
2.3.4 Tỷ lệ lợi nhuận 24
2.3.5 Rủi ro tín dụng 25
2.3.6 Tăng trưởng GDP 27
TÓM TẮT CHƯƠNG 2 29
Chương 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30
3.1 Mô hình nghiên cứu 30
3.2 Quy trình nghiên cứu 31
3.3 Mô tả dữ liệu 31
3.4 Gỉa thuyết nghiên cứu 31
3.5 Mô hình nghiên cứu đề xuất 35
3.6 Phương pháp phân tích dữ liệu 37
3.6.1 Thống kê mô tả 37
3.6.2 Phân tích tương quan 37
3.6.3 Phân tích hồi quy dữ liệu bảng 37
3.6.3.1 Phương pháp bình phương bé nhất – OLS 37
3.6.3.2 Phương pháp phương sai thay đổi - GLS 39
3.6.3.3 Mô hình tác động cố định (FEM) 39
3.6.3.4 Mô hình tác động ngẫu nhiên (REM) 40
3.6.4 Kiểm định sự phù hợp mô hình 41
TÓM TẮT CHƯƠNG 3 43
Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 44
Trang 74.1 Mô tả mẫu nghiên cứu 44
4.2 Phân tích tương quan 47
4.3 Kiểm định các giả thuyết hồi quy 47
4.3.1 Kiểm định phương sai của sai số không đổi 47
4.3.2 Kiểm định giữa các sai số không có mối quan hệ tương quan với nhau 48
4.3.3 Kiểm định không có sự tự tương quan giữa các biến độc lập trong mô hình 49
4.3.4 Tổng hợp kết quả kiểm định 49
4.4 So sánh giữa các mô hình trên panel data: Pooled Regression, Fixed Effects Model, Random Effects Model 50
4.4.1 So sánh giữa các mô hình: Pooled Regression và Fixed Effects Model 50
4.4.2 So sánh giữa các mô hình: Fixed effects model và Random effects model 51
4.4.3 Kết quả bảng hồi quy cuối cùng - khắc phục hiện tượng tự tương quan bằng phương pháp bình phương bé nhất tổng quát khả thi 53
4.5 Thảo luận kết quả nghiên cứu 54
4.5.1 Biến rủi ro tín dụng 54
4.5.2 Biến tỷ lệ vốn 54
4.5.3 Biến quy mô ngân hàng 55
4.5.4 Biến tỷ lệ lợi nhuận 56
4.5.5 Biến tăng trưởng GDP 56
TÓM TẮT CHƯƠNG 4 57
Chương 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 59
5.1 Kết luận 59
5.2 Một số kiến nghị 60
5.2.1 Đối với biến rủi ro tín dụng 60
5.2.2 Đối với biến tỷ lệ vốn chủ sở hữu, quy mô ngân hàng 61
5.2.3 Đối với biến tỷ lệ lợi nhuận 62
5.2.4 Một số giải pháp khác nhằm nâng cao tỷ lệ thanh khoản của các NHTMCPVN 62 5.3 Hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo 65
TÓM TẮT CHƯƠNG 5 67
Trang 8KẾT LUẬN 68
TÀI LIỆU THAM KHẢO 69
PHỤ LỤC 01 71
PHỤ LỤC 02 74
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Tổng hợp các nghiên cứu trước có liên quan đến đề tài nghiên cứu 23
Bảng 3.4: Mô tả các biến trong mô hình nghiên cứu 41
48
51
Bảng 4.3: Chỉ tiêu VIF của các biến 53
Bảng 4.4: Phân tích hồi quy theo Pooled Regression 54
Bảng 4.5: Phân tích hồi quy theo Fixed Effects Model 54
Bảng 4.6: Phân tích hồi quy theo Fixed effects model 55
Bảng 4.7: Phân tích hồi quy theo Random effects model 55
Bảng 4.8: Bảng hồi quy kết quả_phương pháp FGLS 57
Bảng 4.9: Tỷ lệ nợ xấu các ngân hàng trong 09 tháng giai đoạn 2011 – 2012 58
Bảng 5.1: Các yếu tố tác động đến tỷ lệ thanh khoản 63
Trang 10DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ABB Ngân hàng TMCP An Bình
ACB Ngân hàng TMCP Á Châu
ADB Ngân hàng phát triển Châu Á Asian Development Bank
CAP Tỷ lệ vốn ngân hàng (vốn chủ sở hữu / tổng nguồn
vốn)
EAB Ngân hàng TMCP Đông Á
EFD Sự phụ thuộc các nguồn tài trợ bên ngoài
ETA Tỷ lệ vốn tự có trên tổng nguồn vốn
FIC Khủng hoảng tài chính
GDP Tăng trưởng GDP
HDB Ngân hàng TMCP Phát triển TP.HCM
INF Tỷ lệ lạm phát
IRB Lãi suất giao dịch thị trường liên ngân hàng
IRL Lãi suất cho vay
IRM Biên lãi suất huy động và lãi suất cho vay
LA Tỷ lệ thanh khoản ngân hàng
Trang 11LATA Tỷ lệ dự trữ thanh khoản trên tổng tài sản
LLP
Rủi ro tín dụng ngân hàng (giá trị trích lập dự phòng rủi ro tín dụng / tổng dư nợ)
MB Ngân hàng TMCP Quân đội
MDB Ngân hàng TMCP Phát triển Mê Kông
MHB Ngân hàng Phát triển nhà Đồng Bằng Sông Cửu Long
MIR Lãi suất repo
MSB Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam
NAB Ngân hàng TMCP Nam Á
NPL Tỷ lệ nợ xấu
NVB Ngân hàng TMCP Nam Việt
OCB Ngân hàng TMCP Phương Đông
phát triển
Organisation for Economic operation and Development
Co-PGB Ngân hàng TMCP Xăng dầu Petrolimex
PNB Ngân hàng TMCP Phương Nam
ROE Khả năng sinh lợi ngân hàng (lợi nhuận sau thuế /
tổng vốn chủ sở hữu)
Trang 12SEA Ngân hàng TMCP Đông Nam Á
STB Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín
TCB Ngân hàng TMCP Kỹ Thương Việt Nam
TOA Quy mô ngân hàng
UNE Tỷ lệ thất nghiệp
VCB Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam
VIB Ngân hàng TMCP Quốc Tế
VPB Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng
Trang 13TÓM TẮT LUẬN VĂN
Đề tài này nghiên cứu các yếu tố tác động đến tỷ lệ thanh khoản tại các ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn từ 2008 đến 2014 Để làm sáng tỏ vấn đề này tác giả tiến hành nghiên cứu tác động của các biến quy mô ngân hàng (SIZE), rủi ro tín dụng (LLP), tỷ lệ vốn ngân hàng (CAP), khả năng sinh lời (ROE) và tăng trưởng GDP đến tỷ lệ thanh khoản các ngân hàng thương mại
Nghiên cứu sử dụng kỹ thuật hồi quy bảng (Panel Regression) để phân tích yếu tố tác động đến tỷ lệ thanh khoản tại 19 ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2008 đến 2014
Thông qua việc tổng hợp các nghiên cứu ở các quốc gia khác nhau, luận văn đã lựa chọn ra
mô hình phù hợp cho Việt Nam với 5 yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ thanh khoản Nghiên cứu đã đóng góp vào kho lý thuyết bằng việc điều chỉnh và kiểm định các biến trong mô hình với hoàn cảnh một nước đang phát triển thông qua dữ liệu thực nghiệm tại Việt Nam
Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng quy mô ngân hàng (SIZE), rủi ro tín dụng (LLP), tỷ lệ vốn ngân hàng (CAP) có tác động ngược chiều với tỷ lệ thanh khoản và khả năng sinh lời (ROE), tăng trưởng GDP của các NHTMCP Việt Nam có tác động cùng chiều đối với tỷ lệ thanh khoản Dựa vào kết quả nghiên cứu, luận văn đã đưa ra các kiến nghị đối với các ngân hàng thương mại cổ phần và Ngân hàng Nhà nước nhằm nâng cao tỷ lệ thanh khoản trong hệ thống ngân hàng
Trang 14tổ chức kinh tế có tài sản nhiều, nợ rất ít nhưng hoàn toàn có thể phá sản do yếu tố rủi ro chi trả của tài sản không bù đắp được khả năng thanh toán trong thời điểm đó Ở mức nhẹ hơn, rủi ro này có thể gây nên khó khăn hoặc đình trệ hoạt động kinh doanh của tổ chức
đó trong một thời điểm cụ thể
Một đặc tính của thanh khoản là nó phải luôn có mặt vào mọi lúc Các khoản thanh khoản phải được chi trả vào ngày đến hạn, hoặc nếu không thể trả được, ngân hàng sẽ bị xem như không có khả năng thanh khoản và được xác định năng lực đó thông qua tỷ lệ thanh khoản Theo thống kê thì khả năng này xảy ra rất thấp Nhưng nếu điều này xảy ra, ảnh hưởng của nó sẽ rất nghiêm trọng và có thể khai tử ngân hàng Có hai nguyên nhân giải thích tại sao tỷ lệ thanh khoản lại có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với ngân hàng Thứ nhất, cần phải có thanh khoản để đáp ứng yêu cầu vay mới mà không cần phải thu hồi những khoản cho vay đang trong hạn hoặc thanh lý các khoản đầu tư có kỳ hạn Thứ hai, cần có thanh khoản để đáp ứng tất cả các biến động hàng ngày hay theo mùa vụ về thu hút tiền một cách kịp thời và có trật tự Do ngân hàng thường xuyên huy động tiền gửi ngắn hạn (với lãi suất thấp) và cho vay số tiền đó với thời hạn dài hạn (lãi suất cao hơn) nên ngân hàng về cơ bản luôn có nhu cầu thanh khoản rất lớn Ngoài ra thanh khoản còn
Trang 15ảnh hưởng đến lòng tin của người gửi tiền Thanh khoản ảnh hưởng đến lòng tin của người gửi tiền và người cho vay Thanh khoản kém, chứ không phải là chất lượng tài sản
có kém mới là nguyên nhân trực tiếp của hầu hết các trường hợp đổ vỡ ngân hàng
Hiện nay trong hệ thống ngân hàng Việt Nam tỷ lệ thanh khoản được đánh giá là thấp như vậy một trong số những ngân hàng có tỷ lệ thanh khoản không đủ điều kiện sẽ rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán, sẽ dẫn đến sự sụp đổ, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến lòng tin dân chúng, an ninh tài chính quốc gia Do đó, việc đánh giá mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến tỷ lệ thanh khoản của ngân hàng thương mại để từ đó có thể đề xuất một số giải pháp giúp ngân hàng thương mại quản lý tốt thanh khoản là hết
sức cần thiết Tác giả lựa chọn đề tài “Đánh giá các yếu tố tác động đến tỷ lệ thanh
khoản ở các ngân hàng thương mại tại Việt Nam” Với đề tài này, tác giả tiến hành
nghiên cứu đánh giá tác động của các yếu tố đến tỷ lệ thanh khoản tại 19 ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn từ 2008 đến 2014, từ đó tác giả đề xuất các khuyến nghị nhằm tăng cường tỷ lệ thanh khoản tại các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam
1.2 Vấn đề nghiên cứu
Luận văn xác định những yếu tố tác động đến tỷ lệ thanh khoản và mức độ ảnh hưởng của những yếu tố này đến tỷ lệ thanh khoản tại ngân hàng thương mại Từ đó khuyến nghị các giải pháp cho các nhà quản trị ngân hàng thương mại nhằm quản lý thanh khoản tốt hơn
1.3 Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu nhằm vào những mục tiêu sau đây:
- Xác định các yếu tố tác động đến tỷ lệ thanh khoản tại ngân hàng thương mại ở Việt Nam
- Đo lường mức độ ảnh hưởng của các yếu tố này đến tỷ lệ thanh khoản tại ngân hàng thương mại ở Việt Nam
Trang 16- Khuyến nghị các giải pháp cho các nhà quản trị ngân hàng thương mại nhằm quản lý thanh khoản tốt hơn
1.4 Câu hỏi nghiên cứu
Để giải quyết những mục tiêu cụ thể nêu trên, nội dung của luận văn phải trả lời được những câu hỏi nghiên cứu sau đây:
1) Những yếu tố nào tác động đến tỷ lệ thanh khoản của ngân hàng thương mại Việt Nam?
2) Mức độ tác động của những yếu tố đó đến tỷ lệ thanh khoản tại ngân hàng thương mại Việt Nam như thế nào?
3) Giải pháp nào cho các nhà quản trị ngân hàng thương mại nhằm quản lý thanh khoản tốt hơn?
1.5 Phương pháp nghiên cứu và dữ liệu nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng phương pháp định lượng với kỹ thuật phân tích hồi quy dữ liệu dạng bảng nhằm xác định các yếu tố tác động đến tỷ lệ thanh khoản tại các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam, chạy mô hình hồi quy Pooled regression (OLS), mô hình Fixed effects (FEM) và mô hình Random effects (REM), so sánh kết quả giữa các mô hình, kết quả thực nghiệm từ việc chạy mô hình và các kiểm định sẽ được sử dụng làm cơ sở để chấp nhận hay bác bỏ các giả thuyết của nghiên cứu, đảm bảo tính phù hợp của mô hình Luận văn tiến hành nghiên cứu các biến độc lập và biến phụ thuộc trong mô hình, nguồn
dữ liệu được lấy từ báo cáo tài chính và báo cáo thường niên của 19 ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam từ 2008 - 2014 tương đương 133 quan sát
Ngoài ra, luận văn còn sử dụng các kỹ thuật của phương pháp định tính như: Tổng hợp,
so sánh, phân tích, suy luận, mô tả nhằm so sánh với thực tế, xem xét đánh giá các yếu
tố tác động đến tỷ lệ thanh khoản của các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam
1.6 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.6.1 Đối tượng nghiên cứu
Trang 17Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những yếu tố tác động đến tỷ lệ thanh khoản tại ngân hàng thương mại Việt Nam, mức độ tác động của các yếu tố đến tỷ lệ thanh khoản của các ngân hàng thương mại Việt Nam
1.6.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là vấn đề thanh khoản tại các ngân hàng thương mại ở Việt Nam từ 2008 – 2014, đánh giá các yếu tố tác động đến tỷ lệ thanh khoản trong hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn này
1.7 Ý nghĩa của luận văn
Về mặt khoa học: Hệ thống hóa những lý luận chung về thanh khoản, biện pháp đo
lường tỷ lệ thanh khoản, các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ thanh khoản tại ngân hàng thương mại Việt Nam
Về mặt thực tiễn: Kết quả nghiên cứu giúp cho các nhà khoa học, nhà quản lý ngân hàng
và nhà đầu tư tại Việt Nam có cái nhìn đầy đủ và toàn diện hơn về phương pháp tiếp cận trong đo lường và đánh giá tỷ lệ thanh khoản tại ngân hàng Thêm vào đó, đề tài đã xác định được những yếu tố tác động đến tỷ lệ thanh khoản và mức độ tác động của những yếu tố trên đến tỷ lệ thanh khoản Từ đó giúp nhà quản lý ngân hàng xây dựng được biện pháp quản trị thanh khoản phù hợp, có giải pháp duy trì tỷ lệ thanh khoản ở mức an toàn Luận văn này có thể là tài liệu tham khảo cho những ai quan tâm đến tỷ lệ thanh khoản tại ngân hàng thương mại về phương pháp luận, cách đo lường, kiểm định các kết quả của nghiên cứu
1.8 Kết cấu của đề tài nghiên cứu
Ngoài phần mục lục, phụ lục, tóm tắt, đề tài nghiên cứu này bao gồm 5 chương với những nội dung chính của các chương như sau:
Chương 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
Chương này giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu, trong đó trình bày: lý do chọn đề tài nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp
Trang 18nghiên cứu, giới hạn của đề tài nghiên cứu, ý nghĩa về mặt khoa học cũng như ứng dụng thực tiễn của đề tài nghiên cứu
Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN
Trong chương này, luận văn trình bày cơ sở lý thuyết nghiên cứu bao gồm: Tổng quan
về tỷ lệ thanh khoản, thanh khoản tại các ngân hàng thương mại, cơ sở lý thuyết của các nghiên cứu trong và ngoài nước, lựa chọn biến độc lập và biến phụ thuộc cho phù hợp với bối cảnh của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam
Chương 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Dựa trên đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu đã nêu trong chương 1, cơ sở lý thuyết và các giả thuyết nghiên cứu đã nêu trong chương 2, chương
3 này sẽ trình bày thiết kế nghiên cứu bao gồm việc xây dựng mô hình nghiên cứu, cách thức thiết lập và tính toán các yếu tố trong mô hình nghiên cứu, mô tả dữ liệu, cách thức thu thập dữ liệu và nêu các phương pháp phân tích dữ liệu nghiên cứu
Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
Trên cơ sở mô hình nghiên cứu đề xuất, chương này sẽ trình bày các phân tích, đánh giá về mối tương quan giữa các biến và kiểm định mô hình nghiên cứu
Chương 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Trong chương này, tác giả sẽ đưa ra những kết luận chính, kiến nghị đồng thời cũng nêu lên những hạn chế của đề tài nghiên cứu và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo
Trang 19CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1 Tổng quan về tỷ lệ thanh khoản
2.1.1 Khái niệm tỷ lệ thanh khoản
Hiện nay có nhiều cách đo lường tỷ lệ thanh khoản như (Almeida et al (2004))
Tài sản ngắn hạn; là những tài sản của đơn vị có thời gian sử dụng, luân chuyển hoặc
thu hồi ngắn (trong vòng 12 tháng hoặc trong 1 chu kỳ kinh doanh)
Ví dụ về tài sản ngắn hạn:
– Tiền mặt
– Nguyên vật liệu trong kho
– Tiền gửi ngân hàng
– Các khoản phải thu trong vòng 12 tháng
Tỷ lệ thanh khoản1 = Tài sản ngắn hạn ÷ nợ ngắn hạn x 100%
((Oriol Aspachs; Erlend Nier & Muriel Tiesset (2005), Corinne Delechat, Camila Henao, Priscilla Muthoora & Svetlanta Vtyurina (2012))
Tài sản ngắn hạn bao gồm: tiền mặt, vàng, tiền gửi dự trữ dư thừa có kỳ hạn trong các
giao dịch liên ngân hàng một tháng sau khi tài sản ròng lưới đoạn, trong trái phiếu kỳ hạn một tháng trong thị trường thứ cấp trong và ngoài nước có thể được thực hiện tại bất kỳ trái phiếu, khác trưởng tài sản có thể thực hiện (không bao gồm các tài sản không thực hiện) trong vòng một tháng
Trang 20Nợ ngắn hạn bao gồm: các khoản tiền gửi (trừ tiền gửi tài chính), tiền gửi (trừ tiền gửi
chính sách) đáo hạn trong vòng một tháng, sau khi đã trừ nợ ròng của quỹ do trong vòng một tháng liên ngân hàng trao đổi tiền, trong vòng một tháng trưởng thành của trái phiếu phát hành, sự quan tâm hạn và phải trả trong vòng một tháng và phải trả khác nhau do trong tháng Giêng, các khoản vay ngân hàng trung ương, các khoản nợ khác do trong tháng Giêng
2.1.2 Thanh khoản trong hệ thống ngân hàng thương mại
Thanh khoản thể hiện phạm vi khả năng thực hiện nghĩa vụ thanh toán của một ngân hàng Trái ngược với nó là “thiếu khả năng thanh khoản”, nghĩa là: ngân hàng thiếu khả năng thực hiện nghĩa vụ thanh toán Trong thực tế có không ít trường hợp, một tổ chức kinh tế có tài sản nhiều, nợ rất ít nhưng hoàn toàn có thể phá sản do yếu tố rủi ro thanh khoản của tài sản không bù đắp được khả năng thanh toán trong thời điểm đó Dưới góc
độ ngân hàng, thanh khoản là khả năng ngân hàng đáp ứng kịp thời và đầy đủ các nghĩa
vụ tài chính phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh như chi trả tiền gửi, cho vay, thanh toán và các giao dịch tài chính khác Ở mức nhẹ hơn, rủi ro này có thể gây nên khó khăn hoặc đình trệ hoạt động kinh doanh của tổ chức đó trong một thời điểm cụ thể
Một nguồn vốn được gọi là có tính thanh khoản cao khi chi phí huy động vốn thấp và thời gian thu hồi vốn nhanh Một tài sản được gọi là có tính thanh khoản cao khi đáp ứng được các tiêu chí như: có sẵn số lượng để mua hoặc bán (the right amount id available);
có sẵn thị trường giao dịch (at the right location); có sẵn thời gian giao dịch (at the right time); giá cả hợp lý (at the right price)
Thanh khoản là khả năng tiếp cận các khoản tài sản hoặc nguồn vốn có thể dùng để chi trả với chi phí hợp lý ngay khi nhu cầu vốn phát sinh Thanh khoản đại diện cho khả năng thực hiện tất cả các nghĩa vụ thanh toán khi đến hạn Do thực hiện bằng tiền mặt, thanh khoản chỉ liên quan đến các dòng lưu chuyển tiền tệ Việc không thể thực hiện nghĩa vụ thanh toán sẽ dẫn đến tình trạng thiếu thanh khoản
Trang 212.1.3 Vai trò của thanh khoản trong hoạt động ngân hàng
Có hai nguyên nhân giải thích tại sao thanh khoản lại có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với ngân hàng Thứ nhất, cần phải có thanh khoản để đáp ứng yêu cầu vay mới mà không cần phải thu hồi những khoản cho vay đang trong hạn hoặc thanh lý các khoản đầu tư có
kỳ hạn Thứ hai, cần có thanh khoản để đáp ứng tất cả các biến động hàng ngày hay theo mùa vụ về thu hút tiền một cách kịp thời và có trật tự Do ngân hàng thường xuyên huy động tiền gửi ngắn hạn (với lãi suất thấp) và cho vay số tiền đó với thời hạn dài hạn (lãi suất cao hơn) nên ngân hàng về cơ bản luôn có nhu cầu thanh khoản rất lớn Ngoài ra thanh khoản còn ảnh hưởng đến lòng tin của người gửi tiền Thanh khoản ảnh hưởng đến lòng tin của người gửi tiền và người cho vay Thanh khoản kém, chứ không phải là chất lượng tài sản có kém, mới là nguyên nhân trực tiếp của hầu hết các trường hợp đổ vỡ ngân hàng
Các loại rủi ro lãi suất, rủi ro tỷ giá, rủi ro tín dụng, có thể đe dọa đến khả năng thanh toán cuối cùng của ngân hàng Đối với ngân hàng thương mại, cần phải có thanh khoản
để để đáp ứng nhu cầu vay mới mà không cần thu hồi những khoản vay đang trong hạn hoặc thanh lý các khoản đầu tư có kỳ hạn Thanh khoản còn có mối quan hệ chặt chẽ với khả năng sinh lời của ngân hàng Nếu ngân hàng duy trì trạng thái thanh khoản quá mức thì nghĩa là đã duy trì một lượng vốn không sinh lời, ngược lại nếu ở trạng thái thâm hút thanh khoản, tức là không có khả năng chi trả kịp thời dẫn đến rủi ro thanh khoản
Thanh khoản của ngân hàng còn ảnh hưởng đến lòng tin của người gửi tiền Những nghiên cứu gần đây chứng tỏ rằng hiện tượng thiếu hụt thanh khoản, thường là một trong những dấu hiệu đầu tiên cho thấy ngân hàng đang ở trong tình trạng khó khăn tài chính nghiêm trọng Hậu quả tiếp theo có thể là ngân hàng mất dần các khoản tiền gửi cũ vì áp lực rút tiền ngày càng gia tăng, không thể thu hút thêm lượng tiền gửi mới do khách hàng
dè dặt, thiếu lòng tin vào năng lực tài chính của ngân hàng
Trang 22Hậu quả nghiêm trọng nhất của thiếu hụt thanh khoản chính là hiện tượng mất khả năng thanh toán tại ngân hàng, đẩy ngân hàng đến bờ vực phá sản Việc phá sản của một ngân hàng thương mại có thể gây nên hiệu ứng dây chuyền cho toàn bộ hệ thống ngân hàng, đe dọa nghiêm trọng đến an ninh tài chính quốc gia
2.1.4 Các phương pháp đo lường tỷ lệ thanh khoản
Từ vai trò quan trọng của thanh khoản đối với hoạt động của ngân hàng, cần xác định và duy trì một tỷ lệ thanh khoản phù hợp, vừa đáp ứng nhu cầu an toàn tài chính mà vẫn đảm bảo được tỷ suất lợi nhuận mong đợi của ngân hàng Dưới đây là một số phương
pháp đang được sử dụng để đo lường thanh khoản tại ngân hàng thương mại
2.1.4.1 Tài sản nợ và tài sản có
Điều này xuất phát hầu hết từ áp lực lợi nhuận ngắn hạn của cổ đông lên ban điều hành
mà quên mất những nguyên tắc trong quản trị tài sản nợ và tài sản có (Oriol Aspachs; Erlend Nier & Muriel Tiesset (2005) ) Trong danh mục tài sản của mình, ngân hàng có phần đầu tư vào cổ phiếu và trái phiếu, trong đó quan trọng nhất là trái phiếu chính phủ và/hoặc tín phiếu kho bạc Trái phiếu chính phủ/tín phiếu kho bạc mặc dù lãi suất không hấp dẫn nhưng nó lại là một nguồn cực kỳ quan trọng cho ngân hàng để nhận chiết khấu
từ ngân hàng nhà nước một khi thanh khoản có vấn đề Điều này, bất cứ ngân hàng nào, đặc biệt là ngân hàng nhỏ, đều hiểu nhưng với tiềm lực tài chính yếu thì khó có thể cạnh tranh với các ngân hàng lớn hơn trong việc đấu thầu các loại tài sản trên Ngân hàng vay mượn quá nhiều các khoản tiền gửi ngắn hạn từ các cá nhân và định chế tài chính khác; sau đó chuyển chúng thành những tài sản đầu tư dài hạn Cho nên, đã xảy ra tình trạng mất cân đối về kỳ hạn giữa nguồn vốn và sử dụng vốn, mà thường gặp là dòng tiền thu về
từ tài sản đầu tư nhỏ hơn dòng tiền chi ra để trả các khoản tiền gửi đến hạn
2.1.4.2 Phương pháp chỉ số tài chính
Trang 23Phương pháp này dựa trên việc so sánh các chỉ số tài chính và những đặc điểm của bảng cân đối tài sản giữ các ngân hàng có quy mô hoạt động ngang nhau và trên cùng một địa bàn Các chỉ số tài chính được sử dụng bao gồm:
Chỉ số trạng thái tiền mặt (Cash position indicator) (Nguyễn Minh Kiều (2007))
Nếu chỉ số “trạng thái tiền mặt” cao thì ngân hàng có khả năng đáp ứng được các nhu cầu tiền mặt tức thời
Chỉ số chứng khoán thanh khoản (Liquid sercurities indicator)
Chỉ số này càng cao thì tính thanh khoản càng cao
Chỉ số năng lực cho vay (Capacity Ratio)
Chỉ số “năng lực cho vay” càng lớn thì tính thanh khoản của ngân hàng càng thấp
Chỉ số tiền nóng (Hot money Ratio)
Tiền nóng là các loại tài sản nhạy cảm với lãi suất, thường bao gồm: tiền mặt, tiền gửi không kỳ hạn, chứng khoán chính phủ ngắn hạn, các các tài sản khác có thể chuyển hóa
Trang 24thành tiền trong ngắn hạn Nếu chỉ tiêu tiền nóng cao thì ngân hàng được xem là có tính thanh khoản
Chỉ số tiền gửi thường xuyên (Core deposit ratio)
Nếu chỉ tiêu “tiền gửi thường xuyên” càng lớn, thì ngân hàng được xem là càng thanh khoản
Chỉ số cấu trúc tiền gửi (Deposit composition ratio)
Chỉ số cấu trúc tiền gửi đo lường tính ổn định cơ sở tiền gửi của ngân hàng Nếu chỉ số này càng thấp thì nhu cầu thanh khoản của ngân hàng càng thấp
2.1.4.3 Phương pháp khe hở tài trợ
Cách đo lường này bắt đầu với thực tế là: khả năng thanh khoản tăng khi tiền gửi tăng và cho vay giảm; và khả năng thanh khoản giảm khi tiền gửi giảm và cho vay tăng Bất cứ khi nào nguồn thanh khoản và nguồn sử dụng thanh khoản không bằng nhau, ngân hàng phải đối mặt với khe hở tài trợ (gap financing)
Khe hở tài trợ được tính toán bằng công thức:
Khe hở tài trợ = Dư nợ tín dụng trung bình - Số dư tiền gửi trung bình
Nếu khe hở tài trợ dương thì ngân hàng phải giảm số dư tiền mặt dự trữ và các tài khoản thanh khoản, hay đi vay bổ sung trên thị trường tiền tệ
Trang 252.1.4.4 Phương pháp cấu trúc nguồn vốn
Với phương pháp này, bước đầu tiên là tiền gửi và các nguồn vốn khác nhau của ngân hàng được chia thành nhiều nhóm dựa vào khả năng vốn bị rút ra khỏi ngân hàng Thông thường, tổng nguồn vốn được chia thành ba nhóm chủ yếu:
Nhóm 1: Nguồn vốn nóng Bao gồm vốn đi vay và tiền gửi nhạy cảm với lãi suất hoặc được dự tính sẽ bị rút ra khỏi ngân hàng trong kỳ kế hoạch
Nhóm 2: Nguồn vốn kém ổn định Bao gồm các khoản tiền gửi của khách hàng trong đó cmột phần đáng kể có thể bị rút ra khỏi ngân hàng tại một thời điểm nào đó trong kỳ kế hoạch
Nhóm 3: Nguồn vốn ổn định Bao gồm các khoản vốn mà ngân hàng tin tưởng là ít có khả năng bị rút ra trong kỳ kế hoạch
Tiếp theo, nhà quản lý thanh khoản phải dành riêng một phần vốn thanh khoản với mỗi nhóm nêu trên (dữ trữ thanh khoản) được xác định theo công thức:
Dự trữ thanh khoản vốn = Ʃ tỷ lệ dự trữ thanh khoản xác định của nhóm x (nhóm vốn tiền gửi và phi tiền gửi – dự trữ bắt buộc)
Sau đó, ngân hàng dự tính con số vay tối đa tiềm năng và cần có lượng dự trữ thanh khoản hay năng lực vay vốn hợp lý, tương đương với 100% chênh lệch giữa tổng dư nợ thực tế và tổng cho vay tiềm năng tối đa Theo đó:
Tổng yêu cầu thanh khoản của ngân hàng = Ʃ Tỷ lệ dự trữ thanh khoản xác định của nhóm x (nhóm tiền gửi và phi tiền gửi – dự trữ bắt buộc) + 100 x (quy mô cho vay tối đa – tổng dư nợ hiện tại)
2.1.4.5 Phương pháp chỉ số thanh khoản
Trang 26Nhu cầu thanh khoản được ước tính dựa trên chỉ số thanh khoản và các chỉ báo khác của trạng thái thanh khoản Chỉ số thanh khoản đo lường tổn thất mà một ngân hàng phải gánh chịu khi bán tháo các tài sản của mình để đáp ứng nhu cầu thanh khoản với giá thấp hơn giá thị trường trong điều kiện bình thường
Công thức đo lường chỉ số thanh khoản:
I = ∑[wi×(Pi/P*i)]
Trong đó:
wi: Tỷ trọng tài sản thứ i trong danh mục tài sản
Pi: Giá bán tháo tài sản thứ i
P*i: Giá thị trường của tài sản thứ i
Các chỉ báo trạng thái thanh khoản khác:
- Chỉ số dự trữ thanh toán / Tổng tài sản có
- Tông dư nợ/ Tổng tiền gửi
- Tỷ lệ khả năng chi trả
- Tiền vay / Tổng tài sản
- Chỉ tiêu cơ cấu tiền gửi
- Chỉ tiêu chứng khoán thanh khoản
- Cam kết tín dụng / Tổng tài sản
- Chỉ số nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn
Từ những biện pháp đo lường tổng quát trên, tùy thực tế và khả năng tại từng ngân hàng, nhà quản trị sẽ lựa chọn biện pháp nào là hiệu quả nhất đối với ngân hàng của mình Trên
cơ sở phương pháp chỉ số tài chính, tác giả sẽ tiến hành đo lường thanh khoản theo công thức: tỷ lệ thanh khoản bằng tài sản thanh khoản chia cho tổng tài sản Công thức là sự
Trang 27kết hợp giữa lý thuyết về chỉ số tài chính, và các thực nghiệm đã được kiểm chứng trong các nghiên cứu có liên quan
2.2 Các nghiên cứu trước đây
2.2.1 Các nghiên cứu nước ngoài
- Clemens Bonner, Iman van Lelyveld, Robert Zymek (2013) Nhóm tác giả nghiên cứu
7000 ngân hàng của 30 quốc gia trong khối OECD với các chỉ tiêu đo lường: quy mô ngân hàng, lợi nhuận, tài sản đảm bảo, vốn,…Kết quả cho thấy các yếu tố trên là nguyên nhân chính ảnh hưởng đến mức độ thanh khoản tại các ngân hàng của các quốc gia được nghiên cứu
- Deléchat et al (2012), chỉ ra những yếu tố tác động đến tỷ lệ thanh khoản tại các quốc gia Trung Mỹ, Panama và Cộng hòa Dominican Trong nghiên cứu, tác giả đã sử dụng dữ liệu của 96 ngân hàng khu vực trong giai đoạn 2006-2010 với cơ sở dữ liệu
từ Bankscope và các nguồn dữ liệu là các báo cáo của IMF Bài nghiên cứu chỉ ra rằng, tỷ lệ thanh khoản được tính bằng tài sản ngắn hạn chia cho Tổng tài sản Sử dụng phương pháp ước tính OLS để xác định ngân hàng, quốc gia và thời gian tác động đến mức độ thanh khoản, sau đó dùng phương pháp GMM để loại bỏ các sai số
do thời gian, đặc trưng quốc gia và hiện tượng nội sinh bởi yếu tố GDP, các tác giả đã xác định tỷ lệ thanh khoản tại ngân hàng phụ thuộc vào quy mô ngân hàng, tỷ lệ vốn,
tỷ lệ thu nhập lãi cận biên và rủi ro tín dụng Tuy nhiên hạn chế của nghiên cứu này là chưa tập trung vào một loại hình ngân hàng, dẫn đến chỉ xác định được tỷ lệ thanh khoản chung cho khu vực mà không xác định được cho loại hình ngân hàng thương mại
- Pavla Vodova (2013), tác giả cũng thực hiện một số nghiên cứu về các yếu tố quyết định khả năng thanh khoản tại hệ thống ngân hàng thương mại ở Slovenia, Cộng hòa Séc và Hungary Tác giả sử dụng dữ liệu cụ thể của từng ngân hàng thông qua báo cáo thường niên và dữ liệu kinh tế vĩ mô tại các nước thông qua thống kê tài chính của Quỹ tiền tệ thế giới IMF trong giai đoạn 2001-2010, sau đó phân tích bằng
Trang 28phương pháp hồi quy dữ liệu Trong nghiên cứu, tác giả sử dụng 4 yếu tố là đặc trưng của ngân hàng bao gồm: tỷ lệ vốn (CAP), tỷ lệ nợ xấu (NPL), tỷ lệ lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA), quy mô ngân hàng (TOA); đồng thời sử dụng 8 yếu tố vĩ mô bao gồm: biến giả về khủng hoảng tài chính (FIC), tốc độ tăng trưởng GDP, Tỷ lệ lạm phát (INF), lãi suất giao dịch thị trường liên ngân hàng (IRB), lãi suất cho vay (IRL), biên lãi suất huy động và lãi suất cho vay (IRM), lãi suất repo (MIR) và tỷ lệ thất nghiệp (UNE) Tỷ lệ thanh khoản được tác giả đo lường lần lượt bằng 04 công thức: là (i) tài sản ngắn hạn trên tổng tài sản, (ii) tài sản ngắn hạn trên tổng số dư tiền gửi và các khoản vay ngắn hạn, (iii) dư nợ cho vay trên tổng tài sản, và (iv) dư nợ cho vay trên tổng số dư tiền gửi và các khoản vay ngắn hạn Tác giả lần lượt hồi quy kết quả tác động của các yếu tố lên thanh khoản được xác định bởi 04 công thức trên Kết quả nghiên cứu cho thấy, Thanh khoản của các ngân hàng chịu tác động của quy mô của các ngân hàng; Tỷ lệ vốn ngân hàng, lợi nhuận ngân hàng, tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội trong năm trước đó và khủng hoảng tài chính (biến khủng hoảng tài chính chỉ mang tính thời điểm trong quá trình nghiên cứu)
- Một nghiên cứu khác của Oriol Aspachs et al (2005) cũng đề cập tới những yếu tố tác động đến tỷ lệ thanh khoản tại ngân hàng Anh Nghiên cứu sử dụng bộ dữ liệu thứ cấp
là bảng cân đối kế toán, các báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của 57 ngân hàng hoạt động tại Anh (có tham gia hoạt động thanh toán với Ngân hàng Anh và hoạt động trên thị trường tiền tệ Anh) và dữ liệu trên thị trường tài chính Anh Quốc từ quý
1 năm 1985 đến quý 4 năm 2003 (trong đó loại bỏ những ngân hàng có tổng tài sản nhỏ hơn 5 tỷ Bảng Anh) Sử dụng hai bước nghiên cứu, bước một kiểm tra mức độ tác động đến tỷ lệ thanh khoản của từng ngân hàng, bước hai sử dụng phương pháp của Almeida et al (2004) để kiểm định sự tác động của tỷ lệ thanh khoản lên tình hình tài chính của ngân hàng Trong nghiên cứu này, các tác giả cũng sử dụng công thức Tỷ lệ thanh khoản bằng Tài sản ngắn hạn chia cho tổng tài sản, tuy nhiên các tác giả cũng dùng thêm công thức Tỷ lệ thanh khoản bằng Tài sản ngắn hạn chia cho Tổng số dư tiền gửi để nhằm các định rõ từng mức độ thanh khoản trên bảng tổng kết tài sản Điểm khác biệt trong nghiên cứu này là nhóm tác giả đã đưa vào biến Hỗ trợ dự
Trang 29phòng rủi ro tín dụng nhằm nhấn mạnh vai trò “Người cho vay cuối cùng” của Ngân hàng trung ương – LOLR (Lender of Last Resort) Điều này được giải thích việc hỗ trợ của NHTW có thể gây ra rủi ro đạo đức của các ngân hàng thương mại, giảm sự khuyến khích các ngân hàng tự bảo hiểm bằng một tỷ lệ thanh khoản an toàn Đối với biến này, nhóm tác giả sử dụng bảng xếp hạng Fitch quy định mức hỗ trợ thanh khoản, cụ thể mức hỗ trợ dao động từ 1 đến 5 (hỗ trợ nhiều nhất đến hỗ trợ ít nhất) và chuyển đổi thành xác suất có tỷ lệ từ 20% đến 50% Sau kết quả nghiên cứu, các tác giả đã xác định được những yếu tố có tác động đến tỷ lệ thanh khoản là Mức hỗ trợ LOLR (chỉ riêng những ngân hàng của Anh), lãi suất ngắn hạn và tốc độ tăng trưởng GDP Tuy nhiên kết quả nghiên cứu này khó áp dụng được tại Việt Nam bởi những quy định khác nhau trên thị trường tiền tệ, hơn nữa ở Việt Nam không có một tỷ lệ thanh khoản cố định được quy định cho các ngân hàng như ở Anh
- Doriana Cucinelli (2013) khi nghiên cứu các yếu tố quyết định rủi ro thanh khoản tại khu vực đồng tiền chung Châu Âu, cũng sử dụng thước đo tỷ lệ thanh khoản để đánh giá rủi ro thanh khoản tại ngân hàng thương mại Sử dụng 1080 quan sát bao gồm tất
cả các ngân hàng khu vực Eurozone, sau đó dùng phương pháp phân tích hồi quy OLS dựa trên dữ liệu bảng là các chỉ số từ báo cáo tài chính của ngân hàng, tác giả đã kiểm định 3 giả thuyết: (i) Có những yếu tố bên trong ngân hàng nào tác động đến thanh khoản của ngân hàng? (ii) Ngân hàng đã niêm yết có thanh khoản cao hơn ngân hàng chưa niêm yết hay không? (iii) Khủng hoảng tài chính thế giới 2008 có tác động tiêu cực đến thanh khoản tại ngân hàng? Cuối cùng kết quả nghiên cứu cho thấy: các ngân hàng có quy mô lớn gánh chịu rủi ro thanh khoản cao hơn, trong khi các ngân hàng có tỷ lệ vốn hóa cao lại có tính thanh khoản tốt trong dài hạn
- Bonfim & Kim (2011) trong một nghiên cứu tại các ngân hàng ở Bắc Mỹ và Châu
Âu, trong giai đoạn 2002 – 2009 về phương pháp quản lý rủi ro thanh khoản tại ngân hàng, các tác giả đã xem xét ba cách đo lường rủi ro thanh khoản khác nhau Bằng cách sử dụng phương pháp phân tích hồi quy dựa trên dữ liệu bảng, các tác giả đã cố gắng tìm hiểu xem các ngân hàng có xu hướng chấp nhận rủi ro cao hơn trong giai đoạn khủng hoảng hay không? Trong nghiên cứu này, các tác giả cũng xác định các
Trang 30yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ thanh khoản, trong đó nổi bật lên các yếu tố: quy mô ngân hàng, tỷ lệ giữa tiền vay và tiền gửi của ngân hàng, hiệu suất hoạt động của ngân hàng thông qua chỉ tiêu ROE Trong đó, quy mô ngân hàng có tác động tích cực đến thanh
khoản ngân hàng mạnh nhất trong giai đoạn khủng hoảng
2.2.2 Các nghiên cứu trong nước
- Trương Quang Thông (2013), nghiên cứu được tiến hành dựa trên số liệu của 27 ngân hàng thương mại Việt Nam từ năm 2002 đến năm 2011 Kết quả nghiên cứu cho thấy ngoài các yếu tố bên trong của ngân hàng thương mại Việt Nam: quy mô tổng tài sản (Size), tỷ lệ dự trữ thanh khoản trên tổng tài sản (LATA), cho vay liên ngân hàng trên tổng tài sản (IBLOAN), sự phụ thuộc các nguồn tài trợ bên ngoài (EFD), tỷ lệ vốn tự
có trên tổng nguồn vốn (ETA), dự phòng rủi ro tín dụng trên tổng dư nợ (LPTL) và các yếu tố bên ngoài: tăng trưởng kinh tế (GDP), lạm phát của nền kinh tế (INF), cung tiền trong nền kinh tế là những yếu tố tác động đến khả năng thanh khoản của hệ thống các ngân hàng thương mại của Việt Nam
- Nguyễn Đức Thành, Vũ Minh Long (2014), nghiên cứu đưa ra các yếu tố liên quan đến khả năng thanh khoản của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam: độ an toàn vốn, chất lượng tài sản, chỉ số lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA), chỉ số lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE), độ nhạy cảm với rủi ro thị trường Nghiên cứu được tiến hành dựa trên số liệu của 35 ngân hàng thương mại Việt Nam trong 5 năm từ 2008 -2012 Kết quả phân tích phản ánh chính xác các yếu tố mà tác giả đưa ra trong nghiên cứu
về mức độ đánh giá thanh khoản trong hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam
- Trương Quang Thông, Phạm Minh Tiến (2014), nhóm tác giả nghiên cứu 29 ngân hàng thương mại ngoài quốc doanh của Việt Nam trong giai đoạn 2002- 2012 Nghiên cứu đưa ra các biến bên trong, bên ngoài ngân hàng: quy mô tổng tài sản (Size), tỷ lệ
dự trữ thanh khoản trên tổng tài sản (LATA), cho vay liên ngân hàng trên tổng tài sản (IBLOAN), sự phụ thuộc các nguồn tài trợ bên ngoài (EFD), tỷ lệ vốn tự có trên tổng nguồn vốn (ETA), dự phòng rủi ro tín dụng trên tổng dư nợ (LPTL), tăng trưởng kinh
Trang 31tế (GDP), lạm phát của nền kinh tế (INF) Kết quả ước lượng của nghiên cứu cho thấy khả năng thanh khoản của ngân hàng không những không phụ thuộc vào các yếu tố bên trong ngân hàng mà còn phụ thuộc vào các yếu tố bên ngoài như: tốc độ tăng trưởng, lạm phát
Trang 32Bảng 2.1: Tổng hợp các nghiên cứu trước có liên quan đến đề tài nghiên cứu
động
Viết tắt
dư tiền gửi
- Oriol Aspachs; Erlend Nier &
Muriel Tiesset (2005), Corinne Delechat, Camila Henao, Priscilla Muthoora & Svetlanta Vtyurina (2012)
LA i,t
- Tài sản thanh khoản chia cho Tổng tài sản
- Pavla Vodova (2013), Muhammad Farhan Malik & Amir Rafique (2013), Diana Teixeira (2013)
- Corinne Delechat, Camila Henao, Priscilla Muthoora & Svetlanta Vtyurina (2012), Pavla Vodova (2013) Muhammad Farhan Malik
& Amir Rafique (2013), Diana
(2013), Cucinelli (2013), Kochubey ( 2014), Nguyễn Minh Kiều, Nguyễn Thị Ngọc Diệp (2015), Nguyễn Minh Sáng, Nguyễn Thị Thu Trang (2013), Trương Quang Thông (2013)
(-)
Trang 33- Tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro trên tổng dư nợ cho vay
- Tỷ lệ nợ xấu chia cho tổng dư nợ cho vay
- Đo lường bằng xác suất vỡ nợ của ngân hàng (PD)
- Laeven & Majnoni (2002), Teixeira (2013), Delechat et al
(2012), Sufian & R Chong (2008), Said & Tumin (2011), Thiagarajan
et al (2011), Olweny & Shipho
Trang 34GDP - Muhammad Farhan Malik & Amir
Bunda & Desquilbet (2008) đã sử dụng 4 cách khác nhau để đo lường tỷ lệ thanh khoản tại ngân hàng trong một nghiên cứu về tác động của tỷ giá hối đoái đến tỷ lệ thanh khoản ngân hàng, đó là: (i) tài sản ngắn hạn trên tổng tài sản, (ii) các khoản vay ròng trên tổng tài sản, (iii) tài sản ngắn hạn trên nguồn tài trợ ngắn hạn, và (iv) tài sản ngắn hạn với tổng
số dư tiền gửi và cho vay
Trong một nghiên cứu khác, Vodóva (2011) cũng sử dụng tới 4 công thức để đo lường tỷ
lệ thanh khoản: cụ thể là (i) tài sản ngắn hạn trên tổng tài sản, (ii) tài sản ngắn hạn trên tổng số dư tiền gửi và các khoản vay ngắn hạn, (iii) dư nợ cho vay trên tổng tài sản, và (iv) dư nợ cho vay trên tổng số dư tiền gửi và các khoản vay ngắn hạn
Clemen Bonner et al (2013) khi đo lường tỷ lệ thanh khoản tại 7000 ngân hàng ở 30 nước thuộc khu vực OECD giai đoạn 2002 -2012 đã sử dụng 02 công thức Tài sản thanh khoản chia cho tổng tài sản và tài sản thanh khoản chia cho Tổng tài sản.( Cornett et al., 2010; C.Delechat et al., 2012; Berrospide, 2013; Diana, 2013)
Trang 35Từ những nghiên cứu trên, tác giả sử dụng công thức: Tài sản có tính thanh khoản chia cho tổng tài sản làm thước đo tỷ lệ thanh khoản tại ngân hàng
Công thức tỷ lệ thanh khoản áp dụng trong nghiên cứu:
Tỷ lệ thanh khoản ngân hàng i năm t (LAi,t ) = tài sản có tính thanh khoản / tổng tài sản
2.3.2 Quy mô ngân hàng
Chikoko Laurine (2013) khi nghiên cứu rủi ro thanh khoản của các ngân hàng ở Zimbabwean từ tháng 3/2009 đến tháng 12/2013 đã chỉ ra mối quan hệ giữa quy mô ngân hàng và tỷ lệ thanh khoản Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng công thức: Quy mô ngân hàng bằng logarithm tổng tài sản (Lucchetta, 2007; Teixeira, 2013; Delechat et al., 2012; Malik et al., 2013; Cucinelli, 2013; Kochubey, 2014
Trong một nghiên cứu khác, Rauch et al (2010) lại sử dụng tổng số khách hàng để xác định quy mô ngân hàng Poorman and Blake (2005) lại sử dụng số lượng chi nhánh để thể hiện quy mô ngân hàng (Shen et al., 2009)
Tuy nhiên, căn cứ tình hình thực tế ở Việt Nam, tác giả thấy trong tổng tài sản thì tổng dư
nợ luôn chiếm tỷ trọng rất cao, các ngân hàng có tổng tài sản lớn thì đồng thời cũng là những ngân hàng có dư nợ cho vay lớn Mặt khác, tỷ lệ thanh khoản có liên hệ mật thiết với hoạt động cho vay, do vậy dùng tổng dư nợ sẽ chính xác hơn khi xem xét tác động của quy mô ngân hàng lên tỷ lệ thanh khoản
SIZEi,t: Quy mô ngân hàng i năm t (logarit của tổng dư nợ)
Trang 362.3.3 Tỷ lệ vốn
Tác động của tỷ lệ vốn đến tính tỷ lệ thanh khoản của ngân hàng đã được khẳng định qua nhiều nghiên cứu Cụ thể, trong nghiên cứu của Vodova (2013) tại Slovakia đã chỉ ra rằng tỷ lệ an toàn vốn có ảnh hưởng đến tỷ lệ thanh khoản Theo nghiên cứu, những ngân hàng có tỷ lệ vốn thấp sẽ phải chú ý nhiều hơn đến rủi ro thanh khoản và do vậy phải duy trì một tỷ lệ thanh khoản cao hơn (Delechat et al., 2012; Teixeira, 2013) Tuy nhiên, khi Vodova nghiên cứu tại Cộng hòa Séc và Hungary thì lại cho kết quả ngược lại, đó là những ngân hàng có tỷ lệ vốn lớn thường đồng thời có tỷ lệ thanh khoản cao hơn (Berger
& Bowman, 2009; Bunda & Desquilbet, 2008)
Vốn của Ngân hàng thương mại là những giá trị tiền tệ do NHTM tạo lập hoặc huy động được dùng để đầu tư, cho vay hoặc thực hiện các dịch vụ kinh doanh khác Vốn chi phối toàn bộ hoạt động của NHTM, quyết định sự tồn tại và phát triển của Ngân hàng Nguồn vốn của NHTM phần lớn do thu nhập tạm thời nhàn rỗi trong sản suất kinh doanh của dân cư được gửi vào Ngân hàng với các mục đích khác nhau Ngân hàng đóng vai trò tập trung nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế để chuyển đến các nhà đầu tư có nhu cầu về vốn, phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh, qua đó thúc đẩy nền kinh tế phát triển Nguồn vốn đóng vai trò chi phối và quyết định đối với sự tồn tại và phát triển của ngân hàng thương mại
Theo Luật các tổ chức tín dụng (2010), Cơ cấu nguồn vốn của ngân hàng thương mại bao gồm:
- Vốn chủ sở hữu
- Vốn huy động
- Vốn vay
- Vốn khác
Trang 37Vốn thuộc sở hữu của NHTM chiếm một tỷ trọng nhỏ trong các khoản mục tạo nên nguồn vốn (thường chỉ chiếm 5% trong tổng nguồn vốn) nhưng nó có vai trò cực kỳ quan trọng đối với các ngân hàng Do tính chất thường xuyên ổn định nên ngân hàng có thể sử dụng vốn chủ sở hữu vào nhiều mục đích mà các nguồn vốn khác không thực hiện được như: mua sắm tài sản cố định, đầu tư, góp vốn liên doanh liên kết, thành lập công ty trực thuộc Mặt khác với chức năng bảo vệ, vốn thuộc sở hữu của ngân hàng được coi như là tài sản đảm bảo gây lòng tin với khách hàng, duy trì khả năng thanh toán cho khách hàng khi ngân hàng hoạt động thua lỗ Hơn nữa, đây là một căn cứ quyết định đối với qui mô
và khối lượng vốn huy động cũng như hoạt động cho vay và bảo lãnh của ngân hàng Quy mô và sự tăng trưởng vốn chủ sở hữu của Ngân hàng sẽ quyết định năng lực phát triển của NHTM
Theo điều 20, Luật các tổ chức tín dụng quy định: Vốn tự có của NHTM bao gồm giá trị thực có của vốn điều lệ, các quỹ dự trữ và một số tài sản Nợ khác (như chênh lệch đánh giá lại tài sản, lợi nhận chưa phân phối…) Nghiên cứu của Delechat (2012) đã sử dụng công thức: vốn ngân hàng bằng tỷ lệ Vốn chủ sở hữu chia cho tổng tài sản (Vodova, 2013; Teixeira, 2013; Sheng et al., 2009; Bonfim & Kim, 2011; Nguyen et al., 2012; Horvàth et al., 2012; Almuman, 2013) Công thức này phản ánh được tác động của tỷ lệ vốn ảnh hưởng đến tỷ lệ thanh khoản
Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng công thức:
CAPi,t: Tỷ lệ vốn ngân hàng i năm t (vốn chủ sở hữu / tổng nguồn vốn)
2.3.4 Tỷ lệ lợi nhuận
Trong các yếu tố bên trong của ngân hàng tác động đến tỷ lệ thanh khoản, không thể bỏ qua chỉ tiêu lợi nhuận Chỉ tiêu này được đưa vào hầu hết các nghiên cứu có liên quan đến tỷ lệ thanh khoản ngân hàng Khi thực hiện nghiên cứu về tỷ lệ thanh khoản tối ưu tại các ngân hàng thương mại ở Pakistan, Malik & Rafique (2013) đã xem xét nhiều yếu tố tác động đến tỷ lệ thanh khoản tại ngân hàng, trong đó có chỉ tiêu lợi nhuận Với mẫu
Trang 38khảo sát tại 26 ngân hàng trong giai đoạn từ 2007 – 2011, tác giả đã sử dụng chỉ tiêu ROE là biến đại diện cho tỷ lệ lợi nhuận tác động đến tỷ lệ thanh khoản của ngân hàng Trong các nghiên cứu khác của Vovada tiến hành tại Slovakia, Cộng hòa Séc, Hungrary, tác giả cũng sử dụng chỉ tiêu ROE để đại diện cho biến lợi nhuận tác động đến tỷ lệ thanh khoản Riêng nghiên cứu của Aspach et al (2005) lại sử dụng công thức ROA để tính toán lợi nhuận cho ngân hàng Tuy nhiên, theo tác giả để xét đến tác động của lợi nhuận lên tỷ lệ thanh khoản, sử dụng công thức ROE sẽ hợp lý hơn Tổng tài sản được hình thành từ vốn chủ sở hữu và vốn vay, mà trên thực tế, ở ngân hàng tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản chiếm tỷ lệ rất nhỏ ( thường dưới 10%) Thêm vào đó, nếu xét về khả năng ứng phó khi rủi ro thanh khoản xảy ra, nguồn vốn được sử dụng là vốn chủ sở hữu
Do vậy, khi xem xét tác động của lợi nhuận lên tỷ lệ thanh khoản, sử dụng công thức ROE sẽ có độ chính xác cao hơn
Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng công thức:
ROEi,t: Khả năng sinh lợi ngân hàng i năm t (lợi nhuận sau thuế / tổng vốn chủ sở hữu)
2.3.5 Rủi ro tín dụng
Rủi ro tín dụng và tỷ lệ thanh khoản của ngân hàng là hai vấn đề không thể tách rời Thực
tế cho thấy, nợ xấu là một trong những nguyên nhân khiến cho tính thanh khoản trên thị trường ngân hàng Việt Nam giảm sút Khủng hoảng tài chính thế giới năm 2008 và việc mất khả năng chi trả của hàng loạt các ngân hàng lớn ở Mỹ cũng có liên quan đến những khoản vay mua nhà dưới chuẩn, mà hậu quả là sau đó người đi vay không có khả năng chi trả những món vay mua nhà trước đó
Có rất nhiều nghiên cứu trước đây đã đề cập đến tác động của rủi ro tín dụng lên tỷ lệ thanh khoản tại ngân hàng Về lý thuyết, trong trường hợp rủi ro tín dụng tăng cao, ngân hàng buộc phải tăng thanh khoản để đảm bảo khả năng chi trả Nghiên cứu của Teixeira (2013) cho thấy, khi chất lượng khoản vay giảm, rủi ro tín dụng gia tăng, các ngân hàng
có xu hướng chuyển tài sản của họ từ những khoản vay rủi ro cao sang các tài sản có tính thanh khoản Do đó, dưới áp lực phòng ngừa rủi ro và các quy định an toàn của NHTW,
Trang 39các ngân hàng thương mại buộc phải tăng tỷ lệ thanh khoản khi rủi ro tín dụng tăng cao (Berrospide, 2013)
Tuy nhiên cũng có một số trường hợp đặc biệt Trong nghiên cứu của Malik et al (2013) tại Pakistan cho thấy rủi ro tín dụng có tác động tiêu cực tới tỷ lệ thanh khoản tại ngân hàng thương mại Đối với ngân hàng thương mại, rủi ro tín dụng ảnh hưởng rất lớn đến mọi lĩnh vực hoạt động của ngân hàng Nếu món vay của ngân hàng bị thất thoát, dân chúng sẽ thiếu lòng tin và tìm cách rút tiền khỏi Ngân hàng, từ đó ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản của ngân hàng thương mại Khi rủi ro tín dụng phát sinh, ngân hàng thương mại không thực hiện được kế hoạch đầu tư cũng như kế hoạch thanh toán các khoản tiền gửi đến hạn Rủi ro tín dụng lớn sẽ dẫn đến khó khăn trong việc huy động vốn
và phát triển các sản phẩm dịch vụ, khó mở rộng quan hệ với các bạn hàng và các ngân hàng khác, buộc ngân hàng phải thu hẹp hoạt động, tất cả thể hiện ở lợi nhuận giảm, ngân hàng phải sử dụng vốn tự có để bù đắp sự giảm sút đó, uy tín của ngân hàng giảm sút, dẫn đến tình trạng khó khăn, phá sản (Cucinelli, 2013; Delechat, 2012; Teixeira, 2013)
Về cách tính toán rủi ro tín dụng, có khá nhiều cách tính toán khác nhau Laeven & Majnoni (2002) cho rằng: rủi ro tín dụng được thể hiện thông qua tỷ lệ giá trị trích lập dự phòng rủi ro tín dụng chia cho tổng tài sản của ngân hàng (Zribi & Boujelbène; 2011) Ở nghiên cứu của Delechat et al (2012) công thức được sử dụng là tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro trên tổng dư nợ cho vay (Teixeira, 2013) Malik et al lại dùng cách tính qua tỷ lệ
nợ xấu chia cho tổng dư nợ cho vay, trùng khớp với các tính của Sufian & R Chong,
2008; Said & Tumin, 2011; Thiagarajan et al., 2011; Olweny & Shipho, 2011 Trong khi
đó, Ong T San & Teh B Heng (2012) đã kết hợp hai cách tính trên, rủi ro tín dụng ngân hàng được đo lường bằng cách sử dụng tỷ lệ giá trị trích lập dự phòng rủi ro tín dụng năm
t chia cho tổng dư nợ cho vay năm t-1 (Daniel Foos et al., 2010; Hess et al., 2009) Theo các tác giả, khách hàng vay thông thường không phát sinh rủi ro tín dụng ngay trong năm vay vốn nên việc trích lập dự phòng là trích lập cho các năm trước Vì vậy, nếu xác định rủi ro tín dụng bằng cách so sánh giá trị trích lập dự phòng rủi ro tín dụng với tổng dư nợ cho vay trong cùng một năm là không hợp lý
Trang 40Trong bài nghiên cứu này, rủi ro tín dụng ngân hàng được tính bằng cách sử dụng giá trị trích lập dự phòng rủi ro tín dụng năm t chia cho tổng dư nợ cho vay năm t-1 Đây là cách làm khá phù hợp với dữ liệu được thu thập tại Viêt Nam vì tỷ lệ này đã xét đến vấn đề trích lập để dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra đối với từng khoản nợ cụ thể nên phản ánh khá chính xác về rủi ro tín dụng, chứ không xét một cách chung chung giữa giá trị nợ xấu (nợ thuộc các nhóm 3, 4 và 5) so với tổng dư nợ từ nhóm 1 đến nhóm 5 như trong tỷ lệ nợ xấu Trong nghiên cứu này tác giả dùng công thức:
LLPi,t: Rủi ro tín dụng ngân hàng i năm t (giá trị trích lập dự phòng rủi ro tín dụng / tổng
dư nợ)
2.3.6 Tăng trưởng GDP
Khả năng thanh khoản của ngân hàng luôn nhạy cảm với biến động kinh tế vĩ mô (Eichengreen & Arteta, 2000; Hutchison & McDill, 1999; Hardy & Pazarbasioglu, 1998) Nghiên cứu của Aspachs et al (2005) đã chỉ ra rằng, trong những giai đoạn có tốc độ tăng trưởng GDP cao, các ngân hàng có xu hướng nắm giữ tỷ lệ thanh khoản thấp Điều này được giải thích là do trong những giai đoạn kinh tế tăng trưởng tốt, nguồn tiền gửi của các ngân hàng luôn dồi dào, do đó các ngân hàng sẽ duy trì ít tài sản thanh khoản, thay vào đó đẩy mạnh cho hoạt động tín dụng và đầu tư Thêm vào đó, rủi ro tín dụng cũng sẽ giảm vì môi trường kinh doanh thuận lợi Tuy nhiên, trong nghiên cứu của Chagwiza( 2014) lại cho kết quả ngược lại Lý giải điều này, trong giai đoạn GDP cao, các ngân hàng sẽ thuận lợi hơn trong việc duy trì một tỷ lệ thanh khoản cao, nhờ đó rủi ro thanh khoản cũng giảm đáng kể (Vodova, 2013; Al-Khouri, 2012; Teixeira, 2013)
GDP là chỉ số giá trị thị trường của tất cả hàng hóa kể cả hữu hình và vô hình được sản xuất ra trên phạm vi một lãnh thổ quốc gia trong một thời kỳ nhất định (thường là một năm) GDP là tiêu chí tiện lợi nhất để tính mức tăng trưởng kinh tế của một nước và tốc
độ tăng trưởng của các nền kinh tế Tăng trưởng GDP chính là mức gia tăng GDP năm sau so với năm trước và được thể hiện bằng đơn vị tính phần trăm