1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tình hình phát thải, quy trình thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải y tế

58 1,8K 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tình hình phát thải, quy trình thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải y tế
Tác giả Lê Thị Hồng Thắm
Người hướng dẫn ThS. Dương Thị Bích Huệ
Trường học Trường Đại Học
Chuyên ngành Quản lý môi trường
Thể loại Đồ án tốt nghiệp
Năm xuất bản 2007
Thành phố Đức Trọng
Định dạng
Số trang 58
Dung lượng 4,66 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

trình bày về tình hình phát thải, quy trình thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải y tế

Trang 1

Các cơ sở y tế tư nhân gia tăng, vì vậy phát sinh một vấn đề hết sức quantrọng đó là rác y tế Việc phát sinh và thải bỏ rác y tế nếu không được kiểm soátchặt chẽ sẽ gây nguy hại đến môi trường xung quanh và ảnh hưởng trực tiếp đếnsức khỏe con người Vì rác y tế là nguồn chứa nhiều loại vi trùng gây bệnh rất nguyhiểm Trong thành phần của rác y tế ngoài bông băng, các loại ống chích bằngnhựa, đồ dùng bằng cao su…thì phần các bệnh phẩm là quan trọng nhất Chính vì lẽđó việc xử lí rác y tế đang gây nhức nhối là mối quan tâm đối với các cơ quanchuyên môn, bảo vệ môi trường nói chung cũng như các bệnh viện nói riêng Hiệnnay công tác thu gom vận chuyển chưa được quản lí tốt Bài báo cáo này sẽ tìmhiểu quá trình thu gom, vận chuyển rác y tế để đưa ra biện pháp nhằm giúp chonhững nhà quản lí có thể quản lí rác y tế tốt hơn tránh gây ô nhiễm môi trường vàgây nguy hiểm cho cộng đồng xã hội.

1.2 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI

Mục tiêu chính của đề tài là tìm hiểu tình hình phát thải, qui trình thu gom,vận chuyển và xử lí rác y tế trên địa bàn huyện Trên cơ sơ thu thập số liệu và dựtính mức phát thải rác y tế đến năm 2010 Đề xuất các biện pháp quản lí phù hợpvới điều kiện của huyện

Trang 2

1.3 Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI

Báo cáo này cung cấp số liệu thực tế về tình hình quản lí rác y tế trên địabàn đưa ra số liệu tính toán dự báo về rác y tế Đồng thời đề xuất các biện pháp xử

lí phù hợp giúp nhà quản lí có cơ sơ để quản lí tốt hơn về vấn đề rác y tế trên địabàn huyện trong giai đoạn 2007-2010

1.4 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

-Thu thập số liệu về điều kiện tự nhiên- kinh tế-xã hội khu vực nghiên cứu

-Thu thập số liệu về hiện trạng thu gom, vận chuyển và xử lí rác y tế trên địa bànnghiên cứu

-Thu thập số liệu về rác y tế tại cơ sở trung tâm y tế trên địa bàn Xác định nguồnphát sinh, dự báo tải lượng đến năm 2010

-Đề xuất công nghệ xử lí phù hợp

1.5 GIỚI HẠN CỦA ĐỀ TÀI

Thời gian thực hiện: tháng 10 đến tháng 12 năm 2007

Phạm vi nghiên cứu: Huyện Đức Trọng-Lâm Đồng

1.6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1.6.1 Phương pháp luận nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu là những nguyên tắc và cách thức hoạt động khoa họcnhằm đạt tới chân lí khách quan dựa trên cơ sở của sự chứng minh khoa học Vì vậycần phải có những nguyên tắc và phương pháp cụ thể dựa vào đó các vấn đề đượcgiải quyết

Báo cáo này đã tuân theo những nguyên tắc cơ bản nhất được áp dụng trong nghiêncứu khoa học như:

Nguyên tắc về tính khách quan: Trong nghiên cứu khoa học đòi hỏi phải

xem xét sự vật và đối tượng nghiên cứu đúng như nó có, không thêm bớt, không bịađặt Để thực hiện công tác quản lí môi trường một cách hiệu quả, các dữ liệu môi

Trang 3

trường cơ sở phải được nghiên cứu, thu thập một cách chính xác, khách quan dựavào diễn biến môi trường thực tế.

Nguyên tắc sự vật một cách toàn diện: Tức là xem xét sự vật hiện tượng

một cách tổng thể với đầy đủ những yếu tố cấu thành liên quan trong mối quan hệkhăng khít với các thành tố khác của môi trường sống tự nhiên-kinh tế-xã hội Khitiếp cận vấn đề một cách toàn diện sẽ thấy được bản chất bên trong của sự vật hiệntượng Chỉ có phương pháp tiếp cận một cách toàn diện mới đủ cơ sơ để đưa ranhững lời giải tốt nhất cho các bài toán thực tiễn Để đạt được kết quả tích cực nhấttrong các hoạt động nghiên cứu khoa học, rõ ràng phải lựa chọn phương phápnghiên cứu phù hợp, các số liệu nghiên cứu phải chính xác và thống nhất, các nộidung nghiên cứu phải phù hợp với yêu cầu thực tế, các kết luận, đánh giá đưa raphải có căn cứ đáp ứng được yêu cầu thực tiễn

1.6.2 Phương pháp nghiên cứu

a Phương pháp thống kê

Phương pháp thống kê nhằm thu thập và xử lí các số liệu về tình hình phát thảirác y tế tại các cơ sở y tế nhà nước và tư nhân hiện có trên địa bàn khảo sát

b Khảo sát thực địa

Khảo sát thu thập số liệu tại các cơ sở y tế tư nhân và nhà nước trên địa bànkhảo sát Khảo sát ý kiến của người dân sống xung quanh các cơ sở có phát sinh rácthải y tế

c Nghiên cứu tài liệu

-Tham khảo các tài liệu có liên quan

-Quy chế quản lí chất thải y tế

-Tiêu chuẩn Việt Nam về chất thải rắn và chất thải nguy hại

-Công nghệ xử lí rác y tế

Trang 4

1.7 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC

1.7.1 Các nghiên cứu ngoài nước

Rác y tế là một loại chất thải có tính nguy hại rất cao nếu không được xử lý mộtcách triệt để Hiện nay trên Thế giới có một số phương pháp để xử lý rác y tế:

- Phương pháp xử lý: Thiêu đốt, khử khuẩn bằng hóa chất, nồi hấp, đóng gói kín, visóng…

- Phương pháp tiêu hủy: Bãi chôn lấp chất thải hợp vệ sinh, chôn lấp trong khu đấtbệnh viện, nước thải được thải vào hệ thống

a Xử lý bằng phương pháp khử trùng

Theo phương pháp này các chất thải có khả năng lây nhiễm trước khi thải ra môitrường như các chất thải nói chung phải đem đi khử trùng Ở các nước phát triểnviệc khử trùng là công đoạn đầu tiên khi xử lý rác y tế nhằm hạn chế tai nạn chonhân viên thu gom, vận chuyển và xử lý

- Khử trùng bằng hóa chất

Hóa chất thường dùng là Clo và Hypoclorite, đây là phương pháp rẻ tiền, đơngiản nhưng có nhược điểm là thời gian tiếp xúc ít, không tiêu hủy hết vi khuẩntrong rác, ngoài ra một số loài vi khuẩn có khả năng bền vững với hóa chất sử dụngnên xử lý không hiệu quả Mặt khác Clo là hóa chất chỉ khử trùng hữu hiệu khi cócác chất hữu cơ, mà rác y tế có các vi sinh vật gây bệnh trong máu hoặc trong cácdung dịch khác chứa chủ yếu các chất hữu cơ như vậy khả năng khử trùng là rấtkém Hóa chất bản chất đã nguy hiểm cần nghiền nhỏ chất thải để giảm bớt thểtích

- Khử trùng bằng nhiệt ở áp suất cao

Đây là phương pháp đắt tiền, đòi hỏi chế độ vận hành và bảo dưỡng cao.Vì vậychỉ thường dùng xử lý các kim tiêm chích sau khi đã được nghiền nhỏ hoặc làmbiến dạng Nhược điểm của phương pháp này là tạo ra mùi hôi Với các bệnh việnđã có lò đốt rác thì kim tiêm có thể đưa vào lò đốt trực tiếp

Trang 5

-Khử trùng bằng siêu cao tầng

Phương pháp này có khả năng khử trùng tốt và có hiệu quả cao Tuy nhiênphương pháp này đòi hỏi kỹ thuật cao, thiết bị đắt tiền và khi vận hành yêu cầuphải có chuyên môn là phương pháp chưa phổ biến

b Phương pháp trơ hóa (cố định và đóng rắn)

Trộn chất thải với xi măng và các chất khác khi chôn lấp để giảm rủi ro nhiễmbẩn nước ngầm Phù hợp với dược phẩm thải và tro có hàm lượng kim loại cao Đâylà phương pháp ít tốn kém nhưng không xử lý được chất thải nhiễm khuẩn

c Phương pháp chôn lấp:

Chất thải được chôn lấp ở bãi rác hợp vệ sinh đảm bảo phù hợp với một số chấtthải rắn y tế sau khi khử trùng hoặc đốt chất lây nhiễm được trơ hóa và đem chôn.Phương pháp này chi phí thấp an toàn nếu ngăn ngừa và kiểm soát việc tiếp cận vớibãi chôn lấp và hạn chế được thẩm thấu tự nhiên Và thường dùng cho rác thải sinhhoạt hoặc một phần rác thải công nghiệp tuy nhiên phải tuân thủ theo quy định rấtnghiêm ngặt về môi trường

d Phương pháp thiêu đốt

Ở các nước phát triển thiêu đốt được áp dụng rộng rãi

-Ưu điểm xử lý triệt để, tiêu diệt vi sinh gây bệnh và chất ô nhiễm khác, diện tíchxây dựng nhỏ và có thể đốt rác có thời gian phân hủy lâu

-Nhược điểm: Chi phí đầu tư vận hành cao, thiêu đốt một số chất thải chứa Clo, kimloại nặng đã phát sinh ra bụi, chất ô nhiễm độc hại như Dioxin

1.7.2.Các biện pháp xử lý rác ở Việt Nam

Tuy đã có quy chế nhưng hiện nay ở Việt Nam vấn đề xử lý rác y tế vẫn cònhạn chế, việc xử rác y tế chỉ có thể được xử lý tại ở các thành phố lớn như Hà Nội,Thành Phố Hồ Chí Minh…

Trang 6

Trước tình trạng chất thải y tế nguy hại lẫn lộn với rác sinh hoạt Bộ Y tế đã phốihợp với Sở Khoa học công nghệ, Sở Tài nguyên và môi trường, Sở Giao thông côngchánh và Sở Kế hoạch- đầu tư tiến hành điều tra trong các bệnh viện Hà Nội đưa raphương án xây dựng xưởng đốt rác tập trung cho các bệnh viện trên địa bàn thànhphố

Ở Thành phố Hồ Chí Minh đã có nhiều nổ lực trong việc xử lý rác thải y tế nhưxây dựng hệ thống xử lý bằng phương pháp đốt ở Bình Hưng Hòa với công suất 7tấn/ngày và hoàn thiện 33 nhà chứa rác y tế cho các bệnh viện

Bệnh viện Bạch Mai là một trong những bệnh viện đi tiên phong trong việc xửlý rác thải y tế bằng việc lắp đặt một hệ thống đốt rác hiện đại Đây là công nghệmới hoàn toàn lần đầu đưa vào nước ta, tuy nhiên việc áp dụng gặp nhiều trở ngạibởi khí hậu của nước ta quá ẩm mà rác có độ ẩm trên 40% rất khó đốt nếu có đốtthì khí thải ra không phải là sự đốt cháy hoàn toàn Vì thế nó trở nên độc hại hơn,ngoài ra cũng còn có một số trở ngại khác Vì vậy các bệnh viện không hồ hởitrong việc đón nhận công nghệ mới cũng như xây dựng hệ thống xử lý rác thải Để việc quản lý chất thải y tế tốt hơn cùng với việc tăng cường công tác quản lýnhà nước, phải xây dựng các khoa chống nhiễm khuẩn ở các bệnh viện mạnh lên,thành lập hiệp hội chống nhiễm khuẩn để tư vấn, giúp đỡ Bộ Y tế và các bệnh việnlàm tốt công tác quản lý chất thải y tế bên cạnh đó phải tăng cường truyền thông,nâng cao kiến thức và trách nhiệm của người dân về công tác này, tích cực hướngdẫn nhân viên phân loại và thải bỏ chất thải đúng quy định Người dân khi vàobệnh viện làm phát sinh chất thải cần có trách nhiệm và ý thức hơn trong việc xử lýchất thải

Trang 7

Chương 2

TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VỀ RÁC Y TẾ

2.1 ĐẶC TRƯNG CỦA RÁC Y TẾ

Chất thải y tế (CTYT) là chất thải phát sinh trong các cơ sở y tế, từ các hoạt

động khám chữa bệnh, chăm sóc, xét nghiệm, phòng bệnh, nghiên cứu, đào tạo.Chất thải y tế có thể ở dạng rắn, lỏng và dạng khí

Chất thải y tế nguy hại là chất thải có một trong các thành phần như: máu, dịch

cơ thể, chất bài tiết, các bộ phận hoặc cơ quan của người, động vật, bơm kim tiêmvà các vật sắc nhọn, dược phẩm, hóa chất và các chất phóng xạ dùng trong y tế.Nếu những chất thải này không được tiêu hủy sẽ gây nguy hại cho môi trường vàsức khỏe con người

Quản lý chất thải y tế là một trong những nhiệm vụ quan trọng của ngành y tếvà các ngành khác có liên quan nhằm bảo vệ môi trường sống, bảo vệ sức khỏe chothầy thuốc, nhân viên y tế, người bệnh và cho cả cộng đồng Nhằm đẩy mạnh côngtác quản lý chất thải nguy hại, thực hiện luật bảo vệ môi trường Ngày 3/4/1997Thủ Tướng Chính phủ đã ra chỉ thị 199 TTg về những biện pháp cấp bách trongcông tác quản lý chất thải rắn ở các đô thị và khu công nghiệp Ngày 16/7/1999Thủ Tướng ban hành quyết định số 155/1999/QĐ-TTg về việc ban hành quản lýchất thải nguy hại Sau khi quyết định này được ban hành ngày 27/8/1999 Bộ Y tếchính thức ban hành quyết định số 2575/1999/QĐ- BYT về quy chế quản lý chấtthải y tế

Quy chế này gồm 7 chương 31 điều qui định từ việc phân loại, thu gom, vậnchuyển cho đến công tác thanh tra, kiểm tra tại các cơ sở y tế và bệnh viện

Trang 8

Chất thải y tế là một trong những loại chất thải nằm trong danh mục A của danhmục chất thải nguy hại Vì vậy việc quản lý chất thải y tế cần tuân thủ các quy địnhcó liên quan đến quản lý chất thải nguy hại.

2.1.1 Thành phần của chất thải bệnh viện

Theo nghiên cứu của các bác sĩ tại bệnh viện Nhi đồng I, thành phần của chất thải y tế gồm:

-80% rác y tế loại thường

-18-18,5% vật sắc nhọn

-1,5- 2% mô

Chất thải y tế tại các bệnh viện được phân làm 2 nhóm sau :

- Chất thải sinh hoạt: phát sinh từ các hoạt động sinh hoạt của bệnh nhân, ngườinhà bệnh nhân và các nhân viên y tế cũng như các chất thải phát sinh tại các khucông cộng như nhà ăn, vườn cây

- Chất thải y tế: phát sinh từ các hoạt động khám và điều trị và được phân loại nhưchất thải nguy hại Nhóm chất thải này bao gồm các chất thải dính máu, các chấtlỏng và các chất bài tiết từ cơ thể, các mô và các bộ phận bị loại bỏ của cơ thể,bơm kim tiêm, ống truyền, dao mổ, chai lọ và các loại găng bảo hộ đã sử dụng, cáchóa chất hoặc dược phẩm hết hạn , biến chất, các chất phóng xạ

Bảng 2.1 Sự khác nhau giữa các loại chất thải

Thành phần CT lây nhiễm

(% trọng lượng)

CT thông thường(% trọng lượng)

CT đô thị(% trọng lượng)

Trang 9

2.1.1.2 Tỷ trọng

Xác định bằng tỷ số giữa trọng lượng của mẫu rác và thể tích chiếm chỗ Tỷtrọng thay đổi theo thành phần, độ ẩm, độ nén chặt của rác Tỷ trọng là thông sốquan trọng phục vụ cho công tác thu gom, vận chuyển Rác thải có giá trị nhiệtlượng cao nên xử lý bằng phương pháp thiêu đốt, rác có thành phần hữu cơ cao, dễphân hủy phải thu gom trong ngày và ưu tiên xử lý bằng phương pháp sinh học

2.1.1.3 Tính chất hoá học

- Thành phần hữu cơ: được xác định là phần vật chất có thể bay hơi sau khi nung ở

950oC

- Thành phần vô cơ (tro): là phần trong còn lại sau khi nung ở 950oC

- Thành phần phần trăm (%): phần trăm của các nguyên tố C, H, O, N, S và tro.Thành phần % được xác định để tính giá trị nhiệt lượng của rác

2.1.1.4 Giá trị lượng

Nhiệt thoát ra từ việc đốt CTYT là một thông số quan trọng, có đơn vị kj/kg Cáclò đốt đều có bộ phận cấp khí bên trong trực tiếp ảnh hưởng đến khả năng cháy Vìvậy, khối lượng chất thải có thể đốt mỗi giờ phụ thuộc vào giá trị nhiệt lượng mỗi

kg chất thải

Nhiệt lượng (Q) rác thải tính theo công thức:

Q = 339 C + 1256H – 108,8(O-S) – 25,1(W + 9H) (kj/kg)

Trang 10

C, H, 0, N, S và tro là % trọng lượng mỗi yếu tố trong rác

2.1.2 Phân loại và xác định chất thải

Theo chương 2 điều 7 quy chế quản lý chất thải quy định, chất thải y tế được phân thành 5 loại sau:

- Chất thải lâm sàng

- Chất thải phóng xạ

- Chất thải hóa học

- Các bình chứa khí có áp suất

- Chất thải sinh hoạt

2.1.2.1 Chất thải lâm sàng

Chất thải lâm sàng gồm 5 nhóm:

a) Nhóm A: là chất thải nhiễm khuẩn bao gồm những vật liệu bị thấm máu, thấmdịch, các chất bài tiết của người bệnh như băng, gạc, bông, găng tay, bó bột, đồ vải,các túi hậu môn nhân tạo, dây truyền máu, các ống thông, dây và túi đựng dịch dẫnlưu…

b) Nhóm B: là các vật sắc nhọn bao gồm bơm kim tiêm, lưỡi và cán dao mổ, đinhmổ, cưa, các ống tiêm, mảnh thủy tinh vỡ và mọi vật liệu có thể gây ra các vết cắthoặc chọc thủng, cho dù chúng có thể nhiễm khuẩn hay không nhiễm khuẩn

c) Nhóm C: là chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao phát sinh từ các phòng xétnghiệm bao gồm: găng tay, lam kính, ống nghiệm, bệnh phẩm sau khi sinh thiết/xétnghiệm /nuôi cấy, túi đựng máu

d) Nhóm D: là chất thải dược phẩm bao gồm:

-Dược phẩm quá hạn, dược phẩm bị nhiễm khuẩn, dược phẩm bị đổ, dược phẩm không còn nhu cầu sử dụng

- Thuốc gây độc tế bào

Trang 11

e) Nhóm E: là các mô và cơ quan người- động vật, bao gồm: tất cả các mô của cơthể (dù nhiễm khuẩn hay không nhiễm khuẩn), các cơ quan, chân tay, rau thai, bàothai, xác súc vật.

2 1.2.2 Chất thải phóng xạ

Chất thải phóng xạ là chất thải có hoạt độ riêng giống như các chất phóng xạ.Tại các cơ sơ y tế chất thải phóng xạ phát sinh từ các hoạt động chẩn đoán, hóa trịliệu và nghiên cứu Chất thải phóng xạ bao gồm: chất thải rắn, lỏng và khí

a) Chất thải phóng xạ rắn gồm: Các vật liệu sử dụng trong các xét nghiệm, chẩnđoán, điều trị như ống tiêm, bơm tiêm, kim tiêm, kính bảo hộ, giấy thấm, gạc sátkhuẩn, ống nghiệm, chai lọ đựng chất phóng xạ…

b) Chất thải phóng xạ lỏng gồm: dung dịch có chứa nhân phóng xạ phát sinh trongquá trình chẩn đoán, điều trị như nước tiểu của người bệnh, các chất bài tiết, nướcsúc rửa các dụng cụ có chứa phóng xạ…

c) Chất thải phóng xạ khí gồm: Các chất khí dùng trong lâm sàng như 133Xe, cácchất khí thoát ra từ các kho chứa chất phóng xạ…

2 1.2.3 Chất thải hóa học

Chất thải hóa học bao gồm các chất rắn, lỏng và khí Chất thải hóa học trongcác cơ sở y tế được phân thành 2 loại:

a Chất thải hóa học không gây nguy hại như đường, acid béo, một số muối vô cơvà hữu cơ

b Chất thải hóa học nguy hại bao gồm :

- Formaldehyd: được dùng trong khoa giải phẩu bệnh, lọc máu, ướp xác và đượcdùng để bảo quản các mẫu xét nghiệm ở một số khoa khác

- Các hóa chất quang hóa học: có trong các dung dịch dùng cố định và tráng phim

- Các dung môi: Các dung môi dùng trong cơ sở y tế bao gồm các hợp chất halogennhư methylen chlorid, chlorofom, freons, trichloro ethylen, các thuốc mê bốc hơi

Trang 12

như halothan, các hợp chất không có halogen như xylen, aceton, isopropanol,toluen, ethy acetat và acetonitril.

- Oxit ethylen- oxit ethylen được sử dụng để tiệt khuẩn các thiết bị y tế, phòng phẩuthuật nên được đóng thành bình và gắn với thiết bị tiệt khuẩn Loại khí có thể gây

ra nhiều độc tính và có thể gây ra ung thư ở người

- Các chất hóa học hỗn hợp bao gồm các dung dịch làm sạch và khử khuẩn nhưphenol, dầu mỡ và các dung môi làm vệ sinh…

2 1.2.4 Các bình chứa khí có áp suất

Các cơ sở y tế thường có các bình chứa khí có áp suất như bình đựng oxy, CO2,bình ga, bình khí dung và các bình dựng khí dùng một lần Các bình này này dễ gâycháy, nổ khi thiêu đốt vì vậy phải thu gom riêng

2 1.2.5 Chất thải sinh hoạt bao gồm:

- Chất thải không bị nhiễm các chất thải nguy hại, phát sinh từ các buồng bệnh,phòng làm việc, hành lang, các bộ phận cung ứng, nhà kho, nhà giặt, nhà ăn…baogồm: giấy báo, tài liệu, vật liệu đóng gói, thùng các tông, túi nilon, túi đựng phim,vật liệu gói thực phẩm, thức ăn dư thừa của người bệnh, hoa và rác quét dọn từ cácsàn nhà

- Chất thải ngoại cảnh: lá cây và rác từ các khu ngoại cảnh…

Bảng 2.2: Thành phần của rác thải y tế theo các khu vực khác nhau ở Việt Nam

Thành phần rác thải y tế Tỷ lệ(%) Có thành

phần chấtnguy hại

Chai lọ thủy tinh, xilanh thủy tinh,

ống thuốc thủy tinh

Trang 13

Đất, cát,sành sứ và các chất rắn khác 20,9 Không

Tỷ lệ phần chất thải nguy hại 22,6

(Nguồn: Bộ Y tế, 2000)

2 1.3 KHỐI LƯỢNG CHẤT THẢI PHÁT SINH TỪ CÁC CƠ SỞ Y TẾ

2 1.3.1 Khối lượng chất thải y tế phát sinh tại các nước trên Thế giới

Theo tài liệu của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) khối lượng chất thải phát sinh từcác nước như sau:

Bảng 2.3: Lượng chất thải phát sinh từ các nước theo tuyến bệnh viện

Tuyến bệnh viện Tổng lượng chất thải

(kg/giường bệnh/ngày) CTYT nguy hại(kg/giường bệnh/ngày)

(Nguồn: Theo tài liệu Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), 2000)

Bảng 2.4: Khối lượng chất thải phát sinh tại các châu lục

Châu lục Tổng lượng chất thải

(kg/giường bệnh/ngày CTYT nguy hại(kg/giường bệnh/ngày)

Đông Á

- Các nước thu nhập cao

- Các nước thu nhập thấp 2,5-4,01,8-2,2 0,3-0,80,2-0,5

(Nguồn: Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), 2000)

2 1.3.2 Khối lượng chất thải y tế phát sinh tại các bệnh viện ở Việt Nam

Lượng chất thải tại các bệnh viện

Theo kết quả khảo sát của BộY tế (Vụ Điều Trị) tại bệnh viện năm 2000 lượngchất thải y tế phát sinh tại các bệnh viện theo tuyến như sau:

Bảng 2.5: Lượng chất thải phát sinh tại các bệnh viện

Tuyến bệnh viện Tổng lượng chất thải

(kg/giường bênh/ngày) CTYT nguy hại(kg/giường bệnh/ngày)

Trang 14

Bệnh viện Tỉnh 0,88 0,14

Nguồn: Bộ Y tế (Vụ Điều Trị), 2000)

Lượng chất thải phát sinh tại các khoa trong bệnh viện

Bảng 2.6: Lượng chất thải phát sinh tại các khoa hồi sức cấp cứu

Tuyến bệnh viện Tổng lượng chất thải

(Nguồn: Bộ Y tế (Vụ Điều Trị), 2000)

Lượng chất thải y tế trung bình/ giường bệnh hàng ngày của khoa hồi sức cấpcứu cao so với lượng chát thải y tế chung của các bệnh viện Đặc biệt tại các bệnhviện tuyến Trungương và tuyến tỉnh con số này lên đến 0,3 kg/giường bệnh

Bảng 2.7: Lượng chất thải phát sinh tại khoa điều trị hệ nội

Tuyến bệnh viện Tổng lượng chất thải

(Nguồn: Bộ Y tế (Vụ Điều Trị), 2000)

Bảng 2.8: Lượng chất thải phát sinh tại khoa nhi

Tuyến bệnh viện Tổng lượng chất thải

(Nguồn: Bộ Y tế (Vụ Điều Trị), 2000)

Lượng chất thải y tế và chất thải sinh hoạt phát sinh tại các khoa nội và khoa nhi

ở các tuyến bệnh viện đều thấp hơn lượng chất thải bình quân trên toàn bệnh viện.Kết quả này hoàn toàn phù hợp vì tại các khoa này chủ yếu điều trị bằng thuốc, các

Trang 15

kỹ thuật y tế tác động lên người bệnh ít hơn một số khoa khác như khoa ngoại, khoaphụ sản.

Bảng 2.9: Lượng chất thải phát sinh tại khoa sản

Tuyến bệnh viện Tổng lượng chất thải

(kg/giường bệnh/ngày) (kg/giường bệnh/ngày)CTYT nguy hại

(Nguồn: Bộ Y tế (Vụ Điều Trị ), 2000)

Do tính chất đặc thù của khoa ngoại và khoa phụ sản nên lượng chất thải phátsinh tại khoa này cao hơn lượng chất thải phát sinh trung bình của bệnh viện và cáckhoa điều trị hệ nội Chất thải phát sinh tại các khoa này chủ yếu là chất thảinhiễm khuẩn (chất thải lâm sàng nhóm A) và chất thải từ các hoạt động phẩu thuật(chất thải lâm sàng nhóm E)

Bảng 2.10 Lượng chất thải phát sinh tại khoa mắt- tai mũi họng-răng hàm mặt

Tuyến bệnh viện Tổng lượng chất thải

(Nguồn: Bộ Y tế (Vụ Điều Trị), 2000)

Bảng 2.11: Lượng chất thải phát sinh tại khoa cận lâm sàng

Tuyến bệnh viện Tổng lượng chất thải

(Nguồn: BộY tế (Vụ Điều Trị), 2000)

2.1.4 CÁC QUY TRÌNH VỀ PHÂN LOẠI, THU GOM, VẬN CHUYỂN VÀ LƯU GIỮ CHẤT THẢI NGUY HẠI

Trang 16

2 1.4.1.Mã hóa các túi,hộp và thùng đựng chất thải

Chất thải phải được phân loại ngay tại nguồn thải và phải được đựng trong cáctúi, hộp hoặc thùng có màu sắc đã được quy định:

- Màu vàng: đựng chất thải lâm sàng, bên ngoài phải có biểu tượng về nguy hạisinh học

- Màu xanh: đựng chất thải sinh hoạt

- Màu đen: đựng chất thải hóa học, chất thải phóng xạ, thuốc gây độc tế bào

Các túi, hộp và thùng đựng có các màu trên chỉ được sử dụng để đựng chất thải vàkhông dùng vào các mục đích khác Túi đựng chất thải phải đảm bảo các tiêuchuẩn sau:

- Túi đựng chất thải để đem đi đốt phải là túi nhựa PE hoặc PP không dùng túi nhựaPVC vì khi đốt sẽ tạo ra nhiều chất gây ô nhiễm

- Thành túi dầy, kích thước túi phải phù hợp với lượng chất thải phát sinh, thể tíchtối đa của túi là 0,1m3

- Bên ngoài túi phải có đường kẻ ngang ở mức 2/3 túi và có dòng chữ “không đượcđựng quá vạch này”

- Thùng chứa để tiêu hủy kim tiêm và các vật sắc nhọn được sản xuất với nhiềuloại kích cỡ khác nhau chúng làm bằng các vật liệu cứng, không bị xuyên thủng,không bị rò rỉ và có thể thiêu đốt được Các hộp đựng có thể tích từ 2,5lít, 6lít, 12lít,20lít phù hợp với lượng chất thải phát sinh Hộp lớn hơn chỉ nên dùng ở những nơicó lượng chất thải là các vật sắc nhọn phát sinh nhiều Các thùng này cần có khe hởđủ lớn để thả các vật sắc nhọn vào mà không cần phải dùng lực để ấn dẫn đếnnhững nguy cơ bị rủi ro Các hộp đựng vật sắc nhọn phải thiết kế sao cho thuận lợicho việc thu gom cả bơm và kim tiêm, khi di chuyển chất thải bên trong không bịđổ ra ngoài, có quai và có nắp để dán kín lại khi thùng đã đầy 2/3

- Các thùng đựng chất thải phải làm bằng nhựa Poly Etylen có tỷ trọng cao, thànhdầy và cứng, có nắp đậy Những thùng thu gom có dung tích lớn cần có bánh xe

Trang 17

đẩy Thùng màu vàng để thu gom các túi nilon màu vàng đựng chất thải lâm sàng.Thùng màu xanh để thu gom các túi nilon màu xanh đựng chất thải sinh hoạt.Thùng màu đen để thu gom các túi nilon màu đen đựng chất thải hóa học và cácchất phóng xạ Dung tích thùng tùy vào khối lượng chất thải phát sinh, có thể từ 10đến 250 lít Khi các túi đựng chất thải đã đạt tới thể tích quy định (2/3) túi, cần phảibuộc hoặc hàn kín Các túi có trọng lượng nhẹ có thể buộc túm cổ lại.

2 1.4.2 Phân loại chất thải

Trách nhiệm của các điều dưỡng viên các khoa là phân loại chất thải tại nguồnthải tất cả chất thải lâm sàng chỉ được chứa đựng trong túi nilon màu vàng đồngthời phải buộc kín các túi khi chất thải đã chứa đến mức 2/3 Nhân viên có thể khắcphục sai sót trong khi phân loại bằng cách cho túi đựng chất thải đã nhiễm khuẩnvào trong một túi khác đúng mã màu sắc quy định Tuyệt đối không được nhặtnhững chất thải đã phân loại nhầm ra khỏi túi hoặc thùng chứa một khi đã cho chấtthải vào thùng Việc phân loại được thực hiện ngay tại thời điểm phát sinh cho tớikhi chất thải được tiêu hủy

Chất thải lâm sàng và chất thải sinh hoạt phát sinh trong bệnh viện và các cơ sở

y tế không được trộn lẫn với nhau Nếu không may trộn lẫn 2 loại chất thải thì chấtthải đó phải được xử lý như là chất thải lâm sàng

2 1.4.3 Thu gom chất thải

Các túi hoặc thùng đựng chất thải lâm sàng phải được chuyển đi khỏi khoa,phòng ít nhất một ngày một lần hoặc khi cần thiết Không được vận chuyển chấtthải nếu không được bảo vệ để tránh gây đổ chất thải ra ngoài Các hộp đựng vậtsắc nhọn phải dán kín và cho vào túi nilon màu vàng trước khi chuyển ra khỏi khoa,phòng Hộ lý sẽ thu gom chất thải y tế nguy hại và chất thải sinh hoạt từ nơi chấtthải phát sinh về nơi tập trung chất thải của khoa Không được thay thế túi đựngchất thải nguy hại màu vàng bằng túi màu xanh trong mọi hoàn cảnh Những nơiđặt thùng đựng chất thải lâm sàng và chất thải sinh hoạt phải được định rõ tại mỗi

Trang 18

khoa, phòng Mỗi khoa cần có nơi lưu giữ các túi đựng chất thải theo từng loại.Trách nhiệm của điều dưỡng viên và nhân viên trong khoa phải đảm bảo rằng mộtkhi chất thải lâm sàng được đưa ra khỏi khoa phải được để trong túi nilon màu vàngvà không được dùng ghim dập để làm kín miệng túi.

2.1.4.4 Vận chuyển các túi, hộp và thùng đựng chất thải trong các cơ sơ y tế

Nhân viên vận chuyển chất thải lâm sàng từ túi vào thùng và từ các thùng nhỏvào các thùng chứa lớn có thể ít chú ý đến những công việc và trở thành thường lệ.Chính vì vậy nguy cơ tổn thương đến những nhân viên vận chuyển chất thải ngàycàng tăng lên Do đó nhân viên làm công việc vận chuyển chất thải nguy hại cầnphải được đào tạo để nắm vững các nguyên tắc sau:

a Trước tiên phải kiểm tra các túi, thùng đựng chất thải đã buộc kín miệng chưa

b Các túi đựng chất thải chỉ được nhấc lên ở cổ của túi và bỏ vào thùng Cần hạnchế tối đa vận chuyển chất thải bằng tay ở những nơi có thể được vì đây là nguồngốc chính gây ra rủi ro do kim tiêm đâm vào tay khi bơm tiêm không được phânloại và bỏ vào thùng đựng vật sắc nhọn theo đúng quy định

c Không được kẹp túi đựng chất thải vào sát cơ thể và không nên vận chuyển quánhiều túi cùng một lúc

d Cố gắng đừng để các túi đựng chất thải va vào cơ thể khi đang vận chuyển.Nguy cơ hay gặp nhất gây nguy hại tới sức khỏe là tai nạn do kim đâm Những kimtiêm không đựoc phân loại chính xác sẽ là nguyên nhân gây ra rủi ro này

e Kiểm tra các thùng đựng chất thải nguy hại không bị vỡ trước khi vận chuyển

f Các túi đựng chất thải màu vàng không được ném hoặc thả mạnh để tránhtrường hợp túi bị hỏng hoặc chất thải rơi vãi ra ngoài

g Các vật sắc nhọn có thể xuyên thủng thành hoặc đáy của hộp đựng bằngPolypropylen Các hộp này cần được nhấc lên và vận chuyển bằng quai của hộp,không được dùng tay kia để nâng hoặc đỡ đáy của hộp

Trang 19

h Đảm bảo rằng chất thải nguy hại và chất thải sinh hoạt không để lẫn với nhau.Những túi, thùng đựng chất thải phải được lưu giữ tại những nơi quy định khôngđược để ngoài trời

i Thực hiện các quy trình vệ sinh và khử khuẩn thích hợp khi không may làm đổchất thải hoặc biết cách báo cáo khi gặp rủi ro bị vật sắc nhọn đâm vào cơ thể.Để hạn chế việc vận chuyển chất thải qua các khu vực chăm sóc người bệnh và cáckhu vực sạch khác, cần thiết kế đường vận chuyển chất thải từ nơi lưu giữ chất thảiban đầu tại khoa, phòng và nơi lưu giữ chất thải tập trung của toàn bệnh viện

Thùng vận chuyển có bánh xe, xe đẩy được sử dụng để vận chuyển các thùng chấtthải đến khu tập trung chất thải của bệnh viện Các phương tiện này chỉ để vậnchuyển chất thải y tế phải tẩy uế và khử trùng ngay sau khi vận chuyển chất thải.Phương tiện vận chuyển chất thải sao cho dễ cho chất thải vào, dễ lấy chất thải ra,dễ làm sạch, dễ tẩy uế, dễ làm khô

2.1.4.5 Lưu giữ chất thải trong bệnh viện

Nơi lưu giữ chất thải bệnh viện phải có đủ các điều kiện sau:

- Cách xa nơi chuẩn bị đồ ăn, nhà kho, nơi công cộng và lối đi

- Hạn chế được đường vận chuyển ngoài trời từ nơi thu gom ban đầu

- Có đường để các xe chuyên chở chất thải từ bên ngoài đến

- Nơi lưu giữ chất thải y tế nguy hại riêng biệt với chất thải sinh hoạt

- Có mái che, có hàng rào bảo vệ, có cửa và khóa

- Không để súc vật, các loài gặm nhấm, côn trùng xâm nhập tự do

- Diện tích đủ rộng để có thể lưu giữ chất thải phát sinh của bệnh viện

- Có phương tiện rửa tay và dụng cụ rửa

- Có dụng cụ hóa chất làm vệ sinh

- Có dụng cụ bảo hộ cho nhân viên

- Có hệ thống cống thoát nước

- Nền dốc, dễ thoát nước vào cống, không thấm nước

Trang 20

- Thông khí tốt.

- Có điện chiếu sáng

Về diện tích nơi lưu giữ chất thải, tùy theo mức độ phát sinh chất thải tại đơn vịmà xây dựng nơi lưu giữ chất thải có diện tích phù hợp Theo tài liệu của WHOthông thường tỷ trọng của chất thải là 0,11 kg/lít chất thải tương đương 110 kg/m3.Theo nghiên cứu của Bộ Y tế năm 2000 lượng chất thải phát sinh trung bình là0,14kg chất thải y tế/giường bệnh/ngày và 0,72 kg chất thải sinh hoạt/giường bệnh/ngày (cho tất cả các tuyến bệnh viện) Như vậy theo tính toán của Vụ Điều Trị diệntích tối thiểu khu lưu giữ chất thải y tế là 1,0-1,4m2/giường bệnh và khu lưu giữ chấtthải sinh hoạt 4,0-5,0 m2/giường bệnh, không kể diện tích sẽ tăng thêm nếu bệnhviện nhận đốt chất thải cho các bệnh viện lân cận khác và khả năng gia tăng cácsản phẩm dùng một lần

Về thời gian lưu giữ chất thải y tế nguy hại tại bệnh viện và các cơ sở y tế thìtheo quy chế quản lý chất thải y tế như sau:

- Đối với các bệnh viện: Chất thải phải được chuyển đi tiêu hủy hàng ngày, thờigian lưu giữ tối đa chất thải y tế nguy hại trong bệnh viện là 48 giờ

- Đối với các cơ sở y tế nhỏ như trung tâm y tế dự phòng, phòng khám đa khoa, nhàhộ sinh, trạm y tế có phát sinh một lượng nhỏ chất thải nguy hại, điều quan trọng làphải đựng chất thải trong các túi nilon thích hợp và phải buộc kín miệng Khoảngthời gian giữa các lần vận chuyển chất thải đi sao cho phù hợp với điều kiện thực tếcủa địa phương nhưng không được vượt quá một tuần Riêng chất thải nhóm E phảichôn lấp hoặc thiêu đốt ngay

2 1.4.6 Vận chuyển chất thải ngoài cơ sở y tế

Việc vận chuyển chất thải y tế từ khu lưu giữ chất thải trong bệnh viện tới điểmxử lý ngoài bệnh viện đòi hỏi phải sử dụng các xe vận chuyển có 2 đặc tính sau:

- Xe chuyên dùng cho việc chuyên chở chất thải

- Thùng chứa chất thải có thể nâng và đặt trên sàn xe

Trang 21

a Xe chuyên dùng cho việc chuyên chở chất thải

Xe chuyên dùng cho việc chuyên chở các túi đựng chất thải lâm sàng phải cóthùng kín, lớp bên trong của thùng làm bằng thép không gỉ hoặc bằng nhôm để tạo

ra mặt đáy nhẵn tạo thuận lợi cho việc làm vệ sinh Tất cả các góc và cửa thùng xeđược hàn kín để tránh chất thải kẹt vào Có thành ngăn cách giữa buồng lái vàkhoang đựng chất thải Tốt nhất khoang đựng chất thải có bộ phận làm lạnh chấtthải trong trường hợp phải chuyên chở chất thải đường dài trong điều kiện khí hậunóng Xe vận chuyển không có thiết bị làm lạnh chất thải trong trường hợp đườngvận chuyển ngắn nhưng cần có hệ thống thông khí

b Thùng chuyên dụng chứa chất thải

Các thùng chuyên dụng được thiết kế để chứa chất thải có thiết bị làm lạnh vànâng để đặt trên sàn xe chuyên chở được trong điều kiện không có xe chuyên dụngdành riêng cho việc chuyên chở chất thải y tế Thùng chuyên dụng chứa chất thảicó thiết bị làm lạnh có thể để lưu giữ một lượng chất thải lớn trong bệnh viện vàmỗi lần đến vận chuyển lại thay thế bằng một thùng chuyên dụng khác Việc thiếtkế thùng này phải đảm bảo những đặc tính thích hợp cho việc lưu giữ và vậnchuyển chất thải lâm sàng như: an toàn, tương đối nhẹ, sử dụng tiện lợi, thành trongvà thành ngoài phải nhẵn để tiện cho việc vệ sinh và khử khuẩn

c Sử dụng thùng đựng thứ cấp

Các túi đựng chất thải lâm sàng có thể chuyển trực tiếp lên các thùng xe chuyênchở chất thải để vận chuyển đi thiêu đốt Tuy nhiên một số công ty thương mại vàbệnh viện của Châu Âu và ở Mỹ dùng hệ thống thùng đựng thứ cấp tức là túi vàthùng đựng chất thải được cho vào một thùng đựng thứ cấp để vận chuyển và đưa đitiêu hủy

Trang 22

Ví dụ: Các thùng nhựa có nắp đậy và có thành cứng Một hệ thống như vậy có

ưu điểm trong việc vận chuyển an toàn các túi đã chứa đầy chất thải ở bên trong vàcác thùng này được vận chuyển đến lò thiêu và sau đó được tiêu hủy hoàn toàncùng với các túi đựng chất thải Tuy nhiên việc sử dụng hệ thống thùng đựng thứcấp sẽ làm tăng giá thành tiêu hủy chất thải

d Vệ sinh và khử khuẩn

Xe chuyên chở chất thải y tế phải được làm sạch và sát khuẩn ngay sau khi cóchất thải rơi vãi trong thùng xe và sau mỗi lần chuyên chở Việc vệ sinh xe chuyêndụng phải tiến hành tại một địa điểm có mặt bằng thích hợp và có hệ thống dẫnnước vào cống thải

e Các biện pháp đảm bảo an toàn

Nhân viên có trách nhiệm vận chuyển chất thải y tế từ nơi này đến nơi khácphải có hệ thống bảo hộ lao động trong quá trình vận hành để đảm bảo:

- Hộ lý, người thu gom, tài xế và những người lao động chân tay phải biết và đượchọc về đặc tính và nguy cơ của các chất thải mà họ đang vận chuyển

- Các nhân viên này phải làm quen với các quy trình xử lý khi vô tình có rơi vãichất thải và nơi làm việc luôn có chỉ dẫn về quy trình thực hiện

- Các nhân viên phải được cung cấp đồ bảo hộ lao động theo quy định và làm việcphải có hợp đồng lao động

- Phải được tiêm văcxin phòng khi cần thiết

2.2 TÌNH HÌNH QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ Ở VIỆT NAM

Tình hình quản lý và xử lý chất thải y tế chung ở Việt Nam còn hạn chế và theoBộ Y tế đánh giá là chưa đáp ứng được yêu cầu, cần có những giải pháp tích cực vàhiệu quả hơn

Mỗi ngày môi trường sống của chúng ta phải tiếp nhận hàng trăm tấn rác thải ytế từ các bệnh viện Theo báo cáo của Bộ Y tế tính đến năm 2005 cả nước có hơn

1047 bệnh viện với khoảng 140.000 giường bệnh và hơn 10.000 trạm y tế Trung

Trang 23

bình mỗi ngày đêm mỗi giường bệnh thải ra môi trường 2,5kg rác thải, chất thảitrong đó từ 10-15% là chất độc hại, dễ gây nguy hiểm cần được xử lý theo quy địnhvà hiện nay khoảng 2/3 bệnh viện chưa áp dụng phương pháp tiêu hủy rác thải đảmbảo vệ sinh Hầu hết rác thải y tế, bệnh phẩm chưa được phân theo đúng chủngloại, chưa được khử khuẩn khi thải bỏ Nhà lưu chứa lại không đúng tiêu chuẩn,không đảm bảo vệ sinh và có nguy cơ lây nhiễm cho cộng đồng Rác thải y tế ởmột số địa phương đang là một trong những vấn đề bức xúc bởi ngay cả ở các bệnhviện tuyến tỉnh ở nhiều địa phương vẫn chưa có nơi tập kết chất thải.

Ví dụ: Trung tâm y tế huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình ngay trong khuôn viênbệnh viện hàng loạt các hố xử lý rác thủ công đang cháy nham nhở bốc mùi hôi.Hiện nay đơn vị nào có lò đốt thủ công thì sử dụng chúng, nếu không thì liên kếtvới công ty môi trường đô thị để xử lý rác

Một ví dụ khác cho thấy: Bệnh viện đa khoa Lâm Đồng chỉ được xử lý bằngcách đào hố chôn ngay trong khuôn viên bệnh viện Từ năm 1975 đến nay lượngrác đã lên đến trên 12000m3 Gần đây do phải lấy mặt bằng để xây dựng công trìnhnên lượng rác thải từ 30 năm qua được khai quật lên và xử lý bằng cách đưa ra bãirác tập trung của Đà Lạt nằm ngay trên đầu nguồn nước và nó đang làm ô nhiễmnguồn nước suối và nguồn nước ngầm

Mới đây lực lượng cảnh sát môi trường, Bộ Công an đã phát hiện 1 số bệnhviện lớn ở Hà Nội có hành vi bán rác thải y tế ra ngoài để tái chế và như vậy nguy

cơ gây hại cho sức khỏe người dân là rất lớn từ việc phát hiện rác thải y tế của cácbệnh viện được bán ra ngoài với số lượng lớn Như vậy cho thấy công tác quản lýrác thải y tế ở các bệnh viện hiện nay còn rất lỏng lẻo mặc dù đã có quy chế

Hiện nay trên địa bàn Thành phố vẫn còn nhiều cơ sở y tế chưa chuẩn hóa bao bìrác y tế Không ít cơ sở để chung rác sinh hoạt và rác y tế dẫn đến tình trạng phântán rác y tế gây nguy cơ lây nhiễm cho cộng đồng, ảnh hưởng đến sức khỏe côngnhân vệ sinh thu gom rác

Trang 24

Thời gian gần đây Trung tâm y tế Phú Nhuận có sáng kiến thu gom rác thải tạicác cơ sở y tế trên địa bàn bằng phương tiện xe máy với thùng chứa đảm bảo vệsinh.Và mô hình này đang được các quận huyện khai thác học tập, áp dụng.

Chương 3

HIỆN TRẠNG QUẢN LÝ CHẤT THẢI Y TẾ

TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN ĐỨC TRỌNG3.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN –KINH TẾ-XÃ HỘI HUYỆN ĐỨC TRỌNG

3.1.1.Vị trí địa lý

Huyện Đức Trọng là một trong 11 đơn vị hành chính của tỉnh Lâm Đồng, có diệntích tự nhiên là 901,80 km2 chiếm 9,2% diện tích tự nhiên của toàn tỉnh Nằm ở khoảng giữa của tỉnh, Đức Trọng có 4 phía tiếp cận như:

- Phía bắc giáp thành phố Đà Lạt

- Phía nam giáp huyện Di linh

- Phía đông giáp huyện Đơn Dương

- Phía tây giáp huyện Lâm Hà

Sau nhiều lần sáp nhập và chia cắt hiện nay huyện Đức Trọng chính thức có 14đơn vị hành chính trực thuộc gồm 1 thị trấn và 13 xã

Trung tâm huyện Đức Trọng cách thành phố Đà Lạt 27km về hướng nam Nằm ởcửa ngõ bước vào thành phố du lịch và nằm trên giao lộ của quốc lộ 20 từ thànhphố Hồ Chí Minh đi Đà Lạt và quốc lộ 27 từ thành phố Buôn Ma Thuột đi thị xãPhan Rang- Tháp Chàm của tỉnh Ninh Thuận

Với vị trí hết sức thuận lợi như vậy đã tạo điều kiện cho huyện Đức Trọng pháttriển kinh tế trên nhiều lĩnh vực như thương mại, du lịch, công nghiệp và nôngnghiệp và có điều kiện để giao lưu với nền kinh tế của các địa phương khác trong

Trang 25

- Mưa khá điều hòa và vừa phải giữa các tháng trong mùa mưa, riêng tháng támlượng mưa giảm và có các đợt hạn ngắn, khá thuận lợi cho việc thu hoạch vụ hèthu Mùa khô tuy có kéo dài nhưng mức độ mất cân đối về độ ẩm ít gay gắt hơn sovới Đơn Dương, Buôn Ma Thuột và các tỉnh miền Đông Nam Bộ Số giờ nắng bìnhquân 6,9 giờ/ngày

3.1.3 Sông ngòi

- Nước mặt: Nguồn nước mặt chủ yếu của huyện là hệ thống sông Đa Nhim,

ngoài ra còn sử dụng hệ thống nước sông Đa, dâng cho khu vực phía tây nam củahuyện

Hệ thống sông Đa Nhim bao gồm sông chính là sông Đa Nhim và 2 nhánh sông

Đa Tam và Đa quayon Mật độ sông suối khá dày từ 0,52 đến 1,1km2 Lưu lượng cósự phân hóa theo mùa, mùa mưa chiếm tới 80% tổng lượng nước trong năm Vì vậyđể sử dụng có hiệu quả nguồn nước mặt cho sản xuất cần phải tập trung xây dựngcác hồ chứa Nếu chỉ giữ được 30% lượng nước trong mùa mưa có thể đủ nước tướicho toàn bộ diện tích đất nông nghiệp hiện có của huyện địa hình ở đâây cho phépxây dựng nhiều hồ chứa, nhưng sử dụng nước hồ cho tưới tự chảy lại bị hạn chếmức độ chia cắt của địa hình Vì vậy phải kết hợp nhiều biện pháp công trình nhưhồ chứa, đập dâng, trạm bơm… mới có thể mở rộng diện tích tưới, đặc biệt là tướicho cây cà phê, rau

Trang 26

- Nước ngầm: Nước ngầm trong phạm vi huyện khá đa dạng, được chứa trong

tất cả các loại đất, đá với trữ lượng và độ tinh khiết khác nhau Được chia thành 3tầng chứa nước như sau:

- Tầng chứa nước lỗ hổng: bề dày không quá 10m nằm ở ven sông suối, lưu

lượng từ 0,1 đến 0,14lít/s

- Tầng chứa nước lỗ hổng khe nứt: Nước ngầm ở tầng này trên đất Bazan củahuyện tương đối khá với bề dày chứa nước từ 10 đến 100m Lưu lương từ 0,1 đến1,0lít/s Hiện nước này đã được khai thác để tưới cho các loại cây trồng

- Tầng chứa nước khe nứt: Loại này được phân ra nhiều loại nhưng nhìn chung lưulượng thuộc loại nghèo, khả năng khai thác cho sản xuất hạn chế

3.1.4 Địa hình, đất đai

Đức Trọng là một trong những địa bàn có đồi dốc ít so với các huyện khác trongtỉnh và được mệnh danh bình nguyên trên cao nguyên Lâm Viên

Thổ nhưỡng: chủ yếu là đất đỏ Bazan hình thành từ núi lửa

- Đất phù sa: 5,824 ha chiếm 6,5%

- Đất dốc tụ: 6,059 ha chiếm 6,7%

- Đất xám: 940 ha chiếm 1%

- Đất đen: 1,759 ha chiếm 2%

- Đất đỏ vàng: 74746 ha chiếm 82,8%

Nhìn chung với loại đất phân loại nêu trên rất thích hợp cho những cây côngnghiệp lâu năm đặc biệt là cây cà phê

Về chất lượng đất: Đại bộ phận đất có khả năng nông nghiệp có độ phì khá, nhưng

do đất dốc cần đặc biệt coi trọng biện pháp bố trí sử dụng hợp lý kết hợp tăngcường biện pháp bảo vệ cải tạo

3.1.5 Tài nguyên rừng

Là huyện thuộc miền núi cao nguyên nên tài nguyên rừng ở Đức Trọng rấtphong phú tổng diện tích đất lâm nghiệp 43,747 ha chiếm 50% diện tích đất tự

Trang 27

nhiên Trong đó rừng tự nhiên chiếm 38,778 ha những năm gần đây công tác trồngrừng cũng được quan tâm nhằm nâng cao độ che phủ, hiện nay rừng trồng đạt đến4,969 ha.

Cộng đồng người Kinh, Hoa tập trung chủ yếu ở thị trấn, ven quốc lộ và gần đâyphát triển thành các điểm kinh tế mới ở Vùng Loan Người Kinh với cách nghĩ,cách làm năng động, trình độ thâm canh cao đã đóng góp vai trò quan trọng trongphát triển kinh tế xã hội của huyện

Về tình trạng di dân trong những năm qua đã có trên 6000 người từ ngoài huyệnvào, mức độ không cao nhưng đã gây những xáo trộn trong lĩnh vực kinh tế xã hộicủa huyện đòi hỏi phải có sự giúp đỡ của nhà nước để ổn định đời sống và nơi định

cư cho dân di cư đến và từng bước hạn chế từng bước làn sóng di dân tự do vàohuyện

Lao động: Năm 2006 tổng lao động của huyện khoảng 82135 người trong đó lao

động nông-lâm nghiệp chiếm 63094 người, sản xuất công nghiệp 4046 người,thương mại 4163 người, dịch vụ khách sạn 2126 người Những năm trước đây lao

Trang 28

động nông nghiệp chiếm đa số nhưng do mở rộng thị trường, các ngành côngnghiệp- thương mại -dịch vụ tăng nhanh chiếm từ 53-54%.

Chất lượng lao động được tăng lên rất nhiều cụ thể lao động hiện có trình độ: côngnhân kỹ thuật có bằng 1090 người, trung học chuyên nghiệp có 1536 người, caođẳng và đại học 1309 người, thạc sĩ có 8 người Nhìn chung lao động có trình độ,kỹ thuật trong lĩnh vực nông nghiệp ít

Lâm Đồng có sân bay Liên Khương nằm trong địa phận của Đức Trọng nó đangđược nâng cấp thành sân bay quốc tế đó là một trong những điều kiện thuận lợi đểgiao lưu phát triển kinh tế với các vùng khác trong cả nước Do đó GDP tăng lênhiện nay là 8triệu/người/năm

cơ sở y học cổ truyền và 69 nhà thuốc tư nhân

Có trạm y tế ở 14 xã, thị trấn và một bệnh viện

Bảng 3.1: Số cơ sở y tế tư nhân do phòng y tế quản lý

Trọng đã đáp ứng được nhu cầu khám chữa bệnh trong nhân dân Hiện nay các cơ

Trang 29

sở trên địa bàn trực thuộc trung tâm gồm có:1 bệnh viện, 1 phòng khám đa khoa,1đội y tế dự phòng, 1 đội sức khỏe sinh sản và14 trạm y tế xã, thị trấn.

Hiện nay số lượng thầy thuốc của các cơ sở trực thuộc trung tâm y tế như sau:Bác sĩ: 39 người trong đó Bác sĩ chính: 3 người, Bác sĩ chuyên khoa I, II: 9 người,Bác sĩ đa khoa: 28 người.Y sĩ : 56 người, Cử nhân (điều dưỡng, nữ hộ sinh): 2 người.Điều dưỡng trung học: 25 người Kỹ thuật viên trung học: 8 người Nữ hộ sinh trunghọc: 36 người Điều dưỡng sơ học: 11 người Nữ hộ sinh sơ học:1 người Ngoài racòn có các dược sĩ bao gồm: 1 dược sĩ đại học, 4 dược sĩ trung học và 1 dược tá

Bảng 3.2: Hoạt động khám chữa bệnh của nhân dân trong huyện

Số lần khám

bệnh

-Tuyến huyện

-Tuyến xã

Lần người 106261

6171544546

314179

170457143722

282248

136032146216

296850

1400002156848

293509

137550155959Số lần bệnh

nhân điều tri

7469

63891080

8159

69351224

9671

84001271

9756

87111045

(Nguồn: Phòng thống kê UBND huyện Đức Trọng, 2006).

3.2 LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN TRUNG TÂM Y TẾ ĐỨC TRỌNG

Trước năm 1975 Trung tâm y tế Đức Trọng là một bệnh viện dã chiến của tổchức PCI ( Project Concern International) Mỹ Sau ngày giải phóng chính quyền đãtiếp quản và đưa vào hoạt động, bệnh viện lúc đó đã hư hỏng xuống cấp, trang thiết

bị, thuốc men đều thiếu thốn

Từ đó đến nay nhà nước đã từng bước đầu tư nâng cấp Bệnh Viện để phục vụcông tác khám chữa bệnh cho nhân dân địa phương Năm 1988 Trung tâm y tếhuyện Đức Trọng được thành lập theo Quyết định số 615/QĐ – UB ngày 8/11/1988của UBND tỉnh Lâm Đồng trên cơ sở sáp nhập Phòng y tế Đức Trọng và Bệnh việnhuyện Đức Trọng với chức năng chính được giao là:

- Khám và điều trị cho nhân dân địa phương

Ngày đăng: 27/04/2013, 19:49

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.3: Lượng chất thải phát sinh từ các nước theo tuyến bệnh viện - tình hình phát thải, quy trình thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải y tế
Bảng 2.3 Lượng chất thải phát sinh từ các nước theo tuyến bệnh viện (Trang 13)
Bảng 2.9: Lượng chất thải phát sinh tại khoa sản - tình hình phát thải, quy trình thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải y tế
Bảng 2.9 Lượng chất thải phát sinh tại khoa sản (Trang 15)
Bảng 3.1: Số cơ sở y tế tư nhân do phòng y tế quản lý - tình hình phát thải, quy trình thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải y tế
Bảng 3.1 Số cơ sở y tế tư nhân do phòng y tế quản lý (Trang 28)
Bảng 3.2: Hoạt động khám chữa bệnh của nhân dân trong huyện - tình hình phát thải, quy trình thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải y tế
Bảng 3.2 Hoạt động khám chữa bệnh của nhân dân trong huyện (Trang 29)
Bảng 3.3: Số cơ sở y tế và giường bệnh - tình hình phát thải, quy trình thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải y tế
Bảng 3.3 Số cơ sở y tế và giường bệnh (Trang 31)
Bảng 3.4: Số cán bộ y tế ngành y trên địa bàn huyện - tình hình phát thải, quy trình thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải y tế
Bảng 3.4 Số cán bộ y tế ngành y trên địa bàn huyện (Trang 31)
Hình 3.1: Phân loại rác - tình hình phát thải, quy trình thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải y tế
Hình 3.1 Phân loại rác (Trang 32)
Hình 3.2  Thu gom rác tại các phòng - tình hình phát thải, quy trình thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải y tế
Hình 3.2 Thu gom rác tại các phòng (Trang 34)
Hình 3.3: Phân loại rác ở phòng thuốc - tình hình phát thải, quy trình thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải y tế
Hình 3.3 Phân loại rác ở phòng thuốc (Trang 34)
Hình 3.4 Hộp đựng bơm kim tiêm - tình hình phát thải, quy trình thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải y tế
Hình 3.4 Hộp đựng bơm kim tiêm (Trang 35)
Hình 3.5: Nhà chứa rác - tình hình phát thải, quy trình thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải y tế
Hình 3.5 Nhà chứa rác (Trang 35)
Hình 3.6: Nhận rác - tình hình phát thải, quy trình thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải y tế
Hình 3.6 Nhận rác (Trang 36)
Hình 3.7:  Rác y tế được thu gom chung với rác sinh hoạt - tình hình phát thải, quy trình thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải y tế
Hình 3.7 Rác y tế được thu gom chung với rác sinh hoạt (Trang 37)
Hình 3.8: Rác được đổ ở chân núi - tình hình phát thải, quy trình thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải y tế
Hình 3.8 Rác được đổ ở chân núi (Trang 38)
Hình 3.9: Nước rò rỉ tại bãi rác - tình hình phát thải, quy trình thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải y tế
Hình 3.9 Nước rò rỉ tại bãi rác (Trang 38)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w