1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hiện trạng và đề xuất quy trình kỹ thuật và định hướng phát triển phát triển các loại hình nuôi và sản xuất giống tôm biển ở tỉnh cà mau

56 303 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 56
Dung lượng 1,16 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐỂ TÀI NGHIÊN cứu KHOA HỌCPHẦNI MỞ ĐẦUĐẢT VẤN ĐỂ: Tỉnh Minh Hải có diện tích nuôi tôm lớn nhất cả nước với 120.000 ha,chiếm khoảng 60% diện tích nuôi thuỷ sản ở các tính Nam bộ.. Từ nhu

Trang 1

“ĐIỂU TRA ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG NGHỂ NUÔI TÔM

BIỂN CỦA TỈNH CÀ MAU - ĐỂ XUÂT QUI TRÌNH KỸ

HÌNH NUÔI VÀ SẢN XUẤT GIỐNG THÍCH HỢP CHO TỈNH

CÀ MAU”

Cơ QUAN CHỦ QUẢN: SỞ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ MÔI TRƯỜNG

Cơ QUAN CHỦ TRÌ: PHÂN VIỆN NGHIÊN cứu THỦY SẲN MINH HẢI

CHỦ NHIỆM ĐỂ TÀI: Cử nhân vủ ĐÔNG NAM.

CÁN BỘ THAM GIA: - Thạc sĩ: Nguyễn Văn Tư

- Thạc sĩ: Nguyễn Văn Duyên

Trang 2

ĐỂ TÀI NGHIÊN cứu KHOA HỌC

PHẦNI

MỞ ĐẦUĐẢT VẤN ĐỂ:

Tỉnh Minh Hải có diện tích nuôi tôm lớn nhất cả nước với 120.000 ha,chiếm khoảng 60% diện tích nuôi thuỷ sản ở các tính Nam bộ Từ khi tách tỉnh(1997), tỉnh Cà Mau vẫn chiếm diện tích nuôi tôm biển đến 107.327,3 ha và sảnlượng năm đầu vẫn đạt 21.000 tấn (so với 27.700 tấn năm 1996 của Bạc Liêu và

Cà Mau) (4) Cũng như các tỉnh Nam bộ có rừng ven biển, Cà Mau có các loạihình nuôi tôm biển theo từng vùng sinh thái: Vùng một vụ lúa, một vụ tôm; vùngrừng xen tôm và vùng chuyên tôm về trình độ công nghệ, do có diện tích nuôilớn, dân thưa nên phổ biến là quảng canh, một số ít diện tích quảng canh cải tiến.Năng suất bình quân do đó còn rất thấp: loại hình quảng canh chí đạt trung bình

từ 200 - 250/kg/ ha/ năm Loại nuôi xen canh tôm lúa chỉ đạt mức 3 tấn lúa + 150

kg tôm/ ha/ năm và loại nuôi xen canh tôm rừng chí đạt từ 100 kg - 150 kg tôm/ha/ năm (3) So sánh lợi thế của loại đất nuôi thuỷ sản thì giá trị khai thác 1 hamặt đất, nước như trên là quá thấp

Với loại hình quảng canh là chủ yếu, truyền thống nuôi ở Cà mau từ lâunay vẫn dựa vào con giống tự nhiên là chính Thế nhưng, nguồn lợi tự nhiên nàyngày một suy giảm và nay đã đến mức nghiêm trọng, chỉ còn khoảng 0,67 congiống/ m2 (30) Nguyên nhân chủ yếu là do hệ sinh thái bị đảo lộn do tác độngcủa con người: nạn chặ phá ròng để làm vuông tôm và hầm than, khiến cho cácbãi trú của ấu trùng tôm và nguồn thức ăn tự nhiên bị thu hẹp; Việc sử dụngthuốc trò sâu bừa bãi và sự suy thái môi trường nghiêm trọng do các hoạt độngcông nghiệp và sinh hoạt dân cư cũng là những ảnh hưởng trực tiếp và nghiêmtrọng làm giảm lượng tôm giống tự nhiên Từ nhu cầu con giống nhân tạo chonghề nuôi, Cà Mau cũng đã phát triển các trại sản xuất giống và số lượng trạicũng tăng khá nhanh, theo đà nhu cầu giống tại chỗ Cuối năm 1997, toàn tỉnh có

120 cơ sở được cấp giấy phép hành nghề, trong đó có 84 trại thực sự có sản xuấtnhân tạo tôm giống và 36 cơ sở chỉ làm nhiệm vụ thuần hoá Các cơ sở tại chỗ đãsản xuất được 100 triệu PL tôm sú, đáp ứng khoảng 15% (4) nhu cầu ở địaphương, (số nhập vào có kiểm soát vẫn chiếm số lượng lớn) Đến cuối năm 1998,toàn tỉnh đã có 367 cơ sở sản xuất giống (bằng 305,8% năm 1997) trong đó có

260 cơ sở sinh sản nhân tạo với 14.000 m3 bể ương Các cơ sở sản xuất giốngnhân tạo năm 1998 đã xuất bán 600 triệu PL tôm sú (gấp 6 lần năm 1997) Tuy

2

VŨ ĐÔNG NAM

Trang 3

ĐỂ TÀI NGHIÊN cứu KHOA HỌC

vậy vẫn chỉ đáp ứng được xấp xỉ 1/4 nhu cầu con giống và vẫn phải nhập tỉnh 2,2

tỷ giống tôm sú (6) Những con số trên đây cho thấy con giống tôm sú nhân tạo

đã dần chiếm ưu thế do các loại hình quảng canh cải tiến được mở rộng dẫn đếnnhu cầu giống tôm sú cho nghề nuôi tăng lên nhanh chóng Nhờ có sự quy hoạchlại và một phần tiến bộ trong công nghệ nuôi tôm mà đến năm 1998, diện tíchnuôi tôm toàn tỉnh đã giảm 20.237 ha chiếm tỷ lệ 18,21%, trong đó trả lại chorừng 9.302 ha và cho vùng lúa 11.034 ha (theo kế hoạch, diện tích nuôi thuỷ sảnchí còn 62.000 ha vào năm 2010) (6) Điều quan trọng là mặc dù diện tích nuôitôm giảm, nhưng số lượng tôm đông chế biến xuất khẩu vẫn tăng: Năm 1997:16.441 tấn; Năm 1998: 16.637 tấn và giá trị thuỷ sản xuất khẩu cũng tăng cao:Năm 1997: 105 triệu USD và năm 1998: 115 triệu USD (4) (6) Có được nhữngkết quả như trên là cố gắng rất lớn của các ban ngành trong tính Cà Mau và sự hỗtrợ, đồng tình của nông ngư dân Tuy nhiên ngành Thuỷ Sản Cà Mau nói chung

và nghề nuôi thuỷ sản nói riêng còn nhiều bấp bênh do những nguyên nhân vềkhả năng chế ngự thiên nhiên, những tồn tại mang tính lịch sử và cả sự bất cậptrong quá trình quản lý và điều hành:

Các năm 1994-1996, tôm chết trên diện rộng đã trở thành dịch bệnh, gâythiệt hại cho tỉnh Minh Hải (cũ) và Cà Mau sau này hàng trăm tỷ đồng Dịchbệnh hiển nhiên đã làm chậm xu thế phát triển nghề nuôi tôm ở Cà Mau

- Cơn bão số 5 (Linda) vào cuối năm 1997 lại gây thêm thiệt hại nặng nềcho Cà Mau Riêng nghề nuôi tôm bị thiệt hại trực tiếp trên 91.000 ha nuôi, 74trại sản xuất giống bị hư hại thiệt hại vật chất lên đến hàng trăm tỷ đồng (2)

- Những nguyên nhân trên làm tăng cao tỷ lệ số hộ đói nghèo ở Cà Mau, từ17,7% năm 1997 lên 27,97% năm 1998, mà các hộ đói nghèo này tập trung vàokhu vực nuôi Thuỷ sản (7)

- Những bất cập trong quản lý, điều hành và những thiếu sót, cần nhanhchóng khắc phục như: Công tác tuyên truyền vận động, nâng cao nhận thức chodân về mùa vụ, chất lượng con giống, bảo vệ môi trường, phòng chống dịch bệnh,chưa đạt tới mức cần thiết Hệ thống thuỷ lợi phục vụ cho vùng nuôi chưa đượcđầu tư đúng tiêu chuẩn, chưa có mô hình hiệu quả cao để ngư dân áp dụng Côngtác quy hoạch trại giống và quản lý tôm giống chưa theo kịp nhu cầu phát triển;việc quản lý tôm giống nhập tính vẫn còn phức tạp, vẫn còn tình trạng nhập lậu;

cơ chế cho việc kiểm soát còn cần được hoàn thiện; công tác phân vùng và quyhoạch vùng nuôi còn chậm được triển khai

Đứng trước thực trạng nêu trên, nhắm tới mục tiêu của chương trình xuấtkhẩu Thuỷ sản đến năm 2005 đã được chính phủ phê duyệt và mục tiêu xoá đói

3

VŨ ĐÔNG NAM

Trang 4

ĐỂ TÀI NGHIÊN cứu KHOA HỌC

giảm nghèo ở Cà Mau, mà con tôm là đối tượng quan trọng Sở KHCN & Môi

trường tỉnh Cà Mau đã giao cho Phân Viện Nghiên Cứu Thuỷ Sản Minh Hải làm

chủ nhiệm đề tài: “Điều tra đánh giá hiện trạng nghề nuôi tôm biển ở tỉnh Cà Mau Đề xuất quy trình kỹ thuật và định hướng phát triển cho các loại hình nuôi và sản xuất giống thích hợp cho tỉnh Cà Mau” Đề tài có sự phối hợp trực

tiếp của Sở KHCN & Môi trường Cà Mau và Trung tâm Khuyến ngư Cà Mau (SởThuỷ sản) và được thực hiện từ tháng 12/1997

Mục tiêu chính của đề tài là phác hoạ hiện trạng nghề nuôi tôm biển (tômsú), đấnh giá trình độ công nghệ, quy trình công nghệ của nghề nuôi và sản xuấtgiống tôm mà trọng điểm là 3 huyện chính: Đầm Dơi, Ngọc Hiển, Cái Nước.Phân tích các yếu tố thuỷ hoá nguồn nước nuôi thuỷ sản và nguồn nước ô nhiễmbởi hoạt động nuôi và sản xuất giống thải ra Trên cơ sở hiện trạng, đề xuất quytrình quỹ thuật và bước đi thích hợp cho các loại hình nuôi và sản xuất giống ở

Cà Mau

Từ một tỉnh mới được tách ra vào năm 1997, ngành thuỷ sản Cà Mau rấtcần có những đánh giá hiện trạng và tư vấn về giải pháp làm cơ sở cho việc quyhoạch các vùng nuôi và sản xuất giống phù hợp với nhu cầu phát triển ngànhtrong tổng thể nền kinh tế địa phương Để hoàn thành nội dung báo cáo, Ban chủnhiệm đề tài nhận được sự giúp đỡ và khuyến khích của Sở KHCN & Môi trường,

Sở Thuỷ sản, Sở NN & Phát triển Nông thôn cùng các ban ngành khác Xin bày

tỏ ở đây lòng biết ơn chân thành.

B- Sự PHÁT TRIỂN NGHỂ NUÔI TÔM Ỏ VIỆT NAM NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY:

Nghề nuôi Thuỷ sản ở Việt Nam là một trong số ít nghề có bước phát triểnliên tục 18 năm qua, kể cả sản lượng cũng như giá trị xuất khẩu Xét về cơ cấu,giá trị xuất khẩu con tôm vẫn chiếm ưu thế (6 tháng đầu năm 1998 chiếm 55%giá trị) Tỷ lệ về tôm nuôi lại đóng vai trò quan trọng (năm 1997 tôm nuôi chiếm62% về sản lượng và 68% về giá trị tôm xuất khẩu) (17) giá tôm xuất lại luôn ổnđịnh và ở mức cao (năm 1997: 5,95 USD/ kg đến năm 1998 lên đến 6,91 USD/ kg

và năm 1999 đã lên 7,4 USD/ kg) (29) Do có sự ổn định và hấp dẫn ở thị trườngquốc tế nên nghề nuôi tôm ở Việt Nam không ngừng phát triển, nhất là khu vực

có khí hậu thích hợp như miền Trung, Tây Nam bộ Năm 1986, cả nước có384.621 ha mặt nước nuôi thuỷ sản, trong đó có 190.000 ha dành nuôi tôm Đếnnăm 1997, diện tích nuôi thuỷ sản tăng lên 600.000 ha và nuôi tôm chiếm300.000 ha (18), tính chung về diện tích nuôi tôm thường xấp xỉ 1/2 diện tichnuôi thuỷ sản Thống kê về tôm nuôi những năm gần đây thường xếp Việt Nam

4

VŨ ĐÔNG NAM

Trang 5

ĐỂ TÀI NGHIÊN cứu KHOA HỌC

sau những quốc gia Thái Lan, Ecuado, Indonesia, Trung Quốc, Ấn độ vàBangladesh (14) Tuy có vị trí như vậy, nhưng năng xuất nuôi tôm ở Việt Namcòn rất thấp chỉ bằng 1/4 - 1/10 so với các quốc gia khu vực và thế giới

Do xác định tôm nuôi xuất khẩu là mũi nhọn của ngành Thuỷ sản, Hộinuôi tôm xuất khẩu VN đã sớm hình thành và hoạt động hiệu quả ngay từ đầuthập kỷ 90 (sau này đối tượng của Hội rộng rãi hơn nên đã đổi tên thành Hội nuôiThuỷ sản VN) Nhờ có hoạt động của Hội quần chúng này và các chi Hội ở cáctỉnh, phong trào nuôi tôm đã phát triển khá nhanh do trao đổi thông tin, giới thiệu

và phổ biến điển hình Ở miền Bắc phong trào nuôi tôm sú phát triển chậm dothời tiết không phù hợp với đời sống của con tôm Từ năm 1996, nghề nuôi tôm

sú cũng đã xuất hiện ở một số tỉnh ven biển Năm này, các tỉnh phía Bắc nhận ởmiền Trung 42 triệu PL tôm sú Đến năm 1997 đã tiếp nhận cho các đầm nuoigần 50 triệu PLI5 và nuôi đạt sản lượng chung 299 tấn với doanh thu trên 25 tỷđồng, trong đó: Hà Tĩnh 22 tấn, Nghệ An 50 tấn, Thanh Hoá 70 tấn, Nam Định

30 tấn, Thái Bình 20 tấn, Hải Phòng 65 tấn, Quảng Ninh 40 tấn và Ninh Thuận 2tấn (12) Sau dịch bệnh tôm tràn lan từ năm 1993 - 1995, phong trào nuôi tômlắng xuống và phát triển trở lại ở một góc độ cao hơn từ các tỉnh miền Trung Từnăm 1997 bằng nhiều con đường du nhập công nghệ, trong đó có liên doanhVATECH (hợp tác công nghệ nuôi tôm Việt Nam - Australia) các Viện trường,công ty CP (Thái Lan) các tỉnh Đà Nang, Phú Yên, Khánh Hoà, Ninh Thuận,Bình Thuận đã xuất hiện những mô hình nuôi tôm dạng công nghiệp, kiểm soátđược nhiều yếu tố đầu vào, chế độ quản lý môi trường khá nghiêm ngặt, đã chonăng suất trung bình 1.300kg/ ha/ vụ, cá biệt đạt tới 3-5 tấn/ ha/ vụ Các tỉnh nàyngày càng hoàn thiện công nghệ theo hướng đơn giản sáng tạo, ngày càng pháttriển diện tích nuôi tôm năm sau cao hơn năm trước

Ó các tỉnh Nam bộ: Sóc Trăng, Trà Vinh, Bạc Liêu và Tiền Giang là cáctỉnh sớm phát triển các dạng nuôi công nghiệp ngay sau dịch bệnh tôm Ngay từnăm 1997, toàn tính Trà Vinh đã có 897 ha nuôi bán thâm canh, góp phần làmtăng sản lượng tôm nuôi trong toàn tỉnh lên 25% so với năm 1996 (5) Với diệntích mặt nước tính theo đầu người thuộc loại thấp so với toàn vùng, thành côngcác loại hình nuôi công nghiệp quy mô nông hộ trang trại ở Trà Vinh là mộthướng đi rất đúng đắn Các mô hình thành công đáng chú ý do Viện NCNT TS IIthực hiện và TT Khuyên ngư Trà Vinh thực hiện đều đạt từ 4,5 tấn - 5 tấn/ ha/ vụ.Các mô hình nuôi xen Tôm - Lúa và luân canh Lúa - Tôm ở Mỹ Xuyên, trên diệntích xấp xỉ 10.00 ha liên tục thành công và khá ổn định

Bạc Liêu là tính có đầu tư nước ngoài vào trang trại nuôi tôm từ rất sớm,với 2 công ty Nam Hải và Hiệp Thành thuê các chuyên gia kỹ thuật nước ngoài

5

VŨ ĐÔNG NAM

Trang 6

ĐỂ TÀI NGHIÊN cứu KHOA HỌC

và áp dụng kỹ thuật tiên tiến nhất Tuy nhiên, vì nhiều lý do, sản lượng tôm ở 2công ty này còn ở mức thấp, năng suất còn chưa ổn định, tuy có ao đạt mức 5 tấn/ha/ vụ, nhưng chưa phổ biến và chưa chắc chắn, ở công ty Quốc doanh nuôi Thuỷsản Vĩnh Hậu cũng trong tình trạng tương tự, công nghệ còn chưa ổn định, vụtrúng vụ thất Công ty Vĩnh Hậu cũng đã áp dụng các công nghệ tiên tiến nhất và

Xét về nghề nuôi tôm và phong trào nuôi tôm Công nghiệp thì Cà Mau làmột tỉnh đặc biệt về điều kiện tự nhiên, không giống bất cứ tỉnh nào Diện tíchnuôi tôm lớn nhất cả nước Diện tích tính theo đầu người cũng gấp 3 lần các tỉnhlân cận Các loại hình nuôi năng suất rất thấp vì ít sự chăm sóc, nhiều nơi còntrông chờ con giống tự nhiên:

Quảng canh chí đạt: 200-250 kg/ha/ năm Nuôi xen Lúa - Tôm chỉ đạt 3tấn lúa + 150 kg tôm /ha/ năm Nuôi xen Rừng - Tôm chỉ đạt 100 - 150kg/ha/năm (3)

Có thể nói nghề nuôi tôm ở Cà Mau còn hết sức thô sơ, nhưng tiềm năng làrất lớn Đầu năm 1999, đã có vài mô hình nuôi đạt trên 2,6 tấn/ha/ vụ, tuy là rất

cá biệt và diện tích nhỏ

6

VŨ ĐÔNG NAM

Trang 7

ĐỂ TÀI NGHIÊN cứu KHOA HỌC

PHẦN II

1- Đối tượng và phạm vi:

Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là nghề nuôi tôm sú, bao gồm cảnghiên cứu nuôi thương phẩm và nghề sản xuất con giống tôm sú nhân tạo, trênđia bàn tỉnh Cà Mau Tuy nhiên, phạm vi tập trung là 3 huyện trọng điểm: NgọcHiển, Đầm Dơi và Cái Nước Các huyện trọng điểm này chiếm 89,7 % diện tíchnuôi tôm và tuyệt đại đa số các trại sản xuất giống nhân tạo toàn tính

Huyện Ư Minh: xã Khánh An (kinh xáng Bình Minh)

3- Thời gian tiến hành nghiên cứu:

Thời gian chính thức từ 12/97- 3/99

Thời gian nghiên cứu tập trung: Mùa khô: 1997-1998

Mùa mưa: 1998

4- Phương pháp thu sô liệu:

1 Điều tra hiện trạng bằng các phiếu điều tra, cụ thế như sau:

A Điéư tra tình hình nưổi tôm:

- Thông tin chungvề các yếu tố pháp lý và tổ chức

vũ ĐÔNG NAM

7

Trang 8

ĐỂ TÀI NGHIÊN cứu KHOA HỌC

- Thông tin các yếu tố vật chất và kỹ thuật, trình độ công nghệ

- Thông tin về yếu tố kinh tế

B Điêu tra tình hình sản xuất tốm giống:

- Thông tin chung về pháp lý và tổ chức

- Thông tin về thiết kế và công nghệ

- Thông tin về nguồn tôm bố mẹ (sú, thẻ) và vụ mùa sản xuất

- Thông tin về kinh tế và tổ chức phân phối

- Thông tin về ảnh hưởng nước thải đến môi trường chung

c Kiểm tra bằng các nguồn tư liêu khác và kiểm tra bổ sung

2 Phân tích chất lượng nước:

A Yêu cầu cu thể:

• Vé thời gian thu mẫu:

Đối với các huyện trọng điểm như Ngọc Hiển, Đầm Dơi, Cái Nước thu mẫu mỗitháng 2 lần kỳ triều kiệt

Đối với các huyện khác thu mẫu 1 lần vào kỳ triều kiệt

• Vé đia điểm thu mẫu:

Địa điểm này được ổn định trong thời gian thu mẫu

Đối với huyện Ngọc Hiển: cách trạm khuyên ngư xã Đất Mới 3 km (sôngNăm Căn)

Huyện Đầm Dơi: cách bến tàu huyện 2 km (đầu kênh Lung Lắm về phíasông Tân Lợi)

Huyện Cái Nước cách bến tàu Cái Đôi Vàm 2 km về phía Rạch Chèo.Huyện Ư Minh cách bến tàu huyện 2 km về phía Khánh Hội

Huyện Thới Bình: cách bến tàu huyện 1,5 km về phía sông Trẹm

TP Cà Mau: cách km số 5 quốc lộ I: lOOm về phía thành phố Cà Mau

Các số liệu thu và ghi tại chỗ gồm: pH, t° , và % 0 (dùng máy đo pH, nhiệt

kế và Reractometer)

Các số liệu thu về phân tích tại phòng thí nghiệm:

- Phương pháp lấy mẫu: theo hướng dẫn TCVN 5996-95

8

VŨ ĐÔNG NAM

Trang 9

ĐỂ TÀI NGHIÊN cứu KHOA HỌC

- Bảo quản mẫu và thiết bị phân tích:

BOD5 : Mẫu nước được chứa trong bình thuỷ tinh (hoặc nhựa) làm lạnh 5°c bảo quản trong 24 giờ Đo bằng máy BOD

2°-DO: Mẫu nước được chứa trong chai nút mài 125ml, cố định tại chỗ bằngdung dịch A (lml) và dung dịch B (lml) Đo bằng phương pháp Winklercải tiến

NH3 - FbS: Mẫu nước chứa trong bình 1 lít, trong 24 giờ

NH3: đõ bằng máy Apha 4.500- NH3

H2S: đo bằng máy Apha 4.500- Iode

Fe tổng số: đo bằng máy Apha 4.500- FeD

3 Phương pháp sử lý sô liệu:

Xử lý số liệu bằng phương pháp thống kê so sánh

- Số liệu được phân tích chủ yếu từ 3 huyện nuôi trọng điểm: Ngọc Hiển,Đầm Dơi, Cái Nước Các huyện này có diện tích nuôi và số trại sản xuất giốngnhân tạo chiếm khoảng 90% toàn tính Các huyện này cũng tiêu biểu cho loạihình sinh thái về nôi tôm

- Các số lẻ nhìn chung được làm tròn theo phép làm tròn quy ước và chỉlấy 1 số lẻ ngoại trừ các số đo thuỷ hoá

9

vũ ĐÔNG NAM

Trang 10

ĐỂ TÀI NGHIÊN cứu KHOA HỌC

PHẦN III

KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

A Hiện trạng nghề nuôi tôm sú ở tỉnh Cà Mau:

1 Đánh giá chung về hiên trang nghề nuôi tôm sú và sán xuất giống nhân tao tai Cà Mau năm 1997-1998:

Nghề nuôi tôm sú ở Cà Mau có thuận lợi vì có diện tích nuôi tôm lớn nhất cảnước chiếm xấp xí 30% diện tích nuôi tôm của cả nước, dân cư thưa thớt, khíhậu, độ mặn và các điều kiện khác đảm bảo cho đời sống con tôm quanh năm.Tuy nhiên, từ khi lập tính Cà Mau (đầu năm 1997 đến nay), nghề này đã trải quanhiều thăng trầm Ngay từ đầu năm 1997, thời tiết thuận lợi và tôm nuôi có đấuhiệu phục hồi, sản lượng đạt cao hon cùng kỳ năm 1996 Mọi thuận lợi cho đếntháng 5/1997, tôm phát triển tốt và 90% số hộ đạt kết quả (trung bình 20-30 kgtôm các loại/ ha/ con nước) và đạt tới đính cao vào tháng 4 Từ tháng 6 đến tháng

8, bắt đầu có hiện tượng tôm chết ở Tân Đức, Tạ An Khương (Đầm Dơi), Tân

An, Viên An, Viên An Đông và Tam Giang (Ngọc Hiển), Sào Lưới, kênh Tư Nĩ

và sông Bảy Háp (Cái Nước), Sông Đốc, Khánh Hải (Trần Văn Thời) Đến quí IIInăm 97 lượng tôm giống tự nhiên có nhiều, thời tiết thuận lợi trở lại và nghề nuôitôm trở nên khá hơn Nhiều hộ đã thả bổ sung, nuôi chuyên tôm sú thu hoạch đạtdoanh số cao Mô hình xen Lúa - Tôm cũng có kết quả tốt đồng đều Đến tháng

11, cơn bão số 5 (Linda) đã làm thiệt hại nặng nề cho nghề nuôi tôm ở đây, ảnhhưởng trực tiếp trên 91.000 ha nuôi tôm (4)

Về trại giống nhân tạo, trong năm 1997 đã có 120 cơ sở sản xuất được cấpphép, trong đó 84 trại sản xuất giống và 36 cơ sở ương thuần hoá Do việc dunhập kỹ thuật, phần lớn trong các trại giống đều đã sản xuất được tôm sú giống,tuy nhiên khả năng sản xuất còn thấp, sản xuất cả năm chỉ đạt 100 triệu con PLI5

và chỉ thoả mãn chừng 15% nhu cầu con giống ở thời điểm đó ở Cà Mau (4) Congiống sản xuất tại chỗ qua so sánh thấy có ưu việt hơn giống nhập tỉnh, tính thíchnghi cao hơn, tỷ lệ sống đến thương phẩm cũng cao Tuy nhiên, điểm hạn chế làvào mùa mưa do độ mặn nước sông giảm, nguồn tôm bố mẹ và các nguyên nhânkhác làm cho khả năng sản xuất tôm giống ở các trại này gần như dừng lại

Ngay từ đầu năm 1998 khi cơn bão đi qua, nghề nuôi thuỷ sản Cà Mau lạiđược khẩn trương xây dựng lại Từ quý I năm 1998 đã có 61.000 ha nuôi tôm và

56 cơ sở sản xuất giống được khôi phục với tổng vốn lên tới 75 tỷ đồng Thời kỳ

10

vũ ĐÔNG NAM

Trang 11

ĐỂ TÀI NGHIÊN cứu KHOA HỌC

này môi trường thuận lợi cho cả nuôi trồng và đánh bắt Tôm sú nuôi thu hoạchcao và phát triển phong trào rộng khắp Đến tháng 4/98, do sự khắc nghiệt củamôi trường, nắng nóng kéo dài nên đã có hiện tượng tôm chết rải rác ở các xãthuộc các huyện điển hình: Ngọc Hiển, Đầm Dơi, Cái Nước Tuy nhiên, tỉnh CàMau đã có chỉ thị kịp thời về thực hiện các biện pháp cấp bách nhằm khắc phụctình trạng tôm chết, hiện tượng tôm chết đã được ngăn chặn Sản lượng tôm nuôicủa năm 1998 đã đạt 23.400 tấn, bằng 117% kế hoạch và 111% so với cùng kỳnăm 1997 Các cơ sở sản xuất giống cũng phát triển nhanh trong năm Từ chỗ chỉ

có 120 trại (năml997) đến cuối năm 1998 đã tăng lên 367 trại (bằng305,8%)trong đó có 260 trại sản xuất giống với 14.000m3 bể ương Năm 1998, các trạinày sản xuất khoảng 600 triệu PL tôm sú, đáp ứng gần 1/3 nhu cầu con giống ởđịa phương (6)

Hình j_Ị Sản lượng tôm nuôi 2 năm 1997- 1998.

Hình 2: Số trại sản xuất giống tôm sú và thẻ 1997- 1998.

Hình 3: Sô lượng PL,5 tôm sú sản xuất tại Cà Mau 1997-1998.

11

vũ ĐÔNG NAM

Trang 12

T Loại hình Nuôi

Ngọc Hiển Đầm Dơi Nước Cái V Thòi Trần Tp Cà Mau u

Minh

Thói Bình CỘNG

Trang 13

Biểu 1: Diện tích và phân bô các loại hình nuôi tôm ử Cà Mau (tháng3/ 98)

Biểu trên cho thấy, loại hình chuyên tôm chiếm diện tích lớn nhất:90.859,3 ha (84,7% tổng diện tích nuôi tôm) và toàn bộ các huyện, thị đều có

12

VŨ ĐÔNG NAM

loại hình này Chiếm diện tích lớn nhất là huyện Ngọc Hiển 53.842,4 ha (59,3%)

Hình 6: Tỷ trọng các loại hình Rừng- Tôm ở Cà Mau (tổng diện tích 13.413,6 ha)

Loại hình nuôi Tôm - Lúa có 4/7 huyện thị (Trần Văn Thời, Ngọc Hiển và

u Minh không có) với tổng diện tích 3.054,4 ha (chiếm 2,8% tổng diện tích).Huyện có diện tích nuôi lớn nhất là huyện Đầm Dơi với 2.223 ha (chiếm 72,8%)

và huyện có diện tích nhỏ nhất là TP Cà Mau có 66,4 ha (chiếm 2,2%)

13

VŨ ĐÔNG NAM

Trang 14

ĐỂ TÀI NGHIÊN cứu KHOA HỌC

Hình 7: Tỷ trọng loại hình Lúa-Tôm ử Cà Mau (Tổng diện tích 3.054,4 ha)

Nếu tính chung toàn bộ diện tích nuôi tôm thì 3 huyện trọng điểm chiếm đa sốmặt nước, trong đó Ngọc Hiển chiếm 56.628,8 ha (52,8%) Đầm Dơi chiếm32.050,5 ha (2979%) và Cái Nước 7.470,3 ha (7%)

Tổng diện tích nuôi tôm của 3 huyện chiếm tới 89,7% toàn bộ diện tíchnuôi tôm ở Cà Mau Xét về loại hình, 3 huyện trọng điểm cũng chiếm diện tíchtuyệt đối: Rừng - Tôm chiếm 11.982,8 ha (89,3%) chuyên tôm chiếm 81.598,8

ha (89,8%) và Lúa - Tôm chiếm 2.568 ha (84%)

Hình 8: diện tích nuôi tôm của 3 huyện trọng điểm trong toàn bộ diện tích nuôi tôm Cà Mau

Hình 9: tổng diện tích nuôi theo loại hình của 3 huyện trọng điểm so với toàn bộ diện tích nuôi tôm ở Cà Mau

Diện tích dành nuôi tôm tính theo hộ gia đình ở Cà Mau cao nhất cả nước,đạt 3,3 ha/ hộ Theo tiêu chuẩn này thì diện tích cao nhất ở huyện Trần Văn Thời,

14

VŨ ĐÔNG NAM

Trang 16

TT Yếu tô KT Ngọc Hiển Cái Nước Đầm Dơi

01 Chất đất -Phèn măn chiếm ưu

thê25/ 27 hộ'

-Đất thít đen 2 hô (xãĐất

làchủ yếu

-Bùn sét có 2 hộ(Tân

60 ngày

04 Thời gian

thi cồng

-Cao nhất 80 triệu (xãĐất

Mới)

-Thấp nhất 5 triêu (xãĐất

(xã Nguyễn Huân)

-Thấp nhất 2 triệu(xã

Tân Duyệt)

T

T

01 HìnhVuông nuôidạngHoàn toàn hình chữnhật Hoàn toàn hìnhvuông Hoàn toàn hình chữnhật

02 Số lượng cốngcấp 1 cống chung(cấp- thoát) 1 cống chung(cấp- thoát) 1 cống chung(cấp- thoát)

04 Khẩu độ cống TB: 0.7 m

-Lớn nhát: 1.4m (Đất

-Nhỏ nhất: 0.6m (ĐấtMới, Hàm Rồng, Viên

TB: 0.7 m-0,8m-Lớn nhát: 1.0m(Tân Hưng Tây,

-Nhỏ nhất: 0.4m

TB: 0.8 m-Lớn nhát: 0.8m-Nhỏ nhất: 0.5m(Tân Đức, vuông17.000m2)

Biểu 3: Chất đất và thi công vuông tôm ử 3 huyện trọng điểm

Ở các huyện khác được khảo sát, việc thi công vuông tôm tuyệt đại đa sốđều làm thủ công Huyện Thới Bình hoàn toàn làm thủ công; huyện ƯMinh chí có một hộ dùng cơ giới và TP Cà Mau có 3 hộ kết hợp dùng cơgiới

• Về thiét kê kỹ thuât vuông nuôi: hình dạng các vuông nuôi ở Ngọc

Hiển và Đầm Dơi hoàn toàn là hình chữ nhật Huyện Cái Nước thì khảosát lại cho thấy toàn bộ là hình vuông Hầu như hoàn toàn các vuôngtôm ở 3 huyện trọng điểm đều chỉ có một cống cấp và thoát chung,khẩu độ giao động từ 0.7-0.8 và chất liệu đều là bê tông

Trang 17

An, vuông 20.000nr (Tân Hưng Tây,vuông 5.000m2-

01 Cải tạo ao Hầu hết có cải tạo Có cải tạo Có cải tạo

Ớ huyện Thới Bình, khẩu độ cống phổ biến lớn hơn mức trung bình ởnhiều huyện khác thường từ l-l,2m (lm thường ở các vuông từ 20.000-29.000nr và l,2m ở vuông 155.000nr) và chất lượng lại bằng gỗ là phổbiến TP Cà Mau và Ư Minh, các vùng đều có khẩu độ cống nhỏ, cỡ 0,6m

và tuyệt đại đa số cũng chỉ có một cống vừa cấp vừa thoát nước

• Về xử lý và cải tao vuông nuôi: ở các huyện trọng điểm, trước khi thả

giống đều có cải tạo ao nuôi, sên vét bùn đáy bằng phương pháp thủcông từ 0,15m - 0,4m Việc diệt tạp chủ yếu bằng dây thuốc cá hoặcbằng saponin

Trang 18

TT Yếu tô KT Bón phân gây màu Loại phân Liều lượng phổ

biến

01 Ngọc Hiển Hoàn toàn không

02 Cái Nước Hầu hết không

03 Đầm dưi Hầu hết không

04 TP Cà Mau Đa số có bón

05 Thới Bình Bón phổ biến

02 Mật độ phổ biên 2-3 con/ m2 2-3 con/ m2 2-3 con/ m2

03 Loại thức ăn Không cho ăn Không cho ăn Không cho ăn

04 Thời gian nuôi 4-5 tháng Chủ yếu là 6 tháng Chủ yếu là 4

Hầu hết là 2 vu11,125,6

Hầu hết là 2 vul->4,8,9->122->6,8,9,10,12

Biểu 6: Bón phân gây màu vuông nuôi ở các huyện

Ớ huyện Cái Nước có ngoại lệ, vuông 20.000nr ở Tân Hưng Tây có bón 20 kg/haNPK Ở Đầm dơi có ngoại lệ, vuông 21.000m2 ở xã Tân Tiến bón 20-30 kg/haNPK Ớ huyện Thới Bình, bón gây màu mức thấp nhất là 5 kg/ha (xã Hồ Thị Kỷ,các vuông 24.000nr, 39.000m2 và 32.000m2) và cao nhất là 15 kg/ ha (xã Hồ Thị

Kỷ, các vuông 24.000m2 và 20.000m2)

• Về nguồn gốc con giống, thức ăn và thời vu: Các huyện trọng điểm

nuôi là Ngọc Hiển, Đầm Dơi và Cái Nước đều có điểm chung giốngnhau là dùng nguồn giống tự nhiên, bổ sung nguồn giống nhân tạo vớimật độ phổ biến là 2-3 con/ m2 Tất cả đều không cho ăn

Trang 20

5/23 hô (21.7%)11/23 hô (47.8%)7/ 23 hộ (30.4%)

15/ 29 hô (51,7%)13/ 29 hô (44,8%)1/ 29 hộ (3,4%)

02 Công cụ thay nước Thuỷ triều là chính Thuỷ triều làchính Thuỷ triều làchính

03 Sô lần thay nước

2 lần 28/29 hô(96,6%)

2 lần 28/29 hô(96,6%)

2 lần 28/29 hô(96,6%)

3-12 lần(4 hộkhông thay)

04 Sô lượng nước thay

(lhộ bón NPK)

Biểu 9: Quản lý nước và bón phân bổ sung ở 3 luyện trọng điểm

Biểu 8:Các tháng thả giống 2 vụ trong năm ở Cà mau

* Về quản lý và bổn phân bổ sung: Các huyện nuôi lớn ở Cà Mau giống nhau ở

chỗ hoàn toàn dùng nước sông trực tiếp, tự chảy là chính và không bón thêmphân bổ sung

Trang 21

VŨ ĐÔNG NAM

Ớ huyện Cái Nước, có 3 hộ sử dụng máy bơm để chủ động nguồn nước(thuộc thị trấn Cái Đôi Vàm với diện tích vuông từ 20.000- 40.000 m2 và 1 hộdùng bơm hỗ trợ cho lấy nước theo thuỷ triều Ớ Cái Đôi Vàm cũng có 3 hộ giữkhông thay nước tháng thứ 1 Chỉ có 1 hộ ở Tân Hưng Tây bón phân NPK bổsung, mức 20 kg/ ha

Huyện Đầm Dơi cũng có 1 hộ dùng máy bơm hỗ trợ cho lấy nước theo thuỷ triều(Tân Tiến, 15.000m2) và có hộ (Tân Duyệt 22.000m2) thay nước tháng thứ 4 đến

30 lần Về lượng nước thay, ngoại trừ 4 hộ không thay nước trong tháng thứ 1 ởhuyện Cái Nước, nhìn chung đều thay trung bình 15%, 25% và thậm chí 70% ởthang thứ 4

Về bón phân, huyện Ngọc Hiển hoàn toàn không bón Huyện Cái Nước cómột hộ bón phân bổ sung NPK và huyện Đầm Dơi có một hộ bón phân bổ sungNPK

Ớ TP Cà Mau, các hộ đều lấy nước trực tiếp và hoàn toàn thay nướckhông theo định kỳ Tuy nhiên, hầu hết các hộ đều bón phân bổ sung (NPK-DAP-URAE-LÂN) liều dùng phổ biến từ 5-10 kg/ ha từ 1-2 lần/ tháng hoặc saukhi thả giống

Huyện Thói Bình cũng hoàn toàn lấy nước trực tiếp vào ao nuôi, thay nướckhông định kỳ (8/15 hộ) và hoàn toàn lấy nước tự chảy

Cũng giống như các huyện trên, huyện u Minh việc thay nước hoàn toànkhông theo định kỳ và lấy nước từ thuỷ triều là chính Tuy nhiên, hầu hết các hộnuôi ở u Minh đều có bón phân NPK-DAP-URAE và vôi bột Liều lượng phân từ5- 10 kg/ ha và thường bổ sung 1 tháng 2 lần

• Về xuất hiện bệnh trong quá trình nuôi: Các năm 1997-1998 ở Cà

Mau đều có phát sinh bệnh tôm nuôi ở những mức độ thiệt hại khácnhau Khảo sát về xuất hiện bệnh được phản ánh như sau:

Ớ Ngọc Hiển bệnh xuất hiện phổ biến vào giai đoạn tôm trưởng thành từ60-75 ngày nuôi Phổ biến nhất là bệnh đốm trắng (ngoài ra là đen mang) Hầuhết khi phát hiện bệnh đều không xử lý, khẩn trương sả nước thu tôm

Huyện Cái Nước cũng phổ biến là bệnh đốm trắng, đỏ thân Khảo sát chothấy có 13/ 23 hộ đã có tôm nuôi mắc bệnh này Thời gian bị bệnh thường là cáctháng 7, 8, 9, 10 (phổ biến là 7, 8, 9) và các hộ nuôi cũng không biết xử lý gì

21

VŨ ĐÔNG NAM

Trang 22

Giá thành

Tổng thu (x lOOOđ) Tổng chi (x lOOOđ) Lãi (X

Trang 23

là 0.15m và cao là 0.4m và đều được diệt tạp bằng dây thuốc cá (30).

Sử dụng con giống và mật độ thả giống nhân tạo ở các hộ tuy có khác nhaunhưng đều ở mức hợp lý: xã Đất Mới (Ngọc Hiển) dùng giống bổ sung là PH15,mật độ từ 1-2 con/ m2 và chủ yếu là 5 tháng (Đất Mới 1: 4 tháng), ở xã TamGiang (Tam Giang ĩ) dùng giống cỡ 2-3cm và nuôi 5 tháng

Việc thay nước rất thường xuyên và không theo định kỳ ở các hộ trên đãcho thấy họ có ít nhiều kinh nghiệm về đánh giá chất lượng môi trường nước.Thậm chí có điểm nuôi (Tân Hưng Tây 2- huyện Cái Nước) thay nước 12 lần/tháng trong 4 tháng nuôi, mỗi tháng thay tới 55% thể tích

Ngoài lượng tôm sú thu được do thả giống bổ sung con giống nhân tạo,làm tăng đáng kể nguồn thu nhập của các hộ có vùng nuôi tôm, các sản phẩmphụ thu được còn cá tạp, cua, các loại tôm kém giá trị khác mà tôm đất và tômthẻ chiếm trên 80% trong thành phần giông tự nhiên (30)

3^ Tình trang công nghê sản xuất giống tôm sứ ở các huyên thuốc Cà Mau:

So với nghề nuôi tôm, nghề sản xuất tôm sú non trẻ nhiều hơn, thực sự mớichỉ phát triển từ năm 1997 trở lại đây, xét về quy mô cũng như năng lực kỹ thuật

Do có nền kinh tế thị trường và sự đóng góp của các cơ quan Khoa học ở TrungƯơng cũng như địa phương, nhiều cán bộ kỹ thuật đã xâm nhập vùng tiềm năngnày xây trại sản xuất giống để tiêu thụ tại chỗ Một số người địa phương có vốnliếng cũng nhân phong trào bỏ vốn xây trại Phong trào người làm tôm giống đã

có lúc phát triển ngoài tầm kiểm soát và giải thích về số trại có trong năm 1998gấp hơn 3 lần năm 1997 như nêu ở trên Biểu dưới đây thể hiện một phần hiệntrạng về hạ tầng của các trại được khảo sát (vì Ngọc Hiển có nhiều trại nhất nênthống kê đến xã)

23

VŨ ĐÔNG NAM

Trang 24

TT Số liệu cơ sở DT đất làm

trại TB (m2) Phương tiệnliên lạc Trình độ ngườiquản lý Số ngườitham gia

trạiCÓCM Không

CM

1 H Ngoe Hiển

Trang 25

T Yếu tố Năm hoạt Giá trị đầu Thể tích Mật độ Công suất Nguồn điện

(m3) ương(N/ĩít) TK (triêuPL/đợt)

lưới

Máyphát

1 H.Ngoc Hiển 98:38/82

95:9/8278:1/82

Trang 26

Biểu 12: Đầu tư và xây dựng trại ở Cà Mau năm 1998.

Các trại được thống kê thuộc TP Cà Mau ở biểu trên đều hoạt động ở khuvực trung tâm, thuận tiện giao thông thuỷ bộ và đa số đều làm trung gian dưỡng,giữ để buôn tôm giống Trong số 21 trại chỉ có 2 trại có sản xuất giống tôm, vớimật độ ương 80N/ lít

* Về vu sản xuất chính trong năm và nguồn tôm bỏ me dùng sản xuất giống;

Vụ sản xuất chính và nguồn tôm sú bố mẹ ở các huyện khác nhau cũng cónhững khác biệt Biểu dưới đây được thể hiên trên 2 huyên chính là Ngọc Hiển vàĐầm Dơi

25

VŨ ĐÔNG NAM

Biểu 13: Vụ sản xuất giống chính và nguồn gốc tôm bố mẹ ở Ngọc Đầm Dưi năm 1998.

Hiển-ơ biểu trên cho thấy huyện sản xuất giống lớn nhất là Ngọc Hiển (cũngnhư Đầm Dơi và các huyện khác) thì các tháng sản xuất giống vẫn tập trung vàomùa khô là chính Trong mùa mưa (từ tháng 5-9) ít có cơ sở sản xuất Tuy nhiên,cũng có trại sản xuất quanh năm (trại Thiên Phú), ở huyện Đầm Dơi (10/98) chỉ

26

VŨ ĐÔNG NAM

Trang 27

T Nguồn Nauplỉus Công suất trại năm 1998 Tỷ lệ sông

Trang 28

VŨ ĐÔNG NAM

Biểu 14: Công suất trại giống- tỷ trọng tôm giống sú, thẻ và nguồn gốc Nauplius ở huyện Ngọc Hiển năm 1998

4 Những hạn chê về trình độ công nghệ và chất lượng môi trường suy giảm

1 Vê nuôi

Phần lớn các điểm nuôi được khảo sát thuộc loại hình sinh thái Tôm- Rừnghoặc chuyên tôm, nuôi theo phương thức quảng canh và tồn tại các yếu tố kỹthuật:

- Về công trình nuôi tôm dạng quảng canh ở Ngọc Hiển, Đầm Dơi và CáiNước, thống kê cho thấy các vuông tôm quá lớn Diện tích lớn rất hạn chế việcquản lý: Theo dõi và chăm sóc ở Ngọc Hiển diện tích vuông lớn lên tới80.000nr (xã Đất Mới) ở huyện Cái Nước 60.000 m2 (xã Tân Hưng Tây) vàhuyện Đầm Dơi tới 43.000m 2 (xã Tân Tiến) Các vuông này phần lớn có nguồngốc đất rừng, cải tạo chưa lâu, thường nhiều lỗ mọi làm mất nước Hơn nữa cua,còng qua lại truyền bệnh rất nguy hiểm Thường khi cải tạo vuông, do quá lớn, bàcon ít chú ý đến việc gia cố và đầm nén mái cũng như các lỗ mọi Đây là mộttrong các yếu tố lan truyền bệnh tôm

- Việc chuẩn bị vuông nuôi sên vét bùn sình: do hạn chế về điều kiện cơgiới cho vùng sâu phần lớn đều sên vét thủ công, tuy nhiên nếu có thể làm cơ giớithì chất lượng đảm bảo hơn vì sự đầm nén của các máy công cụ sẽ tốt cho vuôngnuôi hơn làm thủ công Vả lại, chi phí cho xe máy cũng không cao hơn Trong tất

cả vùng được khảo sát chỉ có một hộ ở huyện Ư Minh và 3 hộ ở TP Cà Mau sửdụng cơ giới và kết hợp cơ giới

- Về khẩu độ cống và chất liệu làm cống, khẩu độ đương nhiên phải tươngquan với vuông nuôi, diện tích cỡ nào thì khẩu độ cỡ đó Tuy nhiên, kinh nghiệm

ở các địa phương và ở ngay Cà Mau cho thấy, ở các vùng nuôi quảng canh khôngthể quá nhỏ tới 0,4m (như ở Tân Hưng Tây với các vuông 5.000nr , 7.000m2 vàthậm chí 14.000m2) hoặc ở Đầm Dơi, khẩu độ cống chỉ có 0,5m cho vuông nuôitới 17.000m2 (xã Tân Đức) Khẩu độ cống nhỏ sẽ làm cho lưu lượng dòng chảythấp, việc thay nước mất nhiều thời gian Tuy nhiên cũng không quá lớn tơi 1.4m(xã Đất Mới vuông 80.000m2) Cống khẩu độ 1.4 m chịu áp lực nước rất lớn, nếubằng bê tông thì việc thao tác lại càng khó khăn Khẩu độ cống thích hợp chỉ nêngiao động 0.7- 0.8m tới l.Om và 1.2m là thích hợp (30)

28

VŨ ĐÔNG NAM

Ngày đăng: 04/01/2016, 18:16

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 7: Tỷ trọng loại hình Lúa-Tôm ử Cà Mau (Tổng diện tích 3.054,4 ha) - Hiện trạng và đề xuất quy trình kỹ thuật và định hướng phát triển phát triển các loại hình nuôi và sản xuất giống tôm biển ở tỉnh cà mau
Hình 7 Tỷ trọng loại hình Lúa-Tôm ử Cà Mau (Tổng diện tích 3.054,4 ha) (Trang 12)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w