Đổi với Việt Nam, trong khi nền kinh tế đất nước đang phát triến, thunhập quốc dân hàng năm tăng đáng kế, đời sống nhân dân không ngừng đượccải thiện, an ninh chính trị tưong đối ốn định
Trang 1Bộ GIÁO DỤC VẢ ĐẢO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÒNG NGHIỆP HÀ NỘI
<\5
LUẬN VÃN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯ ỞNG CỦA DI cư LAO ĐỘNG NỮ
XÃ YÊN PHƯƠNG - HUYỆN YÊN LẠC - TỈNH VĨNH PHÚC
ĐẾN NÔNG Hộ
Tên sinh viên
Chuyên ngành đào tạo
Lóp
Niên khoá
Giảng viên hưótig dẫn
Lê Thị Hạnh PTNT& KN PTNT & KN - K50 2005-2009
ThS Đỗ Thị Thanh Huyền
HÀ NỘI - 2009
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, đây là đề tài nghiên cứu của tôi và các số liệu,kết quả nghiên cứu là trung thực
Tôi cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện báo cáo này đãđuợc cảm ơn và các thông tin đuợc trích dẫn trong báo cáo đã đuợc ghi rõnguồn gốc
Hà Nội, ngày 24 thảng 05 năm 2009
Sinh viên
Lê Thị Hạnh
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trước hết cho cá nhân tôi được gửi lời cảm ơn đến toàn thể các thầy côgiáo trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội, các thầy cô trong khoa Kinh tế &PTNT, đã trang bị cho tôi những kiến thức cơ bản và có định hướng đúng đắntrong học tập cũng như trong tu dưỡng đạo đức
Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới cô giáo Ths Đồ ThịThanh Huyền giảng viên khoa Kinh tế & PTNT, đã giành nhiều thời gian trựctiếp chỉ bảo hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp này
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tời toàn thế các cô chú, anh chịtrong ƯBND xã Yên Phương - huyên Yên Lạc - tỉnh Vĩnh Phúc, đã tạo mọiđiều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong quá trình thực tập tại địa phương
Cuối cung tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè đã giúp đỡ tôitrong thời gian học tập và thực tập tốt nghiệp
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 24 tháng 05 năm 2009
Sinh viên
Lê Thị Hạnh
Trang 4MUC LUC
• •
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục bảng V Danh mục biểu đồ, sơ đồ, hộp số vii
Danh mục chữ viết tắt viii
PHẦN I: MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.3 Đối tuợng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 3
PHẦN II: Cơ SỞ LÝ LUẬN VÀ THựC TIỄN 4
2.1 Cơ sở lý luận 4
2.1.1 Một số khái niệm 4
2.1.2 Va i trò của di cu lao động 11
2.1.3 Lý do của di cu lao động 12
2.1.4 Những ảnh hưởng của việc di cư lao động nữ 15
2.2 Cơ sở thực tiễn 19
2.2.1 Thực trạng di cư lao động nữ trên thế giới 19
2.2.2 Một số kinh nghiệm về giải quyết vấn đề di cư trong một sổ nước trên thế giới và trong khu vục 21
2.2.3 Tình hình di cư lao động nữ ở Việt Nam 24
2.2.4 Một số chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước đối với vấn đề lao động việc làm cho lao động nữ di cư 27
PHẦN III: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN cứu 30
3.1 Đặc điếm địa bàn nghiên cứu 30 3.1.1 Điều kiện tự nhiên 3031
Trang 53.2 Phương pháp nghiên cứu 39
3.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 39
3.2.2 Phương pháp thu thập thông tin 40
3.2.3 Phương pháp xử lý thông tin 40
3.2.4 Phương pháp phân tích thông tin 40
3.2.5 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 41
PHẦN IV: KẾT QUẢ NGHIÊN cứu VÀ THẢO LUẬN 42
4.1 Thực trạng di cư lao động nữ tại xã Yên Phương - huyện Yên Lạc-tỉnh Vĩnh Phúc 42
4.1.1 Tình hình di cư lao động nữ xã Yên Phương 42
4.1.2 Tình hình di cư lao động nữ của các hộ điều tra 44
4.2 Ánh hưởng của di cư lao động nữ đến nông hộ xã Yên Phương - huyện Yên Lạc - tỉnh Vĩnh Phúc 59
4.2.1 Ánh hưởng đến kinh tế nông hộ 60
4.2.2 Ánh hưởng đến đời sống phi kinh tế 69
4.3 Một số giải pháp và định hướng cho lao động nữ di cư 77
PHẦN V: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 81
5.1 Kết luận 81
5.2 Kiến nghị 82
TÀI LIỆU THAM KHẢO 84
PHỤ LỤC 85
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Phần trăm người lao động nữ di cư theo lý do di chuyến chia
theo nơi cư trú hiện tại 15
Bảng 2.2 Phân bố phần trăm các vùng chuyến đi của những người di cư chia theo nơi cư trú hiện tại và giới tính 25
Bảng 3.1 Tình hình phân bố và sử dụng đất đai của xã 32
Bảng 3.2 Tình hình dân số và lao động của xã 35
Bảng 3.3 Ket quả sảnxuất kinh doanh của xã 37
Bảng 3.4 Tình hình cơ sở vật chất kỹ thuật của xã 38
Bảng 4.1 Tình hình di cư lao động nữ trong xã 42
Bảng 4.2 Thông tin chung về các hộ điều tra 45
Bảng 4.3 Tình trạng hôn nhân của lao động nữ di cư 47
Bảng 4.4 Trình độ học vấn của lao động nữ di cư 49
Bảng 4.5 Phân loại lao động nữ di cư theo độ tuối 51
Bảng 4.6 Thời gian di cư của lao động nữ 52
Bảng 4.7 Hình thức di cư của lao động nữ 53
Bảng 4.8 Các loại hình công việc của lao động nữ di cư 54
Bảng 4.9 Lý do di cư của lao động nữ 55
Bảng 4.10 Điếm đánh giá và xếp hạng cho các lý do chính dẫn đến di cư lao động nữ 57
Bảng 4.11 Tống họp về nơi đến chủ yếu của người di cư 58
Bảng 4.12 Đánh giá ảnh hưởng của lao động nữ di cư đến kinh tế gia đình 60
Bảng 4.13 Mức độ ảnh hưởng của lao động nữ di cư đến thu nhập gia đình 61
Bảng 4.14 So sánh thu nhập của hộ gia đình trước và sau khi lao động nữ di cư trong 1 năm 62
Bảng 4.15 Mức tiền gửi về nhà của lao động nữ di cư trong 1 năm 64
Trang 7Bảng 4.16 Mục đích sử dụng tiền gửi về của hộ có lao động nữ di cư 65Bảng 4.17 Mức độ ảnh hưởng đến chi tiêu của nông hộ khi có lao động
nữ di cư 68Bảng 4.18 Đánh giá mức ảnh hưởng của lao động nữ di cư đến đời sống
tinh thần gia đình 70Bảng 4.19 Mức độ ảnh hưởng của lao động nữ di cư đến tình cảm của hộ
gia đình 71Bảng 4.20 Ảnh hưởng của lao động nữ di cư đến phân công lao động
trong gia đình 72Bảng 4.2la Sự phân công lao động trong nông hộ trước và sau khi có lao
động nữ di cư (Đối vói LĐ nữ đã lập gia đình) 73Bảng 4.2 lb Sự phân công lao động trong nông hộ trước và sau khi có lao
động nữ di cư (Đối với LĐ nữ chưa lập gia đình) 74
Trang 8DANH MỤC BIÊU ĐÒ, sơ ĐÒ, HỘP SÓ
BIẾU ĐÔ
Biếu đồ 1: Tỷ lệ di cư lao động nữ trong các thôn 43
Biếu đồ 2: Tuổi của lao động nữ di cư 51
Biểu đồ 3: Thời gian di cư của lao động nữ 52
Biếu đồ 4: Công việc lao động nữ di cư đảm nhận tại nơi đến 54
Biếu đồ 5a: Thu nhập của nông hộ trước khi có lao động nữ di cư 63
Biếu đồ 5b: Thu nhập của nông hộ khi có lao động nữ di cư 63
Biếu đồ 6: Mức tiền lao động nữ gửi về trong 1 năm 64
Biểu đồ 7: Mục đích sử dụng tiền gửi về từ lao động nữ di cư 66
Sơ ĐÒ Sơ đồ 1: Sơ đồ lực hút, lực đẩy và các trở ngại trong di cư 14
Sơ đồ 2: Sự di chuyển của lao động nữ di cư đến các địa điểm 59
HỘP SÓ Hộp 1 Lý do di cư của lao động nữ 56
Hộp 2: Ảnh hưởng của lao động nữ di cư đến tình cảm và sự phân công lao động trong gia đình 77
Trang 9BQ Bình quân
Trang 10PHẦN I: MỜ ĐẦU
1.1 Tính cấp thỉết cùa đề tài nghiên cứu
Lao động việc làm luôn là một trong những vấn đề bức xúc có tính toàncầu, là mối quan tâm lớn của nhân loại nói chung và của mỗi quốc gia nóiriêng Đổi với Việt Nam, trong khi nền kinh tế đất nước đang phát triến, thunhập quốc dân hàng năm tăng đáng kế, đời sống nhân dân không ngừng đượccải thiện, an ninh chính trị tưong đối ốn định thì tình trạng thất nghiệp, thiếuviệc làm lại diễn ra trong phạm vi rộng và có xu hướng ngày càng gia tăng.Công cuộc đối mới không chỉ trục tiếp đem lại cho người dân những cơ hộikinh tế mà còn tác động đến di cư bằng nhiều cách khác nhau, đặc biệt trongviệc thúc đấy các luồng lao động tù’ nông thôn Di cư ở nước ta thường gắnvới tình trạng thất nghiệp và thiếu việc làm ở nông thôn Trong 15 năm trở lạiđây, cùng với ảnh hưởng lan toả của nền kinh tế thị trường, di dân diễn ra vớiquy mô rộng lớn, với điều kiện và hình thái khác trước, trở thành một yếu tốkhông thế không xem xét trong việc kiếm tìm lời giải đối với sự nghiệp pháttriển nông thôn và sinh kế bền vững của người nông dân
Di cư lao động có ý nghĩa rất quan trọng thúc đẩy chuyển dịch cơ cấukinh tế và lao động theo hướng CNH, HĐH, nhất là khu vực nông thôn, thamgia vào phân công lao động trong nước và thị trường lao động thế giới
Bên cạnh đó nước ta là một nước nông nghiệp với 80% dân số sống ở khu vựcnông thôn chiếm 70% lực lượng lao động của cả nước, lực lượng lao động nữ
ở khu vực này chiếm một lượng đáng kế (50,3%) tương đương khoảng 16triệu người Tình trạng việc làm cho lao động nữ ở nông thôn là một trongnhững mối quan tâm hàng đầu của Đảng và toàn xã hội vì phụ nữ nông thônthường là những người nghèo, tỷ lệ thất nghiệp chiếm một sổ lượng rất lớn.Đây là nguyên nhân chính dẫn đến xu hướng di cư ở vùng nông thôn Di cưlao động nói chung và di cư lao động nữ nói riêng một cách 0 ạt đã gây ra
Trang 11nhiều sức ép cho quá trình phát triển của các thành phố, như bùng nố dân sổ,
cơ sở hạ tầng không thế đáp ứng được, tệ nạn xã hội, ô nhiễm môi trường, gây
ra bất bình đẳng trong xã hội,
Do vậy, tạo việc làm cho lao động nữ ở nông thôn cần được quan tâmđúng mức và có hướng đi bền vững, phát triển lâu dài Câu hỏi đặt ra là laođộng nữ di cư có ảnh hưởng như thế nào đến cá nhân và gia đình họ cũng nhưđối với cộng đồng dân cư nơi họ đến sinh sống và sự phát triến kinh tế xã hộicủa cả nông thôn
Xã Yên Phương - huyện Yên Lạc - tỉnh Vĩnh Phúc là một xã thuầnnông, đời sống người dân gặp rất nhiều khó khăn nên những lao động ở huyệnđặc biệt là lao động nữ thường chọn con đường tìm kiếm việc làm ở nhữngđịa phương khác đặc biệt là ra thành phố làm việc, đế nâng cao thu nhập chogia đình và cá nhân họ Do vậy di cư không chỉ ảnh hưởng đến đời sống củangười di cư mà còn ảnh hưởng rất lớn đến gia đình và cộng đồng nơi có lànsóng người di cư đến và đi Thế nhưng có rất ít người quan tâm đến côngviệc, cuộc sống mà những người lao động nữ này di cư đến Thực trạng nàycần được xem xét thoả đáng, khi mà lao động nữ di cư vào các thành phốngày càng gia tăng trong bối cảnh của nền kinh tế thị trường Đặc biệt, việcđưa ra các biện pháp cụ thế can thiệp vào trình độ học vấn, kiến thức chongười lao động nữ nông thôn, giúp họ có thế mở mang kinh doanh, sản xuấttại địa phương cũng như tìm kiếm việc làm ở thành phố phù hợp với sức khoẻcủa người lao động nữ là một vấn đề cấp thiết Bên cạnh đó vấn đề ốn định xãhội, đảm bảo sự công bằng xã hội cho những người lao động do cư, đặc biệtđối tượng phụ nữ nông thôn nghèo, là những cơ sở xã hội cho việc đề xuất cáckhuyến nghị, giải pháp đế tố chức quản lý nguồn lao động này Xuất phát tù’
thực tế trên tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu ảnh hưởng của di
cư lao động nữ xã Yên Phương - huyện Yên Lạc - tỉnh Vĩnh Phúc đến nông hộ
Trang 121.2 Mục tiêu nghiên cứu
1,.3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những ảnh hưởng của di cư lao động
nữ tại nơi xuất cư Như vậy, những ảnh hưởng này sẽ được xem xét trên cả haikhía cạnh tích cực và tiêu cực, ảnh hưởng đến nông hộ có nữ lao động di cư
Số liệu được thu thập chủ yếu trong những năm gần đây
Phạm vi nội dung: Nghiên cứu ảnh hưởng của lao động nữ di cư đối vớigia đình và địa phương tại nơi xuất cư chứ không mở rộng nội dung đến cácđối tượng di cư khác
Trang 13PHẦN II: Cơ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỤC TIỄN
2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Một số khái niệm
* Khái niệm về lao động:
Lao động là hoạt động có mục đích của con người nhằm tạo ra của cải vậtchất và tinh thần cho xã hội Trong quá trình lao động con người tiếp xúc vói tự’nhiên, với các công cụ sản xuất và các kĩ năng lao động đã tác động vào các đốitượng lao động đế tạo ra các sản phẩm đáp ứng với nhu cầu của bản thân và xã hội
* Nguồn lao động:
- Nguồn lao động là toàn bộ số người trong độ tuổi lao động, có khảnăng tham gia lao động Nước ta quy định tuổi lao động là từ đủ 15 tuổi đến
đủ 60 tuối đối với nam và đủ 15 tuối đến 55 tuổi đối với nữ
- Lực lượng lao động bao gồm những người trong độ tuổi lao động đangtham gia lao động và những người chưa tham gia lao động nhưng có nhu cầutham gia lao đông
Như vậy nguồn lao động bao gồm lực lượng lao động và nguồn laođộng dự trữ’ là những người trong độ tuối lao động có khả năng lao độngnhưng không có nhu cầu tham gia lao động vì nhiều lý do khác nhau như đihọc, bộ đội, nội trợ
- Số lưọng lao động:
Là toàn bộ những người nằm trong độ tuổi quy định (Nam từ 15 đến 60tuổi, nữ từ 15 đến 55 tuối), có khả năng tham gia lao động Ngoài ra do quátrình sản xuất, nhất là sản xuất nông nghiệp, những người không nằm trong
độ tuổi quy định nhưng vẫn có khả năng tham gia lao động thì vẫn được coi là
bộ phận của nguồn lao động, tuy nhiên do khả năng lao động của họ hạn chếnên họ được coi là lao động phụ
Trang 14Trình độ khoa học: Là những kiến thức thu được từ học hỏi giáo dục vàđào tạo chính quy.
Tri thức ngầm (Tri thức truyền thống): Là những kiến thức thu được từkinh nghiệm thay vì được học hỏi qua giáo dục chính quy
* Khái niệm về việc làm:
Việc làm là một phạm trù tống họp liên kết các quá trình kinh tế, xã hội vànhân khẩu, nó thuộc những vấn đề chủ yếu của toàn bộ đời sổng Xã Hội Tuỳtheo cách tiếp cận mà người ta có những quan niệm khác nhau về việc làm
Trong tù' điến kinh tế Khoa học Xã Hội xuất bản tại Paris năm 1996khái niệm về việc làm được nêu ra như sau: “ Việc làm là công việc mà ngườilao động tiến hành nhằm có thu nhập bằng tiền hoặc hiện vật”
Ớ Việt Nam, trong bộ luật lao động được Quốc hội khoá IX thông quangày 23/6/1994 đã khẳng định “ Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thunhập không bị pháp luật ngăn cấm đều được thừa nhận là việc làm”
* Khái niệm về thất nghiệp:
Không có việc làm (thất nghiệp) đang trở thành vấn đề nóng bỏng gâysức ép về kinh tế xã hội cho mỗi quốc gia trong đó có Việt Nam
Theo quan điểm của ILO định nghĩa thất nghiệp là người không có việclàm có khả năng làm việc và nhu cầu tìm việc làm Vậy những người thấtnghiệp là những người trong độ tuổi lao động có sức lao động chưa có việclàm, đang có nhu cầu làm việc nhưng chưa tìm được việc làm
Trang 15Theo quy định của Bộ Lao Động thương binh Xã Hội: “Người thất nghiệp là ngườitrong độ tuổi lao động có khả năng lao động, có nhu cầu tìm kiếm việc làm nhưng không
di cư
Theo một số tác giả nước ngoài như Petersen (trong phân tích thực trạng didân tự do đến Đắc Lắk và ảnh hưởng của nó tới sự phát triển kinh tế - xã hội,2002), di cư là sự di chuyển vĩnh viễn tương đối của một người trong một khoảngcách đáng kể Định nghĩa này về di cư còn thiếu cụ thế vì nghĩa “vĩnh viễn tươngđối” là bao nhiêu? khoảng cách đáng kể là bao xa? chưa được xác định rõ
Còn theo Smith (trong Di dân tự’ do đến đô thị Hà Nội và ảnh hưởngkinh tế - xã hội của nó, 2000) ông cho rằng thuật ngữ di cư thường được sửdụng đế đề cập đến mọi di chuyến lý học trong không gian với ngụ ý ít nhiều
rõ rệt là sự thay đổi nơi cư trú hay nơi ở
Thomlinson (trong Di dân tự do nông thôn - thành thị ở thành phố Hồ ChíMinh, 1998) nêu rõ không phải tất cả những sự thay đối vị trí địa lý của mìnhđều là những người di cư, họ cần thực hiện một cuộc di chuyến kéo theo nhữnghậu quả nhất định Do vậy, các nhà dân số học xác định người di cư là ngườithay đổi nơi sinh sống của mình trong khoảng thời gian đáng kế và đồng thờitrong quá trình thay đối đáng kể đó phải vượt qua một ranh giới chính trị
Năm 1958 Liên Hiệp Quốc đã đưa ra định nghĩa về di cư như sau: “Di
cư là một hình thức di chuyển trong không gian của con người tù' một đơn vịlãnh thố này tới một đơn vị lãnh thố khác, hoặc sự di chuyến với khoảng cáchtối thiểu quy định Sự di chuyển này diễn ra trong khoảng thời gian di cư xác
Trang 16định và đặc trưng bởi sự thay đối nơi cư trú thường xuyên” Sự thay đối nơi
cư trú được thế hiện ở hai đặc điếm sau:
+ Nơi xuất cư (hay nơi đi) là nơi người di cư chuyến đi
+ Nơi nhập cư (hay nơi đến) là nơi người di cư chuyển đến
Định nghĩa của Liên Hiệp Quốc đã loại ra những người đang sổng lang thang,dân du mục và di dân theo kiểu con lắc (đi về hàng ngày)
Di cư là sự di chuyến của người dân theo lãnh thô với chuân mực khônggian và thời gian nhất định, kèm theo sự thay đổi nơi cư trú (Tống Việt Cường,
1997) Hiểu di cư theo định nghĩa này dựa trên các đặc điểm chủ yếu sau: Một
là, con người di chuyển khỏi một địa dư nào đó với một khoảng cách nhất định.
Nơi đi và nơi đến phải được xác định, CÓ thể là một vùng lãnh thổ hay một đơn
vị hành chính, khoảng cách giữa hai điếm là độ dài di chuyến Hai là, con người
di chuyến bao giờ cũng có những mục đích, họ đến một nơi nào đó và ở lại đótrong một khoảng thời gian đế thực hiện mục đích Nơi xuất phát là nơi ở thườngxuyên và nơi đến là nơi ở mới Tính chất cư trú là điều kiện cần đế xác định di
cư Ba là, khoảng thời gian đế ở lại nơi mới trong bao lâu là đặc điếm quan trọng
xác định sự di chuyến nào đó có phải là di cư hay không Tuỳ mục đích, thời
gian ở lại có thể là một năm, một số tháng, thậm chí một số ngày Bốn là, một số
đặc điểm nữa được đưa vào trong nghiên cứu cụ thể, chẳng hạn như sự thay đổihoạt động sống
Theo Uỷ ban kế hoạch Nhà nước 1992, 1994 đã định nghĩa: Di cư là sự dichuyển của người dân tù’ chồ này sang chồ khác, nghĩa là từ một huyện, tỉnh,nước này sang một huyện, tỉnh, nước khác trong một năm hoặc hơn
Như vậy Di cư là một bộ phận hợp thành của biến động dân số và có quan
hệ chặt chẽ với nhiều vấn đề quan trọng của phát triến bền vững
Dỉ CU’ lao động:
Từ các khái niệm trên ta có thể hiểu di cư lao động là việc chuyển đếnmột chỗ ở khác cách chồ ở cũ một khoảng đủ lớn buộc người di cư thay đổi
hộ khẩu thường trú và tạm trú
Trang 17* Các loại hình di cư:
Theo độ dài thời gian cư trú cho phép phân biệt các loại hình di cư: di
cư lâu dài, di cư tạm thời, di cư chuyển tiếp
- Di cư lâu dài: bao gồm các hình thức thay đối nơi cư trú thường xuyên và
nơi làm việc đến nơi mới với mục đích sinh sống lâu dài, trong đó phần lớnnhững người di cư là do chuyển công tác đến nơi xa nơi ở cũ, thanh niên tìm
cơ hội việc làm mới và tách gia đình, Những người này thường không trở vềquê hương - nơi cư trú
- Di cư tạm thòi: là sự thay đối nơi ở gốc là không lâu dài và khả năng quay
lại là chắc chắn, thường là sự di chuyển làm việc theo mùa vụ
- Di cư chuyển tiếp: là kiểu di cư mà không thay đổi nơi làm việc.
Theo khoảng cách cho phép phân thành các loại di cư gần hay xa, giữanơi đến và nơi đi Di cư giữa các nước gọi là di cư quốc tế, giữa các vùng, cácđơn vị hành chính trong một nước gọi là nội địa
Theo tính chất chuyên quyền phân di cư thành:
- Di cư họp pháp (di cư có tố chức): là sự di chuyến dân cư được thực hiện
theo các chương trình đáp ứng mục tiêu nhất định do Nhà nước đề ra và trụctiếp chỉ đạo Di cư có tổ chức nhận được sự hồ trợ và những điều kiện thuậnlợi do Nhà nước tạo ra Người di cư và gia đình họ có thể nhận được sự giúp
đỡ cần thiết đế có thế tố chức cuộc sống, giảm bớt hoặc không phải trải quanhững thử thách nặng nề tại nơi cư trú mới
-Di cư tự do: là di dân ngoài kế hoạch, sự di chuyến đến nơi cư trú mới hoàn
toàn do người dân tự quyết định bao gồm cả việc chọn địa bàn đến, tổ chức dichuyển trang trải mọi chi phí và tự’ tạo việc làm tại nơi cư trú mới trên cơ sởthực hiện một sổ thủ tục tối thiếu với chính quyền địa phương Đây là dòng di
cư không do Nhà nước tổ chức, thường diễn ra đồng thời với di cư không có
tổ chức
* Khái niệm nông hộ
Trang 18Trong lịch sử nghiên cứu về kinh tế hộ đã có nhiều nhà khoa học và các
tố chức quốc tế đua ra những khái niệm khác nhau về kinh tế hộ Đế đi sâunghiên cứu kinh tế hộ truớc hết cần làm rõ khái niệm hộ và gia đình
Theo quan điếm của Liên hiệp quốc thì “Hộ là những nguời có cùngchung duói một mái nhà ăn chung và có cùng chung một ngân quỹ”
Trong hội thảo ở Hà Lan năm 1980 về quản lý kinh tế nông trại, các đại biểulại thống nhất quan niệm cho rằng: Hộ là đơn vị cơ bản của xã hội, có liênquan đến sản xuất, tiêu dùng, xem hộ nhu một đơn vị kinh tế
Theo quan điểm của giáo su T.G Megee Giám đốc viện nghiên cúnChâu Á hầu hết nguời ta quan niệm hộ là một nhóm nguời cùng chung huyếttộc hay không cùng chung huyết tộc, ở chung một mái nhà, ăn chung trongmột mâm cơm và có chung một ngân quỹ Nhu vậy theo quan điểm cảu giáo
su T.G Megee, hộ không nhất thiết là những nguời có chung huyết thống,trong định nghiã hộ ông còn phân biệt với gia đình Điếm khác nhau căn bản
đó là gia đình là nhóm nguời có cùng huyết tộc, gia đình hạt nhân một vợ mộtchồng và các con là đơn vị cơ bản của xã hội Gia đình mở rộng gồm nhiềuthế hệ khác nhau cùng chung sống trong một mái nhà đang trong quá trìnhgiải thể Nhu vậy, gia đình là một loại hộ căn bản
Hộ là nhóm nguời có chung huyết tộc hay không cùng chung huyết tộc ởchung một mái nhà, ăn chung một mâm cơm và có chung một ngân quỹ Hộ
là một đơn vị cơ bản của xã hội có liên quan đến sản xuất, tái sản xuất, tiêudùng và các hoạt động xã hội khác
Những định nghĩa trên về hộ có thiên huớng nhấn mạnh tới chức năngkinh tế, xem hộ nhu một đơn vị kinh tế, sản xuất và tiêu dùng trong xã hội,khía cạnh nhân chủng học chua đuợc đề cập tới Bên cạnh quan niệm xem hộnhu một đơn vị kinh tế lại có nhiều ý kiến nhấn mạnh tính huyết thống trongquan niệm về hộ Raul Iturta - Giáo SU' truờng Đại học tống họp Lisbon chorằng: “Hộ là một tập họp những nguời cùng chung một huyết tộc có quan hệmật thiết với nhau trong quá trình sáng tạo ra vật phẩm đế bảo tồn chính bảnthân hộ và cộng đồng”
Trang 19Như vậy từ sự nghiên cứu những quan niệm khác nhau về hộ có thể rút
ra hai quan điểm cơ bản:
- Quan điểm thứ nhất cho rằng hộ là những người có chung một cơ sởkinh tế, có cùng huyết thống hoặc không cùng huyết thống
- Quan điểm thứ hai cho rằng hộ là những người có cùng huyết thống
và có chung một cơ sở kinh tế
Hai quan điếm trên có những khía cạnh giống nhau ở chỗ: đều coi nông
hộ là một đơn vị kinh tế, với những chức năng sản xuất và tiêu dùng, tuynhiên giữa hai quan điếm đó có sự khác nhau Quan điếm thứ nhất cho rằng
hộ là những người không nhất thiết có cùng huyết thống, quan điểm thứ haicho rằng hộ phải là những người có cùng huyết thống
Từ sự nghiên cứu lý luận về kinh tế hộ chúng tôi nhận thấy không thếxem xét hộ chỉ từ khía cạnh huyết thống, tính huyết thống chỉ ra một nguyêntắc tố chức có liên quan đến cá nhân của một nhóm, song vấn đề cơ bản đếxác định hộ không phải tính huyết thống mà là cơ sở kinh tế, chính cơ sở kinh
tế là tiêu chí xác định hộ Khi đề cập tới vấn đề này Traianốp đã viết: “Kháiniệm hộ, đặc biệt là trong đời sổng nông thôn không phải bao giờ cũng tươngđương với khái niệm sinh học làm chỗ dựa cho nó mà nội dung còn có thêm
cả một loạt những điều phức tạp về đời sống kinh tế và đời sống gia đình”.Như vậy khi xác định hộ phải căn cứ vào:
- Hộ là những thành viên có cùng chung một cơ sở kinh tế, cùng mộtnguồn thu nhập, cùng tiến hành sản xuất chung và cùng ăn chia phân phối
- Hộ là một nhóm người có cùng huyết thống hoặc không cùng huyếtthống, họ có thế cùng sống hay không cùng sống chung trong một mái nhà
* Hộ gia đình
Trên cơ sở những căn cứ để xác định hộ chúng tôi cho rằng gia đình làmột loại hộ, gia đình được hiểu theo nghĩa đơn giản nhất đó là nhũng người cócùng chung huyết thống hôn nhân, có chung một cơ sở kinh tế, cùng làm ăn,cùng sống chung trong một mái nhà Như vậy thì căn cứ đế xác định hộ đã có gia
Trang 20đình, đó là những người sông trong một mái nhà và có chung một cơ sở kinh tê.Gia đình là một loại hộ nhưng hộ không đồng nhất với gia đình Gia đình chỉđược coi là hộ khi các thành viên của nó có chung một cơ sở kinh tế, trên cơ sở
đó theo căn cứ đế xác định hộ đã trình bày thì đó là những hộ gia đình
* Khái niệm về giói
Giới là sự khác biệt giữa nam và nữ về góc độ xã hội mang đặc điểm khácnhau do xã hội quy định, các mối quan hệ giữa nam và nữ do xã hội xác lập nên.Giới là một sản phẩm của xã hội, thay đổi theo bối cảnh cụ thế, phụthuộc vào các nhân tố xã hội như: giai cấp,dân tộc, tuổi tác, văn hóa truyềnthống, hoàn cảnh kinh tế- xã hội- chính trị
Giới là một thuật ngữ đế chỉ vai trò trong xã hội, hành vi ứng sử trong
xã hội, và các kỳ vọng liên quan đến nam và nữ
2.1.2 Vai trò của di CU' lao động
Khi nhận định về vai trò di dân nông thôn - đô thị, tác giả ĐặngNguyên Anh cho rằng di dân đang góp phần vào sự nghiệp xoá đói giảmnghèo, nâng cao mức sống, cải thiện thu nhập cho các gia đình ở nông thônhiện nay Người lao động nông thôn từ thành phố trở về mang theo những trithức gắn liền với nhịp sống văn minh thành phố, các thang giá trị mới tronglối sống mà trước đó chưa từng tồn tại ở làng quê Tác giả cho rằng xu hướng
di dân này ngày càng gia tăng là điều tất yếu ở Việt Nam cũng như đối với bất
kì quốc gia nào đang trên đường CNH-HĐH vì di cư là một trong những đặctrang của quá trình phát triển (Đặng Nguyên Anh, về vai trò của di cư nôngthôn - đô thị , Tạp chí xã hội học, số 1/1997) Như vậy di cư có vai trò sau:
- Di cư góp phần bù đắp vào phần thiếu hụt trong lực lượng lao động ởthành phố
- Đấy nhanh quá trình phát triển công nghiệp dịch vụ
- Góp phần làm gia tăng lợi ích cho các thành phố
- Giao lưu văn hoá kinh tế xã hội giữa nông thôn và thành thị
Trang 212.1.3 Lý do của dỉ cư lao động
Theo lý thuyết di cư của Hariss - Todaro
Hariss và Todaro xem xét một quyết định của người dân di cư trên cơ
sở so sánh thu nhập kỳ vọng với thu nhập thực tế mà họ nhận được và xácsuất tìm được việc làm tại mức thu nhập kỳ vọng này
Lý thuyết di cư nông thôn - thành thị của Todaro: Lý thuyết của Todaronghiên cứu dòng người lao động di chuyến tù' nông thôn ra thành thị trong cácnước đang phát triển vào thập kỉ 60-70
Trong các công trình nghiên cứu của mình, ông chỉ ra giữa nông thôn
và thành thị luôn có những chênh lệch về tiền lương Chính sự khác biệt nàyđóng vai trò thúc đẩy sự di cư Để có thể tham gia vào thị trường lao động ở
đô thị, người lao động chấp nhận tất cả các công việc có thế làm được dù lànặng nhọc, ngắn hạn, không ổn định Những người di cư tiềm năng sẽ tínhtoán và tiếp tục di cư khi mà tiền lương của họ mong đợi ở thành thị vượt quathu nhập cơ bản của nông nghiệp Todaro đã chỉ ra được qui mô, mức độ củalàn sóng di cư phụ thuộc vào những mong đợi cá nhân về lợi ích mà sự mongđợi này được đo bằng sự khác nhau về thu nhập thực tế giữa thành thị và nôngthôn (Lai Yew Hah và Tan Siew, 1985)
• Nhân tố đẩy: nghèo đói, thất nghiệp và thiếu, việc làm, thiếu đất canh tác
cùng với quá trình đô thị hóa nhanh
• Nhân tố kéo: các cơ hội thu nhập, giáo dục, mức sống cao hơn ở nơi đến
Theo Everett Lee (Trong Di dân tự do nông thôn - thành thị ở Thành phố HồChí Minh, 1998)
Yeu tố “đẩy” lao động ra khỏi nông nghiệp nông thôn đế tham gia hoạtđộng phi nông nghiệp chủ yếu là các yếu tố bất lợi nằm trong hộ gia đình.Reardon (1997) đưa ra nhân tố đẩy sau đây: Tăng trưởng dân số, tăng sự khanhiếm của đất có thể sản xuất, giảm khả năng tiếp cận với đất phì nhiêu, giám độmàu mỡ và năng suất của đất, giảm các nguồn lực tự nhiên cơ bản, giảm doanh
Trang 22thu đối với nông nghiệp, tăng nhu cầu tiền trong cuộc sống, các sự kiện và cú sốcxảy ra, thiếu khả năng tiếp cận với thị trường đầu vào cho sản xuất nông nghiệp.Các yếu tố “kéo” thường là thuận lợi, hấp dẫn của khu vực phi nôngnghiệp như: thu nhập cao, rủi ro thấp, tạo ra tiền mặt đáp ứng nhu cầu chi tiêu
và nhiều cơ hội đầu tư
Quan hệ “kéo” và “đẩy” đưa ra một khung khố tương đổi toàn diện choviệc xác định sự tham gia của hộ nông dân vào các hoạt động phi nông nghiệp.Tuy nhiên công cụ này chỉ phân tích cung lao động của họ về mặt thực tiễn, hai
hộ gia đình có các điều kiện giống nhau nhưng ở hai vùng địa lý khác nhau cóthế có các phản ứng khác nhau Nói cách khác, các đặc điểm của vùng cũngảnh hưởng đến sự tham gia hoạt động phi nông nghiệp củ hộ nông dân, thêmvào đó còn có những yếu tố của chính bản thân người lao động Điều này giảithích tại sao hai người có cùng điều kiện như nhau nhưng lại chọn cách phảnứng khác nhau khi tham gia cào hoạt động phi nông nghiệp
Thực tế có những yếu tố khó có thể ghép vào quan hệ “kéo” hay “đẩy”.Bởi vì, ở một quy mô nhất định nó là yếu tố “ kéo:nhưng ơởmột quy mô khác
nó lại là yếu tố “đấy”
Mô hình của Everett Lee ra đời vào những năm 60 trên cơ sở tóm tắt lạinhững “luật di cư” của Ravenstein và những cảm nhận của mình, ông cungcấp những cơ sở có giá trị về xem xét tại sao con người lại di chuyến và tạisao họ lại chọn địa điểm định cư Ồng cho rằng, dẫn đến di cư là sự kết hợpcủa tất cả các yếu tố nơi đi và nơi đến Ông coi (+) là yếu tố tích cực, (-) làyếu tổ tiêu cực, hay (0) là yếu tố trung lập Mô hình của Everett Lee được thểhiện qua sơ đồ sau:
Trang 23So' đồ 1: So’ đồ lực hút, lực đấy và các trỏ’ ngại trong di cư
Trong suy luận đơn giản nhất thì sự di cư có khả năng xảy ra nhiềunhất ở nơi mà tác động của các yếu tố tiêu cực ở địa điểm đi và các yếu tố tíchcực ở địa điếm đến trong tương lai là lớn hơn những yếu tổ gắn bó con ngườivới vùng quê của họ hoặc yếu tố ngăn cản họ di chuyến đến nơi khác Sự cânbằng tương đối giữa các yếu tố tích cực có thế sẽ tác động mạnh mẽ khôngchỉ tới mức độ di cư mà còn tới cả hướng của chuyến động, dòng di cư sẽhướng tới nơi hấp dẫn hơn Nó có khả năng tác động tới thời gian kéo dài củanhững người di chuyển, khi mà di cư trở lại (hồi cư) có thể xảy ra nhiều hơnnếu cộng đồng nơi di tiếp tục duy trì sức hấp dẫn đối vơí những người dichuyển
Một yếu tố khác cũng tác động tới khả năng di cư là cái mà Lee gọi là
“những trở ngại ở giữa” đây có thể là những rào chắn đối với di cư (như chiphí vận chuyến, khoảng cách về không gian và văn hoá khác nhau giữa cácnơi, quan hệ họ hàng, gia đình, thiếu thông tin về cơ hội và điều kiện ở nơimới, luật pháp, ) nó có thể dễ vượt qua đối với một số người nhưng đối vớimột sô người khác lại là điều không thể vượt qua được
Với đặc điếm văn hoá nông thôn Việt Nam nói chung, người phụ nữnông dân nói riêng, họ rất gắn bó với gia đình, làng xóm, coi trọng sự ốn định,không muốn có những biến đổi, ngại đi xa Vậy những lý do nào khiến họ rời
bỏ quê hương, thậm chí gia đình để đi vào các thành phô hay đến các địaphương khác
Trang 24Lý do Hà Nội TP HCM
-(Dương Kim Hông - Diên đàn phát triên Việt Nam - Tháng 12 năm 2007)
2.Ỉ.4 Những ảnh hưởng của việc di cư lao động nữ
* Ảnh hưởng tích cực
- Đối vói nơi xuất cư:
Di cư là một hệ quả tất yếu từ sự chênh lệch về mức sống, mức thunhập giữa nơi đi và nơi đến, bên cạnh sự khó khăn về việc làm, sự khan hiếmđất đai Từ đó dẫn đến một hiện tượng khá phô biến là phần lớn lao động nữ
di cư vào các thành phố đều sống rất tiết kiệm, chắt chiu tiền thu nhập củamình đế gửi về quê giúp gia đình và người thân còn lại ở quê
Trang 25số tiền mà lao động nữ kiếm được gửi về đà góp phần quan trọng trongviệc giải quyết cuộc sống cho những người thân còn lại ở quê, nó có thếchiếm một phần đáng kể trong thu nhập của gia đình ở địa phương.
Ớ khía cạnh xã hội thì số tiền gửi về quê của đối tượng di cư có ý nghĩatích cực trong việc góp phần xoá đói giảm nghèo cho địa phương, cải thiệncuộc sống cộng đồng của dân cư vùng nông thôn và việc ra đi cũng góp phầnvào giảm bót áp lực dân cư đối với sự chật hẹp của đất đai có xu hướng ngàycàng giảm trong sản xuất nông nghiệp
Mặt khác chính sự ra đi này của lao động nữ đã góp phần làm chuyếnđối cơ cấu lao động từ lĩnh vực lao động nông nghiệp thuần tuý sang các lĩnhvực kinh tế khác( dịch vụ, ngành nghề ) Một số đối tượng khác sau khi tíchluỹ được vốn liếng, kinh nghiệm sản xuất, tay nghề họ đã trở về địa phương
để mở ra các hoạt động mà họ học hỏi và tích luỹ được trong quá trình laođộng tại nơi họ đã từng đến Họ đã tự tạo việc làm trong gia đình cũng nhưthu hút thêm việc làm cho các đối tượng lao động xung quanh khác
Bên cạnh lợi ích kinh tế, người lao động nông thôn tù' thành phố trở vềcòn mang theo những tri thức và nhận thức mới gắn liền với nhịp sống vănminh của thành phố Họ còn mang theo mình một ý thức làm giàu, các thanggiá trị mới trong lối sống mà có thế trước đó chưa tùng tồn tại ở làng quê.Ngay cả nhận thức và thái độ đối với vấn đề sinh đẻ, kế hoạch hoá gia đìnhcũng biến đối nhanh hơn cùng với quá trình di chuyển Họ còn thấy sự thuathiệt về trình độ văn hoá của họ cũng như của con em họ so với những nơi họđến kiếm sổng
Tất cả những điều trên đã tạo nên một khởi sắc mới trong cuộc sống ở nhữnglàng quê có nhiều người đi làm ăn và thoát ly khỏi địa phương
- Đối vói nơi nhập cư:
Sự tham gia của lao động nữ di cư đã và đang tạo ra một thị trườngnhân công năng động ở các trung tâm đô thị, các thành phổ lớn
Trang 26Phần lớn những lao động nữ ra đi là những người rất năng động, nhạy bén,dũng cảm và có chí tiến thủ mạnh mẽ Họ không chịu ngồi bó tay trước hoàncảnh khó khăn dù cho sự ra đi của họ có thể là phiêu lưu, mạo hiểm Ngườithành phố khi sử dụng lao động này hầu như không phải chi phí tốn kémnhiều cho việc đầu tư đào tạo Trong một số trường hợp sự di cư của lao động
nữ cũng góp phần làm cân bằng dân cư giữa nơi đi và nơi đến vì họ không chỉnhập cư vào các thành phố lớn mà họ còn đến những vùng nông thôn khác ítngười để làm ăn kinh tế
* Ảnh hưởng tiêu cực
- Đối vói nơi xuất cư:
Sự ra đi của lao động nữ gây ra sự thiếu hụt, mất mát lao động trẻ khoẻ
ở địa phương Hơn nữa người ra đi thường có trình độ văn hoá giáo dục tốthơn so với người ở lại Họ làm việc có năng suất, hiệu quả hơn, do vậy việcxuất cư của họ dù là tạm thời hay theo mùa vụ thì cũng có những ảnh hưởngđáng kể tới địa phương Nhất là trong giai đoạn hiện nay khi Đảng và Nhànước ta thực hiện chủ trương CNH-HĐH đất nước, đưa nền nông nghiệp ViệtNam tiến lên một bước mới Vậy ai sẽ là người tiếp nhận việc chuyến giaokhoa học kỹ thuật tiên tiến này trong khi phần lớn những người di cư là trẻtuối và có trình độ?
Một vấn đề khác không kém phần quan trọng là trong các gia đình có sự
ra đi của người phụ nữ thì những tình cảm trong gia đình có thể bị xáo trộn.Khó có thế xác định được số tiền họ mang về trang trải cho gia đình có thế bùđắp được những thiếu hụt về tình cảm trong gia đình hoặc khi có tiền đời sốnggia đình họ được cải thiện hơn, hạnh phúc hơn, ít cãi cọ vô lý hơn, con cái họ
có điều kiện được học hành tốt hơn hay không Thực tế không ai có thế so sánh
và cân đong đo đếm được những giá trị vô hình này với những giá trị kinh tế
mà họ thu lượm được Tuy nhiên, xét riêng về mặt tình cảm gia đình và loại trù’các các đối tượng di cư để hợp lý hoá gia đình hoặc đế trốn chạy cuộc sống giađình đang có khúc mắc, bất hoà, thì số còn lại phần lớn là do khó khăn về kinh
Trang 27tế mà thật sự họ mong muốn tìm một nguồn thu nhập cao hon, có thế cải thiệncuộc sống của chính bản thân, gia đình Ngoài sự xáo trộn về mặt tình cảm khi
có lao động nữ di cư mà việc đảm nhiệm các công việc trong gia đình cũng bịảnh hưởng rất nhiều, người đàn ông phải gánh vác các việc mà trước kia họ cho
đó chỉ dành chos phụ nữ như chăm sóc con cái, nội trợ,
Đi cùng với những biến đối của đòi sống tinh thần thì ở nông thôn noixuất cư cũng còn chịu một sức ép, sự cạnh tranh về kinh tế giữa các hộ cóngười xuất cư gửi tiền về và những hộ không có người xuất cư Thực tế chothấy, những hộ có người xuất cư thường được nhận tiền tù’ đối tượng di cư đếphục vụ cho nhu cầu ăn mặc, xây nhà và mua sắm các tiện nghi khác Côngbằng mà nói nếu chỉ làm thuần tuý nông nghiệp thì những việc làm trên là hếtsức khó khăn, lo đủ cũng đã là khó, huống hồ việc mua sắm Thậm chí khi cóvốn còn dùng vốn này vào việc thâu tóm đất đai hoặc cho vay lấy lãi tạo rasức ép địa phương giữa những người có kinh tế và người nghèo, đấy khoảngcách chênh lệch về cuộc sống ngay trong vùng nông thôn - và đây cũng làyếu tố thúc đấy người nông thôn phải ra đi đế theo kịp những người hàng xómxung quanh
- Đối vói nơi nhập cư:
Di cư tự’ do ở nông thôn đến các thành phố lớn tìm kiếm việc làm giảiquyết được nhu cầu lao động cho các doanh nghiệp nhưng lại tạo nên một mật
đô dân số đông đúc tại đô thi kéo theo những tệ nạn xã hội: như tai nạn giaothông, giá thuê nhà cao lên gây lên những kiện tụng tranh chấp đất đai, vấn đềsức khẻo, nhu cầu sống, quyền lợi của chính lao động di cư không được đảmbảo tại các thành phố lớn
Lao động nữ di cư tự’ do tạo nên sự mất cân bằng giới cho vùng laođộng nữ di cư đến và tại vùng lao động nữ di cư đi Nhìn chung, lao động nữ
di cư từ thành thị ra nông thôn chủ yếu tập trung lao động vào một số ngànhnhư may mặc, chế biến và bảo quản nông sản những công việc đòi hỏi nhiềuthời gian lao động nhưng lại không đước trả lương cao, thực tế hiện nay rất
Trang 28nhiều lao động nữ trong các công ty may mặc vẫn chưa hay không thể lậpđược gia đình do điều kiện công việc không cho phép Như vậy, tạo nên sựmất cân bằng giới tại những công việc khác như lắp ráp ôtô, xe máy
Theo nghiên cứu của Mai Huy Bích về những người phụ nữ nghèo, íthọc từ nông thôn ra thành thị Tác giả đã phân tích một số điểm tiêu cực củahình thức lao động này Đó là nhu cầu thuê mướn lao động làm việc nhànhưng điều này chưa được đáp ứng vì người ta ra thành phố tìm việc làm khácchứ không phải đế làm “0 sin” Sự xuất hiện của loại hình lao động “0 sin”
đã và đang khắng định vai trò, tầm quan trọng của công việc gia đình Trướcđây những công việc gia đình do người vợ, người mẹ làm, thường khôngđược tính đến, còn nếu thuê người làm thì phải mất tù’ 300000 đến 500000đồng/tháng với cơm nuôi và chồ ở Điều này đã làm lay chuyến mạnh mẽquan niệm thịnh hành lâu nay cho rằng việc nhà là loại hình lao động chỉ tạo
ra giá trị sử dụng chứ không tạo ra lời lãi, không được trả công, không sinhlợi (Mai Huy Bích, 2004) Lao động làm việc nhà phản ánh tiêu cực sự bìnhđắng giới và người ta cho rằng làm việc nhà chỉ có người phụ nữ mà thôi Phụ
nữ đi làm thuê việc không chỉ diễn ra ở Việt Nam mà đã vượt ra ngoài biêngiới Làn sóng di cư của các cô gái nước ta sang Đài Loan ngày càng tăng.Mỗi năm có đến hàng nghìn cô gái đi lao động ở Đài Loan đế làm các côngviệc trong các gia đình Đài Loan Chính cuộc di cư này đã làm nảy sinh nhiềuvấn đề xã hội cần được quan tâm như: lao động của người phụ nữ nặng nhọc,nhân phẩm bị trà đạp, tình trạng cô đơn
2.2 Cơ sỏ’ thực tiễn
2.2. ĩ Thực trạng di CU' lao động nữ trên thế giới
Theo báo cáo của Action Aid, lực lượng di cư đang có xu hướng nữ hóa,81% lao động di cư tù’ Indonesia (năm 2004), 72% lao động di cư tù’Philippines (năm 2006) và 45% lao động di cư từ Việt Nam (năm 2006) là laođộng nữ Tỉ lệ lao động nữ ở những nước tiếp nhận lao động nhập cư tăng lên
Trang 29(ở Đông và Đông Nam Á) từ 47,5% - 51,5% năm 2005 Các lao động xuấtkhẩu nữ, nhất là lao động phố thông phần lớn bị phân biệt đối xử và lạm dụng.Năm 2007, trên thế giới có 50 triệu người di cư tù’ khu vực châu Á-TháiBình Dương Khoảng 13,5 triệu người di cư trên thế giới năm 2005 đến tù' cácnước ASEAN Ước tính cho thấy, ít nhất 30-40% trong số 6 triệu người laođộng di cư tại châu Á là di cư bất họp pháp Việc thiếu phối họp và giám sátcác chính sách chung cùng những xung đột về chính sách khác gây ra vi phạmnghiêm trọng nhân quyền và các quyền lao động của lao động di cư Lao động
di cư, đặc biệt là lao động nữ phải chịu chấp nhận các thỏa ước lao độngkhông công bằng, bị lạm dụng và thiếu sự bảo vệ
Ở Yangon, trong 10 năm qua sổ người Trung Quốc sang Myanmar làm
ăn, sinh sống dưới nhiều hình thức hơn 1 triệu người, nâng tổng số người Hoa
ở nước này lên xấp xỉ 3 triệu, trong đó ở hai thành phố lớn nhất, Yangon vàMandaĩay, mồi nơi khoảng 800,000 người
Tại Lào, Trung Quốc viện trợ xây dựng Trung tâm thương mại ĐầmThạt Luống, đưa kỹ sư và công nhân Trung Quốc sang thi công Đen năm
2010, số người Trung Quốc có mặt tại Vientiane sẽ lên tới 500,000 và đến
2015 có thể lên tới 1,5 triệu người Một số khu dân cư của người Trung Quốcxuất hiện dọc sông Mekong thuộc biên giới Lào - Thái
Hơn một thập kỷ qua, các công trình do Trung Quốc viện trợ cho châuPhi xây dựng đập nước thủy lợi, cầu cống đều do công nhân trong nước sangtrục tiếp thi công Báo Thanh Niên Tham Khảo (TQ) mới đây cho hay sau khixây dựng xong, một số người ở lại lập nghiệp 100 nông dân “làng Bảo Định”sang Zambia xây đập nước, sau hơn hai năm kết thúc công việc đã ở lại trồngtrọt, chăn nuôi, buôn bán, mặc dù hộ chiếu của họ đã hết hạn
Khi cuộc sống ổn định, họ đưa người thân sang Người phụ trách CụcNgoại thương Hà Bắc, sau cuộc khảo sát năm 1998, đã giúp họ làm hộ chiếu,hợp pháp hóa việc định cư và giúp đưa người nhà của họ đến châu Phi Và
Trang 30một làng Trung Quốc được thành lập mang tên “làng Bảo Định” Sau này, khixây dựng các công trình viện trợ cho châu Phi, Chính phủ Trung Quốc đã làmtheo mô hình “làng Bảo Định”, đặt vấn đề cho phép công nhân Trung Quốc
có thế ở lại định cư Do đó, nông dân Trung Quốc không ngừng đến châu Phisinh sống và hình thành nhiều làng Trung Quốc Đen năm 2006, có hơn70,000 nông dân đến châu Phi làm nghề trồng trọt, thành lập 28 “làng BảoĐịnh”, mỗi làng có 400-2,000 người, ở 17 nước châu Phi, tù' Sudan đếnZambia, từ Nigeria đến Kenya đều có các “làng Bảo Định” với quy mô khácnhau Số lượng dự tính sẽ tăng lên hàng triệu người
Thải Lam Khoảng 40% trong tổng lực lượng lao động là lao động hợp
đồng 80% lao động nữ ở Thái Lan là lao động hợp đồng Hầu như tất cả laođộng nhập cư (Miến Điện, Cămpuchia và Lào) đều là lao động họp đồng
An Độ: Trong ngành khai khoáng, tỷ lệ công nhân hợp đồng khoảng 15
% và tỷ lệ này vẫn tiếp tục tăng mồi ngày Trong ngành kim cưong, tỷ lệ rấtcao, gần như không có mối quan hệ người lao động và người sử dụng laođộng Trong ngành xi măng và hoá chất, nhiều việc làm có tính chất lâu nămnay cũng chuyển sang sử dụng lao động hợp đồng
Hàn Quốc: Theo con số chính thức, 55% thị trường lao động là lao
Trang 31* Trung Quốc
Trung Quốc là một nước đông dân nhất thế giới nhưng có gần 70% dân sốsống ở nông thôn Trước đòi hỏi cấp bách của thực tế, ngay tù' năm 1978, saucải cách và mở cửa nền kinh tế, Trung Quốc đã thực hiện phương châm “lynông bất ly hương, nhập xưởng bất nhập hành” thông qua chính sách khuyếnkhích phát triển mạnh mẽ công nghiệp hương trấn nhằm phát triển và đẩymạnh chuyến dịch cơ cấu kinh tế, phân công lại lao động trong nông thôn Coiphát triển công nghiệp nông thôn là con đường để giải quyết nghèo đói
- Trung Quốc thực hiện chính sách đa dạng hoá và chuyên môn hoá sảnxuất, thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông thôn, thực hiện phi tập thếhoá trong sản xuất nông nghiệp thông qua việc áp dụng khoán các sản phẩm
- Nhà nước tăng giá thu mua nông sản một cách họp lý
- Tạo môi trường thuận lợi cho công nghiệp nông thôn phát triển nhưNhà nước bảo hộ sản xuất hàng trong nước, hạn chế ưu đãi đối với côngnghiệp Nhà nước Nhà nước thực hiện chính sách hạn chế di chuyển lao độnggiữa các vùng nên lao động bị giữ lại ở nông thôn và các doanh nghiệp ở nôngthôn có vị trí độc quyền trong trả lương, khai thác chênh lệch giữa nông thôn
và thành thị Doanh nghiệp hương trấn duy trì được tốc độ phát triển cao vàliên tục nhờ lợi thế lao động chuyến từ khu vục nông nghiệp có năng suất laođộng thấp sang doanh nghiệp phi nông nghiệp có năng suất lao động cao hơn
- Thiết lập hệ thống cung cấp tài chính có hiệu quả cho doanh nghiệpnông thôn, giảm chi phí giao dịch cho huy động vốn cho công nghiệp nông thôn
- Duy trì và mở rộng mối quan hệ hai chiều giữa doanh nghiệp nôngthôn và doanh nghiệp Nhà nước
* Đài Loan
Hiện nay, kinh tế nông thôn ở Đài Loan phát triến tương ứng với khuvục thành thị với các ngành sản xuất công nghiệp, dịch vụ được phát triến
Trang 32đồng đều ở khắp các vùng và ngành sản xuất nông nghiệp đặt năng suất cao
có hiệu quả Từ năm 1953, Đài Loan thực hiện phương châm “Nông nghiệpbồi dường hỗ trợ cho nông nghiệp phát triển”
Chính quyền Đài Loan đã ưu tiên, ưu đãi về vốn đầu tư, về cơ chế chính sáchnông nghiệp và nông thôn với 9 nội dung hỗ trợ như sau:
1 Bãi bỏ việc đối lúa lấy phân bón
2 Bãi bở các khoản phụ thu đối với ruộng đất
3 Giảm lãi suất tín dụng nông nghiệp
4 Nâng cấp giao thông nông thôn
5 Cải thiện cơ sở hạ tầng nông thôn
6 Đấy mạnh chuyển giao kỹ thuật cho nông nghiệp
7 Khuyến khích lập khu công nghiệp chuyên ngành
8 Tăng cường công tác nghiên cứu, thí nghiệm phục vụ sản xuất
9 Khuyến khích đầu tư xây dựng nhà máy ở nông thôn
Bên cạnh đó Đài Loan khuyến khích phát trien công nghiệp nông thôntheo khuynh hướng phân tán nhưng có liên kết với nhau và liên kết với cáccông ty lớn ở đô thị Các ngành công nghiệp phát triến là thực phấm, dệt, hoáchất, chế tạo máy Trong quá trình công nghiệp hoá nông thôn, Đài Loan luônchú trọng phát triển nguồn lực nhằm nâng cao chất lượng lao động, bằng việcphát triển giáo dục cơ sở Nguồn nhân lực có chất lượng cao là tiền đề mangtính quyết định nâng cao khả năng sử dụng công nghệ là vốn quý của ngànhcông nghiệp Đài Loan nói chung và công nghiệp nông thôn nói riêng
Nhà nước còn chú trọng phát triến cơ sở hạ tầng nông thôn đủ tốt đế đảm bảotính năng động của công nghiệp nông thôn phân tán Ngoài ra, Nhà nước cònchú trọng phát triển đòng đều giữa các vùng trong nước, không tập trung quámức vào các khu công nghiệp khống lồ
Trang 33* Thái Lan
Thực hiện chính sách khai thác đất đai từ năm 1950 đến 1990 diện tíchđất nông nghiệp không ngừng tăng lên (tù' 8,27 triệu ha tù' năm 1950 tăng lên19,77 triệu ha năm 1982) Tuy nhiên, hệ quả là quá trình phá rùng ảnh huởngmôi trường sinh thái
Chính phủ Thái Lan đã tăng cường đầu tư cơ sở hạ tầng phục vụ nôngnghiệp và phát triển nông thôn như hệ thống đường xá, đặc biệt là đầu tư vàothuỷ lợi Tính cho đến năm 1998, đã có 604 dự án thuỷ lợi quy mô lớn vàtrung bình, 3,988 dự án nhỏ phục vụ cho sản xuất nông nghiệp Phát triển cáchoạt động phi nông nghiệp nhằm thu hút lao động nông thôn
Chính phủ Thái Lan đã ban hành chính sách, các biện pháp cụ thế nhằmđảm bảo tín dụng cho nông thôn bằng cách thiết lập hệ thống tín dụng nôngthôn, từng bước giúp nông dân tiếp cận tín dụng chính thức Quy định cácngân hàng thương mại phải dành 14% tiền gửi cho ngành nông nghiệp vay.Ngân hàng nông nghiệp áp dụng lãi suất với nông dân theo phương pháp địnhgiá chi phí trung bình Từ năm 1987 Chính phủ đã áp dụng chế độ dùng thóc
để thế chấp đế nông dân được vay vốn với lãi suất ưu đãi
Ngoài ra, Thái Lan còn cung cấp các dịch vụ xã hội, chú ý đến giáodục, đầu tư phát triến cơ sở hạ tầng ở vùng nông thôn kém phát triển
2.2.3 Tình hình di cư lao động nữ ở Việt Nam
Ớ Việt Nam, việc di cư diễn ra từ rất sớm, “đối với cá nhân và gia đình,
di cư là rời quê hương cũ đến quê hương mới, đối với dân tộc trong lịch sử làviệc phát triển vùng sinh sống, mở rộng lãnh thố từ địa bàn sẵn có” (ĐặngThu, 1994) Trong cuốn “Di dân của người Việt tù' thế kỉ X đến thế kỉ XIX”,nguyên nhân di dân được đề cập tới: do đời sổng cơ cực, thê thảm vì chế độ tôthuế, bệnh dịch, thiên tai đã xô đấy hàng ngàn, hàng vạn gia đình nông dânkhông thể bám trụ ở quê hương Nạn phiêu tán trở nên phổ biến ở đồng bằngBắc Bộ và Bắc Trung Bộ Ớ đó xuất hiện mâu thuẫn tâm lí giữa tình cảm quêhương với chính sách cột chặt người nông dân vào công điền
Trang 34Nơi chuyển đi Hà
Nội
Khu Kinh
tếĐông
Bắc TâyNguyên
Thànhphổ Hồ
Chí Minh
Khu Côngnghiệp ĐôngNam bộ Tổng số
Trang 35— y
-7
-(Tông cục thông kê)
Lượng người di cư ra các khu vực thành thị ngày càng nhiều.Trongtổng số người di cư, phụ nữ luôn chiếm phần đông hơn nam giới Trong sốnhóm phụ nữ di cư thì nhóm phụ nữ trẻ tuổi từ 15-24 chiếm tới 46,8% (Điềutra di cư VN năm 2004)
Theo ông Mai Đức Chính, Phó Chủ tịch Tổng LĐLĐ Việt Nam, vấn đề
di cư đang trở nên phổ biến và thành một xu thế tất yếu tại Việt Nam Điều tragần đây của Tống cục Thống kê cho thấy, trong số lao động di cư, có tới 2/3
là lao động trẻ (15-19 tuổi); hơn 50% là di cư để tìm việc làm, 47% là đế cảithiện điều kiện sống Có 61,9% những người nhập cư tự’ do sống tụ tập ởnhững nơi không bị kiểm soát như bãi rác, gầm cầu, các khu chợ tạm, xuấthiện hàng loạt các khu dân cư cho người lao động ngoại tỉnh thuê với giá rẻ(Phúc Xá, Chương Dương ) Điều này đã tạo nên một cảnh vô cùng hỗnđộn, vô trật tự: nhà cửa bị xuống cấp, hiện tượng lấn chiếm đất công, tranhchấp kiện cáo ngày càng phổ biến, nhà đất trở thành hàng hoá đế ngưòi tasang nhượng, trao đổi, mua bán, không kể đến tình trạng như thiếu nước sinhhoạt, môi trường ô nhiễm, an ninh khó kiếm soát (Nga My, Di dân nôngthôn - đô thị với nhà ở , Tạp trí xã hội học số 2/1997) Đáng chú ý là có tớihơn 20% công nhân lao động có mức thu nhập dưới 700,000đồng/người/tháng Trong khi đó, thời gian làm việc bình quân 8 - 1 0 giờ/ngày,nhiều khi phải chịu áp lực của họp đồng giao hàng nên số giờ làm thêm củacông nhân thường vượt so với quy định, gây suy giảm sức khoẻ cho người laođộng Mỗi tháng, công nhân lao động chỉ được nghỉ hai ngày Chủ nhật
Hiện không chỉ lao động nam mà ngay LĐN di cư về các đô thị ngàymột gia tăng Mất đất canh tác do đô thị hoá cùng với thiếu việc làm nênnhiều LĐN nông thôn đã di cư lên các đô thị, thành phố lớn đế kiếm việc mưusinh Riêng Hà Nội có trên 400,000 người và Thành phố Hồ Chí Minh là cảhơn triệu lao động tràn về để tìm việc làm, trong đó có hơn 50% là LĐN vàcông việc mà nhiều chị em phụ nữ lựa chọn để kiếm sống là bán hàngrong.Tuổi trung bình của chị em bán rong thường từ 18 đến 55 chiếm 77%,
Trang 36dưới 18 tuổi chiếm 6% Trong sổ các chị em được điều tra có tới 76,5% người
có gia đình Trình độ học vấn đa phần là cấp I và II - 88,5%, cấp III - 6,5%,chưa đi học - 0,5% Trung bình thời gian bán hàng ở Hà Nội của chị em là 4-
5 năm; những người bán lâu nhất là khoảng 1 0 - 1 2 năm
Thực trạng đời sống kinh tế và văn hóa tinh thần của người lao độngtrong các khu nhà trọ đang đòi hỏi vai trò và trách nhiệm của các bên liênquan, trong đó vấn đề nhà ở cho người lao động di cư là rất cần thiết
Đại bộ phận lao động nhập cư không có điều kiện đế mua nhà ở, tiềnlưong kiếm được chi tiêu tiết kiệm tối đa cho bản thân và một phần rất ít đế
hỗ trợ gia đình
Phần lớn các khu nhà trọ được xây dựng tạm bợ, chủ yếu là nhà cấp 4,
an ninh trật tự’ khá phức tạp nên thường xuyên xảy ra các hiện tượng mất trộm
đồ dùng cá nhân
Do đó, đời sống tinh thần của lao động nữ di cư cũng rất nghèo nàn, chỉ
bó hẹp trong phòng trọ, không có cơ hội tham gia các họat động vui chơi giảitrí đế hòa nhập cộng đồng
Theo sổ liệu của Tống cục thống kê năm 2004 cho thấy ở Hà Nội sốngười di chuyến tù' Đồng bằng sông Hồng đến chiếm tỷ lệ lớn nhất (72,8%đối với nam và 70,5% đối với nữ)
2.2.4 Một số chủ trương chỉnh sách của Đảng và Nhà nước đoi với vấn đề lao động việc làm cho lao động nữ di cư
Nước ta là một nước có tới 80% dân số ở nông thôn, nên lực lượng laođộng nữ ở khu vực này cũng chiếm một lượng đáng kế Theo số liệu điều tracủa Bộ Lao động - Thương binh và xã hội, hàng năm nước ta có khoảng 1,1triệu người đến tuổi bổ sung vào lực lượng lao động xã hội và làm cho sức ép
về lao động và việc làm gia tăng Lực lượng lao động lên tới 45 triệu người,chiếm trên 53% dân số toàn quốc Trong 80% lược lượng lao động sống ởnông thôn có tới 50,3% là lao động nữ, tương đương khoảng 16 triệu người.Chỉ xét riêng về mặt số lượng, với đội quân lao động nữ hùng hậu như vậy
Trang 37cũng đủ để cho tất cả mọi người hướng sự quan tâm chú ý vào khu vực này.Nhưng xem ra đây lại là một bài toán còn nhiều ấn số không dễ gì tìm đượclời giải nagy một sớm một chiều Xét về mặt chất lượng lao động nữ ở nôngthông, theo điều tra mới đây có 3,66% số người mù chữ, tương đương vớikhoảng 1,070,778 người Tỷ lệ số người tốt nghiệp phổ thông trung học là3,90%, tương đương khoảng 1,210,450 người Tỷ lệ số người chưa tốt nghiệptiếu học là 12,30%, tương đương với 3,450,460 người Tỷ lệ số người đã tốtnghiệp tiếu học là 14,55%, tương đương với 4,188,321 người Tỷ lệ số người
đã tốt nghiệp phố thông cở sở là 16,77%, tương đương với 4,835,492 người
Như vậy, chúng ta có thế thấy đại bộ phận lực lượng lao động nữ ởnông thôn trình độ học vấn còn thấp, có tới hơn 13 triệu người hoặc là mùchữ, hoặc chỉ học tù' tiếu học đến phô thông cơ sở Trình độ học vấn là thước
đo về mặt bằng dân trí Còn thước đo về chất lượng của lực lượng lao động làtrình độ chuyên môn và kỹ thuật, cái có ý nghĩa quyết định đối với năng suấtlao động Nhưng đế đào tạo được chuyên môn kỹ thuật, thì đòi hỏi khâu họcvấn có ý nghĩa quyết định Do đó, trong tống số 10 triệu người, có tới15,405,505 người, chiếm trên 95% số lao động nữ ở nông thôn không hề cóbất kỳ một chuyên môn kỹ thuật nào, đó cũng là điều dễ hiểu Còn lại số cótrình độ sơ cấp là 165,434 người, chiếm 0,57%; số công nhân kỹ thuật cóbằng cấp là là 37,419 người, chiếm 1,26%; cao đắng và đại học là 113,338người, chiếm 0,39%
Số liệu thống kê trên chắc chắn chưa phẩn ánh đúng thực tế Song rõràng thực trạng này đang là một bức rào chắn khá kiên cố ngăn cản quá trìnhcông nghiệp hoá và hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn ở nước ta hiện nay.một người không biết chữ thì không the tiếp thu được khoa học kỹ thuật, chứchưa nói đến việc tiếp thu và chuyển giao công nghệ mới Mặt khác, "cái khó
bó cái khôn", một khi sản xuất không phát triển được, sức lực của con người
dư thừa là mảnh đất màu mỡ cho các vấn đề xã hội nảy sinh, "đói ăn vụng,túng làm liều" là khó tránh khỏi Dòng người di cư tự do từ nông thôn ra
Trang 38thành phổ những năm gần đây là một bằng chứng sinh động cho thực tế đó,khi nền kinh tế nước ta chuyến mạnh sang thị trường hoá Chỉ riêng thành phố
Hồ Chí Minh có trên một triệu người; còn ở Hà Nội cũng có khoảng gần trênbốn trăm nghìn người từ các vùng lân cận tràn vào kiếm sống Trong số này
có hon một nửa là phụ nữ số lao động nữ lang thang này là một tác nhânđáng kế làm lây lan các bệnh dịch cũng như các tệ nạn xã hội có thế đế lại hậuquả khôn lường cho các thế hệ sau và cho cả nòi giống
Để có thể thay đổi được thực trạng lao động nữ ở nông thôn hiện nay,ngoài việc Nhà nước cần hỗ trợ vốn đế họ có thể sản xuất và sinh sống, cònphải cho họ những cơ hội cần thiết để họ học văn hoá và tiếp thu khoa học -
kỹ thuật, biến đối suy nghĩ thành nhận thức, cung cách làm ăn và lối sống của
họ Từ đó tạo đà cho việc tiến hành xoá đói giảm nghèo ở khu vực nông thôngngày một vững chắc, góp phần thúc đấy sự phát triển kinh tế thị trường theođịnh hướng xã hội chủ nghĩa Đây cũng là một chiến lược phát triển kinh tếgắn liên với tiến bộ và công bằng xã hội mà Đảng và Nhà nước ta nên làm
Đứng trước thực trạng của vấn đề lao động nữ di cư, Tố chứcActionAid Việt Nam và các ban, ngành chức năng cho rằng, Hà Nội cũng nhưcác tỉnh, thành phố trong cả nước cần có chính sách thu hút mạnh đầu tư nướcngoài, chú ý đến các dự án có quy mô nhỏ gắn với khu vục nông thôn, pháttriến công nghiệp chế biến và các ngành tiếu thủ công nghiệp nhằm giải quyếtvịêc làm tại chỗ, hạn chế các dòng lao động nông thôn di cư vào thành phố
Theo đó, cần đấy mạnh chương trình đào tạo nghề, phát triển nguồnnhân lực, tăng cường đầu tư giáo dục phổ thông, phát triển phố cập, dạy nghềđại trà tại khu vực nông thôn
Đặc biệt, trong bối cảnh hội nhập, các Doanh nghiệp cần nhận thức rõviệc thực thi nghiêm chỉnh lụât pháp lao động cũng như thực hiện tốt tráchnhiệm xã hội, vì chăm lo đời sống cho người là động là nhân tố quan trọng đểnâng cao lợi thế cạnh tranh nước ta
Trang 39PHẦN III: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
3.1 Đặc điếm địa bàn nghiên cửu
3. / ĩ Điều kiện tự nhiên
3.1.1.1 VỊ trí địa lỷ
Yên Phương là một xã đồng bằng của huyện Yên lạc - Vĩnh Phúc vớidiện tích 526,6 ha chia làm 4 thôn: Phương Trù, Dân Trù, Yên Thư, Lũng Hạvới 10 khu hành chính, xã Yên Phương nằm ở phía Đông Nam của huyện có
vị trí tiếp giáp như sau:
Phía Bắc giáp thị trấn Yên Lạc
Phía Nam giáp xã Hồng Phương, Liên Châu
Phía Tây giáp xã Tam Hồng
Phía Đông giáp xã Nguyệt Đức
Là một xã đông dân của huyện với 8568 người, lại là một xã thuầnnông với diện tích có hạn nên đời sống nhân dân gặp rất nhiều khó khăn trongviệc giải quyết việc làm
3.1.1.2 Đặc điêm về khí hậu thời tiết
Yên Phương là một xã nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa mang nhiềunét đặc trưng của khí hậu toàn miền Đồng bằng bắc bộ như sau: Cũng như khíhậu toàn miền bắc, khí hậu xã Yên Phương chia làm 2 mùa rõ rệt trong năm,mùa hè từ tháng 5 đến tháng 8, nhiệt độ trung bình từ 23° - 26°c, nhịêt độ tốicao là 40°c, mùa đông kéo dài từ tháng 11 đến tháng 2 năm sau, nhiệt độ trungbình từ 12°c - 17°c Tổng lượng mưa hàng năm trung bình là 1400 - 1600 mm.Mùa mưa kéo dài tù' tháng 5 đến tháng 10, chiếm 85% tốgn lượng mưa cả năm,lớn nhất là 759 mm vào tháng 8 Độ ẩm quanh năm khá cao, trung bình từ 85 -86%, thường là 83 % vào tháng 7 và 89 % trong tháng 3
Trang 403.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội
3.1.2.1 Tình hình phân bổ và sử dụng đất
Đất đai là một tư liệu sản xuất không thể thay thế được đối với bất kỳmột vùng nông thôn nào, đặc biệt là trong quá trình sản xuất nông nghiệp.Việc phân bố và sử dụng đất đai như thế nào có vai trò rất quan trọng trongphát triển kinh tế
Qua bảng 3.1 ta thấy: về tống diện tích đất tự' nhiên thì không có gìthay đổi nhưng về co cấu trong tổng diện tích đất tự’ nhiên lại thay đổi qua cácnăm theo sự biến động và phát triển kinh tế xã hội của xã cụ thể như sau:
Năm 2006 đất nông nghiệp là 390,34 ha chiếm 74,12%, đất phi nôngnghiệp là 136,26 ha (chiếm 25,88%), năm 2007 diện tích đất nông nghiệpgiảm xuống còn 387,7 ha, (chiếm 73,62%) ứng với giảm 0,68%, diện tích đấtphi nông nghiệp là 138,9 ha , tăng lên 1,94%, và đến năm 2008 diện tích đấtnông nghiệp là 385,16 ha chiếm 73,14%, so với năm 2007 thì nó giảm hơn0,66%, còn đất phi nông nghiệp là 141,44 ha, so với năm 2007 thì diện tíchđất phi nông nghiệp tăng lên 1,83% Nhưng trong đất nông nghiệp cơ cấu cácloại đất trong đất nông nghiệp cũng có sự thay đối theo từng năm: Đất trồngcây hàng năm có xu hướng giảm xuống, trong khi đất nuôi trồng thuỷ sản lạităng lên rất lớn, năm 2006 tỉ lệ đất trồng cây hàng năm chiếm 94,75%, đấtnuôi trồng thuỷ sản chiếm 5,25% trong tổng số đất nông nghiệp thì đến năm
2007 có đã có sự thay đổi rõ ràng, đất trồng cây hàng năm chiếm tỉ trọng92,88% ứng với giảm 2,63% so với năm 2006, đất nuôi trồng thuỷ sản chiếm
tỉ trọng 7,12% ứng với tăng 34,63% so với năm 2006 Đặc biệt đến năm 2008thì lại càng thể hiện rõ: Đất trồng cây hàng năm giảm mạnh xuống còn90,61%, so với năm 2007 thì nó giảm 3,09%, trong khi đất nuôi trồng thuỷsản chiếm tỉ trọng 9,39%, so với năm 2007 thì nó tăng lên 31,09% Nguyênnhân là do người dân tự nhận thấy nếu chỉ dựa vào trồng cây hàng năm thì thunhập rất thấp mà rủi ro cũng cao, hơn nữa địa phương lại đang khuyến khíchngười dân phát triến trang trại, làm VAC nên diện tích đất nuôi trồng huỷ sảntăng lên đáng kể, nó đã đem lại thu nhập khá cao cho người dân, lại tận dụngđược các nguồn lực trong gia đình