1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo xây dựng giai cấp nông dân trong giai đoạn hiện nay

152 339 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 152
Dung lượng 0,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tính cấp thiết của đề tài Hơn 80 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, giai cấp nông dân GCNDViệt Nam thông qua tổ chức của mình với những tên gọi khác nhau Nông Hội đỏ, Hội Nông dân Việt

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Hơn 80 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, giai cấp nông dân (GCND)Việt Nam thông qua tổ chức của mình với những tên gọi khác nhau (Nông Hội

đỏ, Hội Nông dân Việt Nam) đã luôn luôn chứng tỏ là một lực lượng đông đảo,trung thành với Đảng, liên minh chặt chẽ với giai cấp công nhân, đấu tranh kiêncường, bất khuất, cống hiến to lớn và quan trọng cho sự nghiệp đấu tranh giảiphóng dân tộc, thống nhất đất nước, xây dựng chủ nghĩa xã hội (CNXH) và bảo

vệ Tổ quốc Bộ Chính trị Khóa VI ban hành Quyết định số 42-QĐ/TW ngày 1tháng 3 năm 1988 về đổi tên Hội liên hiệp Nông dân tập thể Việt Nam thành HộiNông dân Việt Nam Đồng thời, nhằm đáp ứng nguyện vọng tha thiết củaGCND Việt Nam, Bộ Chính trị đã quyết định lấy ngày 14-10-1930 làm ngàythành lập Hội Nông dân Việt Nam

Gần 25 năm thực hiện đường lối đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộngsản Việt Nam, GCND ngày càng khẳng định được vị trí, vai trò quan trọng củamình trong khối liên minh giữa giai cấp công nhân, nông dân và đội ngũ trí thức.Nghị quyết Đại hội X của Đảng, khi đề ra nhiệm vụ phát huy sức mạnh đại đoànkết dân tộc, đã khẳng định: “Đối với giai cấp nông nhân, phát huy vai trò quantrọng trong sự nghiệp đổi mới và công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp,nông thôn”1 Để đạt điều đó phải xây dựng giai cấp nông nhân vững mạnh Điềunày chỉ có thể đạt hiệu quả khi có sự lãnh đạo của Đảng

Đánh giá vị trí, tầm quan trọng của GCND, Hội nghị Ban Chấp hànhTrung ương lần thứ 7 khoá X nhấn mạnh: Trong lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổquốc cũng như trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá (CNH, HĐH) đấtnước theo định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN), nông nghiệp, nông dân, nôngthôn luôn có vị trí quan trọng, là cơ sở và lực lượng để phát triển kinh tế - xã hội(KTXH) bền vững, ổn định chính trị, đảm bảo an ninh, quốc phòng; giữ gìn,phát huy bản sắc văn hoá dân tộc và bảo vệ môi trường sinh thái

Trong công cuộc đổi mới, GCND Việt Nam đã đóng góp quan trọng vàotăng trưởng kinh tế, xã hội, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội

1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb CTQG, Hà Nội, 2006, tr 118

Trang 2

Những đóng góp ấy đã khẳng định vị trí, vai trò và sức mạnh to lớn của GCNDtrong sự nghiệp đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo

Song trước yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn,trong điều kiện khoa học công nghệ ngày càng phát triển nhanh, GCND ViệtNam đang đứng trước những thách thức rất to lớn Tình trạng trạng thất nghiệp,lao động không ổn định, điều kiện làm việc ít được cải thiện, tai nạn lao độnggia tăng… Bên cạnh đó, điều kiện sinh hoạt tinh thần cũng rất thiếu thốn Nôngdân lao động không có thời gian, điều kiện sinh hoạt, học tập nâng cao nhậnthức chính trị và trình độ mọi mặt Do vậy, trình độ học vấn của một bộ phậnnông dân còn thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoánông nghiệp, nông thôn; ý thức chính trị, hiểu biết pháp luật còn rất hạn chế Cómột bộ phận nông dân sống thiếu lý tưởng, niềm tin, sa vào các tệ nạn xã hội,giảm lòng tin và sự gắn bó với Đảng và Hội Nông dân

Tình hình trên có nhiều nguyên nhân, song một trong những nguyên nhân cơbản là những năm qua, Đảng và Nhà nước chưa quan tâm thoả đáng đến xây dựng,phát huy vai trò GCND, đặc biệt, sự lãnh đạo của Đảng đối với vấn đề xây dựngGCND còn nhiều điểu cần được quan tâm hơn, từ nhận thức về vai trò, nội dung,phương thức lãnh đạo xây dựng GCND đến sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng trong

tổ chức thực hiện; từ sự định hướng của Đảng về chủ trương, chính sách xây dựngGCND đến chiến lược về xây dựng và phát triển GCND hiện đại…

Để khắc phục những hạn chế nêu trên, đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổimới, đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, mà trước hết là CNH, HĐH nông nghiệp,nông thôn, Đảng phải coi trọng lãnh đạo xây dựng GCND Song việc nghiêncứu tìm giải pháp cho vấn đề này vãn còn là một khoảng trống khá lớn Vì thế,

việc triển khai thực hiện đề tài cấp bộ Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo xây

dựng giai cấp nông dân trong giai đoạn hiện nay thực sự là vấn đề cần thiết và

cấp bách

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Xây dựng và vận động GCND đáp ứng yêu cầu của cách mạng là mộtnhiệm vụ quan trọng có ý nghĩa chiến lược được Đảng coi trọng lãnh đạo trongmọi thời kỳ cách mạng, với những chủ trương, giải pháp phù hợp, đem lại kếtquả to lớn Trong công cuộc đổi mới, nhất là những năm gần đây, vấn đề nông

Trang 3

nghiệp, nông dân, nông thôn đã thu hút những cơ quan, nhà khoa học nghiêncứu, trong đó, nhiều công trình khoa học nghiên cứu vấn đề xây dựng GCND vàĐảng lãnh đạo xây dựng GCND:

a Các văn kiện của Đảng, của Nhà nước và của Hội Nông dân Việt Nam

1.Nghị quyết số 05 - NQ/HNTW Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành

Trung ương Đảng khoá VII tiếp tục đổi mới và phát triển KT-XH nông thôn,ngày 10 tháng 6 năm 1993

2.Chỉ thị 59-CT/TW, ngày 15-12-2000 của Bộ Chính trị khoá VIII  “về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối  với hoạt động của Hội Nông dân ViệtNam trong thời kỳ Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn”

3.Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 5 khóa IX Về đẩynhanh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn thời kỳ 2001 – 2010

4.Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 7 khóa IX Vềphát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc vì dân giàu, nước mạnh, xã hộicông bằng, dân chủ, văn minh

5 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X

6 Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ bảy khoá X vềvấn đề nông nghiệp, nông thôn, nông dân

7 Chỉ Thị Số 26 /2001/CT-TTg của Thủ tướng chính phủ, ngày 09tháng 10 năm 2001 Về việc tạo điều kiện để Hội Nông dân các cấp tham giagiải quyết khiếu nại, tố cáo của nông dân

b Sách, Báo, Tạp chí

1.Ban Dân vận Trung ương, Một số vấn đề về công tác vận động nông dân

ở nước ta hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000

2.Vũ Oanh, Nông nghiệp và nông thôn trên con đường CNH, HĐH và hợp tác hóa, dân chủ hóa, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998

3.Nguyễn Thanh Bạch, Chính sách và giải pháp cho nông dân, nông nghiệp và nông thôn hiện nay, Tạp chí Nghiên cứu kinh tế, 1-1999

4.Phạm Xuân Dũng, Một số vấn đề về lao động và việc làm trong nông nghiệp, nông thôn nước ta hiện nay, Tạp chí Quản lý nhà nước, số 6-2000

Trang 4

5 Nguyễn Sinh Cúc, Thực trạng và giải pháp xóa đói, giảm nghèo ở nông thôn hiện nay, Tạp chí Cộng sản, số 25-2002.

6 Vũ Ngọc Kỳ, GCND và Hội Nông dân Việt Nam tiếp tục góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn, Tạp chí Cộng sản

c Đề tài nghiên cứu khoa học

Trung ương Hội Nông dân Việt Nam, Đề tài nghiên cứu khoa học KHBĐ

12: Công tác vận động nông dân trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, 1999

Cuốn sách là kết quả nghiên cứu của đề tài khoa học nêu trên, gồm cácbài viết chọn lọc trong các cuộc hội thảo vừa mang tính khoa học vừa mang tínhthực tiễn của nhiều đồng chí lãnh đạo, quản lí, cán bộ nghiên cứu khoa học vàchỉ đạo thực tiễn của nhiều cơ quan trung ương và địa phương Trên cơ sở tổngkết thực tiễn, đề tài làm rõ thực trạng công tác vận động nông dân từ 1986 gắnvới việc nghiên cứu một số vấn đề lí luận, làm rõ ưu điểm, khuyết điểm của cácchủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, cũng như thực trạng GCND

Mặt khác, nội dung của đề tài cũng tập trung làm rõ yêu cầu cơ bản củacông nghiệp hoá, hiện đại hoá đối với nông nghiệp, nông thôn, nông dân; dự báonhững xu hướng phát triển trong 10 năm tiếp theo; đề xuất, kiến nghị một số giảipháp cơ bản nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác vận động nông dântrong tình hình gồm: làm rõ trách nhiệm của các cấp uỷ đảng, chính quyền vàđoàn thể quần chúng các cấp trong việc chăm lo và nâng cao đời sống vật chất,tinh thần đối với nông dân; tăng cường tuyên truyền, giáo dục nông dân về ýthức chính trị, nâng cao dân trí; phát huy vai trò của Hội Nông dân trong công

Trang 5

tác vận động nông dân; quan tâm xây dựng cơ sở vật chất đối với nông nghiệp,nông thôn…

Các chuyên đề được quan tâm: Công nghiệp hoá nông nghiệp, nông thôn(PGS TS Nguyễn Sinh Cúc), Thực trạng tổ chức đảng ở cơ sở nông thôn,những giải pháp để lãnh đạo cuộc vận động nông dân thực hiện công nghiệphoá, hiện đại hoá đất nước (PTS Lê Văn Yên), Xoá đói giảm nghèo ở nông thônViệt Nam - thực trạng và giải pháp (PTS Đàm Văn Thọ), Công tác giáo dục –đào tạo đối với nông dân, những giải pháp để thực hiện công nghiệp hoá, hiệnđại hoá nông nghiệp, nông thôn (PGS, PTS Đặng Quốc Bảo), Những vấn đề cơbản và cấp bách cần giải quyết về nông nghiệp, nông thôn ở tỉnh Ninh Thuận(Chamalea Điêu), Một số vấn đề vận động nông dân trong thời kỳ đổi mới ở tỉnhTrà Vinh (Trần Quang Thiện), Phối hợp với chính quyền và các ngành để nângcao hiệu quả hoạt động của Hội và phong trào nông dân

d Luận văn, luận án:

1.Lê Kim Việt, Công tác vận động nông dân của Đảng trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước", Luận án tiến sĩ Lịch sử, Học viện Chính trị quốc

gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2002

2.Đặng Trí Thủ, Công tác vận động nông dân của Đảng bộ tỉnh Cà Mau

thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, Luận văn thạc sĩ chính trị học, chuyên

ngành Xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ ChíMinh, Hà Nội, 2005

3.Giang Văn Phục, Công tác vận động nông dân của Đảng bộ tỉnh Kiên Giang trong giai đoạn hiện nay, Luận văn thạc sĩ khoa học Lịch sử, Học viện

Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2000

4.Phạm Đức Hóa, Nâng cao chất lượng công tác vận động nông dân của các Đảng bộ xã ở tỉnh Thái Bình trong giai đoạn hiện nay", Luận văn thạc sĩ

khoa học Lịch sử, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2003

Các luận văn, luận án trên đã làm rõ cơ sở lý luận, quan điểm của chủ nghĩaMác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và của Đảng ta về vấn đề nông dân và công tácvận động nông dân; đánh giá đúng thực trạng nông dân và công tác vận động nôngdân Đảng bộ một số tỉnh, tìm ra một số nguyên nhân của thực trạng ấy Đồng thời,

Trang 6

đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao chất lượng công tác vận động nôngdân của Đảng bộ tỉnh thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước

Tóm lại, các công trình khoa học nêu trên đã đề cập nhiều nội dung với

các độc độ khác nhau, có những đóng góp quan trọng đối với sự lãnh đạo về xâydựng GCND của Đảng Tuy nhiên, tùy theo mục đích, yêu cầu của từng côngtrình, nên các nhà khoa học chưa có điều kiện luận bàn sâu về các vấn đề cụ thể

về Đảng lãnh đạo xây dựng GCND

Hầu hết các công trình nghiên cứu đề cập chưa trực tiếp đi sâu luận bàn

về phương thức lãnh đạo của các cấp uỷ đảng đối với GCND, chưa chỉ rõ nộidung lãnh đạo gồm những vấn đề gì? trách nhiệm của các cấp uỷ đảng trongviệc tổ chức thực hiện và kiểm tra, giám sát tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên vàchỉ đạo các cơ quan chức năng kiểm tra, giám sát chính quyền, các tổ chức chínhtrị - xã hội triển khai chủ trương của Đảng và chính sách của Nhà nước đối vớiGCND Trong đó, lãnh đạo phát huy vai trò của hội nông dân các cấp và các loạihình hợp tác xã, tổ hợp tác trong việc góp phần xây dựng GCND vững mạnhchưa được cụ thể hoá, chưa coi trọng tổng kết thực tiễn

Còn ít các công trình nghiên cứu về GCND Việt Nam trước những tháchthức mới, nhất là khi nước ta đã trở thành thành viên của Tổ chức Thương mạithế giới (WTO) Một vấn đề rất cần thiết với việc lãnh đạo xây dựng GCND làđặc điểm của GCND Việt Nam hiện nay chưa được làm rõ

Các công trình nghiên cứu còn nghiêng về nghiên cứu lý thuyết Nênviệc áp dụng các giải pháp đó đối với các cấp ủy địa phương còn khó khăn,lúng túng

Việc ban hành các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về xâydựng GCND còn có điểm chưa thực sự chú ý đến các chính sách cụ thể đối vớinông dân từng vùng, miền Chưa có được những dự báo có độ tin cậy cao về sựbiến đổi trong GCND Việt Nam để làm cơ sở để hoạch định chủ trương, chínhsách mới phù hợp với yêu cầu của sự phát triển

Qua tổng quan các công trình nghiên cứu trên đây, đề tài sẽ kế thừa cóchọn lọc kết quả nghiên cứu của các công trình nghiên cứu đó, phát triển và đưa

ra những kết luận, cung cấp những luận cứ để đánh giá đúng thực trạng GCND,

Trang 7

thực trạng sự lãnh đạo của Đảng đối với xây dựng GCND ở nước ta, chỉ rõnhững ưu, khuyết điểm và nguyên nhân; đề xuất những giải pháp cụ thể nhằmtăng cường sự lãnh đạo của Đảng về xây dựng GCND Việt Nam trong quá trìnhhội nhập nền kinh tế khu vực và toàn cầu

3.Mục tiêu của đề tài

Làm rõ cơ sở lý luận về Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo xây dựngGCND trong giai đoạn hiện nay; đánh giá đúng thực trạng Đảng lãnh đạo xâydựng GCND, chỉ ra nguyên nhân; đề xuất phương hướng và những giải phápchủ yếu để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với việc xây dựng GCND ViệtNam hiện nay

4.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài: Đề tài khảo sát, nghiên

cứu sự lãnh đạo của Đảng về xây dựng GCND Việt Nam từ năm 1986 đến nay

5 Nhiệm vụ của đề tài

- Khái quát nông nghiệp, nông thôn từ 1986 đến nay

- Phân tích vai trò, đặc điểm của GCND Việt Nam

- Trên cơ sở quan niệm, nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng vềxây dựng GCND, đánh giá thực trạng sự lãnh đạo của Đảng về xây dựng GCND

từ 1986 đến nay

- Đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm tiếp tục tăng cường sự lãnh đạocủa Đảng về xây dựng GCND Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

6 Phương pháp nghiên cứu

Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ

nghĩa duy vật lịch sử, đề tài sử dụng tổng hợp các phương pháp sau: Phươngpháp phân tích, tổng hợp, lịch sử - lôgic: Phương pháp này cho phép đi sâu phântích sự biến đổi, phát triển của GCND trong những năm vừa qua, đánh giá, nhậnxét được ưu, khuyết điểm của GCND hiện nay

+ Phương pháp điều tra, khảo sát và tổng kết thực tiễn về GCND; sự lãnhđạo xây dựng GCND của Đảng trong thời kỳ đổi mới

Trang 8

+ Phương pháp so sánh: So sánh với tính chất, quy mô, cơ cấu, bản chất

và các giải pháp xây dựng GCND của các nước, các khu vực… Từ đó rút ranhững đặc điểm chung, phổ biến và đặc thù, tìm kiếm những giá trị tham khảocho nghiên cứu tăng cường sự lãnh đạo của đảng đối với việc xây dựng GCND

ở Việt Nam

+ Phương pháp điều tra xã hội học: Điều tra thái độ của các nhóm xã hộiđối với vị trí, vai trò và sự biến đổi của GCND Kết quả điều tra là căn cứ choviệc nhận diện vị trí, vai trò, bản chất của GCND Việt Nam hiện nay, nhận xétmặt tích cực và hạn chế của một số chủ trương, chính sách hiện hành của Đảng

và Nhà nước về GCND, đề ra các giải pháp mang tính cụ thể hơn

+ Phương pháp thống kê và một số phương pháp mang tính bổ trợ khác(khoa học kinh tế, khoa học pháp lý, khoa học quản lý,…)

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

+ Về mặt lý luận, đề tài góp phần làm rõ vai trò, đặc điểm của GCND

hiện nay Đặc biệt, đề tài nghiên cứu chuyên sâu về góc độ Đảng lãnh đạo xâydựng GCND, do đó khung lý thuyết của đề tài sẽ tập trung định nghĩa và xácđịnh nội dung, phương thức Đảng lãnh đạo xây dựng GCND, cụ thể hóa nộidung, phương thức lãnh đạo vấn đề này đối với từng đối tượng: Nhà nước, HộiNông dân, các đoàn thể chính trị - xã hội, các trung tâm khuyến nông… Xácđịnh trách nhiệm cụ thể của tổ chức đảng các cấp trong lãnh đạo xây dựngGCND

Vận dụng khung lý thuyết vào khảo sát, đánh giá thực trạng Đảng lãnhđạo xây dựng GCND, đề tài sẽ bổ sung một hệ tiêu chí nhận dạng, đánh giá việcĐảng lãnh đạo xây dựng GCND

Những đề xuất về quan điểm, giải pháp đổi mới sự Đảng lãnh đạo xâydựng GCND của Đảng trong giai đoạn hiện nay

+ Về thực tiễn, kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần cung cấp thêm

cơ sở khoa học cho hoạt động thực tiễn lãnh đạo xây dựng GCND của Đảng.Khi được xã hội hóa, kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là tài liệu góp phần nângcao nhận thức, kỹ năng lãnh đạo xây dựng và vận động GCND của cán bộ, đảngviên, cấp uỷ và tổ chức đảng các cấp

Trang 9

Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là tài liệu tham khảo cho các hoạt độngnghiên cứu, giảng dạy, học tập trong hệ thống Học viện Chính trị - Hành chínhQuốc gia Hồ Chí Minh và trường chính trị các địa phương về Đảng lãnh đạo xâydựng GCND trong giai đoạn hiện nay

8 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, đề tài gồm 3chương 7 tiết

Trang 10

Chương 1 ĐẢNG LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG GIAI CẤP NÔNG DÂN – MỘT SỐ

VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Khái quát về nông nghiệp, nông thôn nước ta từ 1986 đến nay

Trải qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, nông dân nước ta luônluôn là lực lượng chủ lực xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Trong công cuộc đổimới đất nước, Đảng và Nhà nước ta đã luôn luôn coi trọng giải quyết vấn đề

nông nghiệp, nông thôn và nông dân Với chủ trương "Nông nghiệp là mặt trận hàng đầu"; "lấy nông nghiệp làm khâu đột phá", "lấy nông thôn là địa bàn trọng điểm", Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách về đổi mới nông

nghiệp, nông thôn và phát huy cao vai trò làm chủ và sức sáng tạo của nôngdân Chỉ tính riêng trong giai đoạn 2000 - 2007 đã có 34 nghị định và quyếtđịnh về chính sách đầu tư hỗ trợ cho nông nghiệp, nông dân, nông thôn đượcban hành và thực hiện Những chủ trương, chính sách đó đã nhanh chóng đivào đời sống nông dân, được nông dân rất hoan nghênh, hưởng ứng; tạo rađộng lực thúc đẩy mạnh mẽ các phong trào thi đua yêu nước trong GCND, khơidậy các tiềm năng thế mạnh của từng hộ gia đình, từng địa phương, từng vùngsinh thái; làm cho nông nghiệp, kinh tế và đời sống nông dân, nông thôn pháttriển có tính đột phá

Thực hiện đường lối đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng, nông nghiệp,nông thôn liên tục phát triển góp phần quan trọng ổn định tình hình chính trị,KT-XH, xoá đói, giảm nghèo, nâng cao đời sống của nhân dân Nghị quyếtTrung ương bảy khóa X đánh giá “Sau hơn 20 năm thực hiện đường lối đổimới, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nông nghiệp, nông dân, nông thôn nước ta đãđạt được thành tựu khá toàn diện và to lớn Nông nghiệp tiếp tục phát triển vớitốc độ khá cao theo hướng sản xuất hàng hoá, nâng cao năng suất, chất lượng

và hiệu quả; đảm bảo vững chắc an ninh lương thực quốc gia; một số mặt hàngxuất khẩu chiếm vị thế cao trên thị trường thế giới Kinh tế nông thôn chuyểndịch theo hướng tăng công nghiệp, dịch vụ, ngành nghề; các hình thức tổ chứcsản xuất tiếp tục đổi mới Kết cấu hạ tầng KT-XH được tăng cường; bộ mặtnhiều vùng nông thôn thay đổi Đời sống vật chất và tinh thần của dân cư ở hầuhết các vùng nông thôn ngày càng được cải thiện Xóa đói, giảm nghèo đạt kết

Trang 11

quả to lớn Hệ thống chính trị (HTCT) ở nông thôn được củng cố và tăngcường Dân chủ cơ sở được phát huy An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hộiđược giữ vững”1

Thành tựu về phát triển nông nghiệp, nông thôn, xoá đói, giảm nghèo làmột trong những thành tựu kinh tế nổi bật của nước ta trong thời kỳ đổi mới.Tuy vậy, hiện nay đang xuất hiện nhiều thách thức mới trong nông nghiệp, nôngthôn và nông dân, ảnh hưởng tới sự phát triển bền vững của quá trình cốngnghiệp hoá đất nước Đặc biệt, sau khi Việt Nam đã là thành viên của Tổ chứcThương mại Thế giới, tạo cơ hội, thời cơ cho sự phát triển của đất nước, songcũng là thách thức lớn đối với kinh tế nước ta nói chung, nông nghiệp, nông dân

và nông thôn nói riêng trong quá trình phát triển và hội nhập kinh tế thế giới.Điều này thể hiện khá rõ trong ba năm đầu gia nhập WTO (2006 - 2009) Để tậndụng thời cơ, vượt qua khó khăn, thách thức, cần phải xem xét, đánh giá đúngtình hình nông nghiệp, nông thôn làm cơ sở để xây dựng chiến lược phát triểnGCND đến năm 2020

1.1.1 Những thành tựu chủ yếu

Sau gần 25 năm đổi mới, việc chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế trongnông nghiệp và nông thôn theo hướng chuyển từ sản xuất tự cung tự cấp làchính sang sản xuất hàng hoá gắn với thị trường thế giới và khu vực dựa trên cơ

sở đơn vị sản xuất là kinh tế nông hộ ở khu vực nông thôn đã đạt được nhữngthành tự mới Nông nghiệp Việt Nam đã có nhiều thay đổi so với thời kỳ trướcđổi mới Từ một nền nông nghiệp độc canh, tự cung tự cấp lương thực là chủyếu, đã từng bước chuyển thành nền nông nghiệp đa canh, có tỷ suất hàng hoángày càng cao trong nền kinh tế quốc dân, gắn với thị trường trong nước và xuấtkhẩu Nông nghiệp nước ta đã bước đầu mang tính chất của một nền nôngnghiệp hàng hoá từng bước đáp ứng các yêu cầu của thị trường trong nước vớinhu cầu cao hơn và có lượng lớn nông sản, thuỷ sản xuất khẩu Những chuyểnbiến quan trọng đó thể hiện ở:

1 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008, tr 121-122.

Trang 12

Thứ nhất, nông nghiệp tiếp tục phát triển với nhịp độ khá cao theo hướng

nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả với cơ cấu ngày càng hợp lý và vàcoi trọng áp dụng thành tựu khoa học công nghệ

Cả nước đã hình thành các vùng sản xuất nông sản hàng hoá quy mô lớn,chuyên canh và thâm canh cao, như: cây chè ở miền núi phía Bắc, lúa gạo vùngđồng bằng sông Cửu Long và đồng bằng sông Hồng; cây ăn trái ở đồng bằngsông Cửu Long và Đông Nam Bộ; cây cà phê và cao su ở Tây Nguyên và ĐôngNam Bộ, thuỷ sản ở Nam Trung Bộ và đồng bằng sông Cửu Long Các vùngsản xuất hàng hoá lớn tập trung đó, đã cung cấp nông sản hàng hoá và xuất khẩutrong những năm qua và là biểu hiệu của sự hình thành phát triển nền nôngnghiệp hàng hoá lớn, khác hẳn thời kỳ trước đổi mới Trong nhiều năm liền tốc

độ tăng trưởng nông, lâm, thuỷ sản được duy trì và phát triển với giá trị gia tăng

đạt bình quân 3,71%/năm, giá trị tổng sản lượng tăng bình quân 5,24%/năm

Theo số liệu thống kê, đến năm 2008, tổng sản lượng cây có hạt đạt43,258 triệu tấn (tăng gần 10 triệu tấn so với năm 2000) Giá trị sản xuất nôngnghiệp năm 2008 theo giá so với năm 1994 là 156 6819 tỉ đồng1 Bình quânlương thực đầu người đạt 470 kg, an ninh lương thực được đảm bảo; mỗi nămnước ta xuất khẩu trên 4 triệu tấn gạo, với kim ngạch trên 1 tỉ USD, cao hơn giai

đoạn 1996 - 2000 là 13,8% về lượng và 14,4% về giá trị Về chăn nuôi: Chăn

nuôi vẫn phát triển với tốc độ khá cao 7 – 8%/năm Sản lượng thịt hơi năm 2007đạt 4,6 triệu tấn, tăng 22% so với năm 2000 Sản xuất thức ăn công nghiệp tăng

mạnh, đến nay có 241 nhà máy, tổng công suất 7,8 triệu tấn, tăng hơn 38% so

với năm 2001.Chăn nuôi công nghiệp theo mô hình gia trại, trang trại đang thaythế dần chăn nuôi nhỏ lẻ ở từng hộ gia đình Nhiều mặt hàng nông sản xuất khẩucủa Việt Nam hiện đã đứng hàng nhất, nhì thế giới, trong đó hạt tiêu thứ nhất,gạo, cà phê thứ 2, hạt điều, cao su tự nhiên thứ 3, thuỷ sản đạt kim ngạch trên3,363 tỷ USD năm 2006, nhiều loại nông sản xuất khẩu được các trường khótính như Bắc Mỹ, EU, Nhật Bản, Singapore chấp nhận Năm 2006, lượng gạothơm Việt Nam xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản đã tăng gấp hơn 2 lần năm

2005 Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản năm 2009 ước tăng 3% sovới năm 2008; trong đó, nông nghiệp tăng 2,2%, lâm nghiệp tăng 3,8%, thủy sảntăng 5,4% Tổng sản lượng lương thực có hạt ước đạt 43,33 triệu tấn, tăng 24nghìn tấn (0,1%) so với năm 2008; trong đó sản lượng lúa đạt 38,9 triệu tấn,

1 http://www gso gov vn/default aspx?tabid=430

Trang 13

vượt mức kỷ lục của năm 2008 là 0,4%; chủ yếu do tăng diện tích gần 40 nghìn

ha Diện tích rừng trồng mới tập trung, năm 2009 ước đạt 212 nghìn ha, tăng 12nghìn ha (5,9%) so với năm 20081

Ngành thuỷ sản tăng trưởng với tốc độ cao 8 - 12%/năm Năm 2008 diện

tích nuôi trồng thuỷ sản cả nước đạt 1052,6 nghìn ha, tăng 4112 nghìn ha so vớinăm 2000; bình quân mỗi năm mở thêm 74 nghìn ha Tổng sản lượng thủy sảnnăm 2009 tăng 5,3% so với năm 2008; trong đó đánh bắt tăng 6,6% và nuôitrồng tăng 4,2% Tốc độ tăng trưởng sản lượng thủy sản đánh bắt tăng nhanh sovới các năm trước do thời tiết thuận lợi và thị trường tiêu thụ khá ổn định3 Giátrị sản xuất thuỷ sản tăng nhanh, năm 2008 đạt 115 527 tỷ đồng (tăng hơn 4 lần

so với năm 2000),

Theo Tổng cục Thống kê, tổng diện tích có rừng đến 31/12/2008 là13118,8 ngàn ha, trong đó rừng tự nhiên chiếm 10348,6 ngàn ha, rừng trồng2770,2 ngàn ha4 Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng tiếp tục được quan tâm thực

hiện Bước đầu ngăn chặn được tình trạng phá rừng trái phép Chất lượng rừngđược nâng lên, tỉ lệ che phủ rừng năm 2006 đạt 38%, năm 2008 là 38,7% Cùngvới việc giao rừng, khoán bảo vệ rừng, nhiều nơi đã khai thác kinh doanh tổnghợp (du lịch sinh thái), phát triển chế biến lâm sản, tạo nhiều việc làm mới vàtăng thu nhập cho người làm rừng

Quan hệ sản xuất trong nông nghiệp đã chuyển mạnh theo hướng pháttriển kinh tế hộ và trang trại phù hợp với yêu cầu giải phóng sức sản xuất, thíchứng với cơ chế thị trường Năm 2006 cả nước có trên 113,7 nghìn trang trại hoạtđộng trong các lĩnh vực trồng trọt chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản, kinh doanhlâm nghiệp Các trang trại là đơn vị sản xuất nông sản hàng hoá lớn cung cấpcho thị trường trong nước và xuất khẩu Do đó, cơ cấu nông nghiệp đã có sựchuyển dịch theo hướng phát triển các cây trồng, vật nuôi có thị trường, có năngsuất, chất lượng và hiệu quả cao hơn Trong cơ cấu nông, lâm, thuỷ sản, giá trị

1 Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 12 và cả năm 2009, Tài liệu phục vụ họp báo Chính phủ thường kỳ ngày 05 tháng 01 năm 2010

2 http://www gso gov vn/default aspx?tabid=430

3 Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 12 và cả năm 2009, Tài liệu phục vụ họp báo Chính phủ thường kỳ ngày 05 tháng 01 năm 2010

4 http://www gso gov vn/default aspx?tabid=430

Trang 14

gia tăng ngành trồng trọt giảm từ 69% năm 2000 xuống 63% năm 2007, tươngứng giá trị gia tăng chăn nuôi, thuỷ sản tăng từ 22% lên 25% Trong trồng trọt, tỉ

lệ đóng góp của hoa màu, cây công nghiệp và cây ăn quả tăng lên

Việc áp dụng và chuyển giao khoa học công nghệ phục vụ sản xuất nông

nghiệp có tiến bộ đáng kể: Khoa học kỹ thuật phục vụ nông nghiệp đã đáp ứng

khá đầy đủ các yêu cầu của nền nông nghiệp hàng hoá gắn với xuất khẩu Côngnghệ sinh học, tưới tiêu, làm đất, phân bón, bảo quản sau thu hoạch ngày càngtiến bộ và đã góp phần tích cực vào thâm canh tăng năng suất cây trồng, vật nuôitheo yêu cầu thị trường Năng suất lúa của Việt Nam những năm gần đây đã gấp

2 lần của Thái Lan, Philippines và vượt cả Indonesia nhờ ứng dụng công nghệsinh học và phân bón Tỷ lệ đất nông nghiệp được tưới tiêu của Việt Nam caohơn nhiều so với Thái Lan và Philippines1

Trong trồng trọt và chăn nuôi: việc áp dụng giống mới và các quy trình

canh tác tiên tiến, chương trình "3 giảm, 3 tăng", IPM, GAP được đẩy mạnh.Bên cạnh đó, giống mới, thức ăn công nghiệp và phương pháp chăn nuôi kiểucông nghiệp, bán công nghiệp, an toàn sinh học được phổ biến ngày càng rộng

hơn Trong thuỷ sản, công nghệ sinh sản nhân tạo một số loài thuỷ sản có giá trị

kinh tế cao là những biểu hiện của cuộc cách mạng thực sự trong nuôi trồngthuỷ sản Công nghệ mới được áp dụng trong các nghề khai thác như đánh bắt cángừ, câu cá mực, điều chỉnh kích thước mắt lưới trong khai thác để bảo vệnguồn lợi; áp dụng công nghệ làm lạnh nước biển để bảo quản cá, tôm và cácsản phẩm khai thác sau thu hoạch

Trong lâm nghiệp, nhiều tiến bộ khoa học kỹ thuật mới, nhất là trong

tuyển chọn, tạo giống mới, nhân nhanh giống bằng công nghệ mô, hom đượcđưa vào sản xuất, góp phần cải thiện năng suất, chất lượng rừng Hiện nay,nhiều diện tích rừng kinh tế được trồng bằng giống mới Tỉ lệ rừng trồng tăng từ50% bình quân vào những năm 1990 lên trên 80%

Trong chế biến nông, lâm, thuỷ sản, ngoài việc chủ động đổi mới công

nghệ, thiết bị, đa dạng hoá sản phẩm, còn tăng cường việc kiểm tra, kiểm soát vệsinh an toàn thực phẩm tại vùng nguyên liệu và các cơ sở sơ chế, bảo đảm chất

1 http://www hids hochiminhcity gov vn/Hoithao/VNHOC/TB9/cuc pdf

Trang 15

lượng nguyên liệu và sản phẩm, đáp ứng nhu cầu thị trường trong nước và xuất

khẩu Trong thuỷ lợi, nhiều công nghệ mới được áp dụng trong xây dựng và

quản lý, như công nghệ bê tông đầm lăn, kè bản nhựa, van nhựa tổng hợp, đập

xà lan di động, đập cao su, bơm di động trên ray, công nghệ điều khiển từ xa

trong quản lý, điều hành các công trình thuỷ lợi

Cơ khí hoá nông nghiệp có bước tiến bộ: Đến năm 2007, nhiều khâu trong sản xuất nông nghiệp đạt tỉ lệ cơ giới hoá cao, như: làm đất đạt 70%, tưới

tiêu nước 85%, tuốt lúa 83,6%; xay xát lúa gạo đạt 95%; phát triển mạnh máygặt đập liên hợp phục vụ thu hoạch lúa ở đồng bằng sông Cửu Long (trong năm

2005, 2006 tăng trên 10%) Tổng công suất tàu, thuyền đánh bắt thuỷ sản năm

2006 đạt 5,8 triệu CV; công suất trung bình máy tàu tăng từ 17,5 CV/tàu (năm1990) lên 60,6 CV/tàu (năm 2006)

Năng suất và giá trị sản xuất trong nông nghiệp tăng nhanh: Do được

ứng dụng khoa học kỹ thuật và công nghệ mới, trực tiếp là giống cây trồng, vậtnuôi, nên hầu hết các cây trồng, vật nuôi đều đạt năng suất và chất lượng caohơn các năm trước Giá trị sản xuất trên một đơn vị diện tích canh tác ngày càngtăng Nếu năm 2002 giá trị sản xuất theo giá thực tế đạt trên 17 triệu đồng/ha,năm 2007 đạt 29,2 triệu đồng/ha/năm (tăng gần gấp đôi); vùng đồng bằng sôngHồng đạt mức cao nhất (38,5 triệu đồng/ha, tăng 35%), thấp nhất là vùng TâyBắc (đạt 10,6 triệu đồng/ha, tăng 19% so với năm 2002) Xuất hiện nhiều cánhđồng đạt 50 triệu đồng/ha/năm, một số huyện đạt trên 50 triệu đồng Ví dụ trồng

cà rốt ở một số huyện của tỉnh Bắc Ninh trên 100 triệu/ha; một số tỉnh đạt bìnhquân trên 40 triệu đồng/ha như Hải Dương, An Giang

Tỉ suất hàng hoá và xuất khẩu tăng nhanh: Sự chuyển dịch cơ cấu nông

nghiệp đã làm tăng nhanh tỉ trọng sản phẩm hàng hoá (gạo 20%, cà phê 95%,cao su 85%, chè 75%, hạt điều 90%, hồ tiêu 98%) Giá trị xuất khẩu các loạinông, lâm sản tăng nhanh, bình quân 16,85%/năm, một số có vị thế quan trọngtrên thị trường thế giới như: gạo, cao su, cà phê, hồ tiêu, hạt điều, sản phẩm đồ

gỗ, thuỷ sản Riêng năm 2007, tổng kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thuỷ sảnđạt 12,5 tỉ USD Đến nay đã có 5 mặt hàng xuất khẩu đạt mức trên 1 tỉUSD/năm là thuỷ sản, cà phê, gạo, cao su, đồ gỗ

Trang 16

Thị trường xuất khẩu mở rộng, tốc độ tăng trưởng xuất khẩu nông sảntăng cao cả về lượng và giá Theo các cam kết của WTO về mở cửa thị trường,xuất khẩu nông sản theo hướng tăng chất lượng, đảm bảo an toàn thực phẩm điđôi với xoá dần sự bảo hộ của Nhà nước về xuất khẩu các mặt hàng này đã đượcthực hiện khá tốt trên phạm vi toàn ngành từ sản xuất đến chế biến và tiêu thụnông sản Nhiều mặt hàng nông sản xuất khẩu, đã đứng vững trên thị trường cũđồng thời mở rộng vào các thị trường mới để góp phần giải quyết đầu ra chonông sản hàng hoá bằng đẩy mạnh xuất khẩu Các mặt hàng nông sản xuất khẩuchủ lực không chỉ giữ vững vị trí hàng nhất, nhì thế giới về số lượng mà bướcđầu vươn tới cả chất lượng, giá cả và vệ sinh an toàn thực phẩm

Thứ hai, hình thức tổ chức sản xuất ở nông nghiệp, nông thôn được đổi mới,

từng bước thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động trong nông thôn

Về tổ chức sản xuất: Kinh tế hộ tiếp tục phát triển theo hướng mở rộng quy mô sản xuất Đến năm 2006 cả nước có 10,46 triệu hộ nông, lâm nghiệp và

thuỷ sản (giảm 766 nghìn hộ, giảm 6,8% so với năm 2001) Về quy mô sử dụngđất, bình quân một hộ nông nghiệp sử dụng 0,63 ha đất sản xuất nông nghiệp(tăng 12% so với năm 2001); 1 hộ thuỷ sản sử dụng 0,66 ha đất nuôi trồng thuỷsản (tăng 16% so với năm 2001) Thực hiện "dồn điền đổi thửa", số thửa bìnhquân/hộ giảm, nhiều nơi giảm còn 4 - 5 thửa Nhiều hộ có kinh nghiệm và sảnxuất nông nghiệp có lãi đã thuê, mượn thêm đất sản xuất Năm 2007 có 19% hộthuê, mượn đất so với 3,6% năm 2004

Kinh tế trang trại phát triển theo hướng đa dạng và hiệu quả hơn: Đếncuối năm 2008 cả nước có 120699 trang trại so với 57069 năm 20001; trong đó,đồng bằng sông Cửu Long chiếm 50%; hai vùng Tây Nguyên và Đông Nam Bộ

chiếm 20,4% số trang trại cả nước Xu hướng từ năm 2001 đến nay tăng mạnh

trang trại chăn nuôi, thuỷ sản và sản xuất kinh doanh tổng hợp Quy mô trangtrại ngày càng mở rộng, góp phần tích cực vào chuyển đổi cơ cấu sản xuất; là

mô hình sản xuất hàng hoá có hiệu quả, góp phần tạo việc làm và tăng thu nhậpcho lao động nông thôn

Kinh tế hợp tác có chuyển biến tích cực: Về tổ hợp tác, cả nước hiện có

837 500 tổ hợp tác, đáp ứng một phần nhu cầu dịch vụ sản xuất và tiêu thụ sảnphẩm cho nông dân Nhiều tổ hợp tác mới được thành lập ở các vùng, nhất là

1 http://www gso gov vn/default aspx?tabid=430

Trang 17

vùng đồng bằng sông Cửu Long Một số tổ hợp tác đã huy động được vốn củacác thành viên tham gia xây dựng hạ tầng (nhất là thuỷ lợi), mua sắm máy móc,

thiết bị làm dịch vụ sản xuất cho hộ thành viên và nông dân trong vùng Hợp tác

xã nông nghiệp, đã cơ bản chuyển đổi các hợp tác xã có trước đây và phát triển

một số hợp tác xã mới theo Luật Hợp tác xã Thống kê năm 2008, cả nước 7592

hợp tác xã nông, lâm, ngư nghiệp Các hợp tác xã nông nghiệp đã chú trọng đa

dạng hoá các hoạt động dịch vụ cho kinh tế hộ và phát triển một số loại hìnhkinh doanh Hiệu quả sản xuất kinh doanh của nhiều hợp tác xã đã có tiến bộ rõnét so với năm 2000 Năm 2005 có 88,77% số hợp tác xã nông nghiệp hoạt động

có lãi (năm 2000 là 66,6%) Lợi nhuận thuần từ hoạt động dịch vụ sản xuất bình

quân 1 hợp tác xã nông nghiệp đạt 41,4 triệu đồng, tăng 39,4% so với năm 2000

Những kết quả nêu trên, là kết quả của việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế,lao động trong nông nghiệp theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 5 khoá IX vềđẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn Năm 2007trong cơ cấu kinh tế chung của cả nước, công nghiệp và dịch vụ chiếm gần 80%,riêng ở khu vực nông thôn chiếm khoảng 60% Ở nhiều địa phương thuần nôngtrước đây, cơ cấu kinh tế đã có sự chuyển dịch khá nhanh theo hướng côngnghiệp hoá, tỉ trọng khu vực công nghiệp, dịch vụ trong GDP ngày càng tăng Tỉtrọng giá trị sản xuất công nghiệp khu vực nông thôn tăng từ 17,34% năm 2001lên 19,3% năm 2007 Số lượng các cơ sở sản xuất công nghiệp nông thôn tăng

từ 4.574 cơ sở năm 2001 lên 11.238 cơ sở năm 2005 (tăng gấp 2,5 lần) Đã hìnhthành và phát triển nhiều khu công nghiệp, cụm công nghiệp, dịch vụ, cụm côngnghiệp, làng nghề ở nông thôn

Chuyển dịch cơ cấu hộ nông thôn thời kỳ 2001 - 2006 nhanh và rõ hơn so với trước Tỉ lệ hộ nông, lâm nghiệp, thuỷ sản giảm 9,87%, tỉ lệ hộ công nghiệp và

dịch vụ tăng lên 8,78%; trong đó, đồng bằng sông Hồng chuyển dịch nhanh nhất,tiếp đó là vùng Đông Nam Bộ Năm 2007, số hộ công nghiệp và dịch vụ trên địabàn nông thôn có 3,46 triệu hộ, tăng 62% so với năm 2000 Tổng lao động đanglàm việc ở khu vực nông thôn hiện chiếm 75% lao động cả nước, trong đó số đanglàm việc trong các ngành nông, lâm, ngư, diêm nghiệp và thuỷ sản là 25,3 triệungười, chiếm 55,7% tổng lao động xã hội; hàng năm số lao động chuyển sang làmcác ngành nghề phi nông nghiệp khoảng 22 - 25 vạn lao động

Trang 18

Thứ ba, kết cấu hạ tầng KT-XH nông thôn được tăng cường

Về thuỷ lợi: đã xây dựng được nhiều hồ chứa kết hợp thuỷ điện, nhất là

vùng miền Trung và Tây Nguyên Trong giai đoạn 2001 - 2005, năng lực tưới đãtăng thêm 575 ngàn ha, năng lực tiêu tăng thêm 235 ngàn ha Đã kiên cố hoátrên 15 000 km kênh mương Thanh Hoá, Nghệ An, Tuyên Quang, Sơn La… lànhững địa phương thực hiện tốt chương trình kiên cố hoá kênh mương theophương châm: “Trung ương, địa phương; nhà nước và nhân dân cùng làm”

Năng lực quản lý vận hành hệ thống thuỷ lợi được củng cố và tăng cường Hệ

thống thuỷ lợi cả nước được vận hành do 100 công ty thuỷ nông với tổng số22.569 cán bộ, công nhân viên và 12.000 hợp tác xã, tổ hợp tác Vùng ven biển

đã tăng cường xây dựng hệ thống các cống đập ngăn mặn, giữ ngọt, nhiều côngtrình đã đưa vào sử dụng và phát huy tác dụng Vùng đồng bằng sông Cửu Longtập trung thực hiện chương trình kiểm soát lũ, phát triển thuỷ lợi, giao thông vàdân cư Bước đầu thực hiện các công trình thuỷ lợi ven biển phục vụ nuôi trồngthuỷ sản, gắn ngọt hoá với việc nuôi trồng thuỷ sản nước mặn, nước lợ và tậndụng, khai thác thuỷ sản mùa lũ Về hệ thống đê, từ năm 2000 đến nay đã tậptrung thực hiện tu bổ, củng cố đê biển, đê sông từ cấp III trở lên; cứng hoá mặt

đê kết hợp giao thông và phòng chống lũ; trồng tre chắn sóng bảo vệ đê

Về giao thông nông thôn: Với phương châm "Nhà nước và nhân dân cùng

làm", giao thông nông thôn có bước phát triển cả về số lượng và chất lượng.Ngoài việc phát triển hệ thống đường giao thông nông thôn, các địa phương đãtích cực huy động các nguồn lực tham gia xây dựng các cống qua đường, nângcấp và xã hội hoá hệ thống đường nội bộ xã, liên thôn, xoá cầu khỉ ở đồng bằngsông Cửu Long Đến năm 2007 cả nước có 8790 xã có đường ô tô đến được trụ

sở UBND xã, chiếm 96,9% tổng số xã (năm 1994 là 87,9% và năm 2001 là94,2%); trong đó, có 8488 xã (chiếm 96,6%) có đường ô tô đi lại được quanhnăm, và có 6356 xã (chiếm 70%)… góp phần thu hút các nhà đầu tư về nôngthôn, tạo công ăn việc làm, xoá đói, giảm nghèo và giải quyết nhiều vấn đề kinh

tế, xã hội khác

Điện nông thôn: Đến cuối năm 2006, mạng lưới quốc gia đã cấp điện cho

525/536 huyện, đạt 97,95%; 10 522 xã, phường đạt 96,8% và 93,34% số hộ,

Trang 19

trong đó hầu hết các xã có giá điện lưới thấp hơn 700 đồng/kwh Năm 2007 cótới 98,9% số xã, 92,4% số thôn có điện (trong đó 87,8% số thôn có điện lướiquốc gia) và tỷ lệ hộ nông thôn sử dụng điện đó lên tới 94,2%1

Nhà ở nông thôn: Cùng với kinh tế phát triển, những năm qua nhà ở nông

thôn đã được đầu tư xây dựng mới một cách nhanh chóng Đến nay, đã có 16%

hộ có nhà kiên cố, 57,6% nhà bán kiên cố; nhiều xã, thôn ở nông thôn vùngđồng bằng Bắc Bộ, vùng miền Trung đã cơ bản hoàn thành việc "xoá" nhà tranh

tre, nứa lá; vùng đồng bằng sông Cừu Long cơ bản hoàn thành việc "xoá" nhà

tạm, nhà dột nát nhiều huyện, xã ở miền Bắc và miền Trung đã cơ bản "ngóihoá" nhà ở Riêng vùng đồng bằng sông Cửu Long đến nay đã xây dựng trên1.100 cụm, tuyến dân cư, bố trí được 108 ngàn hộ dân có nơi cư trú an toàntrong mùa lũ

Trường học, lớp học: Hệ thống trường học các cấp ở nông thôn tiếp tục được

mở rộng và phát triển, đến năm 2007 có 88,3% số xã có trường mẫu giáo/mầmnon, 99,3% số xã có trường tiểu học, 90,8% số xã có trường trung học cơ sở (năm

1994 là 76,6%, năm 2001 là 84,4%), 10,8% số xã có trường trung học phổ thông(năm 1994 là 7%, năm 2001 là 8,5%) Điểm tiến bộ về giáo dục tiểu học là sốtrường bình quân 1 xã 1,44 trường Việc mở thêm các điểm trường ở các thôn, đãtạo điều kiện thuận lợi để học sinh không phải đi học xa, giảm được tình trạng họcsinh bỏ học Các cơ sở nhà trẻ, mẫu giáo phát triển, mở rộng đến cấp thôn, đến nay

có 54,5% số thôn có lớp mẫu giáo, 16,1% số thôn có nhà trẻ2

Trạm y tế: Đến năm 2007, có 9013 xã có trạm y tế, chiếm 99,3% tổng số

xã và tăng 128 xã so với năm 2001.Bình quân 1 trạm y tế xã có 0,63 bác sỹ và 1vạn dân có 1 bác sỹ (năm 2001 các con số tương ứng là 0,51 và 0,8) Khu vựcnông thôn có 3964 trạm y tế xã, chiếm 44%, đó được xây dựng kiên cố3

Văn hoá, thể thao: Việc phát triển cơ sở hạ tầng văn hoá, thể thao đã được

quan tâm hơn Tới năm 2006, đã có 30,6% số xã có nhà văn hoá; 9,7% xã có thưviện; 43,8% thôn có nhà sinh hoạt cộng đồng và 57,6% xã có trụ sở kiên cố

1 http://www hids hochiminhcity gov vn/Hoithao/VNHOC/TB9/cuc pdf

2 ? http://www hids hochiminhcity gov vn/Hoithao/VNHOC/TB9/cuc pdf

3 http://www hids hochiminhcity gov vn/Hoithao/VNHOC/TB9/cuc pdf

Trang 20

Đồng thời 85,5% xã có điểm bưu điện văn hoá Nhiều xã đã bố trí đất làm sânvận động, nơi luyện tập thể thao cho thanh thiếu niên

Thông tin liên lạc: Ngành Bưu chính - Viễn thông đã phát triển được hơn

11.000 điểm phục vụ thông tin liên lạc; trong đó có 2.390 bưu cục đảm bảo 91%

xã được chuyển phát báo chí đến trong ngày Đến năm 2007, khu vực nông thôn

có 7757 xã, chiếm 85,5% số xã có điểm bưu điện văn hoá (năm 2001 là 71,9%)

Tỷ lệ xã có điểm bưu điện văn hoá được nối mạng internet đạt 20,7% Ngoài rakhu vực nông thôn còn có 2022 xã, chiếm 22,3%, có trạm bưu điện xã Cả hailoại hình điểm bưu điện văn hoá xã và trạm bưu điện xã về cơ bản đã đáp ứngđược nhu cầu thông tin liên lạc ở khu vực nông thôn Những năm gần đây trênđịa bàn xã phát triển nhanh các điểm dịch vụ internet tư nhân phục vụ nhu cầutruy cập thông tin của nhân dân, đến năm 2007 đó có 2952 xã (chiếm 32,5%),với 7752 điểm internet tư nhân, bình quân 1 xã có 0,85 điểm Số hộ có máy điệnthoại (cố định/di động) là 2,924 triệu hộ, chiếm 21,2% số hộ, tăng 15,9% so năm2001; bình quân cứ 4,7 hộ thì có 1 hộ có máy điện thoại

Nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn: Đến năm 2007 có 70% dân

cư nông thôn có nước sinh hoạt hợp vệ sinh (trong đó khoảng 30% người dânđược dùng nước đạt tiêu chuẩn 09 của Bộ Y tế); 12% số xã có hệ thống thoátnước thải chung; 28% xã có tổ chức thu gom rác thải và 51% người dân nôngthôn sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh

Thứ tư, về thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở

Đến năm 2007, có 100% xã, thị trấn; 97% cơ quan hành chính và 88%doanh nghiệp nhà nước đã triển khai và thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở theotinh thần các nghị quyết của Trung ương Chủ trương "dân biết, dân bàn, dânlàm, dân kiểm tra" được tổ chức khá đa dạng, với nhiều hình thức phong phú,công khai, minh bạch ở nông thôn, trong đó tập trung trên một số mặt như: côngtác quy hoạch, giải phóng mặt bằng, xây dựng cơ sở hạ tầng; chuyển dịch cơ cấusản xuất; huy động sự đóng góp của người dân; hỗ trợ nhân dân khi bị lũ lụt bão,tai nạn; phát triển văn hoá, tinh thần của người dân ở nông thôn Do đó, đãbước đầu phát huy sức sáng tạo, động viên sức mạnh vật chất và tinh thần củanhân dân trong phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn, từng bước cải thiệnđời sống, nâng cao dân trí, ổn định chính trị, tăng cường đoàn kết, xây dựngđảng bộ, chính quyền và các đoàn thể ở cơ sở trong sạch, vững mạnh; ngăn chặn

Trang 21

và khắc phục tình trạng suy thoái, quan liêu, tham nhũng của một bộ phận cán

bộ, đảng viên và các tệ nạn xã hội

Việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở ngày càng đi vào chất lượng, gópphần quan trọng làm chuyển biến phương thức lãnh đạo, công tác điều hành,quản1ý và lề lối làm việc của các cấp uỷ đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc

và các đoàn thể nhân dân; nâng cao thêm tinh thần trách nhiệm của cán bộ, đảngviên, công chức trên địa bàn; tạo dựng bầu không khí dân chủ, cởi mở và tăngcường sự đồng thuận trong xã hội

Thứ năm, về an ninh, trật tự ở nông thôn: Mặc dù tình hình chính trị trên

thế giới và khu vực có những diễn biến phức tạp; kinh tế nông nghiệp, nôngthôn còn những khó khăn, xã hội có những bức xúc, nhưng nhìn chung tình hình

an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn nông thôn vẫn được giữvững Nông dân tham gia tích cực trong việc vừa đẩy mạnh phát triển kinh tế,vừa phối hợp với các lực lượng làm nhiệm vụ bảo vệ trật tự an ninh trên địa bàn,ngăn chặn và đấu tranh có hiệu quả các hành động phá hoại sản xuất, giữ gìnvững chắc chủ quyền an ninh quốc gia, nhất là khu vực biên giới, hải đảo và trêncác vùng biển

Người dân nông thôn vẫn giữ được truyền thống lao động cần cù, sángtạo, sẵn sàng chia sẻ, giúp đỡ người khó khăn và đóng góp cho đất nước Tìnhđoàn kết giữa các dân tộc, các tôn giáo và các vùng, miền tiếp tục được bảo vệ

và phát triển

Thứ sáu, đời sống vật chất, tinh thần của người dân ở hầu hết các vùng

nông thôn ngày càng được cải thiện; xoá đói, giảm nghèo đạt thành tựu lớn

Do sản xuất phát triển, thu nhập tăng, đời sống nông dân ở đa số cácvùng được cải thiện rõ rệt Từ năm 1996 đến nay, thu nhập bình quân đầu người

ở nông thôn tăng lên hơn 2,7 lần (năm 2006, bình quân đạt 6,1 triệu đồng/người,theo giá hiện hành); thu nhập bình quân 1 hộ nông thôn đạt 26,1 triệu đồng, tăng11,3 triệu đồng (tăng 75,8% so với năm 2002) Nhờ thu nhập của hộ nông dântăng, nên vốn tích luỹ trong dân tăng khá; năm 2006 vốn tích luỹ bình quân 1 hộnông thôn là 6,7 triệu đồng (tăng 3,5 triệu đồng, gấp 2,1 lần so với năm 2001)

Nông nghiệp vẫn là nguồn thu lớn nhất của hộ gia đình ở nông thôn; năm

2006 có đến 68% hộ ở nông thôn dựa chủ yếu vào sản xuất nông, lâm, thuỷ sản,

Trang 22

tiếp đến là các hộ làm dịch vụ và công nghiệp, xây dựng, tương ứng là 15% và

11% Nhờ thu nhập của người dân tăng nên điều kiện sinh hoạt của hộ nôngthôn ngày càng được cải thiện, nhất là về nhà ở, mua sắm vật dụng lâu bền,phương tiện đi lại và các vật dụng đắt tiền

Chiến lược xoá đói, giảm nghèo được thực hiện từ những năm 2000,thông qua nhiều chính sách và các chương trình cụ thể Đến nay, về cơ bản,

nước ta đã xoá được đói Công tác giảm nghèo được tập trung đẩy mạnh, hướng

vào các đối tượng khó khăn, vùng sâu, vùng xa, đồng bào dân tộc thiểu số Tỉ lệ

hộ nghèo ở khu vực nông thôn giảm nhanh, từ 66,4% năm 1993, 45,5% năm

1998, 35,6% năm 2002, 27,5% năm 2004 xuống còn 18% năm 2007, mặc dùchuẩn nghèo đã tăng lên Xoá đói, giảm nghèo nhanh là thành tựu lớn của nước

ta được cộng đồng quốc tế đánh giá cao Do đa số người nghèo sống ở nôngthôn nên phát triển nông nghiệp có giai đoạn đã đóng góp tới 80% thu nhập tăngthêm giúp các hộ thoát nghèo

Thực hiện chủ trương xã hội hoá, cùng với việc mở mang mạng lưới y tếcông, hệ thống khám, chữa bệnh tư nhân được hình thành và phát triển, gópphần quan trọng vào chăm sóc sức khoẻ cộng đồng Hầu hết các xã có sổ khámbệnh cho người nghèo, nhiều bệnh dịch được phát hiện và khống chế kịp thời.Năm 2006, tỉ lệ người được khám, chữa bệnh là 38,1% (cao gấp 2,07 lần năm2002); có 51,6% cư dân nông thôn có bảo hiểm y tế

Nhà nước đã chú trọng đầu tư nâng cấp hệ thống trường học các cấp ở

nông thôn và đã đạt được những kết quả đáng khích lệ Số người 10 tuổi trở lên

biết chữ tăng từ 90,9% năm 2002 lên 92% năm 2006 Từ năm 2007 Nhà nước đã

có chính sách cho con em các hộ nghèo, hộ chính sách được miễn giảm học phí,được vay vốn với lãi suất ưu đãi để học tập Các hoạt động văn hoá, văn nghệ,thông tin, thể dục, thể thao được tăng cường, nâng cao mức hưởng thụ về vănhoá cho nhân dân

Phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá" khơi dậy tinhthần đoàn kết ở cộng đồng dân cư, bước đầu đã có tác động hiệu quả đến xâydựng đời sống văn hoá ở vùng nông thôn Gia đình văn hoá, làng văn hoá đượccông nhận đảm bảo chất lượng đã có tác động tích cực đến việc xây dựng nôngdân về tư tưởng, đạo đức, lối sống, nếp sống; tạo ra bộ mặt nông thôn mới, ổnđịnh về chính trị, từng bước phát triển về kinh tế - văn hoá - xã hội Nhiều hình

Trang 23

thức văn hoá dân gian truyền thống được duy trì, phục dựng, góp phần bảo tồn

và phát huy văn hoá truyền thống của các dân tộc ở cộng đồng nông thôn, miềnnúi, vùng đồng bào dân tộc Đến năm 2006, đã có trên 70% khu dân cư thựchiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội

1.1.2 Những khuyết điểm, yếu kém

Bên cạnh những thành tựu nêu trên, nông nghiệp, nông thôn, nông dânvẫn còn những yếu kém, khuyết điểm Nghị quyết Trung ương bảy khóa Xkhẳng định: “những thành tựu đạt được chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế

và chưa đồng đều giữa các vùng Nông nghiệp phát triển còn kém bền vững, tốc

độ tăng trưởng có xu hướng giảm dần, sức cạnh tranh thấp, chưa phát huy tốtnguồn lực cho phát triển sản xuất; nghiên cứu, chuyển giao khoa học - côngnghệ và đào tạo nguồn nhân lực còn hạn chế Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế vàđổi mới cách thức sản xuất trong nông nghiệp còn chậm, phổ biến vẫn là sảnxuất nhỏ, phân tán; năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng nhiều mặt hàng thấp.Công nghiệp, dịch vụ và ngành nghề phát triển chậm, chưa thúc đẩy mạnh mẽchuyển dịch cơ cấu kinh tế và lao động ở nông thôn Các hình thức tổ chức sảnxuất chậm đổi mới, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển mạnh sản xuất hàng hoá.Nông nghiệp và nông thôn phát triển thiếu quy hoạch, kết cấu hạ tầng KT-XHcòn yếu kém, môi trường ngày càng ô nhiễm; năng lực thích ứng, đối phó vớithiên tai còn nhiều hạn chế Đời sống vật chất và tinh thần của người dân nôngthôn còn thấp, tỉ lệ hộ nghèo cao, nhất là vùng đồng bào dân tộc, vùng sâu, vùngxa; chênh lệch giàu, nghèo giữa nông thôn và thành thị, giữa các vùng còn lớn,phát sinh nhiều vấn đề xã hội bức xúc”1 Cụ thể:

Thứ nhất, nông nghiệp phát triển kém bền vững, tốc độ tăng trưởng có xu

hướng giảm dần, sức cạnh tranh thấp, chưa phát huy tốt các tiềm năng và nguồnlực, chuyển dịch cơ cấu và đổi mới cách thức sản xuất còn chậm, phổ biến vẫn

là sản xuất nhỏ, phân tán; năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng nhiều loại nôngsản thấp

Tốc độ tăng giá trị gia tăng bình quân nông, lâm, thuỷ sản giảm từ 4,42%

(giai đoạn 1996 - 2000), 3,83% (giai đoạn 2001 - 2005) xuống còn 3,55% vào

các năm 2006, 2007; tương ứng tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất giảm từ

1 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008, tr 122-123.

Trang 24

7,87%, 5,44% xuống còn 4,78% Nguyên nhân chính của tình trạng trên là docác nguồn lực chính để phát triển nông nghiệp bị suy giảm, bao gồm đất đai, laođộng và đầu tư, trong khi khoa học công nghệ chậm phát huy tác dụng cao đểtăng năng suất lao động; thiên tai, dịch bệnh xảy ra nhiều và gây ảnh hưởngnghiêm trọng tới sản xuất

Cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm, trong nông nghiệp, ngành trồng trọtvẫn chiếm tỉ trọng lớn (chiếm trên 57% giá trị sản lượng); tỉ trọng của lâmnghiệp còn rất thấp, kể cả ở các vùng trung du, miền núi; chăn nuôi, thuỷ sảnphát triển kém ổn định Giá trị thu được trên đơn vị diện tích canh tác bình quânmới đạt 29,2 triệu đồng/ha, trong đó thấp nhất là vùng Tây Bắc chỉ đạt 10,9 triệuđồng/ha

Cách thức sản xuất trong nhiều lĩnh vực nông - lâm - ngư nghiệp chậmđược đổi mới theo hướng hiện đại, phổ biến tình trạng sản xuất nhỏ, phân tán,nổi bật nhất là trong sản xuất rau, quả, chăn nuôi, đánh bắt và nuôi trồng thuỷsản Việc xây dựng các vùng nguyên liệu lớn, tập trung cho chế biến côngnghiệp tiến hành chậm Mô hình chăn nuôi công nghiệp phát triển chưa mạnh

Do cách thức sản xuất lạc hậu, hệ thống phòng chống còn yếu, giao lưu kinh tếgia tăng nên trong những năm gần đây dịch bệnh xảy ra liên tiếp, đe doạ nghiêmtrọng sự phát triển nông nghiệp (năm 2003 - 2004 và năm 2007, dịch cúm giacầm đã gây thiệt hại cho nền kinh tế khoảng 0,5% GDP; năm 2006, dịch rầy nâu

và bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá làm mất đi gần 1 triệu tấn lúa ở đồng bằng sôngCửu Long )

Việc ứng dụng khoa học, công nghệ tuy đã có bước tiến bộ, nhưng đa sốnăng suất cây trồng, vật nuôi còn thấp, chậm được cải thiện về chất lượng nênkhó cạnh tranh với các sản phẩm cùng loại của các nước Ở miền Bắc 85%giống lúa có nguồn gốc từ Trung Quốc Nhiều loại cây ăn quả của nước ta thuakém về chất lượng so với Thái Lan Phần lớn nông sản xuất khẩu ở dạng sơ

chế, sản phẩm có giá trị gia tăng rất thấp; chưa có thương hiệu, mẫu mã, bao bì

chưa phù hợp Chỉ số cạnh tranh của các ngành hàng nông, lâm, thuỷ sản chỉ ởmức trung bình hoặc dưới trung bình của thế giới (hồ tiêu 68,7; cao su 58,5; điều

51,9; chè 47,4; rau quả 47,1; lâm sản 44,6; cà phê 43,4; lương thực 42,9; chăn

nuôi 40)

Trang 25

Mặt khác, vệ sinh an toàn thực phẩm chưa được kiểm tra, kiểm soát chặtchẽ, nạn bơm chích tạp chất vào nguyên liệu thuỷ sản chưa được ngăn chặn cóhiệu quả; việc thực hiện các biện pháp để bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm ởnhiều địa phương chưa tốt, đang gây bức xúc cho người tiêu dùng và là tháchthức lớn trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế

Thứ hai, công nghiệp, dịch vụ nông thôn phát triển chậm, thiếu quy

hoạch, quy mô nhỏ, chưa thúc đẩy mạnh mẽ chuyển dịch cơ cấu kinh tế và laođộng ở nông thôn

Nhìn chung các nhà máy, doanh nghiệp công nghiệp mới tập trung ở ven

đô thị lớn và các thị xã, thị trấn, sự phát triển của các doanh nghiệp trên địa bànnông thôn còn ít và chủ yếu là quy mô nhỏ (trên 70% có vốn dưới 5 tỉ đồng), sốdoanh nghiệp tham gia chế biến nông, lâm, thuỷ sản còn ít Nhiều doanh nghiệp

áp dụng công nghệ mới, hiện đại vào sản xuất nhưng việc đào tạo lao động có

tay nghề còn quá ít nên việc thu hút lao động vốn là nông dân vào làm việc rất

hạn chế (chủ yếu là nông dân bị thu hồi đất sản xuất có độ tuổi dưới 35 tuổi)

Nhiều khu công nghiệp xây dựng ở những vùng nông thôn đã lấy đấtnông nghiệp, làm phá vỡ hệ thống thuỷ lợi, gây ô nhiễm nguồn nước và đất ởcác khu vực nông nghiệp lân cận, nhưng chỉ có số ít nhà máy phục vụ trực tiếpsản xuất nông nghiệp trong vùng, đóng góp cho ngân sách của xã, huyện, thu hútlao động sở tại Trong khi đó phần lớn phân bón, máy móc nông nghiệp, thuốc

thú y bảo vệ thực vật lại không sản xuất mà vẫn phải nhập khẩu (năm 2007 nhập

khẩu khoảng 5,5 tỉ USD)

Tỉ trọng nông nghiệp trong cơ cấu kinh tế nông thôn còn chiếm hơn 40%

so với 20% cơ cấu kinh tế chung của cả nước Nhiều vùng chủ yếu vẫn là sảnxuất nông nghiệp Cơ cấu lao động ở nông thôn chuyền dịch còn khá chậm

Trong giai đoạn 2001 - 2006, tỉ lệ lao động nông nghiệp giảm được 10,4% (bình quân 1 năm mới chuyển được gần 2%), lao động trong nông nghiệp đến năm

2006 vẫn chiếm 55,7% trong tổng số lao động của cả nước Chuyển dịch cơ cấulao động của cả hai nhóm hộ công nghiệp, xây dựng và dịch vụ cũng khôngđồng đều giữa các vùng

Do đất đai bình quân thấp, manh mún, lại chưa tạo được nhiều việc làmtại chỗ trong nông thôn nên năng suất lao động và thu nhập của nông dân còn

Trang 26

khá thấp, tăng chậm (4,8%/năm) So với các nước trong khu vực và trên thế giớithì năng suất lao động nông nghiệp nước ta còn thấp, chưa bằng 1/2 của TháiLan, Inđônêxia và Philippin

Thứ ba, các hình thức tổ chức sản xuất đổi mới chậm, chưa đủ sức phát

triển mạnh sản xuất hàng hoá ở nông thôn

Mặc dù Đảng và Nhà nước đã đưa ra nhiều chủ trương và chính sách đểthúc đẩy phát triển quan hệ sản xuất ở nông thôn, nhưng quá trình này vẫn diễn

ra rất chậm

Kinh tế hộ nhỏ vẫn chiếm vai trò chủ đạo trong nông nghiệp nước ta Tớinăm 2007, mặc dù đã bắt đầu giảm xuống, cả nước vẫn có tới 10,46 triệu hộnông, lâm nghiệp và thuỷ sản Mặc dù sản xuất hàng hoá trong nông nghiệp đãtăng lên nhanh, nhưng đa số nông hộ sản xuất quy mô nhỏ, 73% hộ có dưới 0,5

ha đất nông nghiệp Các hộ này chủ yếu sản xuất tự cung, tự cấp, số nông sản

hàng hoá bán ra rất ít Hơn nữa ruộng đất lại manh mún nên hiệu quả canh tác không cao Đồng thời, gần 60% hộ lâm nghiệp có dưới 3 ha; 51,3% hộ thuỷ sản

có dưới 1 ha mặt nước; đa số gia súc, gia cầm chăn nuôi ở các hộ nên rất kém antoàn dịch bệnh (năm 2006 vẫn có tới 56% hộ nuôi dưới 3 con lợn/hộ)

Trang trại là hình thức sản xuất kinh tế hàng hoá có hiệu quả lớn hơntrong điều kiện hiện nay nhưng chưa được hỗ trợ thiết thực để phát triển (về đấtđai, hạ tầng, xử lý dịch bệnh, đào tạo kiến thức ) Các chủ trang trại, gia trạichủ yếu tự mò mẫm sản xuất Kinh tế trang trại mới chỉ chiếm hơn 1% tổng số

hộ nông, lâm, ngư nghiệp của cả nước, quy mô nhỏ bé

Trong khi đó, kinh tế tập thể, chủ yếu là các hợp tác xã, tổ hợp tác cònthiếu động lực và chưa có môi trường tốt để phát triển Do vốn ít, hoạt động

kinh doanh của nhiều hợp tác xã chỉ bảo đảm nguyên tắc "thu đủ bù chi" Nhiều

hợp tác xã mang tính hình thức, trên 54% số hợp tác xã hoạt động ở mức trungbình và yếu Các mô hình kinh tế tập thể mới còn ít sức thuyết phục đối vớinông dân Tổ hợp tác còn ít được quan tâm trong các chính sách, thiếu chặt chẽtrong tổ chức nên gặp nhiều khó khăn trong các giao dịch kinh tế

Đa số các doanh nghiệp nhà nước có quy mô nhỏ nên năng lực hoạt độngthấp Hoạt động của nhiều doanh nghiệp kém hiệu quả, 27% làm ăn thua lỗ Cácnông, lâm trường chưa có chuyến biến đáng kể Hiện cả nước có 355 lâm trường

Trang 27

quốc doanh, quản lý 4,085 triệu ha đất với 20,3 nghìn lao động; 342 nông trườngquốc doanh quản lý 526,5 nghìn ha, trong đó có 368,86 nghìn ha đất nôngnghiệp với khoảng 227,8 nghìn lao động Dự kiến sắp xếp lại thành 314 công tynông nghiệp, 266 lâm trường hoặc công ty lâm nghiệp, 97 ban quản lý rừng, giảithể 29 nông, lâm trường, bàn giao lại cho địa phương quản lý 757,3 nghìn ha,

thực tế hết quý I-2008 mới bàn giao 24.461 ha Nhiều diện tích đất quản lý thiếu

chặt chẽ, sử dụng kém hiệu quả Riêng trong các lâm trường còn khoảng 785nghìn ha đất quy hoạch phát triển tăng nhưng chưa có rừng

Đầu tư của tư nhân vào nông nghiệp, nông thôn còn rất thấp, chỉ cókhoảng 16% đầu tư mới hàng năm của tư nhân trong nước, dưới 5% FDI đầu tưvào nông nghiệp, nông thôn nên nguồn lực còn rất thiếu để phát triển mạnh mẽkinh tế nông nghiệp, nông thôn

Thứ tư, nông thôn phát triển thiếu quy hoạch, kết cấu hạ tầng kinh tế, xã

hội còn yếu kém, môi trường ngày càng bị ô nhiễm, năng lực thích ứng, đối phóvới thiên tai còn thấp

- Về công tác quy hoạch:

Công tác quy hoạch phát triển KT-XH và hạ tầng cơ sở ở các vùng nôngthôn nhìn chung còn nhiều bất cập Nhiều nơi nông dân vẫn lúng túng trong việclựa chọn cây trồng, vật nuôi, ngành nghề Việc hình thành các vùng sản xuấthàng hoá tập trung gắn với chế biến và xuất khẩu còn nhiều hạn chế

Quy hoạch phát triển công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn nhiều nơi cònthiếu thận trọng, đất trồng cây lương thực bị thu hẹp nhanh, có nguy cơ suy

giảm nghiêm trọng Quy hoạch xây dựng thiếu đồng bộ Tới năm 2007, mới chỉ

có khoảng 20% xã có quy hoạch xây dựng, nhưng nhiều quy hoạch chất lượngthấp, cảnh quan và văn hoá truyền thống bị phá vỡ

- Về kết cấu hạ tầng nông thôn:

Thủy lợi: Còn 17% diện tích lúa, khoảng 50% diện tích cà phê, 80% diện

tích rau màu chưa được tưới tiêu chủ động Nhiều hệ thống xuống cấp, khôngđồng bộ nên hiệu quả thấp, chỉ phát huy được 60 - 70% công suất thiết kế Mới

có 19% kênh mương được kiên cố hoá, tình trạng thẩm thấu, lãng phí nước cònkhá phổ biến Hệ thống đê điều đã được gia cố, nhưng nhiều nơi chưa đáp ứng

Trang 28

được yêu cầu, có tới 500 km đê sông cần bồi trúc, gia cố thân đê; cần tu bổ 600cống dưới đê; gia cố nâng cấp 2.800 khi đê biển và đê cửa sông, 100 cống trên

đê biển để bảo vệ sản xuất và dân sinh trước mắt và về lâu dài phải đối phó vớitình trạng nước biển dâng Nhiều vùng còn thiếu nước sinh hoạt gay gắt vàomùa khô, chủ yếu là các vùng cao và ven biển Chất lượng nước sinh hoạt ởđồng bằng sông Cừu Long chưa cao

Giao thông: Đến năm 2007, tỷ lệ xã chưa có đường ô tô đến được trụ sở

UBND xã ở một số tỉnh vẫn còn cao, như Cà Mau còn 74,1%, Sóc Trăng26,4%, Bạc Liêu 29,2%, Kiên Giang 25%, thành phố Cần Thơ 30,3%, Tỷ lệ

xã có đường liên thôn được nhựa, bê tông hóa nhìn chung còn thấp, một số địaphương còn quá thấp (dưới 20%) như Cao Bằng, Lai Châu, Điện Biên, YênBái, Bắc Kạn, Tuyên Quang, Lạng Sơn, Lào Cai, Sơn La Hiện chỉ còn 281 xãchưa có đường ô tô đến khu trung tâm, nhưng phần lớn đường nông thôn chấtlượng thấp (bề rộng mặt đường nhỏ, nền yếu), việc duy tu bảo dưỡng kém nênchóng hư hỏng Còn thiếu nhiều đường đến thôn Tình trạng thiếu đường giaothông hoặc chất lượng đường thấp đang là cản trở lớn nhất đối với phát triểnnông nghiệp hàng hoá, công nghiệp, dịch vụ ở các vùng nông thôn, nhất làvùng cao, vùng xa

Thông tin liên lạc, thương mại, ngân hàng: Hệ thống thông tin liên lạc ở

nhiều vùng miền núi, vùng xa, hải đảo còn khó khăn Ở miền núi phía Bắc 14%

xã có trạm bưu điện xã Về thương mại, còn trên 40% xã chưa có chợ, kết cấu hạtầng nhiều chợ hiện có thấp kém, tạm bợ Mới chỉ có 12,1% xã có ngân hàngtrên địa bàn

Cơ sở hạ tầng nghề cá: Mới xây dựng được 73 cảng cá với tổng chiều dài

10 324 m, 46 bến cá với tổng chiều dài 4.024 m, năng lực thông qua khoảng 1triệu tấn hải sản/năm, mới đáp ứng 60% nhu cầu; các khu neo đậu được xây

dựng mới đảm bảo trú tránh bão an toàn cho khoảng 20% tàu thuyền Hệ thống

thuỷ lợi phục vụ nuôi trồng thuỷ sản cũng còn rất ít

Dịch vụ nông nghiệp: Hiện có 7 139 xã (78,7% xã) có cán bộ khuyến

nông (8 398 người) và 21.402 thôn (26,6% thôn) có cộng tác viên; 7 584 xã(83,6%) có 9 552 cán bộ thú y, 25 222 thôn (31,3%) có cán bộ thú y thôn, trong

Trang 29

đó 17 861 người hành nghề tư nhân Chất lượng đội ngũ cán bộ còn thấp, điều

kiện hoạt động rất hạn chế

Y tế: vẫn còn 60 xã thuộc 17 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chưa

có trạm y tế Cơ sở vật chất, trang thiết bị ở trạm y tế còn nghèo, còn 157 xã,chiếm 1,7%, trạm y tế xã chưa được xây dựng kiên cố và bán kiên cố Số bác sỹcủa trạm y tế xã bình quân 1 vạn dân của một số tỉnh còn thấp (Điện Biên có0,05 bác sỹ, Lai Châu 0,07) và còn 3851 xã (chiếm 42,4%) chưa có bác sỹ

Giáo dục: Mặc dù đã được quan tâm đầu tư, nhưng tới năm 2006 vẫn còn

11,7% số xã chưa có nhà trẻ, mẫu giáo; còn 304 trường học còn tạm bợ, chưađồng bộ, nhất là ở vùng cao, điều kiện về nhà ở cho giáo viên, học sinh tạm trúcòn rát thiếu thốn Tình trạng học sinh bỏ học ở nông thôn côn cao

Văn hoá - thể thao: Xây dựng thiết chế văn hoá, thể thao ở vùng nông

thôn còn chậm và chưa đồng bộ, phụ thuộc vào sự đầu tư của ngân sách nhànước; việc thực hiện xã hội hoá, phát huy vai trò của các thiết chế văn hoá, thểthao ở nông thôn còn nhiều hạn chế Rất ít xã có sân vận động, nơi luyện tập thểdục, thể thao cho thanh thiếu niên ngoài nhà trường

Nhà ở: Nông thôn cả nước có tới 26,36% nhà khung gỗ, mái lá, nhà đơn

sơ trong đó đồng bằng sông Cửu Long 58%, Tây Bắc 41% Số hộ có nhà đơn sơtương ứng ở hai vùng này là 29% và 21%

Môi trường nông thôn: Môi trường ở nhiều vùng nông thôn ngày càng bị

ô nhiễm, chủ yếu do chất thải sinh hoạt, chăn nuôi, nông dược Hầu hết các vùngven đô thị, khu công nghiệp bị ảnh hưởng ngày càng trầm trọng Nhiều làng

nghề bị ô nhiễm nghiêm trọng; trong khi đó mới chỉ có 33% số hộ có nhà tiêu

hợp vệ sinh, 74,7% hộ có nhà tắm, 12,2% xã có công trình thoát nước; 28,4% xã

có tổ chức thu gom rác thải

Cùng với sự biến đổi khí hậu toàn cầu, thiên tai có xu hướng gia tăng cả

về tần suất và cường độ, đe doạ nghiêm trọng sự phát triển bền vững của mọi

vùng trong cả nước Trong 10 năm (1995 - 2005), bình quân mỗi năm nước ta

phải chịu 7 cơn bão, 5 trận lũ, làm mất tích và chết 800 người, thiệt hại vật chất

5 ngàn tỉ đồng Riêng năm 2007, mặc dù đã có rất nhiều nỗ lực phòng chống,

Trang 30

thiên tai trên diện rộng đã làm chết 462 người, thiệt hại 11.514 tỉ đồng, gần bằng1% GDP Năng lực phòng chống còn rất hạn chế Hệ thống cảnh báo còn nhiều

yếu kém, nhất là với sóng thần, lũ quét sạt lở núi Hệ thống thông tin chưa thông

suốt, nhất là với ngư dân trên biển và người dân ở các vùng sâu, vùng xa Cơ sở

hạ tầng còn thấp kém, nhiều công trình xây dựng chưa đáp ứng yêu cầu kỹ thuậtphòng chống gió bão, lũ Hầu hết các vùng thiếu phương tiện cứu hộ, cứu nạntrong bão lũ, nhất là khí có thảm hoạ lớn

Đầu tư cho nông nghiệp nông thôn còn thấp so với quy định của WTO

(10% giá trị nông nghiệp) Năm 2007, vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước chonghiệp, nông thôn mới chiếm 14% tổng vốn đầu tư, trong đó vốn đầu tư trực tiếp

cho nông lâm thuỷ sản chiếm khoảng 8%, Thấp hơn 10% giá trị nông nghiệp.

Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài không đáng kể, chỉ chiếm khoảng 3% vốn FDIcủa cả nước, trong đó năm 2007 mới đạt 1,8% 8 tháng đầu năm 2008 chỉ có 200

ODA dành cho nông nghiệp lại càng thấp Do đó, hậu quả là kết cấu hạ tầngnông thôn và cơ sở vật chất kỹ thuật trong nông nghiệp còn rất hạn chế, khôngđáp ứng được yêu cầu phát triển nông nghiệp hàng hoá chất lượng cao, giá thành

hạ Cơ cấu đầu tư không hợp lý, tỷ trọng đầu tư cho khoa học công nghệ trongnông nghiệp mới đạt 0,13% GDP khu vực này, trong khi đó các nước khác là4% Trong khi đó chính sách của Nhà nước về đầu tư nói chung, thu hút đầu tưnước ngoài nói riêng vẫn chưa phù hợp nhưng lại chậm đổi mới, kể cả khi ViệtNam vào WTO

1.2 Vai trò và đặc điểm của giai cấp nông dân Việt nam

1.2.1 Vai trò

Trải qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, nông dân nước ta luônluôn là lực lượng chủ lực tạo dựng nên giang sơn gấm vóc của đất nước, xây đắpnền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc, hình thành những làng quê Việt Nam vớigiá trị tinh thần phong phú, bền vững, là cái nôi sản sinh ra những anh hùng, hàokiệt, các danh nhân văn hóa, làm rạng rỡ non sông, đất nước ta Có thể khẳngđịnh: trong bất cứ giai đoạn lịch sử nào từ trước đến nay nông dân Việt Namcũng luôn luôn là lực lượng đông đảo nhất, hùng hậu nhất và giữ vai trò cực kỳ

1 http://www hids hochiminhcity gov vn/Hoithao/VNHOC/TB9/cuc pdf

Trang 31

quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Trong tác phẩm Ba mươi năm hoạt động của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu đã tổng kết “Từ

ngày Đảng ra ra đời, Chủ nghĩa Mác-Lênin đã giúp Đảng ta thấy rõ trong điềukiện một nước nông nghiệp lạc hậu như nước ta thì vấn đề dân tộc thực chất làvấn đề nông dân, cách mạng dân tộc thực chất là cách mạng nông dân do giaicấp công nhân lãnh đạo kinh nghiệm của Đảng ta trong quá trình cách mạng

đã chỉ rõ nơi nào, lúc nào cán bộ ta giải quyết tốt lợi ích thiết thân của nông dân,nắm vững nguyên tắc liên minh công - nông, thì nơi đó, lúc đó cách mạng đềutiến mạnh”1

Nông dân nước ta là giai cấp đông đảo nhất, là lực lượng to lớn nhất đãxây đắp nên lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước Trong suốt quátrình cách mạng, dưới sự lãnh đạo của Đảng, GCND nước ta luôn một lòng sonsắt theo Ðảng, nêu cao tinh thần yêu nước, truyền thống lao động cần cù, thôngminh, sáng tạo vượt qua khó khăn thách thức, góp phần to lớn cùng toàn dânhoàn thành vẻ vang sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, giành độc lập, tự do,thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước ta chuyển sang giai đoạn mới, giai đoạn xâydựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa GCND Việt Nam với tinhthần cách mạng, tiếp nối truyền thống năm xưa đã khẳng định được vai trò tolớn của mình thể hiện ở việc chi phối và quyết định sự thành bại của cả quá trìnhCNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn Vai trò của nông dân có thể được khái quáttrên các mặt sau:

Một là, nông dân là lực lượng đông đảo nhất góp phần làm nên những

chiến thắng lịch sử của dân tộc, đặc biệt qua hai cuộc đấu tranh giải phóng dântộc dưới sự lãnh đạo của Đảng trong thế kỷ XX

Với dân số chiếm hơn 70% số dân cả nước; với lòng yêu nước và nhiệttình cách mạng, chịu đựng gian khổ, hy sinh, lao động cần cù, sáng tạo; nôngdân Việt nam luôn là đội quân chủ lực của cách mạng Chủ tịch Hồ Chí Minhkhẳng định: "Nông dân ta chí khí rất anh dũng, kinh nghiệm rất nhiều, lực lượngrất to Điều đó đã tỏ rõ trong thời kỳ cách mạng và kháng chiến Nếu lãnh đạo

1 Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, tập 10, tr 17-18

Trang 32

tốt, thì khó khăn gì họ cũng khắc phục được, việc gì to lớn mấy họ cũng làmđược"1, "Nông dân lao động đã thành cột trụ của chính quyền ở nông thôn"2

Trong cách mạng giải phóng dân tộc, Đảng đã vận động, đoàn kết tập hợpđông đảo lực lượng đẩy mạnh sản xuất, huy động sức người, sức của, vật chất vàtinh thần phục vụ kháng chiến Hàng chục triệu nông dân đã tham gia quân đội,

du kích, thanh niên xung phong mở đường, tiếp lương tải đạn phục vụ các chiếntrường Trong kháng chiến chống giặc ngoại xâm, với tinh thần vừa kháng chiếnvừa kiến quốc, "Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng", "Một tấc không đi,một ly không rời", "Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người",nông dân hai miền Nam - Bắc đã đóng góp to lớn cho sự nghiệp giải phóng dântộc, thống nhất Tổ quốc Không chỉ tham gia sản xuất, phục vụ chiến dịch, nôngdân Việt Nam còn hăng hái tham gia chiến đấu Phần lớn những người lính,những chiến sĩ ngoài mặt trận đều xuất thân từ nông dân, là nông dân Trongcuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, nông dân Việt Nam tiếp tục phát huytruyền thống yêu nước, đóng góp sức người sức của cho sự nghiệp giải phóngdân tộc, thống nhất đất nước Hàng ngàn lượt con em nông dân đã lên đườngvào Nam chiến đấu, trong đó rất nhiều người đã hy sinh hoặc để lại một phần cơthể ở chiến trường

Thắng lợi của hai cuộc kháng chiến nhằm giải phóng dân tộc, thống nhất

Tổ quốc là thắng lợi của sức mạnh to lớn của toàn dân, trong đó đông đảo làGCND đã được phát huy một cách cao độ dưới sự lãnh đạo của Đảng

Trong công cuộc đổi mới hiện nay, tinh thần, ý chí, sức mạnh và truyềnthống của nông dân Việt Nam, tiếp tục được phát huy mạnh mẽ Nông dân đangtích cực lao động, sản xuất, áp dụng những tiến bộ khoa học - kỹ thuật vào nôngnghiệp giành hiệu quả cao, xây dựng nông thôn Việt Nam ngày càng giàu đẹp

Hai là, GCND Việt Nam là lực lượng đông đảo nhất có vai trò đặc biệt

quan trọng biến những chủ trương, Nghị quyết của Đảng về CNH, HĐH nôngnghiệp, nông thôn thành hiện thực

Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn là chủ trương lớncủa Đảng Để thực hiện thành công sự nghiệp này đòi hỏi phải phát huy tối đa

1 Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, tập 9, tr 196

2 Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, tập 7, tr 9

Trang 33

sức mạnh của tất cả các nguồn lực khác nhau Trong đó GCND Việt Nam là mộtlực lượng cơ bản trong liên minh công - nông - trí để thực hiện thắng lợi sựnghiệp CNH, HĐH nói chung và là lực lượng nòng cốt và chủ yếu trực tiếptham gia vào quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn Họ đang hàng ngày,hàng giờ biến những chủ trương, Nghị quyết của Đảng về nông nghiệp, nôngdân, nông thôn thành những việc làm cụ thể, sống động

Ngày nay, GCND Việt Nam với tinh thần cách mạng, với ý chí khôngcam chịu đói nghèo, ý chí vươn lên vượt khó là tiền đề cho việc triển khai cóhiệu quả chủ trương, Nghị quyết của Đảng, nhất là phát huy mạnh mẽ sức mạnhcủa tất cả các nguồn lực khác trong suốt quá trình thực hiện sự nghiệp CNH,HĐH nông nghiệp, nông thôn Nói khác, tất cả các nguồn lực, tiềm năng, lợi thếtừng địa phương có được khơi dậy, phát huy một cách tối đa, triệt để hay khôngphải xuất phát từ chính bản thân nội tại của nó, mà phải qua hoạt động của nôngdân với tư cách là chủ thể tham gia trực tiếp vào quá trình lao động sản xuất Bởivậy, quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn ở nước ta hiện nay có thànhcông hay không, thành công ở mức độ nào, nhanh hay chậm, một phần rất quantrọng do chính GCND quyết định

Với một lực lượng đông đảo, nông dân là lực lượng nòng cốt trực tiếptham gia lao động sản xuất trong lĩnh vực nông nghiệp và xây dựng nông thônmới, tạo ra khối lượng của cải vật chất to lớn cho xã hội và làm thay đổi diệnmạo của nông thôn, đưa nông thôn phát triển ngày càng văn minh, tiến bộ Nếubản thân nông dân không có ý chí vươn lên vượt khó để làm giàu cho chínhmình, cho gia đình và cho xã hội, mà lại lười biếng trong lao động, thờ ơ vớithời cuộc, ỷ lại trông chờ vào chính quyền và sự trợ cấp của xã hội, thì dù Đảng

có đường lối về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đúng đắn tới đâu, tiềm năngnguồn lực về đất đai, về khoa học công nghệ, về vốn, có mạnh đến mấy thìcũng khó trở thành hiện thực Đời sống của nông dân khó thoát khỏi nghèo đói

và lạc hậu, kinh tế của địa phương vẫn mãi là nền nông nghiệp sản xuất nhỏ,khép kín và trì trệ Ngược lại, nếu nông dân nhận thức được các chủ trương,Nghị quyết của Đảng, thay đổi cách nghĩ, cách làm, đổi mới tư duy kinh tế trong

Trang 34

nền kinh tế thị trường, năng động, sáng tạo thì nông dân sẽ chủ động thoát rakhỏi đói nghèo và lạc hậu Với đường lối, chủ trương đúng đắn của Đảng, cáctiềm năng nguồn lực to lớn sẵn có cùng với tinh thần cách mạng đầy nhiệt huyếtcủa nông dân sẽ tạo nên sức mạnh tổng hợp phát triển nông nghiệp toàn diện vàxây dựng nông thôn mới giành thắng lợi

Ba là, GCND Việt Nam có kinh nghiệm phong phú khai thác và sử dụng

tài nguyên đất đai, tài nguyên biển, rừng một cách hợp lý, hữu ích góp phần thựchiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn

Trong tất cả các nguồn lực thì đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt được thểhiện trên hai mặt: đất đai là môi trường tự nhiên tạo ra hệ sinh thái cần thiết cho

sự sống; đất đai là đối tượng lao động của nông dân, tại đó, bằng hoạt động laođộng của mình, nông dân tác động vào đất đai, cải tạo đất đại để nuôi dưỡng câytrồng, vật nuôi tạo ra các sản phẩm cần thiết cho xã hội Từ thế kỷ XVII, WiliamPetty, nhà kinh tế học người Anh đã từng nói: lao động là cha, đất là mẹ của mọicủa cải Điều này đã cho thấy tầm quan trọng của đất đai Trong nông nghiệpcuộc sống của nông dân luôn gắn với đất đai Đất đai là nguồn sống của họ Cóđất là có nguồn sống Vì vậy, đất đai vừa là người bạn đồng hành, vừa là tài sảnquý giá của nông dân, từ đất sẽ vươn lên những mầm xanh trái ngọt qua bàn taylao động cần mẫn của nông dân mà tạo ra của cải cho đời

Là người gắn bó lâu dài với đất đai nên nông dân có nhiều kinh nghiệmkhai thác và sử dụng tiềm năng của đất đai rất hợp lý và hữu ích Từ trong hoạtđộng thực tiễn đã giúp cho nông dân hiểu rõ từng loại đất, chất đất thích hợpvới các loại cây trồng, vật nuôi Chẳng hạn: đối với các giồng đất, nông dântrồng nhiều khoai, sắn, rau, đậu và các loại cây công nghiệp ngắn ngày nhưbông vải, dâu tằm, thuốc lá, mía, Còn đối với các vùng đất thấp và ven cácsông rạch thì người ta đào mương lên liếp để làm vườn Dưới mương nuôi cá,tôm đồng thời dẫn nước tưới tiêu; trên liếp trồng cau, trồng dừa, các loại cây ănquả và rau màu

Toàn Đảng, toàn dân nước ta đang đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp,nông thôn, trong điều kiện đất chật người đông thì việc khai thác tiềm năng của

Trang 35

đất đai một cách triệt để nhưng vẫn đảm bảo tính ổn định và bền vững là điều

mà GCND Việt Nam luôn trăn trở Thực tế cho thấy, trong những năm qua,GCND Việt Nam đã đóng một vai trò rất quan trọng trong việc phát huy tiềmnăng của đất nông nghiệp Đối với những vùng đất bị nhiễm mặn không trồngtrọt được và bị bỏ hoang hoá lãng phí trong nhiều năm trước đây đã được nôngdân khai phá, cải tạo chuyển sang nuôi tôm công nghiệp đạt hiệu quả kinh tế rấtcao, tạo ra nguồn nguyên liệu dồi dào cung ứng nguồn nguyên liệu đầu vào chongành công nghiệp chế biến tôm đông lạnh xuất khẩu Đối với các vùng cây ăntrái, vùng trồng lúa, nông dân đã áp dụng nhiều mô hình như thâm canh, xencanh tăng vụ, một vụ lúa một vụ tôm, trồng xen cây ca cao, cây măng cụt trongvườn dừa ở các tỉnh phía Nam; thực hiện mô hình VAC, kết hợp trồng trọt vớichăn nuôi ở những vùng trũng, vùng ngập mặn… hoặc xen canh, gối vụ ở nhữngdiện tích rừng sản xuất, kết hợp trồng cây để phủ xanh đất trống, đồi trọc vớimột số cây ngắn ngày như dứa, lạc, ngô… và chăn nuôi gia súc nhằm khai tháctối đa hiệu quả kinh tế trên một đơn vị diện tích canh tác, tránh lãng phí đất đainhư những năm trước đây Trong những năm qua, nông dân nước ta đã khai tháckhá hiệu quả tiềm năng đất đai nên đời sống của nông dân dần được cải thiện vàgóp phần to lớn đẩy nhanh tốc độ CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn

Với kinh nghiệm lâu đời của nông dân vùng ven biển, đã tích cực đầu tưphương tiện tàu thuyền hiện đại để đánh bắt hải sản xa bờ, không chỉ mang lạithu nhập ngày càng cao cho gia đình, cho đất nước mà còn góp phần bảo vệ vàphát triển nguồn lợi thủy sản ven bờ, góp phần thực hiện chiến lược kinh tế biểncủa Đảng và bảo vệ chủ quyền vùng biển của Tổ quốc

Bốn là, giai cấp nông dân Việt Nam là lực lượng đông đảo góp phần xây

dựng khối liên minh công – nông – trí vững mạnh

Do địa vị KT-XH và bản chất giai cấp của mình, nông dân tự nguyện tìmđến với giai cấp công nhân Chính vì vậy, Hồ Chí Minh khẳng định “Nông dân

là một lực lượng rất to lớn của dân tộc, một đồng minh rất trung thành của giaicấp công nhân”1 Nếu không liên kết với công nhân, trí thức thì họ sẽ bị các giaicấp bóc lột lợi dụng, lôi kéo trở lại cuộc sống nô lệ, bị áp bức, bóc lột Sự tiến

1 Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, tập 5, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr 710

Trang 36

bộ của nông dân đã ngày càng gắn bó hơn với công nhân và trí thức Để đẩynhanh sản xuất nông sản hàng hoá, làm cho nông nghiệp phát triển bền vững,nông dân rất cần sự hỗ trợ của công nghiệp và những tri thức khoa học kỹ thuật.Đây là nhu cầu thiết thực để nông dân tìm đến và gắn bó với các cơ quan nghiêncứu, các cơ sở dịch vụ kỹ thuật Công nghiệp và khoa học góp phần đắc lực vàoquá trình giải phóng nông dân, giúp họ tiếp xúc với nền văn minh nhân loại hiệnđại, đồng thời có dịp để phát huy các giá trị văn hoá được tích tụ trong quá trìnhlao động ở nông thôn

Trong xây dựng, củng cố cơ sở kinh tế của khối liên minh công – nông –trí: GCND có vai trò rất lớn trong việc cung cấp nguyên vật liệu cho côngnghiệp chế biến, đồng thời, nông thôn là thị trường rộng lớn tiêu thụ sản phẩmcủa ngành công nghiệp Bên cạnh đó, nông nghiệp, nông thôn với lực lượng laođộng nông dân đã, đang nhận và hiện thực hóa việc ứng dụng khoa học côngnghệ nói chung và công nghệ sinh học nói riêng – sản phẩm chủ yếu của đội ngũtrí thức vào sản xuất nông, lâm, thủy sản

Phát triển nông nghiệp và nông thôn theo hướng CNH, HĐH không thểkhông có sự tham gia đóng góp tích cực của khoa học công nghệ Bởi Khoa học

và công nghệ là nền tảng, là động lực tạo đà cho quá trình CNH, HĐH nôngnghiệp, nông thôn phát triển nhanh và bền vững Hoạt động nghiên cứu khoahọc và công nghệ đã và đang có sự đóng góp đáng kể vào trong hoạt động sảnxuất nông nghiệp Một số đề tài mang tính chất đột phá có ý nghĩa thực tiễn caotrở thành cầu nối giữa hoạt động nghiên cứu khoa học công nghệ với thực tiễnsản xuất, giữa cán bộ khoa học công nghệ với nông thôn và nông dân Bằng hìnhthức vừa tập huấn, vừa cử cán bộ khoa học theo sát hướng dẫn kỹ thuật chonông dân, giúp nông dân áp dụng thành công các tiến bộ khoa học - kỹ thuật vàođiều kiện cụ thể của gia đình mình đem lại hiệu quả kinh tế cao Qua đó tạothành các điểm trình diễn cho nhiều bà con khác trong khu vực tham quan họctập Khi nông dân thấy được tầm quan trọng và lợi ích thiết thực của khoa học -

kỹ thuật và công nghệ, họ tự giác chủ động đến với khoa học kỹ thuật và côngnghệ để học tập, trau dồi kinh nghiệm

Điều này cho thấy giữa hoạt động nghiên cứu khoa học công nghệ vànông dân trong quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn như một lẽ tự

Trang 37

nhiên gắn kết với nhau rất chặt chẽ Thông qua hoạt động thực tiễn sản xuất củanông dân, các tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ nhất là công nghệ sinhhọc với nhiệm vụ lai tạo các giống cây, giống con với năng suất, chất lượngcao sẽ đồng thời là cơ hội để hoạt động nghiên cứu khoa học - công nghệ điềuchỉnh, bổ sung những điểm mới Điều này sẽ giúp nông dân thoát khỏi tìnhtrạng sản xuất theo kinh nghiệm, lối mòn và chuyển từ nền sản xuất với năngsuất, chất lượng, hiệu quả thấp sang một nền sản xuất với năng suất, chất lượng,hiệu quả cao hơn nhờ áp dụng những thành tựu khoa học công nghệ mới

Vai trò của khoa học công nghệ và của các nhà khoa học là đặc biệt quantrọng nhưng khoa học công nghệ có phát huy được vai trò, tác dụng hay không cònphụ thuộc đáng kể vào ý thức, nỗ lực và mức độ tiếp thu khoa học công nghệ củanông dân Điều này có thể sẽ xảy ra theo hai khả năng: hoặc trong trường hợp nôngdân có trình độ dân trí thấp kém, cộng với thái độ thờ ơ với việc tiếp thu, ứng dụngcác thành tựu khoa học công nghệ vào sản xuất nông nghiệp, sẽ là một rào cản lớncho việc triển khai các đề tài, dự án khoa học; hoặc là, trong trường hợp nông dân

có trình độ học vấn khá cao, cùng với tính năng động, sáng tạo, nhạy bén, ham họchỏi thì hai yếu tố nêu trên tạo nên thuận lợi lớn cho việc triển khai ứng dụng khoahọc công nghệ vào sản xuất nông nghiệp Chính nông dân với việc tiếp thu, ứngdụng những thành tựu khoa học công nghệ đại trà vào trong sản xuất trên quy môlớn sẽ là một kênh thông tin cực kỳ quan trọng phản hồi lại kết quả đạt được đếncác nhà khoa học

Từ đó các nhà khoa học sẽ thấy rõ ưu điểm, tính hiệu quả cũng nhưnhững hạn chế, khiếm khuyết trong các công trình khoa học của mình Trên cơ

sở đó giúp các nhà khoa học không ngừng phát huy những kết quả đạt đượcđồng thời đề ra những giải pháp thích hợp nhằm khắc phục những hạn chế,khiếm khuyết làm cho khoa học luôn được bổ sung, điều chỉnh và ngày mộthoàn thiện hơn trong những bước phát triển tiếp theo Thành tựu của khoa học

và công nghệ phải được chứng minh bằng những kết quả đạt được trên thực tếthông qua hoạt động sản xuất của nông dân Chính nông dân là nhà “phảnbiện”, thẩm định tính đúng đắn và hiệu quả thiết thực của các đề tài khoa học.Như vậy, khoa học từ chỗ là lý thuyết trở thành hiện thực, được áp dụng trongthực tiễn sản xuất đem lại hiệu quả kinh tế cao là một quá trình Ở đó nếu

Trang 38

không có nông dân với tư cách là cầu nối, là khâu trung gian nối liền giữa đầuvào là lý thuyết khoa học với đầu ra là các sản phẩm đạt được do việc ứngdụng các lý thuyết khoa học đó, thì lý thuyết khoa học đó sẽ không có sứcsống Rõ ràng quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn không thể thiếu sựđóng góp của khoa học và công nghệ, nhưng để khoa học - công nghệ đạt đượcnhiều thành tựu to lớn góp phần đưa nền nông nghiệp của địa phương pháttriển theo hướng CNH, HĐH đòi hỏi phải thông qua hoạt động của nông dân.Suy cho cùng trong mọi trường hợp nông dân vẫn là người giữ vai trò nòng cốttrong quá trình phát triển sản xuất nông nghiệp

Trong điều kiện hiện nay, Đảng ta xác định “từng bước phát triển kinh tếtri thức” trong quá trình hội nhập khu vực và quốc tế đã tạo điều kiện choGCND ngày càng gắn bó với đội ngũ trí thức Trên cơ sở kinh tế, các nhu cầukinh tế phát triển dưới nhiều hình thức hợp tác, liên kết, giao lưu,… trong cảsản xuất, lưu thông phân phối giữa công nhân, nông dân, trí thức; giữa cáclĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp, khoa học, giữa các địa bàn, vùng miềndân cư trong cả nước

Khi tổng kết kinh nghiệm của cách mạng Việt Nam, chủ tịch Hồ ChíMinh chỉ rõ: “Nền tảng của vấn đề dân tộc là nông dân, vì nông dân là tối đatrong dân tộc”, vì thế phải “thực hiện cho được liên minh công nông vì đó là sựbảo đảm chắc chắn nhất cho những thắng lợi của cách mạng Chỉ có khối liênminh công nông do giai cấp công nhân lãnh đạo mới có thể kiên quyết và triệt đểđánh đổ các thế lực phản cách mạng, giành lấy chính quyền của nhân dân laođộng, hoàn thành nhiệm vụ lịch sử của cách mạng dân tộc dân chủ và tiến lênCNXH” Do đó khi đánh giá vai trò của GCND cần nhận rõ tính tất yếu của khốiliên minh công – nông và cần khẳng định sự liên minh này là liên minh “đặcbiệt”, trong đó giai cấp công nhân phải giữ vai trò lãnh đạo, sự liên minh ấy,chẳng những chỉ nhằm đánh đổ giai cấp bóc lột mà còn tạo ra những điều kiệncần thiết để xây dựng một chế độ xã hội mới văn minh hơn, tốt đẹp hơn

Năm là, giai cấp nông dân Việt Nam góp phần quan trọng xây dựng

Đảng, chính quyền, đoàn thể nhân trong sạch, vững mạnh

Trong điều kiện nước ta là nước nông nghiệp với hơn 70% dân số nôngnghiệp sống ở nông thôn Do đó, GCND là lực lượng to lớn trong việc hiện thực

Trang 39

hóa chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước Thông qua hoạtđộng thực tiễn phong phú của mình, nông dân trực tiếp góp ý với Đảng, chínhquyền các cấp hoàn thiện đường lối, chính sách Thời gian gần đây, nhờ mởrộng dân chủ trong Đảng và trong xã hội, nông dân có nhiều điều kiện để trựctiếp hoặc gián tiếp đóng góp xây dựng Đảng, chính quyền và đoàn thể các cấp từTrung ương xuống cơ sở

Với số lượng đông đảo, nông dân là lực lượng quan trọng tham gia giámsát hoạt động của HTCT, hoạt động của đội ngũ cán bộ, đảng viên Qua giámsát, nông dân lựa chọn, giới thiệu những cán bộ, đảng viên có đức, có tài thamgia vào bộ máy của HTCT Đồng thời, góp ý phê bình để cán bộ, đảng viên sửachữa sai lầm, khuyết điểm và tham gia đấu tranh chống tham nhũng và các biểuhiện tiêu cực khác của đội ngũ cán bộ, đảng viên, góp phần làm trong sạch bộmáy của HTCT các cấp

Bên cạnh đó, phần lớn nông dân tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng,thực hiện tốt chủ trương, đường lối của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhànước, đây là môi trường chính trị ổn định, thuận lợi để Đảng kiên định chủtrương, đường lối đổi mới, lãnh đạo nhân dân Việt Nam tiếp tục giành đượcnhững thắng lợi mới, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dânchủ, văn minh

1.2.2 Đặc điểm: Giai cấp nông dân Việt Nam hiện nay có những đặc

điểm chủ yếu sau đây:

Một là, GCND Việt Nam có truyền thống yêu nước, tinh thần bất khuất,

độc lập tự chủ cao, không cam chịu làm nô lệ, không chịu để đồng hóa

Truyền thống này được hình thành, phát triển, lưu truyền suốt chiều dàilịch sử hàng ngìn năm dựng nước, giữ nước và đến ngày nay Điều này đã đượcđồng chí Đỗ Mười nhấn mạnh tại Đại hội lần thứ II Hội Nông dân Việt Nam:

“Nông dân nước ta giàu lòng yêu nước và nhiệt tình cách mạng, chịu đựng giankhổ, hy sinh” Truyền thống ấy, được Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo, đãphát triển lên một tầm cao mới trong suốt quá trình nông dân Việt Nam đi theoĐảng làm cách mạng Nhất là trong công cuộc đổi mới, thực hiện kinh tế thịtrường, mở cửa, chủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, truyền thống ấy lạiđược Đảng phát huy mạnh mẽ, tạo điều kiện thuận lợi để nông dân phát triển,

Trang 40

đóng góp to lớn vào thành tựu công cuộc đổi mới Truyền thống ấy là nhân tốđặc biệt quan trọng để Đảng huy động toàn bộ GCND vào công cuộc đổi mới,đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, nhất là đẩy nhanh CNH, HĐH nông nghiệp,nông thôn Qua hàng ngàn năm Bắc thuộc và hàng trăm năm đô hộ của thực dân,

đế quốc, nông dân nước ta vẫn thể hiện rõ và khẳng định ý chí kiên cường, bấtkhuất, không chịu để bị đồng hóa, giữ vững và phát huy bản sắc văn hóa dântộc Đây cũng là một nhân tố rất quan trọng để Đảng lãnh đạo nông dân thựchiện đường lối đổi mới, mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế nhưng vẫn giữ vữngbản sắc dân tộc

Hai là, GCND Việt Nam cần cù trong lao động, tiết kiệm, tôn trọng và

yêu quý thành quả lao động, thông minh, sáng tạo và nhẫn nại, không bó taytrước khó khăn, gian khổ, trước thách thức quyết liệt của cuộc sống

Đồng chí Đỗ Mười khẳng định: “Nông dân Việt Nam lao động cần cù vàsáng tạo, là đội quân chủ lực trong lịch sử đấu tranh lâu dài dựng nước và giữnước” Qua hàng nghìn năm chống lại sự khắc nghiệt của thiên nhiên để phát triểnsản xuất, ổn định cuộc sống, đã hình thành ở người nông dân Việt nam đức tính cần

cù trong lao động sản xuất, sự nhẫn nại, sáng tạo, không lùi bước trước khó khăn,gian khổ Đó là nhân tố đặc biệt quan trọng để nông dân nước ta nói riêng, dân tộc

ta nói chung phát triển Được Đảng giáo dục, rèn luyện và lãnh đạo những đức tínhtốt đẹp ấy được phát huy mạnh mẽ trong thời kỳ đổi mới Có thể nói rằng, côngcuộc đổi mới bắt đầu từ nông dân, nông nghiệp và trên địa bàn nông thôn Sự điđầu, sáng tạo của nông dân trong nông nghiệp từ nhiều năm trước đổi mới đã tạonên cơ sở vững chắc để phát triển nông nghiệp, góp phần quyết định để đất nướcvượt qua thách thức hiểm nghèo, ra khỏi khủng hoảng, bước vào đổi mới giànhthắng lợi to lớn, tạo nền tảng để CNH, HĐH đất nước

Trong các cuộc đấu tranh chống lại sự khắc nghiệt của thiên nhiên trướcđây và hiện nay, nông dân nước ta luôn thể hiện sự thông minh, sáng tạo, sựnhẫn nại, kiên trì từng bước vượt qua mọi khó khăn, thách thức Nhiều gươngnông dân sản xuất giỏi, sáng tạo trong lao động sản xuất, góp phần rất lớn trongviệc giải phóng sức lao động của nông dân, đóng góp vào việc thực hiện chủtrương xóa đói, giảm nghèo Ví dụ, những nông dân thiết kế, sản xuất máy tháirau chăn nuôi, máy thái hành, gặt lúa,…

Ngày đăng: 04/01/2016, 18:13

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1.Nguyễn Thanh Bạch, Chính sách và giải pháp cho nông dân, nông nghiệp và nông thôn hiện nay, Tạp chí Nghiên cứu kinh tế, 1-1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách và giải pháp cho nông dân, nông nghiệp và nông thôn hiện nay
Tác giả: Nguyễn Thanh Bạch
Nhà XB: Tạp chí Nghiên cứu kinh tế
Năm: 1999
2.Ban Dân vận Trung ương, Một số vấn đề về công tác vận động nông dân ở nước ta hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về công tác vận động nông dân ở nước ta hiện nay
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
4.Bộ Chính trị, Chỉ thị 59-CT/TW, ngày 15-12-2000 “về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của Hội Nông dân Việt Nam trong thời kỳ Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn” Sách, tạp chí
Tiêu đề: về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của Hội Nông dân Việt Nam trong thời kỳ Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn
5. Nguyễn Sinh Cúc, Nông nghiệp, nông thôn Việt Nam sau hai năm vào WTO (2007-2008): http://www. hids. hochiminhcity. gov. vn/Hoithao/VNHOC/TB9/cuc. pdf Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nông nghiệp, nông thôn Việt Nam sau hai năm vào WTO (2007-2008)
Tác giả: Nguyễn Sinh Cúc
Năm: 2008
6. Nguyễn Sinh Cúc, Thực trạng và giải pháp xóa đói, giảm nghèo ở nông thôn hiện nay, Tạp chí Cộng sản, số 25-2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng và giải pháp xóa đói, giảm nghèo ở nông thôn hiện nay, Tạp chí Cộng sản
7. Phạm Xuân Dũng, Một số vấn đề về lao động và việc làm trong nông nghiệp, nông thôn nước ta hiện nay, Tạp chí Quản lý nhà nước, số 6-2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về lao động và việc làm trong nông nghiệp, nông thôn nước ta hiện nay, Tạp chí Quản lý nhà nước
11.Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 5 khóa IX Về đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn thời kỳ 2001 – 2010, Nxb. CTQG, H, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 5 khóa IX Về đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn thời kỳ 2001 – 2010
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. CTQG
Năm: 2002
14.Vũ Ngọc Kỳ, Giai cấp nông dân và Hội Nông dân Việt Nam tiếp tục góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, Tạp chí Cộng sản tháng 10/2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giai cấp nông dân và Hội Nông dân Việt Nam tiếp tục góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn
16. V. I. Lênin (1978), Toàn tập, tập 43, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: V. I. Lênin
Nhà XB: Nxb Tiến bộ
Năm: 1978
21.Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, tập 11.Nhà xuất bản CTQG, H. 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập, tập 11
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nhà xuất bản CTQG
Năm: 2000
22.Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, tập 12, Nxb CTQG, H. 2000, tr. 92 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2000
23.Vũ Oanh, Nông nghiệp và nông thôn trên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hợp tác hóa, dân chủ hóa, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nông nghiệp và nông thôn trên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hợp tác hóa, dân chủ hóa
Tác giả: Vũ Oanh
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1998
24.Nguyễn Hoàng Phê (chủ biên) (1995), Từ điển tiếng Việt, Viện Ngôn ngữ xuất bản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Hoàng Phê
Nhà XB: Viện Ngôn ngữ
Năm: 1995
26. Nguyễn Đức Triều, Giai cấp nông dân là lực lượng hùng hậu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, Báo Nhân dân, ngày 9-10-2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giai cấp nông dân là lực lượng hùng hậu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn
Tác giả: Nguyễn Đức Triều
Nhà XB: Báo Nhân dân
Năm: 2000
27. Trung ương Hội Nông dân Việt Nam, Đề tài nghiên cứu khoa học KHBĐ 12: Công tác vận động nông dân trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, Nxb. Nông nghiệp, Hà Nội, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề tài nghiên cứu khoa học KHBĐ 12: Công tác vận động nông dân trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Tác giả: Trung ương Hội Nông dân Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Nông nghiệp
Năm: 1999
28. Tổng cục Thống kê, Kết quả Tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp và thủy sản năm 2006, Nxb Thống kê, Hà Nội, 2007, t 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả Tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp và thủy sản năm 2006
Tác giả: Tổng cục Thống kê
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 2007
29. Tổng cục Thống kê, Kết quả Tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp và thủy sản năm 2006, Nxb Thống kê, Hà Nội, 2007, t 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả Tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp và thủy sản năm 2006
Tác giả: Tổng cục Thống kê
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 2007
3.Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 12 và cả năm 2009, Tài liệu phục vụ họp báo Chính phủ thường kỳ ngày 05 tháng 01 năm 2010 Khác
8. Đảng cộng sản Việt Nam, Điều lệ Đảng, Nxb Chính trị quốc gia, H, 2006 Khác
9. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. CTQG, H, 2006 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w