42 Bảng 4.16: Mối quan hệ giữa hàm lượng các bon tích lũy trong sinh khối tầng cây bụi thảm tươi với sinh khối khô ..... 45 Bảng 4.20: Mối quan hệ giữa hàm lượng CO2 được hấp thụ trong s
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM ––––––––––––––––––––
ĐÀO THỊ NGỌC DIỆP
NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG TÍCH LŨY CÁC BON CỦA RỪNG TỰ NHIÊN TRẠNG THÁI IIIA
TẠI HUYỆN PHÚ LƯƠNG, TỈNH THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
THÁI NGUYÊN - 2015
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM ––––––––––––––––––––
ĐÀO THỊ NGỌC DIỆP
NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG TÍCH LŨY CACBON CỦA RỪNG TỰ NHIÊN TRẠNG THÁI IIIA
TẠI HUYỆN PHÚ LƯƠNG, TỈNH THÁI NGUYÊN
Chuyên ngành: Sinh thái học
Mã số: 60.42.01.20
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thế Hưng
THÁI NGUYÊN - 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi cùng với sự
hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Thế Hưng (Trường Đại học Tài
Nguyên và Môi trường Hà Nội) Các số liệu, kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là hoàn toàn trung thực Nếu sai tôi chịu hoàn toàn trách nhiệm
Thái Nguyên, ngày tháng 4 năm 2015
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Luận văn này được hoàn thành tại trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên theo chương trình đào tạo cao học Sinh học, chuyên ngành Sinh thái học, khoá
20 (2012 – 2014)
Trong quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn, tác giả đã nhận được
sự quan tâm giúp đỡ của Ban giám hiệu, khoa Sau đại học và các thầy, cô giáo Trường Đại học Sư phạm, các bạn bè đồng nghiệp và cán bộ địa phương nơi tác giả thực hiện nghiên cứu Nhân dịp này, tác giả xin chân thành cảm ơn về
sự giúp đỡ hiệu quả đó
Trước tiên, tác giả xin đặc biệt cảm ơn PGS.TS Nguyễn Thế Hưng người hướng dẫn khoa học, đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tác giả trong quá trình thực hiện luận văn này
Tác giả xin bày tỏ lòng cám ơn sâu sắc đến BGH trường ĐHSP TN, Khoa sau đại học - ĐHTN đã tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả trong quá trình học tập cũng như hoàn thành bản luận văn thạc sĩ
Xin cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của các cơ quan, ban ngành trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên, các xã trên địa bàn nghiên cứu đã tạo điều kiện giúp đỡ tác giả trong việc thu thập số liệu ngoại nghiệp để thực hiện luận văn này
Xin trân trọng cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày tháng 4 năm 2015
Tác giả
Đào Thị Ngọc Diệp
Trang 5MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các từ viết tắt iv
Danh mục các bảng v
Danh mục các hình vi
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1 Nghiên cứu về sinh khối và năng suất rừng 3
1.1.1 Trên thế giới 3
1.1.2 Ở Việt Nam 7
1.2 Nghiên cứu về khả năng tích lũy các bon của rừng 9
1.2.1 Trên thế giới 9
1.2.2 Ở Việt Nam 12
Chương 2: MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16
2.1 Mục tiêu nghiên cứu 16
2.2 Đối tượng nghiên cứu 16
2.3 Giới hạn nghiên cứu 16
2.4 Phương pháp nghiên cứu 16
2.4.1 Quan điểm và cách tiếp cận của đề tài 16
2.4.2 Phương pháp nghiên cứu 17
Chương 3: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ - XÃ HỘI VÙNG NGHIÊN CỨU 23
3.1 Điều kiện tự nhiên của vùng nghiên cứu 23
3.1.1 Vị trí địa lý 23
3.1.2 Địa hình 23
3.1.3 Khí hậu thuỷ văn 24
Trang 63.1.5 Hiện trạng rừng và đất rừng 25
3.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội của vùng nghiên cứu 26
3.2.1 Kinh tế 26
3.2.2 Xã hội 26
3.2.3 Cơ sở hạ tầng 27
3.3 Nhận xét và đánh giá chung 28
3.3.1 Thuận lợi 28
3.3.2 Khó khăn 28
Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 29
4.1 Sinh khối rừng tự nhiên IIIA huyện Phú Lương 29
4.1.1 Sinh khối tầng cây cao 29
4.1.2 Sinh khối tầng cây bụi thảm tươi 32
4.1.3 Sinh khối vật rơi rụng 35
4.1.4 Tổng sinh khối toàn lâm phần 38
4.2 Hàm lượng các bon tích lũy trong rừng 40
4.2.1 Hàm lượng các bon tích lũy trong sinh khối tầng cây cao 40
4.2.2 Hàm lượng các bon tích lũy trong sinh khối tầng cây bụi thảm tươi 42
4.2.3 Hàm lượng các bon tích lũy trong sinh khối vật rơi rụng 44
4.3 Hàm lượng CO2 được hấp thụ trong sinh khối rừng 45
4.2.1 Hàm lượng CO2 được hấp thụ trong sinh khối phần trên mặt đất tầng cây cao 45
4.2.2 Hàm lượng CO2 được hấp thụ trong sinh khối phần trên mặt đất tầng cây bụi thảm tươi 47
4.2.3 Hàm lượng CO2 được hấp thụ trong sinh khối vật rơi rụng 49
4.2.3 Tổng hàm lượng CO2 được hấp thụ trong toàn lâm phần 50
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 53
1 Kết luận 52
2 Khuyến nghị 53
TÀI LIỆU THAM KHẢO 54
Trang 77 MiCB Carbon tích lũy của bộ phận i cây bụi
8 MCB/ha Carbon tích lũy cây bụi/ha
9 MVRR Carbon tích lũy trong vật rơi rụng
0 MVRR/ha Carbon tích lũy vật rơi rụng/ ha
1 MiCCT Carbon tích lũy trong bộ phận i cây cá thể
3 CDM Cơ chế phát triển sạch
4 UNFCCC Công ước chống biến đổi khí hậu toàn cầu (United
Framework Convention Climate Change)
5 IPCC Uỷ ban liên Chính Phủ về biến đổi khí hậu (the
intergovermental Panel on Climate Change)
6 AR-CDM Trồng rừng theo cơ chế phát triển sạch
Trang 8Stt Kí hiệu/ viết tắt Ghi chú
4 Pki Sinh khối khô bộ phận i
5 Pcaybui-i Sinh khối cay bụi bộ phận i
6 Psk Sinh khối cây cá thể
7 PVRR-i Sinh khối tươi/khô bộ phận i cây cá thể
8 Ptlp Sinh khối toàn lâm phần
9 mki Khối lượng sinh khối khô của bộ phận i
1 S Sai tiêu chuẩn hay phương sai hồi quy
2 Sig.F Xác suất của tiêu chuẩn F
3 Sig.T Xác suất của tiêu chuẩn t
4 Ln Lôgarit nepe (lôgarit cơ số e)
5 a0, a1… Hệ số hay tham số hồi quy của các phương trình
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Tổng hợp số liệu phục vụ cho đề tài 22
Bảng 3.1: Thống kê diện tích đất đai khu vực nghiên cứu 25
Bảng 4.1: Sinh khối tươi phần trên mặt đất tầng cây cao theo cấp đường kính thân 29
Bảng 4.2: Mối quan hệ giữa tổng sinh khối tươi tầng cây cao với đường kính thân (D1.3) 30
Bảng 4.3: Sinh khối khô phần trên mặt đất tầng cây cao theo cấp đường kính 31
Bảng 4.4: Mối quan hệ giữa sinh khối khô tầng cây cao với sinh khối tươi 32
Bảng 4.5: Sinh khối tươi phần trên mặt đất tầng cây bụi thảm tươi 33
Bảng 4.6: Sinh khối khô phần trên mặt đất tầng cây bụi thảm tươi 34
Bảng 4.7: Mối quan hệ giữa sinh khối khô và sinh khối tươi tầng cây bụi thảm tươi trong rừng tự nhiên IIIA 35
Bảng 4.8: Sinh khối tươi vật rơi rụng dưới tán rừng tự nhiên IIIA 36
Bảng 4.9: Sinh khối khô vật rơi rụng dưới tán rừng tại khu vực nghiên cứu 37
Bảng 4.10: Mối quan hệ giữa sinh khối khô và sinh khối tươi vật rơi rụng dưới tán rừng tại khu vực nghiên cứu 38
Bảng 4.11: Tổng sinh khối tươi phần trên mặt đất toàn lâm phần 38
Bảng 4.12: Tổng sinh khối khô phần trên mặt đất toàn lâm phần 39
Bảng 4.13: Trữ lượng các bon tích lũy trong sinh khối phần trên mặt đất của tầng cây cao 40
Bảng 4.14: Mối quan hệ giữa hàm lượng các bon tích lũy trong sinh khối tầng cây cao với sinh khối khô 42
Bảng 4.15: Trữ lượng các bon lũy trong sinh khối phần trên mặt đất của tầng cây bụi thảm tươi 42
Bảng 4.16: Mối quan hệ giữa hàm lượng các bon tích lũy trong sinh khối tầng cây bụi thảm tươi với sinh khối khô 43
Trang 10Bảng 4.18: Mối quan hệ giữa hàm lượng các bon tích lũy trong sinh khối
vật rơi rụng với sinh khối khô 45 Bảng 4.19: Trữ lượng CO2 được hấp thụ trong sinh khối phần trên mặt đất
của tầng cây cao 45 Bảng 4.20: Mối quan hệ giữa hàm lượng CO2 được hấp thụ trong sinh khối
phần trên mặt đất tầng cây cao với sinh khối khô của tầng 47 Bảng 4.21: Trữ lượng CO2 được hấp thụ trong sinh khối phần trên mặt đất
của tầng cây bụi thảm tươi 47 Bảng 4.22: Mối quan hệ giữa hàm lượng CO2 được hấp thụ trong sinh khối
phần trên mặt đất tầng cây bụi thảm tươi với sinh khối khô của tầng 49 Bảng 4.23: Hàm lượng CO2 được hấp thụ trong sinh khối vật rơi rụng 49 Bảng 4.24: Mối quan hệ giữa hàm lượng CO2 được hấp thụtrong sinh khối
vật rơi rụng với sinh khối khô 50 Bảng 4.25: Tổng trữ lượng CO2 được hấp thụ trong toàn lâm phần 50
Trang 11DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1: Sơ đồ các bước tiến hành nghiên cứu của đề tài 17 Hình 2.2: Sơ đồ bố trí ô tiêu chuẩn 18
Trang 12MỞ ĐẦU
Biến đổi khí hậu đang ngày càng trở nên rõ rệt và là mối đe doạ đối với
nhiều quốc gia.Nhằm hạn chế sự biến đổi khí hậu, Công ước khung của Liên hiệp quốc về biến đổi khí hậu (1992) và Nghị định thư Kyoto (1997) đã được phê chuẩn Đây là cơ sở pháp lý quan trọng thể hiện sự cam kết của cộng đồng
quốc tế trong việc cắt giảm khí nhà kính và ngăn ngừa biến đổi khí hậu
Trong nỗ lực này, bảo vệ và tái trồng rừng đã được coi là một giải pháp an toàn và hiệu quả đối với việc ngăn ngừa biến đổi khí hậu Nhiều nghiên cứu đã xác định lượng cacs bon và các bon hấp thụ ở nhiều loại rừng khác nhau,
Brown và Pearce (1994) đưa ra các số liệu đánh giá trữ lượng các bon và lượng phát thải ở rừng nhiệt đới Nghiên cứu cho rằng trữ lượng các bon của 1
ha rừng nguyên sinh là khoảng 280 tấn và nó sẽ gây phát thải 200 tấn các bon nếu bị chuyển thành đất nương rẫy và lượng phát thải sẽ cao hơn nếu được chuyển thành đồng cỏ hay đất nông nghiệp
Việt Nam đã phê chuẩn Công ước khung Liên hiệp Quốc về biến đổi khí hậu năm 1994 và Nghị định thư Kyoto năm 2002 Liên minh châu Âu (EU) đã
ra chỉ thị số 2009/29/EC nêu rõ sẽ chỉ mua chứng chỉ phát thải khí nhà kính (CERs) của các dự án CDM thực hiện tại các nước phát triển như Việt Nam được đăng kí thành công trước ngày 31/12/2012 Chính vì vây việc thực hiện
cơ chế phát triển sạch (CDM) đang nhận được sự quan tâm và triển khai ở nhiều bộ ngành.Việc định lượng khả năng hấp thụ các bon và tính toán giá trị thương mại các bon của rừng là một phần quan trọng trong định lượng giá trị môi trường của rừng Rừng IIIA tại Phú Lương là rừng phòng hộ, ý nghĩa về mặt sinh thái tại địa phương, nơi có sự phát triển về công nghiệp Tuy bị khai thác kiệt nhưng cấu trúc của rừng chưa bị thay đổi đáng kể, khả năng phục hồi nhanh so với rừng trồng thuần loài, việc duy trì và bảo tồn rừng tự nhiên tai đây
là một nhiệm vụ quan trọng của địa phương Bên cạnh đó việc nghiên cứu khả năng hấp thụ khí CO
Trang 13các giá trị môi trường rừng và hướng tới thị trường thương mại các bon trên thế giới Việc nghiên cứu về khả năng hấp thụ của rừng tự nhiên tại Thái nguyên
chưa nhiều Xuất phát từ yêu cầu đó tôi đã thực hiện đề tài “ Nghiên cứu khả
năng tích lũy các bon của rừng tự nhiên trạng thái IIIA tại huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên”
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Nghiên cứu về sinh khối và năng suất rừng
1.1.1 Trên thế giới
Mặc dù rừng chỉ che phủ 21% diện tích bề mặt đất, nhưng sinh khối thực vật của nó chiếm đến 75% so với tổng sinh khối thực vật trên cạn Lượng các bon hấp thụ bởi rừng chiếm 47% tổng lượng các bon trên trái đất, nên việc chuyển đổi đất rừng thành các loại hình sử dụng đất khác có tác động mạnh mẽ đến chu trình các bon trên hành tinh Những nghiên cứu hiện nay đã hướng vào các nhân tố có ảnh hưởng đến quá trình tích lũy và phát thải các bon của lớp thảm thực vật rừng Các hoạt động lâm nghiệp và sự thay đổi phương thức sử dụng đất, đặc biệt là sự suy thoái rừng nhiệt đới là một nguyên nhân quan trọng làm tăng lượng CO2 trong khí quyển, ước tính khoảng 1,6 tỷ tấn/năm trong tổng số 6,3 tỷ tấn khí CO2/năm được phát thải ra do các hoạt động của con người Do đó, rừng có ý nghĩa rất lớn trong việc hạn chế quá trình biến đổi khí hậu toàn cầu
Nghiên cứu về sinh khối và năng suất rừng là những vấn đề đã được rất nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu từ những năm 1840 trở về trước Cho đến nay, với việc áp dụng thành tựu khoa học nhưn hóa phân tích, hóa thực vật và đặc biệt là vận dụng nguyên lý tuần hoàn vật chất trong thiên nhiên, các nhà khoa học đã thu được những thành tựu đáng kể Tiêu biểu cho lĩnh vực này có thể kể tới một số tác giả sau:
Liebig, J (1862) lần đầu tiên nghiên cứu về sự tác động của thực vật tới không khí và phát triển thành định luật “ tối thiểu” Mischerlich, EA (1954) đã phát triển định luật này thành luật năng suất
Dajoz (1971) đã tính toán năng suất sơ cấp của một số hệ sinh thái và thu được kết quả như sau: mía ở Châu Phi đạt 67 tấn/ha/năm; rừng nhiệt đới thứ
Trang 15sinh ở Yangambi đạt 20 tấn/ha/năm; savana cỏ Mỹ (Penisetum purpureum)
Châu phi đạt 30 tấn/ha/năm; đồng cỏ tự nhiên ở Fustuca đạt từ 10,5-15,5 tấn/ha/năm; đồng cỏ tự nhiên Deschampia và Trifolium ở vùng ôn đới là 23,4 tấn/ha/năm; còn sinh khối của Savana cao Andropgon (cỏ ghine) lả 5.000-10.000 kg/ha/năm; rừng thứ sinh 40-50 tuổi ở Ghana đạt 362.369 kg/ha/năm (Dẫn theo Dương Hữu Thời, 1992)
Canell M.G.R (1981) [30] đã công bố công trình “Sinh khối và năng suất
sơ cấp rừng thế giới) trong đó tập hợp 600 công trình được xuất bản về sinh khối khô thân, cành, lá và một số thành phần, sản phẩm sơ cấp của hơn 1.200 lâm phần thuộc 46 nước trên thế giới
Riley G.A (1994) [40] đã tổng kết quá trình nghiên cứu và phát triển sinh khối rừng
Lieth H (1964) [38] đã thể hiện năng suất trên toàn thế giới bằng bản đồ năng suất, đồng thời với sự ra đời của chương trình sinh học quốc tế (IBP) (1964) và chương trình sinh quyển con người (MAB) (1971) đã tác động mạnh
mẽ tới việc nghiên cứu sinh khối Những nghiên cứu trong giai đoạn này tập trung vào các đối tượng đồng cỏ, savan, rừng rụng lá, rừng mưa thường xanh Khi nghiên cứu về sinh khối, phương pháp xác định có ý nghĩa rất quan trọng vì nó liên quan đến độ chính xác của kết quả nghiên cứu, đây cũng là vấn
đề được nhiều tác giả quan tâm Trong những điều kiện khác nhau, mỗi tác giả
áp dụng phương pháp nghiên cứu khác nhau, trong đó có thể kể đến một số nghiên cứu sau:
Aruga và Maidi (1963) đưa ra phương pháp “chlorophyll” để xác định
sinh khối thông qua hàm lượng chlorophyll trên một đơn vị diện tích mặt đất Đây là một chỉ tiêu biểu thị khả năng của hệ sinh thái hấp thụ các tia bức xạ hoạt động quang tổng hợp
Năng suất sơ cấp tuyệt đối là lượng chất hữu cơ tích lũy trong cơ thể thực vật trong một đơn vị thời gian trên một đơn vị diện tích, lượng vật chất này mới
Trang 16thực sự có ý nghĩa đối với đời sống con người Từ đó, Woodwell G.M (1965)
và Whitaker R.H (1968) [44] đã đề ra phương pháp “thu hoạch” để nghiên cứu năng suất sơ cấp tuyệt đối
Sinh khối rừng có thể xác định nhanh chóng dựa vào mối liên hệ giữa sinh khối với kích thước cây hoặc của từng bộ phận theo dạng hàm toán học nào đó Phương pháp này được sử dụng phổ biến ở Bắc Mỹ và Châu Âu (Whitaker, 1966) Tuy nhiên do khó khăn trong việc thu hoạch hệ rễ của cây rừng, nên phương pháp này chủ yếu dùng để xác định sinh khối của bộ phận trên mặt đất Edmonton Et Al (1968) đưa ra phương pháp oxygen nhằm định lượng oxygen tạo ra trong quá trình quang hợp của thực vật màu xanh Từ đó tính ra được năng suất và sinh khối rừng
Đáng chú ý trong những năm gần đây các phương pháp nghiên cứu định lượng, xây dựng các mô hình dự báo sinh khối cây rừng đã được áp dụng thông qua các mối quan hệ giữa sinh khối cây với các nhân tố điều tra cơ bản, dễ đo đếm như đường kính ngang ngực, chiều cao cây,… giúp cho việc dự đoán sinh khối được nhanh hơn, đỡ tốn kém hơn
Cây bụi và tầng cây dưới tán của rừng đóng góp một phần quan trọng trong tổng sinh khối rừng Có nhiều phương pháp ước tính sinh khối cho cây bụi và cây tầng dưới trong hệ sinh thái cây gỗ (Catchpole và Wheeler, 1992) Các phương pháp bao gồm: (1) lấy mẫu toàn bộ cây; (2) phương pháp kẻ theo đường; (3) phương pháp mục trắc; (4) phương pháp lấy mẫu kép sử dụng tương quan Trong đó phương pháp lấy mẫu toàn bộ cây thường được áp dụng nhiều Công trình nghiên cứu tương đối toàn diện và có hệ thống về lượng các bon hấp thụ của rừng được thực hiện bởi Ilic (2000) và Mc Kenzie (2001) Theo Mc Kenzie (2001) [39], các bon trong hệ sinh thái rừng thường tập trung
ở bốn bộ phận chính là thảm thực vật còn sống trên mặt đất, vật rơi rụng, rễ cây
và đất rừng Việc xác định lượng các bon trong rừng thường được thực hiện thông qua xác định sinh khối rừng
Trang 17Các nhà sinh thái rừng dành sự quan tâm đặc biệt đến nghiên cứu sự khác nhau về sinh khối rừng ở các vùng sinh thái Tuy nhiên, việc xác định đầy đủ sinh khối rừng không dễ dàng, nhất là sinh khối của hệ rễ trong đất rừng nên để làm sáng tỏ vấn đề trên đòi hỏi nhiều nghiên cứu sâu hơn nữa Hệ thống lại có
ba cách tiếp cận để xác định sinh khối rừng như sau:
Cách tiếp cận thứ nhất: Dựa vào mối liên hệ giữa sinh khối rừng với kích thước của cây hoặc của từng bộ phận cây theo dạng hàm toán học nào đó Hướng này phổ biến ở Bắc Mỹ và Châu Âu Tuy nhiên, khó khăn của hướng này là ở việc thu thập rễ cây rừng Do đó, hướng này chỉ áp dụng để xác định sinh khối của bộ phận trên mặt đất (Grier, 1989; Reichel, 1991; Burton V Barner, 1998) (dẫn theo Võ Đại Hải, 2009) [7]
Cách tiếp cận thứ hai: Đo trực tiếp quá trình sinh lý điều khiển cân bằng các bon trong hệ sinh thái Cách này gồm các phương pháp đo cường độ quang hợp và hô hấp cho từng thành phần trong hệ sinh thái rừng (lá, cành, thân, rễ) sau đó suy ra lượng CO2 tích lũy trong toàn bộ hệ sinh thái Các nhà sinh thái rừng thường sử dụng cách tiếp cận này đẻ dự tính tổng sản lượng nguyên hô hấp của hệ sinh thái và sinh khối hiện có của nhiều dạng rừng trồng hỗn giao ở Bắc Mỹ (Botkim, 1970; Woodwell, 1970) (dẫn theo Võ Đại Hải, 2009) [7] Cách tiếp cận thức ba: Phương pháp phân tích hiệp phương sai dòng xoáy
đã cho phép định lượng sự thay đổi của lượng CO2 theo mặt thẳng đứng của tán rừng Căn cứ vào tốc độ gió, hướng gió, nhiệt độ và số liệu CO2 theo mặt phẳng đứng sẽ được sử dụng để dự đoán lượng các bon đi vào và đi ra khỏi hệ sinh thái rừng theo định kỳ từng giờ, từng ngày, từng năm Kỹ thuật này đã áp dụng thành công ở rừng thứ sinh Harward-Massachusetts Tổng lượng các bon tích lũy dự đoán theo phương pháp phân tích hiệp phương sai dòng xoáy là 3,7 megagram/ha/năm Tổng lượng các bon hô hấp của toàn bộ hệ sinh thái vào ban đêm là 7,4 megagram/ha/năm, nghĩa là tổng lượng các bon đi vào hệ sinh thái rừng là 11,1 megagram/ha/năm (Wofsy, 1993) (dẫn theo Võ Đại Hải, 2009) [7]
Trang 181.1.2 Ở Việt Nam
Nghiên cứu về sinh khối và năng suất rừng ở Việt Nam được tiến hành vào những năm 1980, những công trình nghiên cứu này đã đạt được những kết quả có ý nghĩa, có thể kể tới một vài công trình sau:
Vũ Văn Thông (1998) [20] khi tiến hành nghiên cứu cơ sở xác định sinh
khối cây cá thể và lâm phần Keo lá tràm (Accia auriculiformis Cum) tại tỉnh
Thái Nguyên đã giải quyết được một số vấn đề thực tiễn đặt ra, đáng chú ý là
đã nghiên cứu và xây dựng mô hình xác định sinh khối Keo lá tràm, lập các bảng tra sinh khối tạm thời phục vụ cho công tác điều tra kinh doanh rừng
Lê Hồng Phúc (1996) [11] thực hiện công trình nghiên cứu “Đánh giá sinh trưởng, tăng trưởng, sinh khối và năng suất rừng Thông ba lá (Pinus keysiaRoyle ex Gordon) vùng Đà Lạt – Lâm Đồng” đã tìm ra quy luật tăng
trưởng sinh khối, cấu trúc thành phần tăng trưởng sinh khối thân cây, tỷ lệ giữa sinh khối tươi và khô của các bộ phân thân, cành, lá, rễ, lượng rơi rụng, tổng sinh khối cá thể và quần thể rừng Thông ba lá Bên cạnh đó, Nguyễn Ngọc Lung và Ngô Đình Quế (2000) cũng đã tiến hành nghiên cứu về động thái, kết cấu sinh khối và tổng sinh khối cho loài cây này
Đặng Trung Tấn (2001) [19] đã nghiên cứu sinh khối rừng Đước, kết quả
đã xác định được tổng sinh khối khô của rừng Đước ở Cà Mau là 327 m3
/ha, tăng trưởng sinh khối bình quân hàng năm là 9.500 kg/ha
Nguyễn Hoàng Trí (1986) [22] với công trình “Góp phần nghiên cứu sinh khối và năng suất quần xã Đước Đôi (Rhizophora apiculata) ở Cà Mau – Minh Hải” đã áp dụng phương pháp “cây mẫu” để nghiên cứu năng suất, sinh khối một số quần xã rừng Đước Đôi (Rhizophora apiculata) ven biển Minh Hải,
đóng góp quan trọng về mặt lý luận và thực tiễn đối với hệ sinh thái rừng ngập mặn ven biển nước ta
Kể từ khi cơ chế phát triển sạch được thông qua và thực sự trở thành một
cơ hội mới cho ngành lâm nghiệp thì những nghiên cứu về sinh khối rừng ở
Trang 19nước ta bắt đầu nhận được sự quan tâm đặc biệt của các nhà khoa học, có thể
kể đến một số kết quả sau:
Nguyễn Ngọc Lung và Nguyễn Tường Vân (2004) [10] đã sử dụng biểu quá trình sinh trưởng và biểu sinh khối để tính toán sinh khối rừng Kết quả cho thấy: Tính theo biểu quá trình sinh trưởng (Nguyễn Ngọc Lung, Đào Công Khanh, 1999), trữ lượng thân cây cả vỏ 1 ha lúc 60 tuổi là 586 m3/ha (phần cây sống) thì Biomass thân cây khô tuyệt đối là: 586 × 0,532 = 311,75 tấn Sinh khối toàn rừng đạt 311,75 × 1,3736 = 428,2 tấn Nếu tính toán theo biểu Sinh khối thì giá trị này là 434,2 tấn Sai số giữa biểu quá trình sinh trưởng và biểu sản lượng là 1,4% đây là mức sai số có thể chấp nhận được
Nguyễn Tuấn Dũng (2005) [4], rừng trông Thông Mã Vĩ thuần loài 20 tuổi có tổng sinh khối rươi là 321,7-495,4 tấn/ha, tương đương với lượng sinh khối khô là 173,4-266,2 tấn/ha Rửng Keo lá tràm trồng thuần loài 15 tuổi có tổng sinh khối tươi là 251,1-433,7 tấn/ha, tương đương với lượng sinh khối khô thân là 132,2-223,4 tấn/ha
Võ Đại Hải và các cộng sự (2009) [7] khi nghiên cứu về sinh khối ở bốn loại rừng trồng cho kết quả sau: Rừng trồng Thông mã vĩ từ 5-30 tuổi sinh khối đạt từ 21,12- 315,05 tấn/ha; rừng trồng Thông nhựa từ 5-45 tuổi có sinh khối từ 20,79-174,72 tấn/ha; rừng trồng Keo lai từ 1-7 tuổi có sinh khối đạt từ 4,09-
138,13 tấn/ha; rừng trồng Bạch đàn Urophylla từ 1-7 tuổi có sinh khối từ
5,67-117,92 tấn/ha Ngoài ra tác giả thiết lập các phương trình tương quan giữa sinh khối với các nhân tố điều tra lâm phần đường kính thân, chiều cao vút ngọn, tuổi lâm phần, mối quan hệ giữa sinh khối tươi và sinh khối khô, sinh khối trên mặt đất và dưới mặt đất theo các cấp đất
Đặng Thịnh Triều (2010) [23] khi nghiên cứu sinh khối rừng trồng Thông
mã vĩ và Thông nhựa đưa ra kết quả: Tổng sinh khối của rừng trồng Thông mã
vĩ từ 1-9 tuổi đạt 20,6-313,43 tấn/ha, rừng trồng Thông nhựa là 22,58-192,12 tấn/ha Tác giả đã xây dựng được bảng tra lượng sinh khối của cây cá thể
Trang 20Thông mã vĩ và Thông nhựa theo nhân tố điều tra đường kính ngang ngực thân cây và chiều cao vút ngọn theo từng cấp đất và chung cho các cấp đất
Vũ Tấn Phương (2006) [12] khi nghiên cứu về sinh khối cây bụi thảm tươi tại Đà Bắc – Hòa Bình; Hà Trung, Thạch Thành, Ngọc Lặc – Thanh Hóa cho kết quả sau: Sinh khối tươi biến động rất khác nhau giữa các loại thảm tươi, cây bụi: Cỏ Lau lách có sinh khối tươi cao nhất khoảng 104 tấn/ha, tiếp đến là trảng cây bụi cao 2-3m có sinh khối tươi đạt khoảng 61 tấn/ha Các loại cỏ như cỏ lá tre, có tranh và cỏ chỉ có sinh khối biến động khoảng 22-31 tấn/ha Về sinh khối khô: Lau lách có sinh khối khô cao nhất 40 tấn/ha; cây bụi cao 2-3 m là 27 tấn/ha; cây bụi cao dưới 2m và tê guột đạt 20 tấn/ha; cỏ lá tre là 13 tấn/ha; cỏ tranh 10 tấn/ha; cỏ chỉ, cỏ lông lợn là 8 tấn/ha
Ngoài ra còn một số công trình nghiên cứu khác về sinh khối rừng như:
Nguyễn Dương Thụy (1991) với công trình “nghiên cứu sinh khối rừng Đước tại Cần Giờ”, Nguyễn Văn Bé (1999) thực hiện công trình “nghiên cứu sinh khối rừng Đước tại tỉnh Bến Tre”, Bảo Huy và các cộng sự “ Mô hình ước tính sinh khối và carbon của cây rừng lá rộng thường xanh ở Tây Nguyên”…
1.2 Nghiên cứu về khả năng tích lũy các bon của rừng
1.2.1 Trên thế giới
Trên cơ sở các phương pháp tiếp cận về xác định sinh khối rừng nêu trên, các nhà khoa học đã nghiên cứu khả năng hấp thụ các bon cho các đối tượng cây rừng khác nhau và thu được những kết quả có tính khoa học
Để nghiên cứu lượng các bon hấp thụ, các mẫu thứ cấp đã được dùng để phân tích hàm lượng các bon theo phương pháp đốt cháy (Rayment và Higginsin, 1992) Mẫu thứ cấp được đốt cháy bằng oxy tinh khiết trong môi trường nhiệt độ cao và chuyển toàn bộ các bon thành CO2, sau đó CO2 được tách ra bằng máy dò của dòng Heli tinh khiết Các loại oxit khác (Nitơ, lưu huỳnh,…) được tách ra từ dòng khí Hàm lượng các bon được tính toán bằng phương pháp không tán sắc của vùng quang phổ hồng ngoại Phân tích hàm
Trang 21lượng các bon bằng hai phương pháp phép sắc ký cuả dòng khí và quang phổ khối (Gifford, 2000) Sử dụng phương pháp đốt lò có thể phân tích được hàm lượng Nitơ oxit cùng với hàm lượng CO2 và có thể phân tích thêm các loại khoáng để tăng cường thêm giá trị của số liệu
Năm 1980, Brown và cộng sự đã sử dụng công nghệ GIS dự tính lượng các bon trung bình trong rừng nhiệt đới Châu Á là 144 tấn/ha trong phần sinh khối và 148 tấn/ha trong lớp đất mặt với độ sâu 1m, tương đương với 42- 43 tỷ tấn các bon trong toàn châu lục Năm 1991, Houghton R.A đã chứng minh lượng các bon trong rừng nhiệt đới Châu Á là 40 - 250 tấn/ha, trong đó 50 –
120 tấn/ha ở phần thực vật và đất (dẫn theo Phạm Xuân Hoàn, 2005) [8]
Năm 1986, Paml C.A và cộng sự cho rằng lựợng các bon trung bình trong sinh khối phần trên mặt đất của rừng nhiệt đới Châu Á là 185 tấn/ha và biến động từ 25-300 tấn/ha Kết quả nghiên cứu của Brown (1997) cho thấy rừng nhiệt đới Đông Nam Á có lượng sinh khối trên mặt đất 50-430 tấn/ha và trươc khi có tác động của con nguời thì các trị số tương ứng là 350-400 tấn/ha Năm 1999 Lasco R cho biết ở rừng tự nhiên thứ sinh có 86-201 tấn các bon/ha trong phần sinh khối trên mặt đất, ở rừng già con số đó 185-260 tấn các bon/ha Tại Thái Lan, Noopragop K (1998) đã xác định được lượng các bon trong sinh khối trên mặt đất là 72-182 tấn/ha Ở Malaysia, lượng các bon trong rừng biến động từ 100-160 tấn/ha và tính cả trong sinh khối và đất là 90-780 tấn/ha (Abu Bakar, 1997)
Brown và các cộng sự (1996) [27] đã ước lượng được tổng lượng các bon
mà hoạt động trồng rừng trên thế giới có thể hấp thu tối đa trong vòng 50 năm (1995-2000) là khoảng 60-70 Gt các bon, với 70% ở rừng nhiệt đới, 20% rừng
ôn đới, 5% ở rừng cực bắc (Cairns et al., 1997) [29] Tính tổng lượng rừng trồng có thể hấp thu được 11-15% tổng luợng các bon phát thải từ nguyên liệu hóa thạch trong thời gian tương đương (Brown, 1997)
Trang 22Năm 1999, một nghiên cứu về lượng phát thải các bon dự trữ trong sinh quyển được Malhi, Baldocchi thực hiện Theo các tác giả này, thì sự phát thải
từ các hoạt động của con người (như đốt cháy nhiên liệu hóa thạch…) tạo ra 7,1 ± 1,1 Gt các bon/năm đi vào khí quyển, còn lại 46% còn lại trong khí quyển, trong đó có 2,0 ± 0,8 Gt các bon/năm được chuyển vào đại dương và 1,8 ± 1,6 Gt các bon/năm được dữ trong bề mặt các bon trái đất (dẫn theo Võ Đại Hải, 2009) [7]
Năm 2000, ở Indonesia đã nghiên cứu khả năng hấp thụ các bon của rừng thứ sinh, hệ thống cây nông lâm nghiệp kết hợp và hệ thống cây lâu năm trung bình là 2,5 tấn/ha/năm và nghiên cứu điều kiện xung quanh với các loài cây: khả năng tích lũy các bon biến động từ 0,5-12,5 tấn/ha/năm, rừng quế 7 tuổi tích lũy 4,49-7,19kg các bon/ha…
Nghiên cứu sự biến động các bon sau khai thác rừng của một số nhà khoa học đã cho thấy rằng:
Lượng sinh khối và các bon của rừng nhiệt đới Châu Á bị giảm khoảng 22-67% sau khai thác, tại Philipines sau khi khai thác lượng các bon bị mất là 50%, so với rừng thành thục trước khai thác ở Indonesia là 38-75% (Lasco, 2002) [41]
Phương thức khai thác cũng có ảnh hưởng rõ rệt tới mức thiệt hại do khai thác hay lượng các bon bị giảm Bằng việc áp dụng phương thức khai thác giảm thiểu (RIL) tác động ở Sabah (Malaysia) sau khai thác một năm, lượng sinh khối đã đạt 44-67% so với trước khai thác Lượng các bon trong lâm phần sau khai thác theo RIL cao hơn lâm phần khai thác theo phương thức thông thường đến 88 tấn/ha (Put F.E và Pinard M.A, 1993)
Với sự ra đời của nghị định Kyoto, vai trò của rừng trong giảm phát thải khí nhà kính và chống lại sự nóng lên toàn cầu đã được khẳng định Theo kết quả tính toán, giá trị hấp thụ các bon của các khu rừng nhiệt đới khoảng 500-2.000 USD/ha và rừng ôn đới 100-300 USD/ha (Zang, 2000).giá trị hấp thu các
Trang 23sinh là 4.000-4.400 USD/năm/ha, rừng thứ sinh 1.000-3.000 USD/năm/ha và rừng thưa 600-100 USD/ha/năm (Camille Bann và Aylward, 1994) [29]
1.2.2 Ở Việt Nam
Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Tuấn Dũng (2005) [4] cho thấy rừng Thông mã vĩ thuần loài 20 tuổi có lượng các bon tích lũy là 80,7-121,9 tấn/ha; giá trị tích lũy các bon ước đạt 25,8-39,0 triệu đồng/ha Rừng keo lá tràm trồng thuần loài tuổi 15 có tổng lượng các bon tích lũy được từ 62,5-103,1 tấn/ha, giá trị tích lũy các bon ước tính đạt 20-33 triệu đồng/ha Đồng thời, tác giả đã xây dựng được bảng tra lượng các bon tích lũy của hai trạng thái rừng trồng Keo lá tràm và Thông mã vĩ theo mật độ, đường kính thân ngang ngực và chiều cao
vút ngọn
Theo Ngô Đình Quế (2005) [16] khi nghiên cứu, xây dựng các tiêu chí, chỉ tiêu trồng rừng theo CDM ở Việt Nam đã tiến hành đánh giá khả năng hấp thụ CO2 thực tế ở một số rừng trồng ở Việt Nam Tác giả đánh giá trên các đối tượng cây rừng là Thông nhựa, Keo lai, Keo tai tượng, Keo lá tràm và Bạch
đàn Urophylla ở các độ tuổi khác nhau Kết quả tính toán cho thấy khả năng
hấp thụ CO2 của các lâm phần khác nhau tùy thuộc vào năng suất lâm phần đó
ở các tuổi nhất định Để tích lũy được khoảng 100 tấn CO2/ha đối với rừng Thông nhựa khi ở tuổi 16-17, Thông mã vĩ và Thông ba lá ở tuổi 10, Keo tai
tượng từ 5-6 tuổi, Bạch đàn Urophylla ở tuổi 4-5 Kết quả nghiên cứu này là cơ
sở cho việc quy hoạch vùng trồng rừng, xây dựng các dự án trồng rừng và tái trồng rừng theo cơ chế phát triển sạch Tác giả đã xây dựng dược các phương trình tương quan hồi quy – tuyến tính giữa lượng CO2 hấp thụ hàng năm với năng suất gỗ và năng suất sinh học, từ đó tính ra khả năng hấp thụ CO2 thực tế
ở nước ta với những loài cây rừng kể trên
Vũ Tấn Phương (2006) [12] tính toán trữ lượng các bon trong thảm tươi
và cây bụi tại Hòa Bình và Thanh Hóa thu được những kết quả sau: Với cỏ lá
Trang 24lách đạt 20 tấn/ha; cây bụi cao từ 2-3 m đạt 14 tấn/ha; khoảng 10 tấn/ha với cây bụi dưới 2m và tê guột đạt 6,6 tấn/ha; cỏ lá tre đạt 4,9 tấn/ha; với cỏ tranh và cỏ chỉ, cỏ lông lợn là 3,9 tấn/ha Nghiên cứu này đóng góp về mặt phương pháp luận nghiên cứu sinh khối cây bụi thảm tươi, đồng thời là căn cứ khoa học để xây dựng đường các bon cơ sở cho các dự án trồng rừng và tái trồng rừng theo CDM sau này
Nguyễn Ngọc Lung và Nguyễn Tường Vân (2004) [10] đã dựa vào công thức tổng quát của quá trình quang hợp để tính ra hệ số chuyển đổi từ sinh khối khô sang CO2 đã hấp thụ là 1630/1 Căn cứ vào biểu quá trình sinh trưởng và biểu sinh khối các tác giả tính được 1ha rừng trồng Thông mã vĩ 60 tuổi ở cấp đất III tích lũy được 70.775 tấn CO2
Điểm chung của các công trình nghiên cứu về hấp thụ các bon là thiết lập mối quan hệ giữa lượng các bon hấp thụ với các nhân tố điều tra cơ bản như đường kính, chiều cao vút ngọn, mật độ, tuổi,…Trong đó, Nguyễn Tuấn Dũng (2005) đã lập phương trình cho hai loài Thông mã vĩ và Keo lá tràm; Ngô Đình Quế (2005) đã xây dựng mối quan hệ cho các loài Thông nhựa, Keo lai, Keo tai
tượng, Keo lá tràm, Bạch đàn Urophylla; Vũ Tấn Phương (2006) xây dựng các
phương trình quan hệ cho Keo lai, Keo tai tượng, Keo lá tràm, Bạch đàn
Urophylla, Quế Đây là cơ sở quan trọng cho việc xác định nhanh lượng các
bon hấp thụ của rừng trồng nước ta thông qua điều tra một số chỉ tiêu đơn giản,
dễ đo đếm như đường kính thân, chiều cao vút ngọn, mật độ
Khả năng hấp thụ các bon của rừng tự nhiên cũng được quan tâm nghiên cứu Vũ Tấn Phương (2006) [12] nghiên cứu trữ lượng các bon theo các trạng thái rừng cho kết quả: rừng giàu có tổng trữ lượng các bon 694,9-733,9 tấn
CO2/ha; rừng trung bình đạt 539,6-577,8 tấn CO2/ha; rừng nghèo là 478,9 tấn CO2/ha; rừng phục hồi là 164,9-330,5 tấn CO2/ha; và rừng tre nứa là 116,5-277,1 tấn CO2/ha
Trang 25387,0-Phạm Tuấn Anh (2007) [1] nghiên cứu năng lực hấp thụ CO2 của rừng tự nhiên lá rộng thường xanh tại Tuy Đức – Đăk Nông đã tiếp cận theo từng loài cây trong rừng tự nhiên như Chò, xót, Trâm,… Kết quả cho thấy tỷ lệ các bon tích lũy trong thân cây so với khối lượng tươi đạt khoảng 14,1-31,8% Nghiên cứu đã chỉ ra mối quan hệ giữa lượng CO2 hấp thụ với các nhân tố điều tra cây
cá thể làm cơ sở dự báo lượng CO2 tích lũy theo các chỉ tiêu lâm phần Tác giả cũng đã lượng giá hấp thụ CO2 theo lâm phần: Trạng thái rừng IIAB thu được
303 nghìn đồng/năm; rừng IIIA1 là 607 nghìn đồng/năm; trạng thái IIIA2 cao nhất là 911 nghìn đồng/năm
Theo Hoàng Xuân Tý (2004), nếu tăng trưởng rừng đạt 15m3/ha/năm khi
đó tổng sinh khối tươi và chất hữu cơ của rừng sẽ đạt được khoảng 10 tấn/ha/năm ước khoảng 15 tấn CO2/ha/năm, với giá thương mại các bon tháng 5/2004 đạt từ 3-5 USD/tấn CO, lúc này 1 ha rừng như vậy có thể đem lại khoảng 45-75 USD mỗi năm ở thời điểm đó
Võ Đại Hải (2009) [7] khi nghiên cứu về khả năng hấp thụ các bon của bốn loại rừng trồng xác định lượng các bon hấp thụ toàn lâm phần được cấu thành từ bốn thành phần bao gồm: Tầng cây cao, tầng cây bụi cộng thảm tươi, vật rơi rụng và lượng các bon tích lũy trong đất Kết quả đạt được như sau: rừng trồng Thông mã vĩ từ 5-30 tuổi lượng các bon hấp thụ đạt 37,04-179,2 tấn/ha; rừng trồng Thông nhựa rừ 5-45 tuổi lượng các bon hấp thụ đạt 51,37-148,89 tấn/ha; rừng trồng Keo lai từ 1-7 tuổi lượng các bon hấp thụ đạt 43,85-
108,82 tấn/ha; rừng trồng Bạch đàn Urophylla từ 1-7 tuổi lượng các bon hấp
thụ đạt 35,5-95,64 tấn/ha; rừng trồng Mỡ từ 6-18 tuổi lượng các bon hấp thụ đạt 55,93-112,40 tấn/ha; rừng trồng Keo lá tràm từ 2-12 tuổi lượng các bon hấp thụ đạt 27,05-86,98 tấn/ha Đồng thời, tác giả đã thiết lập được phương trình tương quan giữa lượng các bon hấp thụ với các nhân tố điều tra lâm phần: đường kính thân, chiều cao vút ngọn, mật độ số cây/ha, tuổi lâm phần, mối
Trang 26quan hệ giữa sinh khối và lượng các bon hấp thụ, lượng các bon hấp thụ trên mặt đất và dưới mặt đất theo các cấp đất
Đặng Thịnh Triều (2010) [23] nghiên cứu khả năng cố định các bon của rừng trồng Thông mã vĩ và Thông nhựa đưa ra kết quả sau: tổng lượng các bon
cố định của rừng trồng Thông mã vĩ từ 1-9 tuổi đạt 33,32-178,68 tấn/ha, rừng trồng Thông nhựa đạt từ 51,97-170,87 tấn/ha Trong đó, tổng lượng các bon cố định của rừng bao gồm tầng cây cao, tầng cây bụi cộng thảm tươi, vật rơi rụng
và lượng các bon tích lũy trong đất Từ đó, tác giả xây dựng bảng tra lượng các bon cố định của cây cá thể Thông mã vĩ và Thông nhựa theo đường kính thân
và chiều cao vút ngọn theo cấp đất
* Tầm quan trọng của hấp thụ các bon trong ngành lâm nghiệp ở Việt Nam
Theo dự đoán của Chương trình hỗ trợ ngành Lâm nghiệp và đối tác (2006) [17], phát thải khí nhà kính đến năm 2030 từ các ngành sản xuất gồm năng lượng và nông nghiệp đều tăng lên nhanh chóng, thậm chí đối với ngành năng lượng năm 2030 tăng gấp hơn 14 lần so với năm 1993 Chỉ duy nhất ngành lâm nghiệp được kỳ vọng sẽ tăng dần lượng hấp thụ các bon và lên đến khoảng 32,1 triệu tấn vào năm 2030 Lượng hấp thụ này sẽ đóng góp vào việc giảm tổng phát thải của Việt Nam do phát triển nền kinh tế công nghiệp, nông nghiệp, đồng thời là nguồn tiềm năng để tham gia cơ chế phát triển sạch Qua
đó nhận được tín dụng từ các quốc gia phát triển.Với lượng giá trị hấp thụ CO2của các rừng đặc dụng mang lại giá trị kinh tế khi trong quá trình hội nhập giá trị hấp thụ CO2 cuả rừng ở mỗi quốc gia được các nước phát triển chi trả Nguồn thu từ khai thác giá trị hấp thụ CO2 là cơ sở cho việc tính toán chi trả quản lý bảo vệ rừng đặc dụng cho các chủ rừng và cộng đồng
Trang 27Chương 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu nghiên cứu
- Xác định được sinh khối và lượng CO2 hấp thụ của rừng trạng thái IIIA tại huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên
- Đề xuất một số ứng dụng trong việc xác định lượng CO2 hấp thu của trạng thái rừng IIIA tại huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên
2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Rừng tự nhiên trạng thái IIIA thuộc xã Yên Đổ, Yên Trạch tại huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên
Phạm vi nghiên cứu
Do thời gian thực hiện đề tài này có hạn nên đề tài chỉ tập trung nghiên cứu trữ lượng các bon trong sinh khối phần trên mặt đất của rừng tự nhiên trạng thái IIIA
2.3 Giới hạn nghiên cứu
2.3.1 Tổng quan tài liệu: Phân tích, tổng hợp và đánh giá các công trình nghiên
cứu trên thế giới và Việt Nam liên quan đến đề tài
2.3.2 Nghiên cứu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Phú Lương, tỉnh
Thái Nguyên (vị trí địa lý, địa hình, khí hậu, thổ nhưỡng ) có ảnh hưởng đến
sự phát triển của thảm thực vật
2.3.3 Nghiên cứu khả năng hấp thụ carbon của rừng tự nhiên trạng thái IIIA ở
huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên
2.3.4 Nghiên cứu mối quan hệ giữa sinh khối, luợng carbon hấp thụ với các
nhân tố điều tra rừng chủ yếu và xây dựng bảng luợng carbon
2.3.5 Đề xuất một số ứng dụng trong việc xác định sinh khối và lượng CO2 hấp
thụ của rừng trạng thái IIIA tại huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Quan điểm và cách tiếp cận của đề tài
Trang 28được tổng hợp bởi hệ thực vật trong rừng bao gồm tầng cây cao, tầng cây bụi thảm tươi, vật rơi rụng và phần vật chất hữu cơ có nguồn gốc từ thực vật ở
trong đất rừng
2.4.2 Phương pháp nghiên cứu
Lượng CO2 hấp thụ và sinh khối của rừng là phần vật chất hữu cơ đã được tổng hợp bởi hệ thực vật rừng bao gồm tầng cây cao, tầng cây bụi thảm tươi và vật rơi rụng
Thành phần loài cây rừng tự nhiên tương đối phức tạp, các cây có chiều cao và đường kính rất khác nhau nên việc nghiên cứu sinh khối và lượng CO2hấp thụ cho từng loài cụ thể là không thể thực hiện được Do đó cách tiếp cận theo cấp kính, cây tiêu chuẩn theo cấp kính được đưa ra trong đề tài
Cùng một trạng thái rừng IIIA nhưng thời gian phục hồi khác nhau, sự phân bố các cây theo cấp kính khác nhau sinh trưởng trên các lập địa khác nhau thì sinh khối và lượng CO2 hấp thụ cũng khác nhau Do đó, quan điểm của đề tài là lập OTC đại diện, điển hình
Sơ đồ các bước nghiên cứu của đề tài thể hiện qua hình 2.1
Thu thập tài liệu thông tin khu
Chặt hạ cây tiêu chuẩn Lập OTC thứ cấp và ô dạng bản
Lấy mẫu thân, cành & lá xác định
sinh khối tầng cây cao Lấy mẫu xác định xinh khối cây bụi, thảm tươi & vật rơi rụng
Lấy mẫu xác định sinh khối khô Xác định lượng CO 2 được hấp thụ Phân tích xử lý số liệu
Đề xuất hướng ứng dụng
Trang 292.4.2.1 Phương pháp kế thừa số liệu
- Các tài liệu, công trình đã công bố có liên quan đến việc xác định sinh khối và lượng CO2 hấp thụ của rừng
- Tài liệu liên quan đến phương pháp đo đếm sinh khối và lượng CO2 hấp thụ của rừng, đặc biệt là rừng tự nhiên
- Tài liệu về điều kiện tự nhiên – kinh tế xã hội của khu vực nghiên cứu
2.4.2.2 Phương pháp điều tra ngoài thực địa
Dựa trên hiện trạng của thảm thực vât, chúng tôi đã phân chia và chọn ra những khu vực nghiên cứu đặc trưng Ô tiêu chuẩn định vị sẽ được thiết lập với
kích thước phù hợp với hiện trạng
+ Xác định các thông tin và hiện trạng của cây : Thành phần loài, cấu trúc, mật độ cây gỗ, đường kính thân cây, chiều cao cây,…
+ Xác định sinh khối tươi của cây gỗ cây bụi và vật rơi rụng và lấy mẫu cho việc xác định sinh khối khô và phân tích hàm lượng carbon
Mục đích chính của đề tài là đánh giá khả năng hấp thụ carbon của rừng nên chúng tôi tiến hành bố trí thí nghiệm, thu thập mẫu vật, số liệu điều tra dựa trên thu thập, đo đếm sinh khối cây cá thể bằng phương pháp chặt hạ
Thiết lập ô tiêu chuẩn
* Cách bố trí ô tiêu chuẩn
25m
Hình 2.2: Sơ đồ bố trí ô tiêu chuẩn
Diện tích mỗi ô tiêu chuẩn là 625m2
(25m x 25m) Trong mỗi ô tiêu
Trang 30(5m x 5m) để điều tra cây bụi, thảm tươi Ở trung tâm mỗi ô thứ cấp, lập 5 ô dạng bản (4 ô ở 4 góc và một ô ở giữa) diện tích 1m2
(1m x 1m) để điều tra vật rơi rụng
Điều tra trong ô tiêu chuẩn
a) Lựa chọn cây tiêu chuẩn để chặt hạ (cây tiêu chuẩn là cây có kích thước tiết diện và đường kính trung bình)
b) Sau khi lựa chọn cây tiêu chuẩn cho mỗi cấp kính, tiến hành chặt hạ cây c) Điều tra toàn bộ cây cao trong ô tiêu chuẩn, tiến hành đo đếm các chỉ tiêu sinh trưởng
+ Đường kính ngang ngực (D 1.3 cm), được đo bằng thước kẹp kính tại vị trí là 1.3m tất cả các cây có đường kính từ 6 cm trở lên
+ Chiều cao vút ngọn (H vn m) được đo bằng thước đo cao blumer, đo tất
cả các cây có đường kính từ 6cm trở lên
+ Đường kính tán (D t ) đo bằng thước dây trên hình chiếu của thân lá trên mặt đất
d) Sau khi được cây tiêu chuẩn tiến hành chặt hạ cây, tách riêng thân, cành, lá
* Xác định sinh khối cây tiêu chuẩn
Các cây trong ô tiêu chuẩn được chia thành 5 cấp kính khác nhau: i) 6-10 cm; ii) 10-14cm; iii) 14-18 cm; iv) 18-22cm và v) 22 cm Tiến hành xác định 2 cây tiêu chuẩn ở mỗi cấp đường kính, cây tiêu chuẩn là cây có chỉ tiêu trung bình về tiết diện ngang G và Hvn
Sau khi chọn cây tiêu chuẩn, tiến hành chặt hạ, loại bỏ sạch đất, tách riêng các bộ phận: thân, vỏ, cành, lá Đào và lấy tất cả rễ có đường kính lớn hơn 2mm Cân các bộ phận tươi của cây tại chỗ, được sinh khối tươi tương ứng với từng bộ phận của cây tiêu chuẩn (Pti)
* Xác định sinh khối khô
Xác định sinh khối khô bộ phận i cây tiêu chuẩn (Pki), lấy mẫu từng bộ phận đem sấy khô 1050C, cân ngay sau khi lấy ra từ trong tủ sấy vì chúng rất dễ
Trang 31hấp thụ hơi ẩm và tăng cân, để xác định trọng lượng khô của từng mẫu, kiểm
tra đo đếm khối lượng các mẫu (tiến hành cân điện tử) thu được kết qủa sinh
khối khô tương ứng với mẫu từng phần (mki), khối lượng mẫu thu được như
sau Mẫu thân gồm 2 phần (giữa thân, ngọn) dầy khoảng 3-8cm Mẫu cành lấy
1 mẫu 1kg tại vị trí giữa cành Mẫu lá lấy 1 mẫu mỗi mẫu 0.5kg
- Phân tích khối lượng thể tích gỗ cơ bản của tất cả các thớt gỗ xác định
tại độ ẩm 0 %
Gía trị sinh khối khô từng bộ phận cây tiêu chuẩn được tính theo công thức
P ki = P ti x m ki/ m ti (kg) (2.1)
Trong đó: Pki Sinh khối khô bộ phận i cây cá thể
Pti Sinh khối tưoi bộ phận i cây cá thể
mki Khối lượng mẫu khô của bộ phận i mỗi lấn sau khi sấy
mti Khối lượng mẫu tươi của bộ phận i mỗi lần sau khi sấy
+ Sinh khối tươi cây cá thể tính theo công thức:
* Xác định sinh khối tầng cây bụi, thảm tươi
- Trên các ô tiêu chuẩn 25m2, chặt và thu gom toàn bộ cây bụi trên mặt
đất, sau đó cân ngay xác định sinh khối tươi
- Xác định sinh khối khô: Lấy mẫu mỗi loại 0,5kg/ ô tiêu chuẩn đem về
phòng thí nghiệm sấy khô trong điều kiện 1500C, cho đến khi mẫu vật có khối
lượng không đổi
- Sinh khối các bộ phận cây bụi trong 1ha được tính theo công thức:
Trang 32P cây bụi = m x 10.000 / 1000 x 25 (tấn/ha) (2.5)
Trong đó:
Pcây bụi Sinh khối tươi /khô cây bụi, thảm tươi trong 1 ha
m: Khối lượng tươi,khô bộ phận tương ứng của cây bụi tính trung bình trong 5 ô thứ cấp
* Xác định sinh khối vật rơi rụng
- Thu gom toàn bộ vật rơi rụng trong các ô dạng bản, tiến hành cân tại chỗ được sinh khối tươi vật rơi rụng
- Xác định sinh khối khô: tại mỗi ô dạng bản, lấy một mẫu cành rơi rụng
và lá rơi rụng với 0.5kg mỗi loại đem sấy khô 1050C, cho đến khi mẫu vật có khối lượng không đổi, sau đó cân tính toán sinh khối khô
- Sinh khối vật rơi rụng trên 1ha tính theo công thức :
P VRR = (m x 10.000)/ 1000 (tấn/ha) (2.6)
Trong đó:
PVRR Là sinh khối (tươi, khô) vật rơi rụng trong 1ha
m: Là tổng khối lượng tươi, khô vật rơi rụng tính trung bình trong 5
ô dạng bản
* Xác định tổng lượng sinh khối( tươi/ khô) lâm phần
P lp = P tầng cây cao + P tầng cây bụi thảm tươi + P vật rơi rụng (tấn/ha) (2.7)
* Phương pháp tính lượng carbon được tích lũy
Đề tài áp dụng theo phương pháp tính lượng carbon được tích lũy của
Trung tâm Hợp tác quốc tế và Xúc tiến lâm nghiệp Nhật Bản (JIFPRO) áp
dụng khối lượng carbon chiếm 50% khối lượng sinh khối khô
- Lượng carbon được tích lũy
C = Sinh khối khô x 0.5 (kg) (2.8)
Từ lượng C→lượng CO2 hấp thụ lượng CO2 hấp thụ Q = C x (44/22)
2.5.2.3 Nhập và tổng hợp số liệu
Sử dụng các phần mềm thống kê Microsorf Excel, SPSS để xác định mối quan hệ giữa các đại lượng nghiên cứu của đề tài Đề tài tiến hành thử nghiệm
Trang 33nhiều hàm tương quan tuyến tính 1 lớp, nhiều lớp và các hàm phi tuyến tính khác nhau (Linear, Logarithmic, Inverse…) Phương trình tương quan mô phỏng quan hệ giữa hai đại lượng được coi là phù hợp nhất khi đường biểu diễn phân bố lý thuyết và thực nghiệm sát nhau nhất, phương trình có hệ số tương quan và hệ số xác định lớn nhất, sai tiêu chuẩn của đường hồi qui nhỏ nhất, các
tham số phương trình phải tồn tại, dạng phương trình đơn giản dễ áp dụng
Bảng 2.1: Tổng hợp số liệu phục vụ cho đề tài
Số mẫu phân tích tầng cây cao
- Mẫu thân cây
- Mẫu cành cây
- Mẫu lá cây
Mẫu Mẫu Mẫu
150
50
50
Trang 34
Chương 3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ - XÃ HỘI
Đu, cách trung tâm thành phố Thái Nguyên 22km về phía bắc (theo Quốc lộ 3) Huyện Phú Bình có 2 thị trấn và 14 xã Thị trấn Đu , Thị trấn Giang Tiên,
xã Sơn Cẩm, Xã Cổ Lũng, Xã Động Đạt, Xã Hợp Thành, Xã Ôn Lương, Xã Phấn Mễ, Xã Phú Đô, Xã Phủ Lý, Xã Tức Tranh, Xã Vô Tranh, Xã Yên Đổ,
Xã Yên Lạc, Xã Yên Ninh, Xã Yên Trạch
3.1.2 Địa hình
Địa hình Phú Lương tương đối phức tạp, độ cao trung bình so với mặt nước biển từ 100 m đến 400m
- Các xã ở vùng bắc và tây bắc huyện có nhiều núi cao, độ cao trung bình
từ 300 m đến 400 m, độ dốc phần lớn trên 200; thảm thực vật dầy, tán che phủ cao, phần nhiều lá rừng xanh quanh năm
- Các xã ở vùng phía nam huyện địa hình bằng phẳng hơn, có nhiều đồi
và núi thấp, độ dốc thường dưới 150 Đây là vùng địa hình mang tính chất của vùng trung du nhiều đồi, ít ruộng
- Từ phía bắc xuống phía nam huyện, độ cao giảm dần
Nhìn chung địa hình của huyện Phú Lương, cùng với khí hậu đất đai phù
Trang 353.1.3 Khí hậu thuỷ văn
Khí hậu Phú Lương mang tính chất nhiệt đới gió mùa với hai mùa nóng, lạnh rõ rệt Mùa lạnh (từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau) nhiệt độ xuống thấp,
có khi xuống tới 30C, thường xuyên có các đợt gió mùa đông bắc hanh, khô Mùa nóng (từ tháng 4 đến tháng 10 hàng năm) nhiệt độ cao, nhiều khi có mưa lớn và tập trung
* Chế độ nhiệt:
Nhiệt độ trung bình trong năm khoảng 220C, tổng tích nhiệt khoảng 8.0000C Nhiệt độ bình quân cao nhất trong mùa nóng 27,20C (cao nhất là tháng 7 có năm lên tới 280c - 290c) Nhiệt độ bình quân thấp nhất trong mùa lạnh là 200c, (thấp nhất là tháng 1: 15,60c) Số giờ nắng trung bình 1 năm là 1.628 giờ, năng lượng bức xạ khoảng 115 kcallo/cm2
* Chế độ ẩm:
Lượng mưa trung bình ở Phú Lương từ 2.000mm đến 2.100mm/năm Từ tháng 4 đến tháng 10 hàng năm, mưa nhiều, chiếm trên 90% tổng lượng mưa cả năm Tháng 7 có lượng mưa lớn nhất (bình quân từ 410 mm đến 420mm/tháng)
và có số ngày mưa nhiều nhất (từ 17 ngày đến 18 ngày/tháng) Tháng 11 và tháng 12 ít mưa, lượng mưa trung bình chỉ khoảng từ 24 đến 25 mm/tháng và mỗi tháng chỉ có khoảng từ 8 ngày đến 10 ngày mưa
Lượng bốc hơi trung bình hàng năm ở Phú Lương khoảng 985,5mm, mùa lạnh lượng bốc hơi lớn hơn lượng mưa, độ ẩm (k) Dưới 0,5 nên thường xuyên xảy ra khô hạn
* Thủy văn:
Phú Lương có mật độ sông, suối bình quân 0,2km/km2, trữ lượng nước cao, phân bổ tương đối đều ở các xã trong huyện, thuận lợi cho phát triển thuỷ lợi, đủ nước cung cấp cho sản xuất và sinh hoạt của dân cư toàn huyện Hầu hết các sông ở Phú Lương đều hẹp và dốc, nên trong mùa nóng, mưa nhiều, thường xảy ra lũ lụt, xói mòn và sạt lở đất, gây nhiều thiệt hại cho sản xuất và đời
Trang 363.1.4 Điều kiện đất đai
Huyện Phú Lương có diện tích tự nhiên 368,82 km2, trong đó đất nông nghiệp 119,79 km2; đất lâm nghiệp 164,98km2 (chiếm 44,73% tổng diện tích đất tự nhiên); đất nuôi trồng thuỷ sản 6,65km2; đất phi nông nghiệp 46,63km2; đất chưa sử dụng 31,64km2
- Phú Lương có một số loại đất như sau:
+ Đất phù sa
+ Đất dốc tụ
+ Đất đỏ vàng biến đổi do trồng lúa
+ Đất nâu đỏ trên đá vôi
+ Đất feralít đỏ vàng trên đá phiến thạch sét
+ Đất đỏ nâu trên đá macma bazơ trung tính
+ Đất feralít vàng nhạt phát triển trên đá
+ Đất nâu vàng trên phù sa cổ
Trong đó có ba loại đất chính đó là đất feralít đỏ vàng trên phần thạch sét, đất feralít màu vàng nhạt trên đá và đất nâu đỏ trên đá macma trung tính Ba loại đất này chiếm hơn 50% diện tích đất toàn huyện
3.1.5 Hiện trạng rừng và đất rừng
Số liệu thống kê hiện trạng đất đai trên địa bàn và hiện trạng sử dụng đất
rừng của khu vực nghiên cứu được thể hiện tại (bảng 3.1)
Bảng 3.1: Thống kê diện tích đất đai khu vực nghiên cứu
Trang 37Hiện trạng rừng trên địa bàn huyện Phú Lương chủ yếu là rừng trồng, diện tích rừng tự nhiên còn rất ít, nhỏ lẻ, không tập trung Hiện nay rừng tập trung trên địa bàn huyện còn lại khu rừng phòng hộ đầu nguồn, diện tích 878,96 ha thuộc địa phận xã Yên Lạc, huyện Phú Lương
3.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội của vùng nghiên cứu
3.2.1 Kinh tế
Phú Lương có tổng diện tích tự nhiên là 369,34 km2 gồm thị trấn Đu, thị trấn Giang Tiên và 14 xã
- Tổng thu nhập trên địa bàn huyện năm 2013 là : 957 tỷ đồng
- Cơ cấu ngành nghề: Nông – lâm- thủy sản: 52,95 %, thương mại và dịch
vụ 19,78 %, tiểu thủ công nghiệp và xây dựng 27,27 %
- Theo báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế năm 2011 thì tốc độ tăng trưởng kinh tế ước đạt 11,5% Tỉ lệ hộ nghèo trên toàn huyện là 20,4%
- Thu nhập bình quân đầu người năm 2013 là: 8,85 triệu đồng/ người/ năm + Giá trị sản xuất bình quân trên 1ha diện tích đất nông nghiệp trồng trọt (theo giá thực tế) đạt 70 triệu đồng/ha
- Do điều kiện địa hình núi đá rất phức tạp nên chương trình nước sinh hoạt nông thôn đã được đầu tư xây dựng nhưng vẫn ở phạm vi hẹp Nhiều hộ gia đình vẫn phải tìm nguồn nước tự nhiên từ trong núi để phục vụ sinh hoạt hàng ngày Tỷ lệ dân cư sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh ở nông thôn đạt 82%
3.2.2 Xã hội
3.2.2.1 Dân tộc
Trên địa bàn huyện có nhiều thành phần dân tộc khác nhau cùng sinh sống, trong đó dân tộc Kinh chiếm đa số, chiếm 54,2%, dân tộc Tày chiếm 21,1%, dân tộc Nùng chiếm 4,5%, dân tộc Sán Chay chiếm 8,5%, dân tộc Dao chiếm 4,4%, và dân tộc Sán Dìu chiếm 3,29%, ngoài ra còn một số ít các dân tộc khác cùng sinh sống trên địa bàn như dân tộc, Thái, H’Mông, Hoa
Trang 383.2.2.2 Dân số và lao động
- Tổng số dân trên địa bàn huyện Phú Lương là 108.101 nghìn người Trên địa bàn huyện, mật độ dân số bình quân là 407 ng/km2 Dân cư trên địa bàn phân bố tương đối đồng đều
- Đến đầu năm 2013 tổng số người trong độ tuổi lao động hoạt động trong các lĩnh vực kinh tế trên địa bàn huyện là 64.491 người, trong đó 20.005 hộ làm nông nghiệp
3.2.2.3 Y tế - giáo dục: Trong năm 2013, huyện Phú Lương đã đầu tư xây mới
và sửa chữa 11 trạm y tế đủ điều kiện đạt chuẩn giai đoạn 2 Bên cạnh đó, các trang thiết bị máy móc cũng đã được đầu tư đầy đủ Nhờ đó, công tác chăm sóc sức khỏe cho nhân dân ngày càng được nâng lên…
Trên địa bàn huyện có 03 trường THPT và 01 Trung tâm giáo dục thường xuyên; 17 trường Trung học cơ sở; 27 trường Tiểu học và 17 trường Mầm non
3.2.3 Cơ sở hạ tầng
3.2.3.1 Giao thông
Hầu hết các địa phương trong huyện đã hoàn thành cơ bản tiêu chí về xây dựng giao thông nông thôn Tính riêng trong năm 2012, từ nhiều nguồn vốn, huyện đã đầu tư gần 62 tỷ đồng xây dựng 59 tuyến đường giao thông nông thôn liên thôn, liên xóm Địa bàn huyện Phú Lương có Quốc lộ 3 chạy dọc theo tuyến Bắc – Nam, có mạng lưới giao thông nông thôn khá dày đặc với 574,5km
(Gồm 126,5km đường liên xã và 448km đường liên thôn, liên xóm)
Tất cả các xã trong vùng đều đã có đường ô tô đến được trung tâm xã Tuy nhiên chất lượng đường chưa đảm bảo nên việc đi lại rất khó khăn, đặc biệt là trong mùa mưa lũ Ngoài ra còn hàng trăm km đường mòn, đường dân sinh trong các xã, thôn bản, mặt đường nhỏ hẹp, chất lượng xấu cần được nâng cấp cải tạo
và làm mới
3.2.3.2.Thủy lợi
Địa bàn huyện bị chia cắt bởi hệ thống các khe, suối quanh co uốn khúc, được bắt nguồn từ các dãy núi; với đặc điểm là cạn về mùa đông, sẵn nước về
Trang 39mùa hè nhưng do địa hình dốc và hẹp nên dễ gây ra lũ nhanh và có cường độ lớn Một số đoạn kênh mương đã xuống cấp và hiệu suất sử dụng các công
trình này chưa cao chưa đáp ứng được yêu cầu của sản xuất
3.3 Nhận xét và đánh giá chung
3.3.1 Thuận lợi
Huyện Phú Lương có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho sản xuất lâm nghiệp Nằm trong vành đai nhiệt đới gió mùa, điều kiện độ ẩm và nhiệt độ thích hợp cho nhiều loài cây sinh trưởng và phát triển, trong đó có các trạng thái rừng phục hồi IIIA
Điều kiện tự nhiên và xã hội có nhiều biến chuyển, phát triển ổn định Hệ thống cơ sở hạ tầng phát triển đồng bộ, đặc biệt là vùng nông thôn, vùng khó khăn Điều kiện giao thông thuận lợi, có tiềm năng về đất đai và nhân lực lao động, nên đã thu hút và xây dưng được các mô hình phát triển lâm nghiệp theo hướng bền vững và có hiệu quả kinh tế
3.3.2 Khó khăn
Tuy có điều kiện về đất đai nhưng một phần diện tích của địa phương còn phải chịu tình trạng khô hạn kéo dài vào mùa khô, Hầu hết các sông ở Phú Lương đều hẹp và dốc, nên trong mùa nóng, mưa nhiều, thường xảy ra lũ lụt, xói mòn và sạt lở đất, gây nhiều thiệt hại cho sản xuất và đời sống, sinh hoạt của nhân dân
Cuộc sống của người dân sống gần rừng vẫn rất khó khăn, trong tình trạng đói nghèo và phụ thuộc rất nhiều vào rừng Điều này gây khó khăn trong công tác quản lý và bảo vệ rừng ở địa phương
Do chưa phát huy được lợi thế của huyện nên phát triển kinh tế của huyện còn chưa xứng với tiềm năng
Trang 40Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1 Sinh khối rừng tự nhiên IIIA huyện Phú Lương
4.1.1 Sinh khối tầng cây cao
4.1.1.1 Sinh khối tươi tầng cây cao theo cấp đường kính
a Sinh khối tươi theo cấp đường kính
Sinh khối là chỉ tiêu quan trọng thể hiện năng suất của rừng, mức độ phù hợp với điều kiện lập địa cũng như đặc tính sinh trưởng của từng loài cây Sinh khối tươi tầng cây cao bao gồm sinh khối tươi phần trên mặt đất (thân, cành, lá, hoa, quả) và sinh khối phần dưới mặt đất (rễ) Kết quả tính toán sinh khối tươi tầng cây cao các lâm phần được thể hiện ở bảng 4.1
Bảng 4.1: Sinh khối tươi phần trên mặt đất tầng cây cao
theo cấp đường kính thân ÔTC
(tấn/ha) 6-10 cm 10-14 cm 14-18 cm 18-22 cm >22 cm
Qua bảng 4.1 cho thấy: Sinh khối tươi của các cây tiêu chuẩn tại các
ÔTC nghiên cứu đều tăng dần theo cấp đường kính và ở các ÔTC khác nhau sinh khối tươi có sự biến động khác nhau