trình bày về nghiên cứu hiện trạng quản lý chất thải rắn trên địa bàn Long An
Trang 1CHƯƠNG 1-MỞ ĐẦU 1.1 Sự cần thiết của đề tài
Trong xu hướng phát triển hiện nay của hầu hết các nước phát triển vàcác nước đang phát triển trên thế giới, phát triển bền vững được coi là chiếnlược hàng đầu, là mục tiêu cần đạt được trong các kế hoạch phát triển kinh tếxã hội Và để đạt được điền này, các mô hình mới, các hình thức và công cụkinh tế mới, được áp dụng ngày càng rộng rãi và đa dạng hơn
Với mục đích giảm lượng thải bỏ hoàn toàn bằng cách tăng lượng tái sửdụng, phương pháp KÝ QUỸ HOÀN CHI được xem là một trong các công cụquản lý tiên tiến và mang lại hiệu quả kinh tế rõ rệt nhất Điều này đã đượcchứng minh ở một số nước khác nhau trên toàn thế giới từng áp dụng thànhcông phương pháp KÝ QUỸ HOÀN CHI này ở các ngành nghề khác nhau,đối với những đối tượng khác nhau
Là một nước có nền tảng là một nước nông nghiệp, đang trên conđường phát triển Việt Nam cũng không nằm ngoài tư thế trên Nhà nước đangcàng ngày càng khuyến khích việc áp dụng các kỹ thuật tiên tiến, các phươngthức sản xuất cũng như quản lý mới vào hoạt động kinh tế Và có thể xem KÝQUỸ HOÀN CHI là một trong các sự lựa chọn hiệu quả trong quá trình pháttriển bền vững của nền kinh tế quốc gia
Với đặc thù là một tỉnh có truyền thống nông nghiệp, Long An hiện naycó sự thay đổi lớn trong đời sống của người dân khi bước vào thời kỳ pháttriển Năng suất trồng trọt được nâng cao cùng với việc áp dụng ngày càngnhiều biện pháp trồng trọt mới, các phương thức sản xuất mới Tuy nhiên, bêncạnh việc mang lại các lợi ích kinh tế không phải là không có các vấn đề nảysinh Một trong các ảnh hưởng của tiến trình phát triển nông nghiệp đến sựbền vững đó là việc sử dụng ngày càng nhiều lượng thuốc bảo vệ thực vật
Trang 2trong quá trình canh tác của người dân Ngoài nguy cơ ảnh hưởng đến chấtlượng nông sản sau khi thu hoạch, quá trình sử dụng các loại thuốc bảo vệthực vật cũng nảy ra một vấn đề ảnh hưởng đến chất lượng môi trường Đó làviệc quản lý thu gom, xử lý các bao bì, chai lọ đựng thuốc bảo vệ thực vật.Với các đặc tính độc hại, lượng chai lọ, bao bì này thải bỏû vào môi trường màkhông được quản lý chặt có thể là một nguy cơ lớn đối với việc ô nhiễmnguồn nước, ô nhiễm đất, ô nhiễm không khí và ảnh hưởng đến sức khỏengười dân Do vậy, việc thu hồi, tái sử dụng các chai lọ bao bì này là điềuhoàn toàn cần thiết Tuy nhiên, thu gom - thu hồi tái sử dụng sao cho vừamang lại hiệu quả kinh tế cao vừa đảm bảo chất lượng môi trường và chấtlượng sản phẩm sau khi tái sử dụng là điều quan trọng và mang tính chiếnlược Như vậy, đề tài “Nghiên Cứu Tính Khả Thi Khi Aùp Dụng Hệ Thống KýQuỹ Hoàn Chi Trên Bao Bì Thuốc Bảo Vệ Thực Vật Tại Địa Bàn Tỉnh LongAn” cùng với tình hình thực tiễn và cơ sở lý thuyết sẵn có thì việc áp dụngcông cụ KÝ QUỸ HOÀN CHI cho quá trình thu gom, thu hồi và tái sử dụngcó thể được xem là một giải pháp khả thi, đáp ứng được các yêu cầu đặt ra vàmang lại hiệu quả kinh tế cũng như lợi ích môi trường lớn.
1.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài.
o Đề ra các định hướng khả thi cho việc xây dựng chính sách ápdụng công cụ kí quỹ-hoàn chi ( KQHC ) đối với sản phẩm vỏ chaithuốc bảo vệ thực vật (BVTV) trên địa bàn tỉnh Long An
o Nâng cao tỷ lệ thu gom vỏ chai thuốc BVTV sau quá trình sử dụng,hạn chế việc thải bỏ bừa bãi, đẩy mạnh quá trình tái chế có kiểmsoát, góp phần xử lý hợp lý các loại chất thải nguy hại thay cho cácphương pháp đốt và chôn lấp trước đây, đảm bảo ngăn ngừa ônhiễm và bảo vệ môi trường, tăng cường việc sử dụng hợp lý tàinguyên tự nhiên
Trang 3o Thúc đẩy sự đổi mới phương pháp kiểm soát ô nhiễm, nâng cao ýthức cộng đồng về bảo vệ môi trường thông qua việc thu hồi, tái sửdụng, tái chế và sử dụng các sản phẩm tái chế từ vỏ chai thuốcBVTV đã qua sử dụng.
o Thúc đẩy chương trình phân loại rác tại nguồn ở Long An sớm đivào hoạt động
1.3 Nội dung nghiên cứu
o Nghiên cứu hiện trạng và các bất cập trong quản lý chất thải rắntrên địa bàn tỉnh Long An
o Nghiên cứu các tác động kinh tế-xã hội và môi trường của côngcụ KÝ QUỸ HOÀN CHI so với các công cụ quản lý chất thải rắnkhác và thực tế áp dụng trên thế giới
o Nghiên cứu về mức sẵn lòng chi trả của người dân khi áp dụngcông cụ KÝ QUỸ HOÀN CHI
o Nghiên cứu các yếu tố tác động đến lượng chất thải (vỏ chai)thuốc BVTV được thu hồi
o Nghiên cứu đề xuất các giải pháp hỗ trợ khi thực hiện chính sácháp dụng công cụ KQHC đối với thuốc BVTV
1.4 Phạm vi nghiên cứu
o Địa điểm nghiên cứu: 6 huyện trên địa bàn tỉnh Long An bao gồm 2huyện ở khu vực phía Nam (Bến Lức, Châu Thành) và 4 huyệnthuộc khu vực Đồng Tháp Mười (Thạnh Hóa, Tân Thạnh, Mộc Hóa,Vĩnh Hưng)
o Thời gian nghiên cứu: từ ngày 1/9/2007 đến 10/12/2007
o Đối tượng nghiên cứu: người sử dụng các sản phẩm thuốc BVTV
Trang 41.5 Phương pháp nghiên cứu
o Tham khảo tài liệu: các số liệu thứ cấp được thu thập từ sách báo,các số liệu thống kê, internet, từ tài liệu có sẵn của các ban ngànhcó liên quan
o Khảo sát thực địa: quan sát quá trình sử dụng và thải bỏ vỏ chaithuốc BVTV tại các khu vực canh tác
o Điều tra phỏng vấn bằng các phiếu điều tra chi tiết cho người nôngdân tại một số huyện trên địa bàn tỉnh Long An bằng phương phápđánh giá ngẫu nhiên
o Phương pháp xử lý số liệu: các số liệu thu thập được chọn lọc, thốngkê và xử lý bằng phần mềm Excel
o Tham khảo ý kiến chuyên gia ở Chi cục thuốc BVTV và các chuyêngia trong ngành quản lý môi trường
1.6 Hạn chế của đề tài
o Do hạn chế về thời gian và nguồn nhân lực nên đề tài chỉ tập trungnghiên cứu đối với các vỏ chai thuốc BVTV mà không nghiên cứucác bao nylong chứa thuốc BVTV và mẫu chỉ được khảo sát tại 6 xã(Hòa Phú, Nhựt Chánh, Bắc Hòa, thị trấn Mộc Hóa, Vĩnh Trị,Thanh Phước) thuộc 6 huyện ( Châu Thành, Bến Lức, Tân Thạnh,Mộc Hóa, Vĩnh Hưng, Thạnh Hóa) của tỉnh Long An chứ khôngkhảo sát được toàn tỉnh
o Số lượng mẫu điều tra ít, khoảng 180 mẫu, mặc dù thông tin thuđược khá đầy đủ và khi đối chiếu với số liệu thống kê bình quân thìkhông có sai số lớn, có thể đại diện cho hiện trạng kinh tế - xã hộitại tỉnh Long An
Vì vậy kết luận của đề tài có thể còn hạn chế, cần tiến hành nhữngnghiên cứu tiếp theo với qui mô rộng hơn để có thể phản ánh chính xác vềmức sẵn lòng tham gia của người dân và xây dựng chính sách thiết thực vàhiệu quả hơn
Trang 5CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH TÁI CHẾ CHẤT THẢI
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LONG AN
2.1 Tổng quan về tình hình kinh tế – xã hội tỉnh Long An
2.1.1 Đặc điểm kinh tế
Tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Giai đoạn năm 2001 đến 2005 trên địa bàn tỉnh đạt tốc độ tăng trưởngkinh tế cao Thu nhập bình quân đầu người là 500 USD trong năm 2005, mứcđộ tăng GDP trung bình là 9.4% (mục tiêu tăng từ 7% – 7.5%) GDP của cáckhu vực tăng trưởng cao hơn so với mục tiêu đề ra cụ thể:
Cơ cấu kinh tế trên địa bàn tỉnh: nông lâm ngư nghiệp 45.04%, xâydựng và công nghiệp 25.32%, dịch vụ 29.64% (mục tiêu tương ứng là 43.7% -23.3 -30.0%)
Sản xuất công nghiệp
Thực hiện chính sách thu hút đầu tư trong nước và ngoài nước sản xuấtcông nghiệp đạt tốc độ phát triển cao trong 5 năm qua mức độ tăng trưởngtrung bình là 21.5%, trong nước 21.6%, nước ngoài 25.2% Ưu thế là côngnghiệp chế biến (95.3%) sản phẫm chủ yếu là thực phẩm, đồ uống, các sảnphẩm bằng kim loại, da, giả da
Trang 6 Sản xuất nông lâm, thuỷ sản
Diện tích nông nghiệp: 70-73% trên tổng diện tích đất Diện tích câytrồng giảm như: cây lương thực, cây công nghiệp, cây công nghiệp lâu năm,chỉ có cây ăn quả có diện tích tăng khoảng 18% so với năm 2000
Sản xuất nông lâm thuỷ sản tăng trưởng phát triển ổn định Giá trị sảnxuất toàn nghành đạt mức tăng trưởng bình quân 6.1% Giá trị sản xuất nôngnghiệp đạt mức độ tăng trưởng bình quân 4.4% trong đó trồng trọt tăng 4.2%,chăn nuôi tăng 94%, giá trị sản xuất lâm nghiêp tăng 5.9%
Doanh thu từ hoạt động sản xuất thuỷ sản liên tục tăng trong nhữngnăm qua (đạt tăng trưởng 22.9%) nhưng nguồn thuỷ sản tự nhiên của Long Anđang bị cạn kiệt Nguyên nhân, do khai thác bừa bãi của con người, khai thácbừa bãi những cá thể chưa đến tuổi khai thác làm cạn kiệt nguồn dự trữ thuỷsản Do đó, phải có biện pháp quản lý chặt chẽ để việc khai thác thuỷ sảnphát triển chất lượng lẫn số lượng nhưng đảm bảo không làm cạn kiệt nguồntài nguyên
Thương mại, xuất nhập khẩu, du lịch
Long An là cửa ngõ vào đồng bằng Sông Cửu Long và tiếp giáp vớithành phố Hồ Chí Minh đây là một thuận lợi để lưu thông hàng hoá nhằm đápứngkịp thời nhu cầu tiêu dùng của người dân và một phần xuất khẩu Nhữngnăm qua tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng đạt mứctăng trưởng bình quân 12.1% trong đó kinh tế ngoài quốc doanh chiếm tỷ lệkhá cao 90%-93%
Trong thời gian qua mặt dù hoạt động kinh doanh trên địa bàn tỉnhLong An còn gặp nhiều khó khăn nhưng nghành thương mại đã góp vào ngânsách tỉnh ngày một tăng, kim ngạch xuất khẩu đạt mức tăng trưởng bình quân19.8% - nhập khẩu 22.6% Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu bao gồm: gạo,đậu phộng, hạt điều, lông vũ thành phẩm và hàng dệt may
Trang 7Tài nguyên du lịch chưa phát triển xứng với tiềm năng sẵn có hệ sinhthái rừng tràm và một số di tích lịch sử cách mạng chưa được bảo vệ tôn tạolàm hạng chế tính hấp dẫn.
Khách du lịch đến Long An trong những năm gần đây liên tục tăng vềsố lượng nhưng chủ yếu đến liên hệ công tác thăm thân nhân, số lượng kháchnước ngoài rất ít chiếm 10% tổng số khách du lịch
2.1.2 Cơ cấu hạ tầng
Phát triển giao thông vận tải, bưu chính viễn thông
Khối lượng luân chuyển đạt mức tăng trưởng 9.6% hành khách tăng5.6%
Trong 5 năm qua tỉnh đã xây dựng 130 cây cầu trong đó cầu bê tôngcốt thép chiếm tỷ lệ 32%, 682 km đường trong đó đường nhựa 312km Hệthống cầu và đường nhựa chưa được đồng bộ về tải trọng cầu có tải trong thấpdẫn đến tình trạng hạn chế trong việc khai thác vận chuyển hàng hoá nhất làcác tuyến đường có khu công nghiệp
Giao thông nông thôn trong những năm qua trở thành phong trào rộnglớn kết hợp với nguồn vốn ngân sách nông nghiệp và đóng góp của nhân dân.Hiện có 160/188 xã có đường ô tô đến trung tâm trong đó số xã có đườngnhựa là 53/188 xã
Mạng lưới giao thông đường thuỷ không phát triển trong những năm quachỉ dựa vào lợi thế tự nhiên chưa khai thác hết tiềm năng hiện có
Bưu chính viễn thông, thông tin liên lạc phát triển khá mạnh, những dịchvụ mới được phát triển phục vụ tốt nhu cầu phát triển kinh tế xã hội và đờisống dân cư Số máy điện thoại cố định đạt 33,9 máy/100 dân
Hiện trạng cấp nước
Trang 8Trữ lượng nước ngầm ở Long An không dồi dào và chất lượng nướckém chủ yếu ở độ sâu trên 200m nguồn nước sử dụng chủ yếu hiện nay lànguồn nước mặt (sông, hồ) với nhà máy nước Tân An có công suất37000m3/ngày đêm, cung cấp cho nhu cầu sinh hoạt trên địa bàn thị xã Tân
An và các vùng phụ cận Ngoài ra, còn có một mạng lưới giếng khoang donguồn ngân sách nước ngoài Unicef đầu tư để cung cấp nước cho những nơithiếu nước sạch Tính đến cuối năm 2005 tổng công suất của các đô thị trêntoàn tỉnh là 48000 m3/ngày đêm với nguồn cung cấp là nước mặt Tỷ lệ ngườidân sử dụng nước sạch ở các mức độ khác nhau trong đó huyện Châu Thànhđạt tỷ lệ cao nhất 95%, các huyện còn lại 20-60% bình quân tỷ lệ người dânđược câp nước sạch trên toàn tỉnh là 52%
Những nơi không có hệ thống cấp nước người dân sử dụng giếng khoanvà nước sông ngòi kênh rạch cho nhu cầu ăn uống và sinh hoạt
2.1.3 Đặc điểm xã hội
Dân cư: dân số tỉnh năm 2004 là 1.400.503 người trong đó nam chiếm
49.09% (678366 người) tỷ lệ nữ 50.91% (713167 người) Do đặc thù là tỉnhnông nghiệp nên dân cư tập trung chủ yếu sống ở nông thôn chiếm 83.6% Tỷlệ gia tăng dân số tự nhiên 1.34% thấp hơn chỉ tiêu của tỉnh đề ra 1.5% Dânsố tỉnh thuộc loại dân số trẻ, số người trong độ tuổi lao động chiếm 63.7% đâylà một nhân tố quan trọng góp phần thúc đẩy tăng trưởng trong tương lai
Giáo dục đào tạo: Hệ thống mạng lưới trường lớp nghành học, cấp học
được củng cố và mở rộng theo hướng đa dạng hoá, xã hội hoá Hiện tại đơn vịphổ thông toàn tỉnh có 385 trường công lập, 11 trường bán công và 1 trườngdân lập với tổng số giáo viên là 10.900 và học sinh là 37.715 Tỷ lệ xãphường đạt phổ cập trung học cơ sở là 58% (chỉ tiêu 85%), 100% xã phườngđã hoàn thành chương trình xoá mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học Ngoài
ra tỉnh còn có 1 trường cao đẳng sư phạm nơi cung cấp nhân lực cho nghành
Trang 9giáo dục hàng năm ( khoảng 100 giáo viên/năm) để giải quyết tình trạngthiếu giáo viên vùng sâu vùng xã.
Y tế: Toàn tỉnh có 16 bệnh viện, 22 phòng khám đa khoa, khu vực xã
phường có 180/188 trạm y tế nhưng có 61 trạm đạt tiêu chuẩn quốc gia vềphòng ốc
Toàn tỉnh có 2.861 biên chế nhân viên y tế trong đó cán bộ đại họcchiếm 20,8% số xã có bác sỹ đạt tỷ lệ 76%, 100% trạm y tế có nữ hộ sinhhoặc y sỹ sản nhi, bình quân có 20,5 cán bộ y tế/1 vạn dân Số bệnh nhânđiều trị với tỷ lệ 11 giường/1 vạn dân Tuy nhiên còn một số huyện cơ sởtrang thiết bị còn lạc hậu chưa đồng bộ
2.2 Hiện trạng quản lý chất thải rắn trên địa bàn tỉnh Long An
Trong quá trình thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhằm hộinhập với nền kinh tế khu vực và thế giới Long An đang từng bước xây dựngcho mình một nền công nghiệp phát triển đa dạng, chiếm một tỷ trọng ngàycàng cao trong cơ cấu GDP trên đia bàn Do vậy, việc quản lý và xử lý chấtthải rắn cho các khu công nghiệp, khu đô thị và các vùng nông thôn là vôcùng quan trọng Xử lý chất thải ô nhiễm nói chung và chất thải rắn nói riêngvừa là công việc trước mắt, vừa mang tính lâu dài trong sự nghiệp bảo vệ môitrường và phát triển bền vững
Khối lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh ước tính trên toàn tỉnhtrong những năm qua bao gồm:
Trang 10- Năm 2006: 305 tấn/ngày.
Ngoài chất thải rắn sinh hoạt năm 2006 Long An còn tiến hành điều tracác loại chất thải rắn khác như:
Tổng lượng chất thải rắn y tế là 280 tấn/năm
Tổng lượng chất thải rắn công nghiệp không nguy hại là 250 tấn/năm.Tổng lượng chất thải rắn công nghiệp nguy hại là 45 tấn/năm
So với năm 2000 lượng chất thải rắn phát sinh năm 2006 là 113tấn/ngày
2.2.2 Tình hình thu gom và xử lý chất thải rắn
a Tình hình thu gom và xử lý chất thải rắn tại các khu công nghiệp
Chất thải rắn công nghiệp không nguy hại
Hiện nay việc phân loại chất thải rắn công nghiệp tại các doanh nghiệpmột khi mang đi xử lý chưa được quan tâm đúng mức
Chất thải rắn công nghiệp có khả năng tái sinh tái chế được các doanhnghiệp hợp đồng với các đơn vị có nhu cầu
Hiện tại trên địa bàn tỉnh chỉ có khu công nghiệp Đức Hòa 1 có hệthống xử lý nước thải tập trung và lượng bùn thải trong quá trình xử lý nướcđược ép thành bùn khô và hợp đồng với các đơn vị có chức năng xử lý
Chất thải nguy hại
Chất thải công nghiệp nguy hại
Chất thải nguy hại của các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh rất đadạng và phức tạp Nguồn phát thải chủ yếu từ các Doanh nghiệp giày da, ắcquy, các ngành sắt thép, mực in, nhựa,… Việc triển khai Nghị định 155 vềquản lý chất thải trên địa bàn tỉnh đang bước đầu triển khai và hiện tại đã có
4 Doanh nghiệp đăng ký quản lý chất thải nguy hại và đã được cấp phép:
- Công Ty Lê Long Việt Nam: sản xuất ắc quy
- Doanh Nghiệp Tư Nhân Tiến Thành: sản xuất thiết bị điện các loại
Trang 11- Doanh Nghiệp Tư Nhân Inox Thành Phát: sản xuất hàng Inox cácloại.
- Công Ty Cổ Phần In Phan Văn Mãng: in ấn các ấn phẩm sách, báo,tạp chí
Ngoài ra, còn có các Doanh nghiệp đang trong giai đoạn xem xét vàchưa được cấp giấy phép như: Công Ty TNHH Giày Chinglud Việt Nam,Công Ty TNHH 4-Organces
Hiện nay trên địa bàn tỉnh Long An chưa có đơn vị có chức năng làmdịch vụ xử lý chất thải nguy hại Các Doanh nghiệp đăng ký chất thải côngnghiệp nguy hại đã hợp đồng với Công Ty TNHH Sản Xuất - Dịch Vu ï-Thương Mại Môi Trường Xanh của Thành phố Hồ Chí Minh để xử lý
Chất thải rắn y tế
Hiện nay trên địa bàn tỉnh chưa có đơn vị thu gom, phân loại và xử lýchất thải y tế riêng biệt Chất thải rắn y tế tại các Huyện, Thị được các Công
Ty Công Trình Công Cộng các huyện thu gom chung với các chất thải rắnsinh hoạt và đổ lộ thiên ở các bãi rác tạp của các Huyện, Thị Hiện tại tỉnh chỉcó hai lò đốt chất thải y tế tại Bệnh Viện Đa Khoa Long An với công suất 20kg/giờ và 35 kg/giờ
b Tình hình thu gom và xử lý chất thải rắn sinh hoạt
Hiện trạng quy hoạch
Hiện nay trên địa bàn chưa có bãi chôn lấp hợp vệ sinh mà chỉ cónhững điểm tập kết thu gom rác một cách tự phát và xử lý bằng cách đổ đốnglộ thiên Những khu vực chứa chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn tỉnh baogồm:
Bãi rác Lợi Bình Nhơn có diện tích 1.5 ha tại xã Lợi Bình Nhơn, Thị XãTân An
Trang 12Bãi rác Lương Hòa có diện tích 7.500 m2 tại xã Lương Hòa, Huyện BếnLức
Bãi rác Đức Hòa Đông có diện tích là 2.000 m2 tại Xã Đức Hòa Đông,Huyện Đức Hòa
Bãi rác Nhị Thành có diện tích là 5.000 m2 tại xã Nhị Thành, HuyệnThủ Thừa
Bãi rác Đông Thành có diện tích 6.000 m2 tại thị trấn Đông Thành,Huyện Đức Huệ
Bãi rác Thị Trấn Tân Trụ có diện tích 5.000 m2 tại ấp Tân Bình, ThịTrấn Tân Trụ, Huyện Tân Trụ
Bãi rác Thị trấn Mộc Hóa có diện tích 8.000 m2 tại Khu phố 4, Thị TrấnMộc Hóa, Huyện Mộc Hóa
Bãi rác Thị Trấn Cần Đước có diện tích 1.000 m2 tại Thị Trấn CầnĐước, Huyện Cần Đước
Riêng một số Huyện Đồng Tháp Mười như Tân Thạnh, Vĩnh Hưng,Tân Hưng,… chất thải rắn sinh hoạt được Công Ty Công Trình Công CộngHuyện thu gom nhưng đỗ ở vùng trũng ngoài đê bao
Hiện nay có một dự án xây dựng nhà máy xử lý rác tại xã Tân Đông,Huyện Thạnh Hóa với diện tích 369.337 m2 do Công Ty Asian EnvironmentalCompany (ASENCO) 100% vốn đầu tư nước ngoài, công suất 120 tấn/ngày
Hiện trạng xử lý chất thải rắn sinh hoạt
- Thị Xã Tân An: lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh tạiThị xã được thu gom và vận chuyển đến bãi rác Lợi Bình Nhơn cách trungtâm Thị xã 3 km với khối lượng 35 tấn/ngày, tỷ lệ thu gom khoảng 60% Hiệnnay Công Ty Công Trình Công Cộng Thị Xã là đơn vị thực hiện thu gom rácthải sinh hoạt bằng các xe ép rác 4 tấn và đem về tập trung đổ đống lộ thiênmà không xử lý
Trang 13- Huyện Bến Lức và Cần Giuộc: Công Ty Công Trình Công Cộng HuyệnBến Lức thu gom chất thải rắn trên địa bàn Huyện Bến Lức và Huyện CầnGiuộc với khối lượng 30 tấn/ngày đem đổ tập trung tại bãi rác Lương Hòa,huyện Bến Lức cũng không có biện pháp xử lý nào.
- Huyện Thủ Thừa: Công Ty Công Trình Công Cộng Huyện Thủ Thừathu gom chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn huyện với công suất 5 tấn/ngàyvà đổ lộ thiên tại bãi rác Thị trấn tại Xã Bình Lương, Huyện Thủ Thừa
- Huyện Đức Hòa: vào năm 2001 đến năm 2005, rác trên địa bàn huyệnđược thu gom và đổ tập trung tại xã Đức Hòa Đông, nhưng hiện nay Công TyCông Trình Công Cộng Huyện thu gom chất thải rắn sinh hoạt trên địa bànhuyện công suất 10 tấn/ngày và chuyển đến bãi rác Huyện Củ Chi, Thànhphố Hồ Chí Minh Chất thải rắn tại từ các khu công nghiệp cũng được thu gomvà đổ tại bãi rác Huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh
- Các huyện khác, hiện nay tại các huyện trên địa bàn tỉnh đều có cácđơn vị thu gom và vận chuyển rác về nơi tập trung Tuy nhiên chỉ là các bãirác tạm chưa được xử lý Riêng ở các huyện thuộc vùng Đồng Tháp Mười, rácđược thu gom và đổ ngoài đê bao của thị trấn hoặc đổ vào các khu vực trướcđây là hầm khai thác đất
Theo số liệu điều tra và thống kê tổng lượng chất thải rắn sinh hoạtđược thu gom trên địa bàn Tỉnh Long An được ước tính khoảng 120 tấn/ngày,nếu tính thêm lượng chất thải rắn chưa được thu gom thì còn lớn hơn rấtnhiều
Ớ các vùng nông thôn, chất thải rắn sinh hoạt được người dân đổ bừabãi ven vệ đường hoặc các kênh rạch gây ô nhiễm môi trường
Việc triển khai và hình thành các dự án xây dựng bãi chôn lấp hợp vệsinh trên địa bàn các huyện, thị đã và đang gặp một số khó khăn, vướng mắcđến nay vẫn chưa được hình thành do thiếu vốn đầu tư và bộ máy tổ chức
Trang 14quản lý và vận hành bãi chôn lấp tại các huyện chưa đáp ứng theo yêu cầuthực tế về chất thải rắn sinh hoạt
Những lợi ích khi tăng cường công tác quản lý rác
Việc xử lý và tái chế chất thải rắn nếu được các cơ quan ban ngànhtỉnh quan tâm đúng mức sẽ mang lại nhiều lợi ích về mặt kinh tế – xãhội và môi trường:
Lợi ích về mặt kinh tế xã hội:
- Tận dụng giá trị của vật liệu
- Hạn chế khai thác tài nguyên thông qua việc tạo ra một lượng lớnnguyên liệu cung cấp cho hoạt động sản xuất
- Tạo công ăn việc làm ổn định cho người lao động
- Tạo ra các sản phẩm tái chế có cùng giá trị sử dụng so với sản phẩmsản xuất từ nguyên liệu tinh nhưng với giá thành thấp hơn 2-3 lần
- Nâng cao nhận thức của cộng đồng về hoạt động tái sử dụng, tái sinhtái chế bảo vệ môi trường và sử dụng chất thải tại nguồn
Lợi ích về mặt môi trường:
- Đối với chất thải công nghiệp, tái chế tại cơ sở giúp giảm thiểu ônhiễm tại nguồn
- Nâng cao tỷ lệ và khối lượng chất thải tái sinh tái chế, giảm lượngchất thải rắn thải vào môi trường cũng như lượng chất thải rắn xử lý theo cáchchôn lấp truyền thống, đặc biệt là những hợp chất khó phân hủy ngoài môitrường hay những loại chất thải có thành phần nguy hại cao Giảm đáng kểdiện tích đất dành cho bãi chôn lấp trước tình hình quỹ đất ngày càng hạn hẹpnhư hiện nay
- Thúc đẩy phân loại chất thải tại nguồn, góp phần nâng cao hiệu quảxử lý chất thải
Trang 15- Góp phần sử dụng và khai thác hợp lý tài nguyên thiên nhiên.
Trang 162.3 Hiện trạng sử dụng thải bỏ và xử lý vỏ chai thuốc BVTV sau khi sử dụng
2.3.1 Hiện trạng sử dụng thuốc BVTV
Tình hình sử dụng thuốc BVTV trên địa bàn tỉnh có chiều hướng ngàycàng gia tăng với nhiều chủng loại khác nhau Lượng thuốc BVTV cung ứngcho sản xuất nông nghiệp trên toàn tỉnh trung bình khoảng 400 – 450 tấn/năm.Các chương trình khuyến nông, chương trình quản lý dịch hại IBM đã giúpngười nông dân nâng cao nhận thức Phần lớn nông dân đã chuyển hướng sửdụng thuốc trừ sâu ít độc hại đối với môi trường nhất là đối với sức khỏengười trực tiếp sử dụng như các loại có nguồn gốc vi sinh (Defin,…)
Việc lưu trữ và bảo quản thuốc BVTV ở nông dân chưa được quan tâmđúng mức Đa số người dân mua các loại thuốc BVTV dự trữ tại nhà Sau khisử dụng các vỏ chai, bao bì chứa thường vứt bỏ bừa bãi, chưa có các biệnpháp thu gom, tiêu hủy hoặc tái chế (thường vứt ngay bờ ruộng, kênh, rạch,…)
2.3.2 Đặc tính của thuốc BVTV
[GS.TS Phạm Văn Biên; PGS.TS.Bùi Cách Tiến; KS Nguyễn Mạnh Trinh Cẩm Nang Thuốc Bảo Vệ Thực Vật (2002) NXB Nông Nghiệp Trang 13-20]
Dựa theo cấu tạo hóa học, chia thuốc BVTV thành nhiều nhóm:
2.3.2.1 Thuốc trừ sâu: có các nhóm chính
Nhóm thuốc thảo mộc: là những chất trừ sâu có trong thực vật như cácchất Nicotin (trong cây thuốc lào, thuốc lá), Rotenone (trong rễ cây dây mật),Pakyziron (trong cây củ đậu), … Những chất này có tác động sinh học mạnhnhưng hiệu lực với sâu thể hiện tương đối chậm, ít độc hại với người và mauphân hủy trong môi trường Các chế phẩm thường có hàm lượng thấp
Nhóm Clo hữu cơ: trong thành phần hóa học có chất Clo, là những dẫnxuất Chlorobenzen (như DDT), Xychlohexan (BHC), hoặc dẫn xuất đa vòng
Trang 17(Aldrin Dieldrin) Nhóm này có độ độc cấp tính thấp nhưng tồn lâu trong cơthể người, động vật và môi trường gây độc mãn tính nên nhiều sản phẩm đã
bị hạn chế và cấm sử dụng
Nhóm lân hữu cơ: trong thành phần hóa học có chất photpho Độ độccấp tính tương đối cao nhưng mau phân hủy trong cơ thể người và môi trườnghơn so với nhóm Clo hữu cơ Ngoài tác động tiếp xúc, vị độc, nhiều hoạt chấtcòn có khả năng thấm sâu, nội hấp hoặc xông hơi Một số thuốc lân hữu cơ rấtđộc đã bị hạn chế hoặc cấm sử dụng (Parathion,…)
Nhóm Carbamate: là những dẫn xuất của axit carbamic Độ độc cấptính tương đối cao khả năng phân hủy tương tự nhóm lân hữu cơ Một số cókhả năng nội hấp, trừ được tiến trùng Hiện nay người ta đã tổng hợp đượctrên 1.000 hợp chất carbamate, trong đó có trên 35 loại dùng trừ sâu
Nhóm Pyrethroide (cúc tổng hợp): là nhóm thuốc trừ sâu tổng hợp dựavào cấu tạo chất Pyrethrin có trong hoa của cây cúc sát trùng Công thức cấutạo hóa học rất phức tạp Diệt sâu chủ yếu bằng đường tiếp xúc và vị độc,hiệu lực nhanh, một số chất có tác động xua đuổi côn trùng Dễ bay hơi vàtương đối mau phân hủy trong môi trường và cơ thể người nên được dùng trừsâu cho rau, cây ăn quả và gia công thành các sản phẩm thuốc sát trùng
Các hợp chất Phoromone: là những chất tổng hợp có cấu tạo giống nhưnhững chất do côn trùng tiết ra trong quá trình sinh trưởng và hoạt động.Những chất này thường dùng dẫn dụ côn trùng đến tiêu diệt
Các chất điều hòa sinh trưởng côn trùng: là những chất làm rối loạnquá trình sinh trưởng, phát triển của côn trùng, dẫn đến bị chết
Nhóm thuốc vi sinh: thành phần giết sâu trong thuốc là các vi sinh vật(thường là nấm và vi khuẩn)
Trang 182.3.2.2 Thuốc trừ bệnh: gồm hai nhóm
Nhóm thuốc vô cơ: chủ yếu là các nhóm hóa học như nhóm đồng,nhóm lưu huỳnh, nhóm thủy ngân Tác động chủ yếu của nhóm này là tiếpxúc, phổ tác dụng rộng, một số trừ được vi khuẩn ( đồng, thủy ngân), trừ nhện(lưu huỳnh) Độ độc cấp tính thấp nhưng chậm phân hủy trong môi trường và
cơ thể người
- Nhóm thuốc hữu cơ: có nhiều nhóm hóa học khác nhau đang được sửdụng, trong đó có các nhóm chính là: nhóm lân hữu cơ, nhóm carbamate,nhóm Dithiocarbamate, nhóm Triazole
- Nhóm Dicarboximit có các chất Captan, Folpet
- Nhóm thuốc sinh học là chất chất kháng sinh được chiết suất trong quátrình lên men của một số loài nấm nhóm Streptomeces như các chấtKassugamycin ( Kasumin), Validamycin A ( Validacin)
Trong nhóm thuốc trừ bệnh hữu cơ có một số chỉ có tác động tiếp xúc(Dithiocarbomate), một số có khả năng nội hấp mạnh (các nhóm carbamate,trialzole, thuốc sinh học) Phần lớn các thuốc này đều ít hoặc rất ít độc hại vớingười và môi trường
2.3.2.3 Thuốc trừ cỏ
Nhóm vô cơ: có các chất Copper Sulfate, Sodium Chlorate, CalciumCyanancid,… những chất này chỉ yếu tác động với cây cỏ lá rộng và phân hủytương đối chậm trong môi trường
Nhóm hữu cơ: có nhiều nhóm hóa học như nhóm Acetamid (Butachlor,Metolachlor, Pretilachor,…), nhóm lân hữu cơ (Anilofos, Glyphosate,…), nhómPhenoxy (2, 4D, MCPA,…), nhóm Phenyl urea (Diuron, linuron,…), nhómTriazin (Atrazin, Ametryn, Simazin,…) Trong các thuốc này có loại chọn lọc,có loại không chọn lọc, phần lớn đều phân hủy nhanh trong đất
Trang 192.3.2.4 Thuốc trừ chuột
Có hai nhóm chính:
Nhóm thảo mộc: cây mã tiền, cây hành biển
Nhóm vô cơ: điển hình là chất Asen (thạch tín), kẽm phosphur Cácthuốc nhóm thảo mộc và vô cơ có độ độc cấp tính cao, diệt chuột nhanh, dễgây tính nhát bả cho chuột
Nhóm hữu cơ: chủ yếu là chất dẫn xuất của hydroxy coumarin (nhưWafarin, Brodifacoum,…) Các chất nhóm này tác động với chuột tương đốichậm nhưng ít gây tính nhát bả
Nhóm thuốc vi sinh: chủ yếu là vi khuẩn Salmonella gây bệnh chochuột
2.3.2.5 Chất điều hòa sinh trưởng cây trồng
Gồm các chất có tác dụng kích thích sinh trưởng (Auxin, Gibberellin,…)và các chất ức chế sinh trưởng (Paclobutatrazol,…) các chất này có thể là cácchất tổng hợp hóa học, chất có nguồn gốc sinh học (Gibberellin,…) hoặc chiếtsuất từ sinh vật (chất Oligo saccarit từ rong biển,…)
2.3.2.6 Thuốc trừ tuyến trùng
Gồm nhiều nhóm hóa học như nhóm Halogen (chất Methyl bromit),nhóm Carbamate (Carbofuran), nhóm lân hữu cơ (Prophos)
2.3.3 Hiện trạng xử lý chất thải (vỏ chai) thuốc BVTV và khả năng tái chế
Mặc dù là một loại chất thải rắn nguy hại nhưng hiện nay vỏ chai thuốcBVTV sau khi đã sử dụng phần lớn vẫn chưa được thu gom và xử lý đúngmức Hầu hết các loại vỏ chai sau khi sử dụng đều được thải bỏ một cách bừabãi xuống ao, hồ, kênh rạch hoặc được đem đi chôn lấp ở các khu đất gần nhàngười sử dụng Điều này khiến cho công tác xử lý chất thải gặp nhiều khókhăn và gây ra những nguy cơ ô nhiễm môi trường đất, nước
Trang 20Một lượng rất nhỏ các loại vỏ chai thuốc BVTV có khả năng tái chếđược một số cá nhân và cơ sởõ thu gom đem bán cho các đầu mối thu gom phếliệu và cơ sở tái chế Hầu hết các cơ sở thu gom và tái chế này thuộc thànhphần kinh tế tư nhân, sản xuất nhỏ lẻ, hoạt động một cách tự phát và khôngcó sự kiểm soát chặt chẽ Công nghệ tái chế cũ kĩ, lạc hậu, mặt bằng khôngđảm bảo tạo nên những vấn đế ô nhiễm môi trường khác như nước thải, khóithải và cũng chưa tận dụng được hết khả năng tái sinh tái chế của chất thải
Thực tế vỏ chai thuốc BVTV là loại chất thải có khả năng tái chế cao.Hầu hết, tất cả các vỏ chai thuốc BVTV đều có thể làm sạch, đem tái chế vàtiếp tục đưa vào chứa các sản phẩm thuốc BVTV
Với khả năng như trên, nếu được sự quan tâm đầu tư và hỗ trợ đúngmức, việc tái chế vỏ chai thuốc BVTV sẽ đem lại những lợi ích không nhỏ:tiết kiệm việc sử dụng tài nguyên, tiết kiệm chi phí cho nhà sản xuất, giảmbớt lượng chất thải đem chôn lấp, hạn chế ô nhiễm môi trường, đồng thời tạocông ăn việc làm ổn định cho một số lượng lớn lao động trong ngành sản xuấtkinh doanh mới Tuy nhiên vấn đề cần giải quyết trước mắt là làm sao có thểthu gom chất thải một cách hiệu quả và triệt để
Trang 21CHƯƠNG 3 - CƠ SỞ THỰC HIỆN ĐỀ TÀI 3.1 Hệ thống ký quỹ – hoàn chi (Deposit-refund system)
3.1.1 Khái niệm
“Hệ thống ký quỹ-hoàn chi chỉ là một trong những công cụ kinh tếđược sử dụng để bảo vệ môi trường Những người tiêu dùng phải trả thêm mộtkhoản tiền khi mua các sản phẩm có nhiều khả năng gây ô nhiễm Khi nhữngngười sử dụng hay những người tiêu dùng các sản phẩm ấy, trả bao bì và cácphế thải của chúng cho một trung tâm được phép để tái chế hoặc để thải bỏ,thì khoản tiền ký quỹ của họ sẽ được hoàn chi lại” (GS.TSKH Phạm NgọcĐăng, 2004, trang 146)
3.1.2 Phạm vi áp dụng KQHC
Công cụ này được áp dụng đối với các sản phẩm bền lâu hoặc là có thểsử dụng lại hoặc là không bị tiêu hao, tiêu tán trong quá trình tiêu dùng (nhưbao bì đồ uống, các vỏ chai thuốc BVTV, pin, lốp xe, vỏ chai ) các sản phẩmsau khi sử dụng có khả năng gây ô nhiễm môi trường nhưng có thể xử lý, táichế hoặc tái sử dụng, các sản phẩm làm tăng lượng chất thải, cần các bãichứa chất thải quy mô và tốn nhiều chi phí tiêu hủy, công cụ còn được ápdụng cho các chất có nguy cơ tiềm tàng về phá hủy môi trường như CFC…
3.1.3 Ưu điểm của KQHC
Trên thực tế, công cụ KQHC tỏ ra có hiệu quả hơn là các hệ thống tựnguyện hoàn trả trong việc thu gom chất thải nhờ vào những kíchthích kinh tế
Làm giảm đáng kể lượng chất thải cần xử lý; ngăn chặn sự vứt bỏbất hợp lý và trái pháp luật các chất thải gây ô nhiễm môi trườnglàm ảnh hưởng đến đời sống của sinh vật, con người và mỹ quan;
Trang 22giảm thiểu lượng chất thải phát tán bừa bãi vào môi trường màkhông thể thu gom lại được toàn bộ.
Thúc đẩy quá trình tái sinh, tái sử dụng chất thải vào các mục đích cólợi khác, hoặc quá trình tái chế các dòng phế liệu, từ đó làm giảmtốc độ và số lượng khai thác tài nguyên đồng thời giảm chi phínguyên vật liệu cho các đơn vị sản xuất
Tạo công ăn việc làm cho những người thu gom và tái chế chất thải
Một cách lý thuyết, những hệ thống này là có hiệu quả vì chúngkhông đòi hỏi giám sát và sự can thiệp của các cơ quan nhà nước.Phần lớn việc quản lý thuộc về các khu vực tư nhân, tạo ra động lựckhuyến khích cho các bên thứ ba tham gia vào các dịch vụ thu gom,tái chế hoặc tái sử dụng chất thải
3.1.4 Đánh giá hiệu quả của hệ thống KQHC
Tính hiệu quả của hệ thống KQHC cần xem xét đến các yếu tố là kinhtế (mức ký quỹ-hoàn chi phù hợp) và tỷ lệ chất thải thu gom (chất thải đượcngười tiêu dùng đem trả lại) Để đánh giá tính hiệu quả của chính sách KQHCcó thể dựa vào mức độ thay đổi trạng thái đối ứng của người tiêu dùng trongviệc trả lại sản phẩm sau sử dụng (%QR) theo mức từng ký quỹ-hoàn chi(%DR) Mối tương quan giữa hai yếu tố này được thể hiện qua hệ số co giãn
El (Elasticity), được tính toán theo công thức (Nyasha Kaseke, 2003, trang14):
Trang 23Với QR, QR0 là tỷ lệ chất thải được trả lại tương ứng với mức ký hoàn chi DR, DR0
quỹ-%DR là tỷ lệ biến thiên của mức hoàn chi/ký quỹ và được tính theocông thức:
DR – DR0
%DR =
DR0Với các giá trị DR được tính toán bằng tỷ lệ giữa mức hoàn chi và mứcký quỹ:
R
DR =
DTrong đó: R (Refund) là mức hoàn chi và D (Deposit) là mức ký quỹ,được tính bằng tỷ lệ % theo giá bán sản phẩm
Khi El =0 (xảy ra khi % QR=0): điều này có nghĩa là người tiêu dùngsẽ không đem trả lại chất thải cho dù tỷ lệ ký quỹ-hoàn chi là bao nhiêu Đâylà trường hợp không mong muốn của nhà quản lý, vì như vậy hệ thống KQHCthất bại hoàn toàn (không thực hiện được mục tiêu giải quyết vấn đề môitrường do tỷ lệ thu gom không đạt)
Khi El > 0: nghĩa là có sự trả lại chất thải từ phía người tiêu dùng (QR
≠ 0) Khi đó có hai trường hợp có thể xảy ra:
- 0 < El < 1 (khi % QR < %DR):Điều này có nghĩa là mức độ gia tăng tỷlệ trả lại sản phẩm sau khi sử dụng so với gia tăng tỷ lệ hoàn chi/ký quỹ chưatương ứng Trong trường hợp này, việc sử dụng công cụ KQHC để kích thíchtỷ lệ thu gom chất thải từ vỏ chai thuốc BVTV sau sử dụng gặp nhiều trở ngại
Trên thực tế có thể có nhiều lý do ảnh hưởng nên El chỉ nằm trongkhoảng từ 0 đến dưới 1 Tuy nhiên những người hoạch định chính sách có thể
Trang 24lựa chọn giá trị El lớn nhất có thể đạt được đồng thời có giải pháp điều chỉnhphù hợp trong quá trình thực hiện KQHC.
- El ≥ 1 (khi % QR ≥ % DR):Điều này có nghĩa là mức độ gia tăng tỷ lệtrả lại sản phẩm sau sử dụng nhanh hơn so với gia tăng tỷ lệ hoàn chi / kýquỹ Các cơ quan quản lý thường mong muốn và cố gắng đạt được trạng thái
co giãn này, khi đó việc áp dụng công cụ KQHC cho thấy là ảnh hưởng tốt lêntỷ lệ thu gom phế phẩm, là cơ sở cho việc ra quyết định thực thi công cụKQHC trong tiến trình tìm kiếm giải pháp tái chế vỏ chai thuốc BVTV mộtcách có hiệu quả nhất
Hình 1.3 - Đồ thị thể hiện mối tương quan giữa biến thiên QR và biến
thiên DR( với mức ký quỹ cố định)
3.1.5 Những khó khăn trở ngại và các mục tiêu cần đạt được để thực hiện hệ thống KQHC hiệu quả
a Nếu giá ký quỹ cao, người tiêu dùng có thể không đủ khả năng tài
chính để mua sản phẩm và thực hiện ký quỹ Điều này dẫn đến sức mua thịtrường giảm hoặc người tiêu dùng lựa chọn các sản phẩm thay thế, gây bất lợi
Trang 25cho doanh nghiệp Ngược lại, nếu giá ký quỹ thấp sẽ không đủ kích thích việctrả lại chất thải Người tiêu dùng có thể cảm thấy bất tiện hơn khi phải đemtrả lại các chất thải mà số tiền hoàn chi không đáng kể, do vậy họ có thể chịumất số tiền đã ký quỹ và chất thải vẫn được thải bỏ bừa bãi Như vậy, cầnphải đưa ra giá ký quỹ hợp lý dựa trên khả năng và mức sẵn lòng chi trả củaxã hội, phù hợp với thu nhập của người tiêu dùng, đảm bảo sức mua hàng hóakhông giảm và đảm bảo thu gom hiệu quả các sản phẩm sau sử dụng.
b Các yếu tố về nhận thức, ý thức của nhà sản xuất và người tiêu dùngđối với vấn đề thu gom phế thải chưa cao, chưa hiểu rõ về hệ thống nênkhông muốn tham gia Do vậy, cần làm cho doanh nghiệp và người dân thấyđược sự cần thiết và lợi ích của công cụ KQHC trong việc bảo vệ Môi trườngđể tự nguyện tham gia và thực thi chính sách
c.Khả năng tổ chức, quản lý hệ thống thu gom còn nhiều bất cập Chi phíđể quản lý các chương trình KQHC (Bao gồm các chi phí hành chính, cácphương tiện thu gom, tái chế và thải bỏ) rơi vào khu vực tư nhân Cách đền bùduy nhất là nâng cao giá, tác động đến thị trường cũng như nảy sinh nhiều vấnđề tiêu cực Do đó, để thiết lập phần lớn các hệ thống KQHC, cần phải có các
cơ cấu tổ chức mới để thu gom và điều hành việc tái chế các phế phẩm/ chấtthải, cũng như để quản lý các công việc tài chính; sự thống nhất và thực hiệnđồng bộ từ nhà sản xuất, nhà phân phối, đại lý bán lẻ và người tiêu dùng Bêncạnh đó, cần có sự ràng buộc đối với các đối tượng trên Cũng phải yêu cầucác cơ quan có thẩm quyền cấp quốc gia và địa phương thiết lập nên hệ thốngnày
d Việc phải trả lại tiền cho các chất ô nhiễm được trả lại, rất có khả năngtạo ra sự khuyến khích đối với việc làm hàng giả nếu như không có các biệnpháp chế tài, kiểm soát chặt chẽ Bên cạnh đó, vấn đề về công nghệ tái chếcũng ảnh hưởng không nhỏ tới sự hoạt động và thành công của hệ thống Vì
Trang 26vậy, cần có các chính sách hổ trợ đảm bảo hệ thống hoạt động hiệu quả, chặtchẽ, liên tục tránh ngưng đọng.
3.1.6 Các ví dụ về áp dụng KQHC cho thế giới
[ GS.TS Trần hiếu Nhuệ; TS Ứng Quốc Dũng và TS Nguyễn Thị Kim Thái (2001) Quản lý chất thải rắn- Tập 1: Chất thải rắn đô thị NXB Xây dựng Trang 172- 173]
Đối với các chai đựng đồ uống, ở Mỹ đã thực hiện ký quỹ bắt buộc đốivới các bao bì nước giải khác và bia tại 10 bang Các bang áp dụng hệ thốngKQHC này ( còn gọi là ký quỹ chai) báo cáo rằng 80 – 95 % các bao bì kýquỹ đã được tự nguyện hoàn trả để tái chế (Moore và cộng sự, 1989) Ở ĐanMạch, bộ trưởng Môi trường đã ban hành một lệnh bắt buộc, người dùng phảinạp tiền ký quỹ đối với các chai bia và nước ngọt có thể tái sử dụng được chophép bán Ở Phần Lan, các hệ thống KQHC đối với bao bì đồ uống rất thànhcông với khoảng 90% số bao bì được hoàn trả lại Ở Thụy Điển, việc tăng tiềnký quỹ các can bia nhôm gấp đôi, đã làm tăng tỷ lệ can được trả lại từ 70%lên hơn 80% ( OECD, 1989)
Ngoài các hệ thống KQHC áp dụng cho bao bì đồ uống ra, KQHC còntỏ ra có hiệu quả trong tái chế các ắc quy ô tô và mô tô VD: Hệ thống KQHCáp dụng đối với vỏ thân các ô tô con và mini bus cửa lùa được thực hiện ở Na
Uy năm 1978 Theo hệ thống này, người mua xe mới phải trả một khoản tiềnký quỹ Khi xe không còn dùng được nữa và đưa trả về địa điểm khôi phụcchính thức, thì một số tiền lớn hơn sẽ được hoàn chi Mục tiêu của chươngtrình này là giảm bớt số lượng xe bị vứt bỏ ngoài trời, và khuyến khích sửdụng lại vật liệu Số xe được trả lại chiếm khoảng 90-99% Tiền thu nhậpđược dùng để tài trợ cho việc thu gom, vận chuyển và các phương tiện để đậpvụn
Trang 27Tại Mỹ, hệ thống ký quỹ bắt buộc đối với các ắc quy ô tô được quyđịnh thành luật chung của đảo Rhode và được coi là thành công Mỗi ắc quyđược bán hoặc chào bán phải ký quỹ 5USD vào lúc bán Khoản tiền ký quỹnày sẽ được miễn trả, nếu một ắc quy ô tô đã dùng rồi được trả lại cho cửahàng vào lúc mua; hoặc nếu như chiếc ắc quy cũ được trả lại trong vòng bảyngày kể từ khi mua mới thì tiền ký quỹ cũng sẽ được trả lại Khoản tiền kýquỹ được cửa hàng lưu giữ trong một tài khoản riêng và phải trả lại cho nhànước 80% khoản tiền giữ này vào tháng bảy ( Anderson et al 1989).
Về các bao bì thuốc trừ sâu, bang Maine đã ban hành một luật yêu cầucó một hệ thống ký quỹ đối với các bao bì thuốc trừ sâu cần sử dụng hạn chếvà có kiểm soát chặt chẽ Luật này yêu cầu phải súc rửa các bao bì này ba lầnhoặc phù hợp với yêu cầu của ban kiểm soát thuốc trừ sâu bang Maine, và tạo
ra sự kích thích thông qua hệ thống ký quỹ đối với các bao bì súc rửa được trảlại Bao bì của các loại thuốc trừ sâu và hóa chất BVTV bị hạn chế sử dụnghoặc sử dụng có kiểm soát, cần phải được dán tem do bang này cung cấp Phíký quỹ là 5USD đối với các bao bì có dung tích nhỏ hơn 120 lít và 10USD đốivới dung tích 120 lít trở lên Quy định này được áp dụng đối với tất cả các bao
bì thuốc trừ sâu có công dụng hạn chế và kiềm chế, được bán, đổi hàng, haytrao đổi trong phạm vi bang cũng như được dùng trong bang Những thươnggia thuốc trừ sâu thu phí ký quỹ vào lúc mua; bang sẽ thu tiền ký quỹ của cácbao bì ngoài bang Tiền ký quỹ sẽ được hoàn chi cho chủ khi trả lại các bao bìđã được súc rửa ba lần Kể từ khi thông qua luật này, khoảng 13.000 bao bì đãđược trả lại (Anderson et al ,1989) Tuy nhiên việc súc rửa nếu không kiểmsoát chặt chẽ, có khả năng gây nguy hại gấp nhiều lần
3.2 Phương pháp đánh giá ngẫu nhiên ( CVM – Contingent valuation method) về sự sẵn lòng chi trả ( WTP- Willingness to pay)
Trang 28[Ecosystem Valuation 2007 Methods-Section 6: Contingent Valuationmethods-part 1&2: Overview and Application of the Contingent Valuationmethod ( Các phương pháp-Phần 6: Phương pháp đánh giá ngẫu nhiên-Mục1&2 : Tổng quan và áp dụng phương pháp đánh giá ngẫu nhiên]
3.2.1 Lý do lựa chọn CVM và xác định mức KQHC dựa trên WTP của người tiêu dùng
Các chính sách quản lý bằng công cụ kinh tế thường mang lại tính mềmdẻo Cụ thể KQHC mang tính khuyến khích hơn là cưỡng chế Do vậy, muốnKQHC đạt hiệu quả cao thì cần khảo sát nhu cầu của người dân để có thể đưa
ra những chính sách phù hợp, từ đó người dân mới tự nguyện tham gia thựcthi Một trong những vấn đề quan trọng khi xây dựng KQHC đó là việc đưa ramức giá ký quỹ và tỷ lệ hoàn chi trong tổng mức ký quỹ như thế nào cho phùhợp Đây là một vấn đề khó khăn và phức tạp vì vừa phải đảm bảo khả năngchi trả của người dân, vừa tạo sự kích thích kinh tế để họ trả lại chất thải,cũng như đáp ứng được một phần chi phí cho việc xây dựng và duy trì hệthống( với Việt Nam là một nước đang phát triển, nguồn ngân sách hạn chếthì việc người dân cùng tham gia đóng góp với chính phủ là cần thiết và cóthể chấp nhận) Trong trường hợp này, xây dựng chính sách dựa trên WTPcủa người dân là giải pháp khả thi
Mặt khác, trong mỗi cá nhân chứa đựng những yếu tố, đặc tính khácnhau nên WTP cho kiểm soát ô nhiễm môi trường của mỗi người cũng khácnhau Vì vậy, cần tiến hành điều tra thực địa lấy ý kiến người tiêu dùng đểtìm cho ra mức sẵn lòng chi trả phù hợp khi thực hiện KQHC trên sản phẩmchai thuốc BVTV
Có nhiều phương pháp để xác định WTP của người dân, trong đó sửdụng phổ biến nhất là CVM Phương pháp này tập trung vào việc điều tra –tham khảo ý kiến một số các đối tượng sử dụng hoặc thụ hưởng môi trường về
Trang 29khoản tiền tối đa họ sẵn lòng chi trả cho việc soát ô nhiễm, bảo vệ môi trườnghoặc một dịch vụ môi trường đặc biệt nào đó
CVM là một tiến trình tương đối phức tạp tốn nhiều thời gian và kinhphí Để thu thập được những thông tin bổ ích và có kết quả cao, việc đều traphải thiết kế, thử nghiệm và tiến hành một cách nghiêm túc Những câu hỏiđiều tra phải xoay quanh lĩnh vực môi trường cần hỏi để người dân có thểhiểu một cách rõ ràng Đặc biệt trong trường hợp đang nghiên cứu phải làmcho người dân nhận thức được ý nghĩa cũng như hiệu quả của KQHC để họđưa ra WTP phù hợp Từ đó tính được WTP với độ chính xác cao
Nghiên cứu này tập trung vào ảnh hưởng của mức sẵn lòng chi trả haymức thiệt hại mà người sử dụng phải chấp nhận khi quyết định tham gia hệthống KQHC, mức ký quỹ tối đa theo giá bán sản phẩm sao cho vỏ chai thuốcBVTV sau sử dụng được trả lại với tỷ lệ cao nhất
Một nghiên cứu ngẫu nhiên để đạt được kết quả tốt thì phải tiến hànhcác bước sau:
Bước 1: Xác định chính xác các vấn đề môi trường cần đánh giá Trongđề tài “ Nghiên cứu tính khả thi đối với việc áp dụng công cụ KQHC trên bao
bì thuốc BVTV" thì vấn đề môi trường được quan tâm là hiện trạng thải bỏ vàxử lý vỏ chai thuốc BVTV không phù hợp, các công cụ quản lý chưa hiệu quả.Thực trạng này dẫn đến hậu quả thu gom chất thải thấp; quỹ đất hạn hẹp chohoạt động chôn lấp trong khi lượng chất thải nhiều lại có khả năng tái sinh táichế, gây lãng phí tài nguyên và tốn nhiều chi phí; chất thải vứt bừa bãi tácđộng đến môi trường sống và sức khỏe người dân
Bước 2: Xác định phương pháp điều tra sẽ được sử dụng trong nghiêncứu
Trang 30Có ba phương pháp điều tra được sử dụng hiện nay: bằng thư từ (kể cả mail), bằng điện thoại hay bằng phỏng vấn trực tiếp Ba phương pháp điều tratrên đều sử dụng phiếu điều tra gồm các câu hỏi trắc nghiệm để thu thậpthông tin Trong đó, mẫu điều tra cần được xem xét kỹ số lượng, nội dung câuhỏi có liên quan và đối tượng nào sẽ được phỏng vấn.
e-Khóa luận này đã áp dụng thực hiện phương pháp điều tra trực tiếp(phỏng vấn)
Bước 3: Xây dựng bảng câu hỏi điều tra (questionaire)
Khi xây dựng bảng câu hỏi điều tra, cần xem xét người dân đánh giá như thếnào về hiện trạng quản lý chất thải (vỏ chai thuốc BVTV), mức độ quan tâmcủa họ đến vấn đề bảo vệ môi trường; xem xét hiện trạng kinh tế xã hội củaLong An để đề nghị những mức giá KQHC khác nhau cho người tiêu dùng lựachọn; và xem xét những lý do có thể tác động đến sự tham gia hệ thốngKQHC của họ
Xây dựng bảng câu hỏi điều tra gồm những câu hỏi trắc nghiệm Cáccâu hỏi đặt ra phải hợp lý và có hiệu lực để dễ nhận được sự chấp thuận từngười được phỏng vấn Bảng câu hỏi phải ngắn gọn (thông thường phỏng vấntrong khoảng 10-30 phút) nhưng phải đủ ý và giúp điều tra viên dễ dàng điềutra chẳng hạn như các thông tin của người tiêu dùng, giá bán của các loạithuốc BVTV tại thời điểm hiện tại, mức sẵn lòng chi trả để chai thuốc đượcthu gom và xử lý tốt …
Bước 4: Tiến hành điều tra trong nghiên cứu này, mẫu điều tra lànhững người tiêu dùng và đại lý bán thuốc BVTV không kể lứa tuổi, trình độhọc vấn … (nghĩa là mẫu được thu thập ngẫu nhiên)
Bước 5: Biên soạn, phân tích dữ liệu và báo cáo kết quả
Các thông tin thu thập được cập nhật, thống kê và xử lý bằng phầnmềm excel Sau đó đưa ra những phân tích đánh giá và trình bày kết quả đạt
Trang 31được là WTP của người tiêu dùng khi thực hiện KQHC đối với vỏ chai thuốcBVTV
3.3 Mối tương quan giữa các yếu tố ảnh hưởng lên tỷ lệ chất thải vỏ chai thuốc BVTV trả lại (quantity returned)
Hệ thống KQHC được xem là hiệu quả khi đảm bảo các yếu tố kinh tế(mức giá ký quỹ vừa phải, chi phí thực hiện thấp), nhưng quan trọng hơn làđảm bảo tỷ lệ thu gom cao thông qua việc trả lại chất thải của người dân(trong trường hợp đang nghiên cứu là vỏ chai thuốc BVTV sau sử dụng) Tỷ lệvỏ chai thuốc BVTV được trả lại này tùy thuộc vào nhiều yếu tố
3.3.1 Mức sẵn lòng chi trả WTP
WTP là mức tối đa mà người tiêu dùng sẵn lòng chi trả cho một hoạtđộng, sản phẩm hoặc dịch vụ nào đó có liên quan, chi trả tối đa của cộngđồng hoặc đối tượng có liên quan, chi trả cho sản phẩm hoặc dịch vụ môitrường để đảm bảo môi trường ngày càng tốt hơn
Khái niệm về mức sẵn lòng chi trả WTP trong trường hợp nghiên cứu baogồm hai trạng thái:
1/ WTP1: Phần giá trị bằng tiền mà người sử dụng sản phẩm thuốc BVTVphải chịu thiệt hại để góp phần thực hiện và duy trì hệ thống KQHC và hoạtđộng tái chế vỏ chai thuốc BVTV, được tính theo công thức:
WTP1 = P * (1-DR)Trong đó: P là giá bán sản phẩm (price), được tính bằng đơn vị tiền tệ(cụ thể trong nghiên cứu này đơn vị tính là VND)
2/ WTP2: là giá trị ký quỹ sản phẩm khi mua, được tính theo công thức:
WTP2 = P * DCó thể nhận thấy rằng WTP1 thấp (nghĩa là người tiêu dùng sẽ nhậnđược số tiền ký quỹ hoặc tỷ lệ DR cao) thì sẽ tạo ra sự kích thích cho việc trả
Trang 32lại sản phẩm sau sử dụng nhiều hơn Đồng thời, WTP2 càng thấp thì càng giatăng sự chấp nhận của người tiêu dùng đối với KQHC.
Khi cố định một trong hai trạng thái của WTP, mối tương quan giữa tỷlệ chất thải trả lại (QR) và mức sẵn lòng chi trả của người sử dụng thuốcBVTV vẫn không thay đổi
3.3.1.1 Độ tuổi
Mỗi lứa tuổi, đặc biệt là những thế hệ khác nhau thì có quan niệm,cách sống cũng như thu nhập và nhu cầu tiêu dùng khác nhau Tuy nhiên,người lớn tuổi cũng như người trẻ tuổi vẫn sẵn lòng tham gia với mức WTP2cao do mong muốn có một môi trường sống an toàn, sạch đẹp và không bị ônhiễm Như vậy ta có thể xem như độ tuổi ko ảnh hưởng đến WTP của ngườidân trong trường hợp này
3.3.1.2 Thu nhập
Thu nhập được hiểu là thu nhập bình quân của từng người và nó phảnánh mức sống của người đó trong xã hội Thông thường người có thu nhập caosẽ có WTP càng cao và ngược lại
Tuy nhiên những người thu nhập cao thường sử dụng những mặt hàngcó giá bán cao, nếu cùng tỷ lệ ký quỹ (% giá sản phẩm) như những người cóthu nhập thấp thì số tiền họ phải ký quỹ cao hơn nhiều, do vậy họ chỉ lựa chọnWTP2 ở mức trung bình Mặt khác những người có thu nhập thấp có thể chấpnhận WTP2 cao và WTP1 thấp để hạn chế phần mất đi trong khoản tiền kýquỹ
3.3.1.3 Giá bán sản phẩm
Cùng tỷ lệ ký quỹ (% giá sản phẩm), những loại thuốc BVTV có giábán cao hơn sẽ dẫn đến số tiền ký quỹ ban đầu cao hơn Do vậy, giá bán sảnphẩm gần như tỷ lệ nghịch với WTP2 của người tiêu dùng, nghĩa là giá báncàng cao thì người tiêu dùng có WTP2 thấp (do lựa chọn D thấp) và chấp nhận
Trang 33WTP1 cao Tuy nhiên, điều này không có nghĩa điều này ngược lại, là giá báncàng thấp thì WTP2 càng cao Một số người sẵn lòng chấp nhận WTP1 cao nếuhọ đã lựa chọn mua sản phẩm có giá bán thấp và WTP2 áp dụng tương ứng làthấp Lý do là tâm lý người dân không muốn bỏ ra một khoản tiền lớn hơnnhiều so với giá trị mà họ sử dụng, ngoài ra còn tùy thuộc vào thu nhập củatừng người.
3.3.1.4 Loại thuốc BVTV sử dụng
Đây là yếu tố có ảnh hưởng gián tiếp đến WTP của người tiêu dùng, donó tác động đến giá bán sản phẩm Mỗi loại sâu bệnh khác nhau thì sử dụngnhững loại thuốc BVTV có đặc tính khác nhau với các giá bán khác nhau, dẫnđến WTP cũng khác nhau
Bên cạnh đó một số ít người không hiểu rõ về tính độc hại của thuốcBVTV đến sức khỏe của con người và môi trường sống nên họ nghĩ khôngcần thiết phải thực hiện KQHC
3.3.1.5 Cách thức thải bỏ vỏ chai thuốc BVTV
Thông thường các vỏ chai thuốc BVTV sau khi sử dụng xong, chúngđược người sử dụng thu gom và đem bán Đối với những vỏ chai không bánđược thì họ tự thiêu hủy, đem chôn hoặc vứt bỏ tại ruộng
Trong những yếu tố trên thì hai yếu tố thu nhập và giá bán sản phẩm làcó ảnh hưởng quan trọng nhất đến việc lựa chọn WTP của người sử dụng
Mặt khác, trong nghiên cứu này bảng câu hỏi được thiết kế với WTP1và WTP2 tỉ lệ nghịch với nhau, nghĩa là WTP1 thấp thì WTP2 cao và ngược lại.Mục tiêu của việc thiết lập tỉ lệ DR như vậy nhằm khống chế xu hướng lựachọn những gì có lợi hơn cho người tiêu dùng mà không quan tâm đến lợi íchcộng đồng
3.3.2 Trình độ