1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm gốm của làng nghề phù lãng, huyện quế võ, tỉnh bắc ninh

118 309 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 118
Dung lượng 2,53 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để góp phần giải đáp những câu hỏi này, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài :”Nãng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm gôm của làng nghê Phù Lãng, huyện Quê Võ, tỉnh Bắc Ninh” Nghiên cứu

Trang 1

BỌ GIAO DỤC VA ĐAO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI

NGUYỄN VĂN ĐIỆP

NÂNG CAO NĂNG Lực CẠNH TRANH SẢN PHẨM GỐM CỦA LÀNG NGHỂ PHÙ LÃNG,

HUYỆN QUÊ VÕ, TỈNH BẮC NINH

LUẬN VĂN THẠC sĩ KINH TÊ

Chuyên ngành: KINH TÊ NÔNG NGHIỆP

Mã số: 60.31.10

Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN THỊ DƯƠNG NGA

HÀ NỘI-2008

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cún trong luận văn này làtrung thực và chưa được sử dụns để bảo vệ một học vị nào

Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đãđược cảm on và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồngốc

Tác giả luận văn

Nguyễn Văn Điệp

Trang 2

Em xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến các thầy giáo, cô giáotrong Bộ môn kinh tế lượng, đặc biệt là cô Nguyễn Thị Dương Nga là ngườitrực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ em trong quá trình nghiên cứu đề tài này.

Tôi xin chân thành cảm ơn Đảng ủy, UBND cùng toàn thể bà con nhândân xã Phù Lãng đã tạo điều kiện cho tôi tiếp cận và thu thập những thông tincần thiết để làm sáng tỏ mục tiêu nghiên cứu của đề tài

Cảm ơn tất cả bạn bè gần xa đã chia xẻ, động viên tôi trong suốt quátrình học tập cũng như trong quá trình làm luận văn này

Cuối cùng con muốn giành lời cảm ơn đặc biệt nhất đến với bố mẹ, anh

em và những người thân đã giành cho tình yêu thương và nguồn động viên an

Trang 3

4

427

43

4357

65

6565787885939696

Tính cấp thiết của đề tài

Mục tiêu nghiên cứu

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Cơ sơ lý luận và thực tiễn

Cơ sở lý luận

Cơ sở thực tiễn

Đặc điểm địa bàn nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu

Đặc điểm địa bàn nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu

Thực trạng sản xuất và tiêu thụ đồ gốm ở xã Phù Lãng

Sản xuất và tiêu thụ gốm của làng nghề

Sản xuất và tiêu thụ sản phẩm gốm tại các hộ điều tra

Thông tin chung về các hộ điều tra

Trang 4

CNH-HĐH Công nghiệp hóa - hiện đại

4.3.4 Phân tích mô hình kim cương cho gốm Phù Lãng108

4.3.5 Phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức ngành gốm

Trang 5

DANH MUC BÁNG

2.1.Chi phí sản xuất vải và thép của Ấn Độ và Việt Nam 92.2.Sản lượng vải và thép khi chưa có thương mại quốc tế 102.3Sản lượng vải và thép khi có thương mại quốc tế 102.4Chi phí sản xuất vải và thép của Ân Độ và Việt Nam 122.5So sánh chất lượng/Công nghệ về Gốm theo Quốc gia 423.6Tinh hình đất đai của xó Phù Lãng năm 2005 - 2007 483.7Tinh hình dân số - lao động của xã Phù Lãng năm 2005-2007 503.8Tinh hình cơ sở vật chất kỹ thuật của xã Phù Lãng năm2005-

3.9Kết quả phát triển kinh tế xã Phù Lãng năm 2005-2007 553.10 Số lượng cơ sở sản xuất gốm tại Phù Lãng năm 2007

584.11 Đặc trưng về hình thái, tính chất một số sản phẩm gốm Phù Lãng 74

4.12 Tinh hình phát triển nghề gốm Phù Lãng năm 2005-2007

754.13 Giá trị sản xuất của sản phẩm gốm Phù Lãng năm 2005-2007

774.15 Tinh hình cơ bản của chủ hộ năm 2007

794.16 Điều kiện kinh tế của các nhóm hộ điều tra năm 2007

824.17 Tinh hình sử dụng vốn của các hộ điều tra

83

Trang 6

4.24 Đặc điểm, tính chất, dịch vụ đi kèm của gốm Phù Lãng

Trang 7

Trang626694110

DANH MỤC ĐỔ THI

Tên đồ thị

Số lượng cơ sở sản xuất gốm theo quy mô năm 2007

Sự biến động sản xuất gốm ở Phù Lãng từ năm

2005-2007Giá trị sản lượng ngành gốm Phù Lãng qua 3 năm

Tổng vốn bình quân một hộ điều tra

Giá trị sản lượng của các nhóm hộ năm 2007

Kết quả và hiệu quả sản xuất gốm của các nhóm hộ

DANH MỤC Sơ ĐỔ

Tên sơ đồ

Mô hình kim cương

Các công đoạn chính sản xuất gốm

Kênh tiêu thụ sản phẩm gốm của các cơ sở sản xuất

Mô hình kim cương cho gốm Phù Lãng

Trang 8

1 MỞ ĐẨU

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Nông thôn Việt Nam chiếm tới 73% dân số của cả nước, thu nhập từsản xuất nông nghiệp còn thấp Bởi vậy, việc phát triển công nghiệp nông thôn

là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trong tiến trình CNH- HĐH đất nước

Nghị quyết đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đã chỉ rõ” Khuyếnkhích đế các doanh nghiệp và hợp tác xã đầu tư phát triển công nghiệp và dịch

vụ ở nông thôn , phát triển mạnh các loại hình doanh nghiệp, nhất là doanhnghiệp nhỏ và vừa; phát triển bền vững các làng nghề Tạo điều kiện cho laođộng nông thôn có việc làm cả trong công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp vàdịch vụ, tại chỗ và ngoài nông thôn ”[9] Do đó, trong những năm qua, Đảng

và nhà nước đã quan tâm đến việc khôi phục và phát triển các làng nghềtruyền thống, cụ thể: Một khoản đầu tư trên 11000 tỷ đồng dự kiến sẽ được rótcho lĩnh vực bảo tồn và phát triển làng nghề ở Việt Nam từ nay đến năm

2020 [31]

Trong bối cảnh Việt Nam là thành viên của WTO, các làng nghề, cácdoanh nghiệp có nhiều co hội song cũng phải đối mặt với nhiều thách thức khác

như: Các sản phẩm chịu sự cạnh tranh về giá cả, chất lượng, chủng loại hết sức

gay gắt ở thị trường trong nước cũng như trên thị trường thế giới

Phù Lãng là một xã thuộc huyện Quế Võ, Tỉnh Bắc Ninh xa xưa vốn làmột trong ba trung tâm gốm của miền Bắc, đó là: Thổ Hà (Bắc Giang), BátTràng (Hà Nội) cùng có tuổi đời trên 600 năm và cũng là một làng nghề tiêu

Trang 9

vẫn tồn tại duy trì và kết quả là hiện nay gốm Phù Lãng đã có mặt ở một sốthị trường xuất khẩu như Anh, Pháp, Nhật, Hàn Quốc Mặc dù vậy, mới chỉ có

một số rất ít nhà sản xuất gồm Phù Lãng tham gia các thị trường này, còn lại số

đông là các hộ sản xuất nhỏ lẻ các sản phẩm có giá trị hàng hóa thấp Sức épcạnh tranh ngày càng gia tăng cũng như cơ hội của các sản phẩm gốm khi gianhập WTO đang là vấn đề được chính quyền địa phương và các hộ sản xuấtphải quan tâm tới Mục tiêu cuối cùng phải nâng cao sức cạnh tranh của sảnphẩm truyền thống này, mang lại thu nhập cao hơn cho người sản xuất Vậyhiện tại khả năng cạnh tranh của gốm Phù Lãng như thế nào? Và làm thế nào để

nâng cao hơn nữa khả năng cạnh tranh của gốm Phù Lãng?

Để góp phần giải đáp những câu hỏi này, chúng tôi tiến hành nghiên

cứu đề tài :”Nãng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm gôm của làng nghê Phù Lãng, huyện Quê Võ, tỉnh Bắc Ninh”

Nghiên cứu đề tài này sẽ cung cấp thêm cơ sở khoa học cho việc đề ragiải pháp nhằm giữ gìn và phát triển làng nghề, giữ gìn các văn hóa cổ truyền

và nâng cao đời sống cho nhân dân địa phương góp phần đẩy mạnh sự nghiệpCNH-HĐH nông nghiệp, nông thôn và hội nhập kinh tế quốc tế

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

1.2.1 Mục tiêu chung

Mục đích nghiên cứu đề tài để nhằm đưa ra cách nhìn đầy đủ về sứccạnh tranh sản phẩm từ đó đề xuất những biện pháp nhằm nâng cao sức cạnh

Trang 10

- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của gốmPhù Lãng

1.3 Đôi tượng và phạm vi nghiên cứu

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu chủ yếu những vấn đề lý luận và thực tiễn

về năng lực cạnh tranh một số sản phẩm chính của làng nghề, của các hộ làmgốm ở xã Phù Lãng theo quy mô khác nhau

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu

• Về không gian

Đề tài chủ yếu đi sâu điều tra, khảo sát các hộ sản xuất gốm trên địabàn xã Phù Lãng, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh Điều tra một số hộ sản xuấtgốm ở Bát Tràng về những vấn đề có liên quan đến đề tài

• Về nội dung

Trang 11

2 Cơ Sơ LÝ LUẬN VÀ THỤC TIÊN

2.1 Cơ sở lý luận

2.1.1 Lý luận về năng lực cạnh tranh

Trong quá trình nghiên cứu về cạnh tranh, người ta sử dụng khái niệm năng

lực cạnh tranh Năng lực cạnh tranh được xem xét ở các góc độ khác nhau nhưnăng lực cạnh tranh quốc gia, năng lực cạnh tranh của ngành, năng lực cạnh tranh

của doanh nghiệp, năng lực cạnh tranh của sản phẩm và dịch vụ

2.1.1.1 Năng lực cạnh tranh của một quốc gia [28]

Năng lực cạnh tranh đã trở thành một trong những quan tâm của chínhphủ và các ngành sản xuất trong mỗi quốc gia Theo M Porter, có nhiều cáchgiải thích vì sao một số quốc gia thành công và một số thất bại khi cạnh tranhtrên quốc tế Mặc dù các cách giải thích này thường mâu thuẫn nhau, vàkhông có một lý thuyết chung nào được chấp nhận

Một số cho rằng năng lực cạnh tranh của quốc gia là một hiện tượngkinh tế vĩ mô, chịu ảnh hưởng của các biến kinh tế vĩ mô như tỷ giá hối đoái,lãi suất Tuy nhiên một số quốc gia lại có mức sống dân cư tăng lên mặc dù

bị thâm hụt ngân sách cao như Nhật, Italia và Hàn Quốc (Micael, 1985) Một

số khác cho rằng năng lực cạnh tranh là một hàm số của lao động dồi dào vớimức lương thấp Tuy vậy một số nước như Đức, Thuỵ Sỹ và Thuỵ Điển lại cómức thu nhập rất cao trong khi họ thiếu lao động và giá nhân công rất cao.Kết quả của năng lực cạnh tranh của quốc gia là sự tăng trưởng ổn địnhcủa năng suất và cải thiện mức sống của dân cư nước đó

Trang 12

quan hệ phụ thuộc lẫn nhau, tuy nhiên yếu tố chính phủ và sự thay đổi cũngđược đưa vào ảnh hưởng đến cả bốn yếu tố trên Mô hình này thường để phântích đánh giá sức cạnh tranh của môt quốc gia trong một ngành công nghiệpnhất định, hoặc sức cạnh tranh của một địa phương cho một ngành sản xuấtnhất định.

Trong lý thuyết lợi thế cạnh tranh quốc gia được đề xuất bởi M.Porter(1990), chúng ta thấy ông đã tập trung vào việc giải thích những vấn đề trên.Với lý thuyết này, M.Porter cho rằng sự gia tăng mức sống và sự thịnh vượngcủa quốc gia phụ thuộc chủ yếu vào khả năng đổi mới, khả năng tiếp cậnnguồn vốn và hiệu ứng lan truyền công nghệ của nền kinh tế Nói tổng quáthơn, sức cạnh tranh cuả một quốc gia phụ thuộc vào sức cạnh tranh của cácngành trong nền kinh tế Sức cạnh tranh của một ngành lại xuất phát từ nănglực cạnh tranh của các doanh nghiệp trong ngành: khả năng đổi mới côngnghệ, sản phẩm, cung cách quản lý của ngành và môi trường kinh doanh Cácđầu vào quan trọng đối với hoạt động sản xuất của nền kinh tế không phải chỉthuần là lao động, vốn, tài nguyên thiên nhiên mà còn là những đầu vào dochính doanh nghiệp hoặc chính phủ tạo ra Với cách nhìn nhận như vậy,M.Porter (1990) cho rằng bốn yếu tố quyết định lợi thế cạnh tranh của mộtquốc gia là :

1. Chiến lược của doanh nghiệp, cơ cấu và sự cạnh tranh: Những ngành

có chiến lược và cơ cấu phù hợp với các định chế và chính sách cuả quốc gia,hoạt động trong môi trường có cạnh tranh trong nước căng thẳng hơn sẽ cótính cạnh tranh quốc tế mạnh hơn Chẳng hạn như ngành sản xuất xe hơi củaNhật có một số công ty cạnh tranh mạnh trên thị trường thế giới một phần là

do các công ty này đã cạnh tranh mạnh mẽ trên thị trường trong nước, luônsuy nghĩ và hành động mang tính chiến lược

2. Các điều kiện về phía cầu: Những ngành phải cạnh tranh mạnh ở

Trang 13

trong nước thì mới có khả năng cạnh tranh quốc tế tốt hơn Thị trường trongnước với số cầu lớn, có những khách hàng đòi hỏi cao và môi trường cạnhtranh trong ngành khốc liệt hơn sẽ có khả năng cạnh tranh cao hơn Chẳng hạnnhư ngành chế biến thức ăn nhanh của Hoa Kỳ có khả năng cạnh tranh đượctrên thị trường quốc tế bởi lẽ người tiêu dùng Hoa Kỳ là những người đòi hỏitốc độ và sự thuận tiện nhất thế giới.

3. Các ngành công nghiệp hỗ trợ và liên quan: Tính cạnh tranh của mộtngành phụ thuộc vào sức mạnh của các nhà cung cấp các nhập lượng và cácdịch vụ hỗ trợ Các nhà cung cấp nhập lượng có khả năng cạnh tranh trên toàncầu có thể mang lại cho doanh nghiệp - khách hàng của họ lợi thế về chi phí

và chất lượng Các ngành có quan hệ ngang cũng mang lại lợi thế cạnh tranhthông qua sự lan truyền công nghệ Sự hiện diện cụm công nghiệp tạo ra chodoanh nghiệp lợi thế kinh tế theo quy mô Ví dụ như ngành sản xuất máy tínhcủa Hoa Kỳ là ngành đầu đàn vì các công ty có nhiều sáng kiến trong ngànhcông nghiệp bán dẫn, vi xử lý, hệ thống điều hành và dịch vụ vi tính

4. Các điều kiện về các yếu tố sản xuất: bao gồm chất lượng lao động,vốn và lao động rẻ, cơ sở hạ tầng mạnh và công nghệ cao sẽ ảnh hưởng đếntính cạnh tranh của ngành và của các quốc gia ở đây chúng ta nhấn mạnh đếnchất lượng của các yếu tố đầu vào được tạo ra chứ không phải là nguồn lựctrời cho ban đầu Chẳng hạn như ngành sản xuất thép ở Ấn Độ có khả năngcạnh tranh trên thị trường thế giới dù họ không có tài nguyên về sắt hoặc than,

mà bởi vì họ có công nghệ sản xuất tốt

Một quốc gia có lợi thế cạnh tranh trong những ngành mà người ta tìmthấy bốn yếu tố cơ bản trên khá mạnh Đây là những khu vực mà chính phủnên tập trung nỗ lực của họ nhằm để thúc đẩy lợi thế cạnh tranh của quốc gia

Trang 14

2.1.12 Năng lực cạnh tranh của một ngành sản xuất và của doanh nghiệp

Một trong các yếu tố trọng tâm chúng ta quan tâm là giải thích vì saocác công ty trong một nước lại có thể cạnh tranh một cánh thành công với cáccông ty nước ngoài trong cùng một ngành sản xuất Hay ngành công nghiệpcủa nước này lại thành công hơn so với nước khác khi tham gia trên thị trườngquốc tế Năng lực cạnh tranh của một ngành chịu ảnh hưởng của sự cộng tác

và phối hợp giữa các doanh nghiệp trong ngành đó

Vậy để cạnh tranh, các doanh nghiệp trong ngành chắc chắn phải có lợithế cạnh tranh dưới dạng (i) chi phí thấp hơn hoặc (ii) tạo ra sự khác biệt trongsản phẩm mà có thể được bán với giá cao hơn

Năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp/hãng là khả năng doanhnghiệp/hãng đó có thể duy trì và củng cố vị trí của nó trên thị trường nội địa

và quốc tế Năng lực cạnh tranh liên quan đến các vấn đề về nguồn lực và chấtlượng của các nguồn lực này, và cách thức tổ chức sử dụng chúng

Các hãng đạt được lợi thế cạnh tranh thông qua hành động đổi mới:công nghệ mới và cách thức quản lý, làm việc mới Kết quả của sự đổi mớinày là thiết kế sản phẩm mới, quy trình sản xuất mới, phương pháp tiếp thịmới, hay một cách thức mới trong đào tạo Đôi khi sự đổi mới thường liênquan tới các ý tưởng thậm chí không phải là mới, và luôn liên quan đến cácđầu tư vào kỹ năng, kiến thức, tài sản, nguồn lực và thương hiệu sản phẩm.Trong một số trường hợp, sự đổi mới tạo ra lợi thế cạnh tranh quaviệc nhận thức được một cơ hội thị trường hoàn toàn mới hay một phânkhúc thị trường mà các đối thủ khác không để ý tới Nếu doanh nghiệp nắmbắt nhanh hơn cơ hội này thì sự đổi mới này đã tạo ra tính cạnh tranh chochính doanh nghiệp đó

Một khi doanh nghiệp/công ty đạt được lợi thế cạnh tranh thông qua đổi

mới, nó có thế duy trì lợi thế này bằng cách cải tiến không ngừng vì sự đổimới này thường bị các đối thủ các làm theo Ví dụ các công ty của Hàn Quốc

Trang 15

Sản phẩm Ấn Độ Việt

NamThép (giờ công/1 đơn vị sản phẩm) 2 6

Vải (giờ công/1 đơn vị sản phẩm) 5 3

Thế giớiThép Vải Thép Vải

Thực vậy, giả sử Ấn Độ và Việt Nam mỗi nước có 120 công lao động, và

số lượng lao động đó được chia đều cho hai ngành sản xuất thép và vải

Trons

trường họp tự cung, tự cấp, An Độ sản xuất và tiêu dùng 30 đon vị thép và

Khi lao động phân bố lại trong mỗi nước, cụ thể là tất cả 120 lao động

Ân Độ tập trung vào sản xuất thép

xuất vải, thì sản lượng của toàn thế giới là 60 thép và 40 vải

Bảng 2.3 Sản lượng vải và thép khi có thương mại quốc tế

Thế uiớiThép Vải Thép V ải

2.1.1.3 Phân biệt lợi thế cạnh tranh và lợi thế so sánh [34]

Lý thuyết lợi thế tuyệt đối

Adam Smith trong tác phẩm của mình " Của cải của các dân tộc" xuấtbản lần đầu tiên năm 1776 đã đưa ra ý tưởng về lợi thế tuyệt đối để giải thíchnguyên nhân dẫn đến thương mại quốc tế và lợi ích của nó đối với các quốcgia Nếu quốc gia A có thể sản xuất mặt hàng X rẻ hơn (có hiệu quả hon) sovới nước B và nước B có thể sản xuất mặt hàng Y rẻ hơn so với nước A, thì lúc

đó, mỗi quốc gia nên tập trung vào sản xuất mặt hàng mà mình có hiệu quảhơn và xuất khẩu mặt hàng này sang quốc gia kia Trong trường hợp này, mỗiquốc gia được coi là có lợi thế tuyệt đối (đây là lợi thế mà quốc gia có đượckhi chuyên môn hóa sản xuất và xuất khẩu mặt hàng có chi phí sản xuất thấphơn (hoặc năng suất lao đông cao hơn) một cách tuyệt đối so với quốc giakhác và nhập khẩu mặt hàng có đặc điểm ngược lại) về sản xuất từng loại mặthàng cụ thể Nhờ có chuyên môn hóa sản xuất và trao đổi thương mại mà cảhai quốc gia đều trở nên sung túc hơn

a Các giả thiết của mô hình

Để đơn giản hóa sự phân tích, mô hình thương mại được xây dựng vớicác giả thiết sau đây:

* Thế giới chỉ bao gồm hai quốc gia và hai mặt hàng

* Thương mại hoàn toàn tự do

* Chi phí vận chuyển là bằng không

*Cạnh tranh hoàn hảo tồn tại trên tất cả thị trường

* Công nghệ sản xuất ở các quốc gia là như nhau và không đổi

b Lợi ích từ chuyên môn hóa và trao đổi

Thời gian lao động cần thiết để sản xuất mỗi đơn vị thép và vải ở mỗinước được cho trong bảng dưới đây:

Bảng 2.1 Chi phí sản xuất vải và thép của Ấn Độ và Việt Nam

Khi chưa có thương mại, thế giới bao gồm hai thị trường biệt lập vớihai mức giá tương quan (hay tỷ lệ trao đổi nội địa) khác nhau Mỗi nước đềusản xuất cả hai mặt hàng để tiêu dùng Có thể dễ dàng nhận thấy rằng, Ấn Độ

là nước có hiệu quả cao hơn (lợi thế tuyệt đối) trong sản xuất thép vì để làm ramột đơn vị thép, nước này chỉ cần 2 giờ công lao động Ngược lại, Việt Nam

có lợi thế tuyệt đối về sản xuất vải vì để sản xuất một đơn vị vải Việt Nam chỉ

cần 3 giờ công lao động, trong khi đó Ấn Độ lại cần đến 5 giờ công lao động.

Khi đó, theo quan điểm của lý thuyết lợi thế tuyệt đối, Ân Độ nên tập trungtoàn bộ số lao động của mình để sản xuất thép, còn Việt Nam thì thực hiệnchuyên môn hóa sản xuất vải, và hai nước thực hiện trao đổi hàng hóa vớinhau để thu được lợi ích

Động cơ chủ yếu của thương mại giữa hai nước là ở chỗ, mỗi nước đềumong muốn tiêu dùng được nhiều hàng hóa với mức giá thấp nhất Do giá vải ở

Nhật cao hơn giả vải ở Việt Nam (tính theo chi phí lao động) nên Ấn Độ có

lợikhi mua vải từ Việt Nam thay vì tự sản xuất trong nước, thương mại còn có thể

Bảng 2.2 Sản lượng vải và thép khi chưa có thương mại quốc tê

Trang 16

Sản phẩm Ấn Độ Việt Nam

Thép (giờ công/1 đơn vị sản phẩm) 2 12

Vải (giờ công/1 đơn vị sản phẩm 5 6

Tóm lại, lợi thế tuyệt đối không chỉ giúp mô tả hướng chuyên môn hóa

và trao đổi giữa các quốc gia, mà còn được coi là công cụ để các nước gia tăng

phúc lợi của mình Mô hình thương mại nói trên có thể giúp giải thích chophần nhỏ của thương mại quốc tế, cụ thể là, nếu một quốc gia không có đượcđiều kiện tự nhiên thích hợp để trồng càphê, chuối thì buộc phải nhập khẩucác sản phẩm này từ nước ngoài Tuy nhiên, 1Ĩ1Ô hình này không giải thíchđược trường hợp tại sao thương mại vẫn có thể diễn ra khi một quốc gia không

có lợi thế tuyệt đối (hoặc ở mức bất lợi tuyệt đối) về tất cả các mặt hàng Đểgiải thích cho vấn đề này chúng ta cần dựa trên một khái niệm có tính chấtkhái quát hơn - đó là khái niệm về lợi thế so sánh do David Ricardo đưa ra lầnđầu tiên năm 1817

Lý thuyết lợi thê so sánh

a Khái niệm về lợi thế so sánh

Nếu như khái niệm lợi thế tuyệt đối được xây dựng trên cơ sở sự khácbiệt về số lượng lao động thực tế được sử dụng khác nhau (hay nói cách khác,

sự khác biệt về hiệu quả sản xuất tuyệt đối), thì lợi thế so sánh lại xuất phát từhiệu quả sản xuất tương đối Trong mô hình lợi thế tuyệt đối ở trên, thép đượcsản xuất rẻ hơn ở Ân Độ so với ở Việt Nam do sử dụng thời gian lao động íthơn Ngược lại, vải được sản xuất ơ Việt Nam rẻ hơn ở An Độ tính theo sô

thế là một giải pháp dài hạn, bởi lẽ An Độ không hề mong muốn nhập khấubất kỳ mặt hàng nào từ Việt Nam Điểm quan trọng ở đây không phải là hiệuquả tuyệt đối mà là hiệu qua tương đối trong sản xuất vải và thép: An Độ cólợi thế tuyệt đối trone sản xuất cả hai mặt hàng, nhưng chỉ có lợi thế so sánhđối với mặt hàng có mức độ thuận lợi lớn hơn; ngược lại, Việt Nam bất lợitrong sản xuất cả hai mặt hàng nhưng vẫn có lợi thế so sánh đối với mặt hàng

có mức bất lợi nhỏ hơn Một cách khái quát, lợi thế so sánh là lợi thế mà mộtquốc gia có được khi chuyên môn hóa sản xuất và xuất khẩu mặt hàng thểhiện tương quan thuận lợi hơn những mặt hàng khác xét trong mối quan hệ với

quốc gia bạn hàng và nhập khẩu những mặt hàng có đặc điểm ngược lại Cụthể là, một quốc gia thuận lợi (có lợi thế tuyệt đối) trong việc sản xuất cả haimặt hàng sẽ chuyên môn hóa sản xuất và xuất khẩu mặt hàng có mức độ thuậnlợi lớn hơn Ngược lại, một quốc gia bất lợi (không có lợi thế tuyệt đối) trongviệc sản xuất tất cả các mặt hàng sẽ chuyên môn hóa sản xuất và xuất khẩu

b Mô hình đơn giản của Ricardo về lợi thế so sánh

Trở lại mô hình thương mại giữa Ấn Độ và Việt Nam ở phần trước vớicác giả thiết cơ bản của mô hình vẫn được giữ nguyên Tuy nhiên, thời gianlao động cần thiết để sản xuất mỗi đơn vị thép và vải có sự khác biệt theoBảng dưới đây:

Bảng 2.4 Chi phí sản xuất vải và thép của Ấn Độ và Việt Nam

Các số liệu cho thấy, Ân Độ cần ít thời gian lao động hơn so với ViệtNam để sản xuất ra cả hai mặt hàng, nhưng điều này không cản trở quan hệ

trao đổi thương mại có lợi cho cả hai nước Cụ thê là, tỷ lệ về chi phí lao động

để sản xuất thép ở Ân Độ so với Việt Nam chỉ bằng 1/6, trong khi đó tỷ lệtương ứng đối với sản xuất vải là 5/6 Điều đó chứng tỏ : An Độ có lợi thếtuyệt đối về cả hai mặt hàng, nhưng mức độ thuận lợi về sản xuất thép lớn hơnmức độ thuận lợi về sản xuất vải nên nước này có lợi thế so sánh về mặt hàngthép Với cách lập luận tương tự, Việt Nam bất lợi tuyệt đối về cả hai mặthàng, nhưng do mức độ bất lợi về sản xuất vải nhỏ hơn mức độ bất lợi về sảnxuất thép nên Việt Nam có lợi thế so sánh về vải

Lợi thế so sánh của mỗi nước có thể được xác định thône qua so sánhcác mức giá cả tương quan của thép và vải Giá cả tương quan giữa hai mặthàng là giá cả của một mặt hàng tính bằng số lượng mặt hàng kia Trong 1Ĩ1Ôhình Ricardo giá cả tương quan được tính thông qua yếu tố trung gian là chiphí lao động Trên cơ sở các số liệu trong bảng trên có thể tính được các mứcgiá tương quan của thép và vải như trong bảng dưới đây Giá tương quan củathép và vải ở Ấn Độ và Việt Nam tương ứng là:

1 thép = 0,4 vải và 1 thép = 2 vải

1 vải = 2,5 thép và lvải = 0,5 thép

Như đã chỉ ra ở trên, xét theo giác độ tuyệt đối thì Ân Độ có hiệu quảhơn Việt Nam trong sản xuất cả hai mặt hàng, nhưng nước này chỉ có lợi thế

so sánh về thép, và điều này có thể thấy được qua so sánh giá tương quan củathép ơ An Độ so với ơ Việt Nam, cụ thế là thép ơ An Độ rẻ hơn so với ViệtNam Tương tự, vải ở Việt Nam rẻ hơn so với Ân Độ nên Việt Nam có lợi thế

so sánh về mặt hàng vải Nếu mỗi nước thực hiện chuyên môn hóa hoàn toàntrong việc sản xuất mặt hàng mà mình có lợi thế so sánh và sau đó trao đổi với

Trang 17

nhau thì cả hai đều trở nên sung túc hơn.

Thực vậy, nếu Ấn Độ chuyển 5 giờ công lao động từ ngành vải sang sản

xuất thép thì sẽ có 2,5 đơn vị thép được làm ra và khi bán 2,5 đơn vị thép nàysang Việt Nam với mức giá quốc tê là 1 thép = 1 vải thì An Độ sẽ thu về 2,5đơn vị vải, nhiều hơn 1,5 đơn vị vải so với trường hợp tự cung tự cấp Tương

tự, nếu Việt Nam dùng 12 giờ công lao động để sản xuất 2 đơn vị vải thay vìsản xuất 2 đơn vị thép và bán sang Ân Độ đổi lấy 2 đơn vị thép thì Việt Nam

sẽ có lợi 1 đơn vị thép

Từ ví dụ đơn giản trên, có thể phát biểu quy luật lợi thế so sánh như

sau: "Một quốc gia sẽ xuất khẩu những mặt hàng có giá cả thấp hơn một cách tương đối so với quốc gia kia Nói cách khác, một quốc gia sẽ xuất khẩu những mặt hàng mà quốc gia đó có thể sản xuất ra với hiệu quả cao hơn một cách tươnẹ đối so với quốc gia kia."

Như vậy, các giả thiết làm cơ sở cho lý thuyết về lợi thế so sánh khôngthực tiễn trong hầu hết các ngành như giả thiết về công nghệ đồng nhất giữacác quốc gia, không có lợi thế kinh tế theo quy mô, các yếu tố sản xuất khôngdịch chuyển giữa các quốc gia Với lý thuyết về lợi thế so sánh, mậu dịch và

sự chuyên môn hoá dựa vào nguồn lực (lao động, vốn, tài nguyên) giúp chomột quốc gia đạt được sự thịnh vượng Trong một thế giới mà thị trường phânkhúc, có sự khác biệt sản phẩm, khác biệt về công nghệ, hàng rào bảo hộ ngàycàng tăng, dường như lý thuyết lợi thế so sánh không đủ để giải thích tại saocác công ty lại thành công trên thị trường thế giới và đạt được mức tăng trưởng

cao Khi đó,người ta dùng lý thuyết về lợi thế cạnh tranh Lý thuyết lợi thếcạnh tranh đề cập đến một cách tiếp cận mới nhằm để trả lời những câu hỏisau: Tại sao một số doanh nghiệp cạnh tranh thành công trong khi một sốdoanh nghiệp khác thì thất bại trong một ngành? Chính phủ cần phải làm gì để

Trang 18

2 ì 1.4 Năng lực cạnh tranh của sản phẩm và các yếu tố quyết định

Một sản phẩm được coi là có sức cạnh tranh và có thể đứng vững khi có

mức giá thấp hơn hoặc khi cung cấp các sản phẩm tương tự với chất lượng hay

dịch vụ ngang bằng hay cao hon

Theo lý thuyết thương mại truyền thống, năng lực cạnh tranh được xem

xét qua lợi thế so sánh về chi phí sản xuất và năng suất lao động

Theo M Porter, năng lực cạnh tranh phụ thuộc vào khả năng khai tháccác năng lực độc đáo của mình để tạo sản phẩm có giá phí thấp và sự khác biệt

- Lợi thế về chi phí: tạo ra sản phẩm có chi phí thấp hơn đối thủ cạnhtranh Các nhân tố sản xuất như đất đai, vốn và lao động thường được xem lànguồn lực để tạo lợi thế cạnh tranh

- Lợi thế về sự khác biệt hóa: dựa vào sự khác biệt của sản phẩm làmtăng giá trị cho người tiêu dùng hoặc giảm chi phí sử dụng sản phẩm hoặcnâng cao tính hoàn thiện khi sử dụng sản phẩm Lợi thế này cho phép thịtrường chấp nhận mức giá thậm chí cao hơn đối thủ

Thông thường việc xác định khả năng cạnh tranh của sản phẩm dựa vào

4 tiêu chí:

Trang 19

Nhìn chung đánh giá năng lực cạnh tranh của sản phẩm phải xem xétcác mặt: chất lượng sản phẩm, chủng loại sản phẩm, tính đa dạng, mẫu mã,bao bì của sản phẩm, uy tín thưong hiệu của sản phẩm, nguồn hàng cung cấp

ổn định, giá cả sản phẩm và công tác Marketing sản phẩm

2.1.1.5 Sự cần thiết nâng cao năng lực cạnh tranh

Nâng cao năng lực cạnh tranh là: đánh giá thực tế năng lực cạnh tranhcủa quốc gia, doanh nghiệp, sản phẩm dịch vụ đó thông qua các tiêu chí để cónhững nhận định, biện pháp, chiến lược nhằm đưa doanh nghiệp có đủ sứccạnh tranh trên thị trường Hay nâng cao năng lực cạnh tranh là thay đổi mốitương quan giữa thế và lực của doanh nghiệp về mọi mặt của quá trình sảnxuất kinh doanh

Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh là một quy luật khách quan của

nền sản xuất hàng hóa, là một nội dung trong cơ chế vận động của thị trường.Sản xuất hàng hóa càng phát triển, hàng hóa dịch vụ bán ra càng nhiều, sốlượng cung cấp càng đông thì cạnh tranh càng gay gắt Nhưng cũng chính nhờ

sự cạnh tranh, mà nền kinh tế thị trường vận động theo hướng ngày càng nângcao năng xuất lao động xã hội Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh diễn

ra ở mọi lúc, mọi nơi, không phụ thuộc vào yếu tố chủ quan của riêng ai, nêncạnh tranh trở thành một quy luật quan trọng thúc đẩy sự phát triển Mọingành, doanh nghiệp đều phải tự mình vận động để đứng vững trong cơ chếnày Cơ chế thị trường mở đường cho doanh nghiệp nào biết nắm thời cơ, biếtphát huy tối đa thế mạnh của mình và hạn chế được tối thiểu những bất lợi đểgiành thắng lợi trong cạnh tranh

Hiên nay, nền kinh tế nước ta đang hội nhập với kinh tế thế giới đã tạođiều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, song cũng buộccác doanh nghiệp có những đổi mới để nâng cao sức cạnh tranh trên thươngtrường, hội nhập kinh tế chính là khơi thông các dòng chảy nguồn lực trongnước và nước ngoài, tạo điều kiện mở rộng thị trường chuyển giao công nghệ

Trang 20

và các kinh nghiệm quản lý.

Thách thức hàng đầu khi hội nhập kinh tế thế giới là tĩnh cạnh tranhngày càng khốc liệt cả thị trường trong nước và xuất khẩu do các hàng ràothuế quan bảo hộ cũng như các chính sách ưu đãi đang dần bị loại bỏ Chính

vì vậy, các ngành;doanh nghiệp phải không ngừng tăng vốn đầu tư, luôn đổimới công nghệ, chất lượng lao động để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh

và tăng năng lực cạnh tranh Thách thức nữa là hàng hóa và dịch vụ sẽ ngàycàng phải đương đầu với những rào cản thương mại quốc tế mới Vì vậy, cácdoanh nghiệp cần phải trang bị cho mình những kiến thức về thị trường cảtrong nước và ngoài nước, nắm bắt tập quán, luật kinh doanh ở thị trườngtrong nước và ngoài nước Khi mà sức cạnh tranh của doanh nghiệp được nâng

cao nó sẽ thể hiện tốt vai trò, chức năng của mình trong việc:

Phục vụ tốt hơn nhu cầu tiêu dùng của khách

hàng

Kích thích sản xuất phát triển ổn định

Thúc đẩy sự phát triển của khoa học kỹ thuật

Mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế

Trong bối cảnh đó nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm của cácdoanh nghiệp là một tất yếu khách quan [29]

2.1.1.6 Các chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa

Dựa vào các tiêu chí sau:

- Thị phần sản phẩm đó trên thị trường so với các đối thủ cạnh tranh, thị

phần càng lớn càng thể hiện sức cạnh tranh của sản phẩm đó càng mạnh

Để tồn tại và có sức cạnh tranh, sản phẩm của doanh nghiệp phải chiếmđược một phần của thị trường, qua đó đánh giá được sức cạnh tranh sản phẩmcủa mỗi doanh nghiệp, ưu thế cũng như điểm mạnh điểm yếu tương đối củadoanh nghiệp so với các đối thủ cạnh tranh

Trang 21

được đánh giá bằng năng lực cạnh tranh Đó là: lợi nhuận, dòng tiền mặt, tỷ lệvốn vay, mức dự trữ và hiệu suất lợi tức cổ phần doanh nghiệp, các hệ số thanh

khoản, các hệ số hoạt động, các chỉ số sinh lợi

- Khả năng nắm bắt thông tin: doanh nghiệp phải nắm bắt đầy đủ cácthông tin, bao gồm các thông tin về khả năng cạnh tranh của hàng hóa và dịch

vụ cùng loại, thông tin về tình hình cung cầu và giá cả, thông tin về công nghệmới thích hợp, thông tin về hoạt động của đối thủ cạnh tranh,

- Chất lượng sản phẩm và bao gói: người tiêu dùng khi mua hàng trướchết phải nghĩ tới khả năng hàng hóa đáp ứng nhu cầu của họ, tới chất lượng

mà nó có trong điều kiện hiện tại, chất lượng là yếu tố quan trọng bậc nhất

mà các doanh nghiệp lớn thường sử dụng trong cạnh tranh vì nó đem lại khảnăng “chiến thắng” Đó cũng là con đường mà doanh nghiệp thu hút kháchhàng, giữ gìn tạo dựng chữ tín tốt nhất, khi tiếp cận hàng hóa cái mà ngườitiêu dùng gặp phải trước hết là bao bì mẫu mã, vẻ đẹp và sự hấp dẫn của nó,làm cho người tiêu dùng quyết định mua hàng một cách nhanh chóng hơn.[15]Hàng hóa dù đẹp và bền đến đâu cũ sẽ bị lạc hậu trước những yêu cầungày càng cao của khách hàng Do đó, người sản xuất phải thường xuyên đổimới và hoàn thiện về chất lượng và kiểu dáng, mẫu mã, tạo những nét riêng,độc đáo, hấp dẫn người mua Đây cũng là yếu tố quan trọng để bảo vệ uy tínsản phẩm trong điều kiện ngày càng có nhiều sản phẩm giống nhau, hàng thậthàng giả lẫn lộn

- Giá cả sản phẩm và dịch vụ: giá phải đủ sức cạnh tranh với sản phẩmcùng loại Bảng giá đưa ra cần phải trả lời được câu hỏi rất cơ bản: với giá đóthì người tiêu dùng chấp nhận được không?

- Kênh phân phối: được coi là một chỉ tiêu quan trọng dùng đế đánh giá

sức cạnh tranh của doanh nghiệp Bởi lẽ, sản phẩm và giá cả là hai yếu tốquyết định những giá trị cơ bản giành cho khách hàng ở khâu sản xuất còn

Trang 22

đưa hàng hóa tới tay người tiêu dùng, thông qua những dịch vụ khách hàng.Trong xu thế tiêu dùng hiện tại, giá trị gia tăng là một trong những yếu tốquan trọng quyết định sự hài lòng của khách hàng, nếu mức độ hài lòng củakhách hàng cao hơn so với đối thủ cạnh tranh sẽ quyết định khả năng chiếmlĩnh thị trường, tức là quyết định thắng lợi trong cạnh tranh.

- Truyền tin và xúc tiến: tùy theo mục tiêu kế hoạch tiêu thụ sản phẩmkhác nhau mà các doanh nghiệp có chi phí này cao hay thấp Khi xem xét tỷ

lệ chi phí cho marketing so với tổng doanh thu ta thấy, chỉ tiêu này cao màdoanh nghiệp vẫn duy trì mở rộng được thị phần so với mục tiêu đã đề ra thì

có nghĩa là việc đầu tư cho marketing là hiệu quả

- Năng lực nghiên cún và phát triển(R&D): bao gồm cân nhắc về cácthành tựu đổi mới để triển khai các sản phẩm mới, nghiên cứu và triển khaiđược tổ chức ra sao (theo định hướng thị trường hay theo công nghệ), R&Dhữu hiệu cho phép có được sứ mạnh trong đổi mới cong nghệ, có ưu thế tronggiới thiệu sản phẩm mới thành công, cải tiến cập nhật liên tục sản phẩm Lợithế về chi phí: tạo ra sản phẩm có chi phí thấp hơn đối thủ cạnh tranh, cácnhân tố sản xuất như đất đai, vốn và lao động thường được xem như là nguồnlực để tạo lợi thế cạnh tranh

- Lợi thế về sự khác biệt: dựa vào sự khác biệt của sản phẩm làm tănggiá trị sử dụng cho người tiêu dùng hoặc giảm chi phí sử dụng sản phẩm hoặcnâng cao tính hoàn thiện khi sử dụng sản phẩm, lợi thế này cho phép thịtrường chấp nhận mức giá thậm chí cao hơn đối thủ

2.1.1.7 Các nhân tố quyết định khả năng cạnh tranh của sản phẩm

* Các nhân tô thuộc môi trường vĩ mô

- Tăng trưởng kinh tế là nhân tố tác động trực tiếp đến sức mua của xãhội, tạo điều kiện để sản phẩm mở rộng quy mô sản xuất

- Tài chính-tín dụng có vai trò quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế

Trang 23

năng của khu vực tài chính trong việc huy động và phân bố có hiệu quả tíndụng vào sản xuất các sản phẩm Ngoài ra lãi suất tín dụng ảnh hưởng đến khảnăng vay mượn của các cơ sở, doanh nghiệp sản xuất sản phẩm.

- Đầu tư mang lại động lực chủ yếu cho nâng cao khả năng cạnh tranhcủa các sản phẩm Đầu tư là yếu tố rất quan trọng có tính quyết định đến việcđẩy nhanh tốc độ tăng sản xuất sản phẩm chủ lực

- Mở cửa thương mại đòi hỏi nâng cao khả năng cạnh tranh của sảnphẩm, tăng xuất khẩu và tiến hành dỡ bỏ hàng rào nhập khẩu

- Tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ ảnh hưởng mạnh mẽ đến phát

triển các sản phẩm chủ lực Tiến bộ kỹ thuật tác động quan trọng đến chi phísản xuất và chất lượng sản phẩm hàng hóa

- Các chính sách vĩ mô trong các lĩnh vực giáo dục đào tạo, ứng dụngtiến bộ khoa học công nghệ và huy động nguồn vốn tài chính cần thiết chonâng cao khả năng cạnh tranh và phát triển các sản phẩm chủ lực

- Vị trí địa lý đóng vai trò quan trọng trong nâng cao khả năng cạnhtranh, mở rộng thị trường của các sản phẩm do giảm chi phí vận chuyển, tănggiao lưu với bên ngoài

- Phát triển nguồn nhân lực tạo ra những điều kiện thuận lợi cho nângcao khả năng cạnh tranh của các sản phẩm

- Bối cảnh quốc tế như xu thế toàn cầu hóa và khu vực hóa đang giatăng trở thành đặc điểm mới nổi bật của nền kinh tế thế giới sẽ đưa đến cácmặt thuận lợi, những cơ hội cũng như những thách thức cho cạnh tranh củacác sản phẩm

* Các nhân tô thuộc môi trường vi mô:

- Các nhà cạnh tranh tiềm tàng với quy mô sản xuất, sự khác biệt của

Trang 24

số lượng đối thủ, quy mô đối thủ, tốc độ tăng trưởng sản phẩm, tính khác biệtsản phẩm.

- Áp lực từ sản phẩm thay thế có cùng công năng phụ thuộc vào mứcgiá, nếu giá cả sản phẩm cao khách hàng sẽ chuyển sang sử dụng sản phẩmthay thế

- Áp lực từ nguồn cung cho ra đời nhiều loại nguyên vật liệu mới cótính ưu việt, cung cấp cho sản xuất với mục đích tạo ra sản phẩm mới có nhiều

ưu điểm hơn sẽ giành được ưu thế cạnh tranh

- Áp lực từ phía khách hàng buộc tập trung thỏa mãn khách hàng vớichất lượng sản phẩm tốt, mới lạ và chất lượng phục vụ khách hàng cao

2.1.2. Những vấn đê chung về Sản phẩm gốm

2.1.2.1. Khái niệm

Có những khái niệm khác nhau về sản phẩm gốm như:

- Sản phẩm gốm là những sản phẩm được làm từ những loại đất sétkhác nhau và được nung trong lò gốm

- Sản phẩm gốm là những sản phẩm do những người thợ thủ công ở các

làng nghề bằng đôi bàn tay khéo léo của mình sản xuất ra và được nung tớinhiệt độ 1100°c

- Sản phẩm gốm là những sản phẩm được sản xuất cơ bản bằng thủcông, có xương gốm bằng đất sét, được nung trong lò tới 1100°c và phục vụvào những mục đích khác nhau của con người

2.1.2.2. Đặc điểm và phân loại sản phâm gom

Hầu hết, đồ gốm đều được sản xuất theo lối thủ công, thể hiện rõ rệt tàinăng sáng tạo của người thợ lưu truyền qua nhiều thế hệ Do tính chất của các

Trang 25

nét đặc trưng riêng: có loại cốt đầy, chắc và khá nặng, thô mộc, trầm ấm Cóloại cốt mỏng thanh, nhẹ Lớp men phủ bề mặt cung có những nét khác nhau,

có loại thì thô sần, có loại thì hào nhoáng bóng bẩy về mầu men cũng được

sử dụng khác nhau Có vùng sử dụng mầu nâu, da lưon, xanh ngọc, Có vùng

sử dụng loại men rạn, men tinh, men xám, [2]

Dựa vào ý nghĩa sử dụng, có thể phân chia loại hình của đồ gốm nhưsau:

- Gốm mỹ nghệ bao gồm: tranh gốm, gạch trang trí, lọ hoa, tượng, đènngủ, chậu cây cảnh,

- Gốm gia dụng bao gồm: chum, vại, chậu, bát, đĩa, âu, lọ, vò, ấm,chén

- Gốm tín ngưỡng bao gồm: bát hương, bình hương, tiêu quách

- Gốm xây dựng: ống nước, gạch men, [l]

Trang 26

làng nghề dần dần tách khỏi nông nghiệp và trở thành các hoạt động kinh tếđộc lập của hộ gia đình[10] Như vậy, làng nghề được hình thành trên cơ sởphát huy nội lực kinh tế(nhất là vốn, lao động, kinh nghiệm quý báu của chaông) của hộ nông dân và hợp tác kinh doanh trong cộng đồng dân cư nông thôn,

tạo sự hỗ trợ lẫn nhau giữa phát triển ngành nghề với nông nghiệp để phát triển

kinh tế, tạo việc làm, tăng thu nhập và cải thiện đời sống của nhân dân

Làng nghề phát triển là một bộ phận cấu thành của sự phát triển kinh tế

ở nông thôn, là một trong số giải pháp làm chuyển dịch cơ cấu và làm cân đốinền kinh tế ở nông thôn theo hướng CNH-HĐH

Khi nghiên cứu về làng nghề, một số nhà kinh tế cho rằng: việc pháttriển làng nghề là một nội dung quan trọng trong sự nghiệp CNH-HĐH nôngnghiệp, nông thôn Nó không chỉ là việc của bản thân các làng nghề mà là sựnghiệp chung cho con người hiện đại hóa đất nước

Việc khôi phục và phát triển các làng nghề hiện nay cần phải có cuộcđiều tra, khảo sát về hiện trạng và tiềm năng của các làng nghề trong cả nước,trên cơ sở đó mới tìm ra các giải pháp hữu hiệu

Làng nghề mới được hình thành do yêu cầu của phát triển kinh tế nhằmnâng cao đời sống người dân, trên cơ sở vận dụng các tiềm năng sản xuất củađịa phương nhất là nguồn lao động [18]

Trang 27

Làng nghề sản xuất hàng tiêu dùng: làng gốm Phù Lãng, làng gỗ ĐồngKỵ

Làng nghề sản xuất ra nguyên liệu cho công nghiệp: làng rèn sắt ĐaHội,

Làng nghề chế biến nông lâm sản: láng nrợu Vân, tương Bần, kẹo LaPhù, Hiện nay các làng nghề này đang gặp khó khăn về đầu tư cơ sở vật chất

kỹ thuật, vấn đề đảm bảo nguyên liệu sạch cho sản xuất, công nghệ bảo quảnlâu dài, việc dùng hóa chất đúng quy định, cũng là vấn đề nan giải cần giảiquyết

2.1.32 Đặc điểm phát triển các làng nghề

- Đặc điểm về sản phẩm: sản phẩm thường mang tính chất thủ công, cónét đặc sắc riêng mà các sản phẩm khác không thể có về giá trị nhân văn cao(bí quyết nhà nghề) và bản sắc dân tộc Sản phẩm mang tính chất truyền thống

từ đời này sang đời khác Hình thức sản phẩm đẹp, chất lượng tốt hơn các nơikhác cùng sản xuất ra loại sản phẩm đó Chính đặc điểm này đã giúp sảnphẩm của các làng nghề tồn tại, phát triển lâu dài và đứng vững trong nền kinh

tế thị trường hiện nay

- Đặc điểm về kỹ thuật: Công cụ và công nghệ mang tính chất tiểu thủcông, quy trình sản xuất được truyền lại dưới dạng kinh nghiệm, hao tốn nhiều

lao động, chủ yếu lao động đơn giản và bàn tay khéo léo của nghệ nhân quakinh nghiệm lâu đời Tuy cùng một loại sản phẩm nhưng ở mỗi địa phương,thậm chí mỗi nghệ nhân lại tạo ra sản phẩm có nét độc đáo riêng Trong vàinăm gần đây, sự phát triển của công nghiệp đã cơ giới hóa được một số khâucủa quá trình sản xuất ngoài những khâu cần bàn tay khéo léo của nghệ nhân.Máy móc đã thay thế sức người làm cho năng xuất lao động tăng cao, giáthành sản phẩm hạ Đó là sự vận dụng kết họp giữa kỹ thuật truyền thống vàcông nghệ hiện đại

Trang 28

làng nghề thường không có sẵn mà hầu hết phải đi mua từ bên ngoài Trongnhững năm gần đây, nhờ hệ thống giao thông phát triển và cơ chế quản lý thịtrường hợp lý, thông thoáng nên việc cung ứng nguyên liệu, vật liệu trở nênkịp thời, linh hoạt, đáp ứng được yêu cầu của sản xuất Khi quy mô của sảnxuất được mở rộng, nguyên liệu sẽ trở nên khan hiếm đòi hỏi sử dụng phảihợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả.

- Đặc điểm về lao động: lao động chủ yếu là lao động trong gia đình,bao gồm cả người trong độ tuổi và ngoài độ tuổi lao động Lao động chủ yếu

là không được đào tạo kỹ thuật qua trường lớp mà thường vừa học vừa làm.Người học nghề phải tự quan sát học hỏi kết họp với bác thợ cả hay nghệ nhân

dạy bảo qua hình thức truyền miệng

- Đặc điểm về tổ chức sản xuất: chủ yếu là sản xuất nhỏ theo quy 1Ĩ1Ô

hộ gia đình, HTX thủ công Ngoài ra còn một số hình thức khác như công tyTNHH, doanh nghiệp tư nhân,

- Đặc điểm về thị trường tiêu thụ sản phẩm: thị trường tiêu thụ lớn, đadạng, có khuynh hướng cho xuất khẩu, giá bán cao do sản phẩm tinh xảo đápứng được thị hiếu của khách hàng Nhất là trong điều kiện nền kinh tế nước ta

mở rộng giao lưu với nhiều nước trên thế giới nên sản phẩm làng nghề càng có

điều kiện xuất hiện ở thị trường ngoài nước Song thị trường nước ngoài yêucầu rất khắt khe về chủng loại, mẫu mã và chất lượng sản phẩm nên sản phẩmlàng nghề cần được quan tâm đầu tư cao hơn nữa

2.1.3.3 Vai trò của làng nghề trong phát triển nông thôn

- Tạo việc làm cho người lao động

Người nông dân sản xuất nông nghiệp thường theo mùa vụ, nên thờigian sản xuất thường kéo dài hơn thời gian thật sự lao động Do đó, trong sảnxuất nông nghiệp có những lúc nhàn rỗi, dư thừa lao động Khi sản xuất cácsản phẩm của làng nghề sẽ tạo cho người lao động có việc làm trong thời

Trang 29

nghề thu hút trên 60% lực lượng lao động ở nông thôn tham gia vào hoạt độngsản xuất tiểu thủ công nghiệp Nhờ đó, tỷ lệ thời gian làm việc được sử dụngcủa lao động trong độ tuổi 0 khu vực nông thôn đạt khoảng 80% Đặc biệt một

số làng nghề truyền thống còn sử dụng được lao động già cả, khuyết tật, trẻ

em mà các khu vực kinh tế khác không nhận

- Tăng thu nhập cho hộ gia đình

Ngoài thu nhập từ sản xuất nông nghiệp, các hộ gia đình tham gia sảnxuất các sản phẩm làng nghề sẽ có thêm nguồn thu cho hộ Chính vì vậy pháttriển làng nghề sẽ tăng thu nhập cho hộ Từ đó tăng mức sống cho người dânnông thôn Theo Ông Vũ Quốc Tuấn chủ tịch hiệp hội làng nghề Việt Nam thìthu nhập của người lao động hưởng lương ở các làng nghề hiện phổ biếnkhoảng 600.000đ đến 1500.000đ/ tháng, cao hon nhiều so với thu nhập từ sảnxuất thuần nông.[30]

- Khai thác vốn kỹ thuật của dân

Quá trình sản xuất các sản phẩm của làng nghề đã tận dụng một cáchtriệt để các yếu tố về vốn, lao động, kỹ thuật của hộ Tạo việc làm cho tất cảmọi thành viên trong gia đình, các lao động chính thì trực tiếp sản xuất, cáclao động phụ thì có thể làm các công đoạn bổ trợ cho sản xuất Nhờ có pháttriển ngành nghề truyền thống mà các quy trình sản xuất của ông cha từ xưa

để lại không bị mai một mà ngày càng được cải tiến phong phú hơn đáp ứngnhu cầu của thị trường

- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế và lao động nông thôn ngày càng hợp lýhơn

Kinh tế nông thôn cơ cấu chủ yếu là nông nghiệp, chiếm khoảng trên70% Đa số là các hộ thuần nông, bên cạnh đó là có một số hộ kiêm ngànhnghề và một số ít hộ làm dịch vụ Theo đường lối của Đảng, phát triển làngnghề sẽ tận dụng được nguồn nguyên liệu là sản phẩm của ngành nông nghiệphoặc công cụ sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp, làm tăng khả năng tích lũy

Trang 30

vốn và kỹ thuật, hỗ trợ cho nông nghiệp, công nghiệp và các loại hình dịch vụkhác 0 nông thôn phát triển Làng nghề phát triển sẽ trở thành trung tâm kinh

tế của địa phuơng, của vùng

Tạo ra bộ mặt đô thị hóa mới cho nông thôn để nông thôn ly nông nhưng

không ly huơng và làm giầu trên quê huơng mình, làm giảm bớt làn sóng nôngdân nhập cư về các thành phố lớn kéo theo hàng loạt hệ quả nặng nề

- Thay đổi tập quán tư duy sản xuất

Khi người dân làng nghề tham gia sản xuất, sản phẩm của họ làm ra làsản phẩm hàng hóa nên họ phải chủ động trong mọi khâu của quá trình sảnxuất, đặc biệt là khâu tiêu thụ hàng hóa Họ không còn tư tưởng sản xuất tựcung tự cấp của người nông dân Bởi vậy, mà người dân các làng nghề trở nênnăng động hơn, linh hoạt hon trong việc bố trí sản xuất

- Tăng đóng góp cho ngân sách địa phương

Phát triển sản xuất ngoài tăng thu nhập cho chính hộ gia đình còn tăngthêm thu nhập quốc dân, tăng thu ngân sách cho địa phương bằng việc đóngthuế, giải quyết việc làm, du lịch làng nghề

- Góp phần bảo tồn và phát huy bản sắc dân tộc

Vì làng nghề cổ truyền tạo nên những sản phẩm truyền thống với trình

độ kỹ, mỹ thuật cao, kết tinh tài hoa của các nghệ nhân qua nhiều thế hệ,nhiều sản phẩm không chỉ có ý nghĩa về kinh tế mà còn phản ánh một cáchsinh động lối sống và ước vọng của người lao động, thấm đẫm tâm hồn ngườiViệt và được truyền từ đời này sang đời khác

2.2 Cơ sở thực tiễn

2.2.1 sản xuất đồ gốm trên thế giới

• Trung Quốc

Trang 31

Thời cổ mọi người đã thích nằm loại gối bằng gốm cho mát, gối gốmcòn là của hồi môn, trẻ em cũng thường gối đầu, trên gối thường có mấy chữ “gối sống lâu” Vào thời nhà Tống và nhà Đường(thế kỷ 7- 13) trở lại đây, cócác loại gối gốm ba mầu, gối tráng men có hoa văn, gối tráng men trắng.Đĩa cá vùng son Đông: chiếc đĩa vẽ hình con cá xanh là sản phẩm lònung sứ dân gian, trông đơn giản, dày dạn, dung tích tương đối lớn Chiếc đĩa

có hình con cá này vẽ bằng tay, con cá hình tròn này phù hợp với tạo hình, tuynhiên tạo hình, công vẽ, lên màu, đều nung trên các lò khác nhau, dưới sựhoàn thành của các thợ khác nhau, cho nên hình con cá trên mỗi đĩa cũngkhác nhau

Bình cổ Giới Thủ: chủ đề là hình ảnh các nhân vật trong cốt truyệntuồng truyền thống, đó là các hình quan văn quan võ, vẽ trên diện tích rộngcủa lõi bình mầu đỏ Chiếc bình trông đơn giản, miệng bình thẳng, cổ hơi hẹp,bụng bình to, không có những chi tiết rườm rà như loại gốm nung trong lòquan phủ, trông đơn giản và gần gũi

Sứ Thanh Hoa: thịnh hành vào thời nhà Nguyên(1206- 1368), phục vụhai đối tượng quan lại và thường dân Đồ gốm có công nghệ cầu kỳ thường cómặt trong các nhà quan lại thương gia, đồ sứ thô thường dùng trong các nhàthường dân Đồ sứ Thanh Hoa dân dã trông hoạt bát, mộc mạc, nét vẽ phóngkhoáng tự nhiên Hình ảnh đề tài đồ sứ Thanh Hoa rất rộng, với hình ảnh phảnánh đời sống xã hội và nhân vật trong tục ngũ, non nước chim muông thú vật,hoa lá quả cành, thơ từ văn chư, phù hiệu tốt lành, một số truyền thuyết, tìnhtiết tiểu thuyết, các nhân vật tuồng truyền thống được đưa vào trang trí cho đồ

sứ một cách khéo léo, trông mới mẻ và độc đáo

• Nhật Bản

Nhật Bản là một trong những nước có nghệ thuật gốm sứ phát triểnnhất Điều đó không chỉ thể hiện ở số lượng người làm nghề gốm mà còn thểhiện ở số lượng lớn những người yêu thích nghệ thuật này Môn nghệ thuật lấy

Trang 32

hồn từ thiên nhiên, đất đai làm nguồn sáng tạo Dưới bàn tay của những conngười này, nghệ thuật gốm sứ Nhật đã cho thấy sự phát triển vô cùng phongphú về thể loại Không kể đến những đồ gốm sứ ứng dụng trong công nghiệp,chúng ta có thể thấy sự phát triển đa dạng của các phong cách gốm ở nhữngnhà làm gốm cá nhân mang bản sắc sáng tạo riêng, hoặc những nghệ nhân làmgốm thiên nhiên về ứng dụng hoặc sáng tạo trên cơ sở kỹ thuật và hình dạnggốm truyền thống, hay những nhà làm gốm chú tâm vào hình khối không quantrọng tính ứng dụng Nghệ thuật làm gốm chỉ lấy các chất liệu từ đất, tuynhiên những dòng gốm độc đáo theo từng vùng trên cơ sở phát huy chất liệuriêng có của vùng đó lại rất phát triển Các lò gốm có thể tìm thấy ở khắp cácnơi trên đất Nhật Bản, nhiều nhất là vùng Kanto cho đến miền Tây Nơi đây có

nguyên liệu đất tốt, và có thể kiếm cây làm nguyên liệu rất dễ dàn Đất và đá

là nguyên liệu gốm, mang đặc trưng thổ nhưỡng của từng vùng, nhiệt độ lò vàphong cách biểu hiện tác phẩm cũng khác nhau, kỹ thuật làm đồ gốm sứ luônphát huy những đặc trưng này được tôi luyện, mài giũa qua thời gian và trởthành nét truyền thống

Đồ gốm Bizen, nguyên liệu là loại đất có nhiều thành phần sắt, không

sử dụng men để phát huy tối đa đặc trưng của chất đất nơi đây Từ thờiMuromachi (1336- 1573) các tác phẩm gốm sứ Bizen đã được sử dụng trongnghệ thuật trà đạo và tới nay vẫn được sử dụng, gần như không có gì thay đổi.Giới hạn địa lý không bị bó hẹp Oribe là loại gốm trước đây chỉ sản xuất tạivùng Seto và Mino, nhưng ngày nay mở rộng trên phạm vi nhiều vùng khác,tạo nên vẻ đẹp hiện đại mới cho Oribe quyện trong nét truyền thống của gốm

Trang 33

nhiều kiểu hoa văn phong phú, đa dạng sau này đến thời Cao Ly (918 - 1329)

đồ sứ đã phát triển hoàn thiện và chính thức thay thế đồ gốm, với nhữngphương pháp chế tác tương đối giống nhau, sản phẩm gốm sứ nói chung đều

có ưu điểm như không thấm nước, bền và tiện dụng Vào thời đại này đã có sựxuất hiện của sứ xanh và cũng bắt đầu từ đây đánh dấu thời kỳ hưng thịnh củanền văn hóa gốm sứ Đỉnh cao của sản phẩm gốm sứ giai đoạn này là nghệthuật trạm khảm cùng sự xuất hiện tiêu biểu của sứ xanh

Sau thời đại Cao Ly là đến thời Triều Tiên (1392 - 1910), tại thời điểmnày đồ gốm sứ Hàn Quốc đã phát triển cao hơn với sự ra đời của sứ trắng và sứ

cát xanh Nếu so sánh với thời đại Cao Ly thì đồ gốm, sứ giai đoạn này có hoavăn giản tiện hon và bề mặt thô ráp hơn Sau đó, chính kỹ thuật chế tạo đồgốm sứ tại thời kỳ này đã được truyền bá rộng rãi sang Nhật

Ngày nay, vẫn còn rất nhiều làng nghề truyền thống sản xuất đồ gốm,

sứ tại Hàn Quốc

Sứ xanh: là nhưng sản phẩm sứ có bề mặt mang mầu xanh nhạt Trongquá trình chế tạo, các nghệ nhân sử dụng chất phụ gia có chứa thành phần sắttrắng lên bề mặt sản phẩm có nổi mầu xanh nhạt như mầu ngọc Thời cổ, người

ta hy vọng có thể dùng sứ xanh đê thay thế ngọc, những hoa văn trên đồ sứxanh đều rất tinh tế, sống động, bề ngoài trông như thật và luôn là biểu tượngcho sự giàu sang, phú quý Những bức họa về mây trời, đầm sen hay liễu rủ đều

là biểu tượng về một thế giới vĩnh hằng của người Hàn Quốc cổ xưa

Sứ trắng: màu trắng trong suốt được tạo nên bằng cách người ta quét một

lớp phụ gia lên trên bề mặt đất sét màu trắng ban đầu Quá trình chế tạo sứtrắng cũng như sứ xanh, khởi đầu từ thời Cao Ly nhưng đến thời Triều Tiên mới

phát triển hưng thịnh Gọi là sứ trắng bởi vì bản thân sản phẩm luôn mang một

Trang 34

2.2.2 Sản xuất đồ gốm ở Việt Nam

222.1 Sự hình thành và phát triển đồ gốm ở Việt Nam

• Thời nguyên thủy

Từ thời nguyên thủy con người đã biết chế tạo ra đồ gốm Bắt nguồn từ

sự quan sát những cục đất sét bị nung trong đống lửa hay đám cháy rừng,người ta nặn thử rồi đem nung và cứ như thế người ta học dần cách làm các

đồ vật bằng gốm: nồi nấu thức ăn, vò đựng lương thực và hạt giống,

• Thời kỳ Vua Hùng

Những tư liệu về sản xuất đồ gốm ở thời kỳ dựng nước ở nước ta, ngàynay thu thập được khá phong phú Những di vật gốm đã góp phần quan trọng vào

việc khám phá ra các giai đoạn phát triển của nền văn minh cổ xưa Đồ gốm thời

Hùng Vương gồm nhiều loại hình khác nhau Chủ yếu là dùng trong sinh hoạt và

một số dụng cụ sản xuất như các nồi hình cầu, đáy thường lồi hay lõm lên phía

trên một ít hoặc đáy bằng, các loại vò, bình, chậu, bát đĩa, chì lưới, bàn xoa, tất

cả những loại đồ gốm này đều thuộc loại gốm thô Chất liệu làm đồ gốm là đấtsét pha cát khá mịn và vụn bã động vật xương gốm thanh nhẹ nhưng dễ thấmnước và bở Hiện nay những di tích về lò nung chưa phát hiện nhiều Ớ di chỉkhảo cổ xã Thiệu Dương(Thiệu Hóa) thuộc lưu vực sông Chu, sông Mã người ta

đã phát hiện hai lò nung có kích thước lớn Lò có miệng, thành và cửa, miệng lò

tròn đường kính từ 1.5 đến 2m Trong những lò này còn một số đồ gốm chưanung hoặc nung dở dang nằm lẫn lộn với tro, than gỗ

Trang 35

Bắc thuộc kéo dài 1000 năm Vào thời kỳ này nghề gốm tiếp tục phát triển.Ngoài loại gốm thô, đã xuất hiện gốm tráng men, nửa sành, nửa sứ.

Nghề nấu thủy tinh ở nước ta được phát triển từ thế kỷ 3 Lúc ấy ngườithợ thủ công Việt Nam đã chế tạo được các loại bình, bát bằng thủy tinh mầutím, màu xanh rất đẹp 0 nhiều mộ cổ thuộc thời kỳ này người ta gặp nhữngchuỗi hạt trang sức bằng thủy tinh

• Thời kỳ phong kiến

Năm 1010 nhà Lý dời đô ra Thăng Long đánh dấu một thời kỳ phát triển

mới của dân tộc Trước hết là nghề sản xuất vật liệu xây dựng Chùa Một Cộtxây dưng năm 1049 có hai ngọn tháp lớn lợp bằng ngói sứ trắng Đồ sứ đã dùng

khá phổ biến Ngoài ấm chén, đĩa bát bằng sứ, người ta làm cả ngói sứ Các đồ

gốm sứ không nghững phong phú về loại hình mà còn được chế tạo tinh xảo.Nhưng sản phẩm này thường được tráng men nâu, men ngọc, men trắng ngà.Nhiều đồ gốm có trang trí hình khắc chìm hay nổi rất công phu, tỷ mỉ

• Thời đại ngày nay

Ngày nay, với cuộc sống hiện đại con người vẫn sử dụng đồ gốm làmvật dụng vào cuộc sống sinh hoạt hàng ngày như: ấm chén bằng gốm, chumvại để đựng nước, niêu đất để nấu cơm - kho cá, Đặc biệt sản phẩm gốm mỹnghệ phát triển rất mạnh ở các làng nghề, đa dạng về mẫu mã, phong phú vềchủng loại sản phẩm Mỗi một sản phẩm là một cá thể được tạo ra bởi sự sángtạo của bàn tay và khối óc của các nghệ nhân, tạo ra được những đường néthấp dẫn nhưng vẫn mang đặc trưng chung của gốm cổ truyền, cùng với sựthăng hoa của tạo hóa, là sự tri ân giữa đất và người Hiện nay, sản phẩm gốm

mỹ nghệ của Việt Nam có mặt ở nhiều nước trên thế giới, đem lại giá trị xuấtkhẩu rất lớn cho các làng nghề, tăng thu nhập và cải thiện đời sống cho ngườisản xuất

Trang 36

trang trí Chúng ta có thê bắt gặp gốm ở bất kỳ đâu từ chốn cung đình lộng lẫy

đến mỗi ngôi nhà dân dã Có lẽ rất ít thứ vật dụng nào lại chiếm được vị trí quan

trọng như gốm, người ta dùng gốm làm vật dụng trong gia đình Những chum,vại, chậu, bình đối với dân thường thì họ để trồng cây, chứa nước, muối dưa

cà Còn đối với vua chúa hay hàng quan lại trong triều đình thì gốm làm côngphu hơn rất nhiều và ngoài những tác dụng vốn có, gốm ở đây ngoài dưới bàntay tài hoa của người thợ biến thành những đồ trang trí quý giá Với bàn taykhối óc, con mắt nghệ thuật tinh tế cộng với sự nỗ lực, người thợ tạo nên những

tác phẩm nghệ thuật bằng gốm thể hiện được những tinh hoa văn hóa dân tộc từ

bao đời truyền lại và hơn thế thổi vào gốm cái hồn riêng sống động

Việt Nam có 54 dân tộc anh em quần tụ với nhau tạo thành một dân tộcvững chắc, đó là nơi tập trung của nhiều vùng miền văn hóa khác nhau vôcùng sống động Gốm Việt Nam cũng vậy, tuy nhiên với mỗi trung tâm làmgốm thì những sản phẩm gốm lại mang những giá trị khác nhau đặc trưng chovăn hóa của mỗi vùng đất sản sinh ra gốm Một đặc điếm rõ nét của nghề gốm

là đều phát triển dọc triền sông, bởi lẽ ngoài việc tiện đường chuyên chở, đất sét

dọc các triền sông là loại nguyên liệu quý để sản xuất gốm

Nghề gốm ở Việt Nam trải khắp trên mọi miền đất nước, miền Bắc thì có

gốm Bát Tràng (Hà Nội), gốm Phù Lãng (Bắc Ninh), Thổ Hà (Bắc Giang), gốm

Đông Triều (Quảng Ninh), gốm Hương Canh(Vĩnh Phúc), ở miền Trung thìnổi tiếng gốm của người Chăm ở làng Bầu Trúc (Ninh Thuận) , miền nam cógốm Sài Gòn, gốm Bình Dương, gốm Biên Hòa (Đồng Nai) Sản phẩm gốm

Trang 37

2.2.22 Năng lực cạnh tranh của sản phẩm gốm Việt Nam

Hiện nay, các doanh nghiệp, hộ sản xuất gốm tại các làng nghề cònchưa nhận thức được một cách rõ ràng và đầy đủ về các đối thủ cạnh tranh vàcác sản phẩm cạnh tranh Sản phẩm gốm của ta đang phải cạnh tranh gay gắtvới sản phẩm của chính các nước đans nhập khẩu mặt hàne này của Việt Namnhư Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Sản phẩm của họ thường là hàng tinhxảo, chất lượng cao, giá cao, có kỹ thuật riêng, có sự khác nhau về mẫu mã,mang đậm nét văn hóa địa phương Do vậy, sản phẩm gốm Việt Nam muốnvào thị trường này cần phải tìm cách tạo sự khác biệt

Có thể nhận diện năng lực cạnh tranh của sản phẩm gốm Việt Nam nhưsau: điểm mạnh là có lịch sử lâu đời, mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc, giácạnh tranh một phần do chi phí lao động rẻ, lực lượng lao động thủ công dồirào, có tay nghề tương đối cao, nguồn nguyên liệu rẻ chủ yếu khai thác trongnước Tuy nhiên có những điểm yếu sau: chất lượng không ổn định, khôngđồng đều(cả khâu nguyên liệu cho đến thành phẩm) Mẫu mã nghèo nàn ít đổimới, thiếu tính sáng tạo, tình trạng nhái mẫu mã xảy ra tương đối nhiều, sảnxuất thì phân tán khó có thể triển khai hàng loạt để đáp ứng những đơn hànglớn Khả năng nắm bắt thị hiếu, nhu cầu của khách hàng quốc tế còn hạn chế,sản xuất mang tính bị động Khâu phân phối còn qua nhiều trung gian làmgiảm khả năng cạnh tranh

Tóm lại, việc xác định đối thủ cạnh tranh và hiểu biết về đối thủ cạnhtranh của các doanh nghiệp, các làng nghề sản xuất gốm còn rất hạn chế Đòihỏi các tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp liên quan cần phải có những nỗ lực hơnnữa, đầu tư nguồn lực vào công tác nghiên cứu thị trường và xây dựng hệthống thông tin, chia sẻ thông tin thị trường giữa các bên liên quan

2.2.3 Chủ trương - Chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển các làng nghề ở Việt Nam

Trang 38

hội ở nông thôn như chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa hiện đại hóa, giải quyết việc làm tại chỗ, xóa đói giảm nghèo, khai thác đượctiềm năng cũng như phát huy được lợi thế so sánh, lợi thế nhờ quy mô ở từngvùng, từng địa phương, Qua đó thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệphóa hiện đại hóa nông nghiêp nông thôn Do vậy, cần phải có chủ trương,chính sách đúng đắn để tạo điều kiện cho làng nghề phát triển trên cả nước.

-• Nhà nước

Văn kiện Đại hội Đảng VIII đã nêu: “ phát triển đa dạng công nghiệpchế biến và tiểu thủ công nghiệp ở nông thôn, thị tứ, thị trấn Liên kết vớicông nghiệp đô thị lớn và khu công nghiệp tập trung Phát triển các làng nghề,nhất là các làng nghề làm hàng xuất khẩu ”

Đến Đại hội Đảng IX vẫn khẳng định nhiệm vụ đó là: “ 1Ĩ1Ở mang cáclàng nghề, phát triển các điểm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp sản xuấthàng thủ công mỹ nghệ ”

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X vừa qua đã chỉ rõ” Khuyến khích

để các doanh nghiệp và họp tác xã đầu tư phát triển công nghiệp và dịch vụ ởnông thôn ,phát triển mạnh các loại hình doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệpnhỏ và vừa; phát triển bền vững các làng nghề Tạo điều kiện cho lao độngnông thôn có việc làm cả trong công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ,tại chỗ và ngoài nông thôn ”

Ngày 13 tháng 07 năm 2006 Chính phủ đã ký nghị định số 66/2006/NĐ-

CP về phát triển ngành nghề nông thôn Trong đó có những chính sách khuyếnkhích như:

- Bảo tồn phát triển làng nghề truyền thống; phát triển làng nghề gắnvới du lịch; phát triển làng nghề mới

- Tạo điều kiện thuận lợi về giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc thuêđất tại các cụm cơ sở ngành nghề nông thôn và được cấp giấy chứng nhậnquyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai

Trang 39

- Được hưởng ưu đãi đầu tư theo luật đầu tư; hỗ trợ lãi suất sau đầu tưtheo quy định hiện hành; vay vốn từ quỹ hỗ trợ giải quyết việc làm theo quyếtđịnh hiện hành;

- Nhà nước khuyến khích tạo điều kiện thuận lợi và hỗ trợ cho các cơ

sở ngành nghề nông thôn hoạt động xúc tiến thương mại theo quy định hiệnhành của xúc tiến thương mại quốc gia,

Bằng những công việc cụ thể đó là: Chính phủ giao cho Bộ nông nghiệp

và phát triển nông thôn xây dựng chuông trình bảo tồn và phát triển làng nghề

ở Việt Nam từ nay cho đến năm 2020, băng một khoản đầu tư trên 11.000 tỷđồng Với mục tiêu; phát triển 240 làng nghề mới, bảo tồn và phát triển trên

320 làng nghề truyền thống đang bị mai một, đồng thời phát triển du lịch ở

114 làng nghề khác

• Tính Bắc Ninh

Triển khai thực hiện các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước,ngay từ khi Đại hội Đảng bộ tính Bắc Ninh lần thứ XVI đã đề ra chủ trương “Đẩy mạnh phát triển các khu công nghiệp lớn tập trung và các cụm côngnghiệp làng nghề” Tỉnh ủy Bắc Ninh đã ban hành Nghị quyết số 04/NQ-TU

về khôi phục và phát triển các làng nghề thủ công truyền thống nhằm triểnkhai thực hiện chủ trương đề ra trong Nghị quyết Đại hội Đảng bộ lần thứXVI Ngày 10 tháng 10 năm 2005 ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Ninh đã ban hànhQuyết định số 128/2005/QĐ-UB về quy chế quản lý khu công nghiệp nhỏ vàvừa, cụm công nghiệp làng nghề trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh

Để tạo điều kiện cho các làng nghề phát triển, tỉnh Bắc Ninh đã có chủtrương triển khai xây dựng các khu công nghiệp làng nghề Đến nay, đã quyhoạch 23 cụm công nghiệp làng nghề với diện tích khoảng 500 ha, trong đó đãxây dựng xong và đưa vào hoạt động 21 khu công nghiệp làng nghề[2] Hiệnnay, tỉnh Bắc Ninh cùng với huyện Quế Võ đang triển khai xây dựng khucông nghiệp làng nghề gốm Phù Lãng với tổng diện tích 30 ha Đây là chủ

Trang 40

trương đúng đắn và sáng tạo, không những mở rộng mặt bằng, tăng cường cơ

sở vật chất, cơ sở hạ tầng, các công trình dịch vụ mà còn tạo điều kiện thuậnlợi cho các doanh nghiệp đầu tư đổi mới trang thiết bị sản xuất theo hướnghiện đại.[l ]

Những chủ trương chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước cùngcác cơ chế chính sách triển khai cụ thể và sáng tạo của Tỉnh ủy, ủy ban nhândân tỉnh Bắc Ninh đã tạo một luồng gió mới làm hồi sinh và phát triển cáclàng nghề truyền thống của tỉnh

2.2.4 Các nghiên cứu về năng lực cạnh tranh của sản phẩm gốm

2.2.4.1 Kinh nghiệm nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành sản xuất gạch

Ý [28]

Vào năm 1987, các công ty sản xuất và xuất khẩu gạch gốm lát sàn của

Ý đứng đầu thế giới Thặng dư thương mại về gạch gốm lát sàn của ý trongnăm đó là khoảng 1,4 tỷ USD Những người mua trong nước tinh tế và đòi hỏicao, các kênh phân phối mạnh và độc nhất, và sự ganh đua khốc liệt giữa cáccông ty địa phương đã tạo ra áp lực thường xuyên cho việc đổi mới Nhữngnhà sản xuất gạch lát sàn cũng hưởng lợi từ một tập hợp phát triển của các nhàcung ứng máy móc địa phương và các ngành hỗ trợ, nguyên liệu sản xuất, dịch

vụ và cơ sở hạ tầng khác Sự phát triển của các ngành hỗ trợ cũng củng cốthêm sức mạnh của người Ý về gạch lát sàn

Nguồn gốc của Ngành này tại ỷ

Nhu cầu đối với gạch gốm lát sàn của nước Ý đã bắt đầu tăng sau thờihậu chiến, khi việc tái thiết nước Ý đã tạo ra một sự bùng nổ về vật liệu xâydựng Nhu cầu của nước ý về gạch gốm lát sàn là đặc biệt lớn do khí hậu, sởthích địa phương và kỹ thuật xây dựng Các công ty gạch lát sàn đã thu hút

Ngày đăng: 04/01/2016, 18:20

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Khánh Hội (2007) “ Báo cáo thực trạng và giải pháp phát triển làng nghề ở xã Phù Lãng, huyện QuyếVỗ, tỉnh Bắc Ninh” Trường trinh trị Nguyễn Văn Cừ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lê Khánh Hội (2007) “ "Báo cáo thực trạng và giải pháp phát triển làngnghề ở xã Phù Lãng, huyện QuyếVỗ, tỉnh Bắc Ninh”
2. Trần Đình Luyện (2005) “ Văn hóa làng nghề truyền thống tỉnh Bắc Ninh - thực trạng và giải pháp bảo tồn phát huy” Báo cáo đề tài khoa học cấp tỉnh, Sở văn hóa thông tin tỉnh Bắc ninh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa làng nghề truyền thống tỉnh Bắc Ninh- thực trạng và giải pháp bảo tồn phát huy” "Báo cáo đề tài khoa học cấptỉnh
3. Trương Minh Hằng “ Gốm sành nâu ở Phù Lãng” Viện khoa học xã hội Việt Nam, NXB khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gốm sành nâu ở Phù Lãng
Nhà XB: NXB khoa học xã hội
4. Đinh Văn Ân (2003) “ Đê án nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng hóa dịch vụ Việt Nam”, uỷ ban quốc gia về hợp tác kinh tế quốc tế, Viện nghiên cứu kinh tế quản lý Trung ương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đê án nâng cao năng lực cạnh tranh của hànghóa dịch vụ Việt Nam
5. Bộ kế hoạch và đầu tư, Viện chiến lược phát triển (1999) Tổng quan về cạnlì tranh công nghiệp, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng quan vềcạnlì tranh công nghiệp
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
6. Chu Văn Cấp (2003) “ Nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế nước tatrong quá trình hội nhập khu vực và quốc tể\ NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chu Văn Cấp (2003) “ "Nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế nước ta"trong quá trình hội nhập khu vực và quốc tể\
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
11. Nguyễn Văn Lịch (2005), “Chính sách cạnh tranh trong hội nhập kinh tế quốc tế”, Tạp chí kinh tế, tháng 4/2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách cạnh tranh trong hội nhập kinh tếquốc tế”, "Tạp chí kinh tế
Tác giả: Nguyễn Văn Lịch
Năm: 2005
12. Viện sử học (2001), Lịch sử Việt Nam từ thời klìởi thủy đến thế kỷ X, NXB khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Việt Nam từ thời klìởi thủy đến thế kỷ X
Tác giả: Viện sử học
Nhà XB: NXB khoa học xã hội
Năm: 2001
13. Nguyễn Vĩnh Thanh (2005), “Một số giải pháp nhằm nâng cao sức cạnh tranh của các doanh nghiệp thương mại Việt Nam trong giai đoạn mới”, Luận án tiến sỹ kinh tế, Trường Đại học thương mại - Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số giải pháp nhằm nâng cao sức cạnhtranh của các doanh nghiệp thương mại Việt Nam trong giai đoạn mới”,"Luận án tiến sỹ kinh tế
Tác giả: Nguyễn Vĩnh Thanh
Năm: 2005
14. Bùi Văn Vượng (1998), “Tinh hoa nghề nghiệp ông cha” NXB Thanh Niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tinh hoa nghề nghiệp ông cha
Tác giả: Bùi Văn Vượng
Nhà XB: NXB ThanhNiên
Năm: 1998
15. Nguyễn Năng Phúc (2006), “Phân tích chất lượng sản phẩm hàng hóa trong nền kinh tế thị trường”, Tạp chí kinh tế và dự báo, Số 8/2006 16. Bùi Văn Vượng (2000), “Di sản thủ công mỹ nghệ Việt Nam”, NXBThanh Niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích chất lượng sản phẩm hàng hóatrong nền kinh tế thị trường”, "Tạp chí kinh tế và dự báo," Số 8/200616. Bùi Văn Vượng (2000), “Di sản thủ công mỹ nghệ Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Năng Phúc (2006), “Phân tích chất lượng sản phẩm hàng hóa trong nền kinh tế thị trường”, Tạp chí kinh tế và dự báo, Số 8/2006 16. Bùi Văn Vượng
Nhà XB: NXBThanh Niên
Năm: 2000
17. Viện nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương (2002), “Các vấn đề pháp lý về thể chế và chính sách cạnh tranh và kiểm soát độc quyền kinh doanh, NXB giao thông vận tải, Hà Nội Bùi Văn Vượng (1998), “Làng nghề thủ công truyền thống ở Việt Nam” NXB Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các vấn đề pháp lývề thể chế và chính sách cạnh tranh và kiểm soát độc quyền kinh doanh,NXB giao thông vận tải, Hà Nội Bùi Văn Vượng (1998), “"Làng nghề thủcông truyền thống ở Việt Nam
Tác giả: Viện nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương (2002), “Các vấn đề pháp lý về thể chế và chính sách cạnh tranh và kiểm soát độc quyền kinh doanh, NXB giao thông vận tải, Hà Nội Bùi Văn Vượng
Nhà XB: NXB giao thông vận tải
Năm: 1998
18. Đinh Thị Hương (2004), “Đánh giá thực trạng sản xuất và tiêu thụ vải lụa ở làng nghề Vạn Phúc - thị xã Hà Đông - tỉnh Hà Tây”, Luận án thạc sỹ kinh tế, Trường Đại học nông nghiệp I - Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá thực trạng sản xuất và tiêu thụ vải lụaở làng nghề Vạn Phúc - thị xã Hà Đông - tỉnh Hà Tây”, "Luận án thạc sỹkinh tế
Tác giả: Đinh Thị Hương
Năm: 2004
19. Hoàng Văn Hải (2005), “Nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế”, Tạp chí quản lý kinh tế, tháng 4/2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanhnghiệp Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế”, "Tạp chí quảnlý kinh tế
Tác giả: Hoàng Văn Hải
Năm: 2005
20. Trương Quang Hùng, Phạm Thu Hương (2004), “Từ lợi thế so sánh đến lợi thế cạnh tranh”, Tạp chí phát triển kinh tế, tháng 2/2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ lợi thế so sánh đếnlợi thế cạnh tranh”, "Tạp chí phát triển kinh tế
Tác giả: Trương Quang Hùng, Phạm Thu Hương
Năm: 2004
21. Nguyễn Bách Khoa (1999), “Giáo trình Marketing thương mại”, NXB giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Marketing thương mại
Tác giả: Nguyễn Bách Khoa
Nhà XB: NXBgiáo dục
Năm: 1999
22. Trần Minh Ngọc (2000) “Giải pháp phục hồi và phát triển các làng nghề trong nông thôn đồng bằng sông hồng”, Tạp chí kinh tế nông nghiệp số 9 23. Michael Poter (1985), “Lợi thế cạnh tranh”, NXB Khoa học xã hội, HàNội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp phục hồi và phát triển các làng nghềtrong nông thôn đồng bằng sông hồng”, "Tạp chí kinh tế nông nghiệp" số 923. Michael Poter (1985), "“Lợi thế cạnh tranh
Tác giả: Trần Minh Ngọc (2000) “Giải pháp phục hồi và phát triển các làng nghề trong nông thôn đồng bằng sông hồng”, Tạp chí kinh tế nông nghiệp số 9 23. Michael Poter
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 1985
24. Nguyễn Bửu Quyền (2006), “Mục tiêu đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông vận tải 5 năm 2006- 2010, Bản tin kinh tế, Số 111, tháng 3/2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mục tiêu đầu tư phát triển kết cấu hạ tầnggiao thông vận tải 5 năm 2006- 2010, "Bản tin kinh tế
Tác giả: Nguyễn Bửu Quyền
Năm: 2006
25. Lê Minh Quốc (1998), “Các vị tổ ngành nghề Việt Nam”, NXB trẻ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Các vị tổ ngành nghề Việt Nam
Tác giả: Lê Minh Quốc
Nhà XB: NXB trẻ
Năm: 1998
26. Viện nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương (2000), “Cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc xây dựng chính sách cạnh tranh ở Việt Nam”, NXB Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Viện nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương (2000), "“Cơ sở khoa học vàthực tiễn cho việc xây dựng chính sách cạnh tranh ở Việt Nam
Tác giả: Viện nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương
Nhà XB: NXBLao động
Năm: 2000

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.6 Tinh hình đất đai của xã Phù Lãng năm 2005 - 2007 - Nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm gốm của làng nghề phù lãng, huyện quế võ, tỉnh bắc ninh
Bảng 3.6 Tinh hình đất đai của xã Phù Lãng năm 2005 - 2007 (Trang 49)
ĐỒ thị 3.1: Sô lượng cơ sở sản xuất gôm theo quy mô năm 2007 - Nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm gốm của làng nghề phù lãng, huyện quế võ, tỉnh bắc ninh
th ị 3.1: Sô lượng cơ sở sản xuất gôm theo quy mô năm 2007 (Trang 56)
Sơ đồ 3.1 Mô hình kim cương - Nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm gốm của làng nghề phù lãng, huyện quế võ, tỉnh bắc ninh
Sơ đồ 3.1 Mô hình kim cương (Trang 59)
Sơ đồ 4.2 Các công đoạn chính sản xuất gôm - Nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm gốm của làng nghề phù lãng, huyện quế võ, tỉnh bắc ninh
Sơ đồ 4.2 Các công đoạn chính sản xuất gôm (Trang 63)
Bảng 4.12 Tinh hình phát triển nghề gôm Phù Lãng năm 2005-2007 - Nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm gốm của làng nghề phù lãng, huyện quế võ, tỉnh bắc ninh
Bảng 4.12 Tinh hình phát triển nghề gôm Phù Lãng năm 2005-2007 (Trang 70)
ĐỒ thị 4.2: Sự biến động sản xuất gôm ở Phù Lãng từ năm 2005-2007 - Nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm gốm của làng nghề phù lãng, huyện quế võ, tỉnh bắc ninh
th ị 4.2: Sự biến động sản xuất gôm ở Phù Lãng từ năm 2005-2007 (Trang 71)
Đồ thị 4.4 Tổng vốn bình quân một hộ điều tra - Nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm gốm của làng nghề phù lãng, huyện quế võ, tỉnh bắc ninh
th ị 4.4 Tổng vốn bình quân một hộ điều tra (Trang 75)
Bảng 4.18 Kết quả sản xuất của các nhóm hộ điều tra - Nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm gốm của làng nghề phù lãng, huyện quế võ, tỉnh bắc ninh
Bảng 4.18 Kết quả sản xuất của các nhóm hộ điều tra (Trang 76)
Bảng 4.19 Chi phí sản xuất gôm của nhóm hộ năm 2007 - Nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm gốm của làng nghề phù lãng, huyện quế võ, tỉnh bắc ninh
Bảng 4.19 Chi phí sản xuất gôm của nhóm hộ năm 2007 (Trang 79)
Sơ đồ 4.3 Kênh tiêu thụ sản phẩm gôm của các cơ sở sản xuất - Nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm gốm của làng nghề phù lãng, huyện quế võ, tỉnh bắc ninh
Sơ đồ 4.3 Kênh tiêu thụ sản phẩm gôm của các cơ sở sản xuất (Trang 81)
Bảng 4.21 Thị trường chính tiêu thụ sản phẩm gôm Phù Lãng - Nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm gốm của làng nghề phù lãng, huyện quế võ, tỉnh bắc ninh
Bảng 4.21 Thị trường chính tiêu thụ sản phẩm gôm Phù Lãng (Trang 86)
Bảng 4.25 Thị trường tiêu thụ trong nước của gôm Phù Lãng và Bát Tràng - Nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm gốm của làng nghề phù lãng, huyện quế võ, tỉnh bắc ninh
Bảng 4.25 Thị trường tiêu thụ trong nước của gôm Phù Lãng và Bát Tràng (Trang 90)
Sơ đồ 4.4 Mô hình kim cương cho gôm Phù Lãng - Nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm gốm của làng nghề phù lãng, huyện quế võ, tỉnh bắc ninh
Sơ đồ 4.4 Mô hình kim cương cho gôm Phù Lãng (Trang 94)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w