1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

đánh giá mức độ ô nhiễm môi trường do gia tăng diện tích nuôi cá ba sa

26 845 6
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh giá mức độ ô nhiễm môi trường do gia tăng diện tích nuôi cá basa - cá tra
Tác giả Hồ Phước Hiệp
Người hướng dẫn Th.S. Phạm Hồng Nhật
Trường học Trường Đại Học Nông Lâm TP.HCM
Chuyên ngành Thủy sản
Thể loại Đồ án tốt nghiệp
Năm xuất bản 2023
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 1,07 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

trình bày về đánh giá mức độ ô nhiễm môi trường do gia tăng diện tích nuôi cá ba sa

Trang 1

Chương 1: MỞ ĐẦU

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong những năm gần đây, tình hình phát triển kinh tế nghành thủy sản của ViệtNam đã có những bước nhảy vọt Thủy sản là nghành kinh tế mũi nhọn của ViệtNam, với sản lượng xuất khẩu đứng thứ tư trên thế giới sau Trung Quốc, Ấn độ và

Inđônêxia (Nguồn: www.vasep.com.vn) Sản phẩm chủ yếu khai thác từ các nguồn

đánh bắt và nuôi trồng Ngày nay sản lượng thủy sản từ nuôi trồng đã tăng mạnh

do hoạt động nuôi trồng đang phát triển mạnh mẽ ở nhiều nơi cả nước mà điểnhình là tại Đồng bằng Sông Cửu long

Hoạt động nuôi trồng thủy sản đã đang và sẽ mở rộng tại các tỉnh Đồng bằngSông Cửu long, đặc biệt là tỉnh An Giang, nơi đầu nguồn của nghề nuôi cá tra vàcá ba sa Tuy nhiên, cùng với sự gia tăng hoạt động nuôi trồng thủy sản thì môitrường cũng bị ô nhiễm với nguyên nhân là do người nuôi chưa nhận biết đượctầm quan trọng giữa nuôi trồng thủy sản với môi trường, lợi về kinh tế, nhưngcũng có khi hại về môi trường nếu chúng không được kiểm soát

Lượng thức ăn dư thừa trong quá trình nuôi, nước thải từ các ao nuôi không quaxử lí, các hóa chất sử dụng để cải tạo ao là những nguyên nhân chính khiến môitrường nước trở nên bị ô nhiễm Tài nguyên nước mặt đã được sử dụng một cáchhoang phí do sự thiếu hiểu biết hoặc biết nhưng thờ ơ không quan tâm của cácngười nuôi cá gây tác động xấu đến môi trường nước

Việc sử dụng con giống không đạt tiêu chuẩn, nguồn thức ăn không đảm bảonguồn gốc cũng như thức ăn tự chế biến là các nguyên nhân chính làm cho sảnlượng không tăng theo diện tích Giá cá lên xuống thất thường là nguyên nhânlàm cho người dân đua nhau đào ao thả cá và cũng đua nhau bỏ hoang ao Vì thếtài nguyên đất đã không được sử dụng đúng mục đích và sử dụng triệt để đã và

Trang 2

đang gây mất cân bằng sinh thái và làm suy giảm nghiêm trọng vườn cây ăn tráitại đồng bằng này.

Mặt khác với diện tích nuôi cá basa – cá tra ngày càng tăng không tuân theo quyhoạch cũng như ngoài tầm kiểm soát của các cơ quan chức năng Liệu đây là tínhiệu đáng mừng cho nền kinh tế thủy sản nước nhà? Liệu chỉ sốâ kinh tế có tăngtheo diện tích nuôi? Khi diện tích nuôi tăng một cách ồ ạt và tự phát thì sẽ manglại “hiệu quả” hay “hậu quả” nhiều hơn? Môi trường sẽ ra sao nếu diện tích nuôicá tiếp tục tăng? Đời sống của người dân nuôi cá cũng như các hộ không nuôi cásẽ bị ảnh hưởng như thế nào trước xu thế này? Môi trường sẽ bị ảnh hưởng ra saonếu xu thế này vẫn tiếp tục diễn ra trong tương lai?

Để giải quyết vấn đề đang được quan tâm này, giúp cho người dân có cái nhìnđúng hơn về cái lợi và cái hại của xu thế tăng diện tích nuôi cá basa – cá tra mộtcách ồ ạt, tự phát cũng như giúp các nhà quản lí đề ra giải pháp quản lí hiệu quảnhằm mang lại lợi ích kinh tế cao mà vẫn đảm bảo môi trường trong sạch, em xin

đề xuất thực hiện đồ án tốt nghiệp “Đánh giá mức độ ô nhiễm môi trường do gia tăng diện tích nuôi cá basa - cá tra và đề xuất giải pháp phát triển ngư nghiệp bền vững cho tỉnh An Giang” Với việc lấy điển hình tỉnh An Giang – một trung

tâm lớn nhất của nghề nuôi cá basa – cá tra ở Việt Nam, em hy vọng có thể ápdụng rộng rãi kết quả đạt được từ nghiên cứu này cho các tỉnh nuôi trồng thủy sảnkhác trên cả nước

1.2 Mục tiêu của đề tài

Nghiên cứu, phân tích và đánh giá lợi ích kinh tế trong tương quan với các tácđộng đến môi trường do việc gia tăng diện tích nuôi cá basa - cá tra tại tỉnh AnGiang, từ đó đề xuất giải pháp phát triển kinh tế ngư nghiệp theo hướng phát

Trang 3

Để đạt được các mục tiêu đề ra, đề tài cần phải thực hiện các nội dung sau:

- Tổng hợp, biên hội và kế thừa các tài liệu, các nghiên cứu có liên quan

- Điều tra diện tích nuôi cá basa – cá tra trên địa bàn tỉnh An Giang

- Khảo sát, xem xét qui trình nuôi cá basa – cá tra, hiện trạng môi trườngkhu vực nuôi

- Điều tra mức độ hưởng ứng phong trào nuôi cá basa – cá tra trên địa bàntỉnh

- Phân tích lợi ích kinh tế từ hoạt động nuôi cá basa - cá tra

- Phân tích, đánh giá hiện trạng môi trường trước kia và hiện tại khi phongtrào nuôi cá basa - cá tra hình thành, dự đoán trong tương lai

- Phân tích bài toán tăng trưởng diện tích nuôi cá basa - cá tra, lợi nhuậnkinh tế thu được và sự xuống cấp của môi trường

- Đề xuất các giải pháp quản lí kinh tế và môi trường, hướng đến phát triểnngư nghiệp bền vững

1.4 Giới hạn của đề tài

Giới hạn về nội dung

Đề tài chỉ đánh giá mức độ ô nhiễm môi trường do hoạt động nuôi cá basa – cátra gây nên và phân tích lợi ích thiết thực đạt được từ hoạt động này, từ đó đánhgiá tổng hợp xem nên tăng hay hạn chế diện tích nuôi là hợp lí Qua đó đề xuấtcác giải pháp quản lí diện tích nuôi hiệu quả mang lại lợi ích kinh tế nhiều nhấtmà ít ảnh hưởng đến môi trường

Giới hạn về thời gian và không gian

Đề tài chỉ thực hiện trong vòng 3 tháng và chỉ tiến hành thực hiện đánh giá chotỉnh An Giang

Trang 4

1.5 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp luận:

Phát triển kinh tế là xu thế tất yếu của tất cả các nước trên thế giới Tùy vào điềukiện của mỗi quốc gia mà người ta dựa vào đó để phát triển nền kinh tế của quốcgia mình Các nhân tố môi trường, tài nguyên thiên nhiên là những nhân tố tứccực góp phần thành công nền kinh tế của mỗi quốc gia Lấy điển hình như cácnước vùng vịnh nền kinh tế chủ lực của họ là nền kinh tế khai thác dầu mỏ

(World Bank, 1999) Việt Nam cũng không nằm ngoài xu thế này, với chiều dài

bờ biển, diện tích biển rộng lớn, sự ưu ái của thiên nhiên , hệ thống sông ngòichằng chịt là một ưu thế cho việt nam phát triển nền kinh tế mũi nhọn đó là nềnkinh tế khai thác và nuôi trồng thủy hải sản

Là một quốc gia nằm trong khu vực Đông Nam Á với vị trí địa lí và điều kiện tựnhiên thuận lơi giúp Việt Nam cũng như các nước trong khu vực có tiềm năng lớnvề nghành đánh bắt và nuôi trồng thủy hải sản Với 20 năm tham gia trên thị

trường thủy sản quốc tế và có sản lượng đúng thứ 4 trên thế giới (Nguồn: www.vasep.com.vn , 2003) là một ưu thế cho Việt Nam tiếp tục phát huy nền kinh

tế tiềm năng này Trước kia sản lượng thủy sản chủ yếu được khai thác từ cácnguồn đánh bắt tự nhiên Thế nhưng trong những năm gần đây thị trường thế giớinhư Mỹ, Nhật, EU có phần chuộng mặt hàng cá da trơn chủ yếu là cá basa và cátra được nuôi ở môi trường nước ngọt do đó đã có sự tăng trưởng sản lượng nuôi

trồng trong nước (Nguồn: www.vasep.com.vn 2003) Vì thế, với diện tích đất rộng

lớn kèm theo hệ thống sông rạch dày đặc tạo điều kiện thuận lợi cho Việt Namnắm bắt cơ hội lớn này là chuyển sản lượng chủ yếu từ đánh bắt sang nuôi cánước ngọt bằng hình thức nuôi bè, đăng đầm hay đào ao thả cá

Trang 5

một thị trường rộng lớn và giàu tiềm năng Trước kia, thị trường quốc tế còn dễdàng trong việc nhập hàng thủy sản vì nguyên liệu còn ít Sau khi gia nhập WTOđồng nghĩa với việc hưởng các quyền lợi là nghĩa vụ của Việt Nam trên thị trườngthế giới cả về số lượng lẫn chất lượng Do đó hàng hóa xuất khẩu phải đảm bảochất lượng mà trong đó mặt hàng thủy sản thì còn đòi hỏi cao về các tiêu chuẩn

an toàn thực phẩm và các tiêu chuẩn bảo vệ môi trường trong quá trình nuôi.Chính điều này khiến cho đầu ra của con cá nuôi của Việt Nam gặp nhiều trởngại do người nuôi chỉ biết nuôi mà ít biết đến kĩ thuật nuôi như thế nào mới làđúng, mới là sạch, mới là hiệu quả mà đặc biệt là các yếu tố môi trường đangđược thế giới quan tâm

Với phương châm một người làm thành công thì sẽ có nhiều người khác làm theo

Vì thế ngoài các công ty lớn có đầu tư kĩ thuật, vốn, xin phép nuôi cá hợp pháp,tuân theo các qui định kĩ thuật và qui hoạch thì vấn nạn hiện nay là sự gia tăngdiện tích nuôi cá một cách ồ ạt không theo qui hoạch, tạo nên sự mất cân đốitrong sử dụng tài nguyên đất và nước Mặt khác với tốc độ gia tăng này đã khiếncác cơ quan quản lí nhà nước liên quan không thể quản lí được và sẽ tiềm ẩn lànguyên nhân gây nên những hậu quả khó lường cho môi trường

Như chúng ta đã biết, việc nuôi cá dù là nuôi bè, đăng đầm hay đào ao đều tácđộng trực tiếp đến môi trường nước và đất Việc nuôi không đúng kĩ thuật gâynên dịch bệnh, thức ăn cho cá dư thừa, nước từ ao nuôi được lấy trực tiếp từ sôngvà cũng thải trực tiếp vào sông là những nguyên nhân chính gây nên sự suy thoáimôi trường trầm trọng Theo kết quả quan trắc mới nhất từ Sở Tài nguyên và Môitrường các tỉnh An Giang, Đồng Tháp, Cần Thơ, Vĩnh Long, Tiền Giang cho thấytình trạng ô nhiễm môi trường ở những khu vực nuôi cá tập trung đã đến lúc báođộng

(Nguồn: Chi cục Bảo vệ Môi trường khu vực Tây Nam bộ, 2006).

Trang 6

Theo chuyên gia thủy sản, hiện con giống cá tra - basa đang có sự thoái hóa Dođó cần phải có quy định nghiêm ngặt về kiểm tra, quản lý nguồn giống bố mẹ vàchất lượng con giống Sau khi Phân viện Quy hoạch Thủy sản phiá Nam đưa ramục tiêu phát triển ngành nuôi cá tra - basa đến năm 2010 và 2020, nhiều nhàkhoa học cho rằng không nên chạy theo diện tích, số lượng nuôi, sản lượng xuấtkhẩu mà ngay từ bây giờ phải tập trung nâng cao giá trị gia tăng của sản phẩm,hiệu quả và sản xuất bền vững, hạn chế đến mức thấp nhất những tác động xấu

đến môi trường sống của cộng đồng (Nguồn: www.fishnet.com, 2006).

Vì những khó khăn trên đối với các nhà quản lí và người dân nuôi cá, đề tài sẽtiến hành xem xét, tìm hiểu các tài liệu, các nghiên cứu trong và ngoài nước cóliên quan đến tình hình chung này nhằm đảm bảo cho nghiên cứu là khách quannhất đối với điều kiện và tình hình thực tế của Việt Nam mà lấy đại diện là tỉnh

An Giang Sau đó, tiến hành khảo sát diện tích nuôi cá basa – cá tra của tỉnh vàđánh giá sơ lược môi trường tại các điểm nuôi Xem xét các nguyên nhân gây khókhăn cho việc phát triển kinh tế nuôi trồng của bà con, các tác động và các khíacạnh từ việc nuôi cá ảnh hưởng trực triếp đến môi trường Đồng thời điều tra mứcđộ hưởng ứng phong trào nuôi cá basa – cá tra và mức độ quan tâm lo lắng củangười dân đối với tác nhân gây suy thoái môi trường do hoạt động nuôi trồng này.Sau khi có được các kết quả, đề tài sẽ tiến hành phân tích lợi ích kinh tế từ phongtrào nuôi cá này Tiếp theo, đề tài sẽ phân tích, đánh giá chất lượng môi trường

do phong trào gây ra và dự đoán chất lượng môi trường trong tương lai nếu xu thếnày vẫn tăng ngoài tầm kiểm soát Sau đó đề tài tiến hành đánh giá tổng hợp đểtrả lời các câu hỏi sau:

1 Liệu việc tăng diện tích nuôi có tăng được sản lượng, chất lượng sản phẩmvà lợi suất kinh tế trong tương lai?

Trang 7

2 Khi diện tích nuôi tăng một cách ồ ạt và tự phát thì sẽ mang lại “hiệu quả”hay “hậu quả”nhiều hơn?

3 Môi trường sẽ bị ảnh hưởng ra sao nếu xu thế này vẫn tiếp tục diễn ratrong tương lai?

4 Đời sống của người dân nuôi cá cũng như các hộ không nuôi cá sẽ bị ảnhhưởng như thế nào trước xu thế này?

5 Có nên khuyến khích tiếp tục tăng diện tích nuôi hay dừng hoặc giảm đểđảm bảo cho hoạt động nuôi trồng bền vững ít tác động đến môi trường?Qua đó, đề xuất các giải pháp quản lí hiệu quả diện tích nuôi cá Tăng hoặc giảmdiện tích nuôi sao cho sản lượng, chất lượng và lợi suất kinh tế là tối ưu, nhằmtiến đến phát triển kinh tế ngư nghiệp theo hướng bền vững

Trang 8

Sơ đồ nghiên cứu:

Trang 9

Phương pháp thực tế:

Tổng hợp, biên hội và kế thừa các tài liệu, các nghiên cứu có liên quan

Khảo sát, điều tra diện tích

nuôi cá basa - cá tra và qui trình

nuôi

Phỏng vấn, điều tra mức độ hưởng ứng phong trào nuôi cá basa - cá tra và mối quan tâm về môi trường của người dân

Phân tích lợi ích kinh tế từ nuôi cá basa - cá tra, đưa ra các giả thuyết tăng hoặc giảm diện tích nuôi để phân tích ảnh hưởng kinh tế như thế nào?

Phân tích, đánh giá mức độ ô nhiễm môi trường từ hoạt động nuôi cá basa - cá tra

Từ đó tiến hành dự đoán mức độ ô nhiễm trong tương lai nếu xu hướng này vẫn tăng

Đề xuất các giải pháp quản lí, phương hướng phát triển cho hoạt động nuôi cá basa - cá tra sao cho tăng lợi ích kinh tế mà vẫn đảm bảo môi trường

Trang 10

Phương pháp thu thập tài liệu: Từ các sở Tài nguyên và Môi trường, Thương mại,

Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Chi cục Thủy sản tỉnh An Giang cùng vớicác tài liệu khác đã xuất bản và trên internet

Phương pháp khảo sát: Tiến hành khảo sát tại các trại nuôi cá, chú ý môi trường

tại nơi khảo sát từ đó xem xét mức độ ảnh hưởng của việc nuôi cá đến môi trườngnhư thế nào? Khảo sát các tuyến sông chính chảy qua khu vực nuôi cá, xem bịảnh hưởng ra sao?

Phương pháp điều tra: Tiến hành phỏng vấn, điều tra mức độ hưởng ứng của

người dân đối với phong trào nuôi cá (người nuôi và người không nuôi) ra sao chonhiều loại đối tượng có trình độ học vấn, nghề nghiệp khác nhau lấy ngẫu nhiêntại Huyện Chợ Mới Việc phỏng vấn - điều tra được tiến hành một cách ngẫunhiên nhằm đảm bảo tính khách quan cho kết quả nghiên cứu của đề tài Tiếnhành phỏng vấn ngẫu nhiên 50 người bao gồm 10 hộ nuôi và 40 người dân xumquanh khu vực nuôi

Phương pháp xử lý số liệu: Từ các số liệu thu thập được tại các trại nuôi cá, từ

quá trình phỏng vấn, tiến hành xử lý, thống kê để đưa ra các số liệu mang ý nghĩathực tế

Phương pháp phân tích tổng hợp: Từ các tài liệu thu thập, số liệu đã qua xử lý,

tiến hành phân tích tổng hợp để tìm hiểu mức độ, thái độ của người nuôi cá cũngnhư không nuôi cá ra sao? Lợi ích từ nuôi cá như thế nào? Aûnh hưởng đến môitrường như thế nào nếu diện tích nuôi vẫn tiếp tục tăng

Phương pháp đánh giá tổng hợp: Từ kết quả của quá trình phân tích tổng hợp các

dữ liệu đã có, tiến hành đưa ra các giải pháp quản lí hiệu quả diện tích nuôi nhằmtăng hiệu quả kinh tế và giảm tác động đến môi trường

Trang 11

Ý nghĩa thực tế: Giúp cho các nhà kinh tế và các cơ quan QLNN có cái nhìn

chiến lược cho mục tiêu phát triển bền vững, giúp cho bà con nông nhân hiểuđược tầm quan trọng của cân đối cái lợi trước mắt và hậu quả tiềm tàng do hành

vi của họ gây nên

Ý nghĩa khoa học: Góp một tư liệu nhỏ cho các nghiên cứu tiếp theo, là động thái

giúp các nhà khoa học vào cuộc giải quyết vấn đề xác thực và hiệu quả hơn

1.7 Đối tượng nghiên cứu

Cá basa – cá tra, các hộ nuôi cá basa – cá tra ở tỉnh An Giang, các cơ quan QLNNliên quan

Trang 12

Chương 2: TỔNG QUAN TỈNH AN GIANG

2.1 Vị trí địa lí – địa hình

vị trí địa lí

An Giang là tỉnh ở miền Tây Nam Bộ, thuộc đồng bằng sông Cửu Long, một phầnnằm trong vùng Tứ giác Long Xuyên; có biên giới Việt Nam – Campuchia, nhiềudân tộc và tôn giáo

An Giang có diện tích tự nhiên 3.424 km2, dân số 2.049.039 người (01/4/1999).Năm 2000, dân số tăng lên 2.083.571 người

Phía Bắc Tây Bắc giáp Campuchia dài 104km (theo “Hiệp ước hoạch định biêngiới VN-CPC ký ngày 27/12/1985), Tây Nam giáp tỉnh Kiên Giang 69,789km,Nam giáp tỉnh Cần Thơ 44,734km, Đông giáp tỉnh Đồng Tháp 107,628km Gồm

420 tuyến địa giới hành chính cấp xã dài 1.694,463km, trong đó 259 tuyến xãtrong nội huyện dài 1.159,079km, 21 tuyến huyện dài 313,233km và 3 tuyến tỉnhdài 222,151km, được xác định bằng 461 mốc địa giới hành chính các cấp gồm 39mốc cấp tỉnh, 89 mốc cấp huyện và 333 mốc cấp xã

Điểm cực Bắc trên vĩ độ 10o57 (xã Khánh An, huyện An Phú), cực Nam trên vĩđộ 10o12 (xã Thoại Giang, huyện Thoại Sơn), cực Tây trên kinh độ 104o46 (xãVĩnh Gia, huyện Tri Tôn), cực Đông trên kinh độ 105o35 (xã Bình Phước Xuân,huyện Chợ Mới)

Chiều dài nhất theo hướng Bắc Nam 86km và Đông Tây 87,2km

Địa hình

Địa hình :

An Giang, ngoài đồng bằng do phù sa sông Mê Kông trầm tích tạo nên, còn cóvùng đồi núi Tri Tôn - Tịnh Biên Do đó, địa hình An Giang có 2 dạng chính là

Trang 13

Đồng bằng: Xét về nguồn gốc, địa hình đồng bằng ở An Giang có 2 loại chính là

đồng bằng phù sa và đồng bằng ven núi

Đồi núi: Đồi núi An Giang gồm nhiều đỉnh có hình dạng, độ cao và độ dốc khác

nhau phân bố theo vành đai cánh cung kéo dài gần 100km, khởi đầu từ xã PhúHữu huyện An Phú, qua xã Vĩnh Tế thị xã Châu Đốc, bao trùm lên gần hết diệntích 2 huyện Tịnh Biên và Tri Tôn, về tận xã Vọng Thê và Vọng Đông rồi dừnglại ở thị trấn Núi Sập huyện Thoại Sơn

Hình 1: Bản đồ vị trí địa lí tỉnh An Giang

2.2 Hệ thống sông, rạch

2.2.1 Sông, rạch tự nhiên.

Ngoài các sông lớn, An Giang còn có một hệ thống rạch tự nhiên rải rác khắp địabàn của tỉnh, với độ dài từ vài km đến 30km, độ rộng từ vài m đến 100m và độuốn khúc quanh co khá lớn Các rạch trong khu vực giữa sông Tiền và sông Hậuthường lấy nước từ sông Tiền chuyển sang sông Hậu Các rạch nằm trong hữungạn sông Hậu thì lấy nước từ sông Hậu chuyển sâu vào nội đồng vùng trũng Tứgiác Long Xuyên

Ngày đăng: 27/04/2013, 20:05

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1: Bản đồ vị trí địa lí tỉnh An Giang - đánh giá mức độ ô nhiễm môi trường do gia tăng diện tích nuôi cá ba sa
Hình 1 Bản đồ vị trí địa lí tỉnh An Giang (Trang 13)
Hình 2: Bản đồ phân vùng tỉnh An Giang - đánh giá mức độ ô nhiễm môi trường do gia tăng diện tích nuôi cá ba sa
Hình 2 Bản đồ phân vùng tỉnh An Giang (Trang 17)
Bảng 1: Trình độ học vấn và trình độ chuyên môn tỉnh An Giang - đánh giá mức độ ô nhiễm môi trường do gia tăng diện tích nuôi cá ba sa
Bảng 1 Trình độ học vấn và trình độ chuyên môn tỉnh An Giang (Trang 18)
Bảng 2: Tốc độ tăng trưởng kinh tế tỉnh An Giang so với cả nước - đánh giá mức độ ô nhiễm môi trường do gia tăng diện tích nuôi cá ba sa
Bảng 2 Tốc độ tăng trưởng kinh tế tỉnh An Giang so với cả nước (Trang 19)
Bảng 4: Cơ cấu sử dụng lao động - đánh giá mức độ ô nhiễm môi trường do gia tăng diện tích nuôi cá ba sa
Bảng 4 Cơ cấu sử dụng lao động (Trang 20)
Bảng 3: Cơ cấu kinh tế theo ngành - đánh giá mức độ ô nhiễm môi trường do gia tăng diện tích nuôi cá ba sa
Bảng 3 Cơ cấu kinh tế theo ngành (Trang 20)
Bảng 6: Ngân sách đầu tư xã hội - đánh giá mức độ ô nhiễm môi trường do gia tăng diện tích nuôi cá ba sa
Bảng 6 Ngân sách đầu tư xã hội (Trang 22)
Bảng 7: Năng xuất lao động năm 2003 - đánh giá mức độ ô nhiễm môi trường do gia tăng diện tích nuôi cá ba sa
Bảng 7 Năng xuất lao động năm 2003 (Trang 23)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w