Ớ Việt Nam, kỹthuật này cũng đã được TS Hoàng Văn Phụ - Đại học Thái Nguyên- nghiêncứu từ năm 2005 cũng cho kết quả năng suất cao hơn đổi chứng từ 45% -60%.Tuy nhiên, việc áp dụng tiến b
Trang 1BỌGIAO DỤC VA ĐAO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TÉ CỦA TIẾN BỘ
KỸ THUẬT THÂM CANH LÚA SRI TẠI XÃ ĐỨC GIANG,
HUYỆN YÊN DŨNG, TỈNH BẮC GIANG
Chuyên ngành đào tạo
Lóp
Niên khóa
Giáo viên hưóng dẫn
: Kỉnh tế nông nghiệp : KT 50C :2006 - 2009 : GS.TS PHẠM VÂN ĐÌNH
HÀ NỘI, 2009
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xỉn cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu của tôi số liệu và kết quả nghiên cứu là trung thực và chưa từng được sử dụng trong bất cứ luận văn, luận án nào.
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đểu đã được cám ơn và các thông tin trích dân trong luận văn đều được chỉ
Trang 2Tôi xin chân thành cảm ơn toàn thể cán bộ công nhân viên công tyTNHH thuốc thú y Việt Nam, đặc biệt là các nhân viên phòng kinh doanh -thị trường, phòng kế toán, phòng hành chính đã giúp đỡ nhiệt tình trong thờigian tôi thực tập tại công ty.
Ngụy Thị Ngọc Lan
Trang 3MUC LUC• •
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC BẢNG vi
DANH MỤC BIỂU ĐỒ vii
1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Sự cần thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.2.1 Mục tiêu chung .3
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
iii
Trang 43.1 Đặc điếm tự nhiên, kinh tế - xã hội xã Đức Giang, huyện Yên Dũng 24
3.1.1 Đặ
c điểm tụ' nhiên 24
3.1.2 Đặ
c điểm về kinh tế, xã hội 24
3.2 Phương pháp nghiên cứu 30
chương trình áp dụng
TBKT thâm canh lúa SRI
Trang 54.4.1 Những MẶT đạt được 69
4.4.2 Những mặt còn hạn chế 70
4.5 Một số biện pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế 71
V
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Một số kết quả thử nghiệm SRI ở các nước 18
Bảng 3.1: Tình hình phân bố và sử dụng đất đai xã Đức Giang 26
Bảng 3.2: Tình hình dân số và lao động của xã qua 4 năm (2005-2008) 27
Bảng 3.3: Cơ sở hạ tầng của xã năm 2007 29
Bảng 3.4: Ket quả sản xuất kinh doanh của xã tù’ năm 2005 - 2007 31
Bảng 4.1: Diện tích thực hiện của các xã trong dự án 38
Bảng 4.2: Diện tích thực hiện của các xã ngoài vùng dự án 39
Bảng 4.3: So sánh diện tích, năng suất, sản lượng của các vụ lúa qua 3 năm tại xã Đức Giang 40
Bảng 4.4: Cơ cấu các nhóm hộ điều tra 42
Trang 7DANH MỤC BIEU ĐO
Biếu đồ 1: Thực trạng sử dụng giống lúa ở các nhóm hộ năm 2008 46Biểu đồ 2: Cơ cấu sử dụng lao động của các nhóm hộ 55
Trang 81 MỞ ĐẦU
1.1 Sự cần thiết của đề tài
Trên thế giới, cây lúa nước được 250 triệu nông dân trồng, là lươngthực chính của 1,3 tỉ người nghèo nhất trên thế giới, là sinh kế chủ yếu củanông dân Là nguồn cung cấp năng lượng lớn nhất cho con người, bình quân
180 - 200 kg gạo/ người/ năm tại các nước châu Á , khoảng 10 kg/ người/năm tại các nước châu Mỹ (http://caylua.vn/01/01_vaitroluagao.htm) Ớ ViệtNam, lúa cũng là một cây trồng chiến lược trong nền kinh tế quốc dân vàtrong nông nghiệp nói riêng, sản lượng lúa không ngừng tăng lên hàng năm(năm 1990 là 19,224 triệu tấn, năm 1995 là 24,963 triệu tấn, năm 2000 là32,529 triệu tấn, năm 2005 là 35,79 triệu tấn, năm 2007 là 37 triệu tấn) (www mofa gov.vn)
Lúa gạo là sản phẩm không thể thiếu trong nhu cầu cuộc sống của conngười Nó là lương thực chính nuôi sống con người Sản phẩm thóc gạo còn lànguồn thức ăn cho chăn nuôi Sản phấm phụ của cây lúa như rơm rạ còn được
sử dụng để sản xuất nấm, làm phân bón Đối với một số nước đang phát triểnthì lúa gạo còn là nguồn thu ngoại tệ lớn nhờ xuất khâu Tại Việt Nam, Theotổng kết của Xuân Bách, báo Nhân dân sổ ngày 2/8/2007, trong sáu tháng đầunăm 2007, xuất khẩu gạo của Việt Nam đạt hơn 2,3 triệu tấn, kim ngạch 731triệu USD
Tuy nhiên hiện nay thế giới đang phải đổi mặt với vấn đề thiếu đất chosản xuất nông nghiệp do chuyển đổi diện tích đất sản xuất nông nghiệp chocác mục đích khác Theo dự đoán của FAO trong vài thập kỷ tới, thế giới có
Trang 9cây (gọi tăt là SR1 - System of Rice intensiíìcation) đang là một hướng đi mới
trong sản xuất lúa Biện pháp này có kỹ thuật đơn giản, dễ làm, tiết kiệmgiống, nước tưới, công và thuốc bảo vệ thực vật, làm tăng năng suất câytrồng, tăng chất lượng và đạt hiệu quả kinh tế Trên thế giới, đã có nhiều nước
áp dụng kỹ thuật này (Madagasca, Indonesia, Campuchia, Srilanka ) đềucho năng suất lúa cao hơn từ 30% - 150% so với đối chứng Ớ Việt Nam, kỹthuật này cũng đã được TS Hoàng Văn Phụ - Đại học Thái Nguyên- nghiêncứu từ năm 2005 cũng cho kết quả năng suất cao hơn đổi chứng từ 45% -60%.Tuy nhiên, việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất cònnhiều hạn chế như các mô hình điếm, mô hình trình diễn còn nhỏ lẻ, manhmún, tâm lý e ngại, sợ thua lỗ của người nông dân khiến cho kỹ thuật mới nàychưa phát huy được hết tính ưu việt của nó Mặt khác, trong điều kiện diễnbiến thời tiết ngày càng trở nên khó dự đoán thì việc áp dụng tiến bộ kỹ thuậtnhằm tăng khả năng chịu đựng của cây trồng là việc làm rất cần thiết
Đe thực hiện Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về “Chương trìnhxây dựng mô hình ứng dụng và chuyến giao khoa học & công nghệ phục vụphát triến kinh tế xã hội miền núi tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2005 - 2010”, tỉnhBắc Giang đã tiến hành chuyến giao kỹ thuật tiến bộ trên toàn tỉnh Là mộthuyện miền núi nằm ở phía Đông Nam của tỉnh Bắc Giang, Yên Dũng đã mạnh
dạn áp dụng các kỹ thuật tiến bộ mới vào sản xuất Với thế mạnh là huyện códiện tích sản xuất lúa lớn nhất tỉnh, đất đai màu mỡ cùng với những điều kiệnthuận lợi về vị trí địa lý, giao thông, thuỷ lợi Yên Dũng đã tiến hành thửnghiệm kỹ thuật cấy lúa mới SR1 tại một sổ xã Đức Giang, Nham Sơn, XuânPhú, Quỳnh Sơn, Tiến Dũng và thu được những kết quả đáng mừng : năngsuất lúa trung bình của vùng dự án đạt 69,4 tạ/ha, tăng 13,9 tạ/ha so với cấytheo phương pháp thông thường Đặc biệt, lãi thuần rất cao, đạt trên 14,6 triệuđồng/ha, gấp 1,7 lần kỹ thuật cấy thông thường, tạo cơ sở nhân rộng mô hình
2
Trang 10không cao khiến người dân chưa hoàn toàn tin tưởng, ruộng và hệ thống tưới
tiêu nước của nhiều hộ không đáp ứng được yêu cầu của kỹ thuật SRI nênkhông được áp dụng, năng suất lúa cao nhưng giá trị sản xuất lại thấp Tại sao
lại như vậy? Liệu kỹ thuật SRI có mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn kỹ thuậttruyền thống tại địa phương không? Người dân đã thực hiện đúng qui trình kỹthuật được hướng dẫn chưa? Việc áp dụng kỹ thuật này trong thực tế có nhữngkhó khăn nào? Có thế làm gì đế khắc phục điều này? Việc áp dụng kỹ thuậtSRI có ảnh hưởng gì đến cuộc sống của người dân tại địa phương không? Đánh
giá hiệu quả kinh tế của kỹ thuật SRI sẽ giúp cho người nông dân có cơ sở đếphân tích và đánh giá được hiệu quả mà kỹ thuật SR1 đem lại, làm cơ sở đế lựa
chọn kỹ thuật phù hợp nhất trong sản xuất Hiện nay trên thế giới và Việt Nam
đã có nhiều công trình nghiên cứu về SRI nhưng chưa có công trình nào nghiên
cứu về hiệu quả kinh tế của SRI Từ những lý do trên em đã tiến hành chọn
nghiên cứu đề tài: “Đánh giá hiệu quả kinh tế của tiến bộ kỹ thuật thâm canh
lúa SRI tại xã Đức Giang, huyện Yên Dũng, tính Bắc Giang”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Đánh giá hiệu quả kinh tế của tiến bộ kỹ thuật SRI trong trồng lúa từ đólàm cơ sở đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế ứng dụng kỹ thuật SRItại xã Đức Giang, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
Trang 111.3 Đối tượng nghiên cứu
- Nghiên cứu các vấn đề kinh tế, kỹ thuật có liên quan đến hiệu quảkinh tế của việc áp dụng tiến bộ kỹ thuật SRI trong trồng lúa
- Đối tuợng trực tiếp là hộ nông dân thuộc chuơng trình áp dụng tiến bộ
kỹ thuật SRI tại xã Đức Giang, huyện Yên Dũng, Tỉnh Bắc Giang
1.4 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về nội dung
Đánh giá hiệu quả kinh tế của kỹ thuật thâm canh lúa tống họp SRI Từ
4
Trang 122 MỘT SÓ VẤN ĐÈ LÝ LUẬN VÀ THỤC TIỄN VÈ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TÉ CỦA TIẾN BỘ KỸ THUẬT
THÂM CANH LỦA SRI
2.1 Cơ sỏ’ lý luận
2. ĩ 1 Thâm canh
2.1.1.1 Khái niệm thâm canh
Để tăng sản lượng nông nghiệp, có thế tiến hành theo 2 phương thức:quảng canh hoặc thâm canh Các Mác nói: “Tái sản xuất mở rộng được thựchiện quảng canh nếu chỉ mở rộng diện tích ruộng đất và thâm canh nếu chỉ sửdụng hiệu quả hơn các tư liệu sản xuất” (Các Mác và Ảngghen: Toàn tập tập
24 - Nhà xuất bản Tiến bộ Matxcơva năm 1981)
Như vậy quảng canh là phương thức sản xuất nhằm tăng thêm sảnlượng nông nghiệp bằng cách mở rộng diện tích đất đai với cơ sở vật chấtthấp kém, trình độ kỹ thuật lạc hậu, chủ yếu dựa vào việc sử dụng độ phìnhiêu tự nhiên của đất Ngược lại, thâm canh là phương thức sản xuất tiêntiến nhằm tăng sản phâm nông nghiệp bằng cách nâng cao độ phì nhiêu kinh
tế của ruộng đất, thông qua việc đầu tư thêm vốn và kỹ thuật mới vào sản xuấtnông nghiệp Thâm canh đã và đang dần thay thế cho phương thức quảngcanh do nhu cầu về lượng nông sản ngày càng tăng trong khi đó khả năng mởrộng diện tích bị thu dần và diện tích đang sản xuất ngày càng bị thu hẹp donhiều nguyên nhân, con người phải chuyến sang nâng cao chất lượng canh tácthông qua đầu tư thêm lao động và vật tư đế tăng sản lượng sản phẩm trênmột đơn vị diện tích Lênin cũng đã chỉ ra rằng: “ Hiện tượng nông nghiệp
Trang 13Thâm canh nông nghiệp là quá trình kinh tế rất đa dạng và phong phúđặc biệt trong điều kiện sản xuất hiện đại, thâm canh ngày càng được phát triến
theo chiều sâu với hiệu quả kinh tế lớn Vì vậy hiểu và vận dụng đúng đắn vấn
đề thâm canh nông nghiệp có ý nghĩa hết sức to lớn cả về lý luận cũng nhưthực tiễn
2.1.1.2 Vị trí, vai trò của thâm canh trong phát triến nông nghiệp
Ngày nay thâm canh càng trở nên quan trọng đổi với mỗi quốc gia.Chúng ta có: sản lượng = diện tích * năng suất
Đế sản lượng tăng thì phải tăng năng suất và diện tích Sự phát triểncủa quá trình công nghiệp hoá và đô thị hoá đã khiến cho diện tích đất sảnxuất nông nghiệp Theo thống kê của Bộ Tài nguyên - Môi trường cho thấy,
từ 2001 - 2005, tống diện tích đất nông nghiệp đã bị thu hồi chuyến sang đấtphi nông nghiệp tới trên 366.000ha, bình quân mồi năm diện tích đất nôngnghiệp bị thu hồi trên 73.000ha
http://www.cpv.org vn/print_preview.asp?id=BT2840861230) Bên cạnh đó
là sự gia tăng không ngừng về dân số Do vậy vấn đề tăng năng suất trở nêncần thiết hơn bao giò' hết Thâm canh sẽ giúp giải quyết vấn đề này
2.1.1.3 Chủ chương chính sách của Đảng và Nhà nước ta về thâm canh nông nghiệp
Đảng và Nhà nước ta rất coi trọng dến thâm canh nông nghiệp Đảng tacho rằng: Thâm canh là đường lối cơ bản và lâu dài để phát triển sản xuất
6
Trang 14Trên cơ sở phân tích những sai lầm và thiếu sót trong chỉ đạo sản xuấtnông nghiệp nói chung và trong thâm canh nói riêng, Nghị quyết Trung ươngĐảng lần thứ VI (khoá IV) đã chỉ rõ: “Bảo đảm cho nông nghiệp, kể cả lâmnghiệp ngư nghiệp thật sự là mặt trận hàng đầu, được ưu tiên đáp ứng yêu cầu
về vốn đầu tư, về năng lượng, vật tư và lao động kỹ thuật, tập trung trước hếtvào những vùng trọng điểm nhằm đạt hiệu quả kinh tế cao” (văn kiện đại hộiđại biểu toàn quốc lần thứ VI Nhà xuất bản Sự Thật Hà Nội 1987) Đồng thời
từ thực trạng nông nghiệp, nông thôn nước ta qua những năm đổi mới Đảng ta
đã có quan điểm, phương hướng và có giải pháp cụ thế đó là: " Đẩy mạnh ứngdụng tiến bộ kỹ thuật và công nghệ mới nhất là công nghệ sinh học để nâng cao
năng suất, tăng chất lượng sản phẩm, hạ giá thành, nâng cao hiệu quả kinhdoanh, tăng sức cạnh tranh trên thị trường trong và ngoài nước " và " tập trungthâm canh kết hợp mở rộng diện tích " (Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 BCHTrung ương Đảng khoá VII Báo Nhân dân ngày 1/7/1993) Và từ năm 1993phải hướng vào một sổ chủ trương đối mới " Phát triển mạnh về lúa đi mạnh
vào thâm canh tăng năng suất, hạ giá thành sản phẩm, không phát triển sản xuất
oẻ những nơi kém hiệu quả và có hại xấu đến môi trường " (Nguyễn Công Tạn:
Chuyển mạnh sản xuất Nông nghiệp hàng hoá theo cơ chế thị trường Tạp chíQuản lý kinh tế nông nghiệp tháng 3+4 năm 1993) Trong những năm gần đây,
nhất là tù' Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị ra đời (5/11/1988) về đôi mới quản
lý kinh tế nông nghiệp, kinh tế hộ nông dân giữ một vị trí xứng đáng trong nền
kinh tế quốc dân đã mở ra cho nông nghiệp một bước phát triển mới tạo ra cho
người nông dân cơ hội phát triển trong điều kiện người nông dân được làm ăn
Trang 15mang lại hiệu quả kinh tế cao trong ngành nông nghiệp thu nhập của các hộ
không ngừng tăng lên
Đại hội Đảng lần thứ 9 đã xác định vị trí của nông nghiệp hơn bao giờ hết
nông nghiệp phải trở thành mặt trận hàng đầu từng buớc vững chắc đưa nôngnghiệp đi lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, phát triển nông nghiệp lấy thâm canh
làm nền tảng Muốn phát triển nông nghiệp phải phát triển thêm một số ngànhcông nghiệp đặc biệt là công nghiệp chế biến, tạo điều kiện đưa hàng loạt các lĩnh
vực khoa học kỹ thuật vào sản xuất “ Nông nghiệp phải được ưu tiên đáp ứngnhững nhu cầu về đầu tư xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật ,về vật tư lao động kỹ
thuật mở rộng và hoàn thiện các hệt thống thuỷ lợi ứng dụng các thành tựukhoa học kỹ thuật, đặc biệt là công nghệ sinh học đưa vào phổ biến , ổn định các
loại giống mới đáp ứng đầy đủ và kịp thời nhu cầu về phân bón ,thuốc trù’ sâu tăng
thêm sức kéo, đảm bảo đầy đủ công cụ thường, công cụ cải tiến thực hiện từng
bước và có trọng điểm cơ giới hoá " (Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ IX)
Trong sản xuất nông nghiệp trình độ thâm canh phải không ngừng đượcnâng cao bên cạnh đó là phải khai hoang, mở rộng diện tích tăng vụ và tiếnhành thâm canh tăng năng suất trên mảnh đất vừa khai hoang nó là vấn đề vừa
Trang 16chất lượng lúa bằng cách nâng cao độ phì nhiêu kinh tế của ruộng đất, thông
qua việc đầu tư thêm vốn và kỹ thuật mới vào sản xuất nông nghiệp
* Đặc điếm thâm canh ỉủa ở Việt Nam
Việt Nam là một nước nông nghiệp, sản xuất lúa chiếm phần lớn tỷtrọng trong nền kinh tế quốc dân Nhưng do chiến tranh kéo dài, xuất phátđiểm thấp nên nền sản xuất nông nghiệp của Việt Nam vẫn còn lạc hậu, manhmún vì vậy thâm canh lúa của Việt Nam có những điếm khác biệt so vớinhững nước khác trên thế giới Đặc biệt, từ sau khi thực hiện Nghị quyết 10của Bộ chính trị (5/11/1988) về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp sản xuấtlúa của nước ta đã có những thay đối đáng mừng Năng suất không ngừngtăng lên Thâm canh lúa cũng có nhiều điếm khác biệt so với trước đây:
- Hộ nông dân tù' chỗ lệ thuộc chuyến sang làm chủ tù’ sản xuất đến tiêu
thụ sản phẩm; từ sản xuất tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hóa nên nông dânyên tâm đầu tư thâm canh và thâm canh có hiệu quả trên ruộng đất của mình
Họ tự quết định và định đoạt về kết quả và hiệu quả sản xuất do họ làm ra Tuy
nhiên, do trình độ nhận thức của người nông dân chưa cao nên họ vẫn chưa đáp
ứng được nhu cầu của thị trường lúa gạo thế giới Sản phấm làm ra có giá bán
rẻ, người nông dân có thu nhập thấp, cuộc sống còn nhiều khó khăn
- Khi hộ nông dân trở thành đơn vị kinh tế tự chủ thì mọi việc họ phải
tự lo liệu, tù' vốn sản xuất, áp dụng quy trình sản xuất, kỹ thuật canh tác nênquan hệ liên kết, liên doanh, hợp tác giữa các loại hộ và các thành phần kinh
Trang 17doanh theo co chế thị trường, nên họ nhanh nhạy hon, ứng dụng TBKHKT
vào sản xuất nông nghiệp tốt hơn, gắn sản xuất với hiệu quả sản xuất Nhưngtrong thực tế đa số người nông dân vận dụng quan hệ thị trường còn yếu kém,
họ vẫn chưa chủ động tìm tòi học hỏi các TBKHKT, áp dụng một cách thụđộng nên chưa đạt được kết quả như mong muốn
- Điều kiện tự nhiên của Việt Nam phân bố không đều, ba miền khácnhau có những kieu khí hậu khác nhau Bảy vùng kinh tế khác nhau có nhữngđiều kiện đất đai, khí hậu, lao động khác nhau nên thâm canh lúa ở mỗivùng cũng khác nhau Do đó, khi qui hoạch vùng thâm canh cần qui hoạch cụthể cho từng vùng
- Nhìn chung thì người nông dân hiện nay vẫn là người sản xuất nhỏđang bước đầu đi vào sản xuất hàng hóa lớn, hàng năm liên tục phải hứng chịu
thiên tai, dịch bệnh, cơ sở vật chất kỹ thuật còn thấp kém, thiếu vốn đầu tư,trình độ nhận thức có hạn Với khả năng trên bản thân nông dân đi lên trongthâm canh sẽ gặp những khó khăn nhất định, nhà nước cần có chính sách kinh
tế hỗ trợ cho nông dân như: chính sách đầu tư cho nông nghiệp, chính sách đất
đai, chính sách ốn định giá đầu vào, chính sách bảo hiếm, chính sách bảo hộ giúp cho nông dân yên tâm đầu tư thâm canh, để thúc đấy sản xuất nông nghiệp
phát triển
* Các yếu tố ảnh hưởng đến thâm canh lúa
- Nhân tố về tự nhiên
10
Trang 18thái bị suy giảm, kém ổn định, dễ bị huỷ hoại bởi thiên tai và làm cho năng
suất cây trồng giảm, hiệu quả thấp
Phát triển bền vững là một trong những thay đổi trong đó có sự thay đối
về nếp nghĩ và cách làm của con người trong việc khai thác tài nguyên, sựgiám sát đầu tư, sự định hướng phát triển công nghệ và nguyện vọng của conngười trong hiện tại và tương lai Xem xét đánh giá về hiệu quả kinh tế trồnglúa phải trên cơ sở xem xét đánh giá thực trạng về môi trường sinh thái vàtrên quan điếm xây dựng một hệ sinh thái nông nghiệp bền vững
- Nhân tố vốn vật tư kỹ thuật và lao động kỹ thuật
Nhóm nhân tố này bao gồm các loại vật tư, phân bón, trình độ sản xuất,trình độ thâm canh của người nông dân Đây là nhóm nhân tố quan trọngbởi nhân tố kỹ thuật quyết định kết quả sản xuất của thâm canh Các kỹ thuậtchủ yếu trong thâm canh lúa như sau:
+ Kỹ thuật chọn giống:
Giống quy định năng suất có thế có của cây trồng, vật nuôi và khả năngchống chịu với các điều kiện bên ngoài Mặt khác tuỳ vào điều kiện của tùngloại giống khác nhau mà đòi hỏi các quy trình kỹ thuật khác nhau sao cho phùhợp Chính vì vậy đòi hỏi người sản xuất phải lưạ chọn các giống phù hợp vớiđiều kiện tự’ nhiên và xã hội của vùng của địa phương nơi mình sinh sống và
Trang 19đất khác nhau, các loại lúa khác nhau yêu cầu một liều lượng bón khác nhau
do đó đòi hỏi phải có kỹ thuật bón phân đế đảm bảo có mức bón phân họp lýphù hợp với điều kiện tự nhiên của mỗi nơi
Trong quá trình sản xuất thì lúa thường xuyên bị sâu bệnh, dịch bệnhtác động đó là một nguyên nhân làm thất thu trong sản xuất lúa Việc phòngtránh và chữa trị là một việc có ý nghĩa vô cùng to lớn đảm bảo thành côngcho các hộ sản xuất, góp phần nâng cao kết quả và hiệu quả sản xuất
- Nhân tố thị trường
Thị trường là một phạm trù kinh tế gắn liền với sự ra đời và phát triểncủa sản xuất và trao đổi hàng hoá Chức năng của thị trường là thực hiện sảnphẩm và thừa nhận lao động làm ra sản phẩm cân đối cung cầu và kích thíchnâng cao hiệu quả sản xuất
Trong mỗi giai đoạn phát triển nhất định của nền kinh tế, nhu cầu về sản
phẩm cây lương thực có nhũng đòi hởi khác nhau Khi nền kinh tế phát triến còn
thấp, thu nhập của tầng lớp dân cư còn hạn hẹp thì phát triển về chất của sảnphẩm chưa đòi hỏi cao về lượng và giá cả sản phẩm Thu nhập ngày càng tăng,
nhu cầu về vật chất và tinh thần cũng thay đối theo hướng vừa tăng số lượng,vừa nâng cao chất lượng và giá cả có tính cạnh tranh Điều đó đúng với cả thịtrường nội địa và thị trường xuất khẩu các sản phấm nông nghiệp Sản xuất
12
Trang 20năng lực có thê làm ra sản phâm nhiêu hơn với một sô lượng đâu vào như cũ
hoặc có thế làm ra lượng sản phấm như cũ với khối lượng đầu vào ít hơn
Trong nông nghiệp đối mới công nghệ xảy ra ở mọi lĩnh vực củangành, phần lớn thể hiện ở khâu tiền vốn (máy móc, hệ thống tưới tiêu, nhàxưởng ) nhưng cũng phải kể đến những tiến bộ rõ rệt về giống cây trồngnăng suất cao, giống gia súc đã cải tạo, thức ăn gia súc tiên tiến, phân bón,thuốc trừ sâu hiệu quả cao Nhiều đổi mới công nghệ trong ngành nôngnghiệp thường là tiết kiệm lao động sống (trường hợp sử dụng công cụ máymóc mới) hoặc tiết kiệm đất đai (do dùng giống có năng suất cao và phân bón
có hiệu quả hơn) Sự đổi mới công nghệ thường thể hiện qua hai hoạt động cơbản: Đối mới sản phấm (sản phấm mới phù hợp với thị hiếu tiêu dùng) và đốimới quy trình sản xuất, cả hai nội dung trên đều quan trọng Đứng trên góc độngười tiêu dùng thì thường quan tâm đến đổi mới sản phẩm, nhưng đối vớingười sản xuất kinh doanh thì lại quan tâm đến đối mới của quy trình sản xuất
- Nhóm tổ chức sản xuất và chính sách
Hiện nay sản xuất lúa trong nước nói chung và huyện Yên Dũng nóiriêng chỉ lấy sản xuất là quan trọng mà coi nhẹ việc tiêu thụ, lấy lợi nhuận làmtrọng tâm mà không xem xét khả năng cạnh tranh của sản phấm Sản lượng tạo
ra lớn nhưng giá bán không cao thì ngành sản xuất lúa không thể thu hút laođộng với các ngành khác, đời sống của nông dân không được nâng cao
Nâng cao phẩm chất toàn diện mới có thể tạo nên nhãn hiệu sản phẩm
Trang 21vốn cho vùng nghèo, vùng núi đế phát triển sản xuất, xây dựng co sở hạ tầng,
xây dựng chính sách khuyến nông, khuyến lâm có tác dụng tích cực đế pháttriển sản xuất và nâng cao hiệu quả sản xuất cây lúa
2.1.2 Tiến bộ kỹ thuật
* Khoa học là hệ thống tri thức về tự nhiên, xã hội do con người tiếpnhận thông qua nghiên cứu có co sở lý luận và thực tiễn Đồng thời, khoa họccũng là hoạt động của con người sản xuất ra tri thức mới
* Công nghệ là tổng hợp các kiến thức, kỹ năng, các bí quyết, cácphương tiện kỹ thuật, các phương pháp được dùng đế chuyển hoá các nguồnlực được sử dụng trong sản xuất hoặc các hoạt động dịch vụ Xã hội càng pháttriến càng có điều kiện nâng cao trình độ công nghệ và công nghệ càng đượcứng dụng rộng rãi, có hiệu quả
* Tiến bộ kỹ thuật trong nông nghiệp được hiểu như là tập hợp nhũng kỹ
thuật hay nhũng tri thức tổng kết và đúc rút ra những nghiên cứu hay thực tiễn,
thể hiện giữa các yếu tố đầu vào và lượng sản xuất ra TBKT trong nông nghiệp
là tập họp các tri thức khoa học nông nghiệp được áp dụng vào lĩnh vực sản xuất
nông nghiệp Công nghệ trong sản xuất nông nghiệp được gắn liền với một trình
độ phát triển nhất định về lực lượng sản xuất của một xã hội hay cộng đồng
2.1.3 Hiệu quả kinh tế của tiến bộ kỹ thuật trong thâm canh lủa
14
Trang 22hiệu quả thâm canh lúa, chúng ta cân phải xem xét vê hiệu quả kinh tê của sản
xuất lúa Hiệu quả kinh tế của thâm canh lúa được đánh giá trên 2 góc độ làhiệu quả phân bố và hiệu quả kỹ thuật
Hiệu quả phân bố là chỉ tiêu đánh giá hiệu quả trong các yếu tố sảnxuất ra sản phẩm và dịch vụ đầu vào được tính đế phản ánh giá trị thu thêmtrên 1 đơn vị đầu vào hay nguồn lực Điều đó cũng có nghĩa là đế cho hiệuquả phân bố hợp lý thì giá trị biên của sản phấm phải bằng giá trị biên củanguồn lực sử dụng và sản xuất
Hiệu qủa kỹ thuật là số lượng sản phẩm có thể đạt được trên 1 đơn vịđầu vào nguồn lực sử dụng vào sản xuất trong nhưng điều kiện cụ thể về kỹthuật hay công nghệ áp dụng vào trong nông nghiệp Hiệu quả kỹ thuật là nhân
tố quyết định cho hiệu quả kinh tế vì nó chỉ ra rằng 1 đơn vị nguồn lực sử dụng
vào sản xuất sẽ đem lại bao nhiêu đơn vị sản phẩm Ví dụ trong điều kiện sảnxuất bình thường, tăng đầu tư lkg đạm sẽ làm tăng năng suất lúa lên 0.2 kg
Có nhiều hệ thống quan điểm đế đánh giá hiệu quả kinh tế nhưng bảnchất của hiệu quả kinh tế là sự tương quan so sánh cả về tuyệt đối và tươngđối giữa lượng kết quả và lượng chi phí bỏ ra Do đó, hiệu quả kinh tế củaTBKT trong thâm canh lúa là tương quan so sánh giữa phần kết quả và chi phítrong thâm canh lúa do áp dụng TBKT
2.1.4 Lịch sử phát triền của kỹ thuật sRI
Kỹ thuật SRI được phát triến ở Madagascar vào đầu những năm 1980 vàhiện đang được phổ biến bởi tổ chức phi chính phủ (NGO) Association Tefy
Trang 23và đã đạt được năng suất 9,2 - 10,5 tấn/ha, chỉ sử dụng khoảng 1/2 lượng nước
tưới như bình thường Năm 2000, cục nghiên cứu và phát triến nông nghiệpIndonesia đã đạt được năng suất 9,5 tấn/ha, trong những thử nghiệm SRI vàomùa mưa tại trạm Sukamandi Từ đó về sau việc đánh giá sử dụng các biệnpháp SRI đã và đang được trải rộng nhanh chóng, vì vậy hiện nay nó đangđược xúc tiến thực hiện ở hơn 20 nước trên thế giới bao gồm cả 6 nước ĐôngNam Á (46)
2.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài
2.2.1 Tình hình áp dụng kỹ thuật sRI trên thế giới
2.2.1. ỉ Campuchia
Năm 2000 - 2001: Trong mùa mưa năm 2000 với sự hỗ trợ của cán bộCEDAC, khoảng 50 nông dân ở 4 tỉnh của Campuchia đã quyết định thửnghiệm SRI trên ruộng của họ Thật không may, do bị ngập úng nặng, chỉ 28nông dân đã có thế thu hoạch lúa từ ô thí nghiệm của họ Các kết quả đã chỉ rarằng nông dân có thế thu hoạch khoảng 5 tấn/ha, cao hơn 150% so với các biện
pháp truyền thống Tổng diện tích canh tác theo phương SRI trong mùa mưa là
khoảng 1,57 ha, với tổng sản lượng là 7,906 kg (Koma, 2001) Phần lớn cácnông dân đã đạt được năng suất tăng cao mà không sử dụng bất kỳ một hoáchất nông nghiệp nào và chủ yếu sử dụng các giống truyền thống (46)
Trong mùa khô năm 2000 - 2001, CEDAC đã làm việc với 13 nôngdân ở 2 tỉnh Kandal và Takeo đế hướng dẫn thử nghiệm SRI Năng suất trungbình khoảng 6 tấn/ha, cao hơn 65% so với các biện pháp truyền thống (46)
16
Trang 24Địa điểm
Thời
Người báo cáo Năng suất
thường(tấn/ha)
Năng suất với
SRI (tấn/ha)
2.2.1.2 Những kinh nghiệm SR1 ở Myanmar
Thử nghiệm SRI gần đây đã bắt đầu ở Myanmar thông qua những nỗlực của quỹ phát triển Metta (Metta Development Foundation), NGO nội địađầu tiên ở Myanmar, với sự trợ giúp tù' IIRR, một NGO quốc tế đóng ởPhilippines IIRR đang khuyến khích đánh giá SRI từ 1994 Trong năm 2000,Metta bắt đầu những thử nghiệm tại những cách đồng thực nghiệm của họ, tuynhiên việc gieo cấy đã đuợc làm muộn hơn 1 tháng so với điều kiện tối ưu của
vụ đó và gây ra năng suất rất thấp 1,97 - 2,73 tấn/ha.(Kabir,2001) [44],[47]
2.2.1.3 Một so nước khác
Ở Nam Á, Đông Nam Á, SRI đã được phổ biến ở Sri Lanka vàBangladesh, Ãn Độ và Nêpan, cùng với những thử nghiệm ở Indonesia,Philippines Ớ châu Phi những thử nghiệm cũng đã được làm ở Gambia vớinăng suất dao động giữa 5,4 - 8,3 tấn/ha và những thí nghiệm của nông dânvới SRI tiến hành ở Sierra Leone Ớ Châu Mỹ La Tinh hai báo cáo đầu tiên vềSRI là ở Cuba: Năng suất đạt 9,1 và 9,56 tấn/ha Những thử nghiệm cũngđang bắt đầu ở Peru Theo nguyên lý cơ bản của SRI, các phương pháp này sẽcho kết quả tốt trong bất kỳ môi trường nào, mặc dù kết quả sẽ biến đối Ketquả cũng có thể khác nhau đối với việc sử dụng các giống lúa khác nhau, chođến nay tất cả các giống lúa đều đã phản ứng tích cực với phương pháp quản
lý này Nhưng một vài giống cho năng suất cao hơn các giống khác, năng suấtcao nhất tất nhiên là đến từ những giống lúa lai cao sản, ví dụ như năng suấtđạt 17,8 tấn/ha với giống BG 358 ở Sri Lanka [43],[47]
Tuy nhiên năng suất tối đa không phải là mục tiêu, đặc biệt là từ triểnvọng một nền nông nghiệp bền vũng Hơn nữa những gì mà mọi người nhậnthấy về hiệu quả tích cực của các phương pháp SRI là chúng góp phần vàoviệc nâng cao hơn các yếu tố năng suất và làm tăng thêm hiệu suất của đất,
Bảng 2.1: Một số kết quả thử nghiệm SRI ỏ’ các nước
Trang 252.2.2 Tình hình áp dụng sRI tại Việt Nam
SRI mới được giới thiệu vào Việt Nam tù' năm 2003 và được thínghiệm ở một số tỉnh đồng bằng, trung du và miền núi phía Bắc Phươngpháp canh tác SRI đã phát huy hiệu quả, qua nghiên cứu ứng dụng các chuyêngia khẳng định biện pháp canh tác lúa này phù hợp với đồng ruộng Việt Nam,kết quả thử nghiệm cho thấy năng suất lúa tăng đáng kể ( >20%) so vớiphương pháp canh tác lúa cố truyền tưới ngập nước, trong khi đó chi phí đầuvào cho sản xuất giảm như giống, phân bón và tưới nước Một số tỉnh ở vùngđồng bằng và trung du miền núi phía Bắc đã áp dụng phương pháp này
2.2.2.1 Yên Dũng - Bắc Giang
Yên Dũng là địa phương đầu tiên trong cả nước áp dụng kỹ thuật SRI,tù’ việc trồng thử nghiệm với diện tích hạn chế (0,6 ha) Tháng 6/2006, dự ánthâm canh lúa theo phương pháp SRI đã chính thức được Sở Khoa Học vàCông Nghệ tỉnh phê duyệt và triến khai thực hiện với quy mô 440 ha tại các
xã Đức Giang, Nham Sơn, Tiến Dũng, Xuân Phú, Quỳnh Sơn trong các vụxuân và vụ mùa năm 2006 và 2007
Qua đánh giá của phòng nông nghiệp huyện cho thấy, năng suất lúatrung bình của vùng dự án đạt 69,4 tạ/ha, tăng 13,9 tạ/ha so với cấy theophương pháp thông thường Đặc biệt, lãi thuần rất cao, đạt trên 14,6 triệu
đồng/ha, gấp 1,7 lần kỹ thuật cấy thông thường {Báo điện tử Bắc giang)
2.2.2.2 Hà Tây (cũ)
Vụ mùa năm 2007, chi cục Bảo vệ thực vật (BVTV) tỉnh, trạm BVTVcủa tất cả 14 huyện, thành phổ, thị xã của tỉnh Hà Tây (cũ) đã phối hợp với 86
19
Trang 26sâu bệnh hại nên hầu như không phải dùng thuốc BVTV Vụ xuân năm 2007,
Hà Tây (cũ) bắt đầu mở rộng diện tích; trạm BVTV của các huyện đã phốihợp với các xã; hợp tác xã thường xuyên mở lớp tập huấn và xây dựng môhình trình diễn giúp bà con nắm bắt được phương pháp thâm canh mới, tòngbước ứng dụng vào diện tích gieo cấy đại trà Huyện Mỹ Đức là huyện ứngdụng SRI đứng đầu trong toàn tỉnh, năm 2007 đã áp dụng được 800 ha, các
huyện khác xây dựng mô hình tù' 100 ha đến 200 ha ( Bảo điện tử Hà tây) 2.2.23 Triệu Sơn - Thanh Hoả
Năm 2000, khyến nông Triệu Sơn đã tiến hành thử nghiệm mô hình
1 xã miền núi, 1 xã vùng bán sơn địa, và 2 xã đồng bằng, gồm: Thọ Phú, MinhSơn, Họp Thắng và Thọ Bình Ket quả thử nghiệm đều cho năng suất cao hơnđối chúng tù' 20 - 30%, trong khi lượng phân và giống tốn ít hơn
Trên cơ sở đó, từ vụ đông xuân 2003 -2004, Trạm tiếp tục triến khai 10điểm tại xã Triệu Thành và Bình Sơn, vụ hè thu 2004 mở thêm 20 điếm thửnghiệm và duy trì đến nay Vụ đông xuân 2005, toàn huyện có 1.680 hộ thamgia dự án với 248 ha, đáng chú ý trạm Khuyến Nông đã xây dựng mô hìnhtrình diễn quy mô tập trung 1 ha tại xã Dân Lý, kết quả đạt năng suất 80- 85tạ/ha Tại hội nghị tổng kết mô hình “ Kỹ thuật thâm canh lúa mới” tại xã Dân
Lý, các đại biếu và bà con nông dân đã khẳng định lợi ích mà dự án đem lạinhư tiết kiệm 40% giống lúa thuần, 50% giống lúa lai Trung Quốc, tiết kiệmlao động 40% từ việc cấy thưa.(Tạp chí bảo vệ thực vật số 17, 2008)
2.3 Các công trình nghiên cửu có liên quan
23.1 Nghiên cứu về các phương pháp của SRI
Trang 27nghiệm) đối với cây lúa như thế nào để có thể đạt được năng suất cao nhất.
Các phương pháp của SRI gồm
-Cấy mạ non: 8 - 1 5 ngày tuổi, chỉ với 2 lá nhỏ Việc này đã bảo vệ, giữgìn tiềm năng của cây lúa về sự đẻ nhánh nhánh nhiều và sự sinh trưởng của
rễ Tiềm năng này sẽ mất do cấy muộn
-Cấy một dảnh mạ, cấy khoảng cách rộng theo hình vuông: 25 x25 cmhay thậm chí rộng hơn 33 X 33cm hay 40 X 40cm thậm chí 50 X 50 cm nếuđiều kiện đất tốt Khoảng cách rộng như vậy sẽ tạo cho rễ của cây lúa cónhiều khoảng không đế sinh trưởng, phát triển
-Cấy một cách cẩn thận: Vì những cây mạ non bị thương tổn rất nhỏ và
có thế nhanh chóng phục hồi sự sinh trưởng của chúng
- Trong suốt thời kỳ sinh trưởng sinh thực:
+ Tưới nhẹ được cung cấp, giữ cho đất thông thoáng khí tốt nhất, vớinhững thời kỳ ngắn (2 -5 ngày) đế khô
+ Đất được tưới ngập thích hợp và được đế khô 2 -3 ngày một lần
21
Trang 28nghi ngại về việc tiến hành SRI là liệu đổi với những kết quả đã được ghi
nhận hay những biện pháp đã sử dụng nghe có vẻ thật sự là quá tốt Với cây
mạ nhỏ hơn, ít cây hơn trên một khóm và trên 1 m2, với ít nước hơn cho năngsuất cao hơn là trái với điều người ta nghĩ đến tự’ nhiên Những nguyên tắc vàbiện pháp của SRI chống lại những kinh nghiệm, những kết quả nghiên cứukhoa học và biện pháp canh tác thông thường đã được chấp nhận về cây lúa
2.3.2. Những đóng góp của SR1 về môi trường và sự bền vững
Neu SRI chững tỏ được là có hiệu quả tốt như những kết quả thử nghiệm
đã giới thiệu thì nó sẽ góp phần tạo nên một nền nông nghiệp bền vũng và môitrường tự nhiên khoẻ mạnh hơn bởi vì:
-Làm giảm áp lực đối với việc mở rộng những vùng đất trồng trọt được,
bằng cách tăng hiệu xuất đất canh tác hiện nay Ớ Madagascar các nhà khoahọc hy vọng điều này sẽ là yếu tố quan trọng góp phần cắt giảm sự du canhcủa lúa cạn xâm phạm đến những cánh rùng nhệt đới còn lại
-Làm giảm những yêu cầu, đòi hỏi của nông nghiệp về nguồn nướctrên thế giới, một nguồn tài nguyên mà đang ngày càng trở nên khan hiếm.Lúa là cây tiêu thụ nước hàng đầu và những phương pháp SRI có thế cắt giảm1/2 tới 2/3 những đòi hỏi về tưới tiêu của sản xuất lúa
-Làm giảm tác hại của hoá nông nghiệp vào đất và nước: với nhữngphương pháp SRI, cây lúa sinh trưởng, phát triển khoẻ mạnh hơn và tự bảnthân chúng có thế đối phó tốt hơn với vấn đề sâu bệnh hại Điều này có thếlàm giảm hoặc thậm chí dừng hẳn việc sử dụng thuốc trừ sâu bệnh và thuốc
Trang 29kết hợp các biện pháp quản lý cây trồng, đất, nước và dinh dường, điều này
góp phần tăng quy mô, sự năng động và đa dạng của hệ vi sinh vật đất
Sự bền vững của những biện pháp SRI không là một công nghệ cốđịnh, đúng hơn là một bước tiến về những nhận thức mới và các nguyên lýđúng có thế áp dụng cho các cây trồng khác với những sự sửa đối thích hợp sẽđược xác định cụ thế Vì vậy ở Madagascar, mặc dù năng suất rất cao nhưngkhông nhìn thấy sự giảm sút năng suất qua các năm, thậm chí đất ở đây đãđược mô tả và đánh giá như một vài loại đất nghèo nhất trên thế giới (Johnson, 1994)
Có thể sự cạn kiệt về dinh dưỡng đang được bù đắp bằng sự cần cù,chăm chỉ của nông dân đã làm cho năng suất đi lên chứ không giảm sút Mặtkhác, có thế độ phì nhiêu của đất đang được nâng cao bởi sự kết họp, sựtương tác giữa đất, nước, cây trồng, dinh dưỡng và vi sinh vật nhờ các biệnpháp SRI, đồng thời làm cho những chất dinh dưỡng không thế dùng đượcthành có thể dùng được thông qua các quá trình phân giải của vi sinh vật vấn
đề này chưa thế được trả lời một cách chắc chắn, mặc dù những quá trình nàygiống như sự cổ định Nitơ sinh học (Dobereiner, 1987; Baldini et al 1997) và
23
Trang 303 ĐẶC ĐIẺM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN cứu
3.1 Đặc điếm tự nhiên, kinh tế - xã hội xã Đức Giang, huyện Yên Dũng
3.1.1 Đặc điêm tự nhiên
3.1.1.1 Vị trí địa lý
Xã Đức Giang, huyện Yên Dũng là một xã nằm ở phía Đông Nam củahuyện cách trung tâm huyện gần 5km Xã có vị trí thuận lợi đế sản xuất nôngnghiệp, đường tỉnh lộ 398 chạy qua giúp xã thuận lợi trong việc giao lưu buônbán trao đối hàng hoá cũng như ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật mới vào sảnxuất phục vụ tiêu dùng và xuất khấu Xã Đức Giang giáp với các địa phươngsau: Phía Tây Bắc giáp xã Tiến Dũng, phía Nam giáp với xã Đồng Phúc, phíaĐông Nam giáp xã Đồng Việt, phía Tây giáp xã Tư Mại Các xã tiếp giápĐức Giang đều là những xã có trình độ thâm canh lúa cao Do vậy Đức Giang
dễ dàng học hỏi được kỹ thuật thâm canh lúa
3.1.1.2 Khỉ hậu, thuỷ văn
Đức Giang nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, là vùng có nhiệt
độ cao, mùa đông không lạnh lắm, mùa hè tương đối mát mẻ Điều kiện khíhậu của Đức Giang rất phù hợp cho sản xuất lúa Lượng mưa trung bình hàngnăm là 1730-1980 mm, chủ yếu tập trung từ tháng 5 đến tháng 10 với lượngmưa chiếm 85% lượng mưa cả năm, tính biến động của lượng mưa dẫn đếnkhó khăn trong sử dụng nguồn nước cũng như tố chức sản xuất nông nghiệp
Trang 31mương máng thủy lợi Tình hình phân bố đất đai ở xã Đức Giang được thể
hiện qua bảng 3.1, số liệu trong bảng cho thấy:
Diện tích đất nông nghiệp vẫn chiếm phần lớn tống diện tích đất tựnhiên của toàn xã Nhìn chung không có sự biến động nhiều trong việc sửdụng đất Tuy diện tích đất trồng lúa giảm dần trong 3 năm ( tù’ 515,48 hanăm 2006 xuống còn 498,7 ha năm 2008) nhưng cơ cấu sử dụng đất thì gầnnhư không đổi, diện tích trồng lúa vẫn chiếm khoảng trên 60% tổng diện tíchđất tự nhiên Điều này giúp cho sản xuất nông nghiệp được ốn định, ngườinông dân yên tâm đầu tư lâu dài cho sản xuất lúa
3.1.2.2 Đặc điềm về dân sổ và lao động
Đức Giang là một xã thuần nông với 80% dân sổ làm nông nghiệp, còn lại
20% dân số gồm: Cán bộ công nhân viên nhà nước, tiếu thương và công nhân
Qua bảng 3.2 cho thấy tống sổ hộ của xã tăng qua các năm Năm 2005tống số hộ của xã là 1784 hộ, đến năm 2008 là 1845 hộ Tống số nhân khẩucủa xã cũng tăng năm 2006 là 7455 khẩu, đến năm 2008 là 7587 khẩu Laođộng nông nghiệp có xu hướng giảm (năm 2005 là người, đến năm 2008 làngười) trong khi đó lao động phi nông nghiệp có xu hướng tăng lên Điều này
là do Đức Giang là một xã gần trung tâm huyện nên rất có điều kiện đế pháttriển các ngành nghề, dịch vụ khác Trong vài năm gần đây nhiều hộ gia đình
đã chuyến tù' làm ruộng sang buôn bán, dịch vụ, làm công nhân (như: sửachữa ô tô, xe máy, làm thợ mộc, cơ khí, sản xuất đá, may mặc, bán hàngquán ) Lao động là lực lượng quan trọng trong việc phát triến kinh tế xãhội của địa phương Đây là lực lượng lao động chính tham gia tạo ra của cải,vật chất Vì vậy, chất lượng và sổ lượng lao động ảnh hưởng rất lớn đến đờisổng người dân nơi đây Từ số liệu của bảng 3.2 cho thấy tỷ lệ bình quân lao
25
Bảng 3.1: Tình hình phân bố và sử dụng đất đai xã Đức Giang
( Nguồn: Ban thống kê xã Đức Giang)
26
Bảng 3.2: Tình hình dân số và lao động của xã qua 4 năm (2005-2008)
(Nguồn: Ban thong kê xã Đức Giang)
3.1.2.3 Đặc điềm cơ sở hạ tâng
Cơ sở hạ tầng xã Đức Giang được xây dựng bao gồm: Hệ thống giaothông, hệ thống thuỷ lợi, hệ thống điện, hệ thống trường học, trạm y tế vàthông tin liên lạc Hiện trạng công trình và mức độ phục vụ đời sống dân sinhđược phản ánh như sau:
- Hệ thống điện: Hệ thống điện của xã Đức Giang đã được hoà mạngvới mạng điện quốc gia, hiện nay xã có 2 trạm biến áp, đường dây cao thế đã
về tận xã Tỷ lệ dùng điện lưới của nhân dân trong xã đạt 100% nhu cầu sửdụng của người dân trong xã đã được đảm bảo
- Hệ thống đường giao thông trên địa bàn xã: Đường liên xã dài 8 km,
27